Xu Hướng 2/2024 # Tìm Giải Pháp Cho Vấn Đề Biển Đông # Top 6 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Tìm Giải Pháp Cho Vấn Đề Biển Đông được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Theo hãng tin AFP, đây là chuyến thăm thứ 3 của bà Hillary Clinton ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương kể từ tháng 5 đến nay. Mục đích chính của chuyến công du là thắt chặt sự đoàn kết giữa các quốc gia thành viên ASEAN, đưa ra những giải pháp cụ thể nhằm kiềm chế những phức tạp đang nảy sinh trong vấn đề tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông.

Quan điểm mà Ngoại trưởng Mỹ đưa ra là các quốc gia ASEAN cần phải đoàn kết thống nhất hơn nữa và thể hiện tinh thần này trên một nền tảng chung để giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông. Bà Hillary Clinton nói: “Chúng tôi tin rằng, các nước trong khu vực nên cộng tác cùng nhau để giải quyết tranh chấp mà không hề bị ép buộc, đe dọa hay sử dụng vũ lực”. Giới quan sát nhận định, có thể do quá nhấn mạnh về vấn đề Biển Đông nên chuyến thăm lần này của bà Hillary Clinton không được chào đón nhiều ở Trung Quốc.

Hôm 3/9, tức một ngày trước khi Ngoại trưởng Mỹ tới Bắc Kinh, Trung Quốc đã lên tiếng cảnh báo Mỹ nên khuyến khích ổn định ở châu Á-Thái Bình Dương và không nên can dự vào các tranh chấp lãnh thổ trong khu vực.

Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hồng Lỗi tuyên bố: “Chúng tôi hy vọng Mỹ sẽ thúc đẩy các lợi ích tối cao là hòa bình, ổn định và tôn trọng các cam kết của mình không can dự vào các cuộc xung đột chủ quyền trên biển trong khu vực”.

Chuyến công du 6 nước châu Á – Thái Bình Dương lần này của Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton như một lời khẳng định của Mỹ về sự hiện diện tại khu vực này. Ảnh: AFP.

Báo chí Trung Quốc lớn giọng chỉ trích Mỹ, cáo buộc Washington “gây rối” và yêu cầu “im miệng, sau khi Bộ Ngoại giao Mỹ ra tuyên bố chỉ trích các động thái gần đây của Bắc Kinh ở Biển Đông hồi đầu tháng 8. Thậm chí, có tờ báo còn cho rằng, Mỹ nợ Trung Quốc “một lời giải thích có sức thuyết phục về các ý định thực sự của họ” tại châu Á-Thái Bình Dương, và “Mỹ cần phải đưa ra các biện pháp cụ thể để chứng minh rằng họ trở lại châu Á với tư cách người kiến tạo hòa bình, chứ không phải là một yếu tố gây rối loạn”. Vì thế, người ta không loại trừ khả năng, kết quả chuyến đi lần này của Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton không tiến triển, thậm chí chẳng khác gì so với chuyến thăm hồi tháng 5 vừa qua.

Tuy vấp phải nhiều khó khăn từ trước khi tới đảo Cook tham dự Hội nghị thượng đỉnh của khu vực châu Á-Thái Bình Dương, song theo một quan chức cấp cao ngoại giao Mỹ, bà Hillary Clinton vẫn quyết tâm thực hiện chuyến công du 6 nước, trong đó có Trung Quốc. Ngoại trưởng Mỹ đang hy vọng rằng, với nỗ lực của Mỹ và nhiều quốc gia khác trên thế giới cũng như trong khu vực, ASEAN và Trung Quốc có thể đạt được thỏa thuận chung về COC chậm nhất là vào tháng 11 tới.

Trong lịch trình, khi đến Bắc Kinh ngày 5/9, bà Hillary Clinton sẽ gặp các quan chức hàng đầu Trung Quốc, trong đó có Chủ tịch nước đang mãn nhiệm Hồ Cẩm Đào và Phó Chủ tịch Tập Cận Bình, người dự đoán sẽ trở thành lãnh đạo Trung Quốc sau khi Đại hội lần thứ 18 kết thúc vào cuối năm nay.

Ngoại trưởng Mỹ nhấn mạnh rằng, đã đến lúc phải làm cho “sóng yên biển lặng” và cách tốt nhất để làm điều này là xây dựng COC. Bà Hillary Clinton hy vọng, không một bên hữu quan nào “tiến hành bất kỳ biện pháp nào dẫn đến căng thẳng leo thang hoặc làm bất cứ điều gì có thể bị coi là cưỡng ép hay đe dọa để thúc đẩy những tuyên bố chủ quyền lãnh thổ của họ”. Điều quan trọng là “có được một cơ chế xử lý khả năng bùng nổ xung đột hoặc tính toán sai lầm” vì lợi ích của tất cả các bên và “đây chính là thời điểm dành cho ngoại giao”.

Và để những việc này được thực hiện một cách suôn sẻ, một lần nữa Ngoại trưởng Mỹ khẳng định rằng, Mỹ không đứng về bên nào trong các vụ tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông nhưng có lợi ích an ninh quốc gia trong việc giải quyết hòa bình các tranh chấp ở Biển Đông. Ngoài vấn đề Biển Đông, bà Hillary Clinton cũng sẽ bàn thảo với giới chức Trung Quốc một số vấn đề khác như khủng hoảng chính trị-an ninh tại Syria, chương trình hạt nhân của Iran và CHDCND Triều Tiên

Giải Pháp Cho Vấn Đề Biển Đông

Viết về đề tài trên theo lời yêu cầu, chúng tôi xin trình bày vài bước đi trong lộ trình đi tìm cách giải quyết – tức là các giải pháp trung gian – rồi sau đó tiến đến các giải pháp pháp lý để giải quyết, trong hoà bình, vấn đề cốt lõi sau cùng là tranh chấp chủ quyền giữa Việt Nam và các nước khác về các quần đảo, tài nguyên dầu khí, ngư nghiệp, và thềm lục địa tại Biển Đông và về vấn đề tự do lưu thông hàng hải và khai thác tài nguyên ngoài biển.

Chúng tôi xét theo quan điểm dân tộc Việt Nam để đưa ra mấy đề nghị sau đây – và nếu chúng tôi nói tới quyền lợi của các quốc gia khác ở Á Châu chung quanh Biển Đông (Trung Quốc, Đài Loan, Phi luật Tân, Mã Lai, Brunei, Nam Dương, Singapore) hay các quốc gia dùng đường hàng hải hay có quyền lợi kinh tế hay an ninh ở Biển Đông (Mỹ, Nhật, Đại Hàn, Ấn, Nga) thì cũng là nói tới gián tiếp thôi.

Xin đề nghị 3 loại giải pháp: củng cố nội lực, ngoại giao đa phương và vận dụng luật pháp quốc tế.

1. Tuân theo ý nguyện của nhân dân để có nội lực chính trị và quân sự nhằm đối phó với áp lực của Trung Quốc.

Chính Trung Quốc, về mặt chính thức qua thông cáo của Bộ Ngoại Giao thì vẫn nói gịong ôn hòa (thí dụ gần đây chỉ nói về biển đảo mà không nói gì về đường Lưỡi Bò nữa), nhưng về dư luận nội địa thì lại thả lỏng cho dân chúng, qua báo chí, Internet, hay các bài của các học giả giáo sư bàn về Biển Đông, nói và viết với giọng bá quyền và đe dọa chiến tranh với Việt Nam, có lẽ với mục đích để cho một số lãnh đạo Việt Nam sợ mà không đẩy mạnh củng cố quân lực hay ngoại giao đa phuơng, nhằm phản ứng kịp thời khi Trung Quốc thình lình đánh úp vài hải đảo, theo lối tầm ăn rỗi.

Trong kiến nghị ngày 22 tháng 4, 2008 của 122 nhân vật ở trong và ngoài nước, dưới hình thức thư ngỏ gửi các nhà cầm quyền Việt Nam, họ trách móc rằng: ” Nhà nước Việt Nam đã tỏ ra không nghiêm túc xét định những kiến nghị quan trọng đã nêu và tỏ ra bất lực trước nghĩa vụ bảo toàn lảnh thổ quốc gia trước quyết định của Trung Quốc thành lập thành phố cấp huyện Tam sa, trong đó lại bao gồm cả hai quần đảo máu thịt của Tổ Quốc Việt Nam chúng ta là Hoàng Sa và Trường Sa. Hành động ngang ngược này của Trung Quốc rõ ràng đã coi khinh tình hữu nghị mà Việt Nam chúng ta đã nỗ lực khôi phục và vun đắp trở lại trong suốt hơn một thập kỷ qua. Sự kiện này đã làm cho nhiều người Việt Nam chúng ta khi biết tin hết sức bức xúc, phẫn nộ và đau xót. Không kể gái trai, già trẻ, địa vị, chính kiến đã có nhiều tiếng nói cá nhân, nhiều cuộc biểu tỏ tập thể công khai đã vang lên từ khắp nơi, trên mạng Internet, báo chí, trên đường phố, trong và ngoài nước. Rất khó hiểu, cho đến nay tất cả các vị lãnh đạo cao cấp và các cơ quan cao cấp nhất trong hệ thống lãnh đạo, quản lý đất nước từ Quốc hội, Chính phủ,… đều chưa bày tỏ thái độ một cách chính thức và rõ ràng đối với vấn đề Tổ Quốc đã bị Trung Quốc xâm lấn và tuyên bố thôn tính.” Họ viết tiếp là các câu phản đối của Chính phủ Việt Nam về Hoàng Sa, Trường Sa ” hoàn tòan không đủ và đã xúc phạm lòng yêu nước của dân tộc Việt Nam khi gọi những cuộc biểu tình trong trật tự để phản đối Trung Quốc là ‘những cuộc tụ tập không được phép’. Đặc biệt cần nhấn mạnh những nhân viên an ninh Bộ Công An đã có những hành xử thô bạo, sách nhiễu cuộc sống của những người biểu tình ôn hòa xiển dương lòng yêu Tổ Quốc Việt Nam là những hành vi trái pháp luật, làm tổn thương truyền thống đoàn kết quật cường chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam. Những hành động ngày càng ngạo mạn của chính quyền Trung Quốc gần đây đối với Việt Nam liệu có phải là hậu quả từ sự phản ứng quá nhún nhường của phía Việt Nam chúng ta? Việc ngăn cản nhân dân phản đối kẻ xâm lược lại càng làm cho dã tâm thôn tính của chính quyền bành trướng ngoại bang thêm táo tợn? Bất kỳ người Việt Nam yêu nước nào cũng đều đang đau đớn với những câu hỏi này! Trong khi đó chỉ bằng hai cuộc biểu tình của giới trẻ Việt Nam trước đại sứ quán và lãnh sự quán Trung Quốc vào ngày 09 và 16 tháng 12 năm 2007 đã làm cho giới lãnh đạo Trung Quốc phải xuống thang bằng việc tỉnh Hải Nam (Trung Quốc) ngày 19 tháng 12, 2007 phải đưa ra việc phủ nhận về ý định thành lập thành phố Tam Sa.”

Giải pháp chúng tôi đề nghị để lòng yêu nước của toàn thể dân tộc có thể hỗ trợ chính quyền trong việc bảo vệ đúng mức và sáng suốt quyền lợi quốc gia ngoải Biển Đông (kiên định bảo vệ quyền lợi cốt lõi của dân tộc nhưng cũng mềm dẻo, hòa bình và khéo léo về ngoại giao ̶ theo câu của ngoại trưởng Talleyrand của Napoléon: “dans la diplomatie, jamais trop de zèle” [trong ngoại giao, không bao giờ nên quá khích] thì phải làm thế nào để toàn dân tin tưởng vào lương tâm ái quốc thực sự của giới chức cầm quyền, không có sự dè dặt hay nao núng nào. Và muốn thế, thì trong giới các nhà cầm quyền, nên áp dụng thủ tục bỏ phiếu kín trong các quyết định trong Đảng và Quốc Hội về các vấn đề gay go đối với Trung Quốc để không ai sợ bị lộ diện chống Trung Quốc rồi bị tình báo Trung Quốc ám hại, hoặc Trung Quốc cũng không có thể rải qúa nhiều tiền mua chuộc lương tâm của đa số người trong Đảng hay Quốc hội mà không lộ ra công luận và làm sự mua chuộc hết hiệu lực, vì phải đối đầu với trào lưu ái quốc rất mạnh trong dân tộc. Một thí dụ về bỏ phiếu kín khiến các đại biểu quốc hội có thể mạnh dạn bỏ phiếu theo sự hiểu biết và lương tâm, là việc quốc hội bác bỏ dự án đường xe lửa cao tốc khi chưa hoàn chỉnh. Trong hàng ngũ một số lãnh đạo đã có một sự e sợ Trung Quốc ̶ như thư ngỏ của 122 nhân vật trong nước đã nói tới ̶ vì lãnh đạo muốn chống Trung Quốc còn ngại là sẽ bị lãnh đạo khác dựa vào Trung Quốc tìm cách lật đổ địa vị ̶ bằng biểu quyết ̶ trong Đảng và trong chính phủ. Sự dựa vào Trung Quốc này của một phần lãnh đạo hiện nay, khác hẳn sự nhất trí trong Đảng chống Trung Quốc sau chiến tranh Trung -Việt nó khiến Đảng và Quốc Hội đồng tâm ghi thêm vào Hiến Pháp 1980 điều khoản coi “bá quyền Trung Quốc” là kẻ thù “xâm lưọc”. (Trái lại, người dân thường không sợ mất vị trí công việc của mình mà trở thành thất nghiệp, khi tỏ thái độ chống bá quyền Trung Quốc). Khi các đại biểu trong Quốc Hội, hay trong Đảng, biết là vùng Biển Đông ̶ theo một ước tính, tuy chưa chắc chắn ̶ vào năm 2024 có thể đóng góp vào 55% tổng sản lượng quốc gia và 55-60% hàng hoá xuất cảng thì họ sẽ càng quyết tâm bảo vệ tài nguyên của tổ quốc hơn, khi sự biểu quyết của họ được thi hành bằng bỏ phiếu kín. Dĩ nhiên về các vấn đề mà người dân cần biết lập trường khi bỏ phiếu của các đại biểu quốc hội về các vấn đề không có đe dọa đến tính mạng của họ, thì vẫn dùng thủ tục bỏ phiếu công khai (giống như roll call ở quốc hội các nước dân chủ, và cũng đúng tôn chỉ “dân biết, dân bàn, dân kiểm tra”).

Thế mà Việt Nam vẫn chậm chạp trong việc xích gần Tây Phương. Trong hội thảo về Biển Đông tại Đại Học Yale ngày 18/11/2009, ông cựu đại sứ Việt Nam Nguyễn Trung, từng gần với các nhà ngoại giao Việt Nam rất dè dặt về Trung Quốc như Nguyễn Cơ Thạch và Trần Quang Cơ, và là nguyên cố vấn thủ tướng, có nói là ôn lại lịch sử thương nghị tay đôi với các nước thì tuy Việt Nam thành công với Indônêxia và Mã Lai, ông thấy bi quan cho một giải pháp sau cùng đối với Trung Quốc. Nhưng chúng tôi có đưa ra câu hỏi là tại sao Việt Nam không đẩy mạnh đa phương hóa ngọại giao để có đối lực với Trung Quốc, thí dụ thực hiện sự cộng tác tập trận hải quân với Mỹ theo đề nghị của chính phủ Bush, thì được biết là Việt Nam vào lúc đó mới chỉ dè dặt chấp nhận tập việc cùng Mỹ cấp cứu ngộ nạn và tìm xác người trên biển.

Phải tới tháng 7 năm 2010 mới có một sự đột biến quan trọng. Hồi hạ tuần tháng 7 năm 2010, Ngoại trưởng Clinton tuyên bố tại Hà Nội rằng Hoa Kỳ xem Việt Nam ” không những thật sự là một quốc gia quan trọng mà còn là một bộ phận của chiến lược nhắm tăng cường cam kết của người Mỹ trong khu vực Á châu Thái Bình Dương, đặc biệt là trong vùng Đông Nam Á.” Khi phát biểu tại hội nghị của Diễn đàn Khu vực ASEAN ở Hà Nội, bà Clinton còn nói rằng Hoa Kỳ xem việc giải quyết vấn đề tranh chấp chủ quyền ở biển Nam Trung Hoa (Việt Nam gọi là Biển Đông) bằng đường lối đa phương, theo luật quốc tế, mà không đe dọa hay dùng võ lực, là một “quyền lợi quốc gia” của Mỹ. Những phát biểu này đã khiến cho giới lãnh đạo Trung Quốc phật lòng.

Quan hệ giữa Hoa Kỳ và các quốc gia vùng Đông Nam Á có dịp để phát triển thêm nữa khi Tổng thống Barack Obama tổ chức cuộc hội nghị thượng đỉnh Mỹ-ASEAN tại New York vào ngày 24 tháng 9 năm 2010, để bàn chuyện hợp tác kinh tế và an ninh ̶ kể cả trong Biển Đông ̶ bên lề phiên họp thường niên của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc. Tin của Associated Press (19/9/2010) cho biết Dự thảo Tuyên bố chung Mỹ-ASEAN tái xác nhận nguyên tắc tự do hàng hải và giao thương trong Biển Đông, ổn định khu vực, và tôn trọng luật quốc tế mà chống lại việc sử dụng hay đe dọa võ lực để giành chủ quyền ở Biển Đông, và Phụ tá Bộ Trưởng Ngọai giao Kurt Campbell và Giám Đốc Vụ Á Châu Jeffrey Bader trong Hội Đồng An Ninh Quốc Gia Mỹ cũng báo cho các đại sứ ASEAN trong phiên họp chuẩn bị cho Hội nghị Thượng Đỉnh Mỹ-ASEAN, là Trung Quốc có vẻ ôn hòa hơn trong các buổi gặp gần đây, đồng ý bàn về nguyên tắc các bên phải tuân theo trong Biển Đông sau khi họ cắt nghĩa là giải pháp hoà bình tôn trọng luật quốc tế mà Ngọai Trưởng Clinton nói tới tại Hà Nội tháng 7 không ám chỉ riêng về Trung Quốc mà áp dụng cho mọi quốc gia tranh quyền.

ASEAN cũng tuyên bố là đang thương lượng với Trung Quốc để có một tuyên ngôn chi tiết hóa việc thi hành cái bản ” Tuyên Bố về Cách Ứng xử (Declaration of Conduct) trên Biển Đông” năm 2002. Ngày 30 tháng 9, 2010 Đại sứ Trung Quốc tại Phi luật Tân cho hay là đã bắt đầu thương thuyết với các nước Đông Nam Á nhắm tới việc thỏa thuận về một Qui tắc Ứng xử(Code of Conduct), có hiệu lực bó buộc, để đối phó với các vụ tranh chấp lãnh thổ, lãnh hải trong vùng Biển Đông.

Theo giáo sư Úc Carl Thayer chuyên nghiên cứu về Việt Nam, thì lãnh đạo Việt Nam có hai khuynh hướng: một muốn mở rộng quan hệ quốc tế, liên hệ với nhiều quốc gia; một muốn nể nang, liên hệ chặt chẽ với Trung Quốc hơn nước khác (gọi là nhất biên đảo), nhưng cũng theo GS Thayer, trước khuynh hướng chống Trung Quốc của nhân dân, nhóm thân Trung Quốc này hình như cũng phải đồng ý phải tìm con đuờng quốc phòng khác dựa vào quan hệ đa phương, không thể chỉ dựa hay tin vào Trung Quốc.

Vì Trung Quốc tăng ngân sách quốc phòng 500% từ 1997 cho đến nay, phát triển rất mạnh hải quân, củng cố căn cứ hải quân Yulin ở nam Đảo Hải Nam với chỗ đậu cho nhiều chiến hạm lớn và tầu ngầm kể cả tầu ngầm phóng đầu nguyên tử và hàng không mẫu hạm mà họ đang trong giai đoạn xây dựng, cải tiến phi trường tại Hoàng Sa và đài radar tại Fiery Cross Reef ở Trường Sa, cho nên trong liên hệ đa phương với các cường quốc bạn, nhất là Mỹ, là nước đã thấy sự đe dọa của hải quân Trung Quốc đối với sự đi lại của Hạm Đội 7 (thí dụ nhu vụ quấy nhiễu tàu Impeccable của Mỹ), thì Việt Nam phải tìm cách nhờ họ giúp canh tân hải quân (chiến hạm chạy mau và tầu ngầm) và không quân (máy bay oanh tạc và trực thăng võ trang) để có thể tiếp cứu mau chóng các hải đảo. Quân lực mạnh sẽ là biện pháp ngăn ngừa (deterrence) đối với Trung Quốc, như câu châm ngôn “muốn có hòa bình, phải chuẩn bị chiến tranh”. Hơn nữa, phải liên minh, hay phối trí ̶ nếu ngại dùng chữ liên minh ̶ với Mỹ để cùng tuần hành với Hạm Đội 7, bảo vệ người Mỹ và tài sản Mỹ trên các giàn khoan dầu trong các dự án hợp tác khai thác với Việt Nam, và tiến hành các cuộc tham khảo về an ninh và chính trị với Mỹ, theo như Thông Cáo Chung của Tổng Thống Bush với Thủ Tướng Dũng tháng 6 năm 2008. Giáo sư Taylor Travel của Massachusetts Institute of Technology, nghiên cứu 24 vụ tranh chấp biên giới trong 60 năm của Trung Quốc, thấy là Trung Quốc sẽ không sử dụng võ lực nếu đứng trước một cường quốc ̶ trái lại năm 1974 và 1988 đã tiến đánh Việt Nam để chiếm nốt Hoàng Sa và một số đảo ở Trường Sa. Tóm lại, phải cứng rắn thì Trung Quốc mới ngừng lại ̶ vì từ trước đến nay họ vẫn theo chính sách ” mềm nắn, rắn buông “.

Chắc lãnh đạo Việt Nam cũng ý thức rằng phải củng cố khả năng chiến đấu bảo vệ hải đảo là vì một khi đã để mất hải đảo thì hành quân chiếm lại gần như không thể thực hiện được vì cường quốc Trung Quốc sẽ củng cố hải đảo bằng đủ loại khí giới tối tân và các biện pháp tàn bạo, và Việt Nam dù có dùng chiến thuật biển người cũng không làm được, vì không phải là đất liền. Số tử vong của các chiến sĩ cố chiếm lại đảo sẽ lên quá cao ̶ như có thể thấy qua kinh nghiệm đau đớn của quân đội Mỹ trong Thế chiến II, khi vất vả chiếm lại dần dần các đảo trên Thái Bình Dương từ tay quân đội Nhật (chết nhiều đến nỗi Mỹ sau đó ném bom trải thảm trên đất Nhật để trả thù).

LUẬT PHÁP VỀ THỀM LỤC ĐỊA

Thềm lục điạ đã được định nghĩa rõ rệt theo các tiêu chuẩn địa dư và địa chất rõ rệt trong Công Uớc Liên Hợp Quốc 1982 về Luật Biển, và phạm vi tính từ bờ biển đi ra xa như thế nào đã rõ trong luật, Việt Nam không cần nói cũng có chủ quyền.

Chỉ còn vấn đề thềm lục địa nới rộng thì Việt Nam cũng đã làm thủ tục đăng ký, đặc biệt đã nộp hồ sơ chung với Mã Lai về khu vục thềm lục điạ hai nước trùng nhau.

Uỷ Ban Liên Hợp Quốc lo việc đăng ký thềm lục địa mở rộng cũng không phải là trọng tài giải quyết tranh chấp, vì việc bất đồng ý kiến của các quốc gia cận duyên về biên giới thềm lục địa nới rộng phải do các bên liên hệ thương lượng với nhau để giải quyết. Vì thế, ngoại giao song phương hữu nghị của Việt Nam với Trung Quốc trong vấn đế thềm lục địa trùng nhau tại Vịnh Bắc Bộ và phiá bắc Biển Đông vẫn phải tiến hành.

LUẬT PHÁP VỀ QUYỀN KHAI THÁC NGHỀ CÁ CỦA DÂN CHÀI VIỆT NAM

Việt Nam cần đòi hỏi mạnh mẽ việc thực thi Hiệp định Nghề cá đã ký với Trung Quốc và Hiệp Uớc Quốc Tế. Trung Quốc đã trắng trợn vi phạm Hiệp định Cộng Tác Nghề Đánh Cá ngày 25/12/2000 ký kết giữa Trung Quốc và Việt Nam và Hiệp Định của Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982, trong việc kỳ thị đối với dân chài Việt Nam, xua đuổi, đánh đập họ và vi phạm quyền tư hữu của họ, mà cho các dân chài các nước khác được hưởng quyền trú chân trốn bão, vốn có từ lâu trong lịch sử loài người và quy định trong các văn kiện luật quốc tế, nhất là Hiệp Định Liên Hợp Quốc 1982.

Trắng trợn vi phạm điều 12 Hiệp định Nghề cá nói trên, theo đó, hai nước đã lập ra vùng đệm (buffer zone) ở ngoài lãnh hải của mỗi nước (territorial sea), để nếu các thuyền đánh cá nhỏ của một nước đi lạc vì lầm lẫn vô lãnh hải của nước kia, thì nước kia sẽ cảnh cáo và ra lệnh cho các thuyền đó đi ra mà không bắt giữ, mà cũng không dùng võ lực. Nếu có điểm gì tranh chấp, thì điều 12 cũng nói là phải đưa ra Uỷ ban Hỗn hợp Việt Trung về Nghề cá trong Vịnh Bắc Việt nếu có điều gì ngoài chuyện đánh cá (thí dụ như trốn bão chẳng hạn). Uỷ ban này phải quyết định phân xử theo lối đồng thuận giữa hai bên Việt Trung. Vậy Trung Quốc đã vi phạm về mặt thủ tục luật pháp quy định ngay trong Hiệp định Trung Quốc đã ký, coi rẻ người Việt Nam và nhà nước Việt Nam.

Trắng trợn vi phạm về mặt nội dung điều 15 và 16 Hiệp định Nghề cá, theo đó khi dân chài và thuyền đánh cá một nước bị tai biến khẩn cấp (distress or other emergencies) trong khu lãnh hải của nước kia thì nước kia có nhiệm vụ phải cứu giúp và che chở; và khi dân chài và thuyền một nước tìm cách trốn bão, thì có quyền trú ẩn trong lãnh hải nước kia. Ghe thuyền đánh cá một nước có quyền hàng hải, có quyền đi qua vô hại (innocent passage).

Trung Quốc trắng trợn vi phạm Hiệp định Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982, điều 292, theo đó một nước duyên hải chỉ có thể bắt giữ ghe thuyền và thuỷ thủ nước khác trong một số trường hợp giới hạn, thí dụ đánh cá bất hợp pháp, sau khi lên tầu và khám xét để thấy có bằng chứng vi phạm, và phải mau chóng thả, sau khi bắt đóng tiền thế chân hay bảo đảm khác (luật quốc tế định như vậy để tránh sự lạm dụng quyền thi hành luật của nước duyên hải).

Nếu không thả sớm, hoặc không đưa ra xét xử trong tòa án quốc nội hay cơ quan xét xử nào khác (thí dụ Uỷ ban Hỗn hợp trong Hiệp định Việt-Trung nói trên), thì trong vòng 10 ngày (Hiệp định Liên Hợp Quốc quan niệm đây là thủ tục khẩn cấp ̶ accelerated procedure), quốc gia của người dân chài bị bắt giữ có thể đưa ra, hay uỷ quyền cho chủ ghe thuyền đưa ra, trước Toà án Quốc tế Luật Biển (International Tribunal of the Law of the Sea) về việc bắt giữ qúa lâu này. Tòa án đó phải giải quyết khiếu nại ngay, không được trì hoãn, và định số tiền thế chân để thả người ta ra.

Việc cho trú ngụ khi gặp bão không phải là vấn đề gay go về tranh chấp chủ quyền, thì không có gì phải nể Trung Quốc quá, sẽ mang tiếng là không thương người dân chài vô sản, vô tội, thua kém cả người nước ngoài như một đại tá hải quân Nga cũng đã lên tiếng, trong dịp tầu Nga Panteleyev viếng thăm Đà Nẵng tháng 6 năm 2009, chỉ trích Trung Quốc cấm đóan tầu đánh cá Việt Nam và nói Nga sẵn sàng giúp đỡ họ.

Phải đem ra toà án về luật biển của Liên Hợp Quốc. Và người dân chài có thể làm việc này và dĩ nhiên cần nhờ một luật sư chỉ dẫn cho họ. Điều nên nhớ là họ phải được sự uỷ quyền của nhà nước Việt Nam

LUẬT PHÁP VỀ ĐƯỜNG LƯỠI BÒ

Bắc Kinh rất ít khi hay là không giám đưa ra chi tiết về căn bản pháp lý của Đường Lưỡi Bò, mà chỉ xác nhận hàm hồ, là tất cả phần lớn Biển Đông, khoanh trong Đường Lưỡi Bò, là của Trung Quốc từ “thời tiền sử” và vẽ ra trên bản đồ “một đường chu vi lịch sử về chủ quyền” thâu tóm 80% Biển Đông, thâu tóm cho Trung Quốc hầu như là tất cả mọi thứ trong đó ̶ biển đại dương, các đảo, đáy biển. Đường chu vi này đi xuyên qua các khu vực giếng dầu đang sản xuất ngay gần Sarawak, qua một số giếng dầu Việt Nam đã khám phá, và chiếm một phần lớn các khu Natuna có trữ lượng khí đốt của Indonêxia. Học giả Wain nói rằng “đường chu vi lịch sử về chủ quyền” này bị các chuyên gia độc lập về đại dương cho là quá lố lăng, có lẽ vì thế mà Bắc Kinh không muốn bàn công khai về nó. Ông Valencia thuộc East West Center (Hawaii), nay ở Trung Tâm Woodrow Wilson, nói là đường chu vi ấy chẳng có căn cứ gì trong luật quốc tế thời hiện đại. Nhà học giả Mã Lai về đại dương Hamzah ví cái sự đòi chủ quyền này như cái Mệnh Lệnh Giáo Hoàng lố lăng và nông nổi năm 1493 đem chia các đại dương trên trái đất ra cho hai nước Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha. Tại Hội nghị ở Houston tháng 4, 2010 nói trên, cũng có luật gia Mỹ nói đùa là: Nếu Trung Quốc đòi chiếm đại dương ở Biển Đông bằng Đường Lưỡi Bò, thì Mỹ cũng sẽ có thể đòi hết Gulf of Mexico về cho mình, tước bỏ quyền của Mexico và Cuba và các nước ở Trung Mỹ.

LUẬT PHÁP VỀ CÁC QUẦN ĐẢO HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA

Cần dựa vào luật pháp quốc tế để đòi hỏi sự công nhận chủ quyền Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa, tuy phạm vi chủ quyền Việt trên bao nhiêu đảo ờ Trường Sa thì chưa ấn định rõ, sẽ cần thuơng thảo sau với các nước Đông Nam Á.

Luật quốc tế truyền thống, đã được công nhận qua nhiều thế kỷ và có trứơc Hiệp Ước Luật Biển 1982, nói về chủ quyền đối với một miền đất như sau: một chính quyền muốn xác nhận chủ quyền phải có sự liên tục hành xử chủ quyền trong hòa bình, nói rõ ý định làm chủ, và nếu bị cưỡng chiếm thì phải phản đối chính quyền mới cướp bằng võ lực đất của mình để ngăn cản chính quyền mới này thủ đắc chủ quyền bằng sự hành xử chủ quyền liên tục.

Xét các bằng chứng lịch sử về chủ quyền của Việt Nam theo luật quốc tế này, thì Việt Nam đã xác nhận và hành xử chủ quyền trên Hoàng sa và Trường Sa (tuy phạm vi hành xử ở Trường sa thì chưa xác định tới bao nhiêu đảo); và khi Trung Quốc chiếm Hoàng Sa bằng võ lực năm 1974 và Việt Nam Cộng Hòa phản đối, sau đó Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà (nay là Cộng Hoà Xã Hội Việt Nam) – kế quyền của Việt Nam Cộng Hòa theo nguyên tắc thừa kế quốc gia (succession of state) – cũng phản đối vụ Trung Quốc dùng võ lực chiếm Hoàng Sa và rồi phản đối nhiều lần việc Trung Quốc dùng võ lực chiếm một số đảo ở Trường Sa năm 1988 (gây thương vong cho nhiều lính hải quân Việt Nam) và các năm sau đó, thì chủ quyền Việt Nam trên Hoàng Sa và Trường Sa không thể bị coi là đã sói mòn vì thiếu sự tuyên bố và hành xử chủ quyền.

Vì bài này nói về khiá cạnh luật pháp của chủ quyền, và sẽ chỉ nói vắn tắt tới các sự kiện trong lịch sử về việc Việt Nam tuyên nhận và chiếm hữu chủ quyền về các đảo như là bổ sung cho luận cứ pháp lý, cho nên ở đây chỉ xin tóm tắt về các sự kiện đó – mà chúng tôi, khi viết một bài phân tích tổng quát và khuyến nghị chính sách và nghị trình như thế này (general analysis & policy and agenda recommendations), theo kiểu một bài phân tích trong tập san Foreign Affairs, thì không muốn ghi nhiều chú thích tỉ mỉ về mỗi sự kiện đó, làm chia trí độc giả, và do đó chỉ xin lưu ý độc giả là, quí vị, như chúng tôi, có thể tìm ra nhiều bài viết và sử liệu giá trị, cung cấp bởi các nhà nghiên cứu sử, thí dụ như Tập San Sử Địa xuất bản trước 1975,luận án và bài viết của ông Nguyễn Nhã, Quỹ Nghiên Cứu Biển Đông v.v., nhất là với phương tiện như “Google” trên mạng Internet.

Trong khi vào năm 1898 Tổng Đốc Quảng Châu không nhận trách nhiệm xử lý về một vụ đắm và cướp tầu, viện lý do là quần đảo Tây Sa là những đảo bị bỏ rơi, không sáp nhập vào quận nào của Hải Nam, thì Việt Nam đã có khoảng 30 tư liệu về chủ quyền trên Hoàng Sa và Trường Sa, suốt từ đời các Chuá Nguyễn tới đời Nhà Nguyễn (Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư hay Toàn tập An Nam Lộ 1686, Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quí Đôn 1776; Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí của Phan Huy Chú 1821, Hoàng Việt Địa Dư Chí 1833, Đại Nam Thực Lục Chính Biên Tiền Biên, đệ nhất đến đệ tam kỷ, 1848,1864 và 1879; Châu Bản Triều Nguyễn (đặc biệt tập tấu của bộ công ngày 12 tháng 12, năm Minh Mạng 17, tức là năm 1836, có nói đến việc sai đội thuỷ binh Phạm Hữu Nhật ra Hoàng Sa cắm mốc và đặt bia chủ quyền, việc này thành lệ hàng năm, như nói trong Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sử Lệ, 1851), Đại Nam Nhất Thống chí, 1882, 1910.

Có ý kiến rằng chứng cớ lịch sử về chủ quyền Việt Nam thời vua chúa trước thời Pháp cai trị, đối với Hoàng Sa thì đã quá rõ, nhưng về Trường Sa thì không rõ, thí dụ có ý kiến rằng Phủ Biên Tạp Lục nói Chúa Nguyễn phái Biệt Đội Bắc Hải “đi du lịch” đến Bắc Hải (Trường Sa) và Côn Lôn để thu lượm các hải vật là không rõ ràng xác lập chủ quyền Việt Nam. Nhưng theo thiển ý, khi có một cuộc hải trình của một biệt đội tên là Bắc Hải do nhà nước sai phái (state expedition), và đặt dưới quyền giám sát của một biệt đội nhà nước khác là Biệt đội Hoàng Sa, thì phải giải thích đó là một cuộc hải trình của nhà nước, vì nếu chỉ là tư nhân du lịch thì không có sự đặt tên và sắp xếp hệ thống quân giai như vậy. Đến đời vua Ming Mạng, khoảng sau năm 1838 khi quốc hiệu đổi thành Đại Nam, thì có cuốn Đại Nam Nhất Thống Toàn Đồ nói đến “Vạn Lý Trường Sa” và nó có giá trị bằng chứng lịch sử để xác lập lần nữa chủ quyền Việt Nam (mặc dầu cuốn này không phải do vua ra lệnh làm ra ̶ không phải là “khâm định” ̶ mà có lẽ do một số đại thần trong Quốc Sử Quán làm) và từ đó, Trường Sa, hay ít ra là đa số các đảo trong quần đảo đó mà Việt Nam đã chiếm (trừ những đảo quá xa Việt Nam và gần Phi, Mã Lai, Indonêxia, Borneo hay Brunei) không còn là đất vô chủ (terra nullius) theo luật quốc tế nữa, mà đã có Việt Nam xác lập chủ quyền.

Trong khi đó tại Trung Quốc, Thích Đại Sán viết Hải Ngoại Ký Sự năm 1696 nói chúa Nguyễn sai thuyền ra khai thác Vạn Lý Trường Sa; và tất cả các bản đồ cổ của Trung Quốc đều xác định đảo Hải Nam là cực nam biên giới phía nam Trung Quốc và không hề vẽ Tây Sa và Nam Sa. Sau này Trung Quốc cứ nói mà không có bằng chứng, hay bịa đặt, là họ đã khám phá các hải đảo, khi thì nói là vào đời Tống, khi thì nói là vào đời Hán. Trong các cuốn chính sử hay địa dư rất dầy và nhiều quyển của Trung Quốc đều không nói gì về việc Trung Quốc khám phá hay quản lý Hoàng Sa và Trường Sa, thí dụ như không có sự nhắc nhở bàn luận nào về các quần đảo này trong Khâm Định Đại Thanh Nhất Thống Chí (theo sự nghiên cứu của ông Nguyễn Quang Ngọc trình bày ở Học viện Ngọai Giao 2009), hay Thanh Sử Cảo hoặc Đại Thanh Nhất Thống Bản Đồ (theo sự nghiên cứu của ông Hồ Bạch Thảo đăng trên báo mạng Diễn Đàn 12/2009). Luật quốc tế qui định là khám phá mà không kèm theo việc hành xử chủ quyền quản lý liên tục thì cũng không tạo ra chủ quyền quốc gia. Một thí dụ là khi nhóm người Pilgrims đến Massachusetts trên tầu Mayflower vào năm 1620, thì một người Pháp, ông Champlain, trước đó, từ năm 1604 đến 1606, đã từ khu vực Nova Scotia (Canada) đến khám phá Maine và Massachusetts, vẽ bản đồ cho các khu vực đó và gọi là New France (Nước Pháp Mới), in trong cuốn sách “Voyages” xuất bản năm 1613. Nhưng vua Pháp không hỗ trợ cho công cuộc quản lý chủ quyền mà ông Champlain đã tuyên bố cho nưóc Pháp. Rút cục, các vùng đất này trở thành thưộc địa của Anh Hoàng và hai tiểu bang của Mỹ sau đó.

Tài liệu của Tây Phương như nhật ký trên tầu Amphitrite, năm 1701, sách của Chaigneau (1769-1825), linh mục Taberd (1833) đều nói vua Gia Long khẳng định chủ quyền trên Hoàng Sa năm 1816.

Nhưng nhà cầm quyền thuộc địa Pháp ở Đông Dương lơ là trong một thời gian việc xác nhận chủ quyền trên Hoàng Sa và Trường Sa của nước bị bảo hộ An Nam. Chỉ đến năm 1909 khi có cuộc khảo sát trái phép Hoàng sa của Tổng Đốc Quảng Đông, và báo chí báo động thì nhà cầm quyền Pháp mới hành động thực thi chủ quyền, như việc Viện Hải Dương Học Nha Trang khảo sát Hoàng Sa năm 1925 và lập đơn vị hành chánh quận Hoàng Sa năm 1932.

Riêng về Trường Sa, thời Pháp thuộc, Pháp cũng chỉ ghi được có 6 đảo, và cũng không biết tòan thể quần đảo có bao nhiêu đảo, nhưng năm 1933 có cử một hạm đội nhỏ ra gắn các chai đựng văn bản xác lập chủ quyền vào cột xi măng xây trên mỗi đảo, kéo cờ Pháp lên. Cao Uỷ Pháp cố vấn cho chính phủ Bảo Đại, cũng như Bộ Pháp Quốc Hải Ngoại coi Trường Sa là lãnh thổ Pháp, ngay cả vào sau này, trong thời gian chính phủ Ngô Đình Diệm, đã tuyên bố vào năm 1956 là cả Hoàng Sa và Trường Sa thuộc lãnh thổ Pháp, khiến chính phủ Ngô Đình Diệm phẫn nộ. Nhưng thực ra thì Pháp trước đó, qua nghị định số 4762 ngày 21-12-1933 của thống đốc Nam Kỳ Krautheimer, đã sát nhập Trường Sa vào Bà Rịa, Nam Kỳ, là thuộc địa Pháp. Như vậy có thể nói khi Pháp trả thuộc địa Nam Kỳ cho Việt Nam, thì theo nguyên tắt thừa kế quốc gia, Trường Sa đã thuộc chủ quyền Việt Nam. Năm 1938, Pháp lập bia chủ quyền và trạm vô tuyến ở đảo Itu-Aba.

Như vậy cho đến khi kết thúc Thế chiến II, việc thực thi chủ quyền của Pháp nhân danh thuộc địa An Nam, tuy muộn màng, nhưng không gặp phản đối của nước nào.

Việc tranh chấp chủ quyền xảy ra nhiều hơn từ các năm sau Thế Chiến II, giữa một bên là Pháp (nhân danh Việt Nam), Việt Nam và bên kia là Trung Hoa Dân quốc và Cộng Hoà Nhân dân Trung Hoa. Năm 1946, Quân đội Nhật rút khỏi Hoàng Sa và Trường Sa, Pháp trở lại và Cao Uỷ Đông Dương D’Argenlieu cử chiến hạm l’Escarmouche ra đảo Hoàng Sa (Pattle); nhưng Trung Hoa Dân Quốc cử 4 chiến hạm đến Trường Sa. Pháp phản đối và yêu cầu quân Tưởng Giới Thạch rút khỏi đảo Phú Lâm mà họ không rút. Năm 1949, chính phủ Bảo Đại được lập ra và hoàng thân Bửu Lộc khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên hải đảo. Khi lục địa Trung Quốc rơi vào tay Mao, quân Tưởng Giới Thạch rút khỏi Hoàng Sa và ngày 14/10/1950 Pháp chính thức chuyển giao quyền về Hoàng Sa cho chính phủ Bảo Đại, đại diện bởi Thủ Hiến Trung Phần, trong buổi lễ tại Hoàng Sa. Tại Hội Nghị San Francisco 1951 có 51 quốc gia tham dự để ký hoà ước với Nhât, ngoại trưởng Liên sô Gromyko đưa ra bản tu chính để nói Nhật nhìn nhận chủ quyền của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa đối với Hoàng Sa, nhưng Hội nghị bác. Khi Thủ Tướng Trần Văn Hữu của chính phủ Bảo Đại long trọng tuyên bố Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ Việt Nam thì không có đại biểu nào trong Hội nghị phản đối. Tuy Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa không tham gia Hội Nghị, ngoại trưởng Chu Ân Lai ra thông báo về dự thảo Hiệp ước là Trung Quốc đã có các quyền lâu đời về các quần đảo. Nhưng thực tế là vào năm 1950 và sau đó, tại Hoàng Sa và Trường Sa chỉ còn quân trú phòng của chính phủ quốc gia Việt Nam,tuy cũng có những sự cố như Đài Loan có gửi tầu chiến đến đảo Itu Aba vào năm 1956.

Hiệp định Geneva chia đôi Việt Nam quy định là Hoàng Sa và Trường Sa ở dưới vĩ tuyến 17 sẽ đặt dưới quyền quản lý hành chính của chính quyền Miền Nam.

Từ 1956 đến 1975, có nhiều cuộc lấn chiếm của các bên. Ngoại trưởng Vũ Văn Mẫu của Việt Nam Cộng Hòa khẳng định chủ quyền Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa và quân đôi Việt Nam Cộng Hòa chiếm đóng các đảo phía tây của quần đảo Hoàng Sa, trong đó có đảo Hoàng Sa (Pattle) và một số đảo chính của quần đảo Trường Sa và Tổng Thống Diệm ký sắc lệnh quy định Trường Sa thuộc tỉnh Bà Rịa mà tên mới là Phước Tuy. Nhưng tháng 10, 1956 hải quân Đài Loan chiếm đảo Itu-Aba là đảo lớn nhất ở Trường Sa. Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa chiếm đảo Phú Lâm (Boisê), đảo lớn nhất của Hoàng Sa. Sắc lệnh 1961 của Tổng Thống Việt Nam Cộng Hoà sáp nhập Hoàng Sa vào tỉnh Quảng Nam. Năm 1973, Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) sáp nhập Trường Sa vào xã Phước Hải, tỉnh Phước Tuy ̶ nhưng tháng 1.1974 Trung Quốc tuyên bố việc sáp nhập ấy là lấn chiếm lãnh thổ Trung Quốc, và VNCH bác bỏ lời tuyên bố đó.

Ngày 15/1/1974, Trung Quốc điều động hải quân (mà ngụy trang là tầu đánh cá) có phi cơ yểm trợ. VNCH gửi đến Hoàng Sa các tuần dương hạm Lý Thường Kiệt, Trần Bình Trọng, khu trục hạm Trần Khánh Dư, và hộ tống hạm Nhật Tảo, cho tóan biệt hải đổ bộ lên hạ cờ Trung Quốc. Súng nổ trên đảo Duncan và một đảo khác. Ngày 16/1/1974, VNCH bác bỏ luận cứ của Trung Quốc và xác nhận chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo. Cuộc hải chiến xảy ra ngày 19/1/1974. Chiến hạm Nhật Tảo bị bốc cháy rồi chìm, một số chiến hạm bị hư hại và một số binh sĩ Việt Nam bị bắt hay mất tích; nhưng Trung Quốc bị chìm hai chiếc chiến hạm và cháy hai chiếc. Mỹ không can thiệp mặc dầu được yêu cầu.

Sau đó đại biểu VNCH tố cáo Bắc Kinh tại hội nghị luật biển ở Caracas và hội nghị khác. Ngày 14/2/ 1975, Bộ Ngoại Giao VNCH công bố Sách Trắng về Hoàng Sa và Trường Sa.

Cuộc chiến đấu anh dũng của các chiến sĩ hải quân VNCH trong cuộc hải chiến năm 1974 (mà ngày nay trong nước Việt Nam cũng phải công nhận là những người ái quốc mà không gọi là nguỵ quân) cùng vói các lời phản đối của chính phủ VNCH ngay sau đó và năm sau, là những đóng góp quan trọng cho việc xác lập chủ quyền ở Hoàng Sa, chiếu theo luật quốc tế đã nói, “liên tục hành xử chủ quyền trong hòa bình, nói rõ ý định làm chủ, và nếu bị cưỡng chiếm thì phải phản đối chính quyền mới cướp bằng võ lực đất của mình để ngăn cản chính quyền mới này thủ đắc chủ quyền”.

Giữa một bên là Trung Quốc vẫn nói tới tình hữu nghị với Việt Nam và vài quốc gia Đông Nam Á, và một bên là Việt Nam thống nhất sau 1975, vẫn tiếp tục tranh chấp về chủ quyền trên các quần đảo. Trong các năm 1978, 1979, 1980, 1981, 1982, 1984, 1988, 1990, 1991, Việt Nam đã đưa ra các bằng chứng xác lập chủ quyến tại Hoàng Sa và Trường Sa (sách trắng 1979 và 1981 dùng lại nhiều tài liệu của VNCH), bác bỏ các lập luận của Trung Quốc và Phi luật Tân và Mã Lai, và phản đối, nhất là năm 1988 khi Trung Quốc tiến chiếm mấy đảo đá ngầm và giết hại các lính hải quân Việt Nam (20 bị thương và chết, 74 mất tích) dù họ không mang khí giơí vì chỉ đi tiếp tế cho bạn đồng đội. Cũng trong năm 1988, Trung Quốc chiếm thêm nhiều bãi đá ngầm. Và đến năm 1989 họ đặt bia chủ quyền trên các bãi đá ngầm đó (điều này không được luật quốc tế công nhận).

Cũng trong năm 1988, Việt Nam phản đối Quốc hội Trung Quốc sáp nhập Hoàng Sa và Trường Sa vào tỉnh Hải Nam, và lại công bố sách trắng. Năm 1989, Trung Quốc chiếm thêm một số đảo nhỏ. Năm 1990, cho nhiều tầu quân sự, tầu kháo sát và tầu đánh cá đến tại Trường Sa và Việt Nam phản đối. Năm 1991, bình thường hoá ngoại giao. Sau năm bình thường hoá ngoại giao với Trung Quốc, mỗi khi Trung Quốc vi phạm thềm lục địa,vùng đặc quyền kinh tế, thì Việt Nam đều phản đối. Đến năm 1994 lại phải phản đồi sự vi phạm thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế bởi Trung quốc nhân vụ Crestone.

Riêng về con số đảo tại quần đảo Trường Sa (các đảo trải rất rộng và rất xa nhau) mà Việt Nam có thể đòi (con số hiện nay là 29 hay 21, tùy theo đã trừ đi mấy đảo đá ngầm đã bị Trung quốc lấn chiếm xây nhà và căn cứ, tổng cộng Trung Quốc chiếm 16 đảo) – còn lại bao nhiêu đảo khác do các nước khác nữa đã chiếm và thực sự nắm giữ, như Đài Loan (1), Phi-lip-pin (7), Malayxia (1-2), Inđônexia (2), ̶ thì phạm vi của chủ quyền Việt Nam phải bàn lại kỹ hơn trong sự thương lượng với các nước ấy – để có một mặt trận thống nhất của ASEAN đương đầu với Trung Quốc. Để tránh sự phản đối của Trung Quốc, vốn tham lam nhận vơ tất cả Trường Sa, là ” sao Việt Nam tự nhận quyền ban phát chủ quyền cho các nước hay sao, mà dám nói đảo này đảo kia thuộc các nước ASEAN?” và một cách để tạo thành một thế liên minh với các nước ASEAN để đương đầu với Trung Quốc, thì phải khách quan công nhận cho ASEAN những đảo nào mà họ đã chiếm ngụ lâu đời và Việt Nam chưa hề lui tới, và Việt Nam chỉ nên tuyên bố một cách mập mờ vào lúc này theo kiểu ngoại giao khôn khéo là: chủ quyền Trường Sa thuộc về Việt Nam, mà phạm vi chưa xác định vì chưa nói đến chủ quyền của các nước khác, nhưng quy tắc ứng xử là giữ nguyên trạng mà không lấn chiếm, và luôn luôn tìm giải pháp hoà bình, theo luật quốc tế.

Trong vùng Trường Sa phía nam Biển Đông, Trung Quốc đã có một chủ trương “được đằng chân [Hòang Sa] thì lân đằng đầu [Trường Sa]” như ta thấy trong bao nhiêu hành động lấn át trong nhiều năm từ trước cho tới nay, ngay cả với nước Việt Nam cùng theo một chủ thuyết trị nước. Tháng 10/1987 hải quân Trung Quốc tập trận lớn ở vùng Trường Sa. Tháng 03/1988 quân đội Trung Quốc tấn công chiếm giữ 6 điểm trên quần đảo Trường Sa, làm thương vong nhiều chiến sĩ Việt Nam. Năm 1989 Trung Quốc chiếm thêm một số đảo Trường Sa. Ngày 25/02/1992 Trung Quốc công bố đạo luật về lãnh hải, xác định chủ quyền đối với toàn bộ Hoàng Sa, Trường Sa. Tháng 05/1992 Trung Quốc cho công ty Crestone thăm dò dầu khí tại thềm lục địa Việt Nam, trong một khu gọi là Wan’ An Bei, cạnh mỏ dầu Đại Hùng. Tháng 07/1992 Trung Quốc chiếm đóng thêm một số hòn đảo Trường Sa để hỗ trợ công ty Crestone. Năm 1993 một cuốn sách xuất bản tại Trung Quốc đã công bố chiến lược ” nhanh chóng…đánh đuổi quân chiếm đóng nước ngoài ra khỏi Nam Sa ” (tức Trường Sa ). Năm 1994 Trung Quốc tuyên bố giành chủ quyền tại mỏ dầu Thanh Long (Blue Dragon) của Việt Nam, nhắc lại là khế ước giữa Việt Nam và Mobil là vi phạm chủ quyền Trung Quốc và còn dùng hải quân chặn không cho tầu Việt Nam tiếp liệu cho một giàn khoan.

CẦN CHUẨN BỊ HỒ SƠ PHÁP LÝ ĐỂ ĐƯA RA TÒA ÁN QUỐC TẾ HAGUE, TÒA ÁN QUỐC TẾ VỀ LUẬT BIỂN VÀ ĐẠI HÔỊ ĐỒNG LIÊN HIỆP QUỐC, VÀ NGAY CẢ HỘI ĐỒNG BẢO AN LIÊN HIỆP QUỐC, NẾU CÓ VI PHẠM ÀO ẠT QUYỀN DÂN CHÀI.

Các cơ quan tài phán

Nếu Trung Quốc ký nhận điều khoản nhiệm ý công nhận thẩm quyền bó buộc của Tòa án Quốc tế, thì Việt Nam có hy vọng thắng và bó buộc Trung Quốc phải thi hành án, với các lập luận và căn bản pháp lý chắc chắn về chủ quyền của Việt Nam trên các hải đảo (theo quốc tế pháp truyền thống về khám phá và quản lý liên tục). Còn nếu cường quốc đó ngang ngạnh không nhận thẩm quyền bó buộc của Toà án, thì chỉ có thể xin một ý kiến khuyến cáo của Tòa án. Việc xin ý kiến khuyến cáo này, Việt Nam có thể nhờ Hội đồng Bảo An Liên Hợp Quốc, trực tiếp hay gián tiếp qua Hoa Kỳ và một số quốc gia ven Biển Đông, nhưng nếu Trung Quốc đe dọa dùng quyền phủ quyết ở đó, thì có thể nhờ một cơ quan của Liên Hợp Quốc như Uỷ Ban Pháp Luật hay ngay cả Đại Hội Đồng.

Toà án Quốc tế về Luật Biển (Internatinal Tribunal for the Law of the Sea ITLOS, thành lập 1997) và Uỷ Hội Quốc Tế về Ranh Giới Thềm Lục Địa cũng là những cơ quan có thể xét về mặt pháp luật các tranh chấp về quyền lợi ngoài biển cho Việt Nam.

Các cơ quan chính trị

Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc. Việc đưa vấn đề tranh chấp ra Hội đồng Bảo an thì còn gặp khó khăn khác là chỉ có thể đưa ra nếu có đe dọa hoà bình và an ninh thế giới trong vùng Biển Đông, nghĩa là sắp hay đã có nổ súng xung dột. Nhưng một trường hợp khác mà các lực lượng hay tổ chức phi chính phủ, với quốc gia hội viên, có thể vận dụng Hội đồng Bảo an, là khi có sự vi phạm nhân quyền ào ạt (massive violations of human rights); thí dụ như khi quyền sống của đa số dân chài Việt Nam trên Biển Đông (tức là có vi phạm nhân quyền ào ạt và thô bạo) thì đó là cơ hội đưa vấn đề ra Hộì đồng Bảo an.

Nhiều Giải Pháp Cho Vấn Đề Biển Đông

Phó Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng – An ninh Trần Đình Nhã: Trung Quốc đặt biển Đông vào tình thế nguy hiểm

Báo cáo của Chính phủ về biển Đông tập trung vào những vấn đề gì, ông có thỏa mãn với những thông tin mà Chính phủ đưa ra?

Tôi thỏa mãn vì qua đó đã biết được tình hình thực tế trên biển Đông ra sao. Đây là ý kiến chính thức của Chính phủ cũng như báo cáo về những việc Chính phủ đã làm. Đây là phiên Chính phủ báo cáo riêng cho QH về vấn đề biển Đông để nắm bắt tình hình. Trong đó Chính phủ cũng báo cáo rõ về thái độ và giải pháp của ta ở biển Đông.

Giải pháp mà Chính phủ đưa ra tới đây là gì, thưa ông?

Có nhiều giải pháp được đưa ra cả về mặt chính trị, ngoại giao, pháp lý. Tuy nhiên, mọi việc vẫn phải dựa trên nguyên tắc bảo đảm chủ quyền của Việt Nam và giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển.

Sau khi nghe Chính phủ báo cáo, theo ông tại kỳ họp này, QH có nên ra thông cáo hay nghị quyết về vấn đề biển Đông?

Vấn đề này chúng ta phải nói theo luật. Cho đến bây giờ, QH một là ban hành các luật, hai là ra nghị quyết, còn các hình thức về thông cáo không phải việc của QH. Về tuyên bố của QH như trước kia, đến bây giờ hình thức văn bản đó tôi không thấy nữa. Luật thì chúng ta đã ban hành rồi. QH đã khẳng định quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa là của Việt Nam trong Luật Biển Việt Nam, trong Luật Biên giới quốc gia.

Thứ hai, QH đã quy định trong luật là các lực lượng vũ trang và toàn bộ nhân dân Việt Nam có trách nhiệm bảo vệ, gìn giữ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc. Luật đã quy định như vậy và chúng ta có trách nhiệm phải bảo vệ bằng mọi giá.

Vậy ông đánh giá thế nào về mức độ nghiêm trọng từ các hành động của Trung Quốc ở biển Đông?

Những hành vi của Trung Quốc, các nước gọi là “hành vi hung hăng” ngày càng tăng, đặt biển Đông vào tình thế nguy hiểm, và khả năng xung đột, hiểu nhầm rất lớn.

Ông mong muốn Chính phủ sẽ đưa ra những sách lược gì trong thời gian tới?

Chính phủ không có sách lược riêng về biển Đông, sách lược ở đây là sách lược của quốc gia, điều đó thể hiện trong Hiến pháp, pháp luật. Chúng ta đã làm hết sức mình để bảo vệ chủ quyền thiêng liêng. Như tôi nói, nhiệm vụ của chúng ta là bảo vệ được chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán của chúng ta đối với vùng biển của mình ở biển Đông. Thứ hai, bảo vệ nhưng vẫn phải bảo đảm được môi trường hòa bình ổn định để phát triển đất nước. Đây là hai nhiệm vụ rất khó khăn nhưng phải song hành.

Đã nắm rõ tình hình, là ĐBQH, ông có gửi gắm thông điệp gì đến cử tri và người dân?

Cử tri và nhân dân hãy bình tĩnh theo dõi, Đảng và Nhà nước đang làm hết sức mình để thực hiện nghĩa vụ trước Tổ quốc, trước nhân dân, bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền Việt Nam trên biển Đông và cũng bảo vệ môi trường hòa bình, ổn định để Việt Nam phát triển.

ĐBQH, Thượng tướng Nguyễn Văn Rinh (nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng): Trung Quốc vẫn cứ bất chấp làm

Báo cáo của Chính phủ về tình hình biển Đông đề cập đến thực trạng đang diễn ra ở biển Đông, như việc cải tạo, xây dựng đảo nhân tạo của Trung Quốc trong thời gian qua. Ngoài ra, Chính phủ cũng thông tin cho ĐBQH về vấn đề quân sự, kinh tế cũng như chủ trương của ta. Chính phủ cũng báo cáo về những việc đã làm và các cuộc gặp gỡ giữa hai nước…

Trong vấn đề ngoại giao, chúng ta cũng đấu tranh nhiều rồi, nhưng Trung Quốc vẫn cứ bất chấp làm. Thậm chí nhiều công trình họ đã hoàn thành, rồi triển khai cả tàu chiến ra để bảo vệ vùng đó với khoảng cách tới 20 hải lý. Trung Quốc cũng tuyên bố vùng lãnh hải của họ, biến các thực thể ngầm thành đảo nổi, rồi mở rộng quyền kiểm soát, cho tàu quân sự, máy bay kiểm tra trên các đảo đó. Với tư cách một ĐBQH, cá nhân tôi kỳ vọng nhiều vào Chính phủ, đưa ra những đối sách hợp lý trong thời gian tới ở biển Đông.

Dũng Nguyễn-Thành Nam (thực hiện)

Giải Pháp Khả Thi Nào Cho Vấn Đề Biển Đông?

Tổng hợp các bài phỏng vấn Hoàng Việt, Lê Hiếu Đằng, Tống Văn Công, Trần Bình Nam, Đinh Kim Phúc, Nguyễn Trọng Vĩnh, Nguyễn Trung

Mặc Lâm

Vị trí và sức mạnh nội hàm của Việt Nam đối với Trung Quốc là điều không cần bàn cãi tuy nhiên không phải là không có lối thoát danh dự trong hoàn cảnh toàn cầu hoá như hiện nay. Giải pháp đối với Trung Quốc được nhiều nước quan tâm và cho là phù hợp với công pháp quốc tế là hai hồ sơ DOC và COC còn gọi là Bộ xây dựng quy tắc ứng xử Biển Đông. Vào tuần tới Malaysia sẽ có một cuộc hội thảo về COC để các bên ngồi lại với nhau chia sẻ những quan tâm và làm cách nào để thực hiện các điều khoản mà các bên đồng ý.

Phần đầu tiên Mặc Lâm phỏng vấn Thạc sĩ Hoàng Việt hiện đang giảng dạy tại trường đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh để ghi nhận ý kiến của ông trên khía cạnh pháp lý mà Việt Nam có thể sử dụng nhằm bảo vệ cho ngư dân cũng như đánh động dư luận quốc tế về cách mà Trung Quốc ứng xử đối với khu vực Hoàng Sa của Việt Nam.

Câu hỏi với Thạc sĩ Hoàng Việt hôm nay chúng tôi gợi lại hình ảnh của Tổng thống Philippines tại diễn đàn ASEAN vừa qua khi ôngcương quyết đưa ra những vấn đề của Biển Đông mà theo ông rất cần thiết phải được mang vào nghị trình. Thái độ này được hiểu như thế nào đối với toàn cảnh hiện nay khi mà vẫn còn nhiều nước e ngại, tránh né nêu vấn đề tại ASEAN nhất là nước chủ nhà Campuchia? Thạc sĩ Hoàng Việt cho biết ý kiến của ông trong cuộc phỏng vấn ngắn của chúng tôi như sau:

“Nói chung đúng là thái độ của Tổng thống Phi thì họ quyết liệt còn phản ứng của Việt Nam thì phải nói là chừng mực hơn tuy nhiên cũng rất khó để mà so sánh. Nhưng nói chung thì Việt Nam vừa rồi đã hưởng ứng cách giải quyết đa phương vì vậy điều mà Philippines đưa ra đã được Việt Nam hưởng ứng nhiệt liệt. Sở dĩ thái độ của Việt Nam chừng mực hơn vì mỗi nước có một cách ứng phó khác nhau khi mà Việt Nam có vị thế địa chính trị tương đối nhạy cảm hơn Phi nhiều lần.”

Mặc Lâm: Thưa ông sắp tới tại Malaysia sẽ có cuộc gặp gỡ giữa các thành viên ASEAN và Trung Quốc để bàn về hồ sơ COC, theo kinh nghiệm nghiên cứu của ông thì Việt Nam nên có thái độ như thế nào khi tham gia bàn bạc về một hồ sơ rất quan trọng này?

Th. S Hoàng Việt: Thứ nhất là đối với COC thì Việt Nam rất tích cực. Có điều đặc biệt của COC là những nước có tranh chấp như Philippines thì rất quyết liệt vì họ có tranh chấp trên quần đảo Trường Sa mà không tranh chấp về Hoàng Sa. Khi soạn thảo COC nội dung rất quan trọng mà Trung Quốc không muốn nhắc tới là Hoàng Sa mà chỉ muốn nhắc tới Trường Sa mà thôi, có nghĩa là không áp dụng cho toàn vùng Biển Đông trong đó bao gồm cả Hoàng Sa. Vì thế Việt Nam rất kiên quyết yêu cầu phải đem Hoàng Sa vào COC để đàm phán.

Rõ ràng thái độ của Việt Nam cũng rất kiên quyết chỉ có điều là họ có làm hay không mà thôi vì rất phức tạp. Không phải một mình Việt Nam yêu cầu là được mà phải có sự đồng thuận của các nước ASEAN. Cho đến bây giờ thì lợi ích và quan điểm của các thành viên ASEAN khác biệt nhau khá nhiều. Tuy nhiên bây giờ cũng có dấu hiệu cho thấy có khả năng sẽ đựơc đưa vào COC trong năm nay nhưng chưa biết thế nào chỉ là hy vọng thôi.

Mặc Lâm: Cho tới nay Trung quốc vẫn từ chối cho biết tin tức của 21 ngư dân Việt Nam bị họ bắt giữ vào tháng trước kể cả hai chiếc tàu đánh cá vẫn không được trao trả. Về mặt chủ quyền, Trung Quốc đang thực hiện ý đồ xác nhận Hoàng Sa là của họ bằng cách bắt giữ tàu nước ngoài đánh bắt cá tại Hoàng Sa sẽ gây cho dư luận quốc tế nghĩ rằng đây là mảnh đất của họ. Theo ông cách hay nhất hiện nay Việt Nam cần phải làm gì ngoài việc đưa ra những lời chống đối do Bộ Ngoại giao từng làm khi có các vụ tương tự xảy ra từ nhiều năm nay?

Th. S Hoàng Việt: Về mặt chủ quyền thì chúng ta vẫn cứ phải khẳng định là khu vực này là nơi đang tranh chấp vì sẽ tránh đựơc việc mặc thừa nhận với quốc tế. Hồi gần đây chúng tôi cũng trao đổi với nhau khá nhiều trong giới luật gia về vấn đề này thì rất nhiều ý kiến cho rằng cần phải xem xét đưa ra toà án quốc tế. Tuy nhiên vẩn đề là Trung Quốc cũng đang tìm mọi cách để tránh thẩm quyền của toà án quốc tế. Có lẽ chúng ta cũng phải đưa lên những diễn đàn quốc tế như Liên Hiệp Quốc cũng như Philippines đã làm chẳng hạn và tôi nghĩ rằng đấy là biện pháp hữu hiệu nhất.

Mặc Lâm: Tuy nhiên vì Trung Quốc có quyền không tham dự một phiên toà như vậy thì nỗ lực của Việt Nam coi như chỉ là một cách đánh động dư luận mà thôi, còn có cách nào khác làm cho quốc tế biết rằng Trung Quốc đang theo đuổi kế hoạch lấy sức mạnh để kéo công lý về họ hay không?

Th. S Hoàng Việt: Vâng, và vì vậy mình cần dùng những biện pháp như viết bài hay trực tiếp đưa vấn đề lên thẳng Liên Hiệp Quốc. Ví dụ như Philippines đã từng làm trong năm vừa rồi khi Philippines có căng thẳng với Trung Quốc thậm chí đòi đưa Trung Quốc ra tòa quốc tế về luật biển. Việc Philippines đưa ra diễn đàn Liên Hiệp Quốc như vậy đã đánh động lên khá nhiều

Mặc Lâm: Xin cám ơn thạc sĩ Hoàng Việt.

*

Luật gia Lê Hiếu Đằng : Theo tôi thì trước hết ta phải thấy rõ cái bản chất của Trung Quốc, tức là một nước lớn và luôn luôn có chủ trương bành trướng lãnh thổ cũng như đi khuất phục những dân tộc nhỏ khác, vì vậy mà mình thấy cái bản chất này, và bản chất này cho tới bây giờ vẫn không thay đổi, từ đó chúng ta mới có một chiến lược và sách lược cho phù hợp.

Nếu chúng ta cứ khẳng định đó là “bạn vàng” hay là “đồng minh chiến lược” thì dứt khoát chúng ta sẽ không quyết tâm trong việc chống lại chính sách bành trướng xâm lược của Trung Quốc.

Tôi cho rằng nhà nước phải dựa vào hai cái, một là thế trận lòng dân, phải dựa vào sức mạnh của dân tộc, sức mạnh của dân Việt Nam, vì vậy phải để cho người dân bày tỏ thái độ của mình trước những hành động bách hại dân Việt Nam. Bởi vì ngư dân Việt Nam đánh bắt trên ngư trường truyền thống của mình. Hoàng Sa là ngư trường truyền thống từ bao đời nay rồi thế mà bây giờ Trung Quốc lại nghiêm cấm thì là thế nào? Và khi mà ngư dân mình đánh bắt trên ngư trường đó thì lại bị Trung Quốc bắt, bị tịch thu và bị đòi tiền chuộc, và thậm chí có nhiều người bị mất tích, và cho đến bây giờ vẫn chưa được thả, làm cho vợ con họ hết sức khổ sở. Chính vì vậy nên có bộ phim của anh André Menras là “Hoàng Sa – Nỗi đau mất mát”.

Do đó chúng tôi thấy rằng trước hết phải dựa vào sức mạnh của người dân nếu muốn chống lại các hành vi của Trung Quốc.

Mặc Lâm : Vâng. Thưa ông, có người cho rằng Việt Nam vẫn còn chần chừ chưa đẩy mạnh việc liên minh với các nước vì vẫn còn cái bóng của Trung Quốc ở phía sau. Ý kiến của ông như thế nào về việc này ạ?

Luật gia Lê Hiếu Đằng : Sự liên minh của tất cả các nước thì hiện nay Việt Nam đã tham gia vào những định chế quốc tế rồi, ví dụ khối ASEAN hay là APEC, thì chúng ta phải dựa vào đó để mà chống lại âm mưu bành trướng của Trung Quốc. Và nhất là đã có nhiều người đề nghị là nếu mà Trung Quốc cứ lấn tới và cứ khẳng định “đường lưỡi bò” như vậy đó thì chúng ta phải kiện ra Tòa Án Quốc Tế. Tôi thấy điều này là hoàn toàn nằm trong khả năng của Việt Nam.

Nhà nước đã nói Hoàng Sa – Trường Sa là của Việt Nam và điều này không thể chối cãi, như vậy tại sao chúng ta đã có chứng cứ mà lại không chuẩn bị hồ sơ và sau đó nếu cần thiết phải đưa ra quốc tế? Như vậy thì mới có thể giải quyết được vấn đề một cách công khai minh bạch. Chứ nếu chúng ta quan niệm rằng đây là vấn đề song phương giữa hai nước thì ta sẽ lọt vào cái âm mưu của Trung Quốc.

Vừa rồi Thủ tướng Hun Sen đã tuyên bố rằng vấn đề Biển Đông là vấn đề giữa ASEAN và Trung Quốc thì cũng không đúng nữa, bởi vì Biển Đông là đường hàng hải chung và trong đó có những lợi ích chung và ngoài các nước ASEAN ra còn có Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ và nhiều nước khác, như Ấn Độ cũng vừa tuyên bố đây là lợi ích chung. Vì vậy chúng ta phải dựa vào sức mạnh của quốc tế, sức mạnh của thời đại để chống lại âm mưu bành trướng và xâm lượcc của Trung Quốc.

Mặc Lâm : Trước những áp lực ngày một lớn hơn của Trung Quốc rõ ràng là Việt Nam không thể dùng giải pháp quân sự trong thời điểm này vì rất nhiều lý do. Theo ông, có cách nào khác để hãm lại sự khống chế ngày một công khai hơn của Trung Quốc đối với ngư dân Việt Nam trong vùng biển Hoàng Sa hay không?

Luật gia Lê Hiếu Đằng : Như anh nói đó, chúng ta không thể dùng lực lượng quân sự được bởi vì chúng ta yếu, với lại không nên gây chiến tranh. Tôi nhất trí rằng chúng ta phải đấu tranh một cách hòa bình để giành lại Hoàng Sa và để bảo vệ Trường Sa. Nhưng hòa bình không có nghĩa là chúng ta hèn yếu, chúng ta nhu nhược, mà hòa bình ở đây là chúng ta sẽ có những hành động rất cương quyết dựa trên lòng nhân, dựa trên những hỗ trợ của quốc tế. Và nếu với phương án này thì chúng ta hoàn toàn có thể chống lại và chúng ta có thể bảo vệ được ngư dân của chúng ta.

Về mặt quân sự mà nói thì chúng ta cũng có thể có những hành động hạn chế và trong phạm vi chủ quyền quốc gia của chúng ta, như Philippines thì người ta cũng đã làm. Chúng ta phải tổ chức những lực lượng quân sự để bảo vệ dân đánh cá, hoặc khi mà Trung Quốc có những hành động gây hấn bách hại ngư dân chúng ta thì chúng ta có thể dùng máy bay để đề nghị họ phải rút lui, như Philippines thì họ vẫn làm. Tuy chúng ta không gây chiến tranh nhưng cũng phải có những hành động quân sự nhất định để bảo vệ ngư dân của chúng ta, chứ không phải chỉ bằng những lời tuyên bố, rồi những công hàm như hiện nay chúng ta làm.

Thái độ cương quyết của chúng ta trên rất nhiều lãnh vực sẽ khiến Trung Quốc không tiếp tục những hành động bách hại ngư dân. Còn nếu chúng ta chỉ có những lời tuyên bố mà không hành động cương quyết thì những việc bách hại ngư dân sẽ tiếp tục, gây sự bất bình rất sâu sắc trong nhân dân Việt Nam.

Mặc Lâm : Dư luận cho rằng tinh thần yêu nước của thanh niên hiện nay xem ra khá mờ nhạt so với trước đây thể hiện qua việc kiếm sống và chạy theo vật chất cũng như ăn chơi của họ của họ quá lớn. Ông nghĩ sao về việc giáo dục ý thức quốc gia dân tộc hiện nay trong nhà trường ?

Luật gia Lê Hiếu Đằng : Nói cho cùng, khi mà có vấn đề gì xảy ra thì lực lượng thanh niên chính là người dân đứng ra bảo vệ tổ quốc, bảo vệ đất nước, vì vậy mà phải tuyên truyền một cách sâu rộng trong nhân dân về cái bản chất của Trung Quốc như thế nào, vì người dân người ta rất là hoài nghi về cái mối quan hệ giữa hai nước. Như chúng ta biết, Trung Quốc là nước lớn nằm cạnh Việt Nam mà như vậy thì vấn đề là phải có những đường lối, chủ trương, chính sách rõ ràng và minh bạch để chúng ta củng tồn tại với nhau trong một không gian chung. Phải giữ gìn hòa bình, phải làm sao cho các dân tộc cùng sống với nhau và cùng phát triển.

Mặc Lâm : Nhà nước một mặt lên tiếng về ngư dân bị bắt nhưng lại vẫn giữ lập trường được gọi là “nhận thức chung” trong các lần gặp gỡ giữa hai quốc gia. Theo ông có nên đặt lại vấn đề này một cách rốt ráo trên tinh thần gìn giữ bản sắc dân tộc trong đó lòng tự hào dân tộc là điểm then chốt để giáo dục thanh niên hay không, thưa ông?

Luật gia Lê Hiếu Đằng : Giữa hai nhà nước mà chúng ta nói là có cái nhận thức chung về vấn đề Biển Đông thì cái nhận thức chung đó là gì? Phải nói cho rõ về cái nhận định đó. Trong khi nhận thức chung thì có như vậy, nhưng mà hành động cụ thể lại đi ngược lại cái nhận thức chung đó, như vậy là thế nào? Như vậy có phải là vì “16 chữ vàng, 4 tốt” hay không? Thì chúng ta phải xác định lại cho rõ chứ chúng ta không thể mơ hồ, nhất là khi chúng ta giáo dục thanh niên của chúng ta đó.

Mặc Lâm : Xin cảm ơn luật gia Lê Hiếu Đằng.

*

Nhà báo Tống Văn Công: Mười sáu chữ vàng, nội dung của nó tức là “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai”, đó là nguyện vọng của nhân dân Việt Nam, mà cũng là nguyện vọng của nhân dân Trung Quốc, tức là nhân dân Việt Nam làm cho nhân dân Trung Quốc thấy rằng đó là nguyện vọng chung.

Những người cầm quyền Trung Quốc bịp bợm, họ nói một đàng để mà ru ngủ, lợi dụng, thao túng những người cầm quyền Việt Nam, mà nhân dân hai nước thì chắc chắn thật sự mong muốn điều đó. Những người Việt Nam chân chính kêu gọi nhân dân Trung Quốc buộc nhà cầm quyền của họ thực hiện cái nguyện vọng đó của hai dân tộc.

Mặc Lâm: Vâng. Nhưng thưa ông, để thực hiện những điều mà ông vừa nói thì bằng cách nào? Vì Việt Nam so với Trung Quốc rất yếu kém về nhiều mặt, từ kinh tế, quân sự cho tới sự đoàn kết trong và ngoài nước như hiện nay?

Nhà báo Tống Văn Công: Mặc dầu nội lực của mình yếu hơn nhưng mà thế của mình là thế chính nghĩa nó cao hơn. Bao giờ chính nghĩa nó cũng nhân cái sức mạnh lên gấp bội, thế mà tại sao chúng ta lại không dám đấu tranh với họ để mà thực hiện “mười sáu chữ vàng”?

Những vấn đề lịch sử thì mình phải công khai, thẳng thắn. Ví dụ như phía họ mà họ viết tiểu thuyết, họ đề cao bọn xâm lược 6 tỉnh phía Bắc, đề cao Hứa Thế Hữu tại sao ta không có dám phê phán quyển sách đó là nó phá hoại tình hữu nghị? Những tấm bia lịch sử lên án quân xâm lược ở các tỉnh biên giới phía Bắc thì phải giữ gìn trân trọng, tại sao mình lại đục phá đi? Những ngày lịch sử thì mình cũng phải kỷ niệm đàng hoàng và mình phải có xã luận để nói ai đúng ai sai.

Phía bên kia thì họ ra rả, thậm chí họ khiêu khích mình, còn ở đây thì mình chỉ nói đúng sự thật, rút ra những bài học lịch sử để cho nhân dân mình và nhân dân Trung Quốc biết. Ví dụ như ngày Trung Quốc xâm lược 6 tỉnh phía Bắc của mình ngày 17 tháng 2, tại sao mình lại làm thinh, mình không nói gì cả? Cái ngày mà Trung Quốc chiếm Hoàng Sa bây giờ có khi hỏi nhân dân mình thì nhiều người không biết, thậm chí đã có những cán bộ đảng viên cho Hoàng Sa – Trường Sa là bãi hoang chim ỉa.

Mặc Lâm: Thưa ông, chính sách của Việt Nam đối với Trung Quốc hình như không được nhất quán khi mà một mặt Việt Nam vẫn ca tụng tình hữu nghị giữa hai nước và khái niệm “vì đại cuộc” vẫn được đưa lên hàng đầu trong những văn bản chính thức của hai nước. Tuy nhiên cũng chính Bộ Ngoại giao khi lên tiếng về vụ Trung Quốc bắt giữ ngư dân và tổ chức du lịch Hoàng Sa vừa rồi thì đã nhiều lần dùng từ rất nặng là “phi pháp”. Mà một nước khi đã phi pháp với mình thì làm sao có thể giao hảo được, thưa ông?

Nhà báo Tống Văn Công: Tôi cũng thấy là nó không nhất quán, nó thể hiện ở nhiều chỗ rất mâu thuẫn. Ví dụ như phim “Hoàng Sa – Nỗi đau mất mát” nó có gì là sai sự thật đâu? Nó hoàn toàn nói lên nguyện vọng, nói lên hoàn cảnh cụ thể của những ngư dân Việt Nam bị đày ải, bị hành hạ một cách vô lối, sai luật pháp quốc tế. Thế mà mình lại không dám bênh vực, mình vẫn sợ, mình không dám chiếu!

Hoặc khi người dân của mình lên tiếng “Hoàng Sa – Trường Sa – Việt Nam” tại sao mình lại cấm? Cái cách cư xử của chúng ta nó làm người trong nước khó hiểu huống gì người ngoài nước! Những lời của người phát ngôn Bộ Ngoại giao vừa rồi nói rất là mạnh mẽ nhưng mà rất là sáo mòn, thành ra nó không có sức thuyết phục.

Hồi đầu tháng 3 hai bên tuyên bố thiết lập đường dây nóng giữa Bộ Ngoại giao Việt Nam với Trung Quốc, thế mà một tháng qua đường dây nóng tại sao nó lại không hoạt động? Mục đích đặt ra cho nó rất là rõ ràng tức là để tăng cường quan hệ Việt Nam – Trung Quốc, triển khai cơ chế đàm phán về vấn đề trên biển, xử lý kịp thời những vấn đề nảy sinh để mà duy trì hòa bình ổn định ở Biển Đông. Những điều này đúng với việc mà đường dây nóng được thiết lập, thì tại sao đường dây nóng lại không hoạt động?

Hay là nó có hoạt động mà phía bên kia có lý lẽ bào chữa cho cái quyền mà họ làm, nhưng mà ta thì coi như việc riêng nên không công bố nội dung đó? Nếu không công bố thì rất là vô lý.

Theo tôi, phía bên kia lý lẽ của họ như thế nào thì mình cứ công khai ra, tức là mình cũng tỏ ra rất bình đẳng, rất là tôn trọng người ta, để cho nhân dân trong nước mình với nhân dân thế giới cùng nghe, ai phải ai trái, tại sao mình không làm cái đó? Nếu làm được như vậy thì tôi nghĩ rằng bên phía Trung Quốc họ cũng thấy là họ đuối lý, bởi vì cái lý họ đâu có! Họ chỉ nói ngang rằng Hoàng Sa là của họ, không cần bàn cãi.

Mặc Lâm: Theo ông, nếu nhà nước tiếp tục che giấu thông tin hay nói chính xác hơn là họ không muốn cho dân chúng biết những thông tin mà Trung Quốc đối với Việt Nam thì người dân có đồng thuận hay không? Và trong thời gian qua việc che giấu thông tin này đã có những kết quả nào thấy được?

Nhà báo Tống Văn Công: Người Việt Nam trải qua lịch sử lâu dài rất nhạy cảm với họa ngoại xâm. Mọi động thái trong bang giao của nhà nước đều được toàn dân chăm chú, lắng nghe, thẩm định, do đó nếu chúng ta không có một đối sách minh bạch đối với Trung Quốc, ứng phó từng trường hợp. Về lâu dài có những trường hợp bất nhất, nhiều khi nhượng bộ vô nguyên tắc thì tình trạng đó gây nghi hoặc, gây phân tâm trong đảng viên, trong cán bộ, trong nhân dân. Lẽ ra trước tình thế hiện nay thì mọi việc làm đều phải nhằm đoàn kết được toàn dân tộc, nhất trí chống lại kẻ thù bên ngoài.

Chúng ta có những chuyện rất là đáng buồn. Ví dụ như đảng viên Nguyễn Chí Đức đi biểu tình, bị bắt, bị lôi như là súc vật, bị đạp giày lên mặt. Các nhà trí thức, các nhà văn hóa hàng đầu đi biểu tình chống Trung Quốc gây hấn cũng bị xếp một rọ với bọn phản động. Yêu cầu đính chính, xin lỗi cũng không đính chính, không xin lỗi.

Những buổi tổ chức thuyết trình về Hoàng Sa – Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam cũng bị ngăn cản. Những buổi chiếu phim “Hoàng Sa – Nỗi đau Việt Nam” gần đây thì cũng bị cấm đoán mà không giải thích. Tất cả những chuyện đó gây một hiệu ứng tâm lý rất xấu, phá hoại sức mạnh đoàn kết dân tộc rất nguy hiểm.

Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng những biểu hiện trong cách xử lý của chính quyền cho thấy nhà chức trách Việt Nam có những biểu hiện không tin dân, thậm chí là sợ dân, cho rằng dân có thể bị bọn phản động xúi giục, lôi kéo. Đó là một nhận thức rất lệch lạc, gây tác hại rất lớn nếu như không mau chóng khắc phục được.

Mặc Lâm: Xin quay trở lại vấn đề đang bức bối hiện nay: theo ông thì Việt Nam cần làm gì để việc bắt giữ ngư dân Việt Nam của Trung Quốc phải chấm dứt trong khi chờ đợi một giải pháp chung do quốc tế đưa ra nếu có?

Nhà báo Tống Văn Công: Lẽ ra ta phải có một văn kiện chính thức của chính phủ Việt Nam nói về chủ quyền Hoàng Sa – Trường Sa có đầu có đuôi để làm văn kiện cơ bản. Và phải có mặt trên tất cả các diễn đàn trên thế giới, không phải chỉ ASEAN. Phải đấu tranh với họ về vấn đề chủ quyền của chúng ta trên hai quần đảo này.

Như việc họ bắt ngư dân ta cho tới nay vẫn chưa thả tôi nghĩ rằng đã đến lúc mình phải đưa việc này ra trọng tài quốc tế. Mình phải công khai đòi hỏi phía Trung Quốc, nếu mà song phương để đối thoại về chủ quyền Hoàng Sa thì phải có tiếng nói yêu cầu họ trả lời dứt khoát. Nếu mà song phương không được, trong thời hạn nào đó – phải có thời hạn – để tiến hành đấu tranh ở đa phương, chớ không thể nói cho qua như là nói không biết đến bao giờ có thời hạn cuối cùng thì không thể được.

Mặc Lâm: Xin cám ơn nhà báo Tống Văn Công đã dành thời gian cho chúng tôi trong ngày hôm nay.

*

Mặc Lâm : Thưa, xin ông cho biết qua kinh nghiệm nghiên cứu tình hình Biển Đông, ông nhận xét thế nào về những diễn biến mới nhất hiện nay?

Hiện giờ thì rõ ràng Trung Quốc coi Biển Đông là một phần trong sách lược bành trướng thế lực của họ. Đương nhiên muốn bành trướng thì trước hết Trung Quốc phải mở cửa Biển Đông vì đó là lối đi ra ngoài của họ. Họ biết khi đi vào biển Đông thì sẽ đụng độ với những thế lực quan trọng, mà thế lực quan trọng nhất hiện giờ là Hoa Kỳ.

Mặc Lâm : Trước các tuyên bố cứng rắn về sự trở lại của Hoa Kỳ thì phản ứng của Trung Quốc xem ra rất yếu ớt, theo ông họ có sách lược nào về vấn đề này, thưa ông?

Trần Bình Nam : Đối với Trung Quốc họ biết là họ không có sức để làm một hành động gì có tính cách quân sự ngang hàng với Hoa Kỳ được cho nên họ phải chờ đợi. Họ chờ đợi cho đến khi xây dựng hải quân vững vàng hơn có thể ngang ngửa với hải quân Hoa Kỳ ở Thái Bình Dương. Hai nữa họ chờ đợi thời điểm thuận lợi vì họ biết Hoa Kỳ là một nước dân chủ, cứ 4 năm lại bầu cử tổng thống một lần thì chính sách của Hoa Kỳ lại thay đổi. Chính sách thay đổi có nghĩa là khi mạnh khi yếu, khi thế này khi thế khác, và họ chờ thời điểm thuận lợi họ sẽ hành động.

Mặc Lâm : Còn riêng với Việt Nam thì Trung Quốc có thay đổi gì cho phù hợp với tình hình mới hiện nay hay không ạ?

Trần Bình Nam : Đối với Việt Nam thì họ dùng chính sách gọi là “cây gậy và củ cà rốt” để họ o ép Việt Nam và các nước Đông Nam Á trong vùng. Trong sách lược của Trung Quốc như vậy thì Việt Nam cần có một đối sách lâu dài hơn, hơn là đối sách hiện giờ là chỉ có phản đối bằng lời.

Mặc Lâm : Rất nhiều người than phiền Việt Nam tỏ ra không nhất quán trong đối sách với Trung Quốc. Theo ông thì đối sách lâu dài của Việt Nam hiện nay có thể xem là chấp nhận được hay không?

Trần Bình Nam : Tôi thấy đối sách lâu dài của Việt Nam về phương diện tự lực thì phải tăng cường sức mạnh hải quân của mình, và thứ hai tôi nghĩ rằng phải có chính sách rõ ràng trong khi liên kết với các thế lực mà có thể là bạn của mình, nghĩa là Hoa Kỳ. Nói như vậy không có nghĩa là tôi muốn nói rằng Việt Nam phải ngã vào Hoa Kỳ, nhưng Việt Nam cần có một thái độ để cho Trung Quốc biết rằng Việt Nam sẽ coi Hoa Kỳ là một người bạn trong việc bảo vệ quyền lợi của mình ở Biển Đông.

Ngoài ra, một đường lối mà tôi nghĩ là lâu dài hơn thì có lẽ Việt Nam phải đưa vấn đề Biển Đông ra cho Liên Hiệp Quốc, hay là nói cách khác hơn là đưa ra Tòa Án Quốc Tế để xử rõ ràng việc đó. Để có những án lệnh quốc tế nói rõ là vùng biển đó thuộc của ai. Thứ hai nữa, song song với việc đó tôi nghĩ là cần phải quốc tế hóa vấn đề Biển Đông. Đương nhiên là những vùng đảo của mình thì mình giữ. Việt Nam cũng không thế đòi hỏi tất cả các hải đảo của quần đảo Trường Sa được, nhưng cần phải phân biệt rõ ràng cái gì của mình và cái gì của người khác.

Muốn có một giải pháp như vậy thì cần đặt vấn đề quốc tế hóa. Khi mà quốc tế hóa như vậy thì mình dọn đường cho những thế lực quốc tế có thể bàn về vấn đề đó.

Ví dụ như gần là Ấn Độ, Nhật Bản, và xa hơn là Hoa Kỳ. Tôi nghĩ đó là đường hướng lâu dài mà Việt Nam cần phải theo. Nếu như bây giờ cứ mỗi lần có một sự o ép nào đó của Trung Quốc như bắt bớ ngư dân của mình thì Việt Nam lên tiếng phản đối có tính cách ngoại giao rồi qua đi, thì tôi thấy dần dần mình sẽ bị lép vế.

Mặc Lâm : Một diễn biến mới đây nhất là Trung Quốc đã bị Philippines đem tàu chiến ra bao vây 8 chiếc tàu cá của Trung Quốc xâm phạm vùng biển đảo san hô Scarbouroug của nước này, và song song với việc đó thì Phi luôn lớn tiếng cho thế giới biết những hành động vi phạm chủ quyền của Trung Quốc, kể cả ở Liên Hiệp Quốc, theo ông thì Việt Nam có thể học được gì từ phản ứng này của Phi, thưa ông?

Trần Bình Nam : Trong vụ xảy ra ở đảo Scarbouroug giữa Trung Quốc và Phi Luật Tân mới đây thì đúng là mình ghi nhận thái độ của Phi hết sức là cứng rắn. Nhìn lại những việc tương tự xảy ra đối với Việt Nam thì thái độ của Việt Nam thường thường dè dặt hơn. Vấn đề thật ra cũng dễ hiểu. Về quân lực, nói riêng về hải quân thì hải quân Việt Nam hiện giờ mạnh hơn hải quân Phi Luật Tân rất nhiều, nhưng mà cái thế của Việt Nam đối với Trung Quốc khó hơn cái thế của Phi Luật Tân đối với Trung Quốc.

Phi Luật tân hiện giờ thật sự có những ký kết bằng văn bản về an ninh với Hoa Kỳ cho nên họ mạnh dạn hơn. Hơn nữa mối liên hệ trong quá khứ giữa Phi Luật Tân với Trung Quốc, cũng như Việt Nam với Trung Quốc rất khác nhau. Sự liên hệ giữa hai nước Trung Quốc – Việt Nam quá chặt chẽ với nhau, và hiện giờ thật ra cũng là hai nước trong khối xã hội chủ nghĩa còn lại trong ít oi những nước XHCN trên thế giới.

Kinh tế Việt Nam lệ thuộc vào Trung Quốc nhiều hơn. Cho nên tôi nghĩ rằng cái khó nó bó cái khôn, chứ không phải Việt Nam yếu.

Phi Luật Tân họ có cái thế rộng tay hơn cho nên họ hành động một cách dễ dàng hơn, và đương nhiên hiện giờ mình biết rằng ở Biển Đông Trung Quốc không bao giờ họ làm cái gì mạnh hết. Họ chỉ lấn từng bước, lấn từng bước để tạo ra một trạng thái tâm lý rằng đó là đảo của họ, đó là biển của họ. Lúc này chưa phải là lúc họ có những hành động thật mạnh mẽ, vì vậy cho nên trước sự đối đầu mạnh mẽ của Phi Luật Tân thì họ tạm nhượng bộ vậy thôi.

Mặc Lâm : Trong khi Trung Quốc vẫn giam giữ trái phép 21 ngư dân của mình thì Việt Nam lại gửi một phái đoàn quân sự cao cấp sang thăm Trung Quốc. Việc làm này khiến dư luận nghi ngờ vào sự yếu kém của nội bộ đảng Cộng sản Việt Nam. Ông giải thích sao về câu hỏi này?

Trần Bình Nam : Vâng. Tôi nghĩ trong thái độ ngoại giao nó có hai mặt mà mình phải để ý đến, mặt ở bên ngoài và mặt ở bên trong. Hà Nội bây giờ bên ngoài họ giữ thái độ rất bình thường, hai bên có những cuộc thăm viếng, cũng nói những lời lẽ rất thân hữu, nhưng bên trong không phải là thiếu sự căng thẳng. Thành ra nếu mình nghĩ rằng thái độ của Việt Nam không chấp nhận được thì tôi nghĩ những nhận xét đó cũng hơi quá nghiêm khắc.

Mặc Lâm : Xin cám ơn nhà nghiên cứu Trung Quốc – Trần Bình Nam.

*

Mặc Lâm: Xin cám ơn nhà nghiên cứu Biển Đông – Đinh Kinh Phúc. Thưa ông trong nhiều năm qua Việt Nam luôn bị Trung Quốc khống chế, chèn ép về mọi mặt trong hồ sơ Biển Đông nhưng chính phủ VN không thể làm khác hơn vì thế và lực của Việt Nam rất nhỏ so với Trung Quốc. Theo ông thì có cách nào có thể xem là tương đối vẹn toàn để đối phó với vấn đề này hay không?

Ông Đinh Kim Phúc: Theo tôi, đây là một câu hỏi rất khó. Trước nhứt phải nói rằng vào năm 1956 Trung Quốc chiếm một phần của quần đảo Hoàng Sa và đến năm 1974 thì chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Cho đến ngày hôm nay họ đương nhiên coi là sự đã rồi, coi như là vùng đất của họ và không bao giờ họ đồng ý đưa vào chương trình nghị sự để mà đàm phán, giải quyết những vấn đề tranh chấp. Chúng ta biết rằng quần đảo Hoàng Sa là ngư trường truyền thống hàng trăm năm của ngư dân Miền Trung Việt Nam, nhưng bây giờ cứ mỗi lần ra biển, mỗi lần đi đánh bắt ở mảnh đất ông cha của mình thì bị Trung Quốc chận bắt, o ép, đánh đập và bắt đòi tiền chuộc. Những hành động của nhà nước Trung Quốc chẳng khác nào những tên hải tặc của thế kỷ 21. Vấn đề đó đã gây một dư luận hết sức bức xúc cho nhân dân Việt Nam, cũng như là nối thống khổ của ngư dân Miền Trung hiện nay.

Giải quyết bằng cách nào? Đây là một vấn đề rất khó đặt ra trong thời điểm hiện nay. Chúng ta biết rằng chính phủ Việt Nam nhiều lần tuyên bố giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, vẫn giữ tình hữu nghị Việt Nam – Trung Quốc, nhưng càng mềm mỏng bao nhiêu, càng nhún nhường bao nhiêu, càng tuân thủ luật pháp quốc tế bao nhiêu, thì Trung Quốc lại càng lấn tới gây ra những điểm nóng trên Biển Đông, và nhất là vấn đề bắt bớ ngư dân đòi tiền chuộc. Nếu như không có giải pháp thỏa đáng được đặt ra mà ngư dân sợ đến tánh mạng của mình, sợ đến nồi cơm của mình, lén lút nộp tiển chuộc, thì chẳng khác nào thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc trên vùng quần đảo Hoàng Sa.

Mặc Lâm: Tuy nhiên, mới đây một phái đoàn quân sự cao cấp của Việt Nam đã sang Bắc kinh để bàn thảo việc hợp tác giữa hai nước. Trong tình hình hiện nay liệu cái được gọi là tình hữu nghị này có thể khiến Trung Quốc hài lòng và tỏ ra thiện chí với Việt Nam hơn hay không khi mà 21 ngư dân Việt Nam vẫn còn bị họ giam giữ, thưa ông?

Đinh Kim Phúc: Không thể đặt tình hữu nghị lên trên chủ quyền quốc gia. Đứng trước một cường quốc mạnh như Trung Quốc, một đất nước có hơn 2.000 tỷ đô la dự trữ, một đất nước chi phí quân sự hàng năm gấp mấy lần thu nhập quốc dân của Việt Nam, và họ luôn luôn cố tình khiêu khích vũ trang để cho Việt Nam nổ súng để họ lấy đó làm cái cớ để tiến công Việt Nam nhằm đánh chiếm thêm một số hải đảo của Việt Nam, đây là một bài toán rất là gian nan! Nếu không có những biện pháp ổn thỏa để giải quyết thì chúng ta sẽ sập bẫy của Trung Quốc và sẽ mất thêm lãnh thổ.

Một vấn đề đặt ra, theo tôi nghĩ một mặt kiên trì giải quyết bằng biện pháp hòa bình bằng các đường lối ngoại giao, nhưng cũng cần phải có một tiếng nói thống nhứt trong nội bộ các nước ASEAN. Trong những chỉ thị, những áp đặt vô lý của Trung Quốc ở Biển Đông như là lệnh cấm đánh bắt cá hàng năm, rồi truy bắt ngư dân của Việt Nam, của Philippines, của Malaysia, vân vân, thì chúng ta phải có tiếng nói thống nhứt.

Thứ hai nữa, nếu ai trách rằng nhà nước Việt Nam quá mềm mỏng đối với vấn đề đối phó với Trung Quốc trong việc ngư dân bị bắt bớ thì tôi nghĩ rằng ở tình trạng này Việt Nam đang bị vướng mắc bởi giữ vững lập trường hòa bình, ổn định và phát triền. Trong mối quan hệ kinh tế hàng năm giữa Việt Nam và Trung Quốc là 25 tỷ đô la thì khó có thể kiếm một thị trường nào đó để bù đắp vào thị trường này.

Mặc Lâm: Trong thực tế này thì Việt Nam phải làm gì để thoát ra dần dần hiện trạng lệ thuộc về kinh tế đối với Trung Quốc?

Đinh Kim Phúc: Vấn đề đặt ra là các nhà kinh tế Việt Nam, các nhà hoạch định chính sách Việt Nam phải tìm ra những thị trường mới để bù đắp thị trường Trung Quốc, thì tiếng nói của nhà nước Việt Nam tôi nghĩ rằng sẽ mạnh dạn hơn và sẽ cứng rắn hơn. Bài toán giải quyết việc Trung Quốc đánh đập, bắt bớ, tống tiền ngự dân Việt Nam, tuy là bài toán của nhà nước nhưng tất cả mọi người đều phải có một tiếng nói chung và phải chỉ ra được một phương pháp cụ thể để giúp cho nhà nước vượt qua được cái khó khăn này, chứ không chỉ là phê phán.

Ngay cả thời kỳ xung đột vũ trang giữa Việt Nam và Trung Quốc trong cuối những năm 70 của thế kỷ trước chúng ta thấy rằng có những vấn đề cũng hết sức khó xử giữa một nước nhỏ bên cạnh một nước lớn. Do đó dù giữ quan hệ láng giềng hữu nghị đối với Trung Quốc nhưng chính phủ Việt Nam cần phải cứng rắn hơn nữa, nhưng tránh khiêu khích vũ trang, vì nếu khiêu khích vũ trang thì sẽ sập bẫy Trung Quốc.

Mặc Lâm: Trong vài ngày vừa qua Trung Quốc và Philippines đã căng thẳng với nhau trước vấn đề mà Phi gọi là Trung Quốc đã xâm phạm đảo Scarborough trong quần đảo Trường Sa. Theo ông thì những đòi hỏi của Phi có hợp lý hay không?

Đinh Kim Phúc: Vấn đề xung đột giữa Trung Quốc và Philippines trong tuần qua trong việc tranh chấp khu vực bãi cạn Scarborough nó đã đẩy vấn đề tranh chấp Biển Đông lên một bước mới có khả năng xảy ra xung đột vũ trang nếu như hai bên không kiềm chế.

Có một vấn đề được đặt ra là vì sao khu vực này thuộc về quần đảo Trường Sa của Việt Nam mà Việt Nam lại không lên tiếng trong vấn đề tranh chấp. Trước khi trả lời câu hỏi này thì tôi có thể khẳng định rằng toàn bộ khu vực đang tranh chấp giữa Philippines và Trung Quốc thì nó thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam.

Cần phải nhắc lại rằng trong hiệp ước hòa bình giữa Mỹ và Tây Ban Nha ký tại Paris ngày 10-12-1898 thì Tây Ban Nha giao lại phần lãnh thổ của Philippines cho Mỹ quản lý thì không bao gồm khu vực quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Trong điều 3 của hiệp định hòa bình 1898 ghi rất rõ khu vực gọi là lãnh thổ Philippines mà Tây Ban Nha giao lại cho Mỹ không bao gồm quần đảo Trường Sa của Việt Nam.

Một sự kiện thứ hai nữa là trong hiệp ước phòng thủ giữa Mỹ và Philippines ký vào tháng 5-1984 thì không gian phòng thủ cũng không bao gồm quân đảo Trường Sa của Việt Nam. Điều này đã thấy rõ là Philippines hoàn toàn không có chủ quyền ở trên quấn đảoTrường Sa của Việt Nam. Nhưng trong thời gian vừa qua thì tôi nghĩ rằng chính phủ Việt Nam đã nhiều lần khẳng định Hoàng Sa – Trường Sa là của Việt Nam. Lời tuyên bố cả gói như thế tôi thấy là tạm đủ, vì trong các cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền thì cần phải có lúc nhân nhượng, có lúc tranh thủ để tập trung đấu tranh chống lại tham vọng độc chiếm Biển Đông của Trung Quốc . Còn trong nội bộ các nước ASEAN thì vẫn giữ nguyên tắc không gây căng thẳng và đàm phán bằng phương pháp hòa bình.

Mặc Lâm: Thái độ của nhà nước Việt Nam cho tới nay vẫn hoàn toàn im lặng, không hề lên tiếng về chủ quyền tại Bãi cỏ rong mặc dù luôn khẳng định Trường Sa là của Việt Nam. Liệu với sự im lặng này thì Việt Nam có tự gạt mình ra khỏi cuộc tranh chấp hay không ạ?

Đinh Kim Phúc: Đây là một vấn đề mà giới học giả nghiên cứu Biển Đông cũng đang đặt ra. Tuyên bố chủ quyền dù có giành được hay không thì vấn đề liên tục tuyên bố chủ quyền nó vẫn có giá trị pháp lý trong vấn đề đấu tranh ở các hội nghị quốc tế hoặc trong các tòa án quốc tế. Nhưng đấy là điều mà ngay cả bản thân tôi cũng rất là ngạc nhiên, vì trong thời gian vừa qua, ngay thậm chí khi Philippines và Trung Quốc căng thẳng trên vùng đảo Bãi Cỏ Rong thì chính phủ Việt Nam cũng không lên tiếng chủ quyền ở khu vực này. Tôi không biết có một sự thỏa thuận nào đó giữa Việt Nam và các quốc gia ASEAN nói chung, hay giữa Việt Nam và Philippines hay không, nhưng đây cũng là câu hỏi mà tôi đang đặt ra. Không biết là Việt Nam có từ bỏ chủ quyền của mình trên vùng Bãi Cỏ Rong, hoặc vùng bãi đá ngầm Scaborough hay không?

Mặc Lâm: Một lẫn nữa, xin cảm ơn nhà nghiên cứu Biển Đông – Đinh Kim Phúc đã dành cho chúng tôi buổi phỏng vấn ngày hôm nay.

*

Vừa rồi là nhà nghiên cứu Biển Đông Đinh Kim Phúc, sau đây là ý kiến của Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, nguyên đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc và ông Nguyễn Trung, nguyên đại sứ Việt Nam tại Thái Lan về những giải pháp cho cuộc tranh chấp Biển Đông. Đây là phần cuối của loạt bài ý kiến của nhiều vị khách mời có quan tâm và nghiên cứu đến vấn đề Biển Đông. Hy vọng rằng những nhận định của họ sẽ giúp cho chúng ta hiểu thêm những gì đang xảy ra trong và ngoài nước có tác động trực tiếp hay gián tiếp đến vận mệnh của chủ quyền Việt Nam.

Mặc Lâm : Thưa, xin ông Đại Sứ cho biết qua những kinh nghiệm khi còn làm đại sứ tại Bắc Kinh thì tình hình Biển Đông hiện nay theo ông vấn đề gì là quan trọng nhất?

Đại sứ Nguyễn Trọng Vĩnh : Đối với tình hình Biển Đông thì tôi chỉ quan tâm là các đảo và biển của tổ quốc mình không bị cái lưỡi bò vô lý của Trung Quốc chia cắt. Chúng tôi có nhiều tư liệu đầy đủ về Biển Đông và các quần đảo thuộc về chúng tôi, và Trung Quốc thì không có gì cả, không có cứ liệu nào có giá trị mà nói lên được các quần đảo là của họ. Họ chỉ tuyên bố họ xí phầnthế thôi. Tôi muốn công bố những tài liệu của Việt Nam lên cho thế giới biết cũng như phải đấu tranh ngoại giao, đấu tranh dư luận với họ. Còn họ mạnh về quân sự, chúng tôi về hải quân không bằng họ, kém lắm, nhưng nếu họ đánh thì chúng tôi cũng có những phương tiện khác để có thể đánh chìm tàu chiến của họ. Nhưng cái đó còn tùy thái độ lãnh đạo của chúng tôi.

Mặc Lâm : Vâng. Nhiều nhà nghiên cứu Biển Đông trong và ngoài nước đã đề nghị chính phủ cần phải đưa vấn đề này ra quốc tế, bất chấp Trung Quốc có đồng ý hay không vì làm được điều này thì Việt Nam đã gióng được tiếng chuông cảnh báo với thế giới về những hành động quá đáng của Trung Quốc, ông có đồng ý với quan điểm này hay không, thưa ông Đại Sứ?

Đại sứ Nguyễn Trọng Vĩnh : Tôi cho rằng phải đưa ra quốc tế để quốc tế hóa những tư liệu của chúng tôi trong cuộc đấu tranh với Trung Quốc, chứ còn cứ nói tay đôi với họ thì chả giải quyết được điều gì đâu. Tuy họ mạnh thật nhưng không phải dễ dàng gì họ đánh chúng tôi. Họ mạnh nhưng họ có những chỗ yếu. Trước đây Mỹ mạnh gấp mười lần thế nhưng chúng tôi cũng đánh trả, rồi cũng giành được độc lập.

Mặc Lâm : Đó là đối với thế giới còn với trong nước thì sao? Ông Đại Sứ có đề nghị gì với chính phủ trước tình hình sôi động hiện nay không ạ ?

Đại sứ Nguyễn Trọng Vĩnh : Tôi thường đề nghị với chính phủ là phải thực hiện dân chủ và đàn áp những người đi biểu tình yêu nước chống Trung Quốc là vô lý.

Mặc Lâm : Nhưng mà hình như có một áp lực nào đó lúc nào cũng chi phối hành động của chính quyền đối với những gì có mang yếu tố Trung Quốc. Ông có nhận thấy như vậy hay không, thưa ông?

Đại sứ Nguyễn Trọng Vĩnh : Không phải một mình tôi mà cả dư luận nhiều đồng bào tôi cũng biết là có cái áp lực từ Phương Bắc, nhưng mà bây giờ mình phải cứng rắn lên thì không sợ thì mới được, chứ cứ sợ cái áp lực của họ thì chả giải quyết được cái gì rồi đến mất nước mất thôi.

Mặc Lâm : Xin cám ơn ông.

*

Mặc Lâm : Vâng. Thưa ông Đại Sứ, trong Hội nghị thượng đỉnh ASEAN vừa qua Trung Quốc đã làm một động thái có thể xem là uy hiếp nước chủ nhà Campuchia khi yêu cầu Phnom Penh không mang vấn đề Biển Đông vào nghị trình làm việc. Nhận xét của ông về hành động này như thế nào ạ?

Đại sứ Nguyễn Trung : Tôi biết là họ chịu một sự uy hiếp, thậm chí là những hành động không đúng với tính cách một quốc gia, mà hơn nữa Trung Quốc là một nước lớn, thế thì phải nói rằng đấy là chuyện không thể nào chấp nhận được. Tôi nghĩ rằng dứt khoát nhân dân Việt Nam lập trường rất rõ ràng, rất mong muốn có quan hệ tốt với các nước láng giềng, nhất là với Trung Quốc là một nước lớn bên cạnh mình. Nhưng điều đó không có nghĩa là chấp nhận bất kể một điều gì xâm phạm đến chủ quyền, đến lãnh thổ, đến các vùng biển, vùng trời mà đã thuộc chúng tôi và là của chúng tôi. Về mặt lịch sử cũng như mặt pháp lý là đã rõ ràng, không có gì để bàn.

Tôi nghĩ rằng bây giờ tốt nhất dối với Trung Quốc phải tôn trọng các tập quán chung, các luật lệ chung, và kể cả bản thân của Trung Quốc là thành viên ở trong khu vực này. Hơn nữa hội nghị ASEAn vừa rồi ai cũng biết, Trung Quốc tìm mọi cách không muốn để cho Campuchia đưa vấn đề Biển Đông vào hội nghị thượng đỉnh các nước ASEAN vừa rồi. Tuy nhiên cuối cùng thì các nước ASEAN người ta là những quốc gia độc lập, có chủ quyền, người ta không thể nào chấp nhận những cách đặt vấn đề như vậy của Trung Quôc, tôi nghĩ tất cả đã rõ ràng chứ còn không có gì là không rõ ràng đó anh.

Mặc Lâm : Những phản đối của Bộ ngoại giao Việt Nam về sự xâm hại cả người và tài sản của ngư dân cũng như vùng biển đặc quyền kinh tế của Việt Nam thì Trung Quốc luôn im lặng và không màng hồi âm. Kinh nghiệm trong ngành ngoại giao theo ông Đại sứ thì Việt Nam phải đối phó như thế nào trước thái độ này?

Đại sứ Nguyễn Trung : Tôi nghĩ rằng mình phải tìm mọi cách để họ biết rằng không nghe không được. Người dân đã nói lên ý kiến rất rõ, và tôi nghĩ chính phủ ai cũng phải nghe dân chứ không thể nào khác được. Tôi thấy những gì đã nói ở hội nghị thượng đỉnh vừa rồi thì rất là rõ ràng, dứt khoát, chúng ta không thể nào chấp nhận một tình hình như thế đâu.

Mặc Lâm : Để kết luận, xin ông cho biết cái nhìn tổng quan của ông trước những tranh chấp đối với Trung Quốc sẽ còn xảy ra trong nhiều năm tới nó sẽ ra sao, thưa ông?

Đại sứ Nguyễn Trung : Trung Quốc không phải một lần đối với ta như thế này đ âu. Cũng đã xảy ra những lúc quan hệ hai nước rất xấu. Tôi lấy ví dụ như thời chiến tranh tháng 2 năm 1979, hay như chuyện cướp thêm mấy cái đảo nữa vào năm 1988, thì phải nói rằng đấy là thái độ hoàn toàn không đúng với một nước gọi là “trỗi dậy hòa bình” hay là cái gì cả. Chúng tôi thừa nhận là càng ngày họ càng leo thang và như thế chúng ta nhất định phải có biểu thị thái độ rõ ràng và cứng rắn hơn nữa. Cái đó là chắc chắn. Tôi nghĩ chúng ta phải làm như vậy. Chúng ta phải chống cự Trung Quốc từ mấy nghìn năm nay rồi chứ không phải từ bây giờ. Dân tộc này không khuất phục đâu anh. Cái đó là chắc chắn anh ạ.

Thực ra Trung Quốc bây giờ là vấn đề của cả thế giới chứ không phải chỉ có riêng Việt Nam. Việt Nam hoàn toàn không cô lập trong vấn đề này đâu. Chừng nào Trung Quốc còn theo đuổi chính sách như vậy thì tôi nghĩ vấn đề sẽ vẫn còn tiếp tục khó khăn và căng thẳng chứ không phải ngày một ngày hai mà hết được.

Mặc Lâm : Xin cảm ơn ông Đại sứ Nguyễn Trung.

Nguồn: RFA/Viet-Studies

“Vũ Lực Không Phải Là Giải Pháp Cho Vấn Đề Biển Đông”

Chiều 21/10/2024, tại Trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã tiếp Bộ trưởng Ngoại giao Philippines Albert del Rosario đang thăm làm việc tại Việt Nam và đồng chủ trì Kỳ họp lần thứ 8 Ủy ban Hợp tác song phương Việt Nam – Philippines cùng với Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tiếp Bộ trưởng Ngoại giao Philippines Albert del Rosario

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đánh giá cao kết quả kỳ họp lần thứ 8 của Ủy ban Hợp tác song phương Việt Nam – Philippines cũng như kết quả làm việc của đoàn với các bộ, ngành của Việt Nam nhằm thúc đẩy quan hệ hợp tác song phương giữa hai nước trên nhiều lĩnh vực, nhất là thúc đẩy hợp tác thương mại, đầu tư.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho rằng Việt Nam và Philippines là hai nước có quan hệ láng giềng hữu nghị, cùng là thành viên của ASEAN, cùng có lợi ích chung ở Biển Đông, cùng có trách nhiệm trong xây dựng cộng đồng ASEAN ngày càng phát triển cường thịnh, vững mạnh,…Khẳng định chính sách nhất quán của Việt Nam là sẽ tiếp tục nỗ lực hết mình để cùng với Philippines đưa quan hệ hợp tác giữa hai nước phát triển sâu rộng, toàn diện và hiệu quả hơn, đưa quan hệ hai nước hướng tới một tầm cao mới trong thời gian tới.

Với tinh thần đó, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đề nghị hai bên tiếp tục tăng cường các hoạt động trao đổi đoàn các cấp, dành ưu tiên hơn nữa cho thúc đẩy quan hệ kinh tế, thương mại, nhất là thương mại về gạo, đầu tư, du lịch; tiếp tục phối hợp chặt chẽ, thúc đẩy hợp tác về ngư nghiệp, khoa học kỹ thuật, văn hóa, an ninh, quốc phòng, giao lưu nhân dân. Thủ tướng khẳng định chính phủ Việt Nam luôn chào đón, khuyến khích và tạo các điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp của Philippines đầu tư, kinh doanh lâu dài, hiệu quả tại Việt Nam.

Ông Albert del Rosario cho rằng, vũ lực không phải là giải pháp cho vấn đề Biển Đông

Bộ trưởng Albert del Rosario khẳng định, Philippines đặc biệt coi trọng phát triển quan hệ hợp tác với Việt Nam trên các lĩnh vực. Trong kỳ họp lần thứ 8 của Ủy ban Hợp tác song phương Việt Nam – Philippines, hai bên đã đạt được những nhận thức chung quan trọng cũng như nhiều thỏa thuận hợp tác song phương, nhất là hợp tác trong lĩnh vực kinh tế, biển và đại dương, ngư nghiệp, an ninh-quốc phòng, giao lưu nhân dân.

Cũng tại buổi tiếp, hai bên thống nhất cần tiếp tục phối hợp chặt chẽ trong giải quyết, xử lý ngư dân của mỗi nước vi phạm vùng biển của nhau trên tinh thần nhân đạo, tinh thần quan hệ hợp tác hữu nghị tốt đẹp giữa hai nước Việt Nam – Philippines.

Nam Hằng

Chủ Trương Của Việt Nam Trong Vấn Đề Biển Đông

Chủ trương của Việt Nam trong vấn đề biển Đông 

Việt Nam kiên quyết, kiên trì, giữ vững lập trường nhất quán sau đây về vấn đề biển Đông:

Việt Nam tích cực chủ động thúc đẩy đàm phán với các nước láng giềng về các vấn đề trên biển. Trong giải quyết vấn đề biển đảo với Trung Quốc, Việt Nam kiên trì thực hiện Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam – Trung Quốc ký tháng 10 năm 2011, trên cơ sở luật pháp quốc tế, nhất là Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật biển năm 1982.

3. Việt Nam kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, cũng như chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán và các lợi ích hợp pháp, chính đáng của mình ở biển Đông, kiên trì đẩy mạnh phát triển kinh tế biển trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa theo đúng các quy định của Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật biển năm 1982 và phù hợp với tình hình thực tế của Việt Nam. Công khai hóa, minh bạch hóa vấn đề tranh chấp biển Đông, phản đối và kiên quyết bác bỏ yêu sách “đường chín đoạn” của Trung Quốc ở biển Đông vì đây là yêu sách hoàn toàn không có cơ sở pháp lý, trái với Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật biển năm 1982 mà Việt Nam và Trung Quốc là quốc gia thành viên có nghĩa vụ tôn trọng và tuân thủ.

– Khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam đối với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của mình được xác định phù hợp với Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật biển năm 1982.

“Trích nguồn từ Tài liệu định hướng công tác tuyên truyền về biển đảo”

Cập nhật thông tin chi tiết về Tìm Giải Pháp Cho Vấn Đề Biển Đông trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!