Biện Pháp Giáo Dục Thi Giáo Viên Giỏi / Top 9 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Phauthuatthankinh.edu.vn

Biện Pháp Dự Thi Giáo Viên Dạy Giỏi

Các biện pháp nâng cao chất lượng dạy học

Trình bày một biện pháp góp phần nâng cao chất lượng công tác giảng dạy là một phần không thể thiếu của hội thi giáo viên dạy giỏi. Trong bài viết này chúng tôi xin tổng hợp một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học để các thầy cô cùng tham khảo và tải về sử dụng.

Các biện pháp nâng cao chất lượng dạy học

1. Hướng dẫn làm biện pháp thi giáo viên dạy giỏi

Nội dung biện pháp do chính giáo viên đúc rút, sáng tạo, áp dụng trong thực tế giảng dạy môn học nhằm góp phần nâng cao chất lượng công tác giảng dạy đáp ứng yêu cầu đổi mới dạy học của cá nhân tại các nhà trường như: đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy học; dạy học gắn liền với sản xuất kinh doanh; dạy học gắn liền với di sản; đổi mới kiểm tra đánh giá; ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học;… hướng tới phát triển phẩm chất năng lực của người học.

– Cấu trúc của biện pháp gồm có các phần chính:

+ Lý do hình thành biện pháp;

+ Nội dung biện pháp;

+ Hiệu quả thực hiện của việc áp dụng biện pháp trong thực tế dạy học;

+ Kết luận của biện pháp.

– Biện pháp dài không quá 10 trang A4 kể cả phụ lục (nếu có); sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt (chỉ dùng tiếng nước ngoài đối với thuật ngữ chuyên môn); đảm bảo thể thức văn bản theo quy định hiện hành.

Trình bày biện pháp dự thi: Giáo viên lựa chọn nội dung và hình thức để trình bày biện pháp trước Ban giám khảo. Cần nêu rõ biện pháp có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu đổi mới dạy học phù hợp với các đối tượng học sinh và thực tiễn của nhà trường, địa phương và của cá nhân giáo viên tại cơ sở giáo dục đang công tác; có minh chứng về sự tiến bộ của học sinh khi áp dụng biện pháp

2. Biện pháp về công tác chủ nhiệm nhằm nâng cao chất lượng học tập

1. Biện pháp 1: Khảo sát đối tượng học sinh để đưa ra những phương pháp giáo dục phù hợp

– Khảo sát đối tượng thông qua hồ sơ học bạ, qua giáo viên chủ nhiệm cũ, qua học sinh trong lớp hoặc qua phụ huynh.

– Tiến hành phân loại đối tượng để đưa vào sổ kế hoạch công tác chủ nhiệm, cụ thể: + Học sinh gặp hoàn cảnh khó khăn.

+ Học sinh khuyết tật.

+ Học sinh các biệt về đạo đức.

+ Học sinh yếu.

+ Học sinh có những năng lực đặc biệt.

* Đối với những học sinh có hoàn cảnh gia đình khó khăn.

* Đối với những học sinh khuyết tật.

* Đối với học sinh cá biệt về đạo đức:

– Tìm hiểu nguyên nhân qua gia đình: Gia đình có sự mâu thuẫn giữa bố và mẹ, gia đình thiếu quan tâm hoặc có thể bị bạn bè, kẻ xấu lôi kéo….Hoặc trẻ có những tính xấu mà bản thân gia đình chưa giáo dục được…

– Dùng phương pháp tác động tình cảm, nghiêm khắc đối với học sinh nhưng không cứng nhắc. Tuyệt đối không sử dụng phương pháp trách phạt, chú ý gần gũi các em và thường xuyên nhắc nhở động viên khen chê kịp thời. Giao cho các em đó một chức vụ trong lớp nhằm gắn với các em trách nhiệm để từng bước điều chỉnh mình.

* Đối với học sinh học yếu:

– Tìm hiểu nguyên nhân vì sao em đó học yếu, học yếu những môn nào. Có thể là ở gia đình các em đó không có thời gian học tập vì phải làm nhiều việc hoặc em đó có lỗ hỏng về kiến thức nên cảm thấy chán nản.

– Giáo viên lập kế hoạch giúp đỡ đối tượng bằng những việc cụ thể như sau:

+ Giảng lại bài mà các em chưa hiểu hay còn hiểu mù mờ vào những thời gian ngoài giờ lên lớp .

+ Đưa ra những câu hỏi từ dễ đến khó để học sinh có thể trả lời được nhằm tạo hứng thú và củng cố niềm tin ở các em.

+ Thường xuyên kiểm tra các đối tượng đó trong qua trình lên lớp.

+ Tổ chức cho học sinh học theo nhóm để học sinh khá giỏi giúp đỡ học sinh yếu kém tiến bộ.

+ Gặp gỡ phụ huynh học sinh trao đổi về tình hình học tập, cũng như sự tiến bộ của con em để phụ huynh giúp đỡ thêm việc học ở nhà cho các em.

+ Chú ý tránh thái độ miệt thị, phân biệt đối xử làm cho các em nhụt chí, xấu hổ trước bạn bè. Tóm lại dù với đối tượng nào bản thân giáo viên phải lưu ý dùng phương pháp tác động tình cảm, động viên khích lệ kịp thời, phối hợp với phụ huynh để giáo dục và đặc biệt xác định vấn đề giáo dục đạo đức là then chốt.

2. Biện pháp 2: Xây dựng đội ngũ cán bộ lớp giỏi quản lý, tổ chức, kiểm tra.

Như chúng ta đã biết xây dựng một đội ngũ cán bộ quản lý giỏi là việc rất quan trọng người giáo viên làm công tác chủ nhiệm phải có kế hoạch thực hiện.Hơn nữa, để đội ngũ cán bộ lớp cùng giáo viên chủ nhiệm đôn đốc, nhắc nhở việc thực hiện nề nếp học tập của các bạn là công việc cần thiết và có ích.

– Trước hết , những học sinh được chọn làm cán bộ lớp bao giờ cũng phải gương mẫu trước các bạn về mọi mặt: Học tập, kỷ luật, tham gia các hoạt động, đối xử với bạn bè….

– Sau đó hằng ngày, hàng tuần, các cán bộ lớp bao gồm: lớp trưởng,2 lớp phó , 4 tổ trưởng, 4 tổ phó. . sẽ tiến hành công việc của mình như sau:

*Đầu giờ (trước giờ truy bài):

Tổ trưởng, tổ phó kiểm tra những việc sau: soạn sách vở theo đúng thời khóa biểu, mang đầy đủ đồ dùng dậy học,có ý thức xem bài trước, đi học đúng giò, không mang dép lê….rồi tổ trưởng chấm điểm thi đua theo qui đinh như sau: (vi phạm 1 nội dung trừ: 2 điểm xấu )

*Trong giờ học:

Tổ trưởng, tổ phó theo dõi các bạn trong tổ thái độ học tập, phát biểu xây dựng bài, đạt điểm cao trong học tập thì cộng điểm thưởng như sau: Đạt điểm 10 một môn thì cộng 5 điểm tốt, phát biểu xây dựng bài cộng 1đ/1lần. nói chuyện trong giờ học thì bị trừ 2 điểm/ 1lần.

*Giờ ăn ngủ bán trú:

Tổ trưởng,Tổ phó theo dõi các tổ viên các nề nếp: ăn, ngủ đúng thời gian..( nếu vi phạm trừ 2đ/ 1 lần ) Biện pháp 3: .Phối kết hợp thường xuyên với phụ huynh

* Đối vói Ban đại diện CMHS lớp: Từ đầu năm học. Tôi đã định hướng bầu chọn Ban đại diện phụ huynh của lớp với các tiêu chuẩn sau:

– Phụ huynh có đời sống kinh tế ổn đinh.

– Có tâm huyết, nhiệt tình tất cả vì học sinh thân yêu.

– Am hiểu nhiều về lĩnh vực giáo dục – Có con em học khá giỏi.

* Ban phân hội lớp gồm 3 thành viên: Trưởng ban, phó ban, thư ký

* Nhiệm vụ ban phân hội lớp:

– Kết hợp với GVCN lớp theo dõi, động viên quá trình học tập, sinh hoạt của học sinh. Đặc biệt quan tâm đến các phong trào lớp

– Nắm rõ được hoàn cảnh gia đình, chỗ ở của từng học sinh để kịp thời thăm hỏi. – Có kế hoạch khen thưởng kịp thời học sinh lớp tiến bộ theo từng tuần, tháng, theo các đợt kiểm tra định kỳ của nhà trường.

* Đối với từng phụ huynh học sinh: Buổi họp phụ huynh đầu năm, tôi đã đề ra yêu cầu để phụ huynh cùng GVCN rèn nề nếp học sinh như sau:

– Hằng ngày kiểm tra sách vở của con em mình.

– Nhắc nhở con em học bài cũ và chuẩn bị bài mới trước khi đến lớp.

– Chuẩn bị sách vở và đồ dùng học tập cho con em theo thời khoá biểu hằng ngày.

– Giáo dục con ý thức gọn gàng, ngăn nắp khi học tập, vui chơi.

– Sinh hoạt điều độ, đúng thời khoá biểu, giờ nào việc nấy tránh tình trạng vừa học vừa chơi. – Thường xuyên trao đổi với GVCN qua trò chuyện trực tiếp, điện thoại hoặc qua sổ liên lạc để kịp thời nhắc nhở, đôn đốc học sinh nề nếp học tập ở lớp cũng như ở nhà.

Biện pháp 4: Đầu tư các phong trào mũi nhọn nhà trường tổ chức Từ đầu năm học GVCN dựa vào kế hoạch của nhà trường và các đoàn thể trong trường phải đề ra chỉ tiêu cụ thể cho lớp cùng phấn đấu trong các phong trào chung của nhà trường như: Vở sạch chữ đẹp, Vẽ tranh, Kể chuyện, cờ vua,….

– Điều quan trọng là GVCN phải phát hiện những năng lực đặc biệt ở học sinh về văn hoá văn nghệ, thể dục thể thao, hội hoạ…

– Phối hợp với phụ huynh lập kế hoạch bồi dưỡng thường xuyên cho các học sinh có năng khiếu nói trên.

– Bồi dưỡng, khơi dậy ở các em lòng say mê hứng thú học tập thông qua những hội thi,Tổ chức các sân chơi ở lớp như: Rung chuông vàng, đối mặt trong các tiết HĐNGLL để phát huy và chọn lọc những HS có năng khiếu để tham gia các hội thi do nhà trường tổ chức. Biện pháp 5: Nêu gương và khen thưởng

– Nắm được tâm lý của học sinh tiểu học rất thích được khen, thích được động viên nên tôi hướng dẫn Ban cán sự lớp lập bảng chấm điểm thi đua từng HS như sau:

– Trong cuộc họp phụ huynh đầu năm tôi đã đề xuất với Ban đại diện phụ huynh về việc khen thưởng các học sinh trong lớp thực hiện tốt các phong trào học tập cũng như các phong trào khác như sau:

+ Mỗi tuần tặng 1 cây bút cho mỗi HS đạt số điểm tốt cao nhất tổ.

+ Mỗi đợt kiểm tra định kỳ tặng một 1 bút/ 1HS đạt điểm 10 mỗi môn.

+ Tặng một phần quà cho HS đạt phong trào nhà trường đề ra.

– Sau mỗi tuần thi đua, Lớp trưởng đánh giá chung các mặt hoạt động, tổ trưởng đánh giá cụ thể các mặt học tập cũng như hoạt động của từng thành viên trong tổ thông qua bảng điểm . sau đó bầu chọn một HS tuyên dương trước lớp và nhận thưởng.

– Để tránh trường hợp một em nhận liên tục nhiều lần, theo qui ước 3 tuần mới được nhận thưởng lại ( nếu em đó điểm nhất tổ thì chọn em điểm nhì tổ..)

3. Biện pháp nâng cao chất lượng học tập của học sinh THCS

I. Mở đầu :

Mục tiêu của giáo dục THCS là giúp cho học sinh củng cố và phát triển những kết quả giáo dục ở Tiểu học; có học vấn phổ thông trình độ cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học trung học phổ thông, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động

Trong thời gian qua Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có nhiều chủ trương, biện pháp tích cực để nâng cao chất lượng dạy và học. Đặc biệt là thực hiện các cuộc vận động lớn như : “Hai không”, “Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương tự học và sáng tạo”, “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”. Qua thực hiện các cuộc vận động này đã làm thay đổi khá nhiều về chất lượng giáo dục . Tuy có nhiều tiến bộ nhưng chất lượng thật sự của giáo dục hiện nay ở bậc THCS còn khá nhiều yếu kém . Yêu cầu đặt ra cho chúng ta là phải tìm những nguyên nhân yếu kém một cách chính xác, phải nhìn thẳng vào sự thật một cách khách quan .Từ đó bình tỉnh đưa ra những giải pháp tích cực sát với thực tế để từng bước nâng cao chất lượng . Vấn đề này cần phải có thời gian, công sức của mọi người trong toàn xã hội.

Phụ đạo cho học sinh yếu là một hoạt động bình thường và không thể thiếu được trong bất kỳ trường THCS nào. Đây chính là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của người thầy, của nhà trường để góp phần giúp cho các học sinh không theo kịp bạn bè có thể nắm bắt được những kiến thức cơ bản nhằm lấp lỗ hổng kiến thức của bản thân. Trong đơn vị trường học việc tổ chức các lớp học phụ đạo cho học sinh yếu kém là việc làm thường xuyên chứ không phải chỉ là phong trào thi đua hoặc để đối phó với một đợt thi hoặc kiểm tra.

II/ Nguyên nhân chất lượng học tập của học sinh yếu kém :

1/ Đối với học sinh:

Học sinh chưa tự giác học, chưa có động cơ học tập, chưa có quyết tâm học tập.

Mất căn bản kiến thức ngay từ lớp dưới. Nhiều học sinh đuối sức trong học tập, không theo kịp các bạn (thiếu kiến thức, kỹ năng, khả năng để học tập lớp đang học (ngồi nhầm lớp), sinh ra chán học, sợ học (hội chứng sợ học).

Khả năng phân tích tổng hợp, so sánh còn hạn chế, chưa mạnh dạn trong học tập do hiểu chưa sâu, nắm kiến thức chưa chắc, thiếu tự tin. Khả năng chú ý và tập trung vào bài giảng của giáo viên không bền, lười suy nghĩ, còn trông chờ thầy cô giải giúp, trình độ tư duy, vốn kiến thức cơ bản lớp dưới còn hạn chế, chưa biết phát huy khả năng của mình. Khả năng học tập của HS rất khác nhau, cùng một độ tuổi và 1 lớp nhưng trình độ các em có thể chênh nhau khá lớn . Đọc chậm, đọc sai, viết chậm, viết sai đặc biệt là môn ngoại ngữ .Không biết làm tính, yếu các kỹ năng tính toán cơ bản, cần thiết .

Một số học sinh đi học thất thường, ham chơi, la cà quán xá .

Học sinh chưa có phương pháp học tập khoa học, hầu hết là học thụ động, lệ thuộc vào các loại sách bài giải (chép bài tập vào vở nhưng không hiểu gì cả ), học vẹt, không có khả năng vận dụng kiến thức, trong thi cử thì quay cóp và tài liệu .

Học sinh yếu không chịu đi học phụ đạo .

2/ Phụ huynh :

Tỷ lệ học sinh đi học chuyên cần thấp, thái độ học tập của học sinh, chất lượng học tập cho thấy nhận thức và thái độ của phụ huynh trong việc hợp tác với nhà trường là chưa chúng tôi đó cho thấy một bộ phận phụ huynh chưa thật sự quan tâm, chăm lo và đôn đốc con em mình học tập, còn phó thác cho nhà trường, cho thầy cô. Việc phụ huynh vùng biển đi làm ăn trên biển lâu lâu mới về nên việc phối hợp giáo dục là rất hạn chế .Một số gia đình không hạnh phúc ảnh hưởng đến học tập của học sinh . Người lớn chưa làm gương về chuyện học .

3/ Giáo viên

Đa số đều tận tụy với công tác giảng dạy, chăm chút học sinh nhưng cũng có trường hợp chỉ thành công trong đối tượng là học sinh khá trở lên, còn đối với học sinh yếu kém thì chưa hiệu quả, hoặc ngược lại. Trong quá trình dạy học còn mắc phải :

Hệ thống câu hỏi gợi mở, dẫn dắt chưa logic, chưa phù hợp cho từng đối tượng; có những tiết giáo viên còn nói lan man, ngoài lề chưa khắc sâu kiến thức trọng tâm .

Việc sử dụng đồ dùng dạy học trực quan, tranh ảnh, SGK, thí nghiệm còn hạn chế, chưa khai thác hết tác dụng của ĐDDH.- Chưa xử lý hết các tình huống trong tiết dạy, việc tổ chức các hoạt động còn mang tính hình thức chưa phù hợp.

Phương pháp giảng dạy chưa phù hợp, năng lực tổ chức giờ học theo nhóm đối tượng còn hạn chế.

Chưa động viên tuyên dương kịp thời khi HS có một biểu hiện tích cực hay sáng tạo dù là rất nhỏ. Chưa quan tâm đến tất cả HS trong lớp, GV chỉ chú trọng vào các em HS khá, giỏi và coi đây là chất lượng chung của lớp.

Một số giáo viên không làm tròn trách niệm trong việc kiểm tra đánh giá học sinh, cho học sinh lên lớp khi các em chưa đủ chuẩn hậu quả các em phải gánh chịu khi học lên lớp trên

Còn lúng túng, chưa mạnh dạn tìm các giải pháp mạnh giải quyết vấn đề chất lượng học tập của HS, còn tâm lí trông chờ chỉ đạo của cấp trên.Tinh thần trách nhiệm một số đồng chí chưa cao, thiếu quyết tâm, bệnh thành tích vẫn còn, không đánh giá đúng thực chất của lớp mình giảng dạy.

Có đồng chí thì quá khắt khe làm các em lo sợ khi học giờ của mình, thậm chí còn làm các em thui chột tinh thần học tập .Một số giáo viên giảng dạy thiếu nhiệt tình do xã hội và các em xem nhẹ bộ môn mình đang dạy .

Một số GV còn hạn chế về chuyên môn nghiệp vụ, chưa nhiệt tình giảng dạy, chưa tích cực đổi mới phương pháp dạy học, chưa nắm chắc chuẩn kiến thức cần đánh giá nên nhiều lúc yêu cầu quá cao so với chuẩn, chưa đầu tư cho việc ra đề kiểm tra , chỉ dạy tốt những giờ thao gỉang .

Việc dạy cho học sinh tự học và sáng tạo hình như ít thực hiện, chỉ lo dạy hết nội dung đã qui định, lo cháy giáo án . Một số đồng chí còn lệ thuộc vào sách tham khảo, coi đây là “sách gối đầu giường” . Khi giảng bài trên lớp còn phụ thuộc quá nhiều vào SGK, giáo án , ít khi xuống gần học sinh, giọng nói một số giáo viên còn hạn chế .

4/ Đối với chương trình và sách giáo khoa:

Chương trình học quá ôm đồm nhiều thứ và nặng nề, thiếu thực hành, cung cấp kiến thức sự kiện là chính, một số nội dung chưa phù hợp với lứa tuổi học sinh, nhiều học sinh không theo kịp chương trình vì nặng kiến thức và nhiều môn , nội dung nhiều trong một tiết học nên giáo viên khó thực hiện đổi mới PP dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của HS vì sợ cháy giáo án .

5/ Đối với nhà trường :

Còn thiếu thốn quá nhiều về cơ sở vật chất và các trang thiết bị dạy học .Số học sinh trong một lớp còn quá nhiều nên làm cho giáo viên khó khăn trong việc quan tâm đầy đủ đến các đôí tượng HS và các em dễ quay cóp trong thi cử .

Chưa thực hiện tốt việc kiểm tra đánh giá chất lượng học sinh (ngân hàng đề, bốc thăm đề kiểm tra, quản lý đề , duyệt đề ….).

Kế hoạch phụ đạo học sinh yếu còn chậm .

6/ Đối với Phòng vá Sở :

Lịch kiểm tra cuối HK chưa phù hợp. Chỉ đạo công tác kiểm tra đánh giá chất lượng học sinh chưa được cụ thể . Cần xem xét lại mức độ khó của đề kiểm tra học kỳ .

7/ Đối với địa phương và các lực lượng xã hội :

Chưa có chương trình, kế hoạch cụ thể để tham gia giáo dục học sinh ở địa phương .

Quản lý các quán Internet chưa tốt .

Nhiều biểu hiện tiêu cực trong xã hội, nhiều thanh thiếu niên vi phạm pháp luật, sống thiếu lành mạnh vẫn chưa được xử lý đúng mức làm tác động xấu đến quá trình học tập và rèn luyện của các em . Nhiều quán xá còn lợi dụng học sinh để kinh doanh .

III/ Một số biện pháp để nâng cao chất lượng dạy học :

1/ Đối với Nhà nước:

Cần có kế hoạch xây dựng cơ sở vật chất giáo dục đảm bảo theo tiêu chuẩn qui định của Quốc gia cho tất cả các trường học để có điều kiện tổ chức tốt các hoạt động giáo dục theo mục tiêu GD&ĐT qui định, trang bị đủ các trang thiết bị để thực hiện chương trình giáo dục (có nơi dạy dỗ và học tập đường hoàn sẽ tổ chức dạy học có nền nếp và chất lượng hơn).

2/ Đối với các cấp quản lý giáo dục :

Cần xác định lại triết lý Giáo dục của Việt Nam .

Có kế họach nâng cao chất lượng đội ngũ quản lý, giáo viên và nhân viên để đáp ứng yêu cầu của từng vị trí công tác một cách tốt nhất (ai không đảm bảo yêu cầu thì cho đi học lại, chuyển làm công tác khác hoặc cho nghỉ theo chế độ qui định, đừng để người yếu kém trong ngành GD)

Tập trung trí tuệ và nguồn lực để xây dựng một chương trình giáo dục mềm dẻo và phù hợp; biên soạn sách giáo khoa chuẩn mực và phù hợp với trình độ học sinh Việt Nam . Đừng để học sinh phải học quá sức mình !

Tăng cường sự chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra chuyên môn các cơ sở giáo dục một cách nghiêm túc .Bồi dưỡng nghiệp vụ cho CBQL nhà trường (Tổ trưởng , HT, PHT) và có kế hoạch đánh giá đội ngũ quản lý các trường học một cách nghiêm túc và thường xuyên .

3/ Đối giáo viên :

Giáo viên là người chủ đạo trong việc khắc phục học sinh yếu, thành hay bại là phần lớn do giáo viên. Vì vậy giáo viên là người hết sức quan trọng trong việc khắc phục học sinh yếu .

Đối tượng học sinh phải học phụ đạo là những học sinh có điểm kiểm tra không đạt trung bình và những học sinh tuy có đạt trung bình nhưng do chính giáo viên bộ môn lập danh sách đề nghị cho phụ đạo vì không chắc với kết quả ấy. Vì vậy giáo viên cần lưu ý một số biện pháp sau:

Lập danh sách học sinh yếu báo cáo cho Tổ trưởng theo mẫu :

Phân loại học sinh: học sinh mất căn bản hoàn toàn từ lớp dưới và học sinh có khả năng học được nhưng lười học, ít được sự quan tâm chăm sóc của phụ huynh nên mê chơi ít dành thời gian cho học tập để thuận lợi trong quá trình phụ đạo.

Phân tích nguyên nhân từ đâu? Để từ đó có biện pháp khắc phục hợp lý và có hiệu quả.

Đề xuất với Tổ Trưởng, nhà trường về cách khắc phụ để tất cả cùng tập trung giải quyết có hiệu quả tốt nhất.

Giáo viên lập kế hoạch phụ đạo học sinh yếu ngoài giờ học chính khóa có thể ở trường, ở nhà (đề xuất với Tổ trưởng, nhà trường, phụ huynh…) .Chủ động gặp phụ huynh trao đổi về việc học tập của HS, cùng với phụ huynh tìm biện pháp khắc phục.

Trong tiết dạy học bình thường giáo viên soạn bài nhất thiết phải có kế hoạch dạy học cho những học sinh yếu. Kế hoạch dạy học cho học sinh yếu phải phù hợp với trình độ học sinh đó.

Phân công HS khá, giỏi giúp đỡ bạn ở trường, ở nhà. Tạo ra các nhóm học tập, thi đua trong các nhóm có học sinh yếu. Động viên, tuyên dương kịp thời học sinh yếu có tiến bộ.

Trong quá trình giảng dạy giáo viên bộ môn cần hướng dẫn học sinh sắp xếp thời gian tự học, chuẩn bị bài trước khi đến lớp… Trong giảng dạy cần xác định trọng tâm bài học, nội dung chương trình, tránh tình trạng dạy tràn lan gây nặng nề cho học sinh, nắm chắc các đối tượng trong từng lớp đẻ có biện pháp giảng dạy phù hợp, tránh tình trạng dạy học theo kiểu cào bằng (em nào cũng như em đó), đặc biệt chú ý giúp đỡ các em học tập còn yếu kém để các em tiến bộ, sẵn sàng tham gia phụ đạo học sinh yếu theo phân công.Phải thự hiện tốt việc đổi mới phương pháp và ứng dụng CNTT vào dạy học, tăng cường giáo dục động cơ thái độ học tập bộ môn, thầy phải giỏi, dạy hay, đánh giá chất lượng học sinh phải đúng chuẩn kiến thức bộ môn, đề kiểm tra phải chính xác và khoa học . Cống hiến hết sức mình cho công việc mình phụ trách .Xây dựng tốt mối quan hệ thân thiện tích cực trong thầy trò để dạy và học tốt hơn .

Trong buổi sinh hoạt chuyên môn hàng tháng giáo viên bộ môn báo cáo tiến độ tiếp thu bài của những học sinh yếu cho Tổ trưởng và giáo viên trong tổ , từ đó giáo viên nào còn vướn mắc thì được tập thể giáo viên trong tổ góp ý bổ sung.

4/Đối với Tổ trưởng

Tập hợp danh sách học sinh yếu báo cáo nhà trường.

Họp tổ, nhóm chuyên môn để phân tích nguyên nhân, bàn kế hoạch khắc phục HS yếu.

Đề xuất với nhà trường về cách khắc phục học sinh yếu.

Tổ chức chuyên đề “khắc phục học sinh yếu”.

Thường xuyên đôn đốc, kiểm tra các biện pháp khắc phục HS yếu.

Giao trách nhiệm cho từng giáo viên và báo cáo thường xuyên cho nhà trường .

Hàng tháng sinh hoạt chuyên môn với nhà trường Tổ trưởng báo cáo tiến độ tiếp thu của những em học sinh yếu .

5/Đối với lãnh đạo nhà trường :

Tập trung nâng cao chất lượng đội ngũ về phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp, năng lực chuyên môn nghiệp .

Tổ chức thực hiện tốt phong trào ” xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”, và các phong trào khác .

Lập kế hoạch và phân công dạy phụ đạo học sinh yếu ngay từ đầu mỗi năm học phù hợp với tình hình cơ sở vật chất và con người của nhà trường .

Việc chọn giáo viên phụ đạo rất quan trọng. Do đó lãnh đạo nhà trường phải thuyết phục cho được những thầy cô có kinh nghiệm, có tâm huyết theo dạy những đối tượng này. Có thể nói phải vừa dạy vừa dỗ các em đi từ những cái cơ bản nhất của bộ môn.

Thực tế có nhiều thầy rất giỏi nhưng khi dạy những đối tượng học sinh này thì không hiệu quả. Ngược lại có những thầy không phải siêu sao gì nhưng kỹ lưỡng, tỉ mỉ và kiên trì với học sinh thì mới hiệu quả hơn. Chính vì thế, việc chọn giáo viên phụ đạo cho học sinh yếu kém vừa trên cơ sở tự nguyện vừa trên cơ sở dựa vào tâm huyết, sự tận tụy, chu đáo, quan tâm của từng giáo viên và tổ trưởng bộ môn cũng không đứng ngoài việc này.

Phối hợp thật tốt với các tổ chức đoàn thể và ban đại diện cha mẹ học sinh, đặc biệt là những phụ huynh có con em thuộc diện phải phụ đạo. Phải trao đổi, giải thích rõ cho cha mẹ học sinh hiểu được sức học cụ thể của con em họ, biết được sự lo lắng, quan tâm và trách nhiệm của nhà trường để phối hợp, tạo điều kiện cho con em mình đi học đầy đủ. Làm thế nào để họ thấy rằng việc phụ đạo là việc làm giúp đỡ những học sinh yếu kém không theo kịp bạn bè, không theo kịp chương trình học.

Có những hình thức khen thưởng những học sinh tiến bộ như: có chế độ điểm thưởng cho học sinh tiến bộ, tìm nguồn bồi dưỡng cho giáo viên phụ đạo. Đồng thời cần quan tâm theo dõi và đáp ứng nguyện vọng chính đáng của giáo viên và học sinh về phòng học, photo bài học, bài tập…

Nếu gặp trường hợp học sinh yếu không chịu học, ban giám hiệu, giáo viên chủ nhiệm cần phải tiếp xúc với phụ huynh học sinh để giải thích, thuyết phục. Học sinh học phụ đạo được miễn phí hoàn toàn .

Tổng hợp danh sách học sinh yếu theo khối lớp báo cáo UBND Phường, Ban đại diện phụ huynh. Tổ chức hội thảo để tìm biện pháp tối ưu nhất khắc phục học sinh yếu.

Mời phụ huynh có học sinh yếu, Ban đại diện phụ huynh, đại diện UBND Phường, Tổ trưởng dân phố, giáo viên có học sinh yếu, Tổ trưởng để bàn biện pháp khắc phục học sinh yếu, đây là nhiệm vụ hết sức quan trọng không chỉ của nhà trường mà toàn xã hội.

Thường xuyên kiểm tra việc giáo viên phụ đạo ở trường, ở nhà. Thường xuyên họp với BĐDphụ huynh, UBND Phường, Tổ trưởng dân phố, giáo viên, phụ huynh có học sinh yếu để đánh giá kết quả đạt được, từ đó có kế hoạch điều chỉnh cho phù hợp.

6/ Đối với học sinh :

Cần xác định việc học là học để có kiến thức cho mình, để làm người, để hoà nhập với cộng đồng, để chiếm lĩnh tri thức của loài người, biến kiến thức của nhân loại thành kiến thức của mình, học để lập thân, lập nghiệp; học để phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân .

Đi học phải chuyên cần, nghỉ học phải có lý do chính đáng.

Học bài, làm bài, chuẩn bị bài trước khi đến lớp.

Trong giờ học tập trung nghe thầy cô giáo giảng bài, tích cực tham gia xây dựng bài.

Tham gia đầy đủ các buổi học phụ đạo do nhà trường tổ chức .

Thực hiện tốt đôi bạn cùng tiến .

7/ Đối với phụ huynh học sinh

Giúp đỡ HS trong quá trình học tập ở nhà, phải có thời gian biểu cho HS.

Đôn đốc, động viên con em đi học chuyên cần. Nhắc nhở con đi học phụ đạo.

Có sự kiểm tra và chuẩn bị cho con em trước khi đến trường.

Thường xuyên liên hệ với giáo viên chủ nhiệm lớp để nắm được tình hình học tập của con em mình, từ đó giáo viên chủ nhiệm cùng trao đổi với phụ huynh để tìm biện pháp tốt nhất cho con em mình học tập.

Theo dõi và kiểm tra bài vở của con em mình.

8/Đối với Ban đại diện phụ huynh

Ban đại diện phụ huynh mời phụ huynh có con em học yếu họp bàn về cách khắc phục.

Ban đại diện phụ huynh có biện pháp hỗ trợ về vật chất cho giáo viên, học sinh (nếu có).

Ban đại diện phụ huynh thường xuyên trao đổi với phụ huynh có con em học yếu, với giáo viên, với nhà trường.

Đặc biệt thường xuyên động viên, đôn đốc phụ huynh cho con đi học chuyên cần.

8/Đối với Đảng và chính quyền địa phương :

Cần quan tâm đúng mức đến sự nghiệp GD&ĐT của địa phương , chú ý đến diện tích sân trường, xây dựng cơ sở vật chất, tăng cường các trang thiết bị, xây dựng tốt môi trường GD….

Huy động mọi nguồn lực của xã hội để chăm lo cho giáo dục . Cần phải nêu cao tinh thần trách nhiệm và lòng nhiệt tình trong việc phối hợp với nhà trường để giáo dục học sinh .

Nhà trường thường xuyên báo cáo về những phụ huynh không quan tâm hoặc để con em ở nhà đi học không chuyên cần. Từ đó Tổ trưởng dân phố có biện pháp nhắc nhở, động viên những phụ huynh này.

Cần có biện pháp hỗ trợ vật chất cho những gia đình gặp khó khăn.

IV/ Kết luận:

Học sinh yếu là một tồn tại khách quan, một phần do giáo viên chưa quan tâm đúng mức, chưa giúp đỡ kịp thời để các em hổng kiến thức cơ bản. Một phần là do các em không thích học, không biết cách học dẫn đến ngày một tụt hậu so với trình độ chung của lớp…. Không kể nguyên nhân do đâu, giúp đỡ học sinh yếu là việc làm cần thiết, không nóng vội, có lộ trình hợp lý, có biện pháp hiệu quả và kịp thời, có kế hoạch riêng cho mỗi học sinh.

Phụ đạo cho học sinh yếu kém trong nhà trường là việc làm hết sức tế nhị và đòi hỏi có nhiều công sức, sự yêu thương tận tụy và cố gắng của thầy và trò.

Giáo viên là người chủ đạo trong việc khắc phục học sinh yếu, thành hay bại là phần lớn do giáo viên. Vì vậy giáo viên là người hết sức quan trọng trong việc khắc phục học sinh yếu.

Có thể nói giáo viên là yếu tố quyết định về kết quả phụ đạo học sinh yếu. Nếu có được những thầy cô tâm huyết, có kinh nghiệm dạy học sinh yếu, tận tụy với từng học sinh thì kết quả mới khả quan được.

Làm thế nào để Nâng cao chất lượng giáo dục?” là một câu hỏi đặt ra và suy nghĩ rất nhiều của những người thầy Tận Tâm với nghề giáo trong thời điểm hiện nay khi chúng ta đã làm nhiều biện pháp nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của xã hội, của nhà trường, của bộ môn.

Tùy vào hoàn cảnh cụ thể của từng năm ở từng khối lớp mà nhà trường có kế hoạch và biện pháp thích hợp để nâng cao được trình độ cho học sinh lỡ mất căn bản trong học tập – giúp các em có cơ hội hội nhập cùng với bạn bè. Kế hoạch phải được lập ngay từ đầu năm và phải tổ chức thực hiện thật chu đáo. Để thành công trong công tác phụ đạo học sinh yếu nhà trường phải biết huy động mọi nguồn lực của xã hội để cùng làm cho hiệu quả .

Phải xác định: Mỗi thầy cô giáo phải có trách nhiệm giúp đỡ học sinh yếu kém để các em này cải thiện tình hình học tập của mình một cách tốt nhất (Dạy học là dạy cho người chưa biết để họ được biết).

4. Biện pháp nâng cao chất lượng bộ môn sinh học

Thay đổi cách kiểm tra bài cũ

Thông thường, phần kiểm tra bài cũ được giáo viên tiến hành ở đầu giờ. Đây là việc làm theo đúng tiến trình dạy học.

Tuy nhiên, sự lặp đi lặp lại cách làm đó sẽ khiến học sinh nhàm chán, đôi khi gây áp lực, tạo sự căng thẳng cho học sinh trong suốt tiết học hôm đó.

Theo tôi giáo viên có thể lồng ghép các câu hỏi kiểm tra kiến thức đã học trong quá trình dạy bài mới để làm giảm bớt đi sự căng thẳng không đáng có.

Ví dụ : Khi dạy mục I bài 29. Hấp thụ chất dinh dưỡng và thải phân , giáo viên có thể treo tranh phóng to về Cấu tạo trong của ruột non. Sau đó yêu cầu học sinh nhắc lại cấu tạo của ruột non phù hợp với chức năng tiêu hóa; kiểm tra kiến thức của học sinh về cấu tạo của ruột non, sau đó nhận xét và cho điểm.

Thay đổi cách đặt vấn đề vào bài mới

Trong một giờ học, nếu ngay từ phần vào bài giáo viên đã tạo ra sự hứng thú cho học sinh, chắc chắn trong những phút tiếp theo, các em sẽ hào hứng hơn với những hoạt động do giáo viên tổ chức.

Do đó phần vào bài có vai trò quan trọng đến hoạt động dạy cũng như kích thích quá trình tiếp thu kiến thức của học sinh trong một tiết dạy.

Kinh nghiệm của tôi để có cách dẫn dắt vào bài mới hấp dẫn hơn là: Mở đầu bằng một câu chuyện vui; mở đầu bằng một đoạn phim hay hình ảnh; hay mở đầu bằng một câu chuyện li kì, hấp dẫn…

Một điều cần lưu ý là: đặt vấn đề hay góp phần làm tăng tính hấp dẫn cho bài học, tạo hứng thú cũng như làm cho không khí học tập trở nên thoải mái hơn. Tuy nhiên, giáo viên cũng cần chú ý đến thời gian cho phần vào bài để tránh ảnh hưởng đến thời lượng dành cho bài mới.

Thay đổi cách giao tiếp

Trong hoạt động dạy học luôn đòi hỏi sự tương tác qua lại thường xuyên giữa thầy và trò. Một trong những điều kiện để học sinh có thể học sâu là các em phải có cảm giác thoải mái.

Trong quá trình giao tiếp với học sinh, giáo viên cần có thái độ nhẹ nhàng, vui vẻ, tạo cho học sinh cảm giác được yêu thương, nhưng khi cần vẫn phải nghiêm khắc để học sinh hiểu được giới hạn của sự thoải mái. Vì nếu quá dễ dãi, học sinh không kính nể sẽ rất khó dạy; quá nghiêm khắc, học sinh sẽ bị ức chế khó tiếp thu bài học.

Hơn ai hết, giáo viên phải nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên đối với công tác giáo dục. Khi cảm thấy mình được tôn trọng có nghĩa là các em sẽ thêm phần tự tin vào bản thân mình, sẽ đáp lại bằng thái độ tôn trọng, yêu quý đối với thầy cô, nhờ đó mà cũng sẽ yêu thích hơn bộ môn những thầy cô giáo đó đang giảng dạy.

Bên cạnh đó, người giáo viên cũng cần quan tâm đến những học sinh chậm tiến của lớp, quan tâm nhắc nhở các em học bài và chỉ cách học bài cho học sinh; kịp thời khen ngợi khi học sinh tiến bộ.

Ví dụ, có em học sinh chậm tiến lần thứ nhất kiểm tra bài cũ chỉ được 3 điểm, nhưng lần thứ hai được 5 điểm, giáo viên cần khen ngợi để học sinh cảm thấy mình có tiến bộ, từ đó sẽ cố gắng nhiều hơn.

Đổi mới cách thức soạn bài và thiết kế các hoạt động dạy học

Trước hết, giáo viên cần nghiên cứu kĩ nội dung của bài học trong sách giáo khoa, kết hợp nghiên cứu những tài liệu tham khảo khác như sách giáo viên, sách giải bài tập sinh học, chuẩn kiến thức kĩ năng,… để chỉ ra được mục tiêu chính là những yêu cầu về kiến thức, kĩ năng và thái độ cần hướng học sinh tìm hiểu và đạt được.

Tiếp theo, giáo viên xác định số lượng hoạt động, hình thức tổ chức và nội dung các hoạt động nhằm đạt được các mục tiêu ở trên.

Tuy nhiên, để hướng đến sự thích thú, say mê của học sinh với mỗi hoạt động đó thì giáo viên cần lựa chọn cách tổ chức phù hợp nhất, làm sao để học sinh phát huy tối đa khả năng và hiểu biết của bản thân, đồng thời có sự liên kết chặt chẽ với tập thể.

Trong quá trình thiết kế, giáo viên nên có sẵn những dự kiến và phương án giải quyết cho những tình huống không theo ý muốn có thể xảy ra để có thể chủ động điều chỉnh nhằm tránh sự lúng túng, kéo dài thời gian, thậm chí là không đạt được các mục tiêu đã đề ra.

Chuẩn bị đồ dùng dạy học chu đáo cho các tiết dạy

Trong quá trình tổ chức các hoạt động dạy học, giáo viên không thể bỏ qua vai trò của các đồ dùng, phương tiện dạy học. Việc lựa chọn được những đồ dùng phù hợp và có chất lượng không chỉ làm tăng hiệu quả của việc khai thác, phát hiện kiến thức mà còn tạo ra sự thích thú cho học sinh.

Trong nhiều trường hợp, giáo viên có thể giao nhiệm vụ cho học sinh chuẩn bị những đồ dùng nhất định. Khi được tự chuẩn bị, học sinh sẽ phải nghiên cứu tài liệu để hiểu về vấn đề được giao tức là các em đã được học tập thêm một lần nữa.

Ví dụ: Khi sử dụng tranh vẽ “Thí nghiệm về hoạt động của enzim trong nước bọt” (hình 26- SGK, trang 85, sinh 8) để khai thác phát hiện kiến thức mới, giáo viên phải hướng học sinh chỉ ra được: Vì sao ống A lại có độ trong không đổi? Vì sao ống B lại có độ trong tăng lên và vì sao ống C và D lại có độ trong không đổi! Từ đó, hướng học sinh đến kết luận về hoạt động của enzim trong tuyến nước bọt.

Tổ chức các hoạt động dạy học

Một số cách tổ chức các hoạt động học tập

Tổ chức dạy học theo nhóm sử dụng kĩ thuật “Khăn phủ bàn”: Để tiến hành kĩ thuật này, giáo viên chia học sinh thành nhóm (4 người/nhóm), mỗi người ngồi vào một vị trí đã được sắp xếp. Mỗi nhóm được nhận một tờ giấy có chia các ô dành cho hoạt động của từng cá nhân, ở giữa là ô trống dành cho kết quả chung của nhóm sau khi đã thống nhất ý kiến.

Tổ chức dạy học theo nhóm sử dụng kĩ thuật “Các mảnh ghép”: Để thiết kế, giáo viên cần lựa chọn nội dung/chủ đề phù hợp, xác định một nhiệm vụ phức hợp cần giải quyết ở vòng 2 dựa trên các nhiệm vụ khác nhau đã thực hiện ở vòng 1. Học sinh được chia thành các nhóm, giao nhiệm vụ cụ thể cho mỗi thành viên trong nhóm.

Trong quá trình tiến hành, ở vòng 1 giáo viên tổ chức cho học sinh hoạt động theo nhóm 3 hoặc 4 người, mỗi nhóm được giao một nhiệm vụ, đảm bảo mỗi thành viên trong nhóm đều trả lời được tất cả các câu hỏi trong nhiệm vụ được giao, mỗi thành viên đều trình bày được kết quả câu trả lời của nhóm.

Ở vòng 2, giáo viên hình thành nhóm 3 hoặc 4 người mới là sự kết hợp giữa mỗi thành viên trong mỗi nhóm trên, các câu trả lời và thông tin của vòng 1 được các thành viên nhóm mới chia sẻ đầy đủ với nhau. Sau khi chia sẻ xong thông tin ở vòng 1, nhiệm vụ mới sẽ được giao cho nhóm vừa lập để giải quyết. Các nhóm mới trình bày, chia sẻ kết quả nhiệm vụ ở vòng 2.

Tuy nhiên, điều quan trọng là thiết kế và tổ chức như thế nào để mọi thành viên đều phát huy được năng lực cá nhân cũng như biết cách phối hợp với tập thể nhằm tăng cường sự liên kết và khả năng thu nhận, tích lũy kiến thức.

Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học

Khi được hỗ trợ bởi công nghệ thông tin thì khả năng truyền tải ý tưởng của giáo viên cũng dễ dàng và phong phú hơn.

Để có thể sử dụng hiệu quả công nghệ thông tin trong dạy học, giáo viên cần phải đầu tư nhiều thời gian để học tập, nghiên cứu cho thành thạo cách thiết kế bài giảng, cách khai thác các ứng dụng khác.

Đồng thời, giáo viên cần nghiên cứu kĩ nội dung bài dạy để thiết kế những hoạt động dạy học phù hợp, có kế hoạch sắp xếp và khai thác hợp lí các tranh, ảnh, mô hình, băng hình,… sưu tầm được theo trật tự nhất định phù hợp với nội dung kiến thức từng phần.

Trong quá trình dạy học phải gắn kiến thức với thực tiễn

Sự gần gũi của kiến thức lí thuyết với thực tế giúp học sinh dễ dàng kiểm chứng, liên hệ đã trở thành một trong những yếu tố thúc đẩy tính tích cực của học sinh.

Ví dụ: Khi dạy bài 25. Tiêu hóa ở khoang miệng, giáo viên yêu cầu học sinh liên hệ với thực tế giải thích vì sao: Tại sao khi nhai cơm lâu trong miệng ta thấy có vị ngọt?

Tại sao khi ăn uống ta không nên cười đùa thái quá?

Khi ăn uống ta có thực hiện đồng thời phản xạ nuốt không?….

Bồi dưỡng học sinh năng khiếu bộ môn

Tiến hành phân loại học sinh trên cơ sở bài khảo sát đầu năm và thông qua quá trình giảng dạy từ đó sẽ chọn lọc ra những học sinh năng khiếu để tiến hành bồi dưỡng vào thời gian trái buổi hoặc vào ngày chủ nhật.

Phối hợp với giáo viên chủ nhiệm, phụ huynh học sinh chặt chẽ để truy bài cho các em vào những buổi chiều hoặc ngày chủ nhật nhằm giúp các em nắm kiến thức trọng tâm và nâng cao của từng bài học cụ thể.

Thường xuyên liên lạc với phụ huynh, kết hợp với phụ huynh hướng dẫn về biện pháp để giúp con em học tập để có kết quả cao.

Bài Thuyết Trình Thi Giáo Viên Giỏi Mầm Non

Thuyết trình thi giáo viên giỏi

Bài thuyết trình dự thi giáo viên giỏi mầm non bao gồm các mẫu thuyết trình hay và chọn lọc cho các thầy cô tham khảo chuẩn bị cho các kì thi giáo viên giỏi cấp trường, cấp huyện đạt hiệu quả cao.

Bài thuyết trình dự thi giáo viên giỏi mầm non

Hội thi giáo viên dạy giỏi là một trong những căn cứ để đánh giá thực trạng đội ngũ, từ đó xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho giáo viên, đáp ứng yêu cầu đổi mới của giáo dục.

Bài thuyết trình Hội thi giáo viên giỏi mầm non Mẫu 1

– Thưa Ban giám khảo!

Hôm nay tôi rất vinh dự được tham gia thuyết trình trong hội thi “Giáo viên dạy giỏi” cấp Huyện năm học 2019-2020, với “Biện pháp gây hứng thú cho trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi qua hoạt động học”.

Kính thưa ban giám khảo!

Hoạt động học là một trong những giờ sinh hoạt một ngày của cô và cháu ở trường. Qua hoạt động học sẽ giúp trẻ có thêm một số kiến thức mới về sự vật, hiện tượng xung quanh và kỹ năng cần thiết. Nhưng trẻ của lớp còn hiếu động không chịu ngồi yên, hay đùa nghịch, nói tự do không tập trung chú ý, nên tôi nghĩ việc gây hứng thú cho trẻ trong hoạt động học là rất quan trọng, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục.

Năm học 2019-2020, được sự phân công của lãnh đạo nhà trường, bản thân phụ trách lớp Mẫu giáo 4-5 tuổi. 1 với 28 trẻ . Trong quá trình tổ chức hoạt động học cho trẻ thì bản thân tôi có những thuận lợi như sau:

* Thuận lợi:

– Lãnh đạo nhà trường luôn tạo điều kiện về cơ sở vật chất và đồ dùng phục vụ cho trẻ trong hoạt động học .

– Một số trẻ ở lớp mạnh dạn, tự tin, tích cực tham gia vào các hoạt động.

– Được sự quan tâm của các bậc phụ huynh về cách giáo dục trẻ và luôn hỗ trợ những nguyên vật liệu để làm đồ dùng, đồ chơi.

Tuy nhiên bên cạnh những thuận lợi, tôi còn gặp một số khó khăn trong quá trình thực hiện.

* Khó khăn

– Trong lớp còn có trẻ nhút nhát không tham gia hoạt động cùng các bạn. Lớp có nhiều trẻ hiếu động, khả năng tập trung chú ý thấp.

– Một vài trẻ chưa học qua lớp 3- 4 tuổi, trẻ chưa có nền nếp khi tham gia hoạt động học.

Với những thuận lợi và khó khăn trên, để tổ chức tốt hoạt động học cho trẻ có hiệu quả, bản thân tôi thực hiện biện pháp gây hứng thú cho trẻ qua các hoạt động học như sau:

Nghệ thuật tạo hứng thú cho trẻ trong hoạt động học vừa dễ lại vừa khó. Vì trẻ rất thích những điều mới lạ nhưng dễ chán với những gì quen thuộc. Cho nên, tôi luôn suy nghĩ thay đổi một số hình thức trong hoạt động học để thu hút sự chú ý của trẻ , tạo không khí giờ học trở nên hào hứng, sôi nổi, không gò bó mà vẫn đạt kết quả cao. Cụ thể:

1. Gây hứng thú cho trẻ thông qua đồ dùng, đồ chơi, vật thật

Lên 4 tuổi tư duy trực quan hình tượng của trẻ vẫn còn, nên tôi đã sáng tạo làm nhiều loại đồ dùng, đồ chơi bằng những nguyên vật liệu phù hợp với từng nội dung hoạt động để gây hứng thú cho trẻ, giúp trẻ có những ấn tượng tốt về đồ vật, sự vật đó ngay từ ban đầu hoạt động học.

Ví dụ:

– Trong hoạt động kể chuyện: Tôi dùng bìa cứng, giấy màu, xốp, hộp, chai nhựa, vải, len, các hột hạt tạo thành những nhân vật rối que, rối tay để làm đồ dùng trực quan gây hứng thú cho trẻ.

Chẳng hạn với câu chuyện “Thỏ ngoan” tôi dùng vải vụn, bông gòn, hột hạt tạo những nhân vật rối như Thỏ, Cáo, Bác Gấu để cho trẻ đoán câu chuyện cô sắp kể, từ đó trẻ sẽ chú ý lắng nghe câu chuyện cô sắp kể với các nhân vật đó.

– Trong hoạt động môi trường xung quanh “Tìm hiểu vật nuôi trong gia đình”

Tôi sử dụng con vịt thật, cho trẻ nghe tiếng kêu và đoán tên con vịt. Sau đó tôi cho trẻ xem con vịt và cùng trò chuyện.

Cũng với đồ dùng tự tạo đó tôi chú ý đến việc sử dụng giới thiệu cho trẻ bằng nhiều hình thức khác nhau để gây hứng thú cho trẻ.

Ví dụ:

– Trong hoạt động thể dục: Tôi dùng quả bóng, kẽm lông, vải nỉ làm mũ kiến, tôi cho trẻ đội làm những chú kiến nhảy vũ điệu Kiến, trẻ rất thích ngay từ đầu hoạt động.

– Trong hoạt động tạo hình: Với đề tài “Những chiếc vòng xinh” tôi cho trẻ chuyền tay nhau những chiếc vòng làm bằng lá dừa, lá mì trẻ rất thích và từ đó trẻ sáng tạo hơn trong làm ra sản phẩm.

2. Gây hứng thú thông qua trò chơi

Để tránh tình trạng trẻ bị nhàm chán, mệt mỏi trong hoạt động, tôi luôn tổ chức đan xen các trò chơi để nhằm thay đổi giữa trạng thái động và tĩnh cho trẻ. Từ nội dung của hoạt động, tôi chuyển sang trò chơi một cách nhẹ nhàng để thông qua chơi mà trẻ học. Hay thông qua chơi trẻ sẽ được cảm giác thoải mái để tiếp tục tham gia hoạt động.

Ví dụ:

– Trong kể chuyện “Quả trứng” tôi cho trẻ đội mũ vịt chơi trò chơi “Chuyển trứng vào ổ”. Sau khi chuyển hết trứng, cô mời các chú vịt đi ngủ. Trẻ ngồi nhắm mắt lại. Cô ra hiệu lệnh trời sáng, trẻ mở mắt ra. Cô nói cho trẻ biết sau một đêm số trứng của trẻ chuyển về đã nở ra những chú vịt con rất xinh xắn(cô làm những chú vịt bằng hũ sữa chua) và tặng những con vịt đó cho trẻ. Sau đó, cô cho trẻ chơi với những chú vịt đó bằng những trò chơi khác nhau như xây chuồng vịt, nặn thức ăn cho vịt,… trẻ rất thích thú và tích cực tham gia vào hoạt.

– Trong hoạt động tìm hiểu các con vật: Sử dụng trò chơi như: Đối đáp về tiếng kêu các con vật (cô nêu tên con vật, trẻ làm tiếng kêu và mô phỏng dáng đi điệu bộ của con vật tương ứng). Sau đó, cô cùng trẻ trò chuyện về các con vật.

– Trong hoạt động âm nhạc: Đề tài “Hát: Đàn gà trong sân”, sau khi trẻ thuộc bài hát, cô tổ chức cho trẻ chơi trò chơi âm nhạc bằng cách nghe giai điệu phát ra từ chú gà trống và đoán tên bài hát, chích bong bóng tìm yêu cầu của trò chơi âm nhạc,…

– Trong hoạt động thể dục: cho cả lớp chơi: Bóng lăn, trẻ vừa chơi vừa mô phỏng quả bóng lăn về hai hàng ngang bên phải- trái (thay vì cô yêu cầu trẻ về hai đội bạn trai, bạn gái).

Hay tôi sử dụng một số trò chơi nhỏ như “Trời tối, trời sáng”, “Úm ba la”,… để gây sự bất ngờ cho trẻ xem một vật nào đó.

Như vậy có rất nhiều trò chơi để gây hứng thú nhưng tùy theo hoạt động học mà tôi vận dụng một cách sáng tạo để luôn đem lại hứng thú cho trẻ.

3. Gây hứng thú thông qua sử dụng âm nhạc, thơ, vè, kể chuyện

Âm nhạc là hoạt động thường mang tính vui tươi, nhí nhảnh, mang lại sự hứng thú cho trẻ rất cao. Vì vậy, tôi thường dùng âm nhạc vào hoạt động học để gây hứng thú cho trẻ.

– Ví dụ: Chủ đề “Trường mầm non” tôi cho trẻ hát và vận động bài hát “Vui đến trường”, sau đó cùng trò chuyện với trẻ về trường mầm non. Hay học đếm đến 5, cô cho trẻ hát bài hát “Tập đếm”.

Để tạo sự mới lạ, tôi sáng tác một số bài hát dựa trên lời bài hát có sẵn để gây hứng thú cho trẻ.

-Ví dụ: Hoạt động tìm hiểu về quả, sau khi chơi trò chơi hái quả cô cho trẻ hát theo giai điệu bài hát: “Lý kéo chài” để chuyển hoạt động.

“Đã đến rồi khu vườn cây trái, chúng mình ơi thăm bác nông dân. Tình tang tang tình tính tang. Giúp bác nông dân cùng nhau hái quả để đem về nhà. Ơi hò là hò ơi!”

– Chẳng hạn như ở hoạt động “Tìm hiểu những con côn trùng” đầu tiên trò chuyện về con muỗi, tiếp theo là trò chuyện về con kiến, nhưng nếu để trẻ ngồi một chỗ trò chuyện từ con vật này sang con vật khác thì trẻ rất dễ nhàm chán, không hứng thú vào hoạt động nữa nên tôi cho trẻ đứng lên làm đàn kiến và cùng đọc bài đồng dao về con kiến để di chuyển đến mô hình đàn kiến trẻ rất thích. Hay sau khi cung cấp kiến thức xong, tôi cho cả lớp cùng đọc bài thơ tự sáng tác để về 3 đội thi đua. Nội dung bài thơ như sau:

Kiến xanh, kiến đỏ Kiến cam, kiến vàng Đi lại từng đàn Kiếm được mồi ngon Cùng tha về tổ

Hay trong hoạt động làm quen với toán: Cho trẻ đọc bài vè về quả, sau đó cho trẻ lên tìm những loại quả có trong bài vè và đếm số lượng.

Hay trong hoạt động tìm hiểu về nghề trồng lúa: Kể cho trẻ nghe câu chuyện sự tích hạt lúa, sau đó cùng trẻ tìm hiểu về nghề trồng lúa.

4. Gây hứng thú thông qua sử dụng tình huống

Để mở đầu cho hoạt động, tạo được hứng thú cho trẻ, tôi dựa vào nội dung yêu cầu để sử dụng những hình thức kích thích trẻ suy nghĩ, phán đoán và có nhu cầu muốn được tìm hiểu, khám phá. Sử dụng tình huống có vấn đề là đưa ra tình huống có vấn đề và gợi ý để trẻ tìm ra cách giải quyết. Trẻ có thể đưa ra nhiều phương án khác nhau, cô và trẻ cùng thử thực hiện và chọn cách giải quyết hiệu quả nhất.

Chẳng hạn ở hoạt động “Tìm hiểu về gió”, tôi tắt hết quạt, đóng cửa sổ, cô và trẻ cùng chơi trò chơi: Bay thấp- bay cao. Rồi cô gợi hỏi trẻ:

+ Con cảm thấy không khí của lớp như thế nào?

+ Muốn mát mình phải làm sao?

Rồi cô và trẻ thử mở cửa sổ, dùng quạt giấy, lấy khăn ướt lau mặt,… Sau đó, cả lớp cùng thử mở quạt máy. Cô hỏi trẻ chọn cách nào là mát nhất.

– Hay tình huống: Cô ra vườn hái một số loại trái cây, yêu cầu trẻ tìm ra những loại trái cây có đặc điểm giống nhau (Hoạt động tìm hiểu về loại trái cây nhiều hạt), gà mái mẹ lạc mất trứng, nhờ lớp tìm giúp 4 quả trứng mang về ổ (Hoạt động: Đếm đến 4. Nhận biết chữ số 4),…

Sau thời gian áp dụng “Biện pháp gây hứng thú cho trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi qua các hoạt động học”, tôi đạt được một số kết quả như sau:

* Đối với giáo viên:

– Tôi có thêm kinh nghiệm hơn trong việc gây hứng thú cho trẻ trong hoạt động học.

– Các hoạt động học đạt hiệu quả và thu hút trẻ tham gia tích cực hơn.

* Đối với trẻ:

– Trẻ tập trung vào giờ học nhiều hơn, tiếp thu nhanh kiến thức mới và có những kỹ năng cần thiết.

Tóm lại để hoạt động học có hiệu quả, trẻ trung chú ý vào hoạt động, theo bản thân tôi cần phải:

– Có hiểu biết đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi, khả năng, nhu cầu của trẻ để có phương pháp giáo dục thích hợp.

Kính thưa Ban tổ chức, ban giám khảo!

Tôi vừa trình bày xong bài thuyết trình: “Biện pháp gây hứng thú cho trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi qua các hoạt động học”.

Cuối cùng xin kính chúc Ban tổ chức, ban giám khảo luôn mạnh khỏe, hạnh phúc và thành đạt. Chúc Hội thi thành công tốt đẹp!

Bài thuyết trình Hội thi giáo viên giỏi mầm non Mẫu 2

“Một số biện pháp dạy trẻ 24-36 tháng tuổi biết quan tâm và yêu thương mọi người xung quanh” I. Cơ sở lí luận:

Như chúng ta biết:”Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai”. Trẻ em chính là niềm vui, niềm hạnh phúc, niềm hi vọng của mỗi gia đình và toàn xã hội.

Như chúng ta biết nhân cách của trẻ không phải ngẫu nhiên mà có. Nó được hình thành trên cơ sở nền tảng của giáo dục. Là một giáo viên có nhiều năm kinh nghiệm trong nghề tôi luôn băn khoăn làm thế nào để có thể giáo dục các bé biết yêu thương, đoàn kết, quan tâm, chia sẻ với bạn bè, người thân và mọi người xung quanh. Và đó là lý do tôi chọn bài thuyết trình về: “Một số biện pháp dạy trẻ 24 -36 tháng tuổi quan tâm và yêu thương mọi người xung quanh

II. Biện pháp thực hiện: Biện pháp 1: Khảo sát

Tôi tiến hành khảo sát trẻ như sau:

– Thông qua hoạt động vui chơi, chơi ở các góc, tôi bao quát, quan sát trẻ chơi sau đó ghi chép lại một cách cẩn thận, tỉ mỉ xem trong khi chơi trẻ có tranh giành đồ chơi với bạn không, biết nhường bạn hay chưa, trẻ đã biết chơi đoàn kết cùng các bạn chưa, trẻ có biết phối hợp cùng bạn trong lúc chơi không?

– Thông qua giờ đón trả trẻ, các giờ hoạt động trong ngày trẻ chơi cùng bạn, tôi quan sát trẻ sau đó ghi chép lại những thái độ, cách bộc lộ cảm xúc của trẻ với bố mẹ, cô giáo và các bạn.

* VD: Tôi cho trẻ quan sát một đoạn video về câu chuyện ”Đôi bạn nhỏ” và đàm thoại với trẻ:

+ Các con vừa xem gì?

+ Con thấy bạn gà và bạn vịt trong đoạn băng đang làm gì?

+ Điều gì xảy ra khi bạn gà bị cáo đuổi bắt?

– Trong giờ đón trẻ tôi trò chuyện cùng trẻ:

+ Ở nhà các con biết làm những công việc gì để giúp đỡ bố mẹ?

+ Để bố mẹ vui lòng thì con thường làm gì?

+ Con cảm thấy thế nào khi được bố mẹ khen?

Như vậy, việc giúp trẻ hiểu được tầm quan trọng của việc biết yêu thương và chia sẻ là điều không thể thiếu được trong quá trình giáo dục trẻ phát triển toàn diện về nhân cách cho trẻ mầm non.

Biện pháp 2: Giáo dục trẻ biết yêu thương và quan tâm trên hoạt động học:

Thời gian cho mỗi hoạt động học của trẻ nhà trẻ là từ 15- 20 phút nên nội dung tích hợp trong mỗi bài giảng còn hạn chế, chưa có tác dụng khơi gợi cảm xúc và kích thích mong muốn thể hiện tình cảm ở trẻ. Vì vậy tôi đã thiết kế giáo án nhằm dạy trẻ biết quan tâm và yêu thương với mọi người.

Giáo án: Nhận biết tập nói

Giáo án: Dạy trẻ biết chia sẻ yêu thương.

Đề tài: : Bản thân và gia đình thân yêu

* Mục đích- yêu cầu:

– Giúp trẻ phát triển ngôn ngữ, trí tưởng tượng, trẻ hiểu chia sẻ là niềm vui.

– Trẻ biết tên các thành viên trong gia đình

– Trẻ biết yêu mến những người thân trong gia đình.

Qua bài học trẻ biết quan tâm yêu thương không chỉ với bạn bè và mọi người xung quanh mình mà trẻ còn biết yêu thiên nhiên biết cùng bạn bảo vệ môi trường xung quanh mình.

Biện pháp 3: Dạy trẻ biết quan tâm và chia sẻ thông qua trò chơi tập thể:

Như chúng ta đã biết, hoạt động chủ đạo của trẻ chính là hoạt thộng vui chơi.Trẻ học thông qua chơi, chơi thông qua học.

Ví dụ một số trò chơi:

* Trò chơi 1: “Hành động yêu thương”

+ Trẻ biết thể hiện tình cảm của mình cho bạn biết bằng các cử chỉ, hành động đơn giản như cầm tay, nắm tay, khoác vai, ôm bạn.

* Trò chơi 2: “Tình bạn thân thiết”

* Trò chơi 3: ” Sinh nhật vui vẻ”

Biện pháp 4: Sưu tầm bài thơ, truyện có nội dung dạy trẻ biết quan tâm giúp đỡ mọi người

VD: Bài thơ: ” Bạn mới”

Giáo dục trẻ: Thông qua bài thơ giáo dục trẻ biết giúp đỡ , quan tâm đến bạn bè xung quanh

VD: Bài thơ: “Yêu mẹ”

Giáo dục trẻ: Biết yêu mẹ của mình và những người thân trong gia đình

Những câu truyện sưu tầm:

VD: Truyện: “Đôi bạn tốt”

Giáo dục trẻ: Thông qua câu chuyện “Đôi bạn tốt”, giáo dục trẻ biết yêu thương, chia sẻ và nhường nhịn bạn

Biện pháp 5: Dạy trẻ biết chia sẻ thông qua ngày hội, ngày lễ:

Ngày 20/10, ngày Tết Trung Thu, Noel, Tết Nguyên Đán, ngày 8/3 và đặc biệt hướng ứng ngày hạnh phúc 20/3. Với mỗi ngày hội tôi cố gắng sử dụng một hình thức tổ chức riêng nhằm lôi cuốn hấp dẫn trẻ tích cực tham gia hoạt động.

Ví dụ: Ngày 8/3- ngày quốc tế phụ nữ

Trước ngày tổ chức lễ hội tôi cùng trẻ trò chuyện về ý nghĩa ngày hội, đưa ra ý định, hình thức tổ chức và thăm dò ý kiến của trẻ về món quà tặng bà và mẹ. Sau đó dạy trẻ làm bưu thiếp tặng bà, tặng mẹ, giúp trẻ ghi lại cảm xúc, lời chúc của trẻ dành cho bà và mẹ.

Biện pháp 6: Phối kết hợp với phụ huynh để dạy trẻ biết quan tâm và yêu thương mọi người xung quanh

– Qua bảng tuyên truyền ở lớp và giờ đón, trả trẻ tôi kết hợp với phụ huynh thường xuyên giáo dục trẻ biết quan tâm và giúp đỡ mọi người xung quanh

– Qua đó sự chăm sóc và giáo dục cho trẻ tôi thấy được sự chú ý của trẻ phát triển một cách rõ rệt.

Muốn trẻ em hình thành được tính quan tâm đến mọi người thân xung quanh trẻ thì nhà trường và phụ huynh phải thống nhất những yêu cầu giáo dục trẻ. Giáo viên thông báo với phụ huynh những biện pháp giáo dục trẻ, yêu cầu phụ huynh theo dõi giúp đỡ và cho biết tình hình thực tiễn ở nhà để cùng phối hợp giáo dục trẻ.

III. Kết quả khảo sát thực nghiệm:

Qua kết quả thực nghiệm tôi thấy. Phần lớn các cháu thích đến lớp, biết vâng lời cô, yêu thương giúp đỡ bạn và mọi người xung quanh.

– Trong giờ chơi hiện tượng đánh nhau, tranh giành đồ chơi giảm bớt và không còn nữa. Trẻ chơi đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau.

– Không những thế trẻ biết quan tâm, chia sẻ công việc với cô và bạn bè như: Giúp cô, lấy ghế ngồi, lấy đồ những đồ dùng của trẻ khi cô yêu cầu….

IV. Kết luận

Qua quá trình thực hiện giáo dục trẻ biết quan tâm và yêu thương mọi người xung quanh chúng ta thấy rằng việc giáo dục trẻ biết yêu thương và chia sẻ là một yếu tổ rất quan trọng và rất cần thiết . Muốn đạt được những thành tích trên, trước hết là nhờ sự phấn đấu của bản thân và sự đoàn kết của chị em đồng nghiệp, nhà trường và phụ huynh đã giúp đỡ để tôi thực hiện chuyên đề một cách dễ dàng hơn.

Bản thân tôi được trao đổi kiến thức và kinh nghiệm dạy trẻ qua các hoạt động học, các hoạt động vui chơi, ngoài ra tôi còn được phụ huynh, đồng nghiệp tin tưởng, yêu quý.

Vừa rồi tôi đã trình bày xong bài thuyết trình của mình, xin cảm ơn các đồng chí đã chú ý lắng nghe.

Bài thuyết trình Hội thi giáo viên giỏi mầm non Mẫu 3

Kính thưa ban giám khảo!

Không những nhà giáo dục mà hơn ai hết chính cha mẹ học sinh đều mong muốn trẻ hình thành và phát triển nhân cách sớm, đặc biệt là có thói quen tốt và hành vi có đạo đức tốt để hình thành nhân cách cho trẻ sau này.Với vai trò quan trọng như vậy, thử hỏi nếu chúng ta không làm tốt hoạt động lấy trẻ làm trung tâm, giúp cho trẻ thể hiện nhận thức của trẻ thì có mang lại được kết quả như mong đợi không? Hay chúng ta cứ tiếp tục dạy trẻ theo kiểu cô nói trẻ lắng nghe nếu việc dạy học của giáo viên không đổi mới kịp thời thì vô tình chúng ta đang kìm hảm sự phát triển về mọi mặt của trẻ. Vì trẻ đến trường chỉ ngồi lắng nghe thì làm sao tiềm năng trong mỗi trẻ được khơi nguồn và phát triển.

Thuận lợi:

– Nhà trường đầu tư đầy đủ đồ dùng trang thiết bị theo văn bản hợp nhất số 01/VBHN-BGDĐT ngày 23 tháng 3 năm 2015 đảm bảo việc học tập và sinh hoạt của trẻ. Trẻ lớp tôi đa số đã học qua lớp mẫu giáo 3- 4 tuổi, trẻ năng động, đi học đều có nề nếp.

– Ban giám hiệu thường xuyên chỉ đạo sát sao việc đổi mới hình thức phương pháp giáo dục trẻ.

– Bản thân tôi là một giáo viên luôn yêu nghề, mến trẻ, có trình độ chuyên môn và kinh nghiệm chăm sóc giáo dục trẻ.

* Khó khăn:

– Phương pháp tổ chức các hoạt động trong chương trình còn rập khuôn chưa sáng tạo, còn cứng nhắc, việc thực hiện các hoạt động học tập vui chơi vẫn rơi vào tình trạng giáo viên làm trung tâm.

– Đồ dùng, đồ chơi chưa thật sự phong phú về chủng loại, chưa có nhiều đồ dùng, đồ chơi làm từ nguyên vật liệu mở.

– Việc quan tâm chăm sóc con em của một bộ phận cha mẹ trẻ còn hạn chế. Cha mẹ trẻ chưa nắm rõ quan điểm giáo dục hiện nay, sự hợp tác với nhà trường trong việc giáo dục trẻ chưa cao.

Biện pháp 1: Tự học, tự bồi dưỡng nâng cao nhận thức và phương pháp về “Dạy học lấy trẻ làm trung tâm”.

Nhận thức được tầm quan trọng của việc tự học tự bồi dưỡng, nên bản thân tôi luôn tham gia đầy đủ các buổi bồi dưỡng chuyên môn do Phòng Giáo Dục và Đào tạo tổ chức, các buổi sinh hoạt chuyên môn tại trường, lắng nghe và ghi chép một cách nghiêm túc, mạnh dạn trao đổi với đồng nghiệp những vấn đề còn chưa rõ, chưa hiểu về đổi mới phương pháp giảng dạy. Ngoài ra, tôi còn tìm kiếm những tài liệu, sách vở về đổi mới phương pháp giáo dục lấy trẻ làm trung tâm, kỹ năng nghiệp vụ của giáo viên và tự đọc, tự nghiên cứu để rút ra những vấn đề cần thiết cho bản thân. Bên cạnh đó, tôi còn học tập tốt chương trình bồi dưỡng thường xuyên theo kế hoạch của nhà trường.

Biện pháp 2: Xây dựng kế hoạch giáo dục lấy trẻ làm trung tâm

Xây dựng kế hoạch là một biện pháp quan trọng trong quá trình thực hiện những việc cần làm của giáo viên. Việc lập kế hoạch giáo dục giúp tôi thực hiện đúng mục tiêu giáo dục một cách đầy đủ, có hệ thống, giúp tôi dự kiến trước nội dung, thời gian để tổ chức các hoạt động một cách hiệu quả.

Xây dựng kế hoạch giáo dục lấy trẻ làm trung tâm để xác định các nội dung phù hợp nhất đối với từng trẻ trong lớp mình. Qua đó có điều kiện quan tâm đến trẻ hơn, biết những thế mạnh, tiến bộ của mỗi trẻ để có những biện pháp giáo dục phù hợp.

Căn cứ vào khả năng, nhu cầu học tập, kinh nghiệm sống của từng trẻ ở lớp bản thân tôi đã xây dựng kế hoạch giáo dục lấy trẻ làm trung tâm để thực hiện ở lớp như sau:

Biện pháp 3: Tổ chức các hoạt động giáo dục lấy trẻ làm trung tâm.

Tổ chức hoạt động luôn đặt trẻ vào trung tâm của quá trình giáo dục, có nghĩa là tạo tất cả mọi cơ hội để cho trẻ tự tham gia vào các hoạt động như trải nghiệm, giao tiếp, suy nghĩ, trao đổi với bạn và với cô. Giáo viên là người chủ động, sáng tạo, tạo mọi cơ hội, hướng dẫn, gợi mở giúp trẻ tìm hiểu kiến thức hoặc giải quyết các tình huống trong quá trình hoạt động.

Tôi thực hiện việc tổ chức các hoạt động giáo dục lấy trẻ làm trung tâm không có nghĩa là tôi loại bỏ hoàn toàn phương pháp cũ mà về cơ bản vẫn phải tuân thủ các bước trong suốt tiến trình của hoạt đông học, vẫn phải dựa trên cơ sở phương pháp dạy đặc trưng các lĩnh vực. Tôi chỉ thay đổi hình thức là lấy trẻ làm trung tâm dựa trên sự hiểu biết, hứng thú nhu cầu của trẻ mà tôi đưa ra nội dung bài dạy, kiến thức sao cho phù hợp với trẻ, không gò bó, áp đặt trẻ theo đúng tính chất: “Học bằng chơi, chơi mà học” của trẻ mầm non.

Biện pháp 4: Xây dựng môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm

* Bố trí sắp xếp các góc trong và ngoài lớp phù hợp, tiện lợi, đa dạng, phong phú.

* Trang trí lớp theo hướng mở, linh hoạt.

Biện pháp 5: Làm và sử dụng đồ dùng đồ chơi.

* Chuẩn bị đồ dùng, học liệu đa dạng, hấp dẫn tận dụng những nguyên vật liệu, phế liệu từ thiên nhiên và có sẵn ở địa phương.

* Tạo cơ hội, khuyến khích trẻ có thể sử dụng các nguyên vật liệu ở các góc chơi sáng tạo theo nhiều cách khác nhau.

*Biện pháp 6: Phối kết hợp với cha mẹ học sinh

Kính thưa Ban tổ chức, ban giám khảo!

Tôi vừa trình bày xong bài thuyết trình: “Một số biện pháp lấy trẻ làm trung cho trẻ 5-6 tuổi”.

Cuối cùng xin kính chúc Ban tổ chức, ban giám khảo luôn mạnh khỏe, hạnh phúc và thành đạt. Chúc Hội thi thành công tốt đẹp!

Trân trọng cảm ơn!

Bài Thuyết Trình Hội Thi Giáo Viên Giỏi Mầm Non 2022

Bài thuyết trình tham gia hội thi giáo viên giỏi cấp Huyện

Thi giáo viên giỏi là hoạt động diễn ra thường niên ở các trường. Những bài thuyết trình tham gia hội thi giáo viên giỏi mầm non mà chúng tôi giới thiệu sau đây sẽ giúp giáo viên chuẩn bị tốt nhất cho hội thi giáo viên giỏi cấp trường, cấp huyện, cấp tỉnh.

Biện pháp thi giáo viên giỏi

1. Bài thuyết trình giáo viên giỏi cấp huyện: Một số giải pháp giáo dục lễ giáo cho trẻ 5-6 tuổi

BÀI DỰ THI GIÁO VIÊN GIỎI CẤP HUYỆN Năm học……….. Đề tài: Một số giải pháp giáo dục lễ giáo cho trẻ 5-6 tuổi

Kính thưa ban giám khảo, kính thưa các đồng chí lời đầu tiên tôi xin kính chúc các đồng chí mạnh khỏe, hạnh phúc và thành đạt, chúc hội thi thành công tôt đẹp. Tôi xin phép được thể hiện phần thi thuyết trình với đề tài “Một số giải pháp giáo dục lễ giáo cho trẻ 5-6 tuổi”

Như chúng ta đã biết giáo dục Mầm non là một bộ phận quan trọng trong giáo dục quốc dân có nhiệm vụ chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục trẻ theo độ tuổi nhằm phát triển toàn diện cho trẻ về đức, trí, thể, mỹ, là nền tảng cho việc phát triển nhân cách con người. Do vậy giáo dục lễ giáo cho trẻ là rất quan trọng bởi giáo dục lễ một nét đẹp văn hóa được đặt hàng đầu khi nhìn nhận đánh giá về một ai đó mà chúng ta thường bàn luận. Trẻ em ở lứa tuổi mầm non là một thời kỳ quan trọng nhất để giáo dục lễ giáo vì nề nếp thói quen lễ giáo giúp cho trẻ hình thành nhân cách con người nhận thức được tầm quan trọng về lễ giáo tôi đã lựa chọn đề tài “Một số giải pháp giáo dục lễ giáo cho trẻ 5-6 tuổi”. Đứng trước thực trạng lớp tôi đang phụ trách đã có những thuận lợị và khó khăn như sau

+ Về thuận lợi

Bản thân nhiệt huyết yêu nghề mến trẻ, có tinh thần trách nhiệm cao trong công tác chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục trẻ.

Được sự quan tâm giúp đỡ chỉ đạo sát sao của ban giám hiệu nhà trường trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ .

Phòng học rộng rãi thoáng mát về mùa hè ấm áp về mùa đông

+ Bên cạnh những thuận lợi còn gặp rất nhiều khó khăn

Trẻ chưa mạnh dạn, chưa nhanh nhẹn còn nhút nhát, chưa thụ động chưa có hành vi lễ giáo đúng.

Trẻ ở nhà xem phim ảnh và một số trò chơi không phù hợp với độ tuổi củatrẻ đã ảnh hưởng không ít đến sự phát triển nhân cách của trẻ.

– Một số gia đình phụ huynhchưa chú trọng quan tâm, giáo dục lễ giáo cho các con ,dẫn đến kỹ năng thực hiện lễ giáo của trẻ còn hạn chế. Trước những khó khăn như vậy tôi đã mạnh dạn đưa ramột số giải pháp cho lớp mình như sau:

Giải pháp 1: Xây dựng kế hoạch giáo dục lễ giáo.

Khi thực hiện giáo dục lễ giáo cho trẻ thì tôi chủ động xây dựng kế hoạch giáo dục lễ giáo cho lớp mình bởi đó là việc làm đầu tiên và không thể thiếu trong công tác giáo dục giúp cho giáo viên thực hiện tốt mục tiêu của kế hoạch đề ra. Bên cạnh đó giáo viên phải xác định mục tiêu để xây dựng kế hoạch cho phù hợp, bản thân phải nắm vững chuyên môn, không ngừng học hỏi, tìm tòi để trau dồi kiến thức, phải năng động sáng tạo trong quá trình xây dựng kế hoạch cho lớp mình. Trong khi thực hiện tôi có thể điều chỉnh bổ sung kế hoạch cho hoàn chỉnh những nội dung cho phù hợp với lớp, điều kiện thực tế địa phương và luôn chủ động trong việc lồng ghép tích hợp nội dung giáo dục lễ giáo vào các hoạt động hàng ngày mang lại kết quả cao trong việc thực hiện giáo dục lễ giáo cho trẻ.

Giải pháp 2: Xây dựng môi trường giáo dục lễ giáo:

Xây dựng môi trường giáo dục vô cùng cần thiết và đặc biệt quan trọng. Hỗ trợ tích cực cho việc tổ chức các hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu vui chơi của trẻ, thông qua đó nhân cách trẻ được hình thành và phát triển toàn diện.

Thiết kế môi trường giáo dục lễ giáo tôi hướng vào các nội dung giáo dục của trẻ nhằm đạt được mục tiêu giáo dục lễ giáo và mục tiêu cuối độ tuổi, đồng thời phù hợp với khả năng nhận thức trẻ, đảm bảo tính thẩm mỹ, an toàn tạo cho trẻ cảm giác được yêu thương, tôn trọng và thỏa mãn nhu cầu hứng thú của trẻ.

* Tôi xây dựng góc tuyên truyền cho lớp:

Góc tuyên truyền của lớp không thể thiếu nội dung giáo dục lễ giáo cho trẻ, đây là giải pháp rất hữu hiệu, bởi lẽ trẻ lứa tuổi này tư duy trực quan hình ảnh là chủ yếu. Chính vì thế, mà góc tuyên truyền cần phải sinh động và phong phú với những hình ảnh đẹp, hấp dẫn trẻ. Qua đó trẻ được trực quan bằng hình ảnh những gương tốt, việc làm tốt thì trẻ ghi nhớ và dễ tiếp thu. Bên cạnh đó thông qua góc tuyên truyền phụ huynh biết được nội dung giáo dục của lớp để có hướng nhắc nhở và rèn thêm cho trẻ để giúp trẻ nhớ lâu hơn.

*Giải pháp 3: ứng xử có văn hóa để làm gương cho trẻ.

– Trong quá trình giảng dạy và giáo dục lễ giáo cho trẻ tôi luôn ứng xử thân thiện, hòa nhã, không phân biệt đối xử, tôn trọng ý kiến cá nhân, đối xử công bằng. Tùy vào từng đối tượng trẻ cụ thể mà có cách ứng xử riêng cho phù hợp. Có tinh thần trách nhiệm cao trong cách cư xử đối với trẻ.

– Tôi luôn là tấm gương sáng mẫu mực cho trẻ noi theo, luôn đặt tình thương và trách nhiệm lên đầu. Lắng nghe và cùng chia sẻ những khó khăn trong cuộc sống, giúp đỡ quan tâm đến trẻ có hoàn cảnh đặc biệt.

*.Giải pháp 4: Ứng dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động trong việc giáo dục lễ giáo.

Thông qua các môn học tôi linh động ứng dụng công nghệ thông tin vào các môn học sao cho phù hợp lựa chọn hình ảnh đẹp hoặc những video những hành vi giáo dục lễ giáo để tích hợp phù hợp tạo cho trẻ hứng thú không bị nhàm chán và hình thành cho trẻ những thói quen, hành vi có văn hóa, lịch sự lễ phép đúng lúc, đúng chỗ. Chính vì vậy, lồng ghép nội dung giáo dục lễ giáo vào các hoạt động có hình ảnh chiếm nhiều ưu thế nhằm hình thành cho trẻ những thói quen, hành vi lễ giáo tốt.

Để việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy đòi hỏi người giáo viên mầm non không chỉ có năng lực sư phạm mà cần có những kỹ năng trong việc phối kết hợp giữa ứng dụng công nghệ và phần giảng dạy của cô sao lô gích cho phù hợp để việc ứng dụng công nghệ thông tin thực sự đem lại hiệu quả.

Giải pháp 5: Giáo dục lễ giáo cho trẻ mọi lúc mọi nơi:

Giáo dục lễ giáo cho trẻ mọi lúc mọi nơi đây là giải pháp cũng hết sức quan trọng góp phần vào việc hình thành nhân cách cho trẻ tôi đã lồng ghép vào các hoạt động trong ngày như hoạt động đón trả trẻ, hoạt động học, hoạt động góc, hoạt động chơi ngoài trời, hoạt động chiều, các hoạt động ngày hội, ngày lễ… Bởi vì trẻ ở lứa tuổi này dễ nhớ nhưng chóng quên. Chính vì vậy, ở mọi lúc mọi nơi, bất cứ khi nào và lúc nào cô cũng lồng ghép được nội dung giáo dục lễ giáo cho trẻ

Ví dụ * Giờ đón, trả trẻ:

Ở lứa tuổi của trẻ luôn thích được cô yêu thương gần gũi mọi hành vi của cô được trẻ lưu tâm nhất vì vậy cô luôn chuẩn mực trong giao tiếp giờ đón trả trẻ tôi luôn ân cần dịu dàng yêu thương trẻ, niềm nở trong giao tiếp với phụ huynh nhắc nhở trẻ khoanh tay chào cô, chào bố mẹ ông bà trước khi vào lớp và cất đồ dùng đúng nơi quy định. khi bố mẹ đón về thì trẻ cũng biết khoanh tay chào cô và mọi người xung quanh khi ra về cô luôn nhắc nhở và giáo dục trẻ thường xuyên để hình thành thói quen “Lễ giáo” cho trẻ. Vì thói quen tức là những hành vi được tự động hóa, được lặp đi lặp lại nhiều lần và gắn liền với nhu cầu, lúc đó, trẻ thực hiện các hành vi lễ giáo một cách tự nhiên và đạt hiệu quả.

Giải pháp 6: Động viên khen ngợi

Con người thường thích được khen và đặc biệt là tâm lý của trẻ em thì chỉ thích được khen ngợi vì thế khi trẻ ngoan lễ phép trẻ làm được những việc tốt tôi thường xuyên khen trẻ và động viên khích lệ những trẻ chưa có kỹ năng tốt để lần sau cố gắng hơn.

Vào cuối mỗi buổi trong ngày,tôi thường tổ chức cho trẻ nêu gương bình cờ. Qua những tấm gương tốt của các bạn hoặc các nhân vật trong truyện để động viên, khuyến khích khen ngợi trẻ kịp thời.

Giải pháp 7: Công tác phối hợp với phụ huynh trong việc giáo dục lễ giáo cho trẻ

Phối kết hợp với phụ huynh trong việc giáo dục lễ giáo cho trẻ là vô cùng cần thiết và mang lại hiệu quả. Trong buổi họp mặt đầu năm và các giờ đón trả trẻ tôi mạnh dạn trao đổi với các bậc cha mẹ về tầm quan trọng của giáo dục lễ giáo đối với trẻ mẫu giáo 5- 6 để giúp trẻ mạnh dạn tự tin và có những kỹ năng nề nếp thói quen lễ giáo tốt để chuẩn bị bước vào trường tiểu học. Vì thế hàng ngày tôi luôn luôn và giáo dục mọi lúc mọi nơi, đánh giá trẻ theo tháng thông qua sổ liên lạc về sự tiến bộ của mỗi cháu để phụ huynh kịp thời nắm bắt. Nhờ sự giáo dục bằng phương châm “Trường học là nhà, nhà là trường học”mà đã đem lại hiệu quả trong công tác phối hợp.

Kính thưa các đồng chí

Trong quá trình thực hiện những giải pháp giáo dục lễ giáo cho trẻ tại lớp tôi đang phụ trách tôi thấy quả đạt được đúng như tôi mong đợi. Trẻ mạnh dạn, tự tin, ngoan hơn, lễ phép hơn. Những thói quen vệ sinh, những hành vi văn minh, những nề nếp thói dần được hình thành ở trẻ:

+ Đối với bạn bè: Trẻ biết đoàn kết, nhường nhịn, không tranh giành đồ chơi….

+ Đối với mọi người: Trẻ biết chào hỏi lễ phép với người lớn, biết nhường nhịn, yêu thương em nhỏ, biết quan tâm giúp đỡ mọi người,…

+ Đối với gia đình: yêu thương chia sẽ tình cảm với những người trong gia đình, biết giúp đỡ bố mẹ….

+ Đối với thiên nhiên: Yêu thiên nhiên, biết chăm sóc bảo vệ cây xanh vật nuôi trong gia đình, không bẻ cành hái hoa….

Điều đó được thể hiện ở kết quả khảo sát như sau:

* Trước khi áp dụng đề tài: * Sau khi áp dụng đề tài:

Từ những giải pháp trên tôi tìm tòi nghiên cứu và thực hiện, chất lượng giáo dục lễ giáo ở trẻ tăng lên rõ rệt, đó là điều làm tôi phấn khởi, giúp tôi càng yêu nghề hơn, giúp tôi càng có nghị lực trong công tác. Tôi đã áp dụng và có giá trị thành công ở lớp mình và có thể các đơn vị trường bạn tham khảo

Kính thưa toàn thể các đồng chí

Giáo dục lễ giáo giúp cho trẻ phát triển toàn diện về nhân cách đặt nền móng vững chắc cho các giai đoạn tiếp theo để đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa hiện đại hóa một đất nước Việt Nam văn minh. Bài thuyết trình của tôi đến đây là kết thúc cảm ơn các đồng chí đã chú ý lắng nghe.

Người thuyết trình

2. Bài thuyết trình Biện pháp gây hứng thú cho trẻ 4-5 tuổi qua hoạt động học

– Thưa Ban giám khảo!

Hôm nay tôi rất vinh dự được tham gia thuyết trình trong hội thi “Giáo viên dạy giỏi” cấp Huyện năm học 20….-20…, với “Biện pháp gây hứng thú cho trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi qua hoạt động học”.

Kính thưa ban giám khảo!

Hoạt động học là một trong những giờ sinh hoạt một ngày của cô và cháu ở trường. Qua hoạt động học sẽ giúp trẻ có thêm một số kiến thức mới về sự vật, hiện tượng xung quanh và kỹ năng cần thiết. Nhưng trẻ của lớp còn hiếu động không chịu ngồi yên, hay đùa nghịch, nói tự do không tập trung chú ý, nên tôi nghĩ việc gây hứng thú cho trẻ trong hoạt động học là rất quan trọng, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục.

Năm học 20….-20…, được sự phân công của lãnh đạo nhà trường, bản thân phụ trách lớp Mẫu giáo 4-5 tuổi. 1 với 28 trẻ . Trong quá trình tổ chức hoạt động học cho trẻ thì bản thân tôi có những thuận lợi như sau:

* Thuận lợi:

– Lãnh đạo nhà trường luôn tạo điều kiện về cơ sở vật chất và đồ dùng phục vụ cho trẻ trong hoạt động học .

– Một số trẻ ở lớp mạnh dạn, tự tin, tích cực tham gia vào các hoạt động.

– Được sự quan tâm của các bậc phụ huynh về cách giáo dục trẻ và luôn hỗ trợ những nguyên vật liệu để làm đồ dùng, đồ chơi.

Tuy nhiên bên cạnh những thuận lợi, tôi còn gặp một số khó khăn trong quá trình thực hiện.

* Khó khăn

– Trong lớp còn có trẻ nhút nhát không tham gia hoạt động cùng các bạn. Lớp có nhiều trẻ hiếu động, khả năng tập trung chú ý thấp.

– Một vài trẻ chưa học qua lớp 3- 4 tuổi, trẻ chưa có nền nếp khi tham gia hoạt động học.

Với những thuận lợi và khó khăn trên, để tổ chức tốt hoạt động học cho trẻ có hiệu quả, bản thân tôi thực hiện biện pháp gây hứng thú cho trẻ qua các hoạt động học như sau:

Nghệ thuật tạo hứng thú cho trẻ trong hoạt động học vừa dễ lại vừa khó. Vì trẻ rất thích những điều mới lạ nhưng dễ chán với những gì quen thuộc. Cho nên, tôi luôn suy nghĩ thay đổi một số hình thức trong hoạt động học để thu hút sự chú ý của trẻ , tạo không khí giờ học trở nên hào hứng, sôi nổi, không gò bó mà vẫn đạt kết quả cao. Cụ thể:

1. Gây hứng thú cho trẻ thông qua đồ dùng, đồ chơi, vật thật

Lên 4 tuổi tư duy trực quan hình tượng của trẻ vẫn còn, nên tôi đã sáng tạo làm nhiều loại đồ dùng, đồ chơi bằng những nguyên vật liệu phù hợp với từng nội dung hoạt động để gây hứng thú cho trẻ, giúp trẻ có những ấn tượng tốt về đồ vật, sự vật đó ngay từ ban đầu hoạt động học.

Ví dụ:

– Trong hoạt động kể chuyện: Tôi dùng bìa cứng, giấy màu, xốp, hộp, chai nhựa, vải, len, các hột hạt tạo thành những nhân vật rối que, rối tay để làm đồ dùng trực quan gây hứng thú cho trẻ.

Chẳng hạn với câu chuyện “Thỏ ngoan” tôi dùng vải vụn, bông gòn, hột hạt tạo những nhân vật rối như Thỏ, Cáo, Bác Gấu để cho trẻ đoán câu chuyện cô sắp kể, từ đó trẻ sẽ chú ý lắng nghe câu chuyện cô sắp kể với các nhân vật đó.

– Trong hoạt động môi trường xung quanh “Tìm hiểu vật nuôi trong gia đình”

Tôi sử dụng con vịt thật, cho trẻ nghe tiếng kêu và đoán tên con vịt. Sau đó tôi cho trẻ xem con vịt và cùng trò chuyện.

Cũng với đồ dùng tự tạo đó tôi chú ý đến việc sử dụng giới thiệu cho trẻ bằng nhiều hình thức khác nhau để gây hứng thú cho trẻ.

Ví dụ:

– Trong hoạt động thể dục: Tôi dùng quả bóng, kẽm lông, vải nỉ làm mũ kiến, tôi cho trẻ đội làm những chú kiến nhảy vũ điệu Kiến, trẻ rất thích ngay từ đầu hoạt động.

– Trong hoạt động tạo hình: Với đề tài “Những chiếc vòng xinh” tôi cho trẻ chuyền tay nhau những chiếc vòng làm bằng lá dừa, lá mì trẻ rất thích và từ đó trẻ sáng tạo hơn trong làm ra sản phẩm.

2. Gây hứng thú thông qua trò chơi

Để tránh tình trạng trẻ bị nhàm chán, mệt mỏi trong hoạt động, tôi luôn tổ chức đan xen các trò chơi để nhằm thay đổi giữa trạng thái động và tĩnh cho trẻ. Từ nội dung của hoạt động, tôi chuyển sang trò chơi một cách nhẹ nhàng để thông qua chơi mà trẻ học. Hay thông qua chơi trẻ sẽ được cảm giác thoải mái để tiếp tục tham gia hoạt động.

Ví dụ:

– Trong kể chuyện “Quả trứng” tôi cho trẻ đội mũ vịt chơi trò chơi “Chuyển trứng vào ổ”. Sau khi chuyển hết trứng, cô mời các chú vịt đi ngủ. Trẻ ngồi nhắm mắt lại. Cô ra hiệu lệnh trời sáng, trẻ mở mắt ra. Cô nói cho trẻ biết sau một đêm số trứng của trẻ chuyển về đã nở ra những chú vịt con rất xinh xắn(cô làm những chú vịt bằng hũ sữa chua) và tặng những con vịt đó cho trẻ. Sau đó, cô cho trẻ chơi với những chú vịt đó bằng những trò chơi khác nhau như xây chuồng vịt, nặn thức ăn cho vịt,… trẻ rất thích thú và tích cực tham gia vào hoạt.

– Trong hoạt động tìm hiểu các con vật: Sử dụng trò chơi như: Đối đáp về tiếng kêu các con vật (cô nêu tên con vật, trẻ làm tiếng kêu và mô phỏng dáng đi điệu bộ của con vật tương ứng). Sau đó, cô cùng trẻ trò chuyện về các con vật.

– Trong hoạt động âm nhạc: Đề tài “Hát: Đàn gà trong sân”, sau khi trẻ thuộc bài hát, cô tổ chức cho trẻ chơi trò chơi âm nhạc bằng cách nghe giai điệu phát ra từ chú gà trống và đoán tên bài hát, chích bong bóng tìm yêu cầu của trò chơi âm nhạc,…

– Trong hoạt động thể dục: cho cả lớp chơi: Bóng lăn, trẻ vừa chơi vừa mô phỏng quả bóng lăn về hai hàng ngang bên phải- trái (thay vì cô yêu cầu trẻ về hai đội bạn trai, bạn gái).

Hay tôi sử dụng một số trò chơi nhỏ như “Trời tối, trời sáng”, “Úm ba la”,… để gây sự bất ngờ cho trẻ xem một vật nào đó.

Như vậy có rất nhiều trò chơi để gây hứng thú nhưng tùy theo hoạt động học mà tôi vận dụng một cách sáng tạo để luôn đem lại hứng thú cho trẻ.

3. Gây hứng thú thông qua sử dụng âm nhạc, thơ, vè, kể chuyện

Âm nhạc là hoạt động thường mang tính vui tươi, nhí nhảnh, mang lại sự hứng thú cho trẻ rất cao. Vì vậy, tôi thường dùng âm nhạc vào hoạt động học để gây hứng thú cho trẻ.

– Ví dụ: Chủ đề “Trường mầm non” tôi cho trẻ hát và vận động bài hát “Vui đến trường”, sau đó cùng trò chuyện với trẻ về trường mầm non. Hay học đếm đến 5, cô cho trẻ hát bài hát “Tập đếm”.

Để tạo sự mới lạ, tôi sáng tác một số bài hát dựa trên lời bài hát có sẵn để gây hứng thú cho trẻ.

-Ví dụ: Hoạt động tìm hiểu về quả, sau khi chơi trò chơi hái quả cô cho trẻ hát theo giai điệu bài hát: “Lý kéo chài” để chuyển hoạt động.

“Đã đến rồi khu vườn cây trái, chúng mình ơi thăm bác nông dân. Tình tang tang tình tính tang. Giúp bác nông dân cùng nhau hái quả để đem về nhà. Ơi hò là hò ơi!”

– Chẳng hạn như ở hoạt động “Tìm hiểu những con côn trùng” đầu tiên trò chuyện về con muỗi, tiếp theo là trò chuyện về con kiến, nhưng nếu để trẻ ngồi một chỗ trò chuyện từ con vật này sang con vật khác thì trẻ rất dễ nhàm chán, không hứng thú vào hoạt động nữa nên tôi cho trẻ đứng lên làm đàn kiến và cùng đọc bài đồng dao về con kiến để di chuyển đến mô hình đàn kiến trẻ rất thích. Hay sau khi cung cấp kiến thức xong, tôi cho cả lớp cùng đọc bài thơ tự sáng tác để về 3 đội thi đua. Nội dung bài thơ như sau:

Hay trong hoạt động làm quen với toán: Cho trẻ đọc bài vè về quả, sau đó cho trẻ lên tìm những loại quả có trong bài vè và đếm số lượng.

Hay trong hoạt động tìm hiểu về nghề trồng lúa: Kể cho trẻ nghe câu chuyện sự tích hạt lúa, sau đó cùng trẻ tìm hiểu về nghề trồng lúa.

4. Gây hứng thú thông qua sử dụng tình huống

Để mở đầu cho hoạt động, tạo được hứng thú cho trẻ, tôi dựa vào nội dung yêu cầu để sử dụng những hình thức kích thích trẻ suy nghĩ, phán đoán và có nhu cầu muốn được tìm hiểu, khám phá. Sử dụng tình huống có vấn đề là đưa ra tình huống có vấn đề và gợi ý để trẻ tìm ra cách giải quyết. Trẻ có thể đưa ra nhiều phương án khác nhau, cô và trẻ cùng thử thực hiện và chọn cách giải quyết hiệu quả nhất.

Chẳng hạn ở hoạt động “Tìm hiểu về gió”, tôi tắt hết quạt, đóng cửa sổ, cô và trẻ cùng chơi trò chơi: Bay thấp- bay cao. Rồi cô gợi hỏi trẻ:

+ Con cảm thấy không khí của lớp như thế nào?

+ Muốn mát mình phải làm sao?

Rồi cô và trẻ thử mở cửa sổ, dùng quạt giấy, lấy khăn ướt lau mặt,… Sau đó, cả lớp cùng thử mở quạt máy. Cô hỏi trẻ chọn cách nào là mát nhất.

– Hay tình huống: Cô ra vườn hái một số loại trái cây, yêu cầu trẻ tìm ra những loại trái cây có đặc điểm giống nhau (Hoạt động tìm hiểu về loại trái cây nhiều hạt), gà mái mẹ lạc mất trứng, nhờ lớp tìm giúp 4 quả trứng mang về ổ (Hoạt động: Đếm đến 4. Nhận biết chữ số 4),…

Sau thời gian áp dụng “Biện pháp gây hứng thú cho trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi qua các hoạt động học”, tôi đạt được một số kết quả như sau:

* Đối với giáo viên:

– Tôi có thêm kinh nghiệm hơn trong việc gây hứng thú cho trẻ trong hoạt động học.

– Các hoạt động học đạt hiệu quả và thu hút trẻ tham gia tích cực hơn.

* Đối với trẻ:

– Trẻ tập trung vào giờ học nhiều hơn, tiếp thu nhanh kiến thức mới và có những kỹ năng cần thiết.

Tóm lại để hoạt động học có hiệu quả, trẻ trung chú ý vào hoạt động, theo bản thân tôi cần phải:

– Có hiểu biết đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi, khả năng, nhu cầu của trẻ để có phương pháp giáo dục thích hợp.

Kính thưa Ban tổ chức, ban giám khảo!

Tôi vừa trình bày xong bài thuyết trình: “Biện pháp gây hứng thú cho trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi qua các hoạt động học”.

Cuối cùng xin kính chúc Ban tổ chức, ban giám khảo luôn mạnh khỏe, hạnh phúc và thành đạt. Chúc Hội thi thành công tốt đẹp!

Trân trọng cảm ơn!

3. Bài thuyết trình biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 4 – 5 tuổi

Thưa Ban giám khảo!

Hôm nay tôi rất vinh dự được tham gia thuyết trình trong hội thi “Giáo viên dạy giỏi” cấp Huyện năm học …, với “Biện pháp gây hứng thú cho trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi qua hoạt động học”.

Kính thưa ban giám khảo!

Giáo dục kỹ năng sống là rất quan trọng và cần thiết cho trẻ nhỏ. Giáo dục kỹ năng sống giúp cho trẻ phát triển nhân cách, thể chất, tình cảm, giao tiếp, ngôn ngữ, tư duy một cách toàn diện, là nền tảng để trẻ tự tin bước vào giai đoạn tiểu học.

– Về thể chất: giáo dục kỹ năng sống giúp cho trẻ tăng cường thể chất, sự kiên trì, bền bỉ, tháo vát… thông qua các bài học và các hoạt động vận động trong quá trình dạy kỹ năng sống. Trẻ sẽ được rèn luyện sự dẻo dai, khéo léo, kiên trì, giúp cho trẻ nhanh thích ứng với các điều kiện sống thay đổi.

– Về tình cảm: giáo dục kỹ năng sống giúp trẻ biết lắng nghe, chia sẻ, sống có trách nhiệm, biết yêu thương, biết ơn công lao của cha mẹ.

– Về giao tiếp-ngôn ngữ: giáo dục kỹ năng sống cho trẻ giúp trẻ tự tin, giao tiếp hiệu quả, đặc biệt rèn luyện cho trẻ biết lắng nghe, nói chuyện lễ phép, hòa nhã.

– Về nhận thức: giáo dục kỹ năng sống giúp cho trẻ có một nền tảng kiến thức, ham mê hiểu biết, khám phá, xây dựng cho trẻ niềm ham mê học tập suốt đời.

– Giáo dục kỹ năng sống giúp trẻ có bước đệm chuẩn bị sẵn sàng cho giai đoạn tiểu học: việc giáo dục kỹ năng sống từ sớm giúp trẻ có khả năng thích nghi với sự thay đổi môi trường sống, khả năng hòa nhập nhanh, giúp trẻ tự tin bước vào lớp 1.

Những kỹ năng cần dạy cho trẻ mầm non không chỉ giúp trẻ có khả năng thích nghi tốt. Mà còn giúp bé rèn luyện tính tự giác, tự lập từ nhỏ trẻ thể hiện cá tính của bản thân mạnh mẽ nhất. Các bé sẽ cảm thấy tò mò với mọi thứ và sẽ rất cố gắng để học hỏi những điều mới mẻ. Vì vậy đây là thời điểm thích hợp nhất để các bậc cha mẹ cũng như thầy cô rèn luyện các kỹ năng cần thiết cho bé.

*Thuận lợi:

Trường có điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị tương đối đầy đủ theo quy định cho các độ tuổi.

Trẻ được phân chia học theo độ tuổi 100% và được thực hiện chương trình Giáo dục mầm non.

Giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn về trình độ đào tạo, luôn năng nổ, nhiệt tình, yêu nghề, mến trẻ, có nhiều kỹ năng tốt để hướng dẫn trẻ trong quá trình học tập.

Phụ huynh có hiểu biết về Giáo dục mầm non và rất quan tâm đến công tác chăm sóc và giáo dục trẻ của nhà trường.

*Khó khăn:

Số học sinh tương đối đông, vượt chỉ tiêu biên chế số trẻ/lớp đối với các độ tuổi.

Học sinh đa số được phụ huynh nuông chiều quá mức nên ảnh hưởng rất lớn đến công tác giáo dục các kỹ năng sống cho trẻ.

Một số phụ huynh chỉ quan tâm đến việc học văn hoá của con mà không quan tâm đến việc dạy các kỹ năng sống cho trẻ nên một số trẻ rất ương bướng và khó bảo.

* Khảo sát thực trạng chất lượng giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo nhỡ 4-5 tuổi ở trường trước khi thực hiện đề tài:

Hiện nay, trong các nhà trường đã chú trọng việc đưa nội dung giáo dục kỹ năng sống cho trẻ vào các hoạt động hàng ngày dưới nhiều hình thức, đưa lồng ghép vào các hoạt động là cơ sở giúp trẻ phát triển toàn diện về thể chất, tình cảm trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những kỹ năng sống tích cực trong trẻ. Tuy nhiên, ở một số giáo viên chưa thực sự quan tâm tới việc giáo dục rèn kĩ năng sống cho trẻ, chưa hiểu nhiều về nội dung phải dạy trẻ lứa tuổi mầm non những kỹ năng sống cơ bản nào, chưa biết vận dụng từ những kế hoạch định hướng chung để rèn luyện kỹ năng sống cho trẻ mầm non.

Đối với trẻ, vào đầu năm học nề nếp, kĩ năng sống còn hạn chế. Vì vậy giáo viên thường tập trung lo lắng cho những trẻ có vấn đề về hành vi và khả năng tập trung. Đơn giản là vì những trẻ này thường không có khả năng chờ đến lượt, không biết chú ý lắng nghe và làm việc theo nhóm, điều này làm cho trẻ không thể tập trung lĩnh hội những điều cô giáo dạy! Vì vậy, giáo viên phải mất rất nhiều thời gian vào đầu năm học để giúp trẻ có được những kỹ năng sống cơ bản ở trường mầm non.

Các biện pháp thực hiện giáo dục kỹ năng sống cần thiết cho trẻ 4-5 tuổi

Biện pháp 1: Lồng ghép các nội dung giáo dục kỹ năng sống cho trẻ vào các tháng.

Biện pháp 2: Giáo dục kỹ năng sống qua bài tập tình huống tại trường mầm non

Biện pháp 3: Phát triển các kỹ năng sống cho trẻ mọi lúc mọi nơi.

Biện pháp 4: Sưu tầm những bài thơ , câu chuyện về giáo dục kỹ năng sống cho trẻ

Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ là một việc làm hết sức quan trọng và cần thiết. Điều đó giúp cho trẻ tự tin, chủ động xử lý linh hoạt các tình huống trong cuộc sống, trẻ được bắt đầu làm quen với các kỹ năng như giao tiếp, thích nghi, khám phá thế giới xung quanh, kỹ năng tự chăm sóc bản thân, kỹ năng tạo niềm vui, tự bảo mình, kỹ năng làm việc nhóm, và kỹ năng tự quyết một số tình huống phù hợp với lứa tuổi. Vì vậy, giáo dục kỹ năng sống cho trẻ trong trường mầm non có một ý nghĩa rất lớn trong sự hình thành con người của trẻ sau này.

Kính thưa Ban tổ chức, ban giám khảo!

Tôi vừa trình bày xong bài thuyết trình: “Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 4-5 tuổi trong trường mầm non”.

Cuối cùng xin kính chúc Ban tổ chức, ban giám khảo luôn mạnh khỏe, hạnh phúc và thành đạt. Chúc Hội thi thành công tốt đẹp!

Trân trọng cảm ơn!

4. Bài thuyết trình biện pháp dạy trẻ 24 -36 tháng tuổi quan tâm và yêu thương mọi người

I. Cơ sở lí luận:

Như chúng ta biết:”Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai”. Trẻ em chính là niềm vui, niềm hạnh phúc, niềm hi vọng của mỗi gia đình và toàn xã hội.

Như chúng ta biết nhân cách của trẻ không phải ngẫu nhiên mà có. Nó được hình thành trên cơ sở nền tảng của giáo dục. Là một giáo viên có nhiều năm kinh nghiệm trong nghề tôi luôn băn khoăn làm thế nào để có thể giáo dục các bé biết yêu thương, đoàn kết, quan tâm, chia sẻ với bạn bè, người thân và mọi người xung quanh. Và đó là lý do tôi chọn bài thuyết trình về: “Một số biện pháp dạy trẻ 24 -36 tháng tuổi quan tâm và yêu thương mọi người xung quanh”.

II. Biện pháp thực hiện:

Biện pháp 1: Khảo sát

Tôi tiến hành khảo sát trẻ như sau:

– Thông qua hoạt động vui chơi, chơi ở các góc, tôi bao quát, quan sát trẻ chơi sau đó ghi chép lại một cách cẩn thận, tỉ mỉ xem trong khi chơi trẻ có tranh giành đồ chơi với bạn không, biết nhường bạn hay chưa, trẻ đã biết chơi đoàn kết cùng các bạn chưa, trẻ có biết phối hợp cùng bạn trong lúc chơi không?

– Thông qua giờ đón trả trẻ, các giờ hoạt động trong ngày trẻ chơi cùng bạn, tôi quan sát trẻ sau đó ghi chép lại những thái độ, cách bộc lộ cảm xúc của trẻ với bố mẹ, cô giáo và các bạn.

* VD: Tôi cho trẻ quan sát một đoạn video về câu chuyện ”Đôi bạn nhỏ” và đàm thoại với trẻ:

+ Các con vừa xem gì?

+ Con thấy bạn gà và bạn vịt trong đoạn băng đang làm gì?

+ Điều gì xảy ra khi bạn gà bị cáo đuổi bắt?

– Trong giờ đón trẻ tôi trò chuyện cùng trẻ:

+ Ở nhà các con biết làm những công việc gì để giúp đỡ bố mẹ?

+ Để bố mẹ vui lòng thì con thường làm gì?

+ Con cảm thấy thế nào khi được bố mẹ khen?

Như vậy, việc giúp trẻ hiểu được tầm quan trọng của việc biết yêu thương và chia sẻ là điều không thể thiếu được trong quá trình giáo dục trẻ phát triển toàn diện về nhân cách cho trẻ mầm non.

Biện pháp 2: Giáo dục trẻ biết yêu thương và quan tâm trên hoạt động học:

Thời gian cho mỗi hoạt động học của trẻ nhà trẻ là từ 15- 20 phút nên nội dung tích hợp trong mỗi bài giảng còn hạn chế, chưa có tác dụng khơi gợi cảm xúc và kích thích mong muốn thể hiện tình cảm ở trẻ. Vì vậy tôi đã thiết kế giáo án nhằm dạy trẻ biết quan tâm và yêu thương với mọi người.

Giáo án: Nhận biết tập nói

Giáo án: Dạy trẻ biết chia sẻ yêu thương.

Đề tài: : Bản thân và gia đình thân yêu

* Mục đích- yêu cầu:

– Giúp trẻ phát triển ngôn ngữ, trí tưởng tượng, trẻ hiểu chia sẻ là niềm vui.

– Trẻ biết tên các thành viên trong gia đình

– Trẻ biết yêu mến những người thân trong gia đình.

Qua bài học trẻ biết quan tâm yêu thương không chỉ với bạn bè và mọi người xung quanh mình mà trẻ còn biết yêu thiên nhiên biết cùng bạn bảo vệ môi trường xung quanh mình.

Biện pháp 3: Dạy trẻ biết quan tâm và chia sẻ thông qua trò chơi tập thể:

Như chúng ta đã biết, hoạt động chủ đạo của trẻ chính là hoạt thộng vui chơi.Trẻ học thông qua chơi, chơi thông qua học.

Ví dụ một số trò chơi:

* Trò chơi 1: “Hành động yêu thương”

+ Trẻ biết thể hiện tình cảm của mình cho bạn biết bằng các cử chỉ, hành động đơn giản như cầm tay, nắm tay, khoác vai, ôm bạn.

* Trò chơi 2: “Tình bạn thân thiết”

* Trò chơi 3: ” Sinh nhật vui vẻ”

Biện pháp 4: Sưu tầm bài thơ, truyện có nội dung dạy trẻ biết quan tâm giúp đỡ mọi người

VD: Bài thơ: ” Bạn mới”

Giáo dục trẻ: Thông qua bài thơ giáo dục trẻ biết giúp đỡ , quan tâm đến bạn bè xung quanh

VD: Bài thơ: “Yêu mẹ”

Giáo dục trẻ: Biết yêu mẹ của mình và những người thân trong gia đình

Những câu truyện sưu tầm:

VD: Truyện: “Đôi bạn tốt”

Giáo dục trẻ: Thông qua câu chuyện “Đôi bạn tốt”, giáo dục trẻ biết yêu thương, chia sẻ và nhường nhịn bạn

Biện pháp 5: Dạy trẻ biết chia sẻ thông qua ngày hội, ngày lễ:

Ngày 20/10, ngày Tết Trung Thu, Noel, Tết Nguyên Đán, ngày 8/3 và đặc biệt hướng ứng ngày hạnh phúc 20/3. Với mỗi ngày hội tôi cố gắng sử dụng một hình thức tổ chức riêng nhằm lôi cuốn hấp dẫn trẻ tích cực tham gia hoạt động.

Ví dụ: Ngày 8/3- ngày quốc tế phụ nữ

Trước ngày tổ chức lễ hội tôi cùng trẻ trò chuyện về ý nghĩa ngày hội, đưa ra ý định, hình thức tổ chức và thăm dò ý kiến của trẻ về món quà tặng bà và mẹ. Sau đó dạy trẻ làm bưu thiếp tặng bà, tặng mẹ, giúp trẻ ghi lại cảm xúc, lời chúc của trẻ dành cho bà và mẹ.

Biện pháp 6: Phối kết hợp với phụ huynh để dạy trẻ biết quan tâm và yêu thương mọi người xung quanh

– Qua bảng tuyên truyền ở lớp và giờ đón, trả trẻ tôi kết hợp với phụ huynh thường xuyên giáo dục trẻ biết quan tâm và giúp đỡ mọi người xung quanh

– Qua đó sự chăm sóc và giáo dục cho trẻ tôi thấy được sự chú ý của trẻ phát triển một cách rõ rệt.

Muốn trẻ em hình thành được tính quan tâm đến mọi người thân xung quanh trẻ thì nhà trường và phụ huynh phải thống nhất những yêu cầu giáo dục trẻ. Giáo viên thông báo với phụ huynh những biện pháp giáo dục trẻ, yêu cầu phụ huynh theo dõi giúp đỡ và cho biết tình hình thực tiễn ở nhà để cùng phối hợp giáo dục trẻ.

III. Kết quả khảo sát thực nghiệm:

Qua kết quả thực nghiệm tôi thấy. Phần lớn các cháu thích đến lớp, biết vâng lời cô, yêu thương giúp đỡ bạn và mọi người xung quanh.

– Trong giờ chơi hiện tượng đánh nhau, tranh giành đồ chơi giảm bớt và không còn nữa. Trẻ chơi đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau.

– Không những thế trẻ biết quan tâm, chia sẻ công việc với cô và bạn bè như: Giúp cô, lấy ghế ngồi, lấy đồ những đồ dùng của trẻ khi cô yêu cầu….

IV. Kết luận

Qua quá trình thực hiện giáo dục trẻ biết quan tâm và yêu thương mọi người xung quanh chúng ta thấy rằng việc giáo dục trẻ biết yêu thương và chia sẻ là một yếu tổ rất quan trọng và rất cần thiết. Muốn đạt được những thành tích trên, trước hết là nhờ sự phấn đấu của bản thân và sự đoàn kết của chị em đồng nghiệp, nhà trường và phụ huynh đã giúp đỡ để tôi thực hiện chuyên đề một cách dễ dàng hơn.

Bản thân tôi được trao đổi kiến thức và kinh nghiệm dạy trẻ qua các hoạt động học, các hoạt động vui chơi, ngoài ra tôi còn được phụ huynh, đồng nghiệp tin tưởng, yêu quý.

Vừa rồi tôi đã trình bày xong bài thuyết trình của mình, xin cảm ơn các đồng chí đã chú ý lắng nghe.

5. Bài thuyết trình biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24 – 36 tháng thông qua kể chuyện

Thưa Ban giám khảo!

Hôm nay tôi rất vinh dự được tham gia thuyết trình trong hội thi “Giáo viên dạy giỏi” cấp Huyện năm học …, với “Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24 – 36t thông qua kể chuyện trẻ nghe”.

Kính thưa ban giám khảo!

Đối với trẻ nhà trẻ nói chung và trẻ nhà trẻ 24 – 36 tháng tuổi nói riêng, trẻ rất nhạy cảm với ngôn ngữ. Âm điệu, hình tượng của các bài hát , bài thơ, đồng dao, dân ca sớm đi vào tâm hồn tuổi thơ. Lứa tuổi này trẻ đang học nói, Những câu chuyện cổ tích, ngụ ngôn đặc biệt hấp dẫn trẻ. Chính vì vậy việc cho trẻ tiếp xúc sớm với văn học và đặc biệt là hoạt động dạy trẻ kể lại chuyện là con đường phát triển ngôn ngữ cho trẻ tốt nhất, hiệu quả nhất.

Thông qua hoạt động kể chuyện giúp trẻ phát triển ngôn ngữ tư duy, trí nhớ , biết yêu quý cái đẹp, hướng tới cái đẹp. Khi trẻ tập kể chuyện, ngôn ngữ của trẻ phát triển, trẻ phát âm rõ ràng, trẻ biết trình bày ý kiến, suy nghĩ, kể về câu chuyện bằng chính ngôn ngữ của trẻ, phát triển ngôn ngữ cho trẻ là một trong những mục tiêu phát triển toàn diện cho trẻ mầm non. Do vậy là giáo viên dạy trẻ nhà trẻ 24 – 36 tháng tuổi tôi đã nhận thức rõ được tầm quan trọng của việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Đặc biệt là thông qua hoạt động dạy trẻ kể lại chuyện. Từ đó tôi đã đi sâu nghiên cứu và tìm ra một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua hoạt động dạy trẻ kể chuyện.

*Thuận lợi a. Cơ sở vật chất:

– Nhà trường được sự quan tâm giúp đỡ của các cấp như: UBND quận, PGD&ĐT quận, Đảng ủy, UBND phường, hội cha mẹ học sinh.

– Cơ sở 1 và cơ sở 2 của nhà trường được đầu tư xây dựng mới nên có đầy đủ các phòng chức năng, lớp học rộng, thoáng, đầy đủ đồ dùng đồ chơi.

– Sân trường rộng, thoáng, xanh, sạch, đẹp.

b. Giáo viên:

– Giáo viên trong lớp đều có trình độ, nghiệp vụ sư phạm vững vàng, năng động, sáng tạo, có năng khiếu làm đồ dùng, yêu nghề, tâm huyết với sự nghiệp giáo dục mầm non.

c. Học sinh:

– Lớp tôi đang dạy là lớp nhà trẻ có độ tuổi từ 24-36 tháng với 34 trẻ, 100% các cháu đúng độ tuổi, sức khỏe bình thường, khả năng vận động tương đối đồng đều.

– Trẻ ở lớp với cô cả ngày, nên thuận lợi trong việc giáo dục rèn luyện có tính xuyên suốt.

d. Cha mẹ học sinh:

– Cha mẹ học sinh nhiệt tình phối hợp với trường lớp trong các nội dung chăm sóc giáo dục của nhà trường với con em mình.

*Khó khăn a. Giáo viên

– Đây là năm đầu tiên trường có lớp nhà trẻ vì vậy giáo viên gặp nhiều khó khăn.

b. Trẻ:

– Ngôn ngữ của trẻ đầu năm còn hạn chế, trẻ chỉ nói được 1 đến 2 từ đơn giản như: Ạ, vâng, bố, mẹ, bà, cô.

– Các trẻ còn nhút nhát, chưa mạnh dạn tự tin

c. Phụ huynh học sinh:

– Đa số phụ huynh ở khu vực này là đi chợ buôn bán cả ngày, họ thường ít có thời gian bên con, trò chuyện với con.

– Có một số phụ huynh còn xem nhẹ khả năng nói của con, họ nghĩ để con phát triển tự nhiên, dần dần sẽ tự biết nói.

Các biện pháp đã tiến hành

1. Giáo viên phải chuẩn bị kỹ các nội dung của hoạt động trước khi dạy:

Hoạt động kể chuyện là một trong những hoạt động giúp trẻ phát triển ngôn ngữ rất tốt nhưng hoạt động kể chuyện có thành công hay không phần lớn là do giọng kể của giáo viên, mà muốn có giọng kể hay thì trước hết người giáo viên phải thuộc truyện, hiểu nội dung truyện. Chính vì vậy tôi luôn đọc kỹ truyện, luyện giọng kể sao cho ngộ nghĩnh đáng yêu phù hợp với từng nhân vật trong truyện:

VD: Truyện ” Thỏ con không vâng lời” giọng của thỏ mẹ, bác gấu thì ấm hơn, nói chậm và tình cảm.

– Giọng của thỏ con lúc vui thì nhí nhảnh, trong trẻo. Khi làm sai thì nức nở, buồn bã hoặc dùng tay gạt nước mắt.

2. Tích cực sưu tầm, làm đồ dùng đẹp và sáng tạo phù hợp với nội dung truyện:

Trẻ nhà trẻ thích màu sắc rực rỡ, đồ vật phát ra tiếng kêu và có âm thanh vui nhộn. Vì vậy để tạo được hứng thú cho trẻ trong hoạt động kể truyện tôi đã không ngừng tìm tòi, làm đồ dùng từ nguyên liệu sẵn có sao cho đẹp mắt, hấp dẫn trẻ nhưng phải đảm bảo an toàn, sử dụng hợp lý. Cô sử dụng đồ dùng thành thạo, tạo tình huống bí mật để thu hút trẻ vào hoạt động một cách thoải mái tự tin và kích thích trẻ nói được nhiều.

Ví dụ: Truyện “Cây táo”: Từ vỏ chai nước ngọt tôi đã cắt và tận dụng phần đáy của hai cái chai ghép vào nhau thành quả táo sau đó phun sơn màu xanh, đỏ theo ý thích rồi trang trí lên cây khi trẻ lên bắt chước hành động của nhân vật trẻ được lên chăm sóc, được cầm, được chơi với chúng, trẻ được nói theo ý hiểu của trẻ qua đó trẻ có thể dễ dàng tưởng tượng ra cây táo thật.

– Khi trẻ được nhìn, cầm trên tay trẻ rất thích thú, trẻ sẽ dễ dàng nói tên và biết đặc điểm của cây táo.

Ngoài tranh truyện do nhà trường cấp phát tôi còn làm rối tay, rối dẹt để dạy trẻ.

Ví dụ: Để làm mô hình ngôi nhà sao cho gần gũi với cảnh nông thôn Việt Nam tôi dùng tre để làm thân nhà và dùng rơm để làm mái nhà đó là những nguyên liệu dễ tìm mà lại còn gần gũi với trẻ. Hay những con rối bằng vải vụn. Trước kia có một số đồng nghiệp cho rằng hoạt động kể chuyện thì không cần có đồ dùng như các tiết học khác mà chỉ làm đồ dùng cho cô nên trẻ hay nhàm chán. Đối với lứa tuổi nhà trẻ các nhân vật trong truyện đều là các con vật gần gũi. Những con vật nhỏ nhắn xinh xắn luôn là những người bạn đáng yêu của trẻ, hiểu được tâm lý này của trẻ nên khi kể truyện tôi đã làm đồ dùng cho trẻ như mũ các nhân vật gà con, vịt con, thỏ con để trẻ được cầm, đội và bắt chước nhân vật trong truyện. Việc làm đồ dùng phục vụ cho các hoạt động kể truyện đó là yếu tố góp phần quyết định chất lượng và khả năng sáng tạo của trẻ trong giờ học, khi trẻ có hứng thú với các hoạt động trẻ sẽ mạnh dạn nói lên suy nghĩ của mình, điều đó giúp trẻ phát triển ngôn ngữ trong các hoạt động.

3. Đưa ứng dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động học:

Các nhân vật trong truyện thì luôn vận động và thay đổi vị trí nhưng nếu ta chỉ dạy bằng tranh thì trẻ khó có thể tưởng tượng và hiểu được những hành động của nhân vật. Vì vậy tôi kết hợp ứng dụng công nghệ thông tin vào làm và tìm tòi các hiệu ứng hình ảnh, slides để tạo hứng thú, kích thích trẻ tập nói để phát triển ngôn ngữ cho trẻ.

Thường xuyên truy cập vào các trang web như: Giáo dục mầm chúng tôi giáo án điện tử. com, youtube. Com, suối nguồn yêu thương.net, học viện IQ để tìm các tài liệu, video có nội dung phù hợp với nội dung bài dạy sau đó sử dụng máy tính, tivi vào dạy trẻ.

4. Lựa chọn câu hỏi đàm thoại và nội dung tích hợp:

Trẻ ở lứa tuổi này nhiều khi hay hỏi và trả lời trống không hoặc nói những câu không có nghĩa. Vì vậy bản thân tôi thường xuyên nhắc nhở trẻ hoặc nói mẫu cho trẻ nghe, động viên khuyến khích trẻ nhắc lại, luôn tạo điều kiện đáp ứng mọi câu hỏi của trẻ một cách ngắn gọn, dễ hiểu. Hệ thống câu hỏi phải phù hợp với độ tuổi, kích thích trẻ nhận biết, phân biệt được sự vật, hiện tượng tình huống mà trẻ đang trực tiếp tri giác.

Cho trẻ kể cùng cô: Cô là người dẫn truyện, trẻ kể tiếp cùng cô. Sau khi xác định được câu hỏi đàm thoại. Tôi suy nghĩ để tích hợp các nội dung khác vào giờ kể chuyện sao cho hợp lý, logic phù hợp với giờ học.

Ví dụ: Để gây hứng thú vào bài trong các câu chuyện tôi có thể tích hợp thêm:

+ Trò chơi vận động

+ Âm nhạc: Khi kết thúc hoạt động tôi thường cho trẻ hát, vận động theo nhạc.

+ Tập nói: Trong giờ kể truyện tôi luôn chú ý cho trẻ đọc và phát triển từ, chú ý sửa sai cho trẻ khi trẻ đọc chưa đúng, tôi cho trẻ bắt chước, nhắc lại lời nói của nhân vật hoặc từ láy nhiều lần.

Cô giải thích nghĩa của từ khó kết hợp động tác minh họa giúp cho trẻ hiểu, trẻ nói và làm theo cô.

5. Thay đổi hình thức tổ chức phù hợp, sáng tạo:

Thông thường các giáo viên tổ chức các hoạt động kể chuyện trong lớp và cho trẻ ngồi hình chữ U từ đầu đến cuối vì cho rằng trẻ nhà trẻ còn nhỏ không cần thay đổi chỗ ngồi và địa điểm. Chính vì vậy đã khiến trẻ cảm thấy khó chịu, nàm chán thậm chí nằm bò ra sàn nhà dẫn đến tình trạng trẻ không chú ý, không nhớ được tên truyện và không trả lời được các câu hỏi của cô nên mở rộng vốn từ cho trẻ còn ít. Vì vậy đòi hỏi người giáo viên phải thay đổi hình thức tổ chức linh hoạt.

Ví dụ: Với câu chuyện ” Sẻ con” tôi cho trẻ ra vườn cổ tích và đứng xung quanh các nhân vật để nghe cô kể chuyện để được nhìn, vuốt ve và gọi tên các nhân vật mà mình yêu thích.

Hoặc xây dựng khung cảnh truyện ngay trong lớp học. Cô giáo là người dẫn truyện còn trẻ đóng vai, bắt chước các nhân vật trong truyện và kể cùng cô. Trẻ khi được bắt chước các nhân vật sẽ rất thích thú và chú ý vào mọi hoạt động qua đó giúp trẻ phát triển ngôn ngữ, mở rộng vốn từ và sự hiểu biết của mình về các hiện tượng xung quanh. Trẻ biết nói đủ câu và trả lời cô rõ ràng mạch lạc.

6. Chú ý đến trẻ cá biệt và chậm phát triển:

Bên cạnh việc thay đổi hình thức tổ chức thì vấn đề cô giáo phải nắm rõ đặc điểm tâm sinh lý của lứa tuổi và quan trọng hơn là phải nắm rõ đặc điểm riêng của từng trẻ nhằm tìm ra các biện pháp bồi dưỡng cho trẻ theo sự phân nhóm và sắp xếp chỗ ngồi hợp lý:

+ Trẻ nhút nhát ngồi cạnh trẻ mạnh dạn, tự tin và nhanh nhẹn.

+ Trẻ khá ngồi cạnh trẻ trung bình.

+ Trẻ hiếu động, cá biệt, hay nói chuyện ngồi cạnh trẻ ngoan, trẻ hay khóc ngồi cạnh cô giáo, để dễ quan sát và tiện cho việc điều hành trẻ tốt hơn. Việc phân nhóm này rất có hiệu quả trong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Tôi lấy ví dụ thực tế đã trải qua: Theo sự sắp xếp chỗ ngồi trên, khi tôi mời một cháu khá trả lời câu hỏi thì cháu trung bình ngồi cạnh bên bạn có thể nghe được câu trả lời của bạn và khi được cô mời lên trả lời lại thì cháu sẽ trả lời được và với sự động viên khen thưởng của cô sẽ tạo cho trẻ hứng thú học và trẻ đó sẽ dần dần tiến bộ lên làm cho nề nếp học tập của trẻ ngày càng ổn định.

Kính thưa Ban tổ chức, ban giám khảo!

Tôi vừa trình bày xong bài thuyết trình: “Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24 – 36t thông qua kể chuyện trẻ nghe”.

Cuối cùng xin kính chúc Ban tổ chức, ban giám khảo luôn mạnh khỏe, hạnh phúc và thành đạt. Chúc Hội thi thành công tốt đẹp!

Trân trọng cảm ơn!

6. Bài thuyết trình lĩnh vực giáo dục phát triển tình cảm và kĩ năng xã hội cho trẻ 3-4 tuổi

Kính thưa ban giám khảo:

Như Bác Hồ đã từng nói:

” Trẻ em như búp trên cành

Biết ăn, biết ngủ, biết học hành là ngoan”

Lĩnh vực giáo dục phát triển tình cảm và kĩ năng xã hội cho trẻ mầm non là một trong những nội dung giáo dục quan trọng trong chương trình chăm sóc- giáo dục trẻ mầm non, nhằm đào tạo thế hệ trẻ Việt Nam phát triển trí tuệ, về thể chất,

Vì vậy, trong công tác chăm sóc và giáo dục trẻ, nội dung giáo dục rèn luyện những thói quen vệ sinh- hành vi văn minh cho trẻ là một việc rất quan trọng.

Thưa các đồng chí:

Để giúp trẻ 3 – 4, phát triển tình cảm và kĩ năng xã hội tôi đã lựa chọn những biện pháp sau:

* Biện pháp 1: Rèn luyện những thói quen vệ sinh và hành vi văn minh.

Để trẻ có được thói quen vệ sinh hình thành kĩ xảo cho trẻ cần giáo dục trẻ qua 3 giai đoạn sau:

+ Giai đoạn 1: Trẻ hiểu cách làm. Trẻ hiểu mỗi hành động cần làm những thao tác gì? Các thao tác đó diễn ra theo trình tự như thế nào? Cách tiến hành mỗi thao tác cụ thể.

+ Giai đoạn 2: Hình thành kĩ năng. Trẻ cần biết vận dụng các kiến thức đã biết để tiến hành một hành động cụ thể nào đó. Việc tiến hành các hành động ở giai đoạn này đòi hỏi sự tập trung, chú ý.

+ Giai đoạn 3: Hình thành kĩ xảo. Trẻ cần biết biến các hành động có ý chí thành hành động tự động hóa bằng cách luyện tập nhiều lần.

Để có các kĩ năng vệ sinh trở thành thói quen cho trẻ cần đảm bảo các điều kiện như: trẻ phải được thực hiện các hoạt động vệ sinh trong cuộc sống hàng ngày, cần giáo dục trẻ các thói quen sau:

Ví dụ

+ Thói quen rửa mặt: Trẻ cần nắm được tại sao cần rửa mặt (rửa mặt để khuôn mặt xinh xắn, để mọi người yêu mến, ko bị bệnh tật…),

+ Thói quen rửa tay: Trẻ cần biết tại sao phải rửa tay, khi nào cần rửa tay (trước- sau khi ăn, khi tay bẩn, sau khi đi vệ sinh…). Cách rửa tay theo 6 bước.

+ Thói quen súc miệng, đánh răng: Trẻ cần biết tại sao phải đánh răng (cho răng thơm tho, sạch sẽ, ngọi người yêu mến, tránh bị sâu răng…), lúc nào cần đánh răng, súc miệng

+ Thói quen chải tóc: Trẻ cần biết tại sao phải chải tóc, lúc nào nên chải tóc (sau khi ngủ dậy, trước khi ra ngoài đường, khi tóc rối bù…). Chái tóc có sự giúp đỡ của người lớn( trẻ bé).

+ Thói quen mặc quần áo sạch sẽ: Trẻ cần biết tại sao mặc quần áo sạch sẽ (để mọi người yêu mến, giữ quần áo sạch đẹp…) Trẻ cấn biết lúc nào nên mặc thêm và lúc nào nên cới bớt quần áo:

* Thói quen ăn uống có văn hóa, vệ sinh: Việc ăn uống không những đáp ứng nhu cầu ăn uống của cơ thể mà còn thể hiên hành vi văn minh trên bàn ăn thể hiện sự tôn trọng với mọi người xung quanh

* Thói quen hoạt động có văn hóa: thể hiện hành vi của trẻ tham gia vào các hoạt động như học tập, vui chơi, các sinh hoạt khác. Trẻ biết giữ gìn ngăn nắp đồ dùng, biết thực hiện các hoạt động.

* Thói quen giao tiếp có văn hóa: Trẻ phải nắm được một số quy định về giao tiếp của trẻ với bạn và người lớn, biết sử dụng ngôn ngữ, hành vi giao tiếp,biết chào hỏi mọi người, biết cảm ơn- xin lỗi…

* Biện pháp 2: Cô giáo cần nắm được các trình tự để hình thành một thói quen vệ sinh và hành vi văn minh cho trẻ.

– Ở lứa tuổi này trẻ tuy còn nhỏ nhưng cũng có khả năng tiếp thu được những kiến thức thông thường. Vì vậy, cô cần phải hướng dẫn cho trẻ biết những điều cần thiết của từng yêu cầu vệ sinh và những tác hại của việc không thực hiện đúng yêu cầu đó, lời hướng dẫn của cô phải đơn giản, rõ ràng, chính xác, dể hiểu.

VD: Thao tác rửa tay một trẻ thực hiện các trẻ khác làm theo – cô đọc lời hướng dẫn.

– Tổ chức và nhắc nhở trẻ cần phải thực hiện thường xuyên. Muốn hình thành một thói quen vệ sinh ngoài việc làm cho trẻ hiểu được ý nghĩa có kỹ năng cần phải làm cho trẻ được thực hành thường xuyên.

* Biện pháp 3: Phương pháp hình thức giáo dục thói quen vệ sinh và hành vi văn minh cho trẻ.

Cô giáo cần nắm vững một số biện pháp rèn luyện thói quen vệ sinh và hành vi văn minh cho trẻ. Việc giáo dục thói quen và hành vi văn minh cho trẻ có thể tiến hành qua các bước sau:

Bước 1: Cho trẻ định hướng vào “mẫu” cần giáo dục trẻ. Đó là mẫu hành động của người lớn.

Bước 2: Tổ chức cho trẻ luyện tập, tạo điều kiện cho trẻ tập theo “mẫu” đã được định hướng.

Bước 3: Đưa nội dung giáo dục thành yêu cầu của nếp sống hàng ngày.

VD: Trò chuyện với trẻ về tắm gội

Mục đích: Trẻ hiểu được lợi ích về việc tắm gội sạch sẽ. Hình thành ở trẻ thói quen giữ gìn vệ sinh thân thể sạch sẽ.

* Biện pháp 4: Phối kết hợp với phụ huynh để giúp trẻ hình thành những thói quen vệ sinh và hành vi văn minh cho trẻ 3-4 tuổi.

Trường mầm non là nơi cha mẹ trẻ tin tưởng và gửi gắm tất cả vào cô giáo, việc hình thành cho trẻ những thói quen vệ sinh và hành vi văn minh cho trẻ là vấn đề không thể thiếu trong hoạt động học tập của trẻ và cha mẹ cũng nhận thức thấy rõ tầm quan trọng của việc này. Hiểu được mối quan tâm của phụ huynh học sinh trong việc chăm sóc giáo dục và phát triển toàn diện cho trẻ, nhận thức rõ trách nhiệm của người giáo viên mầm non, tôi suy nghĩ và tìm cách vận dụng với thực tế tại lớp của mình.

Trong các buổi họp phụ huynh học sinh đầu- giữa- cuối năm học tôi tuyên truyền với các bậc phụ huynh về tầm quan trọng và sự cần thiết của việc hình thành cho trẻ những thói quen vệ sinh và hành vi văn minh cho trẻ. Trao đổi thường xuyên với gia đình trong giờ đón và trả trả trẻ. Xây dựng nội dung, cách thức tuyên truyền với các bậc phụ huynh về triển khai thực hiện chuyên đề phù hợp, làm chuyển biến nhận thức của phụ huynh trong việc hình thành cho trẻ những thói quen vệ sinh và hành vi văn minh cho trẻ.

Thưa các đồng chí: Vừa rồi tôi đã trình bày xong bài thuyết trình của mình, xin cảm ơn các đồng chí đã chú ý lắng nghe.

Xin trân trọng cảm ơn!

Tổng Hợp Các Bài Thuyết Trình Tham Gia Hội Thi Giáo Viên Giỏi Tiểu Học

Bài thuyết trình thi giáo viên chủ nhiệm giỏi

Thi giáo viên giỏi là hoạt động diễn ra thường niên ở các trường. Những bài thuyết trình tham gia hội thi giáo viên giỏi tiểu học mà chúng tôi giới thiệu sau đây sẽ giúp giáo viên chuẩn bị tốt nhất cho hội thi giáo viên giỏi.

Biện pháp thi giáo viên giỏi

1. Bài thuyết trình: Một số biện pháp rèn phát âm chuẩn cho học sinh

Kính thưa:

Ban tổ chức!

Thưa Ban giám khảo!

Hôm nay tôi rất vinh dự được tham gia thuyết trình trong hội thi “Giáo viên dạy giỏi” cấp Huyện năm học …, với “Một số biện pháp rèn phát âm chuẩn cho học sinh”.

Kính thưa ban giám khảo!

Muốn học sinh phát âm đúng thì mỗi giáo viên khi luyện phát âm phải có sự vận dụng mềm, trong phần luyện tập có chia ra nội dung bắt buộc và nội dung lựa 5 chọn. Chấp nhận nhiều chuẩn chính âm. Giáo viên sẽ lựa chọn chuẩn phát âm nào gần nhất với giọng địa phương của mình đối chiếu với cách phát âm tự nhiên theo phương ngữ của mình còn những điểm nào sai lạc.

Trước hết giáo viên phải tự chữa lỗi cho mình rồi xây dựng kế hoạch chữa lỗi phát âm cho học sinh trong giờ tập đọc và cả giờ học khác.

Thái độ sư phạm đúng đắn của người giáo viên là sự hướng dẫn tận tình, đặc biệt là động viên tinh thần thương yêu giúp đỡ học sinh để các em có hứng thú rèn phát âm đúng… Mặt khác, vốn sống, vốn hiểu biết sâu rộng và khả năng ứng đối nhanh nhạy, thông minh của giáo viên và chọn phương pháp sửa phát âm sai cho học sinh sao cho mới mẻ phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của học sinh tiểu học cũng là những yếu tố ảnh hưởng đến sự thành bại của việc rèn kỹ năng nói sao cho chuẩn.

Mục tiêu của việc rèn phát âm chuẩn cho học sinh là các em phải đọc trơn, đọc thành thạo, đọc đúng rõ ràng, rành mạch, diễn cảm. Học sinh luôn có ý thức đọc đúng đọc hay. Đồng thời giáo viên cũng cần tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến học sinh phát âm sai ở chỗ nào để từ đó có biện pháp sửa sai rèn đúng cho thích hợp.

Thực trạng:

Tôi trực tiếp công tác giảng dạy tại Trường Tiểu học … đã nhiều năm, trong quá trình giảng dạy cũng như tiếp xúc với các em học sinh ở đây, tôi nhận thấy:

Sở dĩ, do các em phát âm sai như vậy, tôi thiết nghĩ là do: Địa phương nằm trong vùng có điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn. Đa phần các em là con nhà lao động nên việc học tập của các em có phần bị hạn chế, các em chưa được trang bị đầy đủ sách vở, đồ dùng khi đến lớp. Việc học ở nhà lại chưa có sự kèm cặp quan tâm của gia đình. Điều đó làm cho thời gian học và hiệu quả học tập của các em bị hạn chế ảnh hưởng không nhỏ tới kết quả học tập của các em.

Với thực trạng như vậy, tôi đã tìm hiểu, nghiên cứu để tìm ra biện pháp chữa lỗi phát âm cho học sinh nhằm khắc phục tình trạng phát âm sai trong trường nâng cao chất lượng phát âm chuẩn.

Từ đó, nâng cao chất lượng giảng dạy. Hơn nữa, tôi nhận thấy người giáo viên tiểu học là người thầy đầu tiên đặt nền móng trang bị cho các em ý thức về chuẩn ngôn ngữ và chuẩn văn hoá đồng thời ở trường Tiểu học có điều kiện rèn cho học sinh phát âm chuẩn, bởi trong chương trình học có phân môn học vần, Tập đọc.

Những biện pháp:

Trước hết cần đọc đúng đọc diễn cảm. Tiếp đó, cần bồi dưỡng cho học sinh có mong muốn, có ý thức đọc đúng chính âm càng sớm càng tốt. Giáo viên tập cho học sinh biết quan sát mặt âm thanh lời nói của người khác và của bản thân mình để điều chỉnh đọc, nói cho tốt. Đồng thời, chúng ta cần nắm chắc các biện pháp chữa lỗi phát âm bao gồm biện pháp luyện theo mẫu, biện pháp cấu âm và biện pháp luyện âm đúng qua âm trung gian. Tuỳ thuộc âm thanh sai lạc, tùy thuộc vào học sinh mà giáo viên lựa chọn biện pháp thích hợp .

1. Chữa lỗi phát âm bằng biện pháp luyện theo mẫu: Bằng phát âm mẫu của mình giáo viên đưa ra trước học sinh cách phát âm chuẩn, các từ cần luyện, yêu cầu học sinh phát âm theo.

2. Chữa lỗi phát âm bằng biện pháp cấu âm: Giáo viên mô tả cấu âm của một âm nào đó rồi hướng dẫn học sinh phát âm theo.

Với phụ âm cần mô tả vị trí của lưỡi, phương thức cấu âm. Tôi đã tiến hành sửa từng âm:

Sai phát âm /p/ pờ thành /b/ bờ, (p và b) đều là hai phụ âm đồng vị về mặt cấu âm. môi – môi nhưng khác nhau về mặt thanh tính, /p/ là phụ âm vô thanh, /b/ là phụ âm hữu thanh. Để luyện đọc đúng /p/, tôi đã hướng dẫn HS tự đặt lòng bàn tay trước miệng, một tay đặt lên thanh quản. Khi phát âm /b/ là âm vốn có sẽ cảm nhận được độ rung nhẹ của thanh quản và không thấy luồng hơi phát ra.

Cho trẻ bậm hai môi lại và bật hơi qua môi mạnh hơn, tạo âm /p/ câm. Cho trẻ làm lại như trên nhưng phát thành tiếng /p/ hay ”đèn pin “, pí pa -pí pô”…. Cho trẻ đặt một tay lên thanh hầu và lòng bàn tay trước miệng, trẻ sẽ dễ dàng nhận biết được sự khác biệt giữa hai âm. Khi phát âm /p/ dây thanh rung mạnh và có luồng hơi từ miệng phát ra đập vào lòng bàn tay .

Sai phát âm /n/ nờ – /l/ lờ lẫn lộn: Học sinh hay phát âm lẫn giữa l/n, ch/tr, d/gi và phần lớn các em không ý thức được mình đang phát âm âm nào. Để chữa lỗi phát âm cho học sinh tôi phải trực quan hóa sự mô tả âm vị và hướng dẫn học sinh quan sát, tự kiểm tra xem mình đang phát âm âm nào: /n/ là một âm mũi, khi phát âm, sờ tay vào mũi sẽ thấy mũi rung, còn khi phát âm âm /l /mũi không rung. Sau đó, ta cho học sinh luyện phát âm /l/ bằng cách bịt chặt mũi đọc la, lo, lô, lu, lư,… Khi bịt chặt mũi học sinh không thể phát âm các tiếng na, no, nô, nu, nư. Cho học sinh luyện nói câu ”con lươn nó lượn trong lọ, ”cái lọ lộc bình nó lăn lông lốc ”… Hoặc hướng dẫn học sinh khi phát âm âm /l/ thì đưa lưỡi lên phía bên trên lợi của hàm trên ngạc cứng, còn khi phát âm /n/ thì đưa đầu lưỡi vào mặt trong của hàm răng. …

3. Biện pháp chữa lỗi bằng âm trung gian: Là biện pháp chuyển từ âm sai về âm đúng qua âm trung gian. Biện pháp này thường được dùng để chữa từ thanh nặng về thanh hỏi, thanh sắc về thanh ngã. Để chữa lỗi này cho học sinh tôi đã làm công việc tạo mẫu luyện cho trẻ phát âm riêng từng thanh hỏi, ngã. Phát âm các tiếng có thanh hỏi ngã cần qua các bước sau đây:

+ Đầu tiên chắp các tiếng có cùng thanh, cùng vần với tên gọi thanh. Ví dụ: sỏi, thỏi gỏi. Ngã: bã, đã, giã, mã

+ Tiếp theo chắp các tiếng cùng thanh, cùng loại âm tiết với tên gọi thanh. Ví dụ: hỏi: thảo, phải, kẻo. (âm tiết nửa mở) ngã: ngõ, khẽ, cũ. (âm tiết mở).

+ Cuối cùng chắp bất kỳ âm đầu các vần với các thanh.

4. Tập hát để giúp học sinh phát âm đúng một vài thanh: Chẳng hạn, âm vực của thanh huyền thấp hơn thanh sắc (hoặc thanh không) nên tập hát thanh sắc (hoặc thanh không) thành thanh huyền rất thuận lợi.

Đối với trò:

Phải chú ý theo dõi sự hướng dẫn của giáo viên, chăm chỉ tự tin trong học tập, phải hoà đồng cùng bạn bè, điều gì không hiểu mạnh dạn hỏi thầy cô hoặc bạn bè. Hằng ngày, dành thời gian hợp lý cho việc luyện đọc. Luôn luôn có ý thức luyện phát âm đúng, đọc chuẩn rõ ràng lưu loát rồi diễn cảm. Chịu khó tìm đọc các loại truyện tranh trong sáng lành mạnh trong sáng, báo Măng non, báo Nhi Đồng …

Kính thưa Ban tổ chức, ban giám khảo!

Tôi vừa trình bày xong bài thuyết trình: “Một số biện pháp rèn phát âm chuẩn cho học sinh”.

Cuối cùng xin kính chúc Ban tổ chức, ban giám khảo luôn mạnh khỏe, hạnh phúc và thành đạt.

Chúc Hội thi thành công tốt đẹp!

Trân trọng cảm ơn!

2. Bài thuyết trình: Một số biện pháp phát huy năng lực của ban cán bộ lớp

Kính thưa:

Ban tổ chức!

Thưa Ban giám khảo!

Hôm nay tôi rất vinh dự được tham gia thuyết trình trong hội thi “Giáo viên dạy giỏi” cấp Huyện năm học …, với “Một số biện pháp phát huy năng lực của ban cán bộ lớp”.

I. THỰC TRẠNG 1. Thuận lợi

– Cán bộ quản lí trong nhà trường luôn quan tâm, giúp đỡ giáo viên trong công tác chủ nhiệm lớp và triển khai chuyên đề “Tổ chức quản lí lớp học tích cực”. Thông qua buổi tập huấn, mỗi giáo viên đều nâng cao nhận thức kinh nghiệm chủ nhiệm lớp.

– Bản thân mỗi giáo viên đều nhận thấy vai trò quan trọng của Ban cán bộ lớp đối với công tác chủ nhiệm nên đều muốn xây dựng một đội ngũ cán bộ lớp giỏi.

– Giáo viên trong trường cũng như trong khối luôn quan tâm, giúp đỡ và chiasẻ những kinh nghiệm chủ nhiệm.

– Học sinh trong trường nói chung cũng như học sinh lớp 2/4 nói riêng luônđược giáo viên giáo dục kĩ năng sống thông qua các bài học. Bên cạnh đó, trong các buổi sinh hoạt dưới cờ các em luôn được thầy Tổng phụ trách tổ chức các trò chơi rèn kĩ năng sống cho các em.

2. Khó khăn

– Một số giáo viên chưa thực sự quan tâm đến công tác chủ nhiệm còn xao nhãng trong vấn đề quản lí lớp học.

– Giáo viên thường chú trọng về kiến thức còn trong công tác tự quản của cán bộ lớp thì chưa dạy các em phải làm như thế nào. Nhất là giáo viên dạy lớp 1, 2 thường lo học sinh của mình còn nhỏ nên việc quản lớp giáo viên luôn là người làm. Vậy nên vai trò của Ban cán bộ lớp không được phát huy, các em không có cơ hội được thể hiện năng lực lãnh đạo của mình.

– Các em học sinh lớp 2 còn quá nhỏ nên tính tự quản chưa cao, khả năng lãnh đạo còn hạn chế. Các em thường hay ngại ngùng, e dè, chưa tự tin, chưa mạnh dạn trước tập thể. Bên cạnh đó, các em thường cả nể khi nhắc nhở các bạn. Khi gặp những bạn hay chống đối thì các em thấy nản và không muốn làm. Vì vậy công tác chủ nhiệm của giáo viên gặp rất nhiều khó khăn và chồng chéo.

– Trong năm học này, việc dạy và học bán trú là điều điều hoàn toàn mới mẻ với giáo viên và học sinh nên trong công tác quản của giáo viên và tự quản của học sinh còn gặp rất nhiều khó khăn.

II. BIỆN PHÁP 1. Nội dung thực hiện:

Nâng cao năng lực tự quản của Ban cán bộ lớp trong công tác quản lí lớp học về nề nếp: trật tự; vệ sinh, xếp hàng; học tập; ăn, ngủ; phong trào thi đua; các cuộc vận động và hoạt động ngoại khóa. Qua đó tập cho học sinh lớp năng lực quản lí, lãnh đạo, mạnh dạn và tự tin.

2. Biện pháp thực hiện 2.1 Tìm hiểu học sinh

– Sau khi nhận được phân công lớp chủ nhiệm, tôi gặp giáo viên chủ nhiệm năm trước để tìm hiểu tình hình chung của cả lớp. Tôi chú ý đến năng lực quản lí lớp của từng em trong ban cán bộ cũ.

Ngày đầu làm quen với lớp, tôi giới thiệu về bản thân và mời các em tự giới thiệu về mình để các em tự tin hơn khi nói trước tập thể lớp. Thông qua đó, nhiều em chứng tỏ được năng lực của mình.

2.2. Bầu Ban cán bộ lớp

– Đầu tiên, tôi khuyến khích các em xung phong ứng cử. Các em phải mạnh dạn và tự tin phát biểu trước tập thể lớp: Nếu được làm lớp trưởng các em sẽ quản lý lớp như thế nào. Sau đó, cho các em tự đề cử những bạn có đủ năng lực quản lí lớp.

– Tổ chức cho cả lớp bỏ phiếu tín nhiệm.

Mỗi em sẽ được nhận một lá phiếu và ghi tên những bạn các em muốn chọn. Các em sẽ cảm thấy vui, hào hứng vì được cầm phiếu thực hiện quyền” dân chủ” của mình. Từ đó giúp các em có cách lựa chọn đúng.

Ban cán bộ lớp tôi sẽ được học sinh trong lớp bầu luân phiên trong năm học một cách công khai để nhiều em có cơ hội thể hiện năng lực của mình.

2.3. Phát huy năng lực của Ban cán bộ lớp thông qua các hoạt động.

Thông qua các hoạt động, tôi giao nhiệm vụ và hướng dẫn Ban cán bộ lớp làm việc để các em phát huy khả năng lãnh đạo của mình. Cụ thể:

– Nề nếp trật tự, vệ sinh, xếp hàng: Lớp trưởng theo dõi, kiểm tra mọi hoạt động của lớp: điểm danh và ghi rõ sĩ số của lớp; điều khiển các bạn xếp hàng ra vào lớp, đi ăn, đi ngủ, chào cờ và thể dục giữa giờ. Lớp phó lao động: Theo dõi việc giữ gìn vệ sinh trong lớp, đi vệ sinh đúng nơi quy định; phân công tưới cây, lau bàn, tủ; theo dõi việc tự ý bật câu dao điện.

– Phong trào thi đua: Lớp trưởng, lớp phó đưa ra kế hoạch cụ thể và phối hợp với các tổ trưởng, tổ phó để các tổ viên cùng thực hiện.

– Các cuộc vận động: Lớp trưởng nêu rõ mục tiêu cho cả lớp và giao nhiệm vụ cho các tổ. Các tổ trưởng có trách nhiệm vận động tổ viên tham gia nhiệt tình để thi đua với các tổ khác.

– Hoạt động ngoại khoá: Lớp trưởng làm chỉ huy chia lớp thành các đội và bầu ra lãnh đội. Các lãnh đội hướng dẫn đội của mình tham gia hoạt động. Từ đó tạo tính thi đua giữa các đội và các lãnh đội.

– Hay trong tiết Hoạt động tập thể đầu tiên, tôi hướng dẫn tỉ mỉ Ban cán bộ lớp cách tổ chức lớp: Làm gì và Làm như thế nào để các em không thấy bỡ ngỡ khi tự mình tiến hành. Từ tuần thứ hai trở đi, tôi để các em tự tổ chức, điều khiển để các em mạnh dạn, tự tin thể hiện khả năng của mình trước lớp.

2.4. Khen thưởng công khai, khiển trách nhẹ nhàng.

Trong học tập, em nào tích cực và có tiến bộ tôi thưởng một phiếu khen và các em được tham gia bốc thăm trúng thưởng trong giờ Chào cờ đầu tuần. Các em sẽ rất vui và cùng nhau thi đua trong học tập. Như vậy nề nếp học tập của cả lớp sẽ tốt hơn và công việc của lớp phó học tập cũng như các tổ trưởng sẽ thuận lợi rất nhiều.

Cuối tháng, tôi cho các em bình chọn “Tổ trưởng giỏi” của tháng. Tổ nào thực hiện tốt thì tổ trưởng được bầu là Tổ trưởng giỏi. Tổ nào thực hiện chưa tốt thì tổ trưởng tổ khác chỉ ra khuyết điểm và giáo viên nhắc nhở nhẹ nhàng trước lớp để các em cố gắng phấn đấu ở tuần sau. Điều này khích lệ tinh thần làm việc mang tính thi đua của các tổ trưởng.Trong tháng, nếu lớp 2 lần được Cờ luân lưu thì lớp trưởng và 2 lớp phó cũng được thưởng phiếu khen.

2.5. Xây dựng mối quan hệ thầy – trò và trò – trò

Tôi luôn lắng nghe những thắc mắc của các em. Công việc tôi giao trên tinh thần thầy phân công- trò hợp tác để các em thấy được công việc mình làm là không bắt buộc. Tôi luôn khuyến khích các em mạnh dạn kiến nghị, đề xuất. Nếu hợp lí tôi làm theo cách của các em. Như vậy các em sẽ thấy vai trò của mình thật quan trọng và các em càng cố gắng hơn.

Tôi chú ý đến việc tạo mối quan hệ tốt giữa trò với trò. Khi các em hiểu nhau thì sẽ hợp tác trong mọi công việc. Khi tham gia các trò chơi vận động hoặc các hoạt động ngoại khóa tôi thường cho các em tham gia tập thể để các em có tinh thần đoàn kết và hiểu nhau hơn.

Kính thưa Ban tổ chức, ban giám khảo!

Tôi vừa trình bày xong bài thuyết trình: “Một số biện pháp phát huy năng lực của ban cán bộ lớp”.

Cuối cùng xin kính chúc Ban tổ chức, ban giám khảo luôn mạnh khỏe, hạnh phúc và thành đạt. Chúc Hội thi thành công tốt đẹp!

Trân trọng cảm ơn!

3. Bài thuyết trình: “Một số biện pháp giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học”

Kính thưa:

Ban tổ chức!

Thưa Ban giám khảo!

Hôm nay tôi rất vinh dự được tham gia thuyết trình trong hội thi “Giáo viên dạy giỏi” cấp Huyện năm học …, với “Một số biện pháp giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học”.

Kính thưa ban giám khảo!

Việc giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học là hình thành cho các em lòng nhân ái mang bản sắc con người Việt Nam; Yêu quê hương đất nước hòa bình, công bằng bác ái, kính trên nhường dưới, đoàn kết với mọi người, … Có ý thức về bổn phận của mình đối với người thân, đối với bạn bè, đối với cộng đồng và môi trường sống. Tôn trọng và thực hiện đúng pháp luật, các quy định của nhà trường, khu dân cư, sống hồn nhiên, mạnh dạn, tự tin, trung thực. Biết cách tự phục vụ, biết cách học tập, vận dụng làm được một số việc trong gia đình.

Trong quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh, chúng ta phải hình thành cho các em những thói quen chuẩn mực đạo đức cụ thể là: Lòng kính yêu ông bà, cha mẹ, kính trọng thầy giáo, cô giáo, quý mến bạn bè, giúp đỡ bạn khi gặp khó khăn; thật thà dũng cảm trong học tập, lao động; lòng biết ơn những người có công với đất nước… Những thói quen này, những đức tính này thực hiện theo các chuẩn mực đạo đức nhân đạo của loài người là các yếu tố tạo thành nền tảng để hình thành và phát triển nhân cách đạo đức mới. Những thói quen hành vi đạo đức này không đơn thuần là những hành động ứng xử có được do lặp lại bằng luyện tập trong nhiều tình huống quen thuộc. Đó phải là những hành động ứng xử chịu sự kích thích của những động cơ đạo đức đúng đắn.

Như vậy phẩm chất đạo đức của thế hệ trẻ, sự ứng xử này được hình thành do trẻ rèn luyện những thói quen đạo đức, tình cảm đạo đức, kiến thức đạo đức. Vì vậy giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học là cung cấp cho trẻ những biểu tượng và khái niệm đạo đức, bồi dưỡng xúc cảm đạo đức và tình cảm đạo đức, rèn luyện kỹ năng và thói quen đạo đức.

Đặc điểm tình hình nhà trường:

a) Nhà trường:

Được sự chỉ đạo sát sao của Sở giáo dục, Phòng giáo dục, được sự giúp đỡ nhiệt tình có hiệu quả của các cấp các ngành; các bậc phụ huynh học sinh nhiệt tình luôn tạo điều kiện tốt nhất để các giáo viên hoàn thành nhiệm vụ năm học.

b) Giáo viên:

Phần lớn là những cán bộ giáo viên có thâm niên từ 5 năm trở lên, 98% là nữ. Tất cả các đồng chí giáo viên trong trường đều biểu lộ tình đoàn kết thân ái giúp đỡ lẫn nhau. Các đồng chí xuất thân từ nhiều nguồn đào tạo khác nhau, tuổi đời, tuổi nghề cũng có nhiều khác biệt. Cả tập thể ấy mang theo phong tục tập quán của nhiều địa phương khác nhau, cá tính, năng lực, sở trường khác nhau nhưng trước yêu cầu của cách mạng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, các đồng chí đã tập hợp thành một khối xây dựng một tổ ấm đoàn kết nhất trí, khắc phục những mặt yếu, phát huy những mặt mạnh cùng nhau gánh vác công việc chung để đẩy mạnh công tác giáo dục của nhà trường.

c) Học sinh:

Toàn trường có … học sinh trong đó: Khối 1 có … em; khối 2 có … em; khối 3 có … em; khối 4 có … em; khối 5 có chúng tôi Các em hầu hết là con em nhân dân lao động ở địa phương xã … cũng như nhiều trường khác, đó là một tập thể nam nữ Thiếu niên Nhi đồng sôi nổi hiếu động, có nhiều mặt tốt cần phát huy nhưng cũng có những biểu hiện ứng xử chưa hay của một số học sinh cá biệt. Một số nhỏ học sinh về mặt ý thức chấp hành kỷ luật, nội quy của lớp và của nhà trường chưa tốt vẫn còn ở rải rác các lớp. Mặt khác, còn có một số không nhỏ phụ huynh học sinh chưa quan tâm đến việc học tập của con em mình, việc học hành, tu dưỡng rèn luyện đạo đức của các em còn phó mặc cho nhà trường và các thầy cô giáo. Trước tình hình này thôi thúc nhà trường phải tập trung suy nghĩ cải tiến cách dạy, cách giáo dục học sinh phát triển toàn diện đáp ứng nhu cầu của xã hội hiện nay.

Một số biện pháp được thực hiện:

Các giải pháp giáo dục đạo đức, hành vi ứng xử cho học sinh:

Tuổi học sinh Tiểu học là giai đoạn lĩnh hội các Chuẩn mực đạo đức, hành vi ứng xử và quy tắc hành vi đạo đức một cách hệ thống. Hơn nữa, nhà trường còn kiểm tra việc thực hiện các chuẩn mực đạo đức, hành vi ứng xử một cách thường xuyên và có mục đích. Việc giáo dục đạo đức, hành vi ứng xử cho học sinh không tách rời việc giáo dục nhân cách học sinh và có thể thực hiện với nhiều hình thức thích hợp, đa dạng trong đó nổi bật là các hình thức sau:

a) Giáo dục đạo đức, hành vi ứng xử của học sinh thông qua quá trình đứng lớp và dạy học các môn học khác

b) Giáo dục đạo đức, hành vi ứng xử thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp

c) Vận động mọi lực lượng tham gia giáo dục đạo đức,hành vi ứng xử cho học sinh

d) Giáo dục đạo đức, hành vi ứng xử của học sinh mọi lúc mọi nơi

Từ thực tiễn cho thấy việc giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ nói chung, cho học sinh Tiểu học nói riêng là hết sức cần thiết và quan trọng. Đó là trách nhiệm của mỗi tổ chức xã hội, mọi người, mọi gia đình, đồng thời là trách nhiệm nặng nề của ngành giáo dục trong đó vai trò của các trường học rất quan trọng. Giáo dục đạo đức cho học sinh bậc tiểu học góp phần không nhỏ vào việc hình thành nhân cách, phẩm chất đạo đức cho học sinh.

Kính thưa Ban tổ chức, ban giám khảo!

Tôi vừa trình bày xong bài thuyết trình: “Một số biện pháp giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học”.

Cuối cùng xin kính chúc Ban tổ chức, ban giám khảo luôn mạnh khỏe, hạnh phúc và thành đạt.

Chúc Hội thi thành công tốt đẹp!

Trân trọng cảm ơn!

4. Bài thuyết trình: Một số biện pháp duy trì sĩ số học sinh ở tiểu học

Kính thưa:

Ban tổ chức!

Thưa Ban giám khảo!

Hôm nay tôi rất vinh dự được tham gia thuyết trình trong hội thi “Giáo viên dạy giỏi” cấp Huyện năm học …, với “Một số biện pháp duy trì sĩ số học sinh ở tiểu học”.

Kính thưa ban giám khảo!

Duy trì sĩ số học sinh có vai trò vô cùng quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục, hạn chế tối đa tình trạng học sinh bỏ học. Học sinh bỏ học giữa chừng là một trong những yếu tố tạo nên mối nguy hại lớn cho xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Thật vậy, một dân tộc mà dân trí thấp kém thì khó có điều kiện để tiếp thu và phát huy tinh hoa văn hóa, khoa học, công nghệ mới của nhân loại. Do đó chúng ta cần làm tốt công tác duy trì sĩ số học sinh, giảm tỷ lệ học sinh lưu ban, bỏ học để góp phần xây dựng sự nghiệp giáo dục phát triển bền vững.

Mục tiêu của việc duy trì sĩ số sĩ số ở trường tiểu học góp phần vào việc nâng cao chất lượng học tập của học sinh cũng như giúp các em có cơ hội phát triển toàn diện bản thân. Đồng thời nó cũng là yếu tố quan trọng giúp giáo viên thực hiện tốt kế hoạch giáo dục học sinh. Để công tác giáo dục đạt hiệu quả cần rất nhiều yếu tố chủ quan và khách quan, trong đó việc các em đi học chuyên cần đóng một phần không nhỏ. Học sinh có đi học đều, đầy đủ thì việc tiếp thu bài mới tốt hơn. Nắm vững kiến thức các môn học trong chương trình một cách liền mạch và có hệ thống, đây là yếu tố quan trọng thu hút các em ham thích đi đến trường.

Nội dung và cách thực hiện giải pháp, biện pháp

Để thực hiện hiệu quả công tác duy trì sĩ số, giáo viên chủ nhiệm phải nắm được tình hình của lớp. Vì vậy, sau khi nhận lớp, giáo viên chủ nhiệm cần trao đổi với giáo viên chủ nhiệm lớp dưới để nắm thông tin của lớp, về những đối tượng học sinh cần lưu ý, trong đó đáng quan tâm hơn là những em hay nghỉ học, có nguy cơ bỏ học…. Thông qua đó, giúp giáo viên chủ nhiệm biết được một số nguyên nhân dẫn đến học sinh hay nghỉ học, có nguy cơ bỏ học như: hoàn cảnh gia đình các em còn khó khăn, chưa lo đủ cái ăn, cái mặc nên các em phải nghỉ học; gia đình chưa thật sự quan tâm đến việc học của các em; một số em lại không thích đến trường,…Từ đó giáo viên sẽ tìm ra những biện pháp để động viên học sinh ra lớp.

Biện pháp 2: Giáo viên chủ nhiệm là người “tiên phong” trong công tác vận động học sinh ra lớp

Chất lượng giáo dục học sinh ở vùng có điều kiện khó khăn phụ thuộc nhiều vào việc bảo đảm duy trì được sĩ số. Nếu học sinh nghỉ học hoặc đi học không chuyên cần sẽ ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng học tập của các em, các kiến thức không liền mạch, các em lại gặp khó khăn nhiều hơn trong học tập và lao động, …

Giáo viên chủ nhiệm là người sát sao và gần gũi học sinh hơn ai hết. Khi biết học sinh đi học không chuyên cần và có nguy cơ bỏ học thì bằng mọi cách phải vận động ngay các em đi học lại. Tuyệt đối không để tình trạng học sinh bỏ học lâu ngày rồi mới tìm hiểu nguyên nhân và vận động. Khi có được thông tin về học sinh nghỉ học, trước hết, giáo viên chủ nhiệm cần trực tiếp đến nhà em học sinh đó để tìm hiểu nguyên nhân, thuyết phục gia đình để vận động học sinh ra lớp. Đối với những học sinh đi học không chuyên cần, có nguy cơ bỏ học do do khả năng tiếp thu bài chậm, lớn tuổi hơn các bạn trong lớp nên ngại đi học. Giáo viên chủ nhiệm phải làm tốt vai trò là “người mẹ”, “người bạn” của các em, luôn gần gũi, động viên, khích lệ học sinh. Từ đó, giáo viên lựa chọn biện pháp phù hợp để giúp đỡ học sinh tiếp thu bài tốt hơn, vượt qua mặc cảm, tự tin đến lớp. Giáo viên có thể sử dụng một số biện pháp như phát động phong trào: “Đôi bạn cùng tiến”, “Bạn giúp bạn”,… để học sinh trong lớp giúp những bạn học còn chưa tốt vươn lên trong học tập. Thông qua đó, giúp các em xóa bỏ mặc cảm để tự tin đến lớp. Đối với những học sinh đi học không chuyên cần, có nguy cơ bỏ học do các nguyên nhân khác, giáo viên chủ nhiệm cần trao đổi với lãnh đạo nhà trường để tìm biện pháp hữu hiệu. Giáo viên chủ nhiệm cần tích cực phối hợp với gia đình, nhà trường, chính quyền địa phương và các tổ chức đoàn thể trong và ngoài nhà trường để có biện pháp vận động học sinh ra lớp. Vai trò của giáo viên trong việc vận động học sinh rất quan trọng, là người “tiên phong” trực tiếp trong công tác vận động học sinh ra lớp, là nhân tố tạo nên sự thành công trong công tác duy trì sĩ.

Biện pháp 3: Làm tốt công tác phối hợp với gia đình học sinh, nhà trường, các tổ chức xã hội

Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: ” Giáo dục các em là việc chung của gia đình, nhà trường và xã hội. Bố mẹ, thầy giáo và người lớn phải cùng nhau phụ trách, trước hết là phải làm gương cho các em hết mọi việc”. Điều đó cho thấy tầm quan trọng của việc phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong công tác giáo dục học sinh. Đối với gia đình học sinh, việc thường xuyên được nghe giáo viên chủ nhiệm trao đổi kết quả học tập và rèn luyện của con mình là cầu nối cần thiết để làm tốt công tác tuyên truyền, vận động học sinh đi học, đảm bảo sĩ số lớp. Bên cạnh đó, công tác phối hợp giữa Ban Đại diện cha mẹ học sinh, nhà trường, chính quyền thôn buôn, đặc biệt là những những người có uy tín ở địa phương có vai trò rất quan trọng trong việc tuyên truyền vận động học sinh ra lớp.

Biện pháp 4: Nâng cao chất lượng giáo dục học sinh

Thực tế cho thấy rằng, học yếu là một trong những nguyên nhân dẫn đến học sinh hay mặc cảm, dễ chán học và bỏ học. Vì vậy cần phải nâng cao chất lượng học tập ở học sinh. Để làm được điều này, giáo giáo viên không chỉ cần có chuyên môn tốt mà còn phải có sự kiên trì, hiểu tâm lý học sinh. Người giáo viên cần phải có cái tâm, có phương pháp dạy học phù hợp, các bài tập dành cho học sinh phải vừa sức, chú ý động viên là chính để các em dễ tiếp thu bài và không nảy sinh tâm lý “sợ học” dẫn đến chán học và bỏ học.

Muốn nâng cao chất lượng học tập của học sinh, trước hết giáo viên cần thực hiện tốt việc phân hóa đối tượng học sinh trong lớp, từ đó xây dựng kế hoạch, điều chỉnh phương pháp và hình thức tổ chức dạy học phù hợp. Phát động các phong trào thi đua học tập.

Mặt khác, giáo viên cần có ý thức thường xuyên trau dồi kiến thức, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ để đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục. Tăng cường sử dụng hiệu quả đồ dùng dạy học, tích cực đổi mới phương pháp giảng dạy phù hợp với đối tượng học sinh theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo. Tổ chức các tiết học vui tươi, nhẹ nhàng, hiệu quả, kích thích được sự khám phá, tìm tòi, tạo hứng thú cho các em trong học tập. Cần tránh sự căng thẳng, khô cứng trong các tiết học làm cho các em chán học dẫn tới bỏ học.

Chú trọng và quan tâm nhiều hơn đối tượng học sinh khó khăn về học, học sinh có hoàn cảnh khó khăn, tạo được mối quan hệ tốt giữa thầy và trò để các em xem thầy cô giáo thực sự là chỗ dựa tinh thần, từ đó các em sẽ thích được đến trường để học tập cùng “người mẹ thứ hai” của mình.

Sự phối hợp giữa giáo viên chủ nhiệm và giáo viên bộ môn có tác động không nhỏ trong công tác duy trì sĩ số học sinh, đặc biệt là tỉ lệ chuyên cần trong các buổi học thứ hai. Thực tế cho thấy học sinh thường vắng học vào buổi học thứ hai (không phải buổi giáo viên chủ nhiệm dạy). Có thể vì do hoàn cảnh gia đình khó khăn nên các em ở nhà phụ giúp gia đình tăng thêm thu nhập hay có thể do các em không thích môn học do giáo viên bộ môn dạy,… Vì vậy giáo viên chủ nhiệm tìm hiểu nguyên nhân, phối hợp cùng giáo viên bộ môn đề ra các biện pháp thích hợp nhằm giúp các em có kết quả học tập tốt hơn ở các môn học, từ đó các em sẽ hứng thú học tập và đi học đều đặn.

Môi trường học tập thân thiện phải đảm bảo một số điều kiện như: lớp học phải đẹp, sạch sẽ, thoáng đãng, ánh sáng đầy đủ, bàn ghế luôn được lau chùi và sắp xếp gọn gàng, xây dựng được một tập thể lớp đoàn kết, các thành viên trong lớp giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau tiến bộ. Để xây dựng đượ môi trường học tập thân thiện, giáo viên cần hướng dẫn học sinh tham gia tích cực các hoạt động ở trường, lớp phù hợp với lứa tuổi của mình như: tham gia lao động, vệ sinh trường lớp; trang trí lớp học thân thiên; chăm sóc cây xanh trong khuôn viên trường; …

Thông qua các hoạt động đó, giáo dục kỹ năng sống cho học sinh cũng như các em thấy được trách nhiệm, nghĩa vụ của bản thân, tạo dựng được khối đoàn kết, giúp đỡ nhau trong mọi hoạt động giữa các học sinh trong lớp, trong trường. Đó cũng chính là một trong những yếu tố quan trọng nhằm thu hút học sinh yêu thích đến trường.

Kính thưa Ban tổ chức, ban giám khảo!

Tôi vừa trình bày xong bài thuyết trình: “Một số biện pháp duy trì sĩ số học sinh ở tiểu học”.

Cuối cùng xin kính chúc Ban tổ chức, ban giám khảo luôn mạnh khỏe, hạnh phúc và thành đạt.

Chúc Hội thi thành công tốt đẹp!

Trân trọng cảm ơn!