Biện Pháp Bảo Tồn Đa Dạng Sinh Học / Top 3 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Phauthuatthankinh.edu.vn

Biện Pháp Bảo Tồn Đa Dạng Sinh Học

Trường Đại Học Nông Lâm TP.HCMBIỆN PHÁP BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌCBộ môn: Đa dạng sinh họcGVHD: Ts Nguyễn Thị Mai Thành viên:Lê Tâm Thiện 15132103Nguyễn Thanh ToànNguyễn Hữu TiếnTrần Thị Lệ Hà1.Khái quát sự đa dạng sinh học tại Việt NamViệt Nam được quốc tế công nhận là một trong những quốc gia có tính đa dạng sinh học cao nhất trên thế giới với nhiều kiểu rừng, đầm lầy sông suối, rạn san hô.Việt Nam được quỹ bảo tồn động vật hoang dã (WWF) công nhận có 3 trong hơn 200 vùng sinh thái toàn cầu.Là một trong 8 “trung tâm giống gốc” của nhiều loại cây trông, vật nuôi.Gồm: 11458 loài động vật, 21017 loài thực vật và khoảng 3000 loài sinh vậtTheo tổ chức FAO (Tổ chức Lương nông Liên hiệp quốc) cho rằng: “đa dạng sinh học là tính đa dạng của sự sống dưới mọi hình thức, mức độ và mọi tổ hợp, bao gồm đa dạng gen, đa dạng loài và đa dạng hệ sinh thái”2. Những thực trạng hiện naya.Đa dạng genViệt Nam là một trong 12 trung tâm nguồn gốc giống cây trồng và cũng là trung tâm thuần hóa vật nuôi nổi tiếng thế giới. Bằng các biện pháp bảo tồn khác nhau tại chỗ, chuyển chỗ bảo tồn được 3273 kiểu di truyền cây cao su, 42 loài cây rừng, 905 nguồn gen cây dược liệu,70 giống vật nuôi, 2016 chủng nấm, vi khuẩn, vi sinh vật…b.Đa dạng loàiViệt Nam được xếp vào nhóm nước có đa dạng sinh học cao nhất thế giới gồm 15986 loài thực vật, 307 loài giun tròn, 145 loài ve giáp, 7750 loài côn trùng, 260 loài bò sát, 840 loài chim….Đặc trưng đa dạng loài ở Việt Nam: + Số lượng loài sinh vật nhiều, sinh khối lớn+ Cấu trúc loài đa dạng + Khả năng thích nghi của loài cao c.Đa dạng hệ sinh tháiViệt Nam có rất nhiều hệ sinh thái, đa dạng cả về loài lẫn phân bố. Một số hệ sinh thái quan trọng :+ Hệ sinh thái rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới + Hệ sinh thái rừng kín nửa rụng lá ẩm nhiệt đới + Hệ sinh thái rừng lá rộng thường xanh trên núi đá vôi + Hệ sinh thái rừng lá kim tự nhiên+ Hệ sinh thái rừng thưa cây họ dầu( còn gọi là rừng khộp)+ Hệ sinh thái rừng ngập mặn + Hệ sinh thái rừng tràm + Hệ sinh thái rừng tre nứa3. Nguyên nhân suy giảmKhai thác gỗ trái phépSừng tê giác do chất kê-ra-tin (chất sừng) tạo ra, tương tự như thành phần cấu tạo của móng tay.4. Các hình thức bảo tồn đa dạng sinh họcBảo tồn nguyên vị ( Insitu Conversation )– Là bảo vệ tại nơi loài đang sốngSếu đầu đỏ – Loài đang được bảo tồn nguyên vị– Ch tr?ng d?c bi?t l cc lồi cy c? truy?n v hoang d?iCây Sưa Cây Cẩm Lai– Lo?i hình ph? bi?n l xy d?ng cc khu b?o t?nKhu Bảo Tồn TN Xuân Thủy( Nam Định ) Khu Bảo Tồn ĐNN Láng Sen ( Long An )Vường quốc gia chủ yếu để bảo tồn các hệ sinh thái và sử dụng vào việc du lịch, giải trí , giáo dục;Bao gồm các biện pháp di dời các loài cây, con và các vi sinh vật ra khỏi môi trường sống thiên nhiên của chúng. Mục đích của việc di dời này là để nhân giống, lưu giữ, nhân nuôi vô tính hay cứu hộ trong trường hợp: nơi sinh sống bị suy thoái hay huỷ hoại không thể lưu giữ lâu hơn các loài nói trên, (2) dùng để làm vật liệu cho nghiên cứu, thực nghiệm và phát triển sản phẩm mới, để nâng cao kiến thức cho cộng đồng.Bảo tồn chuyển vịBảo tồn chuyển vị ( Exsitu conservation)Động VậtThực VậtVườn ThúTrang trại nuôi động vậtThủy cungCT nhân giống động vậtVườn thực vậtVườn cây gỗNgân hàng giống- gene1234123Nuôi cấy tế bào gốc nhung hươuNhân bản động vật bằng công nghệ tế bào gốcBảo tồn chuyển vị động vậtVườn thực vật (Botanic Garden): Có khoảng 1500 vườn thực vật trên thế giới nhưng chỉ có khoảng 800 vườn có bảo tồn cây.Các vườn thực vật Vườn Cây Gỗ Các cây gỗ trong Vườn Cây GỗCác loại hạt giống quý được lưu trữ Các loại hạt giống quý được lưu trữCác loại hạt giống quý được lưu trữ5. Biện pháp bảo tồn.

Bảo Tồn Đa Dạng Sinh Học Ở Việt Nam

Bài Thuyết TrìnhBộ Môn : Đa Dạng Sinh HọcGVHD: Th.S Văn Hồng ThiệnNhóm TH: Nhóm 6MLHP : 210518301 DANH SÁCH NHÓMĐề TàiBảo tồn đa dạng sinh học ở Việt NamTổng quan đề tài– Kết luận và kiến nghị.

Khái quát sự đa dạng sinh học tại Việt Nam và những thực trạng hiện nay. – Nguyên nhân suy giảm và Biện pháp bảo tồn.– Mục tiêu của việc bảo tồn.Việt Nam được xem là một trong những nước thuộc vùng Đông Nam Á giàu về đa dạng sinh học. Ở Việt Nam do sự khác biệt lớn về khí hậu từ vùng gần xích đạo tới vùng giáp cận nhiệt đới, cùng với sự đa dạng về địa hình đã tạo nên sự đa dạng về thiên nhiên và cũng do đó mà Việt Nam có tính đa dạng sinh học cao. Khái quát sự đa dạng sinh học tại Việt Nam và những thực trạng hiện nay. Các kiểu rừng phân bố tại Việt NamBiểu đồ thể hiện hệ thống các loài động vật phân bố ở Việt NamLoài linh trưởng ở Việt NamSự có mặt, sự tồn tại và phát triển của các quần thể Linh trưởng phụ thuộc vào khả năng sinh trưởng và phát triển của thực vật rừng. Chính vì vậy, thú Linh trưởng được coi là sinh vật chỉ thị đối với chất lượng rừng còn tốt.H1. Vooc Đầu Trắng H3. Chà vá chân đenH2. Vooc đen Hà TĩnhPhản ánhẢnh hưởngMối liên hệ giữa loài Linh Trưởng và RừngHiện nay, loài Linh trưởng Việt Nam đều đang bị đe doạ ở các mức độ khác nhau:1234Mức độ đe dọa tăng dầnSự giảm sút độ che phủ và chất lượng của rừngDiện tích rừng toàn quốc đã giảm từ chỗ năm 1943 chiếm 41% thì đến năm 1991 chỉ còn 28% tổng diện tích cả nước, trong đó chỉ còn 10% là rừng nguyên thủy. Miền Bắc Việt Nam đã chứng kiến sự sa sút lớn nhất về độ che phủ của rừng, giảm từ 95% đến 17% trong vòng 48 năm. Ở nhiều tỉnh độ che phủ còn lai rất thấp, ví dụ ở Lai Châu chỉ còn 7.88%, ở Sơn La 11.95% và ở Lào Cai 5.38%.

Mục Tiêu Của Việc Bảo TồnTìm hiểu những tác động tiêu cực do các hoạt động của con người gây ra đối với các loài, quần xã và các hệ sinh thái.H4. Tê giác bị cắt trộm sừng bởi con người.Hạn chế sự tuyệt diệt của các loài và cứu các loài đang bị đe dọa bằng cách đưa chúng hội nhập trở lại các hệ sinh thái đang còn phù hợp đối với chúng.H5. Tê giác Java – Loài được khẳng định là hiện diện tại VQG Cát TiênSinh học bảo tồn ra đời vì các khoa học ứng dụng truyền thống không còn đủ cơ sở để giải thích những mối đe dọa cấp bách đối với đa dạng sinh học.H6. Nạn phá rừng tăng làm mất nơi ở của nhiều loàiH7. Nạn săn bắt thú rừng bừa bãi làm cho nhiều loài bị tuyệt chủng.Nông nghiệp, lâm nghiệp, quản lý động vật hoang dã, sinh học thủy sản,… chủ yếu quan tâm đến vấn đề xây dựng các phương pháp quản lý một số ít các loài có giá trị kinh tế và làm cảnh. Những khoa học này thường không đề cập đến việc bảo vệ tất cả các loài có thể có trong các quần xã sinh vật, hoặc chỉ đề cập như là vấn đề không quan trọng.Sinh học bảo tồn bổ sung các nguyên tắc ứng dụng bằng cách cung cấp phương pháp tiếp cận có tính chất lý thuyết tổng thể cho việc bảo tồn đa dạng sinh học.Sinh học bảo tồn khác với các khoa học khác ở chỗ là bảo tồn một cách lâu dài toàn bộ các quần xã sinh vật là chính, các yếu tố kinh tế thường là thứ yếu.H8. Chà Vá Chân NâuCác hình thức bảo tồn đa dạng sinh họcBảo tồn nguyên vị ( Insitu Conversation )– L b?o v? t?i noi lồi dang s?ngH9. Sếu đầu đỏ – Loài đang được bảo tồn nguyên vị– Ch tr?ng d?c bi?t l cc lồi cy c? truy?n v hoang d?iH10. Cây SưaH11. Cây Cẩm Lai– Lo?i hình ph? bi?n l xy d?ng cc khu b?o t?nH12. Khu Bảo Tồn TN Xuân Thủy( Nam Định )H13. Khu Bảo Tồn ĐNN Láng Sen ( Long An )Bảo tồn nguyên vị có 3 mức độ (Brian Groombridge, 1992)Bảo tồn chuyển vị ( Exsitu Conservation)Động VậtThực VậtVườn ThúTrang trại nuôi động vậtThủy cungCT nhân giống động vậtVườn thực vậtVườn cây gỗNgân hàng giống- gene1234123Bảo Tồn Chuyển Vị Động Vật– Bảo tồn các vi khuẩn qúy hiếm, có giá trị đối với con người.– FAO có dự án 5 năm bảo tồn nguồn gen động vật dài 5 năm (1982 – 1987).H14. Lợi Khuẩn Lactobaccillus casei ShirotaH15. Nuôi cấy tế bào gốc nhung hươuH16. Nhân bản động vật bằng công nghệ tế bào gốcHiểu biết ĐDSHBảo TồnTăng sử DụngKhảo sát phân vùng địa lí sinh họcĐặc điểm Hình Thái Phân LoạiĐánh giáNông nghiệpTham giaNghiên cứu tiến hóaDi truyềnTác động của con ngườiEx situHST tự nhiênHST trong NNNgân hàng geneSinh lý hạtTái sinhNgân hàng Gene ở hiện trườngQuản lýChi phí thấpKĩ thuật mớiPhát triểnNC KT – XHQL trang trạiQL TN & MTXĐ & giảm các đe dọaQL HST T.NhiênKhôi Phục loài có KH khôi phụcCS và phân chia bình đẳngCung cấp giốngCung cấp thông tinTham gia lai tạoQL các vật liệu di truyềnBảo Tồn Chuyển Vị Thực VậtVườn Thực VậtVườn thực vật (Botanic Garden): Có khoảng 1500 vườn thực vật trên thế giới nhưng chỉ có khoảng 800 vườn có bảo tồn cây.H17. Các vườn thực vật Vườn Cây GỗH18. Các cây gỗ trong Vườn Cây GỗNgân hàng giống – geneNgân hàng gen ở thực địa (Field Gene Bank) : là một vùng đất mà trong đó các loài cây sưu tập được trồng để lưu trữ tính đa dạng di truyền để có nguyên liệu có sẳn để phục vụ công tác lai tạo, nghiên cứu ….Thường áp dụng cho cây lâu năm, cây bụi mà không có đủ để bảo tồn trong tự nhiên mà cần thời gian lâu mới thu hoạch giống (thường cây LN)H19. Các loại hạt giống quý được lưu trữH20. Các loại hạt giống quý được lưu trữH21. Các loại hạt giống quý được lưu trữSự suy giảm về độ che phủ rừng ở các vùng này là do mức tăng dân số tạo nhu cầu lớn về lâm sản và đất trồng trọt.Nguyên nhân suy giảm và Biện pháp bảo tồn.H22. Rừng bị tàn phá để lấy gỗ.Chiến tranh cũng là những nguyên nhân làm rừng của Việt Nam bị thu hẹp lại nhanh nhất. H24. Những cánh rừng trụi lá ở Việt Nam.

H23. Máy bay đang rải chất độc diệt lá xuống Việt Nam trong Chiến tranh.

Nguyên nhân quan trọng nữa gây nên sự tổn thất đa dạng sinh học ở Việt Nam cũng như hầu hết các nước khác trên thế giới, đó là sự mâu thuẫn giữa cung và cầu. H25. Khi cung < cầu Sinh thái bị phá hoại nặng nềTài nguyên thiên nhiên thì có hạn mà nhu cầu của con người thì ngày càng tăng, một mặt là để đáp ứng cuộc sống cho dân số tăng nhanh, và mặt khác là mức độ tiêu dùng của mỗi người cũng tăng lên không ngừng.H26. Ngà voi bị khai thác quá mứcH27. Mật gấuH28. Sừng tê giácCon người đốt rừng làm nương, rẫy trên các sườn dốc và cũng đã gây tác động đáng kể vào việc thu hẹp diện tích rừng ở nhiều nơi.H29. Nạn phá rừng ngày càng tăngCháy rừng cũng là nguyên nhân làm diện tích rừng cũng như sự đa dạng bị suy thoái.H30. Những cánh rừng bị cháyBiện pháp bảo tồn.

Các Giải Pháp Quản Lý Bảo Tồn Bền Vững Đa Dạng Sinh Học

Tiếp cận hệ sinh thái trong quản lý đa dạng sinh học

Đây là giải pháp quản lý tổng hợp các hợp phần trong hệ sinh thái bao gồm đất, nước và các tài nguyên sinh học, cũng như các mối quan hệ qua lại giữa chúng với nhau nhằm thúc đẩy bảo tồn, sử dụng bền vững, chia sẻ công bằng lợi ích có được từ các nguồn tài nguyên đó và dịch vụ có được từ hệ sinh thái.

Đối với Việt Nam khái niệm “tiếp cận hệ sinh thái” là khá mới mẻ, nhưng đã được nghiên cứu và nhanh chóng áp dụng trong các ngành lâm nghiệp, thủy sản, các địa phương và một số Khu bảo tồn như Vườn quốc gia U Minh Hạ, Khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ, phá Tam Giang, Cầu Hai… Trong đó, các hoạt động ở Cần Giờ và vùng đất ngập nước trồng tràm ở Đồng bằng sông Cửu Long, là những thí dụ điển hình về sử dụng phương pháp tiếp cận hệ sinh thái, như giải quyết đồng bộ vấn đề bảo tồn, sự chia sẻ công bằng các lợi ích và sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên; các loại hàng hóa, dịch vụ đã được xác định; người dân địa phương được giao đất, giao rừng để trồng rừng và quản lý các sản phẩm.

Việt Nam đã coi bảo tồn cảnh quan là một trong những giải pháp mới để quản lý hệ thống khu bảo tồn. Chính vì thế, ngày càng có nhiều khu bảo tồn được quy hoạch và quản lý trên quy mô cảnh quan hoặc vùng sinh học, phản ánh cách tiếp cận hệ sinh thái của Công ước đa dạng sinh học mà Việt Nam là một thành viên.

Cách tiếp cận này mở rộng quy mô bảo tồn ra khỏi các vùng lõi phải bảo vệ nghiêm ngặt. Điều đó dẫn tới là phải xây dựng các hành lang xanh/hành lang đa dạng sinh học nối giữa các khu bảo tồn thiên nhiên.

Một trong các nhiệm vụ của Kế hoạch hành động quốc gia về đa dạng sinh học, đã đề cập đến áp dụng phương pháp tiếp cận hệ sinh thái trong bảo vệ đa dạng sinh học và xây dựng hành lang đa dạng sinh học nối giữa các khu bảo tồn.

Một số dự án đã sử dụng phương pháp tiếp cận hệ sinh thái như xây dựng hành lang xanh nối giữa các khu bảo tồn ở Thừa Thiên-Huế, Quảng Nam, Gia Lai …; quản lý tổng hợp dải ven biển ở các tỉnh Nam Định, Thừa Thiên-Huế và Bà Rịa-Vũng Tàu; quản lý tiếp cận vùng sinh thái khu vực trong Sáng kiến bảo tồn đa dạng sinh học ở Trung Trường Sơn; quản lý lưu vực sông theo cách tiếp cận sinh thái cảnh quan sông Cả (Nghệ An), sông A Vương (Quảng Nam) và sông Đồng Nai…

Tuy vậy, theo đánh giá của các chuyên gia, việc áp dụng phương pháp tiếp cận hệ sinh thái trong bảo tồn đa dạng sinh học ở Việt Nam thường gặp những trở ngại chính. Đó là sự tham gia của các bên đối tác trong việc lập kế hoạch và quản lý còn chưa đạt hiệu quả cao. Các thuật ngữ và định nghĩa được sử dụng còn chưa nhất quán, kể cả trong cách sử dụng thuật ngữ “Phương pháp tiếp cận hệ sinh thái.”

Thực tiễn của thế giới cũng như của Việt Nam cho thấy trở ngại phổ biến nhất trong quản lý, bảo tồn đa dạng sinh học là thiếu sự đồng thuận trong việc thiết lập một cơ quan đầu mối có đủ thẩm quyền điều hành thống nhất. Lồng ghép vào các chính sách ngành, liên ngành

Việc lồng ghép các nội dung bảo tồn đa dạng sinh học vào các chính sách phát triển ngành, liên ngành bước đầu đã có những kết quả nhất định, đặc biệt các ngành kinh tế đã coi bảo tồn đa dạng sinh học như một chiến lược phát triển.

Điển hình là Chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng (Chương trình 661), được thực hiện từ 1998-2010, nhờ đó mà tổng diện tích rừng đã tăng nhanh, đến 2006, tỷ lệ rừng che phủ tới 38,2%, tăng 11% so với mức năm 1990.

Cơ cấu rừng đã hợp lý hơn trước (2 triệu ha rừng đặc dụng, 5 triệu ha rừng phòng hộ và 8 triệu ha rừng sản xuất). Tạo thêm nhiều việc làm, góp phần xóa đói, giảm nghèo ở miền núi.

Các chương trình phát triển, nuôi trồng nguồn lợi sinh vật, trồng rừng cây bản địa, gây nuôi động vật hoang dã đảm bảo phát triển bền vững đã đạt được những thành quả nhất định.

Trên cả nước, đến cuối năm 2006, có khoảng 50 loài động vật và hàng chục loài thực vật hoang dã được gây nuôi sinh sản, gieo trồng trong 316 trại và 1.658 hộ gia đình, hầu hết đều nhằm mục đích thương mại.

Tuy vậy, do Việt Nam đã tham gia Công ước CITES, nên việc nuôi nhốt các loài động vật hoang dã hiện đang được quản lý và hướng dẫn chặt chẽ.

Chương trình Đánh bắt hải sản xa bờ với mục tiêu giảm bớt cường độ khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản vùng nước ven bờ vốn đã bị suy kiệt từ nhiều năm nay.

Các chương trình, dự án phát triển nuôi trồng thủy sản và bảo tồn các loài thủy sinh vật quý hiếm đã có những kết quả khích lệ, sản lượng thủy sản nuôi ngày càng tăng, nhiều loài thủy sản có giá trị kinh tế được nghiên cứu sinh sản nhân tạo và nuôi thương phẩm.

Đặc biệt năm 2007, Cục Bảo vệ Môi trường đã soạn thảo Quy hoạch tổng thể mạng lưới quan trắc tài nguyên và môi trường quốc gia đến năm 2020; Xây dựng Chỉ thị Quan trắc đa dạng sinh học trong các hệ sinh thái rừng, đất ngập nước và hệ sinh thái biển và Hướng dẫn kỹ thuật và Định mức kinh tế và kỹ thuật quan trắc đa dạng sinh học.

Một số hệ thống quan trắc tại chỗ đã được thiết lập trong các Khu bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia, chẳng hạn như:Viện Địa lý đã đặt hệ thống quan trắc tài nguyên đất và nước tại khu vực núi đá vôi Tây Bắc (1998-2003); Viện Hải dương học Hải Phòng đã thực hiện quan trắc sự phân bố và thay đổi các vùng đất ngập nước ven biển của Việt Nam (1996-1999); Theo dõi hiện tượng cháy rừng và Chương trình gắn chíp điện tử vào các cá thể gấu nuôi nhốt của Cục Kiểm lâm; Theo dõi tê giác tại Vườn Quốc gia Cát Tiên; Linh trưởng ở Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng, Na Hang, Cúc Phương, Cát Bà; Rùa biển tại Vườn Quốc gia Côn Đảo; Chương trình Voi của WWF và Hệ thống quan trắc và đánh giá rừng khộp dãy Trường Sơn.

Mạng lưới giáo dục và đào tạo cán bộ làm công tác quản lý và kỹ thuật bảo tồn đa dạng sinh học ở Việt Nam phát triển tương đối mạnh, bao gồm các trường đại học, cao đẳng, các viện nghiên cứu và các trung tâm chuyên ngành.

Hàng năm có khoảng 200 cử nhân sinh học, 200 cử nhân công nghệ sinh học, 400 cử nhân sư phạm ngành sinh học, và 5.000-8.000 kỹ sư các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản tốt nghiệp.

Số lượng cán bộ sau đại học được đào tạo trong nước hàng năm theo ngành động vật, thực vật, sinh thái, quản lý đa dạng sinh học và tài nguyên ước tính khoảng 50 thạc sỹ và 10 tiến sỹ, một số ít được đào tạo ở nước ngoài theo các chương trình học bổng song phương và dự án hợp tác.

Đến nay, các nội dung về đa dạng sinh học đã được thiết kế trong chương trình giảng dạy hiện hành của cả cấp tiểu học và trung học cơ sở. Các nội dung về sinh học và đời sống thực vật, kỹ thuật trồng và chăm sóc cây, môi trường đất và nước đã được lồng ghép vào các môn học tự nhiên và xã hội (lớp 2, 3 và 5), khoa học-kỹ thuật (lớp 4 và 5) và đạo đức (lớp 4). Các nội dung về sinh học và đời sống động vật, các thành phần hệ sinh thái, kỹ thuật nông nghiệp, con người và môi trường được lồng ghép trong các môn sinh học, địa lý (lớp 6, 7 và 9) và công nghệ (lớp 9).

Nhiều trường đại học đã có các chương trình đào tạo cũng như các môn học về quản lý và sử dụng bền vững đất ngập nước (Chương trình đào tạo đất ngập nước phối hợp giữa các trường Đại học Cần Thơ; Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh và Đại học Maihidol). Đã có nhiều hội thảo và các khóa học ngắn hạn về đất ngập nước cũng đã được tổ chức cho các cán bộ quản lý môi trường Trung ương và địa phương.

Tại các vùng miền núi, cộng đồng quản lý tài nguyên rừng đã được hình thành có truyền thống từ lâu đời (hay còn gọi là quản lý rừng truyền thống), với nhiều hình thức khác nhau tùy thuộc vào đặc điểm của từng địa phương. Rừng cộng đồng truyền thống phổ biến nhất là các loại rừng thiêng, rừng mưa, rừng đầu nguồn nước, rừng của thôn bản hay rừng của dòng họ.

Mô hình sử dụng bền vững rừng ngập mặn dựa vào cộng đồng, áp dụng thử nghiệm đối với khu rừng ngập mặn Đồng Rui (Quảng Ninh); mô hình ao tôm sinh thái Tiền Hải (Thái Bình); mô hình bảo tồn và khai thác bền vững đất ngập nước, triển khai áp dụng thí điểm tại khu đất ngập nước Vân Long (Ninh Bình); các mô hình nuôi cá trên ruộng lúa nước được thực hiện tại xã Gia Thanh, Gia Tân, Liên Sơn, huyện Gia Viễn (Ninh Bình).

Ghép tôm sú cùng cá rô phi tại khu vực Cồn Chim, đầm Thị Nại (Bình Định) được thực hiện nhằm đem lại lợi nhuận tối đa trong việc sử dụng đất ngập nước áp dụng cho ngành thủy sản.

Mô hình “du lịch sinh thái cộng đồng tại khu vực vùng đệm Vườn quốc gia Xuân Thủy, Nam Định;” mô hình khu du lịch sinh thái U Minh Thượng; mô hình “Phát triển sinh kế và sử dụng bền vững tài nguyên có sự tham gia của cộng đồng” được thực hiện tại ấp K9, xã Phú Đức và ấp Phú Lâm, xã Phú Thành B, huyện Tam Nông, Tỉnh Đồng Tháp, thử nghiệm mô hình cộng đồng cùng tham gia quản lý và sử dụng tài nguyên đất ngập nước.

Mô hình “Sinh kế bền vững và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên đất ngập nước dựa vào cộng đồng” được thực hiện tại Khu bảo tồn đất ngập nước Láng Sen đã góp phần cải thiện sinh kế người dân vùng đệm, nâng cao nhận thức về đất ngập nước và thử nghiệm cơ chế đồng quản lý; mô hình “Nuôi cấy, bảo tồn rạn san hô” được thực hiện tại Khu vực 1, phường Ghềnh Ráng, thành phố Quy Nhơn và mô hình “Bảo tồn và khai thác đồng cỏ Bàng” được thực hiện tại xã Phú Mỹ, huyện Kiên Lương, Kiên Giang nhằm khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên thực vật trong khu vực đất ngập nước.

Đặc biệt, Quyết định số 218 của Thủ tướng Chính phủ ngày 7/2/2014 về Phê duyệt Chiến lược quản lý hệ thống rừng đặc dụng, khu bảo tồn biển, khu bảo tồn vùng nước nội địa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn năm 2030.

Theo Chiến lược, đến năm 2020, các khu này sẽ được tiếp cận các phương thức quản lý mới như đồng quản lý, chia sẻ lợi ích, đồng thời kiểm soát được các loài động thực vật hoang dã, nguy cấp, quý, hiếm trong khu rừng đặc dụng, khu bảo tồn biển, khu bảo tồn vùng nước nội địa; bảo tồn và phát triển số lượng các loài quý, hiếm đang suy giảm và bị đe dọa tuyệt chủng. Chắc chắn sẽ thực hiện hiệu quả hơn các cam kết quốc tế về bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học thông qua các chương trình, dự án, nâng cao năng lực quản lý rừng đặc dụng, khu bảo tồn biển, khu bảo tồn vùng nước nội địa… của Việt Nam./.

Quản Lý Sinh Vật Ngoại Lai Để Bảo Tồn Đa Dạng Sinh Học Tại Vườn Quốc G

Sinh vật NLXH trước hết là những loài không có nguồn gốc bản địa. Khi được đưa đến một môi trường mới, một loài ngoại lai có thể không thích nghi được với điều kiện sống và do đó không tồn. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp khác, do thiếu vắng các đối thủ cạnh tranh và thiên địch như ở quê nhà cùng với điều kiện sống thuận lợi, các loài này có điều kiện sinh sôi, nảy nở rất nhanh và đến một lúc nào đó phá vỡ cân bằng sinh thái bản địa và vượt khỏi tầm kiểm soát của con người. Lúc này nó trở thành loài ngoại lai xâm hại.

Theo thống kê không đầy đủ, chúng ta có tới 94 loài sinh vật NLXH. Trong số đó, có một số loài đã gây ảnh hưởng nặng nề tới môi trường và kinh tế của người nông dân trên khắp cả nước. Có thể kể đến các loài NLXH đã thành đại dịch, như: ốc bươu vàng, cây trinh nữ thân gỗ (cây mai dương), bèo lục bình Nhật Bản…

Vườn quốc gia Xuân Sơn được giao quản lý với tổng diện tích 15.048 ha trên địa bàn 06 xã thuộc huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ. Vùng đệm của Vườn hiện có 29 cộng đồng thôn (bản) đang sinh sống, với 12.559 người, 2.908 hộ, trong đó vùng đệm trong có 9 thôn/bản với 794 hộ. Do vậy, trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh cũng như sinh hoạt hàng ngày vô tình đã để các loài ngoại lai xâm hại phát tán trên địa bàn. Trước thực trạng và nguy cơ xâm hại của các loài sinh vật ngoại lại có nguy cơ ảnh hưởng đến công tác bảo tồn đa dạng sinh học trên địa bàn. Năm 2019, Vườn quốc gia Xuân Sơn đã phối hợp với Sở tài nguyên và Môi trường triển khai nhiệm vụ Điều tra phân bố của sinh vật ngoại lai xâm hại và đề xuất các biện pháp ngăn ngừa, kiểm soát nhằm bảo tồn đa dạng sinh học,bảo vệ môi trường tại Vườn quốc gia Xuân Sơn, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ”

Trong quá trình triển khai thực hiện đã sử dụng kết hợp nhiều phương pháp điều tra, thu thập thông tin và đánh giá thực tế tại Vườn quốc gia Xuân Sơn đã ghi nhận xác định được 06 loài sinh vật ngoại lai xâm hại, trong đó 05 loài thực vật thuộc 04 bộ, 04 họ của 2 ngành thực vật và 01 loài động vật theo quy định tại thông tư 35/2018/TTLT-BTNMT-BNNPTNT ngày 28/12/2018 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về tiêu chí xác định và ban hành dạm mục loài ngoại lai xâm hại, cụ thể như sau:

Stt

Tên KH

Tên Việt Nam

Nguồn gốc

 

 

1

Eichhornia crassipes Mart Solms,1883

Cây Bèo lục bình

Nam mỹ

2

Mimosa pigra Linnaeus, 1758

Cây Mai dương

Nam Mỹ

3

Mimosa diplotricha Wright, 1869

Cây trinh nữ móc

Châu Mỹ

4

Agratum conyzoides Linaeus, 1758

Cây Cỏ hôi

Châu Mỹ

5

Chromoleana odorata Linaeus, 1758

Cây Cỏ lào

Châu Mỹ

6

Pomea canaliculata

Ốc bươu vàng

Châu mỹ,

Nam mỹ

Trong 6 loài tìm được đều có nguồn gốc từ châu Mỹ và có 3 loài có diện tích xâm hại cao với mật độ và phân bố trên diện rộng là Cỏ hôi, Cỏ lào, Ốc bươu vàng

            Dựa trên đặc điểm điều kiện tự nhiên, đặc điểm sinh học, sinh thái của các loài thực vật NLXH cùng với mức độ nhận thức, hiểu biết, sự quan tâm của người dân đối với các loài sinh vật ngoại lai xâm hại, các tác giả đề xuất các giải pháp quản lý, phòng diệt cụ thể đối với các loài thực vật NLXH hiện đang phát triển trên diện rộng tại Vườn quốc gia Xuân Sơn.

Với những kết quả đạt được, làm cơ sở để thực hiện các biện pháp quản lý, giám sát và tuyên truyền cho cộng đồng người dân vùng đệm của Vườn quốc gia để kịp thời nhận biết và thực hiện các biện pháp phòng trừ kịp thời hạn chế các thiệt hại đối với sản xuất nông lâm nghiệp và góp phần quan trọng trong công tác bảo tồn đa dạng sinh học.

Ảnh: Cây Mai dương – một loài sinh vật ngoại lai xâm hại tại VQG Xuân Sơn

                                                   Bài: Đinh Tấn Quyền – VQG Xuân Sơn