Xu Hướng 2/2024 # Tổng Quan Về Bệnh Viêm Tụy # Top 2 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Tổng Quan Về Bệnh Viêm Tụy được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

13-04-2011

Viêm tụy là quá trình viêm trong đó các men tụy tự tiêu hóa tuyến tụy. Tuyến tụy đôi khi có thể lành mà không bị mất mát chức năng hoặc thay đổi về hình thể. Quá trình này gọi là viêm tụy cấp. Viêm tuỵ cấp có thể tái phát nhiều lần, góp phần làm mất chức năng và thay đổi hình thể của tuyến tụy. Các đợt tái phát lâu ngày sẽ dẫn đến viêm tụy mạn. Bệnh nhân ở cả 2 thể viêm tụy cấp và mạn đều nhập khoa cấp cứu với các triệu chứng cấp tính.

A. Sinh bệnh học

– Tình trạng Viêm nhiễm lan rộng dễ dàng do tuyến tụy nằm ở khoang sau phúc mạc và không có bao che chở.

– Trong viêm tụy cấp, phù nề chủ mô và hoại tử mô mỡ quanh tụy xảy ra trước tiên. Quá trình này gọi là viêm tụy cấp phù nề. Khi chủ mô hoại tử, sẽ gây ra xuất huyết và rối loạn chức năng tuyến tụy, phản ứng viêm sẽ diễn tiến đến viêm tuỵ xuất huyết hoặc viêm tụy hoại tử.

– Nang giả tụy và abscess tụy có thể là hậu quả của viêm tụy hoại tử khi các men tiêu hóa được bao bọc lại bởi mô hạt (hình thành của nang giả tụy), hoặc do vi trùng xâm nhập vào mô tụy hay mô quanh tụy (hình thành abscess tụy). Siêu âm, hoặc tốt hơn là CT scan, có thể được dùng để phát hiện cả hai trường hợp này.

– Quá trình viêm có thể gây ra những tác động toàn thân do sự xuất hiện của các cytokines, như bradykinins và phospholipase A chẳng hạn. Các cytokines này gây dãn mạch, làm tăng tính thấm của mao mạch, gây đau, gây tập trung bạch cầu ở thành mạch. Hoại tử mô mỡ dẫn đến hạ calcium máu. Tổn thương tế bào B của tuỵ có thể dẫn đến tăng đường huyết.

B. Tần xuất

Tần xuất viêm tụy cấp chiếm từ 5 đến 80 trường hợp trên 100.000 dân, với tỉ lệ cao nhất ở người Mỹ và Phần Lan

C. Tử vong/Bệnh tật

– Những biểu hiện toàn thân của viêm tụy cấp ở thể nặng nhất bao gồm: Hội chứng suy hô hấp cấp (ARDS), suy thận cấp, suy tim, xuất huyết, sốc tụt huyết áp.

– Viêm tụy phù nề nhẹ xảy ra ở khoảng 80% trường hợp, tỷ lệ tử vong < 1%.

– Viêm tụy cấp thể nặng xảy ra ở 20% trường hợp, tỷ lệ tử vong khoảng 30%.

D. Giới tính:

Nam nữ bằng nhau.

E.Tuổi tác: Nguy cơ viêm tụy ở lứa tuổi 35-64 t cao gấp 10 lần các nhóm tuổi khác.

II. LÂM SÀNG A. Bệnh sử

– Triệu chứng chủ yếu của viêm tụy cấp là đau thượng vị hoặc đau hạ sườn phải, xuyên thấu ra sau lưng.

– Buồn nôn và nôn

– Sốt

– Hỏi bệnh nhân về các lần phẫu thuật hoặc thủ thuật xâm lấn gần đây (nội soi mật tụy ngược dòng=ERCP), về tiền sử tăng triglyceride máu gia đình.

– Bệnh nhân thường có tiền sử đau quặn mật và uống nhiều rượu, nguyên nhân hàng đầu gây viêm tụy cấp.

B. Khám thực thể

– Nhịp tim nhanh

– Thở nhanh

– Hạ huyết áp

– Sốt

– Đau bụng, trướng bụng, phản ứng thành bụng, bụng cứng

– Vàng da nhẹ

– Giảm hoặc mất nhu động ruột

– Do viêm lan tỏa từ tụy, có thể nghe thấy ran ở đáy phổi, nhất là ở phổi trái.

– Co quắp cơ ở các chi do hạ calcium máu.

– Dấu hiệu Grey Turner (vết bầm xanh 2 bên hông) trong những trường hợp nặng và dấu hiệu Cullen (vết bầm xanh ở vùng quanh rún) do xuất huyết vào khoang sau phúc mạc trong những trường hợp viêm tụy xuất huyết.

C. Nguyên nhân

– Nguyên nhân chính là uống rượu kéo dài và sỏi mật. Ở những nước phát triển, nguyên nhân hàng đầu gây viêm tụy cấp là nghiện rượu.

+ Nghiên cứu gần đây cho thấy rượu là nguy cơ chủ yếu gây viêm tụy cấp và mạn ở 44% bệnh nhân

+ Ở bình diện tế bào, ethanol dẫn đến việc tích tụ các men tiêu hóa vào khoang nội tế bào, kích hoạt và phóng thích chúng sớm.

+ Trên bình diện ống tụy, ethanol tăng tính thấm của các ống tụy nhỏ, cho phép men tiêu hóa tiếp cận với chủ mô, hậu quả là gây tổn thương tụy.

+ Ethanol tăng thành phần protein trong dịch tụy, giảm lượng bicarbonate và nồng độ của chất ức chế trypsin. Điều này dẫn đến hình thành các nút protein ngăn dòng chảy của dịch tụy và gây tác nghẽn.

– Một nguyên nhân chủ yếu khác gây viêm tụy cấp là bệnh lý sỏi mật (sỏi đường mật, sỏi ống mật chủ). Sỏi mật có thể di chuyển vào ống tụy hoặc bóng Vater gây tắc ống tụy, khiến men tiêu hóa tràn vào chủ mô tụy.

– Các nguyên nhân gây viêm tụy ít gặp hơn:

+ Thuốc men, bao gồm azathioprine, corticoid, sulfonamide, thiazide, furosemide, thuốc NSAID, mercaptopurine, methyldopa, và tetracycline

+ Chụp mật tụy ngược dòng nội soi (Endoscopic retrograde cholangiopancreatography=ERCP)

+ Tăng triglyceride máu (khi lượng triglyceride vượt quá 1000 mg có thể gây ra một đợt viêm tụy cấp.)

+ Loét dạ dày tá tràng

+ Phẫu thuật bắc cầu ở bụng và tim mạch có thể gây thiếu máu ở tụy

+ Chấn thương bụng hoặc lưng, chèn ép đột ngột tuyến tụy vào cột sống phía sau

+ Carcinôm tuyến tụy, dẫn đến tắc nghẽn dòng chảy của dịch tụy

+ Nhiễm virus, bao gồm quai bị, nhiễm virus coxsackie (tay chân miệng), cytomegalovirus (CMV), virus viêm gan, virus Epstein-Barr (EBV), và rubella

+ Nhiễm trùng, như mycoplasma

+ Ký sinh trùng đường ruột, như Ascaris, có thể chui vào và làm tắc ống tụy

+ Tụy phân đôi (pancreas divisum)

+ Rắn, bò cạp cắn

– Các yếu tố mạch máu, như thiếu máu tuỵ và viêm mạch máu

– Viêm tụy tự miễn (hiếm gặp, nguyên nhân chưa rõ ràng, với tỷ lệ mắc khoảng 0,82 trên 100.000 người)

D. Chẩn Đoán Phân Biệt

– Phình động mạch chủ bụng

– Viêm ganHepatitis

– Viêm đường mật

– Thiếu máu mạc treo

– Viêm túi mật và đau quặn mật

– Tắc đại tràng

– Sỏi đường mật

– Tắc ruột non

– Viêm dạ dày ruột

– Thủng tạng rỗng

– Viêm phúc mạc cấp

-Sỏi ống mật chủ

– Bệnh macroamylase máu

– Bệnh macrolipase máu

– Tắc ruột

– Ung thư tụy

– Hội chứng kém hấp thu

– Nhóm máu và phản ứng chéo, nếu thấy cần thiết phải truyền máu, như trong trường hợp viêm tụy xuất huyết.

– Kiểm tra đường huyết. Đường huyết có thể tăng cao do tổn thương ở tế bào B của tụy.

– Kiểm tra BUN, creatine, ion đồ (Na, K, Cl, CO 2, P, Mg); rối loạn điện giải nặng xảy ra khi có thoát dịch.

– KIểm tra amylase máu, nhất là amylase P (pancreatic amylase), vì đặc hiệu hơn cho bệnh lý tụy. Gợi ý chẩn đoán viêm tụy cấp khi amylase tăng gấp 3 lần trị số bình thường.

– Lipase máu cũng tăng và duy trì ở mức độ cao trong 12 ngày. Đối với những bệnh nhân viêm tụy mạn do nghiện rượu, lipase có thể tăng, trong khi amylase vẫn bình thường.

– Kiểm tra chức năng gan (alkaline phosphatase, SGPT, SGOT, GGT và bilirubin, đặc biệt trong những trường hợp viêm tụy do nguyên nhân từ đường mật.

– Có thể giúp xác định viêm tụy khi xét nghiệm thấy có tăng lượng peptide niệu kích hoạt trypsinogen (urinary trypsinogen activation peptide), tăng lượng trypsinogen2 huyết thanh và phức hợp trypsin 2-alpha 1 antitrypsin. Một số bệnh viện kết hợp các xét nghiệm này với những xét nghiệm đã nêu ở phần trên để chẩn đoán, đặc biệt dùng để nhận diện viêm tụy sau ERCP một cách chính xác.

B. Chẩn đoán hình ảnh

– Chụp phim KUB với bệnh nhân ở tư thế đứng để loại trừ thủng tạng rỗng (liềm hơi dưới cơ hoành). Ở những bệnh nhân viêm tụy mạn tái phát nhiều đợt, có thể quan sát thấy nhiều nốt vôi hóa quanh tụy.

– Siêu âm có thể được dùng như một xét nghiệm tầm soát. Tuy nhiên siêu âm sẽ không đặc hiệu khi ruột trướng hơi nhiều.

– CT scan là phương tiện chẩn đoán hình ảnh đáng tin cậy nhất trong viêm tụy cấp. Balthazar và cộng sự chia các tiêu chuẩn chẩn đoán thành 5 mức độ như sau:

Mức độ A – Tụy bình thường

Mức độ B – Tụy to khu trú hoặc lan tỏa

Mức độ C – Nhận thấy bất thường qua hình ảnh bóng mờ của tuyến tụy trên CT scan

Mức độ D – Quan sát thấy một ổ tụ dịch viêm hoặc hoại tử có bờ không rõ ràng

Mức độ E – 2 hoặc nhiều ổ tụ dịch có bờ không rõ ràng, hoặc sự hiện diện của hơi trong tụy hoặc chung quanh tụy

– Việc sử dụng chất cản quang tiêm tĩnh mạch có thể nguy hại cho hệ vi tuần hoàn của tụy khi có viêm tụy hoại tử nặng.

C. Các xét nghiệm khác

– Xét nghiệm para-aminobenzoic acid nước tiểu (xét nghiệm bentiromide [Chymex]) trong viêm tụy mạn để đánh giá chức năng còn lại của tụy. Ở những bệnh nhân suy tụy nặng và kém hấp thu, độ nhạy là 80-90%. Đối với những bệnh nhân có chức năng tụy rối loạn từ nhẹ đến trung bình, độ nhạy giảm xuống 37-46%.

– Xét nghiệm trypsinogen huyết thanh hoặc trypsin huyết thanh dùng để đánh giá chức năng tụy ở những bệnh nhân viêm tụy mạn. Trypsinogen huyết thanh thấp (<20 ng/mL) tương đối đặc hiệu cho viêm tụy mạn (90%), và gặp ở những trường hợp viêm tụy mạn tiến triển có tiêu mỡ.

– Cả hai xét nghiệm này đều được dùng để kiểm tra chức năng còn lại của tụy trong viêm tụy mạn.

– Luôn cắt túi mật sau khi tình trạng đã ổn định ở những trường hợp viêm tụy có nguyên nhân từ đường mật.

IV. ĐIỀU TRỊ A-Chăm sóc tại khoa cấp cứu

Đa số các trường hợp viêm tụy đến khoa cấp cứu đều được điều trị bảo tồn, và khoảng 80% sẽ đáp ứng với phương thức xử lý nói trên

– Hồi sức nước điện giải

+ Theo dõi lượng nước nhập-xuất và điều chỉnh thăng bằng kiềm toan.

+ Dùng các dung dịch muối đẳng trương, hồng cầu lắng (PRBC) nếu cần, đặc biệt trong những trường hợp viêm tụy xuất huyết.

+ Sử dụng đường truyền tĩnh mạch trung tâm và catheter Swan-Ganz ở những bệnh nhân mất dịch nhiều và huyết áp tụt thấp.

– Không cần đặt sonde dạ dày nếu bệnh nhân không nôn ói. Nếu bệnh nhân nôn ói liên tục, cần đặt sonde để giảm nhẹ triệu chứng và tránh sặc hít.

– Dùng thuốc giảm đau. Meperidine có ưu điểm hơn so với morphine do ít gây co thắt cơ Oddi.

– Kháng sinh được sử dụng nếu thấy có ung mủ ở tụy trên CT scan.

– Cần dùng kháng sinh cho những trường hợp khác như viêm tụy do đường mật có kèm viêm đường mật. Kháng sinh được chọn lựa là các loại bài tiết chủ yếu qua đường mật, như cephalosporin thế hệ 3.

– Theo dõi độ bão hòa oxygen bằng thiết bị đo SPO2, và điều chỉnh lại thăng bằng kiềm toan. Khi xuất hiện nhịp tim nhanh và đe dọa suy hô hấp, cần đặt ngay nội khí quản.

– Chọc hút vùng mô hoại tử dưới hướng dẫn của CT scan nếu thấy cần thiết.

– ERCP được chỉ định để loại bỏ sỏi ống mật chủ.

B. Hội Chẩn

Hội chẩn ngoại tổng quát trong các trường hợp sau:

– Đối với abscess tụy, phẫu thuật giúp dẫn lưu mủ và cắt lọc mô tụy hoại tử. Rửa giường tuyến tụy sau mổ.

– Phẫu thuật được thực hiện để cầm máu ở những bệnh nhân viêm tụy xuất huyết, đặc biệt khi các mạch máu chính đã bị ăn mòn sau viêm tụy cấp.

– Những bệnh nhân không cải thiện sau điều trị nội khoa tích cực hoặc có chỉ số Ranson tăng dần sẽ được chuyển đến phòng mổ. Phẫu thuật trong những trường hợp này có thể đem lại kết quả tốt hơn hoặc giúp xác định một chẩn đoán khác. Nghiên cứu cho thấy việc tiếp cận từ từ với xâm lấn tối thiểu sẽ ít gây biến chứng hơn, mặc dù tỷ lệ tử vong tương đương ở cả hai nhóm mổ hở và xâm lấn tối thiểu.

– Trong viêm tụy do bệnh từ đường mật, cắt cơ Oddi có thể giải quyết được tắc nghẽn ở ống mật chủ. Cắt túi mật để tránh tái phát sỏi túi mật.

– Trong trường hợp viêm tụy do sỏi mật, một nghiên cứu nhỏ trên 50 bệnh nhân cho thấy cắt túi mật sớm sẽ an toàn và rút ngắn được thời gian nằm viện

V. THUỐC MEN

Mục tiêu của thuốc men là giảm đau và hạn chế các biến chứng.

A. Kháng sinh

Khống chế các vi sinh vật có thể mọc trong môi trường viêm tuỵ. Dùng kháng sinh theo kinh nghiệm, dựa trên cơ sở nhiễm trùng ở tuỵ thường do các vi khuẩn đường ruột hảo khí và kỵ khí gây ra. Sau đó sẽ chọn lại kháng sinh theo kết quả kháng sinh đồ.

* Ceftriaxone (Rocephin) Là cephalosporin thế hệ 3 phổ rộng có hiệu quả trên vi khuẩn gram âm; hiệu quả thấp hơn đối với các vi khuẩn gram dương; hiệu quả tốt hơn đối với các chủng đề kháng. Ngăn chặn sự tăng trưởng của vi khuẩn bằng cách liên kết với một hoặc nhiều protein gắn kết với penicillin.

– Liều lượng

+ Người lớn:1-2 g TB/TM 1 lần/ngày hoặc chia 2 lần/ngày

+ Trẻ em:50-75 mg/kg/ngày TB/TM chia 2 lần/ngày.

– Tương tác thuốc: Probenecid làm tăng nồng độ thuốc trong máu; dùng chung với ethacrynic acid, furosemide, hoặc aminoglycoside có thể tăng độc tính thận

B-Thuốc giảm đau

Kiểm soát đau là yếu tố then chốt trong chất lượng chăm sóc, giúp bệnh nhân thoải mái, giúp tăng cường vệ sinh phổi, có tác dụng an thần, có lợi cho những bệnh nhân đau đớn do bệnh tật hay chấn thương.

* Meperidin (Demerol)

Thuốc giảm đau với nhiều tác dụng tương tự morphine. Thuốc it gây táo bón, co thắt cơ trơn, và ít ức chế phản xạ ho hơn so với morphine.

– Liều lượng

+ Người lớn:15-35 mg/giờ TM; 50-150 mg TB mỗi 3-4giờ

+ Trẻ em:1,1-1,8 mg/kg TB mỗi 3-4 giờ

– Tương tác thuốc: Tăng ức chế hô hấp và thần kinh trung ương khi kết hợp chung với cimetidine; hydantoin có thể làm giảm tác dụng của thuốc; tránh kết hợp với các thuốc ức chế protease

– Chống chỉ định:

+ Dị ứng thuốc, kết hợp với IMAO, tắc nghẽn hô hấp trên hoặc suy hô hấp đáng kể

+ Cẩn thận khi sử dụng trong chấn thương sọ não do tăng ức chế hô hấp và tăng áp lực dịch não tuỷ; cẩn thận khi sử dụng hậu phẫu và cho những bệnh nhân có tiền sử bệnh phổi vì thuốc gây ức chế phản xạ ho.

VI. THEO DÕI A. Chăm sóc nội trú

– Điều trị nội khoa bao gồm:

Hồi sức nước-điện giải: Bệnh nhân viêm tuỵ cấp mất một lượng dịch lớn vào ngăn sau phúc mạc và ổ bụng. Các thiếu hụt này cần được nhanh chóng thay thế bằng các dung dịch tinh thể hoặc dung dịch thể keo, có khi phải dùng đến 10 L trong vòng 24 giờ.

Trước kia thường không cho bệnh nhân ăn uống, nay quan niệm này đã thay đổi. Các thử nghiệm tiền cứu, ngẫu nhiên, có đối chứng đã cho thấy việc cho ăn bằng sonde tốt hơn là nuôi dưỡng bằng đường tiêm truyền để tránh tình trạng thiếu dinh dưỡng và đảo ngược sự thoái biến (catabolism) ở bệnh nhân.

Giảm đau phù hợp: Có thể dùng các dẫn xuất á phiện và tiêm ngoài màng cứng để giảm đau.

Cần dùng kháng sinh để dự phòng nhiễm trùng huyết do vi khuẩn Gram âm.

– Phẫu thuật được chỉ định khi có các biến chứng của viêm tuỵ như viêm tuỵ cấp hoại tử để loại bỏ vùng mô phù nề hoại tử, hạn chế nguồn nhiễm khuẩn, hoặc trong trường hợp viêm tuỵ cấp xuất huyết khi cơ chế viêm đã ăn mòn đến một trong các mạch máu nuôi tụy, cần phải phẫu thuật để cầm máu cấp cứu.

B. Chăm sóc ở khoa ngoại trú

Bệnh nhân cần được theo dõi định kỳ bằng khám lâm sàng, xét nghiệm amylase và lipase.

C. Chuyển bệnh

– Chuyển bệnh nhân có điểm số Ranson từ 0-2 đến bệnh viện.

– Chuyển bệnh có điểm số Ranson từ 3-5 đến khoa săn sóc đặc biệt.

D. Biến chứng

– Tụy hoại tử nhiễm trùng do hậu quả bội nhiễm vi khuẩn.

– Nang giả tụy cấp hình thành do dịch tụy xuất tiết được bao bọc lại bằng mô hạt sau một đợt viêm tụy cấp.

– Xuất huyết vào ống tiêu hóa, sau phúc mạc hoặc vào ổ bụng do ăn mòn các mạch máu lớn.

– Tắc ruột hoặc hoại tử ruột.

– Tắc ống mật chủ do abscess tụy, nang giả tụy, hoặc do sỏi mật là nguyên nhân đã gây ra viêm tụy.

– Rò tụy do rách ống tụy hoặc rách nang giả tụy.

E-Tiên lượng

– Ranson đã phát triển một loạt các tiêu chuẩn khác nhau về độ nặng của viêm tụy cấp.Hệ thống điểm số này hiện vẫn đang được sử dụng rộng rãi:

Bảng tiêu chuẩn Ranson để đánh giá Viêm tuỵ cấp Vào lúc nhập viện

Trên 55 tuổi

Trong vòng 48h đầu

Calcium huyết thanh thấp < 8 mg/dL

Độ bão hóa oxy động mạch < 60 mm Hg

– Mỗi yếu tố trên được tính cộng thêm 1 điểm vào điểm số Ranson của bệnh nhân.

– Điểm số Ranson từ 0-2 có tỷ lệ tử vong thấp nhất, và bệnh nhân có thể được điều trị ở trại bệnh thường.

– Điểm số Ranson từ 3-5 có tỷ lệ tử vong là 10-20% và bệnh nhân cần được điều trị ở khoa săn sóc đặc biệt.

– Ngoài ra còn có các thang điểm khác như Glasgow, Imrie, và APACHE II.

F. Giáo dục sức khỏe

Giáo dục bệnh nhân về bệnh viêm tụy và khuyên họ nên tránh lạm dụng rượu, tránh những yếu tố nguy cơ như các bữa ăn nhiều mỡ, các chấn thương bụng.

BS. ĐỒNG NGỌC KHANH – BV Đa Khoa Hoàn Mỹ Sài Gòn Tài liệu Tham khảo

Granger J, Remick D. Acute pancreatitis: models, markers, and mediators. Shock. Dec 2005;24 Suppl 1:45-51.

Whitcomb DC. Clinical practice. Acute pancreatitis. N Engl J Med. May 18 2006;354(20):2142-50.

Whitcomb DC, Yadav D, Adam S, Hawes RH, Brand RE, Anderson MA, et al. Multicenter approach to recurrent acute and chronic pancreatitis in the United States: the North American Pancreatitis Study 2 (NAPS2). Pancreatology. 2008;8(4-5):520-31.

van Santvoort HC, Besselink MG, Bakker OJ, Hofker HS, Boermeester MA, Dejong CH, et al. A step-up approach or open necrosectomy for necrotizing pancreatitis. N Engl J Med. Apr 22 2010;362(16):1491-502.

Aboulian A, Chan T, Yaghoubian A, Kaji AH, Putnam B, Neville A, et al. Early cholecystectomy safely decreases hospital stay in patients with mild gallstone pancreatitis: a randomized prospective study. Ann Surg. Apr 2010;251(4):615-9.

Imrie CW. Prognostic indicators in acute pancreatitis. Can J Gastroenterol. May 2003;17(5):325-8.

Pannala R, Chari ST. Autoimmune pancreatitis. Curr Opin Gastroenterol. Sep 2008;24(5):591-6.

Plock JA, Schmidt J, Anderson SE, Sarr MG, Roggo A. Contrast-enhanced computed tomography in acute pancreatitis: does contrast medium worsen its course due to impaired microcirculation?. Langenbecks Arch Surg. Apr 2005;390(2):156-63.

Taylor SL, Morgan DL, Denson KD, Lane MM, Pennington LR. A comparison of the Ranson, Glasgow, and APACHE II scoring systems to a multiple organ system score in predicting patient outcome in pancreatitis. Am J Surg. Feb 2005;189(2):219-22.

Werner J, Feuerbach S, Uhl W, Buchler MW. Management of acute pancreatitis: from surgery to interventional intensive care. Gut. Mar 2005;54(3):426-36.

Bệnh Học Viêm Tụy Cấp

Viêm tụy cấp là sự tổn thương tụy cấp tính chức năng có thể phục hồi trở lại bình thường. Viêm tụy cấp có thể tái phát nhiều lần mà không thành Viêm tụy mạn.

1. Giải phẫu bệnh

Có 4 tổn thương cơ bản: phù nề, xung huyết, hoạt tử và xuất huyết, nhưng khái quát hoá thành 2 loại Viêm tụy cấp:

Viêm tụy cấp không hoại tử: hay gặp nhất, tổn thương chủ yếu: phù nề, nhìn tụy láng bóng, sưng to, cương tụ.

Viêm tụy cấp hoại tử: loại này nặng: tụy sưng, có nhiều đám xuất huyết, có khi hoại tử như một bọc máu Các tổn thương sau vài giờ lan sang phúc mạc. Sự hoại tử nến (Cystosteatonecrosis) tạo ra những vết màu trắng vàng nhạt như vết nến (thấy ở phúc mạc, quanh thận, lách, dạ dày, gan…)

2. Các nguyên nhân thường gặp

Các tổn thương cơ giới, viêm nhiễm ở ống tụy, ống mật: sỏi mật, sỏi tụy, u gây chèn ép đường mật tụy, viêm bóng Vater, bệnh xơ tụy.

Các bệnh nhiễm khuẩn ổ bụng: viêm túi mật, viêm ruột thừa, thương hàn, leptospirose hoặc các bệnh virut (qua bị, viêm gan virut) giun đũa..

Các chấn thương do chạm mạnh vào bụng, phẫu thuật, nội soi mật tụy.

Loét dạ dày, tá tràng ăn sâu vào tụy.

Một số thuốc: corticoit, lợi tiểu, thuốc miễn dịch (Azathioprin) thuốc chống thụ thai, các loại thuốc tiêm chủng…

Chuyển hoá và nội tiết: cường tuyến cận giáp tăng calci huyết, tăng lipit máu, béo phị, thai nghén, đái đường, xơ mỡ động mạch là những yếu tố thuận lợi

Viêm tụy cấp tự phát: chưa rõ nguyên nhân.

3. Cơ chế sinh bệnh

Thuyết được thừa nhận nhiều là: “tụy tạng tự tiêu huỷ”. Tụy là tạng chứa đựng nhiều Enzym tiêu protein ở dạng chưa hoạt động (Proenzym) như trypsinogene, proelastaza, prophospholipaza, Kalicreinogen, v.v… Bình thường chỉ khi dịch tụy vào tới tá tràng, trypsinogen được men Enterokinaza của ruột hoạt hoá thành trypsin và chất trypsin này gây hoạt hoá các proenzym khác. Nếu do những yếu tố điều kiện khác nhau làm cho dịch ruột và men Enterokinaza hồi lưu trong ống tụy hoặc các độc tố, tình trạng nhiễm virus, thiếu máu cục bộ, giảm oxy mô chấn thương trực tiếp vào tụy… trypsinogen và các proenzym khác dược hoạt hoá ngay trong mô tụy sẽ xây ra “tụy tạng tự tiêu hoá” (autodigestion) tức là Viêm tụy cấp. Các enzyn tụy được kích hoạt tiêu hoá các màng tế bào, thuỷ phân các protein, thương tổn mạch máu, phù nề chảy máu, hoại tử tế bào nhu mô tụy và hoại tử mỡ. Thêm vào đó là chất bradykinin và histamin được các tế bào giải phóng ra làm tăng thêm tính thấm mạch và phù nề. Các rối loạn này xảy ra dồn dập và tổng hợp lại quá mức sẽ dẫn đến viêm tụy cấp hoại tử.

Ngoài cơ chế sinh bệnh nêu trên, người ta còn nêu thêm các yếu tố: giải phẫu, vận mạch, rối loạn thần kinh thể dịch tụy, rối loạn chuyển hoá, dị ứng, nhiễm khuẩn…

II. Triệu chứng học A. Triệu chứng lâm sàng

1. Cơ năng Đau bụng

. Đau dữ dội đột ngột (sau bữa ăn thịnh soạn: 15 – 25 %) kéo dài, không dứt cơn.

. Có khi đau quặn như sỏi mật.

. Nôn cũng không hết đau.

. Đau lan ra sau lưng, lên ngực.

Kèm theo đau: vật vã, lăn lộn, vã mồ hôi…

(Vì sao đau: – Tổn thương viêm, xung huyết tác động vào lưới thần kinh thụ cảm của tụy. – Sự đè ép vào đám rối dương do tụy to, do phù nề. – Do tăng áp lực trong ống tụy và ống Wirsung. – Dịch tụy tràn ra gây tổn thương mạc nối lớn, bé, màng bụng, ống gan).

Nôn mửa (70%)

Xảy ra sau khi đau bụng.

Nôn dai dẳng, kịch liệt, khó cầm.

Nôn ra dịch mật, nôn ra máu (nôn ra máu là nặng).

Nôn gây ra mất nước và điện giải.

Không bao giờ nôn ra phân (phân biệt với tắc ruột).

2. Thực thể

Nghèo nàn kín đáo mâu thuẫn với dấu hiệu cơ năng.

Bụng chướng nhẹ ấn đau, nhưng vẫn mềm, 40-50% có thấy phản ứng thành bụng nhẹ, ít co cứng thành bụng thực sự (10-20%) có điểm Mayo – Robson đau, hoặc hạ sườn trái đau (dấu hiệu Mallet Guy).

Nhu động ruột thường giảm hoặc mất (do liệt ruột).

Thấy các vết màu xanh nhạt quanh rốn (dấu hiệu Cullen).

Thấy vết da xanh tím, nâu xanh ở hai bên mạn sườn (dấu hiệu Tumer). Các vết da có màu do chảy máu và dị hoá hemoglobin trong ổ bụng.

Da mặt màu đỏ hoặc nâu xám (do Kalicrein tiết vào máu)

Có khi vàng da (do hoại tử gan, hoặc chèn ép ống mật)

3. Dấu hiệu toàn thân (thường biểu hiện nặng)

Hoảng hốt lo sợ, có khi ngất do quá đau, có khi trạng thái tâm thần mê sảng (rối loạn não tủy) tiên lượng xấu.

Biểu hiện sốc mức độ vừa hoặc nặng:

Mặt tái, chân tay lạnh, toát mồ hôi.

Huyết áp cao tạm thời vài ngày đầu sau giảm dần.

Đái ít, vô niệu.

Xét nghiệm: có HC, BC, trụ hạt và protein niệu. Có thể có urê máu tăng.

(Sernard giải thích: do sốc, máu qua thận ít. Do trypsin vào máu đến thận làm tổn thương cầu thận).

B. Triệu chứng xét nghiệm

Định lượng Amylaza máu và nước tiểu, tăng từ 5 – 200 lần bình thường Amylaza trở lại bình thường sau 4 – 8 ngày. Tăng Amylaza niệu chậm hơn nhưng kéo dài hơn tăng Amylaza máu. Amylaza cũng tăng trong dịch màng bụng, dịch phế mạc do Viêm tụy cấp gây

2. Các xét nghiệm máu khác

Lipaza máu: tăng kéo dài vài ngày (gần giống Amylaza)

BC tăng nhất là BC đa nhân trung tính.

Đường máu tăng cao (tiên lượng nặng).

Lipit máu tăng (Bt 4 – 7g/l)

Canxi máu giảm (bình thường 2, 35 – 2,65 mmol/1, sau 48 giờ Ca giảm nặng (Ca++bị giữ ở các thương tổn làm cho Ca++ huyết hạ, hoại tử mỡ càng rộng thì Ca++ càng hạ thấp).

Xét nghiệm methhemoglobin trong huyết thanh tăng cao trên 5mg% là một dấu hiệu của thể hoại tử.

Urê máu tăng, Bilirubin, phosphataza kiềm, SGOT tăng tạm thời vài ngày.

3. Nước tiểu

Có thể có đường niệu.

Amylaza tăng sau

– Có thể có HC, trụ hạt, protein niệu.

4. X – quang

. Không có liềm hơi.

. Không có mức nước, mức hơi.

Viêm tụy cấp có thể thấy: chướng hơi đại tràng, dạ dày tá tràng. Có thể thấy sỏi túi mật.

Chụp dạ dày có thuốc:

. Khung tá tràng dãn rộng

. Nếp niêm mạc thô dày. Dạ dày bị đẩy ra trước, có hình răng cưa.

5. Siêu âm: cho thấy tụy to, có tràn dịch quanh tụy, cho biết sỏi mật, tụy.

6. Tính chỉ số

Nếu lớn hơn 5% là Viêm tụy cấp

7. Soi ổ bụng

Thấy dịch ổ bụng màu hồng.

Thấy các vết nến ở màng bụng, ruột.

III. Chẩn đoán A. Chẩn đoán xác định

Đau bụng đột ngột (sau bữa ăn tươi), nôn không đỡ, chướng bụng, sốc.

XQ: quai ruột đầy hơi, giãn Không liềm hơi, mức nước.

Amylaza máu và nước tiểu tăng cao trên 5 lần mức thường. Tỷ số:

Lớn hơn 5 %

SOB: thấy vết nến.

SA: Tụy to, nhu mô giảm âm.

B. Chẩn đoán phân biệt

Có tiền sử DD hoặc không.

Đau lăn lộn, không sốc.

Co cứng bụng, mất vùng đục trước

XQ: có liềm hơi.

(Khi thủng vào tụy tạng mổ ra mới biết được).

2. Tắc ruột

Đau bụng, nôn (có thể nôn ra phân).

Có quai ruột nổi, bí trung đại tiện.

XQ: có mức nước, mức hơi.

3. Cơn đau bụng gan

Có tam chứng Charcot (có khi không)

SOB: biết viêm ở đâu.

Siêu âm: phát hiện sỏi, u, áp

4. Viêm phúc mạc

Có hội chứng nhiễm khuẩn, nhiễm độc.

Co cứng toàn bụng, khó thở.

Có phản ứng thành bụng.

Thăm trực tràng: Douglas đau.

Nhồi máu trong ổ bụng: (hiếm).

Đau dữ dội đột ngột.

Trên người bệnh có hẹp lỗ van hai lá (RM).

Đau bụng từng cơn, có ỉa ra máu.

SOB, mổ thăm dò mới rõ được.

6. Nhồi máu cơ tim

Đau thắt ngực điển hình.

ĐTĐ: có nhồi máu cơ tim (Q sâu, T dẹt)

Khi Viêm tụy cấp mà Ca++có hình ảnh QT dài, T thấp, dẹt.

Kết hợp khám tim và ĐTĐ để chẩn đoán.

C. Chẩn đoán thể bệnh

Viêm tụy cấp thể phù nề: hay gặp, thể nhẹ:

Đau bụng vừa phải, nằm yên tĩnh được.

Tình trạng chung ít thay đổi, không bị choáng.

Không nôn, không có phản ứng thành bụng.

Chẩn đoán nhờ: Amylaza máu cao trên 5 lần.

2. Viêm tụy cấp thể hoại tử, xuất huyết

Tình trạng nặng, đau bụng dữ dội, sốc.

Bụng căng cứng, có phản ứng thành bụng, cắt cơn đau khó khăn.

Tử vong: 25 – 30%.

Chẩn đoán nhờ mổ, hoặc giải phẫu thi thể. (Đại thể: tụy hoại tử chảy máu nặng).

3. Viêm tụy cấp nung mủ

Đau bụng, co cứng bụng, liệt ruột.

Hội chứng nhiễm trùng muộn hơn, sau vài ngày.

Chẩn đoán sau phẫu thuật.

(Đại thể: tụy có nhiều ổ mủ bằng đầu kim, trắng, vàng, khu trú vùng đầu tụy có khi gây áp xe dưới cơ hoành).

4. Các thể lâm sàng theo tiến triển của bệnh

. Bệnh cảnh nặng ngay từ đầu: đau dữ dội, nôn nhiều.

. Sốc nặng, trụy tim mạch, tử vong sau 1 – 2 ngày.

. Các triệu chứng như Viêm tụy cấp mô tả ở trên.

. Trạng thái tốt dần, xét nghiệm trở lại bình thường dần.

. Sau 3 – 5 ngày khỏi hoàn toàn, có thể có biến chứng, tử vong 10%.

Thể tái diễn hay hồi qui (pancreatite aigue récurente):

. Có các cơn Viêm tụy cấp tái phát nhiều lần

. Điều trị khỏi, ít tử vong.

. Sau khi khỏi lại tái phát, thường nhẹ.

. Hay gặp.

. Đến khám bệnh vì:

Một cấp cứu nội khoa: đau thượng vị, sốc, li bì, vật vã.

Có hội chứng suy thận cấp: đái ít, vô niệu, Ure máu tăng.

Đau thắt ngực, rối loạn tiêu hoá, chướng bụng.

Một cấp cứu ngoại: tắc ruột, viêm phúc mạc, VRT, khi mổ mới rõ.

IV. Tiến triển, biến chứng A. Tiến triển

Viêm tụy cấp: Tuy có nhiều tiến bộ về hồi sức, song vẫn là một bệnh nặng trong những ngày đầu (tử vong 20 – 40% số ca).

– ở giai đoạn sớm:

. Viêm tụy cấp hoại tử xuất huyết: tử vong 60%.

. Viêm tụy cấp phù nề: tử vong 10%.

Lý do tử vong: sức nặng, chảy máu, suy thận, Ca++ máu hạ Amylae, Glucose tăng.

Giai đoạn muộn hơn: tử vong do bội nhiễm thêm.

Sau vài ba ngày bệnh lui dần. Vẫn cần đề phòng tái phát.

B. Biến chứng

Biến chứng tại chỗ: sau 2 – 3 tuần xuất hiện một đám viêm ổ bụng.

Viêm tấy (phlegmon), áp xe hoặc u nang giả (pseudokyste) do dịch tụy chảy vào một ổ hoại tử nhu mô tụy.

U nang giả không có bờ thành riêng, về sau bọc bởi vỏ xơ. Kích thước (có thể 20 – 24cm), nang nhỏ có thể mất đi (cần theo dõi bằng siêu âm).

Có thể có cổ trướng do tụy, hoặc biến chứng ở một cơ quan lân cận với tụy như chảy máu nặng trong ổ bụng, huyết khối, tắc ruột, rò tụy.

2. Biến chứng xa, hệ thống

Suy thận cấp.

Tràn dịch phế mạc, suy hô hấp cấp.

Biến chứng tim mạch: tụt HA, ngừng tim đột ngột, thay đổi ST,

Rối loạn tâm thần.

Chảy máu đường tiêu hoá, đông máu rải rác trong lòng mạch…

Mù đột ngột do tắc mạch võng mạc (bệnh võng mạc Purtshur).

A. Nội khoa

2. Đơn cụ thể

a. Chế độ nuôi dưỡng

Hạn chế ăn tuyệt đối (diète abselue):

. Hút dạ dày tá tràng chỉ áp dụng khi nôn nhiều, giãn dạ dày.

. Điều chỉnh thể dịch: nước (trung bình 2,51/24h), cân bằng điện giải (8 – 12g Clorua natri, 1 – 2g clorua kali, calci, ma giê), bảo đảm một phần năng lượng bằng THN ưu trương.

. Từ ngày 4 – 8 phải cho ăn uống trở lại một cách tuần tự tăng dần. ở các thể nặng có rò phải cho chế độ “ăn” dinh dưỡng cao bằng ngoài đường tiêu hoá.

b. Chống đau và chống sốc

Dolosal (viên 25mg, ống 2ml: 0,l0g). Uống: 1 lần 1 viên cho 1 – 3 lần/24h.

Tiêm bắp hoặc dưới da: 1 lần 1 – 2ml cho 1 – 3 lần/24h.

(Tác dụng giảm đau nhưng không gây ra co thắt cơ oddi. Biệt dược: Pethidin, Lidol, Dolsin, Dolcontral, Dolargan).

Procain hoặc Novocain (dd l%): 40 – l00ml pha với dung dịch tiêm truyền.

Phóng bế thần kinh tạng (infiltration splanchique) phía bên trái, hoặc cả hai bên thắt lưng: Novocain dd 0,25%: 50 -100 ml.

Các thuốc liệt hạch (Haxamethinium – largactil hoặc hỗn hợp gây liệt: Largactil – phenergan Dolosal), thận trọng vì hạ huyết áp.

. Duy trì khối lượng tuần hoàn: dịch truyền nước, điện giải truyền huyết tương, albumin, máu tươi.

. Cocticoid (methylprednisolon tiêm tĩnh mạch liều cao giảm dần ở các trường hợp nặng. Nếu Viêm tụy cấp không có sốc không được cho cocticoid).

Phối hợp: Isupreterenol (Isuprel: Mỹ), aleudrine (Pháp), Snoner (Nhật) tác dụng kích thích thụ cảm thể Bêta adrenengic cấp cứu trụy tim mạch, sốc (viên: 5 – 10 -20mg ) ống Chlohydrat, sulfat: lml: 0,2 – 0,5ml).

Hòa: 1 – 5 ống (0,2mg) với 500ml Nacl dd 0,9% hoặc HTN 5%. Liều dùng: từ 0,2mg – 4mg/24h.

Chống chỉ định suy mạch vành, bệnh cao huyết áp, xơ cứng mạch não…

Dùng Prednisolon: 30 – 40mg/24h, trong thời gian nhất định. Depersolon (ống lml chứa 30mg kèm l00mg Urethan trong dung dịch nước Propylenglycol): dùng chống sốc: 30 – 90mg (1 – 3 ống) nhỏ giọt tĩnh mạch. Qua giai đoạn cấp cho uống prednisolon liều giảm dần.

c. Chống nhiễm khuẩn

Chloramphenycol (Chlorocide): 2g/24h chia nhiều lần uống.

Ampicilin 1 – 1,5/24h.

Methicilin: 4 – 3g/24h chia 4 – 6 lần tiêm bắp sâu. Tiêm tĩnh mạch: lg hòa 5ml nước cất hoặc HTL 5%, Nacl 0,9% 250ml nhỏ giọt tĩnh mạch.

Bromatropin: l/4g x 1 – 2 ống tiêm dưới da/24h.

Cimetidin, acetazolanid, somatostatin (đắt tiền), ..

e. Chống hoại tử tế bào tụy

Trasylol (Đức), hoặc Zymofren (Pháp): ống 2,5ml chứa 2500 KI (Kallicraein – Inactivator – Einheiten) hoặc l0 ml chứa 000 KI hoặc 5 ml: 5000KI. (Là một polypeptid gồm 58 acid min đặc hiệu có tác dụng làm mất hoạt tính Kallicrein, trypsin, chymotrypsin, fibrolysin, plasmin).

Viêm tụy hoại tử cấp tiêm tĩnh mạch chậm 000 – 800.000 U, tiếp tục như vậy 100 000 U trong 3 – 5 h. Các ngày sau cũng tiêm như trên cho tới khi có kết quả tốt.

Octreotide (Sandostatin): ống lml octreotide acétate: 50mcg hoặc 100 mcg/1 ống. Tác dụng ức chế bài tiết dịch tụy nội tiết isnulin, glucagon và polypeptide tụy, ức chế bài tiết dịch tụy ngoại. Dùng trong viêm tụy cấp và mạn.

Liều ngày tiêm dưới da 1 ống khi nào đỡ thì ngừng.

Chlortetracylin(Aureomycin của Pháp), Biomycin(Bun) viên 0,5-0,25. Liều dùng: 0, 1 – 0,2 mỗi lần, 5 – 6 lần cách đều /24h x 6 – 10 ngày. (Tác dụng vừa là KS vừa là ức chế men lipase).

B. Ngoại khoa

Chỉ định:

Trường hợp chẩn đoán chưa chắc chắn viêm tụy cấp với một cấp cứu ngoại

Mổ để dẫn lưu dịch tụy khi đọng lại ở hậu cung mạc nối.

Nếu có sỏi giun trong ống mật chủ, mổ lấy sỏi, giun, dẫn lưu ống mật.

Nếu có giun trong ống wirsung mổ tá tràng lấy giun và dẫn lưu ống wirsung (dẫn lưu ống Wirsung ngay cả khi không có giun).

Điều trị biến chứng: khi có u nang.

Khi viêm tụy hoại tử mổ cắt tụy hoặc dẫn lưu.

Tổng Quan Về Viêm Dạ Dày Ruột

Bù dịch đường uống hoặc truyền tĩnh mạch

Xem xét các thuốc chống tiêu chảy nếu không nghi ngờ nhiễm C. difficile hoặc là E. coli O157: H7

Điều trị kháng sinh được chỉ định trong một số trường hợp cụ thể.

Điều trị hỗ trợ là tất cả những gì hầu hết các bệnh nhân cần. Nghỉ ngơi tại giường với lối đi tiện lợi đến nhà vệ sinh hoặc giường ngủ là điều cần có. Dung dịch glucose-điện giải đường uống, nước dùng, canh canh thịt có thể ngăn ngừa mất nước hoặc điều trị mất nước nhẹ. Ngay cả khi xuất hiện nôn, bệnh nhân cũng nên uống thìa nhỏ các loại dịch trên; nôn có thể giảm đi bằng cách bù thể tích. Đối với bệnh nhân nhiễm E. coli O157: H7, bù dịch đường truyền tĩnh mạch có thể làm suy giảm mức độ nghiêm trọng của bất kỳ tổn thương thận nào khiến hội chứng hemolytic-urê tiến triển. Trẻ em có thể bị mất nước nhanh hơn nên cần được cung cấp một dung dịch bù nước phù hợp (một số có sẵn trên thị trường-xem Bù dịch đường uống). Nước giải khát có ga và đồ uống thể thao thiếu tỷ lệ đường glucose và natri chính xác thì không phù hợp, đặc biệt đối với trẻ em < 5 tuổi. Nếu trẻ bú mẹ, nên tiếp tục cho bú sữa mẹ Nếu nôn kéo dài hoặc nếu mất nước trầm trọng là triệu chứng nổi bật, truyền dịch đường tĩnh mạch bù khối lượng tuần hoàn và điện giải là cần thiết (xem Hồi sức tĩnh mạch).

Khi bệnh nhân có thể dung nạp được chất lỏng mà không bị nôn và sự thèm ăn đã bắt đầu trở lại, có thể cho bệnh nhân dần tập ăn trở lại. Các lợi ích của việc hạn chế thức ăn nhạt (ví dụ như ngũ cốc, gelatin, chuối, bánh mì nướng) hiện vẫn chưa được chứng minh. Một số bệnh nhân có không dung nạp lactose tạm thời.

Mặc dù men vi sinh dường như làm rút ngắn thời gian tiêu chảy nhưng không đủ bằng chứng cho thấy chúng ảnh hưởng đến đến các kết quả chính trên lâm sàng (như giảm nhu cầu bù dịch qua đường tĩnh mạch và/hoặc nằm viện) để có thể đưa vào sử dụng thường quy trong điều trị và dự phòng tiêu chảy do nhiễm khuẩn.

Hoạt Độ Enzym Tụy Ngoại Tiết Trên Bệnh Nhân Viêm Tụy Mạn

Viêm tụy mạn là bệnh viêm đặc trưng bởi quá trình phá hủy nhu mô tụy tiến triển, không hồi phục, dẫn tới xơ hóa nhu mô gây giảm cả chức năng tụy nội tiết và ngoại tiết. Bệnh có tỷ lệ mắc 8/100.000 dân ở châu Âu, 14,4//100.000 dân ở Nhật Bản [2]. Viêm tụy mạn lần đầu tiên được phát hiện và mô tả bởi Cawley năm 1788. Cho đến nay việc chẩn đoán viêm tụy mạn đã có nhiều tiến bộ nhờ áp dụng các phương pháp thăm dò hiện đại như siêu âm nội soi, chụp cắt lớp vi tính, chụp cộng hưởng từ, chụp mật tụy ngược dòng… Bên cạnh đó, các nghiệm pháp thăm dò chức năng tụy nội tiết và ngoại tiết đã hỗ trợ tích cực cho việc chẩn đoán và theo dõi tiến triển của bệnh viêm tuỵ mạn, từ đó đưa ra được những chỉ định điều trị thích hợp. Đánh giá chức năng tụy ngoại tiết phải dựa vào xác định hoạt độ các men tụy ngoại tiết như Protease, Lipase, Amylase trong máu, phân, nước tiểu và dịch tụy. Tại Việt Nam, đến nay vẫn chưa có nghiên cứu nào đánh giá hoạt độ các men tụy ngoại tiết trong máu và dịch tuỵ của bệnh nhân viêm tuỵ mạn, do vậy đề tài này được thực hiện với mục tiêu: 1. Xác định hoạt độ của Lipase, Amylase và Protease trong máu và trong dịch tụy của bệnh nhân viêm tụy mạn. 2. Đánh giá mối tương quan của Lipase, Amylase và Protease trong máu và trong dịch tụy của bệnh nhân viêm tụy mạn. II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 1. Đối tượng + Mẫu dịch tụy được lấy trong quá trình phẫu thuật: bộc lộ mặt trước tụy, chọc dò ống tụy chính, hút dịch tụy, bảo quản lạnh. – Phương pháp xác định hoạt độ men tụy ngoại tiết: Các xét nghiệm được thực hiện tại phòng thí nghiệm, bộ môn Hóa sinh, trường Đại học Dược Hà Nội. Hoạt độ các men tụy được tính là giá trị trung bình của 3 lần thực hiện xét nghiệm trong những điều kiện không thay đổi. + Dụng cụ máy móc: . Máy li tâm EBA 12 Hettich (Nhật Bản). . Máy điều nhiệt (Đức). . Máy đo quang U1800 Spectrophotometer (Hitachi). + Phương pháp xác định hoạt độ Protease Nguyên tắc: protein bị thủy phân dưới tác dụng của men giải phóng ra các acid amin. Lượng protein còn lại được xác định bằng cách tủa với acid tricloacetic. Tủa này phản ứng với thuốc thử Gornall tạo phức màu tím hồng. Đo quang phổ hấp thụ ở bước sóng λ = 530 nm, cuvet 1cm. Công thức tính: Đánh giá chức năng tụy ngoại tiết dựa chủ yếu vào xác đ ịnh hoạt đ ộ enzym tụy ngoại tiết trong máu và trong dịch tụy. Nghiên cứu nhằm xác định hoạt độ các enzym tụy trong máu và trong dịch tụy bệnh nhân viêm tụy mạn, đánh giá mối tương quan của các enzym tụy trong máu và trong dịch tụy. K ết quả cho thấy giá trị trung bình hoạt độ Protease trong máu là 89,27 nKatal/ml, trong dịch tụy là 107,29 nKatal/ml. Giá trị trung bình hoạt độ Amylase trong máu là 138,12 đơn vị/100 ml, trong dịch tụy là 542,73 đơn vị/100 ml. Giá trị trung bình hoạt độ Lipase trong máu là 11,88 đơn vị Bondi, trong dịch tụy là 51,65 đơn vị Bondi. Hệ số tương quan giữa Protease, Amylase và Lipase trong máu và trong dịch tụy tương ứng là 0,277; 0,226 và – 0,148. K ết luận: có suy giảm chức năng tụy ngoại tiết ở bệnh nhân viêm tụy mạn và không có tương quan tuyến tính giữa hoạt độ enzym tụy trong máu và trong dịch tụy.

Tổng Quan Về Bệnh Lý Tủy Sống

Tủy sống kéo dài từ hành não ở ngang mức lỗ chẩm xuống dưới và kết thúc ở các đốt sống thắt lưng trên, thường là giữa L1 và L2, ở đó nó tạo thành nón tủy. Trong vùng thắt lưng cùng, các rễ thần kinh từ các đoạn tủy ở thấp đi xuống trong ống sống trong một bó gần như đứng dọc, tạo thành đuôi ngựa.

Chất trắng ở ngoại vi của tủy sống có chứa các dải đi lên và đi xuống của các sợi thần kinh vận động và cảm giác có myelin. Chất xám hình chữ H ở trung tâm gồm các thân tế bào và các sợi không myelin (xem Hình: Dây thần kinh sống.). Các sừng trước (phía bụng) của “chữ H” chứa các nơ-ron vận động dưới, nơi nhận xung động thần kinh từ vỏ não vận động qua các dải vỏ tủy đi xuống và, ở từng đốt tủy, từ các nơ-ron trung gian và các sợi hướng tâm từ các thoi cơ. Các sợi trục của các nơ-ron vận động ở dưới là các sợi thần kinh đệm của dây thần kinh cột sống. Sừng sau (lưng) có chứa các sợi thần kinh cảm giác có nguồn gốc từ các tế bào trong hạch gốc của vây lưng. Chất xám cũng chứa nhiều nơ-ron trong mạng có động cơ, giác quan hoặc phản xạ từ phía sau của rễ thần kinh ở bụng, từ một phía của dây điện đến dây kia, hoặc từ một dải dây khác.

Đường spinothome truyền cảm giác đau và cảm giác nhiệt độ dưới xương sống; hầu hết các vùng khác truyền tải thông tin một cách đồng thời. Dây được chia thành các phân đoạn chức năng (mức độ) tương ứng xấp xỉ với các phần đính kèm của 31 cặp rễ thần kinh cột sống.

Triệu chứng cơ năng và thực thể

Các bệnh lý tủy sống gây ra nhiều dạng tổn thương khác nhau, tùy vào phần bị tổn thương là đường dẫn truyền thần kinh trong tủy, hay rễ thần kinh ngoài tủy. Các bệnh lý ảnh hưởng đến dây thần kinh sống, nhưng không trực tiếp ảnh hưởng đến tủy sống, sẽ gây ra các bất thường về vận động cảm giác, hoặc cả hai, chỉ tại các khu vực chịu sự chi phối của dây đó.

Rối loạn chức năng tủy gây ra:

Tổn thương chức năng có thể không hoàn toàn. Các bất thường về phản xạ và thần kinh tự chủ thường là dấu hiệu khách quan nhất của rối loạn chức năng tủy sống; các bất thường cảm giác mang ít tính khách quan nhất.

Tổn thương bó vỏ não- gai gây rối loạn chức năng neuron vận động. Các tổn thương cấp tính mức độ nặng (nhồi máu, chấn thương) gây sốc tủy đi kèm biểu hiện liệt mềm (giảm trương lực cơ, giảm phản xạ, Babinski âm tính). Sau vài ngày hoặc vài tuần, rối loạn chức năng nơ-ron vận động trên sẽ phát triển thành tình trạng co giật (tăng trương cơ, tăng phản ứng và rung giật). Phản xạ Babinski dương tính và có rối loạn chức năng thần kinh tự động. Liệt mềm kéo dài trên một vài tuần cho thấy rối loạn chức năng nơ ron vận động thấp hơn (ví dụ, do hội chứng Guillain-Barré).

Các hội chứng tủy cụ thể bao gồm (xem Bảng: Tủy sống):

Hội chứng đuôi ngựa, gây tổn thương rễ thần kinh ở phần đuôi ngựa cuối cột sống, không phải là một hội chứng cột sống. Tuy nhiên, nó khá giống với hội chứng nón tủy cùng, gây ra liệt hai chân phía ngoại vi, mất cảm giác quanh hậu môn và vùng đấy chậu (khu vực yên ngựa), rối loạn chức năng bàng quang, ruột và sinh dục (lưu thông nước tiểu, tần số tiểu tiện, tiểu không tự chủ , rối loạn cương dương, mất trương lực cơ thắt hậu môn, mất phản xạ hành hang và phản xạ thắt hậu môn). Không giống hội chứng nón tủy, trong hội chứng đuôi ngựa, trương lực cơ và phản xạ gân xương giảm.

Tổn thương thần kinh phân bố theo các mức tiết đoạn da gợi ý bệnh lý tủy sống. Các tổn thương tương tự, đặc biệt nếu xuất hiện một bên, gợi ý bệnh lý rễ thần kinh hoặc thần kinh ngoại biên, thường phân biệt được trên lâm sàng. Mức độ và mô hình rối loạn chức năng tủy sống giúp xác định sự hiện diện và vị trí của tổn thương tủy sống, nhưng không phải lúc nào giúp xác định loại tổn thương.

MRI là phương pháp chẩn đoán hình ảnh chính xác nhất đối với bệnh lý tủy sống; MRI cho thấy tổn thương tủy sống, tổn thương mô mềm (ví dụ áp xe, khối máu tụ, khối u, bất thường đĩa đệm) và các tổn thương xương (tiêu xương, phì đại xương nặng, lún xẹp, gãy, chệch đĩa đệm, khối u).

Phẫu thuật chụp quang tuyến với thuốc nhuộm phóng xạ và CT sau đó được sử dụng ít hơn. Nó không chính xác như MRI và xâm lấn hơn nhưng có thể dễ dàng hơn.

Các tia X có thể giúp phát hiện các tổn thương xương.

Bệnh Viêm Tụy Cấp Và Phương Pháp Điều Trị Hiện Nay

BỆNH VIÊM TỤY LÀ GÌ?

Viêm tụy là thuật ngữ dùng để mô tả tình trạng viêm ở tuyến tụy. Tụy tạng là một tuyến phẳng dài nằm ẩn phía sau dạ dày ở vùng bụng trên. Tụy phóng thích các men tiêu hóa vào ruột non để giúp tiêu hóa thức ăn và tiết ra hormone insulin và glucagon để điều chỉnh đường huyết (glucose). Có hai loại viêm tụy: cấp tính và mạn tính.

Viêm tụy cấp tính là tình trạng viêm đột ngột trong một khoảng thời gian ngắn. Độ nghiêm trọng của bệnh thay đổi từ mức gây khó chịu nhẹ cho đến gây nguy hiểm đến tính mạng. Hầu hết những người bị viêm tụy cấp tính đều hồi phục hoàn toàn sau khi được điều trị đúng cách. Trong trường hợp bệnh nặng, viêm tụy cấp tính có thể dẫn đến xuất huyết tụy, tổn thương mô nghiêm trọng, nhiễm trùng và hình thành nang giả tụy. Viêm tụy nặng cũng có thể gây tổn hại cho cơ quan quan trọng khác như tim, phổi, thận;

Viêm tụy mạn tính là viêm tụy lâu dài và thường xảy ra sau một đợt viêm tụy cấp tính. Uống rượu nhiều cũng là một nguyên nhân chính gây bệnh. Thiệt hại đến tuyến tụy từ việc sử dụng nhiều rượu có thể không gây ra triệu chứng trong nhiều năm nhưng sau đó đột nhiên phát triển các triệu chứng viêm tụy nặng.

NGUYÊN NHÂN GÂY VIÊM TỤY LÀ GÌ?

Những Nguyên Nhân Nào Hay Dẫn Đến Viêm Tụy Cấp

Các nguyên nhân phổ biến nhất (hơn 70% trường hợp) của viêm tụy cấp là: sỏi mật và rượu

+ Sỏi mật: Sỏi mật gây ra khoảng 40% các trường hợp viêm tụy cấp khi nó bị tắc ở ống mật chung.

+ Rượu: Sử dụng rượu gây ra khoảng 30% các trường hợp viêm tụy cấp và thường chỉ xảy ra sau khi sử dụng rượu nặng. Nguy cơ viêm tụy tăng lên khi tăng lượng rượu (4 đến 7 ly mỗi ngày ở nam giới và từ 3 ly mỗi ngày ở phụ nữ).

+ Thuốc: Nhiều loại thuốc có thể gây kích ứng tuyến tụy. Thông thường, tình trạng viêm sẽ hết khi dừng thuốc. Các loại thuốc như thuốc ức chế men chuyển angiotensin, azathioprine, furosemide, pentamidine, thiazid,..

+ Virus có thể gây viêm tụy, thường tồn tại trong thời gian ngắn. Các loại vi-rút như quai bị, vius coxackie và cytomegalovirus

+ Tăng Triglycerid máu

+ Tăng canxi máu (cường tuyến cận giáp,..)

+ Tổn thương tuyến tụy do phẫu thuật hoặc nội soi đường mật, sau chấn thương

+ Ung thư tuyến tụy, hoặc tắc nghẽn ống tụy

+ Viêm tụy cấp do nhiễm trùng: Salmonella, Legionella pneumophila ở trong nước,…

+ Viêm tụy cấp do bệnh viêm mạn tính: viêm mao mạch dị ứng, viêm nút quan động mạch, viêm ruột mạn tính,..

+ Mang thai (hiếm)

Viêm tụy không rõ nguyên nhân

CÁC TRIỆU CHỨNG VÀ BIẾN CHỨNG CỦA BỆNH VIÊM TỤY CẤP

Những Triệu Chứng Của Bệnh Viêm Tụy Cấp Tính:

+ Cơn đau bắt đầu từ bụng phía trên, sau đó lan sau lưng. Cơn đau bụng có thể trầm trọng hơn khi ăn uống, đặc biệt là sau khi ăn thực phẩm giàu chất béo;

+ Sưng và chướng bụng;

+ Buồn nôn và ói mửa;

Sốt;

+ Tăng nhịp tim.

Những Biến Chứng Thường Gặp Của Bệnh Viêm Tụy Cấp

Biến chứng: hầu hết sẽ ổn định trong vòng 7-10 ngày mà không có biến chứng. + Khoảng 13-20% sẽ kéo dài và có biến chứng. Các biến chứng chính của viêm tụy cấp là:

+ Hạ huyết áp, sốc, suy đa cơ quan

+ Tổn thương các cơ quan khác: viêm phúc mạc, viêm phổi, tim,…

+ Tắc ruột

+ Tụy dịch quanh tụy và nang giả tụy.

+ Viêm tụy hoại tử và viêm tụy xuất huyết.

+ Áp xe tụy

+ Bệnh não do tụy

+ Viêm tụy mãn tính

KHI NÀO BẠN CẦN GẶP BÁC SĨ?

Hãy liên lạc với bác sĩ nếu bạn bị đau bụng dai dẳng. Bạn hãy đến gặp bác sĩ ngay lập tức nếu bị đau bụng nghiêm trọng mà không thể ngồi yên hoặc không có tư thế giảm đau.

Nếu bạn có bất kỳ dấu hiệu hoặc triệu chứng nêu trên hoặc có bất kỳ câu hỏi nào, xin vui lòng tham khảo ý kiến bác sĩ. Cơ địa mỗi người là khác nhau. Vì vậy hãy hỏi ý kiến bác sĩ để lựa chọn được phương án thích hợp nhất.

XÉT NGHIỆM VÀ CHẨN ĐOÁN VIÊM TỤY CẤP

Khi xét nghiệm thấy nồng độ amylase trong máu và nước tiểu tăng cao. Mặc dù không phải là xét nghiệm đặc hiệu cho riêng bệnh VTC nhưng nếu bệnh nhân có các triệu chứng điển hình, kết hợp với nồng độ amylase cao sẽ nhiều khả năng hướng tới chẩn đoán viêm tụy cấp.

Các chẩn đoán hình ảnh đặc biệt có giá trị trong viêm tụy cấp. Các chẩn đoán hình ảnh này bao gồm chụp phim bụng không chuẩn bị, siêu âm ổ bụng, đặc biệt là chụp cắt lớp vi tính khi chụp không chuẩn bị hay siêu âm ổ bụng bị hạn chế do bụng quá trướng, thành bụng dày… thì phương pháp này sẽ cho thấy hình ảnh chi tiết trong viêm tụy, mức độ viêm để có hướng xử trí phù hợp. Hiện nay người ta thường dùng phân loại balthazar để đánh giá Viêm tụy cấp trên hình ảnh chụp cắt lớp vi tính.

Nếu không được chẩn đoán và xử trí kịp thời, viêm tụy cấp có thể diễn biến thành hoại tử tụy, thường hoại tử tụy ít khi khu trú mà lan rộng do hiện tượng tự tiêu của tuyến tụy dưới tác động của các men tiêu protein và lipid được hoạt tác ngay trong lòng tuyến tụy. Tiếp theo đó sẽ dẫn đến chảy máu tụy, thậm chí gây hoại tử tụy các tạng xung quanh như hoại tử mạch mạc treo gây chảy máu trong ổ bụng, gây thủng tá tràng, đại tràng… muộn hơn sẽ biến chứng thành áp-xe tụy. Bệnh nhân tử vong do chảy máu, sốc nhiễm khuẩn, tỷ lệ tử vong do VTC có thể tới trên 15%, và tử vong trong VTC do rượu cao gấp 3 lần so với tử vong trong VTC do sỏi hoặc giun.

CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ BỆNH VIÊM TỤY CẤP HIỆU QUẢ HIỆN NAY

Điều trị bệnh viêm tụy thường đòi hỏi phải nhập viện. Một khi tình trạng của bạn tại bệnh viện ổn định và viêm tụy được kiểm soát, các bác sĩ có thể điều trị các nguyên nhân cơ bản của bệnh viêm tụy. Các phương pháp điều trị bệnh viêm tụy bao gồm:

– Nằm Viện Để Ổn Định Viêm Tụy: Nếu bạn đang mắc bệnh viêm tụy, bác sĩ có thể khuyên bạn đến bệnh viện để được chăm sóc. Các phương pháp điều trị ban đầu để giúp kiểm soát tình trạng viêm ở tuyến tụy và làm cho bạn cảm thấy thoải mái hơn bao gồm:

– Nhịn ăn: Bạn sẽ ngừng ăn trong một vài ngày tại bệnh viện để tuyến tụy có thời gian để hồi phục. Một khi tình trạng viêm tuyến tụy được kiểm soát, bạn có thể bắt đầu uống chất lỏng trong suốt (ví dụ như nước lọc) và ăn thức ăn nhạt. Dần dần, bạn có thể quay trở lại chế độ ăn uống bình thường. Nếu bệnh viêm tụy vẫn còn và bạn vẫn bị đau bụng khi ăn, bác sĩ có thể đề nghị sử dụng dung dịch dinh dưỡng tĩnh mạch để giúp bạn có được chế độ dinh dưỡng tốt;

– Thuốc Giảm Đau: Viêm tụy có thể gây ra cơn đau dữ dội, Bác sĩ sẽ cung cấp cho bạn các loại thuốc giúp kiểm soát cơn đau;

– Thuốc truyền tĩnh mạch (IV): Viêm tụy nặng có thể làm bạn bị tràn dịch ổ bụng và mất nước do nôn mửa nhiều. Vì vậy, bạn sẽ được truyền nhiều dung dịch điện giải thông qua tĩnh mạch ở cánh tay trong thời gian nằm viện.

– Khi bệnh viêm tụy đã được kiểm soát, bác sĩ có thể điều trị các nguyên nhân cơ bản của bệnh viêm tụy. Phương pháp điều trị sẽ phụ thuộc vào nguyên nhân gây ra bệnh viêm tụy, có thể bao gồm:

+ Can thiệp lấy sỏi đường mật;

+ Phẫu thuật túi mật;

+ Phẫu thuật tụy;

+ Điều trị bệnh nghiện rượu.

Viêm tụy mạn tính có thể cần các biện pháp bổ sung, tùy thuộc vào tình hình của bạn.

– Phương pháp điều trị khác cho viêm tụy mạn tính có thể bao gồm:

+ Kiểm soát cơn đau;

+ Phẫu thuật;

+ Bổ sung các enzyme để cải thiện tiêu hóa;

+ Những thay đổi trong chế độ ăn uống.

+ Chế độ sinh hoạt phù hợp

CÁCH PHÒNG NGỪA BỆNH VIÊM TỤY CẤP HIỆU QUẢ

Bạn có thể kiểm soát bệnh này nếu áp dụng các biện pháp sau:

– Ngừng uống rượu: Nếu bạn không thể ngừng uống rượu, hãy hỏi bác sĩ để được giúp đỡ. Bác sĩ có thể giới thiệu các biện pháp giúp bạn ngừng uống rượu;

– Bỏ thuốc lá: Nếu bạn có thói quen hút thuốc thì hãy bỏ. Nếu bạn không thể bỏ thuốc, hãy hỏi bác sĩ để được giúp đỡ. Bác sĩ có thể giúp bạn ngừng hút thuốc;

– Chọn một chế độ ăn uống ít chất béo: Bạn hãy chọn một chế độ ăn uống hạn chế chất béo và ăn nhiều các loại trái cây tươi và rau quả, ngũ cốc nguyên hạt và protein không mỡ;

– Uống nhiều nước: Viêm tụy có thể gây mất nước, bạn hãy uống nước đều đặn. Bạn có thể mang một chai nước bên mình khi đi đâu đó.

Nếu bạn có bất kỳ câu hỏi nào, hãy tham khảo ý kiến bác sĩ để được tư vấn phương pháp hỗ trợ điều trị tốt nhất.

Viêm tụy cấp thường xảy ra trong bệnh cảnh sau một bữa ăn thịnh soạn hoặc uống nhiều rượu. Người bệnh sẽ có cảm giác đau bụng rất dữ dội và ói liên tục. Ngoài ra, một số nguyên nhân khác cũng gây viêm tụy như sỏi tụy, tăng triglyceride máu, tăng canxi máu.

Viêm tụy mạn ngược lại diễn ra trong âm thầm, người bệnh chỉ thỉnh thoảng thấy đầy bụng, khó tiêu. Nếu hiện tượng viêm diễn ra lâu dài, tụy bị phá hủy dần dần và chức năng nội tiết cũng như ngoại tiết bị suy yếu. Để ngừa viêm tụy, bạn nên bỏ rượu, ăn chế độ ăn ít béo, giàu chất xơ và điều trị rối loạn mỡ máu. Nếu bạn có thắc mắc gì về bệnh, hãy liên hệ thêm với bác sĩ để có thêm những tư vấn cần thiết.

Nguyễn Ngọc

Cập nhật thông tin chi tiết về Tổng Quan Về Bệnh Viêm Tụy trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!