Bài Tập Về Biện Pháp Tu Từ Cú Pháp / Top 5 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Phauthuatthankinh.edu.vn

Các Biện Pháp Tu Từ Và Ví Dụ Về Bài Tập Biện Pháp Tu Từ Dễ Hiểu

Biện pháp tu từ là cách sử dụng ngôn ngữ theo cách đặc biệt ở một đơn vị ngôn ngữ ( về từ, câu , văn bản) trong một ngữ cảnh nhất định nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm trong diễn đạt và tạo ấn tượng với người đọc về một hình ảnh, một cảm xúc hay một câu chuyện.

Mục đích: Sử dụng biện pháp tu từ sẽ tăng giá trị biểu đạt và biểu cảm

Bên cạnh việc nắm được định nghĩa của các biện pháp tu từ là gì, bạn cũng cần ghi nhớ vai trò của các biện pháp tu từ trong các văn bản nghệ thuật. Hầu hết trong những văn bản nghệ thuật người ta thường xuyên kết hợp các biện pháp tu từ cùng một lúc để gia tăng sự sinh động cũng như khiến đọc giả suy ngẫm kĩ về tác phẩm đó. Bài viết này rất phù hợp với các sĩ tử của kì thi THPTQG năm 2020. Bắt đầu sớm là một lợi thế. Hãy đọc bài viết này để nhớ lại một phần kiến thức tưởng chừng đơn giản nhưng lại vô cùng cần thiết và quan trọng.

Các biện pháp tu từ

1. So sánh

Khái niệm: So sánh là đối chiếu 2 hay nhiều sự vật, sự việc mà giữa chúng có những nét tương đồng để làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho lời văn.

Cấu tạo: mô hình cấu tạo đầy đủ của một phép so sánh gồm:

Vế A: nêu tên sự vật, sự việc được so sánh.

Vế B: nêu tên sự vật, sự việc được dùng để so sánh với sự vật, sự việc nói ở vế A.

Từ ngữ chỉ phương diện so sánh.

Từ ngữ chỉ ý so sánh ( gọi tắt là từ so sánh).

Trong thực tế, mô hình cấu tạo nói trên có thể thay đổi ít nhiều:

Các từ ngữ chỉ phương diện so sánh và chỉ ý so sánh có thể được lược bớt.

Các kiểu so sánh:

Ví dụ: Mẹ là ngọn gió của con suốt đời.

Chẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con.

2. Nhân hóa

Ví dụ về một đoạn văn sử dụng biện pháp nhân hóa

Hè năm nào tôi cũng về nhà nội chơi, sau nhà có vườn cây do chính tay ông tôi trồng và chăm sóc. Trong vườn, gia đình nhà chuối tiêu chen chúc, tựa sát vào nhau trông thật thân thiết . Mấy cây bưởi già thưa thớt lá, sai trĩu những quả xanh ngắt, giống bưởi này ngon lắm, đây là thứ cây mà ông tôi tâm đắc nhất. Phía góc vườn là cây măng cụt rậm rạp, cao hơn hẳn những cây khác, ông tôi thường gọi nó là anh cả của cả vườn, nghe ông kể, anh măng cụt này cũng kiêu ngạo lắm , ông tôi phải vất vả chăm sóc suốt năm trời mới được đón lứa quả đầu tiên. Ngự trị giữa vườn là chị xoài , tán cây rộng lớn như những cánh tay treo đầy trái xoài mập mạp. Tôi thích khu vườn này lắm, một phần vì có nhiều thứ quả ngon, một phần vì nó chứa đựng biết bao tâm huyết của ông nội tôi.

+ Chuối tiêu – chen chúc, tựa sát

+ Măng cụt – kiêu ngạo

+ Trái xoài – mập mạp

3. Ẩn dụ

b/ Có bốn kiểu ẩn dụ thường gặp:

+ Ẩn dụ hình thức – tương đồng về hình thức

“Đầu tường lửa lựu lập lòe đơm bông” [Truyện Kiều – Nguyễn Du]

[hoa lựu màu đỏ như lửa]

+ Ẩn dụ cách thức – tương đồng về cách thức

“Ăn quả nhớ kẻ trồng cây” [ca dao]

[ăn quả – hưởng thụ, “trồng cây” – lao động]

“Về thăm quê Bác làng Sen,

Có hàng râm bụt thắp lên lửa hồng” [Nguyễn Đức Mậu]

[thắp: nở hoa, chỉ sự phát triển, tạo thành]

+ Ẩn dụ phẩm chất – tương đồng về phẩm chất

“Thuyền về có nhớ bến chăng

Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền”

[thuyền – người con trai; bến – người con gái] + Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác – chuyển từ cảm giác này sang cảm giác khác, cảm nhận bằng giác quan khác.

“Ngoài thêm rơi chiếc lá đa

Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng” [Đêm Côn Sơn – Trần Đăng Khoa]

“Cha lại dắt con đi trên cát mịn

Ánh nắng chảy đầy vai” [Những cánh buồm – Hoàng Trung Thông]

“Ơi con chim chiền chiện

Hót chi mà vang trời

Từng giọt long lanh rơi

Tôi đưa tay tôi hứng” [Mùa xuân nho nhỏ – Thanh Hải]

“Một tiếng chim kêu sáng cả rừng” [Từ đêm Mười chín – Khương Hữu Dụng]

c/ Lưu ý:

– Phân biệt ẩn dụ tu từ và ẩn dụ từ vựng:

+ AD tu từ: có tính lâm thời, tính cá thể, phải đặt trong từng văn cảnh cụ thể để khám phá ý nghĩa.

4. Hoán dụ

Thực chất Hoán dụ là gọi tên sự vật, hiện tượng bằng tên của một sự vật, hiện tượng khác có quan hệ gần gũi với nó nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm trong diễn đạt. Có bốn kiểu hoán dụ thường gặp:+ Lấy một bộ phận để chỉ toàn thể: + Lấy vật chứa đựng chỉ vật bị chứa đựng: + Lấy dấu hiệu của sự vật để chỉ sự vật: + Lấy cái cụ thể để gọi cái trừu tượng

Ví dụ : Áo nâu cùng với áo xanh

Nông thôn cùng với thị thành đứng lên.

+Biện pháp hoán dụ +Các từ in đậm được dùng để biểu thị những đối tượng có mối quan hệ gần gũi với nó. – Áo nâu: chỉ người nông dân; áo xanh: chỉ người công nhân; – Nông thôn: chỉ những người ở nông thôn; thành thị: chỉ những người sống ở thành thị.

+ Cơ sở liên tưởng khác nhau: Ẩn dụ dựa vào sự liên tưởng tương đồng, tức là giữa A và B có điểm gì đó giống nhau, nên người ta dùng A để thay cho tên gọi B. Do đó, trong trường hợp này sự vật chuyển đổi tên gọi và sự vật được chuyển đổi tên gọi thường khác phạm trù hoàn toàn. Ví dụ : “Đầu tường lửa lựu lập lòe đơm bông” [Truyện Kiều – Nguyễn Du] Ở đây hoa lựu màu đỏ như lửa, bởi vậy lửa ( A) được dùng làm ẩn dụ chỉ hoa lựu (B) Hoán dụ dựa vào sự liên tưởng tương cận ( gẫn gũi ) giữa các đối tượng. Mối quan hệ giữa tên mới (A) và tên cũ (B) là mối quan hệ gần kề Ví dụ : Đầu xanh có tội tình gì Má hồng đến quá nửa thì chưa thôi” Đầu xanh : là bộ phận cơ thể người ( gần kề với người) , được lấy làm hoán dụ chỉ người còn trẻ ( ví dụ tương tự : đầu bạc- người già) Má hồng: chỉ người con gái đẹp Như vậy , các em có thể hiểu nôm na là : Ẩn dụ và hoán dụ cùng chung cấu trúc nói A chỉ B nhưng khác nhau: – Ẩn dụ: A và B có quan hệ tương đồng [giống nhau] – Hoán dụ: A và B có quan hệ gần gũi, hay đi liền với nhau.

5. Đảo ngữ

Đảo ngữ (còn gọi là đảo trang) là một hình thức tu từ có đặc điểm : thay đổi vị trí thông thường của một từ, cụm từ trong câu nhưng không làm mất đi quan hệ cú pháp vốn có, nhằm mục đích nhấn mạnh, thể hiện cảm xúc của người viết hoặc tạo hình ảnh, đường nét, màu sắc.

Trật tự thông thường của kết cấu cú pháp trong câu thể hiện sắc thái trung hoà. Thay đổi trật tự này với dụng ý nghệ thuật , sẽ tạo ra sắc thái tu từ.

Mái tóc người cha bạc phơ.

Bạc phơ mái tóc người cha

Ba mươi năm Đảng nở hoa tặng Người

Sắc thái tu từ thể hiện ở chỗ : nhấn mạnh vào những thành phần đảo. Trong ví dụ trên, bạc phơ khi đưa lên đầu câu, đã trở thành yếu tố tiếp nhận thứ nhất của chuỗi lời nói. Bên cạnh sắc thái nhấn mạnh, đảo ngữ còn thể hiện sắc thái biểu cảm :

– Đẹp vô cùng Tổ quốc ta ơi!

Đảo ngữ cũng đóng vai trò đặc biệt trong việc tạo hình ảnh, đường nét, màu sắc :

Lom khom dưới núi tiều vài chú

Lác đác bên sông chợ mấy nhà

(Bà Huyện Thanh Quan)

Các sắc thái này trong nhiều trường hợp được thể hiện đồng thời.

6. Điệp từ điệp ngữ

Là BPTT nhắc đi nhắc lại nhiều lần một từ, cụm từ có dụng ý làm tăng cường hiệu quả diễn đạt: nhấm mạnh, tạo ấn tượng, gợi liên tưởng, cảm xúc… và tạo nhịp điệu cho câu/ đoạn văn bản.

“Tre giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín”

[Cây tre Việt Nam – Thép Mới]

– Điệp ngữ có nhiều dạng:

“Buồn trông cửa bể chiều hôm,

Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?

Buồn trông ngọn nước mới sa,

Hoa trôi man mác biết là về đâu ?

Buồn trông nội cỏ dàu dàu,

Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.

Buồn trông gió cuốn mặt duềnh,

Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi” [Truyện Kiều – Nguyễn Du]

Đất xanh, tre mãi xanh màu tre xanh” [Tre Việt Nam – Nguyễn Duy]

+ Điệp vòng tròn:

“Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy

Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu

Ngàn dâu xanh ngắt một màu

Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?” [Chinh phụ ngâm – Đoàn Thị Điểm]

7. Nói giảm nói tránh

Nói giảm nói tránh là biện pháp tu từ dùng cách biểu đạt tế nhị, uyển chuyển, tránh gây cảm giác quá buồn đau, ghê sợ, nặng nề, tránh thô tục, thiếu văn hóa. Nói giảm là phương tiện tu từ làm nhẹ đi, yếu đi một đặc trưng nào đó được nói đến mà người nghe vẫn hiểu được nội dung nhưng không gây ra cảm giác nặng nề, tiêu cực. Còn nói tránh là sự biểu đạt bằng một hình tượng khác, một phương thức khác, hoặc đề cập một đối tượng khác, tức là không đề cập trực tiếp đến yếu tố muốn nói, để không gây một sự bất ngờ tiêu cực hoặc tạo sự xúc phạm đến người nghe. Chẳng hạn, khi chê trách một điều gì, để người nghe dễ tiếp nhận, ta thường nói giảm nói tránh bằng cách phủ định điều ngược lại với nội dung đánh giá. Trong thực tế có nhiều thí dụ: Bạn đến chơi nhà đã quá lâu, chủ nhà rất phiền, vì còn bận việc khác thì có thể nói: “Cũng đã trưa lắm rồi, mời anh vào phòng nằm nghỉ”, hoặc “Hôm nay gặp chị rất vui, nhưng em lỡ có hẹn lúc 3 giờ chiều nay, hay là chị vào phòng em nghỉ để em đi một chút về chị em ta nói chuyện tiếp?”… Cách nói giảm nói tránh đó sẽ được người nghe hiểu rằng chủ nhà đang bận hoặc muốn kết thúc câu chuyện nhưng không gây phật ý người nghe.

8. Chơi chữ

Chơi chữ là BPTT lợi dụng đặc sắc về âm, về nghĩa của từ ngữ để tạo sắc thái dí dỏm, hài hước,…. làm câu văn hấp dẫn và thú vị.

“Bà già đi chợ cầu đông

Xem một que bói lấy chồng lợi chăng

Thầy bói gieo quẻ nói rằng:

Lợi thì có lợi nhưng răng chẳng còn”

– Các lối chơi chữ thường gặp:

+ Dùng từ ngữ đồng âm

+ Dùng lối nói trại âm (gần âm)

+ Dùng cách điệp âm

+ Dùng lối nói lái.

+ Dùng từ ngữ trái nghĩa, đồng nghĩa, gần nghĩa.

9. Liệt kê

Theo SGK liệt kê là sắp xếp, nối tiếp nhau các từ hoặc cụm từ cùng loại với nhau nhằm diễn tả các khía cạnh hoặc tư tưởng, tình cảm được đầy đủ, rõ ràng, sâu sắc hơn đến với người đọc, người nghe.

Như vậy, phép liệt kê có thể thấy trong nhiều văn bản khác nhau. Để nhận biết có phép liệt kê được sử dụng có thể thấy trong bài viết có nhiều từ hoặc cụm từ giống nhau, liên tiếp nhau và thông thường cách nhau bằng dấu phẩy “,” hoặc dấu chấm phẩy “;”.

1. Các kiểu liệt kê

– Dựa vào cấu tạo chia ra thành:

+ Liệt kê theo từng cặp.

+ Liệt kê không theo từng cặp.

– Dựa vào ý nghĩa chia ra thành:

+ Liệt kê tăng tiến

+ Liệt kê không theo tăng tiến.

– Ví dụ về liệt kê theo từng cặp:

Khu vườn nhà em trồng rất nhiều loài hoa đẹp nào là hoa lan với hoa cúc, hoa mai với hoa đào, hoa hồng và hoa ly.

Cũng với ví dụ trên ta sẽ liệt kê không theo từng cặp:

Khu vườn nhà em trồng rất nhiều loài hoa đẹp nào là hoa lan, hoa cúc, hoa mai, hoa đào, hoa hồng, hoa ly.

Dựa theo cấu tạo có thể tìm ra phép liệt kê đang sử dụng, rất dễ dàng.

– Ví dụ về liệt kê tăng tiến

Gia đình em gồm có nhiều thành viên gắn bó với nhau gồm có em gái, em, anh trai, bố, mẹ và ông bà.

Đây là phép liệt kê tăng tiến, thứ tự trong phép liệt không thể đảo lộn.

Trên con đường trung tâm có rất nhiều loại phương tiện khác nhau như xe ô tô, xe đạp, xe tải, xe cứu thương đang chạy ngược xuôi.

Trong ví dụ các thứ tự các loại xe có thể thay đổi mà không làm thay đổi ý nghĩa câu.

10. Tương phản

Nghệ thuật tương phản đối lập là tạo ra những hành động, những cảnh tượng, những tính cách trái ngược nhau để qua đó làm nổi bật ý tưởng, một bộ phận trong tác phẩm hoặc tư tưởng chính của tác giả

+ Tố cáo sự vô trách nhiệm, tham lam khốn nạn của bọn quan lại – những kẻ được xem là cha mẹ của nhân dân

+ Cảnh khốn cùng, tuyệt vọng của người dân trước cơn thịnh nộ của thiên nhiên khi chống chọi với bão lũ

Ví dụ cụ thể về đoạn văn kết hợp những biện pháp tu từ

Giờ ra chơi, trường ồn như vỡ chợ. Vài nhóm nữ sinh tụ tập dưới tán lá mát rượi của cụ bàng; từng cặp từng cặp bạn nam chơi đá cầu với nhau, trên vai ai nấy đều ướt đẫm ánh nắng; một đám học sinh khác lại ùa đến căn-tin ăn quà vặt;… Cảnh vui tươi, nhộn nhịp đó khó có người học trò nào quên được. Bởi sau mỗi giờ ra chơi lại khiến chúng tôi thấy tinh thần sáng khoái hơn, tràn trề sức lực để học tập tốt hơn. *lại: phó từ chỉ sự tiếp diễn tương tự. *ồn như vỡ chợ: so sánh *cụ bàng: nhân hóa kiểu dùng những từ vốn dùng để gọi người để gọi sự vật. *ướt đẫm ánh nắng: ẩn dụ chuyển đổi cảm giác. (thị giac – xúc giác) *trường: hoán dụ kiểu lấy vật chứa đựng để gọi vật bị chứa đựng.

Chú gà trống làm việc rất cần mẫn và đúng giờ. Chính vì thế, chú được coi là chiếc đồng hồ báo thức. Cả nhà em đều yêu quí chú. + gà trống – oai vệ : nhán hóa Ò ó o…o…” Tiếng gáy to vang vọng của chú gà trống nhà em đấy. Chú đánh thức mọi người dậy – một ngày mới bắt đầu. Chú gà trống trông thật oai vệ. Thân hình cường tráng như võ sĩ trên lễ đài. Chú khoác trên mình tấm áo lông sặc sỡ, nhiều màu, bóng mượt như bôi mỡ. Lông cườm ở cổ đỏ tía. Đầu chú tròn bằng nắm tay, trên đội một chiếc vương miện đỏ chót. Mỏ hơi khoằm xuống, cứng như thép. Mắt tròn long lanh như nước. Đôi cánh cứng cáp như hai mảnh vỏ trai úp lại. Hai chân vàng bóng, bới đất tìm giun rất tài. Mỗi chân chú có một cái cựa dài nhọn hoắt chìa ra. Chùm lông đuôi vồng cong như cầu vồng bẩy sắc. Chú gà trống thật đẹp mã. Hằng ngày vào sáng sớm tinh mơ, chú từ chuồng nhảy ra, phóng lên cành bưởi đứng gáy. Chú vươn cái cổ đủ màu sắc và xoà cánh ra vỗ phành phạch rồi chú gáy một tràng dài, vang xa làm các con vật phải im lặng. Nghe tiếng gáy của chú, cây cối tưng bừng xoè lá đón ánh nắng mặt trời. Chim ca lích rích trong vòm lá. Sau nhiệm vụ báo thức của mình, chú ta nhảy xuống chạy đi kiếm mồi. Chú đến bên sân mổ lia lịa những hạt thóc mà bà tung ra. + cứng như thép : so sánh + ….

Cũng giống như những con sông khác, con sông quê em cũng uốn lượn như một con rồng. Nó mang hương vị mặn mòi của vùng quê em, vùng quê có di tích lịch sử (đền thờTiên La), vùng quê địa linh nhân kiệt. Chính cài hương vị ấy đã gắn bó với em đến từng thớ thịt. Tuy con sông không rộng lắm nhưng nó rất dài. Buổi sáng khi ông mặt trời nhô lên thì dòng sông mặc chiếc áo lụa đào tha thướt, trưa về chiếc áo lụa đào ấy được thay bằng chiếc áo xanh biếc mới may, chiều về chiếc áo lại được dát vàng long lanh. đêm đến, sông mặc chiếc áo đen cài một vầng trăng vào giữa ngực và những ngôi sao được gắn vào dải áo như những dải kim cương. Nước sông như dòng sữa ngọt tưới tiêu cho đồng ruộng, dòng nước mát luôn dang tay đón chúng em tắm mát, bơi lội nô đùa trong những ngày hè oi bức. Con sông đã trở thành một phần máu thịt của quê hương em. Con sông đã chứng kiến bao kỷ niệm đẹp của tuổi thơ chúng em. Rồi mai ngày em sẽ lớn khôn, nhưng rồi có đi đâu xa chân trời góc biển em vẫn nhớ về quê em, những kỉ niệm với dòng sông sẽ vẫn còn mãi trong em.+ Nước sống như dòng sữa ngọt : So sánh + uốn lượn như một on rồng : so sánh + Sông – máu thịt của quê hương : nhân hóa

Nhà tôi ở một làng chài ven biển. Chiều hè, tôi thường ra đây hóng mát. Tôi ngước nhìn lên trời và bỗng reo lên: “Biển trên trời!” Tôi ngắm nhìn biển không chớp mắt, thích thú: Đẹp quá đi! đẹp quá đi! Bầu trời cao, xanh vời vợi tựa như mặt biển xanh hiền hoà. Những đám mây đuổi nhau, xô đẩy chẳng khác gì những con sóng lớn, xô mạnh vào bờ làm bọt biển văng tung toé. Gió cùng biển thổi rì rào tạo nên một bản nhạc không lời. Xa xa, những đàn chim hải âu bay dập dờn chẳng khác gì những cánh buồm trắng xoá trôi lửng lờ. Tôi như nghe thấy từ trên trời cao tiếng hót véo vón của những chú chim, tiếng xao động của lá cây, tiếng dạt dào của sóng biển. Tất cả như hoà cùng màu xanh dịu êm của biển. Một màu xanh bát ngát có lẽ chỉ có ở trời cao làm cho chị nắng như vẫn còn ngỡ ngàng trước vẻ đẹp kì diệu đó! Cây cối cũng phải ghen tị, ước ao có được màu sắc đó! Mọi người vẫn thả lưới, giăng buồm ra khơi. Riêng tôi vẫn ngồi đây trầm ngâm với những bác dừa xanh mát cả một vùng để ngắm nhìn biển, thèm khát được chơi với biển, cưỡi lên những con sóng mạnh xô vào bờ. Những cánh diều no gió của đám trẻ làng chài thi nhau bay cao vút như chắp cách cho ước mơ của trẻ thơ bay cao, bay xa hơn nữa!. Những hòn đảo nhấp nhô tựa những cung điện dưới thuỷ cung bao la, bát ngát. Những đàn cá lội tung tăng, vẩy nước tung toé. Tôi nhìn biển mà tự hỏi: “Biển đẹp đến thể mà sao còn thua cả sắc trời?”.Hôm đó, một kỉ niệm ngọt ngào nhất mà tôi đã từng có, giờ đây vẫn còn in dấu theo thời gian. Nhìn biển đẹp đến thế, tôi mới cảm nhận được hết vẻ đẹp kì thú của thiên nhiên! Biển chính là người mẹ thứ hai của tôi!… Biện pháp nghệ thuật: so sánh, nhân hóa.

Các Biện Pháp Tu Từ Cú Pháp Thường Gặp

– Đảo ngữ là biện phap tu từ thay đổi trật tự cấu tạo ngữ pháp thông thường của câu, nhằm nhấn mạnh ý, nhấn mạnh đặc điểm của đối tượng và làm câu thơ, câu văn thêm sinh động, gợi cảm, hài hòa về âm thanh,…

– Ví dụ:

“Lom khom dưới núi: tiều vài chú

Lác đác bên sông: chợ mấy nhà”

[Qua Đèo Ngang – Bà huyện Thanh Quan]

2/ LẶP CẤU TRÚC:

– Là biện pháp tu từ tạo ra những câu văn đi liền nhau trong văn bản với cùng một kết cấu nhằm nhấn mạnh ý và tạo sự nhịp nhàng, cân đối cho văn bản

– Ví dụ: “Nước Việt Nam là một. Dân tộc Việt Nam là mộ t” [Hồ Chí Minh]

“Trời xanh đây là của chúng ta

Núi rừng đây là của chúng ta”

[Đất nước – Nguyễn Đình Thi]

3/ CHÊM XEN:

– Là chêm vào câu một cụm từ không trực tiếp có quan hệ đến quan hệ ngữ pháp trong câu, nhưng có tác dụng rõ rệt để bổ sung thông tin cần thiết hay bộc lộ cảm xúc. Thường đứng sau dấy gạch nối hoặc trong ngoặc đơn.

“Cô bé nhà bên (có ai ngờ)

Cũng vào du kích! Hôm gặp tôi vẫn cười khúc khích Mắt đen tròn (thương thương quá đi thôi)”

[Quê hương – Giang Nam]

5/ CÂU HỎI TU TỪ:

– Là đặt câu hỏi nhưng không đòi hỏi câu trả lời mà nhằm nhấn mạnh một ý nghĩa khác.

“Mẹ con đàn lợn âm dương

Chia lìa đôi ngả Đám cưới chuột đang tưng bừng rộn rã Bây giờ tan tác về đâu?”

[Bên kia sông Đuống – Hoàng Cầm]

6/ PHÉP ĐỐI:

– Là cách sử dụng từ ngữ, hình ảnh, các thành phần câu, vế câu song song, cân đối trong lời nói nhằm tạo hiệu quả diễn đạt: nhấn mạnh, gợi liên tưởng, gợi hình ảnh sinh động, tạo nhịp điệu cho lời nói.

– Có 2 kiểu: đối tương phản [ý trái ngược nhau]; đối tương hỗ [bổ sung ý cho nhau]

” Ta/ dại /ta/ tìm/ nơi/ vắng vẻ

Người/ khôn/ người/ đến/ chốn/ lao xao”

[Nhàn – Nguyễn Bỉnh Khiêm]

“Gần mực thì đen/ gần đèn thì sáng”

“Son phấn/ có/ thần/ chôn vẫn hận Văn chương/ không/ mệnh/ đốt còn vương”

[Đọc Tiểu Thanh kí – Nguyễn Du]

Thực Hành Một Số Biện Pháp Tu Từ Cú Pháp

I. PHÉP LẶP CÚ PHÁP Bài tập 1

a) Câu có hiện tượng lặp kết cấu ngữ pháp:

+ Hai câu bắt đầu từ “Sự thật là…”

+ Hai câu bắt đầu từ “Dân ta…”

– Kết cấu lặp ở 2 câu trước là “Sự thật là… dân ta đã…, chứ không phải…”: thành phần phụ C – V1 – “chứ không phải – V2. Kết cấu khẳng định ở vế đầu và bác bỏ ở vế sau. Kết cấu lặp ở 2 câu sau là: C-V-B-Tr. Trong đó C: Dân ta. V: Đánh đổ B: các xiềng xích… (chế độ quân chủ, Tr: chỉ mục đích (bắt đầu bằng quan hệ từ

– Tác dụng: Tạo cho lời tuyên ngôn âm hưởng đanh thép, hùng hồn thích hợp với việc khẳng định nền độc lập của Việt Nam.

b) Đoạn thơ có dùng phép lặp cú pháp giữa 2 câu thơ đầu và 3 câu thơ sau. Tác dụng là khẳng định mạnh mẽ chủ quyền của chúng ta và bộc lộ cảm xúc sung sướng, tự hào, sảng khoái đối với thiên nhiên đất nước.

c) Đoạn thơ vừa lặp từ ngữ vừa lặp cú pháp. Lặp cú pháp giữa câu 2 và câu 3, giữa câu 4 và câu 5, giữa câu 6 và câu 7, giữa câu 8 và câu 9. Tác dụng là biểu lộ tám trạng sảng khoái, sung sướng của nhà thơ khi hồi tưởng về quê hương. Những hình ảnh quê hương cứ dồn dập, liên tiếp hiện về.

Bài tập 2

a) Ở tục ngữ phép lặp cú pháp đòi hỏi mức độ chặt chẽ cao: số tiếng ở haivế bằng nhau.

b) Ở câu đôi, phép lặp cú pháp cũng đòi hỏi ở mức độ chặt chẽ cao: Sốtiếng ở hai câu bằng nhau. Hơn nữa phép lặp còn phối hợp với phép đối.

c) Ở thơ luật Đường cũng đòi hỏi ở mức độ chặt chẽ cao: Kết cấu ngữ pháp giống nhau, số lượng tiếng (bằng nhau, các tiếng đối nhau về từ loại và nghĩa đặc biệt là giữa 2 câu thực và 2 câu luận của bài thơ thất ngôn bát cú)

d) Ở văn biền ngẫu, phép lặp cú pháp cũng thường phối hợp với phép đối. Điều này thường tổn tại trong một cặp câu (có thể dài, không cố định về số tiếng).

Bài tập 3

Học sinh tìm trong các văn bản trong Ngữ văn 12 tập 1 từ 3 đến 5 câu văn hoặc thơ có dùng phép lặp cú pháp rồi phân tích tác dụng của việc lặp cú pháp.

II. PHÉP LIỆT KÊ

a) Trong đoạn trích từ Hịch tướng sĩ phép liệt kê đã phối hợp với phép lặp cú pháp. Nhiều vế câu liên tiếp theo cùng một kết cấu gồm 2 vế theo mô hình khái quát:

Ví dụ: “không có mặc” thì “ta cho áo”

Phép liệt kê phối hợp với phép lặp cú pháp trong đoạn này có tác dụng nhấn mạnh và khẳng định sự đối đãi chu đáo, đầy tình nghĩa của Trần Quốc Tuấn đốì với tướng sĩ.

b) Phép lặp cú pháp (các câu có kết cấu ngữ pháp giống nhau: C-V-B, phối hợp với phép liệt kê để vạch tội ác thực dân Pháp, chỉ mặt kẻ thù. Cũng cùng mục đích đó là cách tách dòng liên tiếp dồn dập.

III. PHÉP CHÊM XEN Bài tập 1

– Các bộ phận in đậm (thị suy nghĩ đến bày giờ mới xong, cái này còn đáng sợ hơn đói rét và ốm đau, thương thương quá đi thôi, Lâm thời Chính phủ của nước Việt Nam mới, đại biểu cho toàn dân Việt Nam) ở vị trí giữa, cuối câu và sau bộ phận được chú thích. Chúng được chêm xen vào để ghi chú thêm.

– Chúng được tách ra bằng ngữ điệu khi nói hay dọc. Còn khi viết thì đựơc tách ra bằng dấu phẩy, dấu ngoặc đơn hoặc dấu ngang.

– Chúng có tác dụng ghi chú hoặc giải thích cho từ ngữ đi trước. Chúng còn bổ sung thêm sắc thái tình cảm, cảm xúc của người viết.

Bài tập 2

Học sinh tự viết một đoạn văn (từ 3 đến 5 câu) về Tố Hữu và bài thơ , trong đó có sử dụng phép chêm xen. Sau đó phân tích tác dụng của phép chêm xen trong trường hợp đó.

Biện Pháp Tu Từ Ngữ Âm Và Biện Pháp Tu Từ Cú Pháp Trong Văn Chính Luận Hồ Chí Minh

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

TRẦN THỊ THẮM

BIỆN PHÁP TU TỪ NGỮ ÂM VÀ BIỆN PHÁP TU TỪ CÚ PHÁP TRONG VĂN CHÍNH LUẬN HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

HÀ NỘI, 2011

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

TRẦN THỊ THẮM

BIỆN PHÁP TU TỪ NGỮ ÂM VÀ BIỆN PHÁP TU TỪ CÚ PHÁP TRONG VĂN CHÍNH LUẬN HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học Mã số: 60.22.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. Bùi Minh Toán

HÀ NỘI, 2011

MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn ñề tài 1.1. Bên cạnh việc nghiên cứu những vấn ñề thuộc về từ vựng học, nghiên cứu những vấn ñề về ngữ âm và ngữ pháp có vai trò vô cùng to lớn trong việc nghiên cứu ngôn ngữ học hiện nay. Nghiên cứu về ngữ âm và ngữ pháp góp phần hoàn thiện việc nghiên cứu về hệ thống ngôn ngữ một cách toàn diện, tạo ra diện mạo nhiều chiều với nhiều sắc vẻ của các ñơn vị ngôn ngữ. Ở những phương diện khác nhau, các ñơn vị ngôn ngữ lại hiện lên với những trạng thái sinh ñộng, mới mẻ và chứa ñựng nhiều nội dung thú vị. Trong quá trình nghiên cứu về ngữ âm và ngữ pháp, biện pháp tu từ là một vấn ñề nhận ñược nhiều sự quan tâm. Thông qua việc nghiên cứu các biện pháp tu từ – ñược thể hiện qua vỏ âm thanh và cấu trúc ngữ pháp, chúng ta có thể thấy rõ sự linh hoạt trong việc sử dụng ngôn ngữ, thấy rõ sự ña dạng trong cách diễn ñạt, cảm nhận rõ vẻ ñẹp của tiếng Việt. Từ ñó, người sử dụng ngôn ngữ có thể vận dụng vào việc phân tích và tạo lập văn bản, tiếp nhận văn bản văn học một cách có hệ thống, toàn vẹn và hoàn chỉnh hơn ở nhiều góc ñộ khác nhau. 1.2. Trong sự nghiệp lớn lao của Hồ Chí Minh – có một di sản ñặc biệt biệt ñể lại cho dân tộc, ñó là sự nghiệp trước tác. Người ñã ñể lại cho chúng ta một sự nghiệp trước tác lớn lao về tầm vóc, phong phú ña dạng về thể loại và ñặc sắc về phong cách sáng tác. [43, 419] Từ những năm 20 của thế kỉ XX, các bài văn chính luận với bút danh Nguyễn Ái Quốc ñăng trên báo Người cùng khổ, Nhân ñạo, Đời sống thợ thuyền ñã tác ñộng và ảnh hưởng lớn ñến quần chúng Pháp và nhân dân những nước thuộc ñịa, kêu gọi thức tỉnh nhân dân nô lệ bị áp bức liên hiệp lại trong mặt trận ñấu tranh chung. “Văn chương Hồ Chí Minh ñã kết hợp ñược sự sâu sắc tự bên trong mối quan hệ giữa chính trị và văn học, giữa tư tưởng và nghệ thuật, giữa truyền thống và hiện ñại. Mỗi loại hình văn học của người ñều có phong cách riêng, ñộc ñáo, hấp dẫn và có giá trị bền vững. Hồ Chí Minh là người ñầu tiên sử dụng có hiệu quả

1

cao thể văn chính luận hiện ñại… Văn chính luận của Hồ Chí Minh mang cốt cách, ñặc ñiểm của văn chính luận hiện ñại của giai cấp vô sản”. Vì thế, văn chính luận của Người ñược ñộc giả và giới nghiên cứu quan tâm trên nhiều phương diện khác nhau. 1.3. Nghiên cứu các biện pháp tu từ trên mặt ngữ âm và ngữ pháp trong văn chính luận của Hồ Chí Minh là vấn ñề giúp chúng tôi có thể tiếp cận, tìm hiểu thêm một phương diện mới về phong cách viết văn của Người. Những lí do trên là cơ sở ñể chúng tôi chọn ñề tài “Biện pháp tu từ ngữ âm và biện pháp tu từ cú pháp trong văn chính luận Hồ Chí Minh”. 2. Lịch sử nghiên cứu 2.1. Về biện pháp tu từ Lí thuyết về biện pháp tu từ ñã ñược nhiều nhà ngôn ngữ học trên thế giới cũng như ở Việt Nam quan tâm nghiên cứu. Aristote là một trong các nhà khởi xướng, có công trong việc tạo nên các lời văn hoa mĩ, các thuật hùng biện, hình thành môn “Mĩ từ pháp”. Tu từ học ñã trở thành một bộ môn bắt buộc trong Tam khoa của nhà trường Trung cổ và nhà trường cận ñại ở Châu Âu. Vấn ñề tu từ học ñược tiếp tục phát triển, nâng cao thành hệ thống lí luận ở các tác giả như: Ciceron, Quitilien, Horace, Virgile… Từ thế kỉ XIX, tu từ học – phong cách học ñã trở thành một ngành riêng của ngôn ngữ học. Ở nước ta, tên gọi “Tu từ học” xuất hiện vào thập niên 50 của thế kỉ XX, những công trình nghiên cứu về tu từ học thời kì này có thể kể ñến như: Vũ trung tuỳ bút của Phạm Đình Hổ, Việt – Hán văn khảo của Phan Kế Bính, Quốc văn cụ thể của Bùi Kỉ, Việt Nam văn học sử yếu của Dương Quảng Hàm, Thơ ca Việt Nam – Hình thức và thể loại của Bùi Văn Nguyên và Hà Minh Đức… Vào khoảng thập niên 60 của thế kỉ XX, tên gọi Phong cách học xuất hiện, Phong cách học chính là Khoa tu từ học ñược hiện ñại hoá có cơ sở lí thuyết nhằm vào ñối tượng cơ bản là các phong cách ngôn ngữ. [37, 238]

2

Cùng với sự ra ñời của lí luận về biện pháp tu từ là các công trình nghiên cứu của các tác giả: Cù Đình Tú, Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hoà, Hữu Đạt, Lê Anh Hiền… Có thể kể ñến một số công trình có vai trò nền tảng trong việc trình bày về vấn ñề biện pháp tu từ. Cụ thể: – Tác giả Lê Anh Hiền với cuốn Khái luận tu từ học, Đại học Sư phạm Hà Nội, 1961. – Tác giả Cù Đình Tú, Lê Anh Hiền, Nguyễn Nguyên Trứ, Tu từ học tiếng Việt hiện ñại (sơ thảo), Đại học Sư phạm Việt Bắc, 1975 – Tác giả Cù Đình Tú với cuốn Phong cách học và ñặc ñiểm tu từ tiếng Việt, nhà xuất bản Giáo dục, 1983. – Tác giả Hữu Đạt với cuốn Phong cách học tiếng Việt hiện ñại, Nhà xuất bản Đai học quốc gia Hà Nội, 2001. – Tác giả Đinh Trọng Lạc với cuốn Chín mươi chín phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt, nhà xuất bản Giáo dục (tái bản lần thứ bảy), 2003. – Tác giả Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hoà với cuốn Phong cách học tiếng Việt, nhà xuất bản Giáo dục (tái bản lần thứ tám), 2008. Trong những công trình trên, các tác giả ñã ñề cập ñến những vấn ñề cơ bản về lí thuyết biện pháp tu từ như: khái niệm về biện pháp tu từ, ñặc ñiểm tu từ của các loại ñơn vị trong tiếng Việt, các phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt (tu từ từ vựng, ngữ nghĩa, cú pháp, văn bản, ngữ âm của phong cách học)… Đây là những nhận thức lí luận rất cần thiết, có chức năng dẫn ñường cho việc tìm hiểu các vấn ñề về biện pháp tu từ. 2.2. Về văn chính luận Hồ Chí Minh Thơ văn của Hồ Chí Minh luôn là ñối tượng hứng thú của nhiều nhà nghiên cứu. Chính vì vậy, từ trước ñến nay có không ít công trình nghiên cứu về tác phẩm của Người với những tác giả có tên tuổi như: Nguyễn Đăng Mạnh, Hà Minh Đức, Phong Lê… Riêng về mặt ngôn ngữ, các tác phẩm văn thơ của Hồ Chí Minh ñã có những công trình khảo cứu về các phương diện sau:

3

– Việc dùng thành ngữ, tục ngữ, ca dao trong văn Hồ Chí Minh. – Phép so sánh trong văn thơ Hồ Chí Minh. – “Tập Kiều” trong ngôn ngữ Hồ Chí Minh. – Tên các bài báo của Hồ Chí Minh. – Tiếng cười (phong cách hài hước) trong văn Hồ Chí Minh. – Ý kiến của Hồ Chủ Tịch về việc mượn từ gốc Hán. … Có thể kể ra một số công trình, bài viết như sau: Trong bài viết Phương pháp nghiên cứu thơ văn Hồ Chí Minh [54, 207], Nguyễn Đăng Mạnh chỉ rõ: “Văn chính luận chủ yếu ñược viết theo tư duy logic. Sức thuyết phục của nó không phải ở chỗ dựng nên những hình tượng, những bức tranh sinh ñộng… mà ở chỗ ñưa ra những lí lẽ ñanh thép, những lập luận chặt chẽ, những luận cứ hùng hồn… Trên cơ sở những ñặc trưng cơ bản của thể loại văn chính luận như thế, nhiều loại văn chính luận ra ñời với những sắc thái khác nhau dưới ngòi bút của Hồ Chí Minh, như tuyên ngôn, lời kêu gọi, báo cáo chính trị, thư từ gửi các ngành các giới, văn bút chiến, văn tiểu phẩm và các thể loại văn báo chí khác…” [54, 217]. Phong Lê với bài viết Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh con người và thơ văn [54, 244] nhận xét: thơ văn Hồ Chí Minh có sự tổng hoà, kết hợp của nhiều âm ñiệu – sự kết hợp ấy làm nên phong cách Hồ Chí Minh. Trong Lời giới thiệu (cho cuốn Văn Hồ Chủ Tịch, Nhà xuất bản Giáo dục, 1971), Huỳnh Lý nêu lên 4 ñặc ñiểm cơ bản về phong cách văn xuôi Hồ Chí Minh: tư tưởng lớn, hình thức diễn ñạt ngắn gọn, trong sáng, sinh ñộng, ung dung pha chút hóm hỉnh, “viết sâu ngọt, viết có tình”. Nguyễn Thuý Khanh với bài viết Một số ñặc ñiểm trong ngôn ngữ báo chí chính luận của Hồ Chủ Tịch (Học tập phong cách ngôn ngữ Chủ tịch Hồ Chí Minh, Viện Ngôn ngữ học, NXB Khoa học Hà Nội, 1980) cho rằng “Người ñã sử dụng lối diễn ñạt quen thuộc của quần chúng, có khả năng tạo ra sức tác ñộng mạnh ñến người ñọc, có khả năng tạo ra sức tác ñộng trong thông tin, báo chí”.

4

Trong bài viết Câu văn của Bác Hồ (Tạp chí ngôn ngữ số 4, 1970), Lê Xuân Thại ñưa ra nhận ñịnh “Trong các bài văn của Bác có nhiều cách biện luận, trong ñó có cách dùng câu hỏi, những câu hỏi loại này của Bác mang ñầy sức mạnh của logic”. Bài viết Bước ñầu tìm hiểu ngôn ngữ của Hồ Chủ Tịch qua Những lời kêu gọi (Tạp chí văn học số 6/1965), Nguyễn Phan Cảnh ñã ñưa ra những nhận ñịnh về phong cách chính luận của Người ở những ñiểm chung nhất. Với bài Tuyên ngôn ñộc lập một nghệ thuật viết văn nghệ thuật mẫu mực, dân tộc và hiện ñại (Tạp chí văn học số 3/1990), Nguyễn Quốc Tuý ñã chú trọng phân tích nghệ thuật viết văn của Hồ Chí Minh: một tác phẩm văn xuôi giàu nhịp ñiệu âm thanh, sử dụng ñiệp ngữ, ñiệp từ rất ñặc sắc, cách sử dụng từ rất chính xác và tinh tế. Tác giả khẳng ñịnh “Tuyên ngôn ñộc lập là áng văn chính luận mẫu mực”. Theo khảo sát, cho ñến nay chưa có công trình nào dành riêng ñể nghiên cứu về vấn ñề biện pháp tu từ ngữ âm và biện pháp tu từ cú pháp trong văn chính luận của Hồ Chí Minh (tuy rải rác trong các sách nghiên cứu và giảng dạy về ngôn ngữ có ñề cập ñến). Vì vậy, luận văn của chúng tôi nghiên cứu ñề tài này với hy vọng hiểu rõ hơn về văn chính luận Hồ Chí Minh từ góc nhìn ngôn ngữ học. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu – Đối tượng nghiên cứu Luận văn lựa chọn Biện pháp tu từ ngữ âm và biện pháp tu từ cú pháp trong văn chính luận Hồ Chí Minh làm ñối tượng nghiên cứu. – Phạm vi nghiên cứu Do hạn chế về mặt thời gian, chúng tôi giới hạn việc tìm hiểu biện pháp tu từ trong văn chính luận Hồ Chí Minh trong phạm vi ngữ âm và ngữ pháp. 4. Mục ñích, nhiệm vụ của ñề tài – Mục ñích của ñề tài Mục ñích của ñề tài này là tìm hiểu các biện pháp tu từ ngữ âm (nhịp ñiệu, vần, ñối, hài hoà thanh ñiệu…) và biện pháp tu từ cú pháp (những phép tu từ cú

5

pháp: phép lặp, liệt kê, nhấn mạnh thành phần câu, cách dùng câu hỏi tu từ) trong văn chính luận của Hồ Chí Minh. – Nhiệm vụ của ñề tài Luận văn ñặt ra nhiệm vụ khảo sát các biện pháp tu từ ngữ âm và biện pháp tu từ cú pháp trong các tác phẩm văn chính luận của Hồ Chí Minh, thấy ñược giá trị và hiệu quả biểu ñạt của các phép tu từ; góp phần tìm hiểu phong cách ngôn ngữ Hồ Chí Minh trong văn chính luận. Từ ñó, rút ra bài học thực tiễn trong dạy học tác phẩm của Hồ Chí Minh và bài học về sử dụng ngôn ngữ nói chung. 5. Phương pháp nghiên cứu Xuất phát từ ñặc trưng và yêu cầu của ñề tài, trong quá trình triển khai luận văn, chúng tôi kết hợp sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau: – Phương pháp thống kê, phân loại Vận dụng phương pháp này, chúng tôi có thể khảo sát ñể tìm ra và phân loại các biện pháp tu từ ngữ âm và ngữ pháp trong văn chính luận của Hồ Chí Minh. Từ ñó, xác ñịnh hiệu quả sử dụng của các biện pháp tu từ ấy. – Phương pháp phân tích Phương pháp này cho phép chúng tôi ñi sâu vào nhiều khía cạnh của vấn ñề, vừa làm rõ vấn ñề vừa tăng sức thuyết phục với những dẫn chứng và cứ liệu, lập luận cụ thể. – Phương pháp tổng hợp Phương pháp tổng hợp giúp chúng tôi dễ dàng hơn trong việc nâng cao vấn ñề, khái quát phong cách nhà văn. 6. Đóng góp của luận văn – Về lí luận Trên cơ sở các lí thuyết ngôn ngữ, luận văn góp phần làm sáng tỏ thêm lí thuyết về tu từ ngữ âm, tu từ ngữ pháp, về phong cách chính luận bằng những kết quả nghiên cứu cụ thể.

6

– Về thực tiễn Kết quả nghiên cứu luận văn nhằm phục vụ cho việc ñọc, hiểu các tác phẩm văn chính luận của Hồ Chí Minh. Những kiến giải của luận văn có thể góp phần ñịnh hướng cho người ñọc trong quá trình tiếp cận tác phẩm, ñặc biệt là các tác phẩm trong chương trình phổ thông hiện nay. 7. Cấu trúc của luận văn Chúng tôi triển khai luận văn thành ba phần: phần Mở ñầu, phần Nội dung và phần Kết luận.Tương ứng với những nhiệm vụ ñặt ra, phần Nội dung của luận văn ñược chia thành 3 chương, trình bày các vấn ñề sau: Chương 1: Cơ sở lí thuyết Chương 2: Biện pháp tu từ ngữ âm trong văn chính luận Hồ Chí Minh Chương 3: Biện pháp tu từ cú pháp trong văn chính luận Hồ Chí Minh

7

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ THUYẾT 1.1. Lí thuyết về biện pháp tu từ Lí luận về tu từ học và biện pháp tu từ xuất hiện từ rất sớm, việc nghiên cứu về vấn ñề này ñã ñạt ñược những thành tựu ñáng kể. Những thành tựu ấy phần nào cho thấy sự phát triển của ngôn ngữ học nói chung và của tu từ học nói riêng – dù nó chưa phản ánh hết ñược những gì vốn rất phong phú và phức tạp của ngôn ngữ trong quá trình sử dụng. Lí thuyết về vấn ñề này ngày càng ñược nhiều nhà ngôn ngữ học quan tâm nghiên cứu, nhờ thế nó dần ñược hoàn thiện bởi hệ thống lí luận sâu sắc. Hệ thống lí luận xuất hiện sau mang tính kế thừa hệ thống lí luận trước, ñồng thời nó bổ sung nhiều hơn những phát hiện mới mẻ, phù hợp với thực tiễn ngôn ngữ trong hoạt ñộng hành chức. Ở thời kì ñầu, nói ñến tu từ học người ta thường nhắc ñến những khái niệm như nghệ thuật diễn ñạt, thuyết phục, tranh biện… Thuật ngữ phương thức tu từ hay tu từ pháp dường như ñược sử dụng chung cho cả hai khái niệm phương tiện tu từ và biện pháp tu từ. Mặc dù vậy, các nhà nghiên cứu cũng ñã xác ñịnh và phân loại các phương thức tu từ chủ yếu: ẩn dụ, hoán dụ, phúng dụ, tượng trưng, trùng ñiệp,… Đây là những kiến thức mang tính tiền ñề lí luận, ñịnh hướng cho việc nghiên cứu vấn ñề biện pháp tu từ ở những khía cạnh khác nhau. Ở giai ñoạn sau, các nhà ngôn ngữ học thường dựa vào ñặc ñiểm cấu trúc và ñặc ñiểm ngữ nghĩa của các phương thức tu từ ñể phân loại. Chẳng hạn, V.V.Odinsov hệ thống hoá các phương thức và biện pháp tu từ thành hai nhóm: các phép tu từ thay thế (gồm hai tiểu nhóm: các phép tu từ số lượng như ngoa dụ, nói giảm và các phép tu từ chất lượng như ẩn dụ, hoán dụ, mỉa mai) và các phép tu từ kết hợp (gồm các phép ñồng nhất như so sánh, thế ñồng nghĩa; các phép không ñồng nhất như ñồng nghĩa chính xác hoá, chơi chữ, liên ngữ,… hay các phép ñối lập như ñối ngữ, nghịch dụ,…) Ngày nay, nhiều nhà ngôn ngữ dùng phổ biến thuật ngữ Phong cách học thay thế thuật ngữ Tu từ học trước ñây. Tu từ học vẫn ñược sử dụng ñể chỉ phần nghiên

8

cứu các ñặc ñiểm tu từ của các ñơn vị ngôn ngữ, các khái niệm màu sắc tu từ, biện pháp tu từ… Các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học của Việt Nam cũng có những kiến giải nhất ñịnh về tu từ học và biện pháp tu từ. Trong cuốn Từ ñiển Hán Việt, ông Phan Văn Các giải thích “tu từ là sửa sang lời văn cho hay cho ñẹp”; Tu từ học là “bộ môn ngôn ngữ học nghiên cứu những thuộc tính biểu cảm của các phương tiện ngôn ngữ ñể sử dụng làm cho lời văn hay hơn ñẹp hơn”. Không chỉ dừng lại ở việc ñưa ra những ñịnh nghĩa, hiện nay nhiều nhà ngôn ngữ học cố gắng ñưa ra những tiêu chí ñể phân chia hai bình diện phương tiện tu từ và biện pháp tu từ, bởi hai khái niệm này có sự khác biệt nhau. Cần tách bạch rõ ràng ñể tránh sự lúng túng và khó nắm bắt trong quá trình sử dụng. Phong cách học chú ý ñến sự phân chia biện pháp tu từ và phương tiện tu từ trên hai bình diện hệ thống (ngôn ngữ) và hoạt ñộng (lời nói). Nhóm tác giả của Nhập môn ngôn ngữ học nhấn mạnh “cơ sở của sự xác lập hai bình diện phương tiện tu từ và biện pháp tu từ xuất phát từ sự phân chia ngôn ngữ và lời nói trong ngôn ngữ học” [9, 417]. Các tác giả ñã ñưa ra những tiêu chí chủ yếu ñể phân ñịnh phương tiện tu từ và biện pháp tu từ: – Thành phần thông tin bổ sung của các phương tiện tu từ manh tính tương ñối ổn ñịnh, ñộc lập với ngữ cảnh, là cơ sở cho sự lựa chọn. Thành phần thông tin bổ sung nảy sinh trong các biện pháp tu từ mang bản chất ngữ cảnh. – Màu sắc tu từ của các phương tiện tu từ ñược xác ñịnh chủ yếu dựa trên mối quan hệ ñối ñoạn tính của bản thân các phương tiện trong hệ thống ngôn ngữ. Hiệu quả, giá trị phong cách của biện pháp tu từ ñược xác ñịnh chủ yếu dựa trên mối quan hệ của các yếu tố ngôn từ với ngữ cảnh tu từ. – Phương tiện tu từ thuộc về bình diện hệ thống (ngôn ngữ) còn biện pháp tu từ thuộc về bình diện hoạt ñộng (lời nói). Đinh Trọng Lạc trong cuốn “99 phương tiện và biện pháp tu từ” cũng ñưa ra những nhận ñịnh xác ñáng ñể phân biệt phương tiện tu từ và biện pháp tu từ.

9

Biện pháp tu từ là những cách phối hợp sử dụng trong hoạt ñộng lời nói các phương tiện ngôn ngữ không kể trung hoà hay diễn cảm trong một ngữ cảnh rộng ñể tạo ra hiệu quả tu từ. [40, 5] Phương tiện tu từ là phương tiện ngôn ngữ mà ngoài ý nghĩa cơ bản chúng còn có ý nghĩa bổ sung còn gọi là màu sắc tu từ . [40, 5] Tác giả cũng ñưa ra những tiêu chí nhất ñịnh ñể phân biệt 2 khái niệm phương tiện tu từ và biện pháp tu từ, những tiêu chí ấy có phần ñồng nhất với ý kiến của nhóm tác giả Mai Ngọc Chừ – Nguyễn Thị Ngân Hoa – Đỗ Việt Hùng – Bùi Minh Toán. Tóm lại, có thể nhận diện phương tiện tu từ và biện pháp tu từ qua sự khái quát sau: Phương tiện tu từ ñược nhận diện ở những ñiểm sau: – Là phương tiện ngôn ngữ, ngoài ý nghĩa cơ bản (ý nghĩa sự vật – logic) chúng còn có ý nghĩa bổ sung, còn có màu sắc tu từ. – Là những phương tiện ñược tu sức về mặt tu từ hoặc ñôi khi ñược ñánh dấu về mặt tu từ. [41, 59] – Phương tiện tu từ là những yếu tố ngôn ngữ thuộc các cấp ñộ khác nhau, ñược ñánh dấu về tu từ học trong giới hạn của một cấp ñộ nào ñó trong ngôn ngữ [40, 9] – Ý nghĩa tu từ học của phương tiện tu từ bị quy ñịnh bởi những quan hệ hệ hình của các yếu tố cùng bậc. [40, 9] – Ý nghĩa tu từ học của phương tiện tu từ ñược củng cố ở ngay phương tiện ñó [40, 9]. – Phương tiện tu từ bao giờ cũng nằm trong thế ñối lập tu từ học (tiềm tàng trong ý thức của người bản ngữ) với phương tiện tương liên có tính chất trung hoà của hệ thống ngôn ngữ. [40, 11] – Phương tiện tu từ mang tính khách quan. Các phương tiện tu từ của mỗi ngôn ngữ ñều tồn tại trong ý thức và tiềm thức của người dùng, người ta có thể sử dụng trong lời nói hằng ngày và cũng giống như các tín hiệu từ, các câu nói… người

10

quen dùng không hỏi do ai tạo ra, vậy mà cách hiểu ñều giống nhau. Các phương tiện tu từ có tính chất khách quan và mỗi phương tiện ñều có chung một mã giống nhau, ñộc lập với chủ quan người sử dụng. [37, 193] – Các phương tiện tu từ mang tính hữu hạn trong hệ thống. Biện pháp tu từ ñược nhận diện ở những ñiểm sau: – Là cách kết hợp ngôn ngữ ñặc biệt trong một hoàn cảnh cụ thể, nhằm mục ñích tu từ nhất ñịnh. – Biện pháp tu từ là cách diễn ñạt mới mẻ, ñặc sắc trong những ngữ cảnh cụ thể ñể tạo ra cái hay của ngôn ngữ. – Biện pháp tu từ là những cách phối hợp sử dụng các ñơn vị lời nói trong giới hạn của một ñơn vị thuộc bậc cao hơn. [40, 9] – Ý nghĩa tu từ học của biện pháp tu từ bị quy ñịnh bởi những quan hệ cú ñoạn giữa các ñơn vị của một bậc hay của các bậc khác nhau. [40, 9] – Ý nghĩa tu từ học của biện pháp tu từ nảy sinh ra trong ngữ cảnh của một ñơn vị lời nói nào ñó. [40, 9] – Biện pháp tu từ ñối lập với biện pháp sử dụng ngôn ngữ thông thường trong mọi hoàn cảnh, nhằm mục ñích diễn ñạt lí trí. [40, 142] – Biện pháp tu từ mang tính chủ quan thuộc về lựa chọn kĩ năng diễn ñạt của người viết. – Biện pháp tu từ mang tính vô hạn. Tuy giữa các biện pháp tu từ và các phương tiện tu từ có sự khác biệt rõ rệt như vậy nhưng giữa chúng vẫn có mối quan hệ biện chứng. Một mặt, việc sử dụng các phương tiện tu từ sẽ tạo ra các biện pháp tu từ, mặt khác việc sử dụng một biện pháp tu từ nào ñó trong lời nói cũng có thể chuyển hoá nó thành phương tiện tu từ. Hơn nữa, cùng một phương tiện tu từ có thể ñược dùng ñể xây dựng những biện pháp tu từ rất khác nhau. Ngược lại, những phương tiện tu từ khác nhau có thể tham gia vào việc xây dựng cùng một biện pháp tu từ. Sự phân chia hai phạm trù phương tiện tu từ và biện pháp tu từ cũng chỉ mang tính tương ñối. Điều quan trọng là người sử dụng ngôn ngữ cần ñặt vào hệ

11

thống và tạo ñược sự nhất quán khi xác ñịnh, miêu tả và phân tích các biện pháp tu từ cũng như phương tiện tu từ. Như vậy, có thể nói biện pháp tu từ là cách sử dụng các phương tiện ngôn ngữ nhằm ñạt hiệu quả trong cách diễn ñạt. Nói cách khác, biện pháp tu từ chú ý ñến khả năng lựa chọn các yếu tố ngôn ngữ, ñộc ñáo trong cách thể hiện, tạo ra sự mới mẻ, lạ hoá. Người sử dụng ngôn ngữ có thể ñạt tới sự sáng tạo khéo léo nếu biết sử dụng các biện pháp tu từ một cách linh hoạt ñể tạo ra hình thức diễn ñạt cho những nội dung cụ thể. Tuỳ theo các phương tiện ngôn ngữ ñược kết hợp và căn cứ vào các cấp ñộ ngôn ngữ, các biện pháp tu từ có thể ñược chia ra: Các biện pháp tu từ từ vựng – ngữ nghĩa (ñiệp từ, ñiệp ngữ, liệt kê từ vựng, tăng cấp…); biện pháp tu từ ngữ âm (ñiệp thanh, ñiệp phụ âm ñầu, hài thanh, biến nhịp…); biện pháp tu từ cú pháp (ñảo ngữ, sóng ñôi, phản cú, ñiệp cú, xen kẽ, ñề ngữ, giải ngữ…); biện pháp tu từ văn bản (rút gọn, ñiệp khúc, liên kết, bỏ lửng, nhấn mạnh…). Dựa vào ñối tượng và phạm vi nghiên cứu của ñề tài, ở chương này, luận văn chỉ tìm hiểu cụ thể vấn ñề lí thuyết biện pháp tu từ ngữ âm và biện pháp tu từ cú pháp – làm cơ sở cho việc triển khai những vấn ñề ở chương 2 và chương 3. 1.2. Lí thuyết về biện pháp tu từ ngữ âm 1.2.1. Biện pháp tu từ ngữ âm Các phương tiện ngữ âm (âm vị, âm tiết) ñược xem là những ñơn vị mang tính một mặt (khác với những ñơn vị mang tính hai mặt như hình vị, từ, câu,…), là vỏ âm thanh – cơ sở vật chất ñể biểu ñạt ý nghĩa nào ñó của ngôn ngữ. Vì ñặc ñiểm ấy mà bản thân các ngữ âm phương tiện ngữ âm chưa thể hiện rõ màu sắc tu từ. Tuy nhiên, hình thức âm thanh và nội dung ý nghĩa luôn là hai mặt song song có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, nương tựa vào nhau ñể tồn tại, hình thức âm thanh là cái biểu ñạt – phản ánh bản chất của cái ñược biểu ñạt (nội dung ý nghĩa). Vì thế, trong một chừng mực nhất ñịnh, các phương tiện ngữ âm vẫn có thể ñược sử dụng làm chất liệu ñể biểu ñạt hình tượng, cảm xúc mang tính biểu cảm. Khảo sát ñặc ñiểm ngữ âm của các phương tiện ngôn ngữ ñể tạo ra những cách phối hợp hợp lí, có giá

12

trị nghệ thuật là một trong những việc làm cần thiết ñể khai thác tối ña những ưu thế của âm thanh ngôn ngữ. Nếu biết sử dụng những phương tiện ngữ âm một cách hợp lí sẽ mang lại hiệu quả tu từ không nhỏ. Biện pháp tu từ ngữ âm là những cách phối hợp sử dụng khéo léo các âm thanh, ñem ñến cho phát ngôn (thông thường hơn cả là văn bản thơ) một cơ cấu âm thanh nhất ñịnh, nhằm tạo ra những màu sắc biểu cảm – cảm xúc nhất ñịnh. [40, 221] Ví dụ: Sử dụng khéo léo các phụ âm có thể tạo ra những giá trị biểu cảm nhất ñịnh. Vẫy vùng trong bấy nhiêu niên Làm cho ñộng ñịa kinh thiên ñùng ñùng Đại quân ñồn ñóng cõi Đông (Nguyễn Du) Sự lặp lại âm “ñ” ở những âm tiết: ñộng ñịa, ñùng ñùng, ñại, ñồn, ñóng, ñông tạo ra sự cộng hưởng ở những âm tiết có phụ âm ñầu hữu thanh, góp phần gia tăng ấn tượng mạnh mẽ về thân thế của một ñại quân. Nói ñến sự tinh tế trong việc phối hợp các yếu tố ngữ âm, người ta cũng thường nhắc ñến hai câu thơ của Tản Đà: Tài cao phận thấp chí khí uất Giang hồ mê chơi quên quê hương Sự phối hợp của các thanh bằng – trắc: câu trên chủ yếu là các âm tiết mang thanh trắc, câu dưới chủ yếu là các âm tiết mang thanh bằng tạo nên sự ñối lập trong tâm trạng của một con người. Bên cạnh ñó, còn phải kể ñến việc sử dụng các phụ âm cuối một cách hiệu quả: các phụ âm cuối tắc vô thanh /p/ trong “thấp” và /t/ trong “uất” tạo nên biểu tượng của sự nghẹn ngào trước cái trớ trêu của số phận ; các phụ âm vang mũi /n/ trong các âm tiết “giang”, “quên”, “hương” tạo nên sự dàn trải, phiêu du ; các âm tiết mở có ñộ vang lớn “hồ, mê, quê” kết hợp với các âm tiết nửa mở “chơi” cùng với 7 thanh bằng (ñối lập với 5 thanh trắc ở trên) góp phần miêu tả một tư tưởng thoát li, một tâm hồn ngao du, thoát tục.

13

1.2.2. Các biện pháp tu từ ngữ âm thông dụng Vỏ âm thanh ngôn ngữ thường ñược xem là các tín hiệu chỉ có một mặt nhưng trong những hoàn cảnh nhất ñịnh hoặc trong những cách diễn ñạt có chủ ñích người ta có thể sử dụng nó như một phương tiện mang màu sắc tu từ, có tính biểu trưng cao, giúp cho sự cộng hưởng ý nghĩa thêm phần sinh ñộng và sâu sắc. Sử dụng các biện pháp tu từ ngữ âm ñể chuyển hoá âm thanh ngôn ngữ một cách khéo léo có thể tạo ra những hiệu quả biểu cảm có giá trị. Chúng ta thường gặp các biện pháp tu từ ngữ âm như: hài thanh, hài âm, ñiệp âm, biến nhịp, ñiệp khúc… 1.2.2.1. Biện pháp hài thanh Hài thanh là biện pháp tu từ ngữ âm nhằm hài hoà các mặt ñối lập về thanh ñiệu: cao/thấp; gãy /không gãy, tức là ñối lập âm vực và ñường nét thanh ñiệu. [37, 93] Biện pháp hài thanh chủ yếu phát huy tác dụng trong những tác phẩm thơ bởi thơ ca tiếng Việt luôn chú ý ñến tính nhạc, có thể xem ñây là một trong những tiêu chí quan trọng ñể góp phần làm nên một bài thơ hay, nhất là những bài thơ ñược quy ñịnh bởi tính chất niêm luật chặt chẽ về cả vần và ñiệu. Ví dụ: Gió sao là lạ. Mây khang khác Không hiểu hay là nhịp cuối năm Hôm qua thì tiếc. Mai thì sợ Tuột cương. Trăng cũ lại trăng rằm ! (Cuối năm – Hữu Thỉnh) Các vế của câu thơ và giữa các câu thơ với nhau có sự hài hoà về thanh: âm vực thấp với âm vực cao (là lạ – khang khác – năm – tiếc – sợ – cương – rằm), các âm tiết ñi từ âm tiết mở ñến ñóng ñến nửa ñóng, từ âm có ñộ vang ít ñến âm có ñộ vang nhiều kết hợp với các dấu chấm câu bất thường ở giữa câu và mỗi chỗ xuống dòng ñều góp phần diễn tả tâm trạng hồi hộp, lo âu, giật mình trước tốc ñộ của nhịp sống. Trong văn xuôi, sự hài hoà thanh ñiệu không yêu cầu chặt chẽ như trong thơ , nhưng nếu có sự hài hoà ấy thì câu văn thêm phần sinh ñộng.

14

Ví dụ: Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông. Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc. Người có bốn ñức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính. Thiếu một mùa, thì không thành trời. Thiếu một phương, thì không thành ñất. Thiếu một ñức, thì không thành người. [18, 631] Với ngắt nhịp ñều ñặn của các cấu trúc sóng ñôi kết hợp với sự phối hợp các thanh của mỗi âm tiết cuối ngữ ñoạn ñã tạo nên hài hoà, cân ñối cho các câu văn. Có khi các âm tiết ñi liền nhau có sự nhịp nhàng với nhau (Xuân, Hạ, Thu, Đông, Đông, Tây, Nam, Bắc, Cần – Kiệm – Liêm – Chính), có khi các âm tiết ñứng xa nhau nhưng vẫn có cân xứng nhờ sự luân phiên các thanh bằng trắc của các âm tiết (mùa – phương – Bắc – ñức – trời – ñất – người), các âm tiết mở kết hợp với âm tiết ñóng (mùa – trời – người – phương- bắc – ñức – ñất), các âm tiết kết thúc bằng phụ âm vang hữu thanh ñi liền nhau (Cần, Kiệm, Liêm, Chính) tạo sự vang vọng, các âm tiết ñóng ñứng cạnh nhau (bắc – ñức – ñất) tạo sự gân guốc, dứt khoát trong lời nói. 1.2.2.2. Biện pháp hài âm Hài âm là biện pháp tu từ ngữ âm, trong ñó người ta cố ý sử dụng một cách tổng hợp các biện pháp tu từ ngữ âm nhằm tạo nên một sự phù hợp giữa hiệu quả biểu cảm – cảm xúc của hình tượng âm thanh với nội dung biểu cảm của câu thơ. [40, 226] Biện pháp hài âm chú ý ñến sự hài hoà các mặt ñối lập của âm tiết như : mở /ñóng, cao /thấp, ngắn/dài, mạnh /yếu, trầm/bổng,… ở những vị trí nhất ñịnh ñể tạo âm hưởng (ñiểm nhấn thường là những âm tiết ñứng ở cuối câu). Tính chất hài hoà này không chỉ thể hiện ở những câu thơ, lời văn riêng lẻ mà nó còn góp phần tạo ra ñặc trưng về giọng ñiệu cho cả ñoạn, cả bài. Ví dụ: Đời Trần, quân Nguyên ñánh ñâu ñược ñấy, ñánh ñược nước Tàu và nửa châu Âu, thế mà ba lần bị ông Trần Hưng Đạo ñánh tan. Bình dân như ông Lê Lợi và ông Nguyễn Huệ ñã ñánh ñuổi quân Tàu làm cho nước ta ñộc lập. Người già như ông Lí Thường Kiệt quá 70 tuổi mà vẫn ñánh ñông dẹp bắc, bao nhiêu lần ñuổi giặc cứu dân.

15

Thiếu niên như Đổng Thiên Vương, chưa ñến 10 tuổi, mà ñã ra tay cứu nước, cứu nòi, Trần Quốc Toản mới 15, 16 tuổi ñã giúp ông Trần Hưng Đạo ñánh phá giặc Nguyên. Phụ nữ thì có bà Trưng, bà Triệu ra tay khôi phục giang sơn. Những vị anh hùng ấy vì nước, vì dân mà làm nên sự nghiệp kinh thiên ñộng ñịa. Nhờ những vị dân tộc anh hùng ấy mà nước ta ñược tự do ñộc lập, lừng lẫy ở Á Đông. [16, 216] Trong ví dụ trên, người viết ñã sử dụng tổng hợp các mặt biểu ñạt âm thanh của ngôn từ ñể tạo ra sự hài hoà về âm thanh cho văn bản. 1.2.2.3. Biện pháp ñiệp âm Điệp âm là biện pháp cố ý lặp lại một số yếu tố ngữ âm nào ñó (phụ âm ñầu, vần hoặc thanh) ñể tạo ra sự cộng hưởng ý nghĩa, có tác dụng tô ñậm thêm hình tượng hoặc xúc cảm, gợi liên tưởng, ñồng thời giúp cho lời văn, lời thơ thêm nhạc tính. a. Điệp phụ âm ñầu Đây là biện pháp tu từ ngữ âm lặp lại phụ âm ñầu ñể tạo ra sự trùng ñiệp về âm hưởng, tăng tính tạo hình và diễn cảm cho câu thơ. Tuỳ theo ñặc ñiểm của phụ âm ñầu ñược chọn làm phương tiện mà nó có thể gợi những liên tưởng tinh tế khác nhau. Ví dụ: Nỗi niềm chi rứa Huế ơi Mà mưa xối xả trắng trời Thừa Thiên Sự lặp lại các cặp phụ âm ñầu n-n (nỗi niềm), m-m(mà mưa), x-x (xối xả), tr-tr (trắng trời), th – th (Thừa Thiên) một cách liên tiếp, gối ñầu lên nhau tạo nên ấn tượng mạnh mẽ về những cơn mưa triền miên, dai dẳng, khắc sâu thêm tâm trạng ñau ñáu của tác giả về Huế. b. Điệp vần Điệp vần là biện pháp tu từ ngữ âm, trong ñó người ta cố ý tạo ra sự trùng ñiệp về âm hưởng bằng cách lặp lại những âm tiết có phần giống nhau, nhằm mục ñích tăng sức biểu cảm, tăng nhạc tính cho câu thơ [40, 223].

16

Ví dụ: Cách ñiệp vần “ang” trong câu thơ: Lá bàng ñang ñỏ ngọn cây/ Sếu mang giang lạnh ñang bay ngang trời ñã thêm sức cộng hưởng cho hình ảnh khung cảnh trời ñất bao la, khoáng ñạt ñến vô cùng trong cảnh xuân sang. c. Điệp thanh Điệp thanh là biện pháp tu từ ngữ âm, trong ñó người ta sử dụng lặp lại các thanh ñiệu cùng nhóm (bằng/trắc) ñể tạo ra sự cộng hưởng về ý nghĩa, tăng tính nhạc cho câu thơ. Ví dụ:

Mục ñích thi ñua ái quốc là gì ? Diệt giặc ñói khổ, Diệt giặc dốt nát, Diệt giặc ngoại xâm… [18, 444]

Sự xuất hiện liên tục các thanh trắc trong một ngữ ñoạn lớn: Diệt giặc ñói khổ/Diệt giặc dốt nát/Diệt giặc ngoại xâm,… ñã tạo ra hơi văn ñặc biệt, góp phần nhấn mạnh mục ñích của việc “thi ñua ái quốc” ñặt ra ñồng thời thể hiện ý chí mạnh mẽ của người phát ngôn. 1.2.2.4. Biện pháp tạo nhịp ñiệu Tạo nhịp ñiệu là biện pháp tu từ ngữ âm ñược dùng chủ yếu trong văn xuôi chính luận, trong ñó người ta cốt tạo nên một âm hưởng hấp dẫn bằng những hình thức cân ñối, nhịp nhàng của lời văn, nhằm làm cho lí luận có sức thuyết phục mạnh mẽ. [40, 228] Ví dụ: Trong Việt Minh, ñồng bào ta bắt tay nhau chặt chẽ, không phân biệt gái, trai, già, trẻ, lương, giáo, giàu, nghèo… [16, 553]: nhịp ñiệu của những từ ñơn tiết phản nghĩa ñối nhau ñã tạo nên âm hưởng cho câu văn. Nhịp ñiệu của những cụm từ, những vế, những ñoạn câu ñối nhau cũng tạo nên âm hưởng riêng cho lời văn: Bất kì ñàn ông, ñàn bà, người già, người trẻ, không phân biệt tôn giáo, ñảng phái, dân tộc, hễ là người Việt Nam thì phải ñứng lên ñánh thực dân Pháp, cứu tổ quốc. Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng

17

gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy, gộc, ai cũng phải ra sức chống thực dân cứu nước. [17, 480] 1.2.2.5. Biện pháp tạo âm hưởng Biện pháp tạo âm hưởng là biện pháp tu từ ngữ âm ñược dùng chủ yếu trong văn xuôi nghệ thuật, trong ñó người ta phối hợp âm thanh, nhịp ñiệu của câu văn không phải chỉ cốt tạo ra một sự cân ñối, nhịp nhàng, uyển chuyển, êm ái, du dương, mà cao hơn thế, phải tạo ra một âm hưởng hoà quyện với nội dung hình tượng của câu văn. [40, 230] Ví dụ: Mỗi người dân Việt Nam, bất kì già, trẻ, trai, gái; bất kì giàu, nghèo, lớn, nhỏ, ñều phải trở nên một chiến sĩ ñấu tranh trên một mặt trận : Quân sự, Kinh tế, Chính trị, Văn hoá. Thực hiện khẩu hiệu: Toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến. Trong cuộc thi ñua ái quốc, chúng ta vừa kháng chiến, vừa kiến quốc. Kết quả ñầu tiên của cuộc thi ñua ái quốc là: Toàn dân sẽ ñủ ăn ñủ mặc, Toàn dân sẽ biết ñọc biết viết Toàn bộ ñội sẽ ñầy ñủ lương thực khí giới, Để giết giặc ngoại xâm. Toàn quốc sẽ thống nhất ñộc lập hoàn toàn. Thế là chúng ta thực hiện: Dân tộc ñộc lập Dân quyền tự do Dân sinh hạnh phúc [18, 444] Âm hưởng của ñoạn văn trên ñược tạo ra từ nhiều yếu tố: cách liệt kê các thành phần ñẳng lập, cách ngắt dòng, cách tách câu, sử dụng cấu trúc lặp và cách sử dụng các câu dài ngắn khác nhau, nhịp ñiệu có khi dàn trải, khi tăng tốc, khi mau

18