Xu Hướng 2/2023 # Tổng Quan Thị Trường Trái Phiếu # Top 4 View | Phauthuatthankinh.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Tổng Quan Thị Trường Trái Phiếu # Top 4 View

Bạn đang xem bài viết Tổng Quan Thị Trường Trái Phiếu được cập nhật mới nhất trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Thị trường trái phiếu Việt Nam hình thành từ những năm 1990 và bắt đầu phát triển từ năm 2000. Trong giai đoạn từ 2011 đến nay, thị trường trái phiếu đã phát triển mạnh nhằm đáp ứng yêu cầu huy động vốn của Chính phủ, chính quyền địa phương, các ngân hàng chính sách và doanh nghiệp. Khuôn khổ pháp lý cho hoạt động của thị trường trái phiếu được ban hành đầy đủ, đồng bộ từ cấp Luật, Nghị định đến Thông tư hướng dẫn.

1. Thị trường trái phiếu Chính phủ

Thị trường trái phiếu chính phủ (TPCP) đóng vai trò then chốt trên thị trường trái phiếu, nhằm đáp ứng 2 mục tiêu (i) là kênh huy động vốn hiệu quả cho NSNN và (ii) là thị trường chuẩn cho thị trường tài chính. Theo đó, thị trường TPCP Việt Nam đã từng bước phát triển để đảm nhiệm được cả 2 mục tiêu này.

– Về mục đích phát hành: TPCP do Bộ Tài chính phát hành nhằm mục đích huy động vốn cho NSNN.

– Về kế hoạch phát hành: Kế hoạch phát hành TPCP được Kho bạc Nhà nước công bố hàng năm. Ngoài ra, tại thời điểm đầu quý, KBNN công bố khối lượng phát hành dự kiến trong quý chia theo từng kỳ hạn để các nhà đầu tư chủ động bố trí nguồn vốn tham gia vào các phiên phát hành TPCP.

– Về phương thức phát hành: TPCP được phát hành theo các phương thức (i) đấu thầu (ii) bảo lãnh (iii) bán lẻ. Sau khi phát hành, TPCP được đăng lý, lưu ký tại Trung tâm Lưu ký Chứng khoán và niêm yết, giao dịch tại Sở GDCK nhằm tăng tính thanh khoản của trái phiếu. Hiện tại, chủ yếu TPCP được phát hành theo hình thức đấu thầu tại Sở giao dịch Chứng khoán Hà Nội.

– Về nhà tạo lập thị trường:  Nhà tạo lập thị trường là đối tượng duy nhất được tham gia vào các phiên phát hành TPCP, trái phiếu chính phủ bảo lãnh theo phương thức đấu thầu để mua trái phiếu cho chính mình hoặc mua cho khách hàng. Hàng năm, Bộ Tài chính đánh giá, xếp hạng về mức độ tham gia của nhà tạo lập thị trường theo các tiêu chí: (i) tình hình tài chính doanh nghiệp, (ii) sự tham gia trên thị trường sơ cấp (iii) sự tham gia trên thị trường thứ cấp. Căn cứ vào báo cáo của nhà tạo lập thị trường , cơ sở dữ liệu, các tiêu chí xếp hạng và tỷ trọng đánh giá của từng tiêu chí đã công bố, Bộ Tài chính thực hiện đánh giá và xếp hạng nhà tạo lập thị trường. Kết quả đánh giá, xếp hạng nhà tạo lập thị trường được công bố trên trang tin điện tử của Bộ Tài chính, Kho bạc Nhà nước và Sở Giao dịch chứng khoán.

2. Thị trường trái phiếu chính phủ bảo lãnh

Thị trường trái phiếu Chính phủ bảo lãnh là kênh huy động vốn cho (i) các doanh nghiệp (ii) ngân hàng chính sách của nhà nước và (iii) tổ chức tài chính, tín dụng thuộc đối tượng được cấp bảo lãnh Chính phủ theo quy định tại Điều 32, Điều 33 của Luật Quản lý nợ công.

– Hiện tại, đối tượng phát hành TPCPBL chủ yếu trên thị trường trong nước là Ngân hàng Phát triển Việt Nam và Ngân hàng Chính sách xã hội, nguồn vốn từ phát hành trái phiếu Chính phủ bảo lãnh được sử dụng để thực hiện các chương trình tín dụng có mục tiêu của nhà nước.

Về phương thức phát hành:

+ Doanh nghiệp phát hành TPCPBL theo phương thức: đấu thầu, bảo lãnh, đại lý, bán lẻ (chỉ đối với doanh nghiệp phát hành là tổ chức tín dụng). Việc tổ chức phát hành TPĐCPBL của doanh nghiệp thực hiện theo quy định về phát hành trái phiếu doanh nghiệp.

+ Các NHCS phát hành TPĐCPBL theo phương thức đấu thầu, đại lý và được áp dụng quy trình, thủ tục về phát hành TPCP theo phương thức đấu thầu, đại lý để phát hành TPĐCPBL.

Hiện tại, các NHCS chỉ thực hiện phát hành TPĐCPBL theo phương thức đấu thầu tại Sở GDCK Hà Nội; theo đó, chỉ có thành viên đấu thầu được tham gia vào các phiên phát hành TPĐCPBL theo phương thức đấu thầu, thành viên đấu thầu có thể mua cho chính mình hoặc mua cho khách hàng. TPĐCPBL sau khi phát hành được đăng lý, lưu ký tại Trung tâm Lưu ký chứng khoán và niêm yết, giao dịch tại Sở GDCK.

3. Thị trường trái phiếu chính quyền địa phương

Thị trường trái phiếu chính quyền địa phương là kênh huy động vốn cho chính quyền địa phương.

Về mục đích phát hành: Trái phiếu chính quyền địa phương được phát hành để đầu tư cho các chương trình, dự án thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách địa phương.

Về phương thức phát hành: TPCQĐP được phát hành theo phương thức: đấu thầu, bảo lãnh và đại lý phát hành. Hiện tại, các địa phương thường phát hành trái phiếu theo phương thức đấu thầu, bảo lãnh phát hành. Sau khi phát hành, TPCQĐP được đăng ký, lưu ký tại Trung tâm lưu ký Chứng khoán và được niêm yết, giao dịch tại Sở Giao dịch Chứng khoán theo yêu cầu của chủ thể phát hành.

4. Thị trường trái phiếu doanh nghiệp

Thị trường trái phiếu doanh nghiệp là kênh huy động vốn cho các doanh nghiệp để phát triển sản xuất kinh doanh. Trái phiếu doanh nghiệp được phát hành theo 2 hình thức, gồm (i) phát hành ra công chúng (ii) phát hành riêng lẻ.

– Đối với trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ:

+ Mục đích phát hành: Doanh nghiệp phát hành trái phiếu để (i) Đầu tư cho các chương trình, dự án (ii) Tăng quy mô vốn hoạt động (iii) Tái cơ cấu nợ.

+ Về phương thức phát hành: trái phiếu doanh nghiệp được phát hành theo một trong ba phương thức: đấu thầu, bảo lãnh; bán lẻ (chỉ đối với doanh nghiệp phát hành là tổ chức tín dụng).

– Đối với trái phiếu doanh nghiệp phát hành ra công chúng, điều kiện chào bán, hồ sơ đăng ký chào bán thực hiện theo quy định của Luật Chứng khoán, Nghị định 58/2012/NĐ-CP hướng dẫn thực hiện một số điều của Luật Chứng khoán và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán và Nghị định 60/2014/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 58/2012/NĐ-CP.

Bộ Tài Chính: 5 Giải Pháp Phát Triển Thị Trường Trái Phiếu

Bộ Tài chính cho biết, trong năm 2017 và các năm tới sẽ tập trung vào 5 giải pháp nhằm mục tiêu phát triển thị trường trái phiếu ổn định, cấu trúc hoàn chỉnh, mở rộng cơ sở nhà đầu tư, tăng quy mô và chất lượng hoạt động…

Thứ nhất, về khung khổ chính sách, sẽtiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các chủ thể huy động vốn qua thị trường trái phiếu, thu hút sự tham gia của các nhà đầu tư đặc biệt là nhà đầu tư dài hạn, tăng cường công khai minh bạch trong quá trình huy động vốn trái phiếu. Theo đó, trong năm 2017, Bộ Tài chính dự kiến sẽ trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Lộ trình phát triển thị trường trái phiếu giai đoạn 2017-2020 tầm nhìn đến 2030 với đầy đủ các giải pháp để phát triển thị trường trái phiếu; trình Chính phủ ban hành Nghị định thay thế Nghị định 90/2011/NĐ-CP về phát hành trái phiếu doanh nghiệp để tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp huy động vốn trái phiếu, tăng cường minh bạch hóa và công khai thông tin trong quá trình huy động vốn. Đánh giá quá trình triển khai Nghị định số 01/2011/NĐ-CP ngày 5/1/2011 về phát hành trái phiếu Chính phủ, trái phiếu chính phủ bảo lãnh và trái phiếu chính quyền địa phương. Thứ ba, về cầu của thị trường: Đa dạng hóa các nhà đầu tư trên thị trường trái phiếu, tập trung phát triển nhà đầu tư dài hạn để tạo cầu bền vững thông qua các giải pháp đổi mới cơ chế đầu tư của Bảo hiểm xã hội Việt Nam trên thị trường trái phiếu theo quy định tại Nghị định 30/2016/NĐ-CP của Chính phủ. Phát triển hệ thống nhà đầu tư dài hạn như các quỹ đầu tư, hệ thống quỹ hưu trí tự nguyện; khuyến khích các doanh nghiệp bảo hiểm đặc biệt là bảo hiểm nhân thọ tăng tỷ lệ đầu tư vào trái phiếu. Xây dựng lộ trình thu hút nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào thị trường trái phiếu. Thứ tư, về phát triển các định chế trung gian và hạ tầng của thị trường:Thực hiện hoàn thiện và phát triển hệ thống các nhà tạo lập thị trường theo thông lệ quốc tế để thực hiện chức năng tạo lập thị trường trên cả thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp. Tái cơ cấu các tổ chức trung gian hoạt động trên thị trường vốn, thị trường trái phiếu nhằm tăng năng lực tài chính và chất lượng hoạt động của các định chế này khi cung cấp dịch vụ trên thị trường trái phiếu. Khuyến khích sự hình thành và đi vào hoạt động của các tổ chức xếp hạng tín nhiệm để nâng cao tính công khai, minh bạch của quá trình huy động vốn trái phiếu. Nâng cấp cơ sở hạ tầng và công nghệ của thị trường trái phiếu theo hướng hiện đại, hoàn chỉnh để tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động phát hành, giao dịch trái phiếu. Nghiên cứu xây dựng hệ thống công bố thông tin về phát hành, giao dịch đối với trái phiếu doanh nghiệp để hỗ trợ phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp. Tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý Nhà nước với các thành viên thị trường và Hiệp hội thị trường trái phiếu Việt Nam. Thứ năm, đẩy mạnh hợp tác quốc tế để tạo sự liên kết giữa thị trường trái phiếu trong nước với thị trường trái phiếu khu vực và thế giới nhằm tận dụng các cơ hội và tiềm năng để phát triển thị trường trái phiếu Việt Nam theo thông lệ quốc tế. Thị trường trái phiếu năm 2016 đạt được kết quả rất tích cực Năm 2016, trái phiếu Chính phủ đạt khối lượng phát hành đạt 281.750 tỷ đồng, tương đương 98,3% kế hoạch phát hành năm với 91% khối lượng phát hành có kỳ hạn từ 5 năm trở lên (vượt mục tiêu do Quốc hội đề ra là 70% khối lượng phát hành có kỳ hạn từ 5 năm trở lên); đồng thời lần đầu tiên phát hành thành công trái phiếu Chính phủ kỳ hạn 30 năm cho nhà đầu tư nước ngoài. Cơ sở nhà đầu tư đã có sự thay đổi tích cực theo hướng tăng tỷ lệ nắm giữ trái phiếu của các nhà đầu tư dài hạn như Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm tiền gửi, doanh nghiệp bảo hiểm (tăng từ mức 23% năm 2015 lên mức 44,6% năm 2016), giảm tỷ lệ nắm giữ trái phiếu của các Ngân hàng thương mại (từ mức 77% năm 2015 xuống còn 55,4% năm 2016). Trên thị trường thứ cấp, khối lượng giao dịch trái phiếu tăng mạnh so với năm 2015, bình quân phiên đạt 6.285 tỷ đồng tăng 72% so với năm 2015, giúp thanh khoản thị trường tăng đáng kể. Đối với trái phiếu Chính phủ bảo lãnh và trái phiếu chính quyền địa phương: Cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu huy động vốn của các Ngân hàng chính sách để thực hiện các chương trình tín dụng chính sách của Nhà nước và chính quyền địa phương trong việc thực hiện các dự án đầu tư quan trọng, cấp bách thuộc nhiệm vụ chi của địa phương. Đối với trái phiếu doanh nghiệp:Khối lượng phát hành trái phiếu doanh nghiệp đạt 129.636 tỷ đồng, tăng 203,1% so với năm 2015. Thị trường trái phiếu doanh nghiệp từng bước trở thành kênh huy động vốn cho các doanh nghiệp để phát triển sản xuất kinh doanh. Mặc dù đạt được kết quả nêu trên nhưng thị trường trái phiếu về cơ bản quy mô còn nhỏ, chỉ chiếm 36,9%GDP; thị trường trái phiếu doanh nghiệp chưa phát triển (đến hết năm 2016 chỉ chiếm 5,27%GDP), các doanh nghiệp vẫn chủ yếu huy động vốn qua kênh tín dụng ngân hàng. Theo Trần Kiên/thanhtra.com.vn   (Nguồn: http://ndh.vn)

Tổng Quan Về Thị Trường Vốn

Thị Trường Vốn là một trong những khía cạnh quan trọng của mọi thị trường tài chính. Vì vậy, việc nghiên cứu ý nghĩa chính xác của nó là việc làm rất cần thiết.

Hiểu theo một nghĩa rộng thì Thị Trường Vốn là một thị trường nơi các tài sản tài chính có kỳ hạn dài hoặc vô thời hạn. Không giống như các công cụ của thị trường tiền tệ, công cụ của thị trường vốn đáo hạn trong khoảng thời gian trên một năm.

Thị Trường Vốn là một sự sắp xếp theo thể chế để vay và cho vay tiền trong một khoảng thời gian dài hơn, bao gồm các tổ chức tài chính như IDBI, ICICI, UTI, LIC,… Các tổ chức này đóng vai trò bên cho vay còn các đơn vị kinh doanh và tập đoàn là các bên đi vay trên Thị Trường Vốn. Thị trường này bao hàm nhiều công cụ khác nhau có thể được sử dụng cho các giao dịch tài chính. Nó cung cấp nợ dài hạn và vốn chủ sở hữu tài chính cho Chính phủ và các doanh nghiệp.

Thị Trường Vốn có thể được phân loại thành các thị trường sơ cấp và thứ cấp. Thị trường sơ cấp là nơi dành cho các cổ phiếu mới, trong khi thị trường thứ cấp dành cho các chứng khoán hiện đang được giao dịch. Các tổ chức tài chính trong Thị Trường Vốn cung cấp các khoản vay nội tê, các khoản vay ngoại tệ, dịch vụ tư vấn và bảo lãnh phát hành.

TẦM QUAN TRỌNG, VAI TRÒ HAY CHỨC NĂNG CỦA THỊ TRƯỜNG VỐN

Cũng giống như các thị trường tiền tệ, Thị Trường Vốn cũng rất quan trọng. Nó đóng một vai trò thiết yếu trong nền kinh tế quốc gia. Một Thị Trường Vốn phát triển, năng động và sôi động có thể đóng góp cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế.

Huy động tiết kiệm: Thị Trường Vốn là một nguồn quan trọng để huy động tiền tiết kiệm nhàn rỗi từ nền kinh tế. Nó huy động vốn từ người dân để đầu tư thêm vào các kênh sản xuất của nền kinh tế. Theo đó, Thị Trường Vốn kích hoạt các nguồn lực tài chính lý tưởng và đặt chúng vào các khoản đầu tư thích hợp.

Hình thành vốn: Thị Trường Vốn đóng góp công sức trong việc hình thành vốn. Thông qua việc huy động các nguồn lực lý tưởng, nó sẽ tạo ra các khoản tiết kiệm; các khoản tiết kiệm được huy động luôn sẵn sàng để sử dụng cho các phân khúc khác nhau như nông nghiệp, công nghiệp,… Điều này giúp gia tăng sự hình thành vốn.

Cung cấp cách thức đầu tư: Thị Trường Vốn làm tăng các nguồn lực trong khoảng thời gian dài. Do đó, nó đem lại một cách thức đầu tư cho những người muốn đầu tư nguồn lực trong một thời gian dài, và cung cấp tỉ lệ lãi suất sinh lời hợp lý cho các nhà đầu tư. Các công cụ như trái phiếu, cổ phiếu, các đơn vị của quỹ tương hỗ, chính sách bảo hiểm,… chắc chắn sẽ cung cấp các phương thức đầu tư đa dạng cho công chúng.

Tăng tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế: Thị Trường Vốn tăng cường sản xuất và năng suất trong nền kinh tế quốc gia. Vì thị trường này khiến các quỹ có thể được tiếp cẫn trong thời gian dài, các yêu cầu tài chính của các nhà kinh doanh sẽ được đáp ứng. Nó cũng giúp ích trong việc nghiên cứu và phát triển, từ đó tăng sản lượng và năng suất trong nền kinh tế bằng cách tạo công ăn việc làm và phát triển cơ sở hạ tầng.

Đặt ra quy định thích hợp của quỹ: Thị Trường Vốn không chỉ giúp huy động vốn, nó cũng giúp phân bổ hợp lý các nguồn tài nguyên. Thị trường này có thể có quy định về các nguồn tài nguyên để nó có thể trực tiếp gây quỹ một cách định tính.

Cung cấp Dịch vụ: Thị Trường cung cấp rất nhiều loại hình dịch vụ. Nó bao gồm các khoản vay dài hạn và trung hạn cho ngành, dịch vụ bao tiêu, tư vấn, tài chính xuất khẩu,…

Tăng tính thanh khoản của các quỹ: Thị Trường Vốn là nơi luôn luôn có sẵn các cách thức đầu tư cho việc đầu tư dài hạn. Đây là một thị trường có tính thanh khoản. Cả người mua và người bán có thể dễ dàng mua và bán chứng khoán vì chúng luôn có sẵn.

Việc thiếu đi một Thị Trường Vốn sôi động và tiên tiến có thể khiến chúng ta không thể tận dụng được các nguồn lực tài chính. Các Thị Trường Vốn phát triển cũng cung cấp khả năng thâm nhập vào các nguồn vốn nước ngoài cho ngành công nghiệp trong nước. Như vậy Thị Trường Vốn chắc chắn đóng một vai trò cốt lõi trong tổng thể phát triển của một nền kinh tế.

Tổng Quan Về Thị Trường Bán Lẻ?

1. Định nghĩa về thị trường bán lẻ Thị trường bán lẻ là thị trường ở đó diễn ra hoạt động bán lẻ. những người bán lẻ và người tiêu dùng là hai tác nhân chính của thị trường. Những người bán lẻ (cá nhân, tổ chức) và người tiêu dùng tiến hành hoạt động mua bán hàng hóa trong một khuôn khổ khung pháp lý nhất định2. Cấu trúc kênh phân phối của thị trường bán lẻ

Dù hàng hóa được phân phối như thế nào thì kênh phân phối của thị trường bán lẻ về cơ bản bao gồm ba thành viên: người sản xuất, người trung gian và người tiêu dùng cuối cùng. Người sản xuất: là người trực tiếp sản xuất ra hàng hóa đó. Đôi khi người sản xuất cũng là người bán thẳng hàng hóa đó tới tay người tiêu dùng không cần qua trung gian. Người trung gian: là những người tham gia vào việc phân phối hàng hóa tới người tiêu dùng. Người trung gian có thể gồm: đại lý môi giới, người bán buôn, người bán lẻ (cửa hàng tiện dụng, siêu thị và đại lý siêu thị, cửa hàng bách hóa, cửa hàng đại hạ giá, cửa hàng chuyên doanh, trung tâm thương mại…)

Người tiêu dùng: là người cuối cùng nhận được hàng hóa đó. Họ nhận hàng hóa đó với mục đích để tiêu dùng

Do sự đa dạng của khâu trung gia mà hàng hóa có thể đén tay của người tiêu dùng theo nhiều con đường dài ngắn khác nhau: Người sản xuất trực tiếp đưa hàng háo của mình tới tận tay người tiêu dùng mà không qua một khâu trung gian nào khác. Hàng hóa được bán tại các cửa hàng bán và giới thiệu sản phẩm của mình hoặc qua điện thoại, qua mạng, qua đơn đặt hàng… + Ưu điểm: Ưu điểm của trường hợp này là hàng hóa tiêu thụ nhanh chóng. Vì hàng hóa đến thẳng tay người tiêu dùng nên giá cả hợp lý hơn. Đồng thời, di không phải qua khâu trung gian nên nhà sản xuất có thể thu được nhiều lợi nhuận hơn. Đặc biệt, ưu điểm lớn nhất đó là nhà sản xuất có thể dễ dàng nắm bắt, nhận biết nhu cầu của khách hàng. + Nhược điểm: Để thực hiện đưa hàng hóa theo con đường này và đảm bảo được nguyên tắc lợi nhuận thì người tiêu dùng ở đây phải là người có nhu cầu tiêu thụ lớn và ổn định. Trên thực tế, doanh nghiệp rất khó có thể tìm kiếm được những người tiêu dùng đáp ứng được yêu cầu đó. Dễ gây xung đột lợi ích giữa nhà bán sản phẩm cho công ty và công ty. +Ứng dụng: Con đường trực tiếp thường được áp dụng trong trường hợp bán những hàng hóa có giá trị lớn, những hàng hóa có tính chất thương phẩm đặc biệt (hàng tươi sống, hàng lâu bền…) Ví dụ: bán ô tô, cửa hàng bán và giới thiệu sản phẩm. Người sản xuất đưa hàng hóa của mình tới tay người tiêu dùng thông qua khâu trung gian là những nhà bán lẻ hoặc là thông qua nhà bán buôn rồi đén người bán lẻ cuối cùng là đến người tiêu dùng. Trườn hợp hàng hóa theo con đường ngắn chỉ có một người trung gian là người bán lẻ: + Ưu điểm: Trong trường hợp này thì người sản xuất có thể tận dụng được vị trí bán hàng, hệ thống phân phối của người bán lẻ. Qua đó, nhà sản xuất có thể tăng được uy tín của hàng hóa. Ngoài ra, người sản xuất cũng dễ dàng điều chỉnh hoạt động bán hàng của mình. + Nhược điểm: Rõ ràng trong trường hợp này, lợi nhuận đã bị phân chia một phần cho nhà bán lẻ. Người sản xuất cũng khó điều phối được hàng hóa của mình do các địa điểm bán hàng thuộc sở hữu của nhiều người bán lẻ khác nhau. + Ứng dụng: Nhà sản xuất có quy mô nhỏ nên thường kiêm cả hoạt động bán buôn tì áp dụng trường hợp này. Các nhà bán lẻ cần phải đáp ứng được yêu cầu là phải có vốn lớn và mạng lưới rộng rãi. Trường hợp hàng hóa theo con đường trung bình là qua người bán buôn, đến người bán lẻ, rồi đến người tiêu dùng. + Ưu điểm: Để mở rộng được thị trường của mình thì người sản xuất càn phải có vốn lớn, quan hệ rộng rãi, có bí quyết trong sản xuất, phân phối, bảo quản hàng hóa. Không phải người sản xuất nào cũng có thể đáp ứng được yêu cầu đó. Khi đó, để mở rộng thị trường thì những người sản xuất này sẽ nhờ đến vai trò của người bán buôn. + nhược điểm: Chi phí sản xuất hàng hóa chắc chắn sẽ tăng lên, từ đó người sản xuất bị chia sẻ lợi nhuận nhiều hơn. Người sản xuất cũng không thể tự mình điều chỉnh được thị trường phân phối của mình do còn phải phụ thuộc vào người bán buôn. + Ứng dụng: Mở rộng thị trường phân phối hàng hóa Ngoài ra, hàng hóa có thể đến tay người tiêu dùng qua những con đường dài hơn. Hàng hóa đi từ nhà môi giới đến những nhà bán buôn rồi đến những nhà bán lẻ cuối cùng mới là người tiêu dùng. + Ưu điểm: Trong trường hợp này người sản xuất có thể chuyên tâm vào sản xuất, khâu phân phối được giao phối các người môi giới. + nhược điểm: Chi phí tăng lên rất nhiều. + Ứng dụng: Trường hợp này áo dụng khi hàng hóa phải thâm nhập vào những thị trường có những luật lệ, quy tắc khó khăn hoặc là những thị trường đầu tiên mà người sản xuất bán hàng hóa của mình. Tại những thị trường này, để có thể bán được hàng hóa thì cần những người am hiểu sâu sắc thị trường, có mối quan hệ tốt với người bán buôn. Người đó chính là người môi giới. Trên thực tế, người sản xuất không chỉ áp dụng duy nhất một con đường để đưa hàng hóa của mình tới tay người tiêu dùng. Họ có thể bán hàng trực tiếp tới tay người tiêu dùng thông qua các cửa hàng bnas và giới thiệu sản phẩm, bán buôn cho những người bán lẻ để phân phối được nhiều sản phẩm, đồng thời họ có thể bán hàng thông qua môi giới khi đưa hàng hóa của mình sang thị trường nước ngoài. Kết hợp nhiều con đường phân phối khác nhau giúp người sản xuất vừa am hiểu nhu cầu của thi trường để điều chỉnh sản xuất, vừa tiêu thụ sản phẩm được tốt hơn. khi lựa chọn các con đường phân phối hàng hóa của mình thì người sản xuất cần căn cứ vào: + Nhu cầu của thị trường: Nhu cầu của thị trường được xem xét trên các góc độ: số lượng của hàng hóa thi trường nhiều hay ít, quy mô, những khu vực có nhu cầu đối với sản phẩm hàng hóa, chu kỳ sống của sản phẩm. + Điều kiện của người sản xuất: điều kiện ở đây là thực tế về vốn, về mạng lưới phân phối của người sản xuất. Điều kiện cũng có thể hiểu đó là người sản xuất muốn tung ra sản phẩm mới hay là mở rộng thị trường. + Chiến lược phân phối hàng hóa của người sản xuất.

3. Các loại hình bán lẻ Các loại hình bán lẻ vô cùng phong phú và đa dạng. Dựa trên các tiêu chí khác nhau người ta có thể phân loại ra nhiều loại hình bán lẻ khác nhau. Ví dụ phân loại theo quy mô thì các loại hình bán lẻ có các cơ sở bán lẻ lớn, vừa và nhỏ. Hay phân loại theo các chủ thể tham gia bán lẻ thì các loại hình bán lẻ gồm có doanh nghiệp bán lẻ, hợp tác xã bán lẻ, cá thể hộ gia đình… Tuy nhiên, phổ biến và dễ hiểu nhất thì người ta thường phân loại thị trường theo tiêu thức cách thức bán hàng và hàng hóa kinh doanh. Theo đó trong thị trường bán lẻ, các loại hình bán lẻ gồm có bán lẻ tại cửa hàng, bán lẻ không qua cửa hàng và bán lẻ dịch vụ.

hoạt động bán lẻ thuốc và hoạt động bán mặt hàng thông thường khác có những điểm khác gì

nhu cầu thị trường bán lẻ là gì?

phân chia thị trường ngành bán lẻ

so sánh giữa hoạt động bán lẻ thuốc và bán 1 mặt hàng thông thường khác

tổng quan về kênh siêu thị

ưu nhược điểm của bán lẻ và bán sỉ

ưu điệm cừa cửa hàng bán lẻ

,

Cập nhật thông tin chi tiết về Tổng Quan Thị Trường Trái Phiếu trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!