Phát Triển Du Lịch Sinh Thái Rừng Tràm Trà Sư

RỪNG TRÀM TRÀ SƯ (RTTS) – SẢN PHẨM DU LỊCH HẤP DẪN

Tại RTTS tài nguyên tự nhiên kết hợp nền văn hóa bản địa tạo ra những sản phẩm du lịch rất độc đáo, hấp dẫn du khách. Nơi đây, có nhiều phong cảnh đẹp, mang vẻ hoang sơ của vùng sông nước miệt vườn. Trong tương lai, RTTS sẽ khai thác được rất nhiều loại hình du lịch để phục vụ du khách như: du lịch tham quan sinh cảnh rừng tràm, vui chơi, giải trí, cắm trại; du lịch chuyên đề, nghiên cứu khoa học; du lịch câu cá (đây là loại hình đang thu hút đông du khách); du lịch sinh thái kết hợp với khám phá nền văn hóa bản địa; du lịch chữa bệnh, nghỉ dưỡng.

RTTS có hệ sinh thái rừng tràm úng phèn trên đất ngập nước nổi tiếng còn sót lại của tỉnh An Giang, có nguồn tài nguyên động, thực vật phong phú và đa dạng, rất thích hợp cho việc nghiên cứu khoa học, học tập, tham quan… Với vị trí thuận lợi, nằm trong tỉnh có tiềm năng du lịch rất lớn, trong tương lai RTTS sẽ thu hút một lượng khách lớn đến tham quan. RTTS nằm trong chiến lược phát triển của tỉnh, là một trong những vùng trọng điểm, có thế mạnh về đầu tư, do được sự quan tâm của các cấp chính quyền nên RTTS có cơ hội phát triển du lịch sinh thái.

Tuy nhiên, RTTS là khu bảo vệ cảnh quan thiên nhiên, nơi đây có nhiều loài động, thực vật quý hiếm, nếu phát triển du lịch mà không có sự tính toán kỹ và cụ thể sẽ gây ra nhiều bất lợi ảnh hưởng đến sự phát triển của các loài động, thực vật.

Nếu không có địa điểm thu gom xử lý rác thải thì ô nhiễm môi trường sẽ làm ảnh hưởng đến nguồn nước, dẫn đến sự thay đổi môi trường sống của các loài động, thực vật, ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân địa phương…

Hiện nay, cơ sở vật chất kỹ thuật, đặc biệt là cơ sở lưu trú trong khu vực chưa được đầu tư xây dựng, vì vậy du khách đến tham quan chỉ đi trong ngày, nên nguồn doanh thu du lịch thấp.

Vì vậy, lượng hướng dẫn viên du lịch còn ít và chưa đáp ứng được nhu cầu của du khách. Công tác bảo tồn nguồn tài nguyên rừng còn gặp nhiều khó khăn, do lực lượng kiểm lâm còn mỏng, sức ép dân số ngày càng lớn ở khu vực xung quanh rừng. Bên cạnh đó, RTTS mới được đưa vào phát triển du lịch nên công tác quảng bá còn nhiều hạn chế, du khách thiếu thông tin về RTTS.

LÀM THẾ NÀO ĐỂ THU HÚT DU KHÁCH ĐẾN RTTS

Đa dạng hóa sản phẩm du lịch

Để thu hút du khách, RTTS cần phải có kế hoạch đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch RTTS. Khuyến khích mở các điểm trưng bày và bán hàng lưu niệm, hàng thủ công mỹ nghệ, hàng của làng nghề truyền thống có chất lượng cao với giá cả phù hợp. Miễn thuế với các mặt hàng lưu niệm để phục vụ nhu cầu mua sắm của du khách. Đồng thời, chú trọng phát triển các hoạt động lễ hội văn hóa truyền thống dân gian, đờn ca tài tử, sưu tập các món ăn dân dã vùng sông nước.

Khai thác loại hình văn hóa bản địa, như nếp sống của cư dân địa phương, văn hóa ẩm thực thôn quê, kết hợp đờn ca tài tử Nam Bộ, trò chơi dân gian,… phục vụ du khách.

Tổ chức quản lý du lịch

Khi du lịch phát triển ở RTTS thì việc quản lý hoạt động du lịch là vấn đề quan trọng. Để quản lý tốt RTTS, cần thành lập một phòng chuyên đề quản lý phát triển du lịch và giáo dục môi trường, phối hợp với các cấp chính quyền địa phương, các cụm dân cư… làm tốt công tác quản lý du lịch.

Tổ chức những hoạt động về giáo dục và bảo vệ môi trường

Lập kế hoạch giáo dục môi trường và bảo vệ tài nguyên du lịch. Biên soạn tài liệu giáo dục môi trường về di tích lịch sử và tài nguyên ở khu vực Trà Sư. Quản lý và hướng dẫn du khách tham quan du lịch RTTS có ý thức về môi trường. Tổ chức phổ cập các tài liệu giáo dục môi trường cho giáo viên, nhân dân trong vùng đệm nhằm tuyên truyền giáo dục các hoạt động bảo vệ môi trường sinh thái.

Xây dựng hệ thống xử lý nước thải, bố trí thùng rác trong khu du lịch. Hạn chế hoạt động du lịch gần nơi cư trú của các loài động vật, tuân thủ vấn đề sức chứa, để không làm lão hóa thổ nhưỡng ảnh hưởng sự phát triển đến các loại thực vật. Đảm bảo vệ sinh các dịch vụ du lịch, nơi công cộng.

Đào tạo nguồn nhân lực phát triển du lịch RTTS

Cần phải chú trọng đầu tư phát triển nguồn nhân lực một cách có hiệu quả, phát triển lực lượng lao động có trình độ chuyên môn nghiệp vụ tốt. Thường xuyên bồi dưỡng trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho các cán bộ, nhân viên, Người lao động trong lĩnh vực du lịch, tổ chức đào tạo ngành theo nhiều hình thức.

Xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật và cơ sở hạ tầng

Việc xây dựng các khu nhà nghỉ phải tuân thủ kiến trúc phù hợp với cảnh quan sinh thái, nên sử dụng các vật liệu từ địa phương.

Khuyến khích cộng đồng địa phương tham gia vào hoạt động kinh doanh của cơ sở ăn, uống, nhà nghỉ… nhưng phải quản lý tốt và đảm bảo chất lượng của các dịch vụ.

Ngoài ra, nên đầu tư xây dựng nhiều chòi nghỉ mát ở khu du lịch và các điểm tham quan; đầu tư xây dựng lại con đường vào khu du lịch.

Đảm bảo an toàn trật tự xã hội

Tính an toàn là chỉ tiêu quan trọng phát triển du lịch, vì thế khi du khách đến khu du lịch sinh thái RTTS cần đảm bảo vấn đề an ninh trật tự, giữ gìn tài sản và tính mạng của du khách. RTTS cần phối hợp với các cấp chính quyền của địa phương thực hiện tốt công tác an ninh trật tự trong khu vực, tạo cho du khách an tâm khi đến du lịch. Cần thành lập một đội bảo vệ an ninh trong khu du lịch và vùng quanh rừng, đảm bảo an toàn cho du khách.

Để RTTS sẽ mãi là khu rừng đặc dụng, khu bảo tồn thiên nhiên rừng ngập nước, khu du lịch sinh thái giá trị của ĐBSCL và của cả nước, các ngành chức năng cần luôn quan tâm và đầu tư đúng mức.

Khu rừng tràm Trà Sư (RTTS) có diện tích 845ha (chưa kể vùng đệm 645ha), thuộc địa phận xã Văn Giáo, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang, được tỉnh quy hoạch thành khu rừng phòng hộ bảo vệ môi trường. RTTS có tài nguyên thực và động vật phong phú. Đặt biệt là sinh cảnh rừng tràm với trên 600ha rừng thành thục và trung niên, cùng với các trảng cỏ, lung đìa, là nơi cư trú và sinh sản lý tưởng của các loài chim, cò và thủy sản, tạo thành cảnh quan độc đáo tiêu biểu cho vùng Tây sông Hậu.

Tài liệu tham khảo

1. Nhiều soạn giả (2003), Địa chí An Giang, Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang.2. Lê Huy Bá (2005), Du lịch sinh thái, NXB Đại học quốc gia TP.HCM3. Phạm Trung Lương (2000), Du lịch sinh thái, những vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội.

ThS. Trần Thanh Thảo Uyên

(Tạp chí Du lịch)

Phân Tích Hệ Sinh Thái Rừng Tràm Trà Sư, Từ Đó Đề Xuất Biện Pháp Phục Hồi Bảo Vệ Tài Nguyên Bền Vững

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠKHOA KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH PHÂN TÍCH HỆ SINH THÁI VÀ RỪNGTRÀM TRÀ SƯ – AN GIANG, TỪ ĐÓ ĐỀXUẤT BIỆN PHÁP PHỤC HỒI, BẢO VỆ TÀI NGUYÊN BỀN VỮNGNhóm thực hiệnDương Thanh Nhi B1309301Nguyễn Công Quang B1309318Nguyễn Thị Minh Thùy B1309334La Thị Anh Thư B1309336Nguyễn Thị Thanh Trúc B13093491Ngày hoàn thành: Tháng 2/2024CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀINgày nay môi trường toàn cầu đang có những biến đổi theo chiềuhướng xấu. Sinh quyển đang bị thoái hoá và môi trường sinh thái bị khủng hoảng.Môi trường sống đang bị ô nhiễm. Tài nguyên sinh vật và tài nguyên rừng bị

cạn kiệt. Tài nguyên đất đang bị suy giảm. Tài nguyên nước ngọt bị suy giảmvà ô nhiễm. Khí hậu đang thay đổi và gây ra nhiều hậu qủa xấu. Những biếnđổi này là kết quả của các quá trình tự nhiên hoặc do hoạt động của con người.Vì thế, vấn đề bảo vệ môi trường đang là mối quan tâm to lớn của toàn thếgiới. Để bảo vệ môi trường sống, cộng đồng thế giới đã cam kết cùng nhausử dụng tiết kiệm các nguồn tài nguyên, giảm sự can thiệp vào các hệ sinh tháitựnhiên, đồng thời gia tăng sự phục hồi và phát triển những nguồn tài nguyênmới. Để làm giảm ô nhiễm không khí, cộng đồng thế giới đang kêu gọi cắtgiảm sự đốt cháy nhiên liệu hóa thạch (Dầu mỏ và khí đốt…), đồng thời tăngcường bảo vệ và phát triển rừng. Vì rừng có khả năng làm cân bằng một sốchất khí trong không khí như CO2 và O2; do đó việc bảo vệ và phát triển rừnglà biện pháp hữu hiệu nhất để bảo vệvà chống ô nhiễm không khí.Nước ta, nhất là đồng bằng sông Cửu Long các vùng đất đầm lầy, ngậpnước ngọt định kỳ trong 6-7 tháng liền và nhiều tháng úng nước phèn chuachiếm diện tích khá lớn, trên hàng triệu ha ở 3 vùng: Đồng Tháp Mười trêncác tỉnh Long An, Tiền Giang, Đồng Tháp, vùng Tứ giác Long Xuyên trên cáctỉnh An Giang, Kiên Giang, vùng U Minh thượng, U Minh hạ thuộc tỉnh CàMau. Những vùng đất này bị úng phèn rất khó trồng lúa và những cây hoamàu khác, tuy vậy nó có thể nuôi ong mật và thủy sản nâng cao kết hợp vớitrồng cây tràm.Rừng tràm là một hệ sinh thái đặc trưng cho những vùng ngập úngphèn, chiếm một diện tích rất rộng hàng trăm ngàn ha trước đây, vì tràm thíchnghi được trên nhiều loại đất khác nhau trong các môi trường ngập nước, từnước ngọt đến nước lợ và úng phèn nặng. Sau khi rừng tràm bị phá hủy đểtrồng lúa làm mất lớp than bùn giàu dinh dưỡng và lớp đất sét trơ ra tiếp xúcvới oxy đã là xì phèn, dậy phèn do đó năng suất lúa rất thấp, nhiều khi chỉ 1-22tấn/ha và đành phải bỏ hoang vì lổ vốn và đành phải giao lại cho lâm nghiệptrồng tràm. Rừng tràm Trà Sư là một trong những hệ sinh thái đa dạng, phong phú,một nguồn lợi tài nguyên thiên nhiên bạt ngàn cùng vẻ đẹp tiềm ẩn mà đất trờiđã ban tặng. Theo kết quả khảo sát của BirdLife International và Viện Sinhthái và Tài nguyên sinh vật, rừng tràm Trà Sư được đánh giá là nơi có tầmquan trọng quốc tế trong công tác bảo tồn đất ngập nước tại đồng bằng sôngCửu Long. Năm 1999, cả hai tổ chức ấy đều đã đề xuất chính quyền địaphương xây dựng khu bảo vệ tại khu vực này. Ngày 27 tháng 5 năm 2003,chính quyền tỉnh An Giang đã ra quyết định phê duyệt thành lập khu bảo vệ

Giải Pháp Marketing Cho Khu Du Lịch Sinh Thái Rừng Tràm Trà Sư

Khóa luận tốt nghiệp: Giải pháp marketing cho khu du lịch sinh thái Rừng Tràm Trà Sư

CHƯƠNG I – GIỚI THIỆU 1.1.

Cơ sở hình thành: Ngày nay, khi cuộc sống ngày càng phát triển thì con người tiến đến những nhu cầu cao hơn như giải trí, thể hiện mình, thời trang,… Trong đó giải trí là một nhu cầu tinh thần không thể thiếu. Trong các phương thức giải trí thì du lịch là một phương thức khá hữu hiệu và được ưa chuộng nhất ngày nay. Nó vừa giúp chúng ta thư giãn đầu óc sau thời gian lao động, học tập mệt mỏi và căng thẳng, vừa giúp chúng ta hiểu thêm về văn hóa và các thắng cảnh đẹp. Ngày càng nhiều loại hình du lịch ra đời nên du khách càng có nhiều lựa chọn cho chuyến du lịch của mình. Trong đó du lịch sinh thái là một loại hình phổ biến ở các tỉnh miền Tây nam bộ hiện nay. Với những cảnh đẹp, những thú vui rất tự nhiên, du khách sẽ có sự thoải mái nhẹ nhàng khi đến với các khu du lịch sinh thái. Miền Tây nam bộ nói chung và tỉnh An Giang nói riêng, có nhiều tiềm năng để phát triển loại hình du lịch sinh thái. Điển hình là An Giang, được nổi tiếng với biệt danh vùng Bảy núi hùng vĩ nhưng vẫn chưa được khai thác có hiệu quả, chưa được khai thác triệt để. Không chỉ nổi tiếng và được nhiều người biết đến với những ngọn núi đẹp, nổi tiếng mà An Giang còn có những tiềm năng du lịch khác như các khu di tích lịch sử, chùa chiền, rừng sinh thái, … Trong số đó, rừng tràm Trà Sư là một khu du lịch có tiềm năng nhưng vẫn chưa được khai thác có hiệu quả. Rừng tràm Trà Sư là một khu rừng đặc dụng có diện tích gần 1.500 ha, với hơn 100 loài động vật hoang dã (nhiều loài quý hiếm được ghi trong sách đỏ), 23 loài cá, 140 loài thực vật phong phú; lại nằm trên tuyến du lịch liên hoàn với các khu du lịch núi Sam, núi Cấm, đồi Tức Dụp…. Rừng tràm Trà Sư thuộc xã Văn Giáo, Tịnh Biên, có nhiều lợi thế để phát triển du lịch sinh thái – loại hình du lịch rất được ưa chuộng hiện nay. Không chỉ nổi tiếng bởi vẻ đẹp hoang sơ với quần thể thực, động vật phong phú, nơi đây còn được được đánh giá là khu rừng có tầm quan trọng đặc biệt trong công tác bảo tồn thiên nhiên. “Tuy nhiên, do tour tuyến còn đơn giản, chưa có nhiều loại hình vui chơi giải trí nên khó “giữ chân” khách du lịch. Bên cạnh đó, còn có nhiều khó khăn như: nguồn nhân lực mỏng, khu vực ăn uống nhỏ hẹp, không thể phục vụ đồng thời số lượng khách lớn; phương tiện phục vụ du lịch vừa ít vừa không đạt chuẩn; nhân viên chưa có nghiệp vụ về du lịch nên phong cách phục vụ khách còn thiếu chuyên nghiệp; nhiều người dân vào săn bắt động vật trái phép làm ảnh hưởng đến sinh thái… Đây cũng là những nguyên nhân làm cho du khách chưa “mặn mà” với rừng tràm Trà Sư”1 Để khu du lịch sinh thái rừng tràm Trà Sư phát triển tương xứng với tiềm năng thì cần phải có một kế hoạch phát triển lâu dài nhưng trước hết cần phải nghiên cứu những khó khăn, hạn chế và những tiềm năng cần đầu tư phát triển. Xuất phát từ nhu cầu đó nên đề tài “Giải pháp marketing cho khu du lịch sinh thái rừng tràm Trà Sư” được tiến hành.

1

http://www.angiang.gov.vn

GVHD:Th.S Phạm Trung Tuấn

1

SVTH:Quảng Văn Tú

Khóa luận tốt nghiệp: Giải pháp marketing cho khu du lịch sinh thái Rừng Tràm Trà Sư

1.2.

Mục tiêu nghiên cứu

Xác định những khó khăn đang tồn tại của khu du lịch sinh thái rừng tràm Trà Sư.

Xác định những lợi thế của khu du lịch có thể phát triển thành sản phẩm du lịch.

GVHD:Th.S Phạm Trung Tuấn

2

SVTH:Quảng Văn Tú

Khóa luận tốt nghiệp: Giải pháp marketing cho khu du lịch sinh thái Rừng Tràm Trà Sư

GVHD:Th.S Phạm Trung Tuấn

3

SVTH:Quảng Văn Tú

Khóa luận tốt nghiệp: Giải pháp marketing cho khu du lịch sinh thái Rừng Tràm Trà Sư

Bảng 2.2: Thu nhập du lịch 2

Báo cáo thành tích ngành du lịch – Tổng cục du lịch

3

Hiệp hội du lịch Việt Nam : http://vietnamtourisminfo.com

GVHD:Th.S Phạm Trung Tuấn

4

SVTH:Quảng Văn Tú

Khóa luận tốt nghiệp: Giải pháp marketing cho khu du lịch sinh thái Rừng Tràm Trà Sư

Năm

Thu nhập

Hiệu quả kinh tế – xã hội của hoạt động du lịch ngày càng rõ nét, góp phần xóa đói giảm nghèo và làm giàu cho xã hội: Du lịch phát triển đã góp phần tăng tỷ trọng GDP của ngành du lịch trong khối ngành dịch vụ trong tổng thu nhập quốc dân. Du lịch đã thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển, mở rộng giao lưu văn hoá và nâng cao dân trí, phát triển nhân tố con người, đảm bảo an ninh quốc phòng và trật tự an toàn xã hội: Hoạt động du lịch đã tạo thêm nguồn thu để tôn tạo, trùng tu các di tích, di sản và nâng cao ý thức, trách nhiệm giữ gìn, phát triển di sản văn hoá vật thể và phi vật thể; khôi phục lễ hội, làng nghề truyền thống, truyền tải giá trị văn hoá đến các tầng lớp nhân dân và bạn bè quốc tế… tạo thêm sức hấp dẫn thu hút khách du lịch. Thông qua du lịch các ngành kinh tế xã hội khác phát triển; mở thêm thị trường tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ cho các ngành khác, thúc đẩy hoạt động thương mại và mang lại hiệu quả cao với hình thức xuất khẩu tại chỗ thông qua du lịch. Các ngành nông nghiệp, thuỷ sản, giao thông, xây dựng, viễn thông, văn hoá nhờ phát triển du lịch mà những năm qua đã có thêm động lực phát triển, diện mạo của nền kinh tế – xã hội được cải thiện và nâng lên trình độ cao hơn. Điểm mấu chốt là thông qua du lịch đã kích cầu có hiệu quả cho các ngành kinh tế khác phát triển. Hoạt động du lịch phát triển đã kéo theo sự mở rộng giao lưu kinh tế văn hoá giữa các vùng, miền và với quốc tế, góp phần giáo dục truyền thống, đào tạo kiến thức và rèn luyện, bồi dưỡng thể chất, tinh thần cho mọi tầng lớp dân cư. 2.1.2. Tình hình du lịch An Giang

GVHD:Th.S Phạm Trung Tuấn

5

SVTH:Quảng Văn Tú

Khóa luận tốt nghiệp: Giải pháp marketing cho khu du lịch sinh thái Rừng Tràm Trà Sư

An Giang là một tỉnh miền Tây Nam Bộ, bắt đầu từ chỗ sông Mê Kông chảy vào nước ta được chia làm đôi. Phía đông An Giang giáp Đồng Tháp, phía đông nam giáp Tp. Cần Thơ, phía tây nam giáp Kiên Giang, phía tây và tây bắc giáp nước Cam-pu-chia. Khác với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, bên cạnh vùng đồng bằng phù sa, An Giang còn có một miền núi nhỏ, dài 30km, rộng 13km. Đó là dãy Bảy Núi (Thất Sơn) ở các huyện Tịnh Biên, Tri Tôn. Phía tây tỉnh, chạy song song với biên giới là kênh Vĩnh Tế, được đào năm 1823 nối từ Châu Đốc đến Hà Tiên. An Giang nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình năm 27ºC, cao nhất 35ºC – 36ºC vào tháng 4 – 5, thấp nhất từ 20ºC – 21ºC vào tháng 12 và tháng 1. Lượng mưa trung bình 1400 – 1500mm, có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau. Tiềm năng phát triển du lịch: An Giang được nhiều du khách biết đến với các lễ hội độc đáo như lễ hội miếu Bà Chúa Xứ, Chôl Chnam Thmây, Dolta và hội đua bò…, các danh lam thắng cảnh: núi Sam, miếu Bà Chúa Xứ, Núi Cấm và hệ thống hang động Thủy Đài Sơn, Anh Vũ Sơn, Sơn viên Cô Tô, đồi Tức Dụp. Bên cạnh đó còn có các làng nghề thủ công và các khu du lịch sinh thái đang là loại hình có tiềm năng phát triển mạnh tại An Giang. Rừng tràm Trà Sư, với một quần thể thực vật và động vật đa dạng, phong phú, trong đó có một số loại động vật quý hiếm, là khu vực có tiềm năng về du lịch sinh thái nhất tỉnh. 2.1.3. Khu du lịch sinh thái Rừng Tràm Trà Sư

Hình 2.1. Cảnh quang RTTS nhìn từ đài quan sát Rừng tràm Trà Sư thuộc vùng núi Thất Sơn, tỉnh An Giang là một trong những điểm đến quen thuộc của nhiều du khách. Không chỉ nổi tiếng bởi vẻ đẹp hoang sơ với quần thể thực, động vật phong phú , với hơn 100 loài động vật hoang dã (nhiều loài quý hiếm được ghi trong sách đỏ), 23 loài cá, 140 loài thực vật, nơi đây còn được được đánh giá là khu rừng có tầm quan trọng đặc biệt trong công tác bảo tồn thiên nhiên. Từ đài quan sát, du khách có thể ngắm bao quát cảnh quan rộng lớn diện tích 845ha vùng lõi và trên 600ha vùng đệm của cánh rừng tràm. Nơi đây cũng đã được đánh giá là khu rừng có tầm quan trọng đặc biệt trong công tác bảo tồn thiên nhiên, thu hút nhiều nhà khoa học đến nghiên cứu mỗi năm. GVHD:Th.S Phạm Trung Tuấn

6

SVTH:Quảng Văn Tú

Khóa luận tốt nghiệp: Giải pháp marketing cho khu du lịch sinh thái Rừng Tràm Trà Sư

http://www.angiang.gov.vn

GVHD:Th.S Phạm Trung Tuấn

7

SVTH:Quảng Văn Tú

Khóa luận tốt nghiệp: Giải pháp marketing cho khu du lịch sinh thái Rừng Tràm Trà Sư

GVHD:Th.S Phạm Trung Tuấn

8

SVTH:Quảng Văn Tú

Khóa luận tốt nghiệp: Giải pháp marketing cho khu du lịch sinh thái Rừng Tràm Trà Sư

9

SVTH:Quảng Văn Tú

Khóa luận tốt nghiệp: Giải pháp marketing cho khu du lịch sinh thái Rừng Tràm Trà Sư

hành tour, các công ty lữ hành, các hãng hàng không, để sử dụng các nơi này làm các điểm bán hàng. – Chiến lược chiêu thị cổ động trong xúc tiến du lịch (P4): Chiến lược tiếp xúc du lịch nhằm thúc đẩy việc bán sản phẩm du lịch, tạo được lòng tin của khách hàng đối với doanh nghiệp. Thông qua các hoạt động tuyên truyền quảng bá, nhà quản lý sẽ giới thiệu một cách hấp dẫn những lợi ích và ưu thế của sản phẩm đem chào bán và tạo ra sự hài lòng đối với nhóm khách hàng mục tiêu. 2.5. Nghiên cứu trước Ngoài các khái niệm trên, đề tài còn chịu ảnh hưởng trực tiếp của luận văn thạc sĩ “Giải pháp marketing nhằm phát triển du lịch Tiền Giang đến năm 2010”. Đề tài trên được thực hiện trên phạm vi khá rộng, bao gồm toàn bộ hệ thống kinh doanh du lịch của tỉnh Tiền Giang, kết hợp số liệu thống kê về du lịch của tỉnh Tiền Giang từ năm 2000 – 2004 và tìm hiểu khách du lịch, tác giả đã đưa ra các giải pháp cụ thể nhằm phát triển du lịch của tỉnh Tiền Giang đến năm 2010. Tuy nhiên hạn chế của đề tài trên là phạm vi quá rộng, số liệu thống kê chưa phản ánh hết tình hình du lịch của toàn tỉnh. Vận dụng những cái hay và khắc phục những hạn chế, đề tài “Giải pháp marketing cho khu du lịch sinh thái rừng tràm Trà Sư” chỉ thực hiện trên phạm vi nhỏ là một khu du lịch, ngoài việc sử dụng các số liệu thống kê có sẵn còn tiến hành quan sát thực tế và khảo sát du khách đến khu du lịch nhằm đảm bảo thông tin chính xác và đầy đủ hơn.

2.6. Mô hình nghiên cứu

GVHD:Th.S Phạm Trung Tuấn

10

SVTH:Quảng Văn Tú

Khóa luận tốt nghiệp: Giải pháp marketing cho khu du lịch sinh thái Rừng Tràm Trà Sư

Từ các mục tiêu nghiên cứu, kết hợp với cơ sở lý luận trên, mô hình nghiên cứu được thiết lập như sau:

Hình 2.2. Mô hình nghiên cứu

GVHD:Th.S Phạm Trung Tuấn

11

SVTH:Quảng Văn Tú

Khóa luận tốt nghiệp: Giải pháp marketing cho khu du lịch sinh thái Rừng Tràm Trà Sư

Phương pháp Kỹ thuật

Thời gian

1

Định tính

3-2010

Định tính

– Thông tin từ các cơ quan (sở thương mại và du lịch, bộ phận quản lý khu du lịch, các website)

2

Sơ bộ

Chính thức

4- 5/2010 Định lượng

– Phỏng vấn trực tiếp qua bản câu hỏi (n=50), quan sát thực tế – Xử lý, phân tích dữ liệu

GVHD:Th.S Phạm Trung Tuấn

12

SVTH:Quảng Văn Tú

Khóa luận tốt nghiệp: Giải pháp marketing cho khu du lịch sinh thái Rừng Tràm Trà Sư

những đánh giá về cảnh quang du lịch, cơ sở vật chất, các dịch vụ du lịch của khu du lịch Rừng tràm Trà Sư. + Bản câu hỏi cho khách du lịch (đã và đang tham quan khu du lịch): với bản câu hỏi này, tác giả mong muốn có được những thông tin về thái độ, đánh giá, cảm nhận từ chính các du khách về cảnh quang du lịch, cơ sở vật chất, các dịch vụ du lịch và chất lượng, thái độ phục vụ của các nhân viên tại đây. Thông qua việc phỏng vấn trực tiếp để thu thập các thông tin đó, có thể lắng nghe những đề xuất từ phía các du khách đối với khách du lịch. Đồng thời, việc nghiên cứu còn nhằm thấy được sự khác biệt những gì mà khách hàng kỳ vọng về chất lượng phục vụ của Rừng tràm với thực tế mà khách hàng nhận được.  Ngoài việc thu thập số liệu sơ cấp bằng bản hỏi, tác giả còn tiến hành quan sát thực tế để nắm thêm một số thông tin về cơ sở vật chất, các loại hình giải trí, số lượng khách đến khu du lịch. Dữ liệu thứ cấp: Đây là các thông tin về nguồn tài nguyên, vị trí địa lý, cơ sở vật chất, số lượng khách đến khu du lịch trong những năm trước và những tháng đầu năm 2010. Dữ liệu thứ cấp lấy từ sở thương mại và du lịch tỉnh An Giang, các trang web có liên quan đến du lịch An Giang như: – www.angiang.gov.vn – www.vietnamtourisminfo.com, – www.vietnamtourism.gov.com – Sách, báo – Bộ phận quản lý khu du lịch. Đồng thời tác giả còn tham khảo những kết quả nghiên cứu trước (có liên quan), nhằm hỗ trợ một phần cho việc phân tích đánh giá của khách hàng về chất lượng phục vụ của Rừng Tràm Trà Sư. Việc thu thập cùng một loại thông tin ở nhiều nguồn khác nhau sẽ góp phần đầy đủ hóa thông tin, giúp sàn lọc và có được những thông tin chính xác nhất. 3.3. Các bước nghiên cứu Trình tự của quá trình nghiên cứu được thực hiện theo 2 bước:  Nghiên cứu sơ bộ.  Nghiên cứu chính thức. 3.3.1. Nghiên cứu sơ bộ: Bắt đầu thực hiện nghiên cứu sơ bộ bằng việc dựa trên cơ sở lý thuyết Marketing, du lịch, mục tiêu nghiên cứu đề tài để đưa quan niệm bản thân kết hợp với tình hình hoạt động của Rừng tràm Trà Sư và các quan sát bước đầu để đưa ra bản câu hỏi dự kiến. Tiếp theo là tiến hành phỏng vấn 5 khách hàng đã và đang sử dụng những dịch vụ của Rừng tràm Trà Sư để thu thập thông tin thành lập bản câu hỏi.

GVHD:Th.S Phạm Trung Tuấn

13

SVTH:Quảng Văn Tú

Khóa luận tốt nghiệp: Giải pháp marketing cho khu du lịch sinh thái Rừng Tràm Trà Sư

GVHD:Th.S Phạm Trung Tuấn

14

SVTH:Quảng Văn Tú

Khóa luận tốt nghiệp: Giải pháp marketing cho khu du lịch sinh thái Rừng Tràm Trà Sư

Thực trạng hoạt động của Rừng tràm Trà Sư

Marketing Du lịch

Số liệu xin từ các cơ quan, cập nhật từ các website

Phát bản câu hỏi cho 50 khách hàng

Thu thập và xử lý thông tin

Đưa ra các giải pháp

.

Phân tích tổng hợp

Lập bản báo cáo

Hình 3.1 : Mô hình biểu diễn trình tự nghiên cứu

GVHD:Th.S Phạm Trung Tuấn

15

SVTH:Quảng Văn Tú

Khóa luận tốt nghiệp: Giải pháp marketing cho khu du lịch sinh thái Rừng Tràm Trà Sư

3.5. Mẫu: Phần này chỉ trình bày mẫu và cỡ mẫu sẽ thực hiện khảo sát bằng bản hỏi tại khu du lịch nên phạm vi chọn mẫu chỉ là trong khu du lịch sinh thái Rừng tràm Trà Sư. 3.5.1. Phương pháp chọn mẫu Mẫu được chọn một cách ngẫu nhiên một số du khách đến tham quan khu du lịch. 3.5.2. Cỡ mẫu: Do đây chỉ là một phần thông tin phục vụ cho việc phân tích nên cỡ mẫu được chọn không lớn lắm. Mục đích nhằm thấy được những đánh giá và nhận được những góp ý từ các nhân viên và du khách dành cho khu du lịch. Cỡ mẫu đề nghị là: n=50 đối với du khách.

GVHD:Th.S Phạm Trung Tuấn

16

SVTH:Quảng Văn Tú

Khóa luận tốt nghiệp: Giải pháp marketing cho khu du lịch sinh thái Rừng Tràm Trà Sư

CHƯƠNG IV – THỰC TRẠNG DU LỊCH SINH THÁI RTTS Chương này giới thiệu những lợi thế cũng như những khó khăn của khu du lịch sinh thái RTTS thông qua những thông tin quan sát, thu thập được và những đánh giá của một số du khách đến với RTTS. 4.1. Cơ sở du lịch 4.1.1. Cơ sở hạ tầng Trước đây, muốn vào được rừng tràm, du khách phải đi bằng phương tiện nhỏ như xe máy, xe đạp, đi bộ hoặc bằng xe ba bánh của khu du dịch chuyên dùng đưa rước khách. Vì đường vào khu du lịch chỉ là con đường nhỏ, rộng chỉ khoảng 1,5m. Chính vì thế khách du lịch đến đây không nhiều vì không thuận tiện. Nhưng kể từ đầu năm 2009, tỉnh đã đầu tư trên 13 tỷ đồng xây dựng và đưa vào sử dụng ngay từ đầu mùa nước nổi năm 2009 tuyến đường 30/4 (nối liền tỉnh lộ 948 đến tận rừng tràm) dài 3,5km, rộng trên 5m, tạo giao thông thông thoáng cho các phương tiện du lịch lớn vào tận nơi. Tỉnh cũng đã đầu tư xây dựng đường dây trung thế, đưa điện vào phục vụ các hoạt động của quán ăn và các hoạt động khác của khu du lịch. Tuy nhiên vẫn còn một khó khăn là khi vào đến khu du lịch, du khách còn phải đi qua một chuyến phà nhỏ. Đối với những ngày cao điểm thì việc đưa rước khách sẽ không đáp ứng đủ nhu cầu, đồng thời do tải trọng của phà cũng như mức độ an toàn kém nên ít nhiều gây phản cảm đối với du khách đến đây.

Hình 4.1. Du khách qua sông vào RTTS bằng phà 4.1.2. Cơ sở vật chất – kỹ thuật phục vụ du lịch Ngoài việc chú ý đến cơ sở hạ tầng thì cơ sở vật chất – kỹ thuật cũng là một phần quan trọng, nó góp phần quyết định trực tiếp đến sự đa dạng của các loại hình vui chơi giải trí của khu du lịch. Hiện nay, du khách đến đây đều bị cuốn hút bởi loại hình du lịch bằng xuồng, đặc biệt là vào mùa nước nổi. Nhân viên du lịch sẽ bơi xuồng đưa du khách len lỏi vào rừng tràm. Tuy nhiên xuồng được sử dụng ở đây là GVHD:Th.S Phạm Trung Tuấn

17

SVTH:Quảng Văn Tú

Khóa luận tốt nghiệp: Giải pháp marketing cho khu du lịch sinh thái Rừng Tràm Trà Sư

xuồng của trạm kiểm lâm, được nhân viên sử dụng nhằm tạo thêm tính hấp dẫn cho du khách. Do số lượng xuồng ít nên khi cao điểm thì sẽ không đủ đáp ứng nhu cầu của du khách.

Hình 4.2. Quan sát cảnh RTTS bằng xuồng Bên cạnh loại hình du lịch bằng xuồng, du khách còn có thể mướn xe đạp để chạy vòng đê bao ngắm cảnh rừng tràm. Đây là một loại hình hấp dẫn đối với đối tượng du khách là người nước ngoài. Nhưng phần lớn là xe đạp của các hộ gia đình xung quanh, còn nhỏ lẻ, chưa tạo được tính thống nhất trong loại hình này. Do đó việc quản lý rất khó khăn và đôi khi du khách cần thì cũng khó huy động.

Hình 4.3. Quan sát cảnh xung quanh RTTS bằng xe đạp

GVHD:Th.S Phạm Trung Tuấn

18

SVTH:Quảng Văn Tú

Khóa luận tốt nghiệp: Giải pháp marketing cho khu du lịch sinh thái Rừng Tràm Trà Sư

Song song đó, để tạo điều kiện cho du khách ngắm cảnh rừng tràm, tháng 9/2009, tỉnh đầu tư 500 triệu đồng nâng cấp Đài Vọng Các (tháp quan sát) từ chiều cao 18m lên 23m với kính viễn vọng có độ phóng đại gấp 40 lần, để từ đây du khách có thể quan sát toàn khu vực rừng tràm và tượng Phật Di Lạc cao 36m trên đỉnh Thiên Cấm Sơn. 4.1.3. Tài nguyên du lịch Do là một khu rừng đặc dụng, được bảo tồn dưới sự quản lý của quân đội, cho nên đến nay, khu rừng vẫn còn giữ được nguyên vẹn nét hoang sơ với một quần thể động – thực vật vô cùng phong phú và đa dạng. Đây cũng chính là thế mạnh cần phải có của hầu hết các khu du lịch sinh thái. Theo Ban quản lí rừng tràm Trà Sư, rừng rộng gần 850ha, là nơi trú ngụ của 70 loài chim thuộc 13 bộ và 31 họ, nhiều nhất là bộ sẻ với 26 loài. Trong đó, có 2 loài chim quý hiếm đã được ghi vào sách Đỏ Việt Nam là cò lạo Ấn Độ (Mycteria leucocephala) hay còn gọi là Giang Sen, và điêng điểng hay còn gọi là cò rắn (Anhinga melanogaster), còn nhiều nhất là chim sẻ (sparrow) lên đến 26 loài và tiếp đến là loài dơi quạ (flying fox). Đối với loài thú đã thống kê được 11 loài thuộc 4 bộ và 6 họ. Các bộ có số loài nhiều nhất là dơi (15 loài), gặm nhấm (4 loài), trong đó có loài dơi chó tai ngắn quý hiếm cũng đã được ghi vào sách Đỏ Việt Nam. Khi các vùng đất ngập nước ngày càng thu hẹp, hệ sinh thái rừng tràm Trà Sư nổi bật như là nơi dừng chân quan trọng của nhiều loài chim, kể cả những loài kiếm ăn trên cây bụi và trảng cỏ như chim cu ngói, sáo đá đuôi hung. Ngoài ra, rừng còn có 10 loài cá xuất hiện quanh năm và 13 loài chỉ xuất hiện vào mùa lũ, trong đó có 2 loài cá có giá trị khoa học và đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng là cá còm và cá trê trắng. Ngoài ra, rừng Trà Sư còn có vô số loại tôm, cua, rùa, rắn…hàng năm mang lại lợi ích kinh tế khá lớn, trong đó có cả rắn hổ mang, cạp nong.

Hình 4.4.1. Một số loài chim ở RTTS GVHD:Th.S Phạm Trung Tuấn

19

SVTH:Quảng Văn Tú

Khóa luận tốt nghiệp: Giải pháp marketing cho khu du lịch sinh thái Rừng Tràm Trà Sư

Hình 4.4.2. Một số loài chim ở RTTS

Hình 4.5. Đàn dơi quạ tại RTTS Không chỉ phong phú về động vật, Trà Sư còn là nơi tụ họp của 140 loài thực vật thuộc 52 họ và 102 chi, trong đó có 22 loài cây gỗ, 25 loài cây bụi, 10 loài dây leo, 70 loài cỏ, 13 loài thủy sinh. Quần thể thực vật có 11 loài sinh cảnh thực vật rừng, 9 loài cây cung cấp gỗ củi, 78 loài thuốc (có nhiều loài cây thuốc bổ, chữa bệnh có giá trị), 22 loài cây cảnh, 7 loài cây cho rau và 9 loài cây ăn quả. Một số loài cây dân dã thường dùng, như rau cóc, rau đắng, đọt sen… mang đặc trưng ở rừng tràm Trà Sư. Đặc biệt, loại cỏ bắc dùng nấu nước uống giúp cơ thể giải nhiệt, có thể chế biến thành sản phẩm du lịch.

GVHD:Th.S Phạm Trung Tuấn

20

SVTH:Quảng Văn Tú

Tài Liệu Giải Pháp Marketing Cho Khu Du Lịch Sinh Thái Rừng Tràm Trà Sư

Lượt tải: 0

Mô tả:

Ngày nay, khi cuộc sống ngày càng phát triển thì con người tiến đến những nhu cầu cao hơn như giải trí, thể hiện mình, thời trang,… Trong đó giải trí là một nhu cầu tinh thần không thể thiếu. Trong các phương thức giải trí thì du lịch là một phương thức khá hữu hiệu và được ưa chuộng nhất ngày nay. Nó vừa giúp chúng ta thư giãn đầu óc sau thời gian lao động, học tập mệt mỏi và căng thẳng, vừa giúp chúng ta hiểu thêm về văn hóa và các thắng cảnh đẹp. Ngày càng nhiều loại hình du lịch ra đời nên du khách càng có nhiều lựa chọn cho chuyến du lịch của mình. Trong đó du lịch sinh thái là một loại hình phổ biến ở các tỉnh miền Tây nam bộ hiện nay. Với những cảnh đẹp, những thú vui rất tự nhiên, du khách sẽ có sự thoải mái nhẹ nhàng khi đến với các khu du lịch sinh thái. Miền Tây nam bộ nói chung và tỉnh An Giang nói riêng, có nhiều tiềm năng để phát triển loại hình du lịch sinh thái. Điển hình là An Giang, được nổi tiếng với biệt danh vùng Bảy núi hùng vĩ nhưng vẫn chưa được khai thác có hiệu quả, chưa được khai thác triệt để. Không chỉ nổi tiếng và được nhiều người biết đến với những ngọn núi đẹp, nổi tiếng mà An Giang còn có những tiềm năng du lịch khác như các khu di tích lịch sử, chùa chiền, rừng sinh thái,… Trong số đó, rừng tràm Trà Sư là một khu du lịch có tiềm năng nhưng vẫn chưa được khai thác có hiệu quả. Để khu du lịch sinh thái rừng tràm Trà Sư phát triển tương xứng với tiềm năng thì cần phải có một kế hoạch phát triển lâu dài nhưng trước hết cần phải nghiên cứu những khó khăn, hạn chế và những tiềm năng cần đầu tư phát triển. Xuất phát từ nhu cầu đó nên đề tài “Giải pháp marketing cho khu du lịch sinh thái rừng tràm Trà Sư” được tiến hành.

Các Biện Pháp Bảo Vệ Rừng

From: NGUYEN XUAN HUYTo: [email protected]: Friday, May 17, 2002 3:59 PMSubject: Lá phổi xanh của đất nước Việt Nam mến yêu

Kính gửi quý tòa soạn,

Như thông lệ, với tất cả trí tuệ, kinh nghiệm và hiểu biết, tôi kính gửi đến quý tòa soạn bài viết với tiêu đề “Biện pháp gia tăng, bảo vệ và duy trì rừng của chúng ta”.

Không chỉ riêng ở Việt Nam mà năm châu bốn bể, quốc gia nào cũng có chương trình “Gia tăng, bảo vệ và duy trì rừng” hay “Chương trình lá phổi xanh”, nhất là khi tàn phá rừng bừa bãi đang diễn ra khắp nơi và trở thành vấn nạn. Để ngăn chặn điều này, tôi xin đưa ra một số giải pháp sau:

Về mặt pháp lý:

Tăng cường nhân lực, phương tiện, để phát hiện, ngăn chặn kịp thời và chống trả đích đáng trước mọi hành vi côn đồ, phản kháng của bọn lâm tặc, đầu nậu gỗ lậu. Ngay cả khi bọn chúng dùng súng, lựu đạn thì chúng ta cũng tự tin giành thế chủ động để trấn áp, chiến thắng.

– Xây dựng khung pháp lý bắt giam, khởi tố và truy tố với những ai dám phá hoại, đốt phá rừng bừa bãi vì tư lợi trước mắt. Mức giam có thể từ 5 năm đến chung thân tùy theo vị trí, cấp bậc trong xã hội, hoàn cảnh sống, tùy theo rừng bảo tồn quốc gia hay rừng tái sinh.

– Xây dựng khung pháp lý nghiêm cấm các nhân viên kiểm lâm nhận hối lộ của bọn đầu nậu gỗ để được khai thác rừng tự do bừa bãi.

– Trang bị cho các nhân viên kiểm lâm các thiết bị hiện đại để ngăn chặn kịp thời các vụ cháy rừng do thiên nhiên (hạn hán, sấm sét), con người gây ra…

– Tạm thời đưa những cánh rừng tái sinh vào danh sách bảo tồn rừng quốc gia trong một thời gian dài để có đủ thời gian phát triển đầy đủ, đa dạng các thảm thực vật, loài động vật.

Về mặt cộng đồng:

– Giáo dục cho cộng đồng địa phương.

– Dựa vào chương trình sư phạm từ cấp trung học trở lên cho đến hết bậc ĐH. Có thể gia tăng số tiết học đối với những nơi có đồng bào dân tộc ít người.

– Chấm dứt tình trạng tự do di cư – di canh bừa bãi đã tồn tại mấy chục năm nay bằng cách quản lý chặt chẽ các đồng bào dân tộc chuyên sống du canh du mục từ trước đến nay tại các địa phương.

– Phải cương quyết đưa trở về nguyên quán tất cả những người tự do di canh với kinh phí lấy từ ngân sách nhà nước.

– Tuyên dương (bằng khen, tiền thưởng…), phục hồi công việc và chức vụ với những ai đã can đảm đứng ra tố cáo những kẻ chặt phá rừng bừa bãi.

– Đối với những người du mục, du canh bị trả về chỗ cũ thì hỗ trợ một khoản tiền sinh sống qua ngày, tạo công ăn việc làm, cung cấp một mảnh đất canh tác theo quy hoạch của nhà nước, của địa phương.

Về mặt vi mô và vĩ mô:

– Có những chính sách ưu tiên cho những khu vực khó khăn về kinh tế, giáo dục, y tế…

– Rút ngắn khoảng cách giàu nghèo; thành thị và nông thôn; đồng bằng và miền núi…

– Thường xuyên phát động chương trình trồng cây gây rừng vào các dịp lễ hội quốc gia: 30/4, 2/9, 19/5…

Trân trọng kính chào,

Nguyen Xuan HuyBuu Dien Trung Tam Cho LonE-mail : [email protected]