Xu Hướng 2/2024 # Tìm Giải Pháp Phát Triển Bền Vững Cho Ngành Cà Phê # Top 5 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Tìm Giải Pháp Phát Triển Bền Vững Cho Ngành Cà Phê được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Trong những năm qua, các dự án hợp tác phát triển nông nghiệp bền vững trong ngành cà phê như Dự án hợp tác công tư (PPP) trong lĩnh vực cà phê được Cục trồng trọt, Bộ Nông Nghiệp & Phát Triển Nông Thôn và Nestlé Việt Nam đồng chủ trì hay các dự án được các doanh nghiệp chủ động triển khai NESCAFE PLAN được đánh giá cao.

Ông Nguyễn Xuân Cương – Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đã đánh giá hợp tác công tư là một nhóm giải pháp rất tích cực có tác động đến sự phát triển của ngành cà phê và người nông dân trồng cà phê Việt Nam.

Hưởng ứng Ngày Cà Phê Việt Nam lần đầu tiên, một chuỗi các hoạt động đã được thực hiện trong đó đáng chú ý có chuyến thăm thực địa hộ sản xuất cà phê bền vững của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Xuân Cường và các hội thảo chuyên đề: hội thảo “Thời kỳ phát triển mới của ngành cà phê Việt Nam” do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ban chỉ đạo Tây nguyên, Hiệp hội cà phê ca cao Việt Nam (Vicofa) và UBND tỉnh Lâm Đồng tổ chức…

Với những nội dung chủ đạo “Mở rộng mô hình hợp tác hiệu quả, liên kết chuỗi và phát triển bền vững – Kinh nghiệm thực tiễn từ ngành cà phê” do Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, UBND tỉnh Lâm Đồng phối hợp thực hiện cùng Ban điều phối ngành hàng cà phê Việt Nam (VCCB), Diễn đàn cà phê toàn cầu (GCP) và Nestlé Việt Nam.

Theo các chuyên gia cà phê, mặc dù là quốc gia xuất khẩu cà phê lớn thứ 2 thế giới, tuy nhiên cà phê Việt Nam chủ yếu được ưa chuộng do giá thành rẻ trong khi chất lượng cà phê Việt Nam được đánh giá không cao, các nông hộ làm cà phê đa phần canh tác và thu hái theo phương pháp truyền thống, không có quy trình chuẩn cũng như áp dụng khoa học – kỹ thuật vào các khâu chăm sóc. Bên cạnh đó là tình trạng cây cà phê già cỗi, cũng gây ảnh hưởng lớn tới năng suất, sản lượng, và chất lượng hạt cà phê”.

Một điểm nhấn tại chương trình này, đó là Dự án toàn cầu Nestlé Plan được Nestlé triển khai tại Việt Nam từ năm 2011. Trong suốt 7 năm qua, sát cánh cùng với các chuyên gia của Viện Khoa Học Kỹ Thuật Nông Lâm Nghiệp Tây Nguyên (WASI) và các đối tác địa phương, các chuyên gia nông nghiệp của Nestlé đã góp phần thay đổi phương thức canh tác cà phê truyền thống bằng kỹ thuật tiên tiến của NESCAFÉ Plan, góp phần cải tạo diện tích cà phê già cỗi, cải thiện kinh tế cho các nông hộ, duy trì một môi trường canh tác bền vững để đối phó tình trạng biến đổi khí hậu.

Về mặt xã hội, dự án đã nâng cao vai trò và vị thế của người phụ nữ, thông qua việc đào tạo đội ngũ nữ trưởng nhóm nông dân tham gia dự án. Sau 7 năm triển khai, dự án gắn liền với những con số ý nghĩa. Cụ thể: phân phối trên 20 triệu cây giống năng suất cao, kháng bệnh nhằm hỗ trợ cho bà con nông dân tái canh trên 20.000 ha diện tích cây cà phê già cỗi; Tập huấn và đào tạo kỹ thuật canh tác bền vững cho hơn 200.000 nông dân; Giúp 21.000 nông hộ đạt chứng chỉ cà phê quốc tế 4C;Tăng 30% thu nhập cho người nông dân với kỹ thuật Nestlé Plan; Tiết kiệm 40% lượng nước tưới và giảm 20% lượng phân bón hóa học và thuốc trừ sâu với kỹ thuật của Nestlé Plan; Phối hợp với Trung tâm Khuyến nông Quốc gia và EDE đã xây dựng Bộ tài liệu Sản xuất cà phê bền vững (GAP) phân phát cho trên 50,000 hộ nông dân.

Trong thời gian tới, dự án sẽ tiếp tục được mở rộng hơn nữa nhằm đẩy nhanh hoạt động tái canh cây cà phê cũng như hoạt động đào tạo nông dân. Bên cạnh đó, chương trình nghiên cứu giống kháng tuyến trùng sẽ được đưa vào hoạt động hợp tác giữa Nestlé và WASI trong năm 2024.

Việc cạnh tranh sản xuất, chế biến và xuất khẩu cà phê giữa doanh nghiệp Việt Nam với doanh nghiệp thế giới ngày càng đòi hỏi khắt khe hơn trong hiệp định thương mại tự do mới. Ngoài ra, thiếu sự liên kết giữa doanh nghiệp với nông dân đang khiến giá trị chuỗi sản xuất hàng hóa chưa cao cũng là vấn đề được đưa ra bàn luận…

Ông Nguyễn Xuân Cường- Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết những vấn đề trên đang là thách thức rất lớn ảnh hưởng đến quá trình phát triển cà phê Việt Nam.

Do vậy, theo Bộ trưởng, các địa phương thực hiện phương châm là không tăng diện tích nhưng phải tăng giá trị, trên cơ sở áp dụng đồng bộ các giải pháp khoa học kỹ thuật từ giống, kỹ thuật canh tác, kỹ thuật quản trị và quan trọng hơn là tập trung chế biến sâu, tập trung liên kết để phát triển thương mại thật chặt chẽ, đưa ngành hàng cà phê tiếp tục phát triển, phấn đấu đến năm 2030 đưa kim ngạch xuất khẩu cà phê của Việt Nam đạt 6 tỷ USD…

Tìm Giải Pháp Thúc Đẩy Phát Triển Cà Phê Bền Vững

Việt Nam là nước sản xuất, chế biến và xuất khẩu cà phê nhân lớn thứ 2 trên thế giới.

Tại TP Hồ Chí Minh, Cục Trồng trọt (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) tổ chức hội thảo phát triển bền vững ngành cà phê Việt Nam trong bối cảnh biến đổi khí hậu và khủng hoảng giá năm 2024 để tìm ra giải pháp phát triển bền vững ngành cà phê.

Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tính đến năm 2024, diện tích cà phê Việt Nam đạt 645.217 ha, năng suất 2,7 tấn/ha, tổng sản lượng 1,6 triệu tấn năm, trong đó cà phê vối chiếm 96%. Cả nước có 5 vùng sản xuất chính cà phê là: Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Nam Trung Bộ, Bắc Trung Bộ và các tỉnh Trung du Miền núi phía Bắc. Tây Nguyên là vùng chuyên canh cà phê lớn nhất cả nước, với diện tích 577.000 ha (chiếm 89%). Gần đây, Tây Nguyên nói riêng và các vùng sản xuất cà phê của Việt Nam cũng đang đối mặt với khó khăn do biến đổi khí hậu, lượng mưa thấp, tần suất ít, gây thiếu nước ảnh hưởng đến sản xuất, trồng trọt cà phê.

Trước những khó khăn, bất cập mà ngành cà phê đang gặp phải, nhiều chuyên gia bày tỏ lo ngại về việc người nông dân sẽ bỏ cây cà phê để trồng các loại cây khác. Ông Lê Văn Đức -Phó Cục trưởng Cục trồng trọt (Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn) cho biết, tại Việt Nam việc sản xuất, chế biến và thương mại cà phê vẫn đang tồn tại nhiều bất cập. Cụ thể diện tích cà phê già cỗi chiếm tỷ lệ lớn, thâm canh chưa bền vững, các điều kiện sơ chế, bảo quản, tạm trữ cà phê còn hạn chế, thiếu sự liên kết giữa doanh nghiệp với nông dân đang khiến giá trị chuỗi sản xuất hàng hóa chưa cao. Gần đây cà phê rớt giá khiến người nông dân bị ảnh hưởng. Đặc biệt, do chưa có chiến lược toàn diện trong thúc đẩy xuất khẩu, nên cà phê Việt Nam chưa phát huy được các lợi thế riêng để tăng năng lực cạnh tranh trên thị trường.

Đưa ra giải pháp về vấn đề này theo ông Đức “Để phát triển bền vững, ngành cà phê Việt Nam cần tiếp tục đầu tư vào các vùng nguyên liệu, các công ty trồng và sản xuất cà phê đảm bảo chất lượng hạt cà phê từ nông trại đến người tiêu dùng; xây dựng các tiêu chuẩn về cà phê bền vững, cà phê chứng nhận, đáp ứng nhu cầu, điều kiện kỹ thuật của người mua; hỗ trợ nông dân về vốn để họ yên tâm trồng trọt…”.

Ông Gerardo Patacconi – Trưởng ban điều hành Tổ chức cà phê quốc tế (ICO) cũng đưa ra một số tín hiệu lạc quan cho ngành cà phê trong thời gian tới. Theo đó, trong niên vụ 2024/2024, sản lượng cà phê toàn cầu dự báo sẽ giảm do cường quốc sản xuất cà phê Brazil đang trong chu kỳ giảm của chu kỳ sản xuất cà phê 2 năm một lần. Nguyên nhân do thời gian qua giá liên tục giảm khiến cho người nông dân Brazil giảm đầu tư cho sản xuất cà phê. Trong khi đó, tiêu dùng được kỳ vọng sẽ tăng lên khiến cho toàn cầu có khả năng sẽ thiếu hụt 0,5 triệu bao cà phê. Các yếu tố này có thể sẽ hỗ trợ cho giá cà phê trong niên vụ tới.

Phát biểu tại hội thảo, nhiều chuyên gia cũng đề xuất các doanh nghiệp sản xuất cần quan tâm các giải pháp như: đẩy mạnh công tác tái canh cà phê, hỗ trợ đầu tư tín dụng và cho vay chương trình tái canh cà phê cho người trồng trọt, liên kết chuỗi giá trị cà phê để đảm bảo đầu ra cho sản phẩm, chuyển đổi giống, mùa vụ để sản xuất ra loại cà phê thích ứng với biến đổi khí hậu.

Giải Pháp Cho Ngành Cà Phê

Các DN XK cà phê VN đang gặp nhiều khó khăn bởi cầu giảm do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu. Đặc biệt, những ngày gần đây, thị trường cà phê đã xảy ra diễn biến chưa từng có trong tiền lệ với bước giá lên xuống mỗi ngày chênh lệch quá cao khiến nhiều DN trở tay không kịp. Nguyên nhân chính đã được xác định. Vì vậy, các DN sớm phải ngồi lại với nhau tìm giải pháp phù hợp.

DN cà phê Việt Nam đang đứng trước những khó khăn rất lớn

Ông Văn Thành Huy -Chủ tịch HĐQT kiêm TGĐ Cty cổ phần đầu tư XNK Đăk Lăk cho biết: Kể từ cuối quý 3/2008 đến nay giá cà phê có xu hướng đi xuống, từ khoảng 1.800 USD/tấn xuống còn 1.500 USD/tấn. Tại Tây Nguyên, giá cà phê nhân xô cũng tuột dốc, từ 34.000 – 35.000 đồng/kg xuống còn 25.000 đồng, thậm chí có thời điểm xuống 22.000 đồng/kg. Chính vì vậy, không chỉ có các DN XK làm ăn thua lỗ mà ngay cả người trồng cà phê cũng gặp không ít khó khăn.

Lãnh đạo một Cty Xuất nhập khẩu cà phê ở Tây Nguyên ở cho biết: Giá xuống thấp cùng với sức tiêu thụ kém nên việc xuất khẩu của Cty bị ảnh hưởng khá lớn. Trong quý 1/2009, Cty chỉ xuất được 50.000 tấn, khoảng 80% chỉ tiêu. Còn Cty Xuất nhập khẩu 2-9 (Đăk Lăk), trong quý 1, dù sản lượng xuất khẩu tăng 20% so với năm ngoái (34.300 tấn cà phê nhân) nhưng kim ngạch chỉ đạt 53 triệu USD, giảm 20%.

Cùng với những khó khăn về thị trường, giá cả… thời tiết xấu cũng là một nguyên nhân khiến việc kinh doanh cà phê gặp khó. Sản lượng cà phê của VN ước tính giảm 1,3 triệu bao, xuống còn 18,4 triệu bao trong vụ 2009/2010 này do mưa lớn, cây ra hoa thất thường và giá nhân công tăng cao hơn so với năm trước.

Theo các chuyên gia, trước những biến động của thị trường cà phê, các DN xuất khẩu mặt hàng này phải hết sức thận trọng. Để giảm thiểu rủi ro trong việc ký hợp đồng xuất khẩu cà phê trong 6 tháng cuối năm, các DN khi bán cà phê giao sau cần nhận định sát về thị trường, nếu xu hướng giá tăng thì không nên vội vã ký hợp đồng ngay, nếu xu hướng giá giảm thì phải tìm cách “chốt” giá sớm và có sự phối hợp thông tin với nhau. Các DN cũng nên chú ý tính mức trừ lùi hợp lý với sàn London, tránh để bị ép giá và gây thiệt hại cho mình.

Theo ông Huy, đã từ lâu các DN VN có thói quen chào bán và xuất khẩu cà phê sơ chế theo tiêu chuẩn 13 – 5 – 1 ( thuỷ phần, hạt đen vỡ, tạp chất…) với giá thưòng thấp so với thị trường cùng loại. Ngoài ra, cũng giống như thị trường chứng khoán, các DN vẫn mua, bán theo tính “bầy đàn”, mua bán theo số đông mà ít khi có tính phân tích, tính rủi ro khá cao. Nếu các DN không có những điều chỉnh kịp thời thì khó cạnh tranh với các nước khác.

Với tổng sản lượng xuất khẩu cà phê VN hàng năm từ 900.000 đến 1.000.000 tấn/năm, đạt kim ngạch 1,8 – 2 tỷ USD, nếu các DN cùng phấn đấu xuất khẩu cà phê sạch, chất lượng cao (tạp chất từ 0% đến tối đa là 0,5%, tính lỗi hạt và thuỷ phần không quá 12,5% để được cộng thêm từ 50 USD đến 100 USD/tấn thì chúng ta sẽ thu về lượng ngoại tệ tăng thêm từ 50 triệu USD đến 100 triệu USD. Con số này không những nói lên về giá trị mà còn thể hiện rõ chất lượng – thương hiệu cà phê VN trên thị trường thế giới.

Giá cà phê giảm mạnh là do tình trạng đầu cơ lũng đoạn thị trường, hoàn toàn không tuân theo quy luật cung cầu. Các quỹ đầu cơ đã cố tình bóp méo thị trường để kiếm lợi. Suốt tháng trước, họ tung tin giá cà phê sẽ tăng đột biến, khiến các DN VN đua nhau đầu cơ tích trữ. Nhiều DN vay “nóng” tiền vốn trong ngắn hạn để mua cà phê, nay chịu áp lực buộc phải bán ra thu hồi vốn để trả nợ. Tháng 6/2009, các quỹ đầu cơ trên sàn London ngừng mua để đẩy giá xuống thấp, và lại tung tin rằng giá cà phê từ nay đến cuối năm sẽ tiếp tục giảm mạnh, khiến DN VN đã trót tích trữ cà phê nay buộc phải bán ra. Rất nhiều DN VN đã lâm vào tình trạng như vậy và đang phải chịu lỗ 3-4 triệu đồng/tấn cà phê, nhiều DN mất 100 – 500 triệu đồng trong đợt này.

Hiệp hội Cà phê – Ca cao VN (VICOFA) đang kêu gọi DN cà phê VN cùng ngồi lại trong một cuộc họp bất thường để tìm giải pháp đối phó.

Ông Lương Văn Tự – Chủ tịch VICOFA cho rằng nhiều DN VN bị đưa “vào tròng” là do hoạt động thiếu tính chuyên nghiệp, thiếu liên kết. Thị trường cà phê đang rất bất thường, giá cà phê giảm mạnh tới mức chưa từng thấy. Giá xuất khẩu cà phê VN đã ở mức thấp nhất trong vòng 3 năm qua, ngày 26/6 là 1.195 USD/tấn FOB.

Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Cho Ngành Cà Phê Việt Nam

Cà phê là một ngành hàng quan trọng, chiếm 3% GDP của Việt Nam, kim ngạch xuất khẩu nhiều năm nay đều đạt trên 3 tỷ USD. Trong những năm qua, dù kinh tế thế giới có nhiều thời điểm gặp khó khăn dẫn đến sức mua sụt giảm, nhưng nước ta vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng xuất khẩu cà phê ở mức đáng khích lệ – đạt 8,2%/năm với kim ngạch bình quân 3,13 tỷ USD/năm giai đoạn 2011-2024, chiếm 15% tổng xuất khẩu nông sản của cả nước.

Bài viết phân tích về thực trạng ngành Cà phê Việt Nam, trên cơ sở đó tác giả đề xuất một số giải pháp để nâng cao chất lượng cũng như đa dạng hóa sản phẩm cà phê xuất khẩu, nhằm thúc đẩy các hoạt động xúc tiến để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của thị trường.

Từ khóa: Ngành cà phê, thực trạng, giải pháp, Việt Nam.

1. Đặt vấn đề

Trong ba thập kỷ qua (tính từ công cuộc cải cách năm 1986), cà phê là một trong những ngành hàng đóng góp quan trọng nhất cho doanh thu của Nông nghiệp Việt Nam nói riêng và cho toàn bộ GDP quốc gia nói chung. Ngành Công nghiệp Cà phê đã tạo ra hàng ngàn việc làm trực tiếp và gián tiếp, đồng thời là sinh kế chính của nhiều hộ gia đình trong các khu vực sản xuất nông nghiệp. Giá trị xuất khẩu cà phê thường chiếm khoảng 15% trong tổng kim ngạch xuất khẩu nông sản và tỷ trọng cà phê luôn vượt trên 10% GDP nông nghiệp trong những năm gần đây.

Trong nhiều thập kỷ qua, sản xuất cà phê Việt Nam đã phát triển như một ngành công nghiệp định hướng xuất khẩu. Với vị thế là nhà sản xuất và xuất khẩu cà phê lớn thứ hai thế giới, các sản phẩm cà phê của nước ta đã xuất khẩu đến hơn 80 quốc gia và vùng lãnh thổ, chiếm 14,2% thị phần xuất khẩu cà phê nhân toàn cầu (đứng thứ hai sau Brazil). Đặc biệt, cà phê rang xay và hòa tan xuất khẩu đã chiếm 9,1% thị phần (đứng thứ 5; sau Brazil, Indonesia, Malayxia, Ấn Độ), tạo ra nhiều cơ hội và triển vọng cho ngành Cà phê Việt Nam thâm nhập sâu hơn vào thị trường quốc tế, thông qua các hiệp định thương mại tự do đã được kí kết. EU là thị trường tiêu thụ cà phê lớn nhất của Việt Nam – chiếm 40% tổng số lượng và 38% về tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước, tiếp theo là khu vực Đông Nam Á – chiếm 13% tổng lượng và tổng kim ngạch.

Tuy nhiên, cà phê Việt Nam đang phải đối mặt với những thách thức nghiêm trọng cả khách quan lẫn chủ quan, như: biến đổi khí hậu; cạnh tranh từ các loại cây trồng khác; cần tái canh những cây cà phê già cỗi; chi phí sản xuất đang tăng cao hơn trong khi giá cà phê thế giới đang ở mức rất thấp.

Chính sách sản xuất cà phê của Việt Nam đã chuyển sang một kỷ nguyên mới với hai mục tiêu: Thứ nhất là, duy trì vị thế là nhà sản xuất và xuất khẩu cà phê lớn thứ hai thế giới; Thứ hai là, tăng gấp đôi giá trị gia tăng trong sản xuất cà phê bằng cách tăng năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng.

Định hướng của Chính phủ và các Bộ, ngành đối với phát triển ngành Cà phê đó là: phấn đấu xây dựng ngành cà phê trong nước phát triển theo hướng hiện đại, đồng bộ, bền vững; có tính cạnh tranh cao với các sản phẩm đa dạng, có chất lượng; mang lại giá trị gia tăng cao; nâng cao thu nhập cho người nông dân và doanh nghiệp. Phấn đấu đến năm 2030, đạt mục tiêu kim ngạch xuất khẩu cà phê khoảng 6 tỷ USD.

Để đạt được mục tiêu trên, thì ngành Cà phê cần đẩy mạnh chế biến sâu, chế biến theo chuỗi giá trị; đồng thời quan tâm thực hiện công tác quảng bá, xúc tiến thương mại. Trong đó, sự vào cuộc của các cơ quan chức năng đóng vai trò then chốt, bên cạnh là sự hưởng ứng từ các địa phương, doanh nghiệp, đặc biệt ở những khu vực có thế mạnh để phát triển cây cà phê.

2. Thực trạng sản xuất cà phê ở nước ta hiện nay

Hiện nay, cả nước có 97 cơ sở chế biến cà phê nhân, 160 cơ sở chế biến cà phê rang xay, 8 cơ sở chế biến cà phê hòa tan và 11 cơ sở chế biến cà phê phối trộn. Cụ thể, gồm có: 97 cơ sở chế biến cà phê nhân – với tổng công suất thiết kế 1,503 triệu tấn, tổng công suất thực tế đạt 83,6%; 160 cơ sở chế biến cà phê rang xay – tổng công suất thiết kế 51,7 nghìn tấn sản phẩm/năm; 8 cơ sở chế biến cà phê hòa tan – tổng công suất thiết kế 36,5 nghìn tấn sản phẩm/năm, tổng công suất thực tế đạt 97,9%; 11 cơ sở chế biến cà phê phối trộn – tổng công suất thiết kế 139,9 nghìn tấn sản phẩm/năm, tổng công suất thực tế đạt 81,6%. Cà phê bột của Trung Nguyên, cà phê hòa tan của Vinacafe, Trung Nguyên không những chiếm lĩnh được thị trường trong nước mà còn được hoan nghênh ở nhiều thị trường trong khu vực, đồng thời đã bước đầu xây dựng được thương hiệu cà phê Việt.

Qua nghiên cứu cho thấy, các nước xuất khẩu cà phê hàng đầu thế giới như Brazil, Indonesia, Colombia… đều chủ yếu xuất khẩu cà phê dưới dạng hạt (green bean), tức là chỉ dừng ở hoạt động sơ chế sau thu hoạch. Một số nước có hoạt động rang và xay nhưng chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng xuất khẩu cà phê. Riêng với Việt Nam, kể từ giữa những năm 90 của thế kỷ trước, hoạt động sơ chế sau thu hoạch đã được hết sức quan tâm. Do đó, từ chỗ có giá bán tại cảng thấp hơn tới 400 – 500 USD so với giá tham chiếu tại Sở Giao dịch hàng hóa London, Việt Nam đã dần thu hẹp được khoảng cách này và cho tới nay, giá bán cà phê Robusta của ta đã phù hợp với giá thị trường thế giới.

Bên cạnh đó, trong thời gian qua, nhờ ưu đãi về thuế quan đối với cà phê chế biến – từ các Hiệp định Thương mại tự do mà Việt Nam đã ký kết, ngày càng nhiều doanh nghiệp đã bắt đầu quan tâm, chú trọng đầu tư vào các hoạt động chế biến sâu, nhằm góp phần nâng cao giá trị gia tăng cho sản phẩm nói riêng và kim ngạch xuất khẩu của toàn ngành nói chung.

Sự hỗ trợ tích cực của các Bộ, ngành trong công tác nâng cao năng lực chế biến, mở rộng thị trường, tổ chức lại xuất khẩu…, cùng sự chủ động, nỗ lực của các doanh nghiệp trong công tác quảng bá, marketing, định vị thương hiệu đã giúp các sản phẩm cà phê của Việt Nam ngày càng khẳng định được vị trí trên thị trường quốc tế.

3. Những khó khăn đối với ngành Cà phê

Trong những năm gần đây, mặc dù ngành hàng Cà phê của nước ta có những bước phát triển nhanh chóng cả về diện tích và sản lượng, song lợi thế trên thị trường thế giới phần lớn vẫn thuộc về các doanh nghiệp nước ngoài có thương hiệu và tiềm lực tài chính mạnh. Đây là sự thua thiệt lớn về giá trị xuất khẩu của cà phê Việt Nam. Nguyên nhân chính được nêu ra là do xuất khẩu cà phê của nước ta vẫn chủ yếu ở dạng thô, nên không có thương hiệu. Phần lớn cà phê xuất khẩu của Việt Nam lại trở thành nguyên liệu của nhiều nước, dùng để chế biến sâu và tái xuất lại tiêu thụ ở nước ta dưới dạng cà phê bột, hòa tan, pha sẵn… Theo phân tích của các chuyên gia, tuy khối lượng cà phê xuất khẩu nhiều nhưng giá trị lại thấp so với một số nước trên thị trường quốc tế – do khoảng 80% sản lượng cà phê được sơ chế khô tại các hộ gia đình với sân phơi tạm bợ. Thêm nữa, phải kể đến các máy móc, thiết bị sơ chế của người dân còn lạc hậu, cộng với cà phê không đáp ứng đủ tiêu chuẩn về độ chín, còn lẫn nhiều tạp chất.

Bên cạnh đó, cà phê Việt hiện đang phải đối mặt với không ít những thách thức, bao gồm cả khách quan và chủ quan:

Về yếu tố khách quan: Những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu với trình trạng thời tiết cực đoan đã đặt các vùng trồng cà phê vào vị trí nguy hiểm. Theo Trung tâm Nông nghiệp Nhiệt đới Quốc tế (CIAT), nhiệt độ tăng và lượng mưa thay đổi có thể khiến nước ta mất 50% diện tích sản xuất cà phê Robusta hiện tại vào năm 2050. Hơn nữa, trong những năm tới, sản xuất cà phê Việt chủ yếu dựa vào 3 nhóm. 50% tổng số thuộc nhóm cây từ 10 – 15 tuổi – nhóm cho năng suất cao nhất; 30% cây là từ 15 – 20 tuồi và khoảng 20% trên 20 tuổi – nhóm không thể đảm bảo năng suất. Vậy nên, nếu không được cải tạo trong vài năm tới, cây già sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và chất lượng cà phê của nước ta.

Về yếu tố chủ quan.: Diện tích cây cà phê mới trồng đã tăng đáng kể trong thời gian gần đây, nhưng hầu hết lại nằm ở những khu vực không phù hợp – đất nông, dốc cao, thiếu nước tưới,… Do đó, mặc dù diện tích trồng được cải thiện nhưng lại không đạt được hiệu quả kinh tế, do năng suất thấp và chi phí sản xuất cao. Các biện pháp canh tác, thâm canh được áp dụng trong quá khứ đã sử dụng quá nhiều đầu vào (phân bón, tưới tiêu,…) để đạt được năng suất tối đa. Dẫn đến cây cà phê không chỉ nhanh chóng cạn kiệt và mất khả năng sản xuất, mà còn gây phá hủy tài nguyên nước ngầm và ô nhiễm đất – nhiều bệnh và sâu bệnh hình thành, đặc biệt là nấm và tuyến trùng rễ. Những hình thức sản xuất với quy mô nhỏ, phân tán và độc lập của các hộ nông dân đã dẫn đến tình trạng sản xuất chất lượng thấp và không ổn định. Sự khác biệt của đầu tư, thu hoạch và chế biến đã phần nào ảnh hưởng đến chất lượng của toàn bộ ngành Cà phê Việt Nam.

4. Liên kết đẩy mạnh sản xuất chế biến sâu và xúc tiến thương mại cho cà phê Việt Nam

Để đạt mục tiêu kim ngạch xuất khẩu 6 tỷ USD vào năm 2030 mà Chính phủ đã đề ra, đồng thời nhằm nâng cao giá trị gia tăng cho các sản phẩm cà phê Việt, ngành Cà phê cần được quan tâm đồng bộ với các giải pháp cụ thể. Trong đó, cần đẩy mạnh công tác tái cơ cấu ngành một cách hiệu quả, xây dựng các vùng trồng tập trung, chuyên canh gắn với phát triển công nghiệp chế biến, áp dụng tiến bộ công nghệ cao; Thúc đẩy liên kết vùng nguyên liệu với các cơ sở, nhà máy chế biến sâu; Tăng cường liên kết và hợp tác trong sản xuất kinh doanh cà phê với mục đích ổn định xuất khẩu, giữ vững và mở rộng thị trường.

Một chuyên gia cấp cao của ngành Nông nghiệp đã nhận định, các FTA thế hệ mới như EVFTA, CPTPP sẽ mở ra cơ hội lớn cho các doanh nghiệp sản xuất, chế biến và xuất khẩu cà phê, khi mà thuế xuất khẩu của nước ta có thể về gần 0%. Đây là lợi thế vô cùng lớn, giúp Việt Nam không chỉ là trung tâm trồng trọt mà còn có thể là trung tâm sản xuất cà phê của thế giới.

Chỉ thống kê trong giai đoạn 1 (2010-2024), với kế hoạch xây dựng mô hình vườn mẫu theo hướng sản xuất bền vững, hợp tác công tư (PPP) trong ngành hàng Cà phê Việt Nam, đã kết nối được 3,220 hộ nông dân với tổng diện tích 5.262 ha… Kết quả, năng suất cà phê tăng 17%; thu nhập trung bình của nông dân trong mô hình tăng 14%; tiết kiệm được 40% lượng nước tưới; giảm 55% lượng phát thải nhà kính nhờ sử dụng phân bón hợp lý… Các hoạt động như hội thảo, tập huấn đầu bờ, chuẩn bị lực lượng nhân sự… đã tạo nên một nền tảng kỹ thuật rất tốt cho các nông hộ, doanh nghiệp tham gia, hướng tới sản xuất bền vững.

Các mô hình hợp tác đã góp phần quan trọng giúp cho cà phê trở thành ngành hàng nông sản chủ lực, có diện tích được chứng nhận lớn nhất hiện nay. Không những vậy, cà phê hiện là 1 trong 2 ngành nông sản khá toàn diện khi có hiệp hội ngành hàng, có viện nghiên cứu chuyên ngành, có ban điều phối, có các doanh nghiệp xuyên quốc gia và các tổ chức quốc tế hỗ trợ, đầu tư.

Tuy nhiên, theo các chuyên gia, các hoạt động liên kết chỉ mới dừng lại ở mức độ mô hình, chứ chưa được nhân rộng. Việc kết nối với thị trường ở các mô hình còn kém bền vững, chưa xây dựng được chuỗi giá trị cà phê hoàn thiện trên quy mô lớn, chưa có sự tham gia đông đảo của doanh nghiệp trong nước. Thực tế, vai trò hỗ trợ của các tổ chức quốc tế và chính sách nhà nước chưa được như mong muốn.

Ngoài ra, trong hợp tác công tư, nhóm “dưới ruộng” làm tốt nhất, còn lại các nhóm thương mại, chế biến vẫn còn yếu. Các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu cà phê chủ yếu thu mua qua trung gian, khiến cho giá trị thực tế chuyển giao về tay người nông dân còn hạn chế và chất gắn kết giữa nông dân và doanh nghiệp còn lỏng lẻo. Kèm theo đó là việc thiếu kiểm soát chất lượng cà phê và sự ảnh hưởng tới môi trường do canh tác tự phát. Cơ chế thu mua phân loại cũng chưa tạo động lực cho nông dân để họ tự nâng cao chất lượng cà phê.

5. Các giải pháp tổng thể để thúc đẩy phát triển sản xuất và xuất khẩu ngành Cà phê Việt Nam

Về sản xuất, chế biến, cần đẩy mạnh công tác tái cơ cấu ngành Cà phê một cách hiệu quả, như: xây dựng các vùng trồng tập trung, chuyên canh gắn với phát triển công nghiệp chế biến; áp dụng tiến bộ công nghệ cao; thúc đẩy liên kết vùng nguyên liệu với các cơ sở, nhà máy chế biến sâu để tạo nguồn hàng đảm bảo ổn định về chất lượng và số lượng, đáp ứng yêu cầu của thị trường; có giải pháp tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ người nông dân, doanh nghiệp thu hút đầu tư; ứng dụng khoa học công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Đồng thời, cũng cần khuyến khích, tăng cường liên kết và hợp tác trong sản xuất kinh doanh cà phê với mục đích ổn định xuất khẩu, giữ vững và mở rộng thị trường.

Song song với việc nâng cao chất lượng sản phẩm, công tác xây dựng thương hiệu phải được chú trọng và quan tâm hơn nữa. Hiện nay, công tác xây dựng, phát triển thương hiệu chưa được doanh nghiệp nhận thức đầy đủ và triển khai hiệu quả, là một nguyên nhân dẫn đến nông sản nói chung và cà phê nói riêng của Việt Nam chưa được người tiêu dùng trên thế giới biết đến, vị thế trong thương mại quốc tế của hàng hóa do vậy mà cũng thấp hơn so với các đối thủ cạnh tranh. Các doanh nghiệp cần khảo sát nhu cầu của thị trường về các lĩnh vực gồm: thị phần, thị hiếu, chất lượng, giá cả. Từ đó, xác định tỷ trọng chế biến các loại sản phẩm (bao nhiêu % sản phẩm sơ chế; % sản phẩm tinh chế) để định hướng phát triển, xây dựng chiến lược quảng bá, marketing, định vị thương hiệu phù hợp với năng lực của mình. Nhà nước sẽ hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng và phát triển thương hiệu thông qua các chiến dịch truyền thông, quảng bá hình ảnh; các chương trình đào tạo, hướng dẫn, nâng cao năng lực thiết kế, định dạng sản phẩm; và cách thức tạo dựng cũng như quảng bá thương hiệu.

Về công tác xúc tiến thương mại, các doanh nghiệp xuất khẩu cà phê Việt Nam cần chú trọng tuyển dụng và đào tạo cán bộ có trình độ ngoại ngữ và chuyên môn; chủ động tham gia các chương trình, hoạt động xúc tiến thương mại do Bộ Công Thương định hướng cũng như do các Bộ, ngành, Hiệp hội tổ chức. Không những vậy, cũng cần tham dự các hội chợ, triển lãm quốc tế ở cả trong và ngoài nước để giới thiệu sản phẩm và tìm kiếm bạn hàng; xây dựng kênh nghiên cứu và dữ liệu riêng về thị trường xuất khẩu thông qua sự hỗ trợ của cơ quan đại diện thương mại của Việt Nam tại các nước để cập nhật thông tin, nhằm kịp thời điều chỉnh các hoạt động sản xuất kinh doanh phù hợp với tín hiệu của thị trường.

TÀI LIỆU THAM KHẢO: 1. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (2012). Quyết định số 1987/QĐ-BNN-TT năm 2012 phê duyệt Quy hoạch phát triển ngành cà phê Việt Nam đến 2024 và tầm nhìn đến năm 2030. 2. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (2014). Quyết định số 3417/QĐ-BNN-TT 2014 phê duyệt Đề án phát triển ngành cà phê bền vững đến năm 2024. 3. Thủ tướng Chính phủ (2024). Nghị định số 98/2024/NĐ-CP về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp.

The status quo and solutions for developing Vietnam’s coffee industry

Faculty of Basic Science – Trade Union University

Coffee is an important commodity, accounting for 3% of Vietnam’s GDP, and the Vietnam’s export turnover of coffee has reached over US $3 billion for many years. In recent years, although the world economy has experienced many difficult times leading to a decrease in purchasing power, Vietnam’s coffee exports have maintained a very encouraging growth rate, at 8.2% per year with an average annual turnover of US $ 3.13 billion in the period of 2011-2024, accounting for 15% of the country’s total agricultural exports. This article analyzes the status quo of Vietnam’s coffee industry, thereby proposing some solutions for the coffee industry, such as product quality improvement, export product diversification and promotion activities in order to better meet the market’s demands.

Keywords: Coffee industry, status quo, solutions, Vietnam.

Cần Giải Pháp Chiến Lược Cho Ngành Cà Phê

Tuy nhiên giá trị thương mại giao dịch cà phê nhân toàn cầu của chúng ta chỉ chiếm chưa đến 1%, kéo theo giá trị gia tăng của ngành đang ở mức rất thấp. Điều này đòi hỏi ngành cà phê cần có giải pháp mang tính chiến lược để đưa ngành phát triển bền vững.

Ngành cà phê hiện đang thiếu chiến lược để phát triển bền vững.

Ông Lương Văn Tự, Chủ tịch Hiệp hội Cà phê Ca cao Việt Nam (VICOFA) cho biết: Cơ cấu giống cà phê chưa hợp lý, một số địa phương và người sản xuất vẫn tiếp tục mô hình phát triển theo chiều rộng như tăng nhanh diện tích, lạm dụng phân bón, nước tưới, thuốc bảo vệ thực vật… 500 ngàn hộ sản xuất nhỏ trong ngành cà phê nhưng chậm đổi mới tổ chức sản xuất và kinh doanh, người sản xuất thiếu thông tin về thị trường, thiếu liên kết với các nhà máy chế biến xuất khẩu, hiệu quả sản xuất chưa cao.

Theo số liệu của VICOFA, diện tích cà phê già cỗi tăng nhanh, cà phê trên 20 năm tuổi, hiện có 86 nghìn ha, chiếm 13,8%, tổng diện tích cà phê, ngoài ra còn có trên 40 ngàn ha dưới 20 năm tuổi, nhưng đã có biểu hiện già cỗi, sinh trưởng kém. Tổng diện tích cà phê già cỗi cần trồng thay thế và chuyển đổi trong 5-10 năm tới khoảng 140 – 160 ngàn ha đang là thách thức lớn trong sản xuất cà phê.

Diện tích chủ yếu toàn ngành phần lớn tập trung ở nhiều hộ dân vùng sâu, vùng xa còn nghèo, điều kiện sân phơi và kho bảo quản cà phê còn thiếu, chưa đảm bảo yêu cầu kỹ thuật. Tại 4 tỉnh là Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng, sân phơi xi măng đạt 61,5%; phơi bằng bạt chiếm 13,5% và sân đất chiếm 25% tổng diện tích sân phơi của các nông hộ, dẫn đến sơ chế không kịp thời. Vì không đủ sân phơi, có đến trên 71% sản lượng cà phê sử dụng hình thức phơi quả tươi; gần 21% xát vỏ trước khi phơi và chỉ có trên 8% bán quả tươi cho các cơ sở chế biến hoặc đại lý có điều kiện phơi sấy, dẫn đến hạt đen, nâu, mốc càng cao.

Để ngành cà phê trong nước phát triển bền vững, theo lãnh đạo VICOFA, cần nâng cao năng lực cạnh tranh cà phê Việt Nam, tạo sản phẩm quốc gia có thương hiệu và giá trị cao trên thị trường thế giới thông qua cải cách mạnh mẽ về tổ chức sản xuất sản phẩm có giá trị gia tăng cao và phát triển bền vững. Lấy yêu cầu thị trường làm định hướng phát triển, tận dụng triệt để các cơ hội hút nguồn lực đầu tư, đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam, góp phần nâng năng lực cạnh tranh quốc gia.

Áp dụng khoa học công nghệ, đi thẳng vào công nghệ hiện đại, chuyển dịch nhanh cơ cấu sản phẩm sang chế biến sâu, tham gia vào chuỗi giá trị cung ứng toàn cầu ở phân khúc giá trị gia tăng cao. Huy động sự tham gia tích cực, chủ động của người dân và các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, trong đó doanh nghiệp đóng vai trò chủ đạo kết nối sản xuất, chế biến với thị trường. Về phía Nhà nước nên có chính sách hỗ trợ phù hợp, mang tính đột phá, tranh thủ vốn và công nghệ nước ngoài đầu tư vào khâu chế biến.

“Cần có sự chỉ đạo từ phía Nhà nước về quy hoạch các vùng sản xuất, khu chế biến cà phê có tính ổn định lâu dài, tạo điều kiện phát triển bền vững gắn với xây dựng kết cấu hạ tầng như hồ chứa nước, hệ thống tưới tiết kiệm nước, đường giao thông nội vùng…” – ông Lương Văn Tự kiến nghị.

Quốc Định/daidoanket.vn

Doanh Nghiệp Tìm Giải Pháp Để Phát Triển Ngành Du Lịch Bền Vững

(VOV5) – Phát triển du lịch xanh, góp phần phát triển một nền kinh tế xanh bền vững, là hướng các doanh nghiệp lữ hành đang triển khai.

Trao giải thưởng cho các doanh nghiệp du lịch. Ảnh: XM/TTXVN

Theo đánh giá của Tổng Cục Du lịch Việt Nam tại Lễ vinh danh và trao tặng Giải thưởng du lịch Việt Nam năm 2024 vừa tổ chức tuần qua tại Hà Nội, du lịch Việt Nam trong hơn 2 thập kỷ qua đã chứng kiến giai đoạn tăng trưởng mạnh mẽ với tỷ lệ ấn tượng trên 12% mỗi năm, góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế, xoá đói, giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội, bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá, bảo vệ môi trường và giữ vững an ninh quốc phòng.

Tuy nhiên, phát triển du lịch hiện nay vẫn đang phải đối mặt với nhiều thách thức, đặc biệt là năng lực cạnh tranh của điểm đến và tính bền vững. Vì vậy, để tìm hướng đi cho mình, nhiều doanh nghiệp du lịch Việt đã và đang có nhiều mô hình hoạt động linh hoạt, thực hiện nhiều biện pháp chuyển đổi như mô hình du lịch tiết kiệm điện, nước, cơ sở lưu trú xanh….

Bà Nguyễn Linh Chi, Phó Giám đốc Công ty Du lịch Tran Viet cho biết: “Chúng tôi đã nhấn mạnh vào một số các sản phẩm đặc biệt, ví dụ như tour giáo dục giúp cho bố mẹ cùng trải nghiệm với con cái, bản thân chúng tôi đưa ra các tour đó để cho các con có thể trải nghiệm như là các bé đi làm nông dân, làm muối… hoặc là giao lưu ở các sở thú hoặc là những nơi mà trẻ em thành phố ít có cơ hội tiếp cận và làm quen. Chúng tôi cũng xây dựng các tour đặc biệt như là khách hàng có thể lái xe ở các nước bạn…”

Vẻ đẹp của khu du lịch Tràng An – Bích Động. Ảnh: chúng tôi

Theo các chuyên gia, Việt Nam có tài nguyên du lịch tự nhiên và văn hóa – nhân văn rất phong phú, đa dạng. Đó là điều kiện thuận lợi cho phát triển du lịch xanh. Mặt khác, Việt Nam cũng là 1 quốc gia chịu ảnh hưởng lớn của biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Do vậy, phát triển du lịch xanh, góp phần phát triển 1 nền kinh tế xanh bền vững, là hướng các doanh nghiệp lữ hành đang triển khai.

Ông Nguyễn Hữu Y Yên, Tổng Giám đốc Công ty dịch vụ Lữ hành Saigontourist, khẳng định: “Nếu chúng ta phát triển du lịch không bền vững, không có mục tiêu và không bảo vệ môi trường thì chắc chắn dù cho có tốc độ tăng trưởng chậm, thì cũng tác động đến môi trường. Chúng tôi hiện nay đang nghiên cứu những chính sách du lịch bền vững của Châu Âu và áp dụng vào của mình, sẽ là lựa chọn những nhà cung ứng dịch vụ cho mình đảm bảo, phù hợp với tiêu chuẩn bảo vệ môi trường”.

Có thể nói, việc ngành du lịch đứng trước những thách thức là điều không thể tránh khỏi. Tuy nhiên, đây cũng là cơ hội để ngành du lịch Việt Nam phát triển du lịch có trách nhiệm tạo sự bền vững, lớn mạnh trong tương lai.

Cập nhật thông tin chi tiết về Tìm Giải Pháp Phát Triển Bền Vững Cho Ngành Cà Phê trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!