Xu Hướng 12/2022 # Tiêu Chuẩn Đại Biểu Hội Đồng Nhân Dân Cấp Xã / 2023 # Top 13 View | Phauthuatthankinh.edu.vn

Xu Hướng 12/2022 # Tiêu Chuẩn Đại Biểu Hội Đồng Nhân Dân Cấp Xã / 2023 # Top 13 View

Bạn đang xem bài viết Tiêu Chuẩn Đại Biểu Hội Đồng Nhân Dân Cấp Xã / 2023 được cập nhật mới nhất trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Tiêu chuẩn đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã. Điều kiện về đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa phương khi ứng cử hội đồng nhân dân.

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến Ban biên tập – Phòng tư vấn trực tuyến của Công ty LUẬT DƯƠNG GIA. Với thắc mắc của bạn, Công ty LUẬT DƯƠNG GIA xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau:

– Trung thành với Tổ quốc, Nhân dân và Hiến pháp, phấn đấu thực hiện công cuộc đổi mới, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

– Có phẩm chất đạo đức tốt, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, gương mẫu chấp hành pháp luật; có bản lĩnh, kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền và các hành vi vi phạm pháp luật khác.

– Có trình độ văn hóa, chuyên môn, đủ năng lực, sức khỏe, kinh nghiệm công tác và uy tín để thực hiện nhiệm vụ đại biểu; có điều kiện tham gia các hoạt động của Hội đồng nhân dân.

– Liên hệ chặt chẽ với Nhân dân, lắng nghe ý kiến của Nhân dân, được Nhân dân tín nhiệm.

Trên cơ sở kết quả hiệp thương lần thứ nhất và điều chỉnh của Thường trực Hội đồng nhân dân, căn cứ vào tiêu chuẩn của đại biểu Hội đồng nhân dân, các cơ quan, tổ chức, đơn vị và thôn, tổ dân phố (đối với cấp xã) được phân bổ số lượng người được giới thiệu ứng cử tiến hành lựa chọn, giới thiệu người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân như sau:

Việc giới thiệu người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã ở thôn, tổ dân phố do Ủy ban thường vụ Quốc hội hướng dẫn;

– Việc tổ chức hội nghị cử tri quy định tại Điều này được thực hiện theo quy định tại Điều 54 của Luật này;

THAM KHẢO CÁC DỊCH VỤ CÓ LIÊN QUAN CỦA LUẬT DƯƠNG GIA:

Vị Trí, Vai Trò, Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Và Phương Thức Hoạt Động Của Hội Đồng Nhân Dân Và Đại Biểu Hội Đồng Nhân Dân Cấp Xã / 2023

Địa vị chính trị – pháp lý của HĐND nói chung và HĐND cấp xã nói riêng được xác định trước hết trong Hiến pháp Việt Nam năm 1992 (sửa đổi bổ sung năm 2001), Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003.

HĐND câp xã có 02 tư cách:

Thứ nhất, là cơ quan đại biểu của nhân dân ở địa phương, HĐND là một bộ phận cấu thành thiết chế đại diện của quyền lực Nhà nước.

Thứ hai, với tư cách là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, HĐND có nhiệm vụ chấp hành hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, Pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Lệnh, Quyết định của Chủ tịch nước và văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, có quyền quyết định các chủ trương và biện pháp triển khai thực thi pháp luật cho phù hợp với điều kiện của địa phương. Việc chấp hành này của HĐND được thể chế hóa thành các nghị quyết của HĐND.

HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương và là cơ quan đại biểu của nhân dân địa phương, hoạt động của HĐND thực chất là hoạt động chấp hành bằng việc ra các nghị quyết.

tốc độ tăng chi thường xuyờn so với tốc độ tăng chi ngõn sỏch núi chung của địa phương. Nếu tốc độ tăng chi thường xuyờn thấp hơn, thể hiện việc địa phương tiết kiệm trong chi thường xuyờn đỳng với Nghị quyết của HĐND. – Xem xột chi sự nghiệp giỏo dục, đào tạo và dạy nghề: Đõy là lĩnh vực được ưu tiờn phỏt triển. Trường hợp chi sự nghiệp giỏo dục, đào tạo và dạy nghề tăng so với dự toỏn thỡ cần xỏc định nguồn tăng chi cú phự hợp khụng? Trường hợp giảm chi so với dự toỏn cần làm rừ nguyờn nhõn giảm chi để cú biện phỏp thớch hợp cho năm tới. – Xem xột chi tiết hành chớnh, Đảng, đoàn thể: Về nguyờn tắc, đõy là những khoản chi cần hạn chế, vỡ vậy khụng được chi vượt dự toỏn. Trường hợp chi vượt dự toỏn, cần xem xột kỹ cỏc nguyờn nhõn (vớ dụ do tăng biờn chế thỡ việc tăng cú đỳng thẩm quyền và co cần thiết khụng; do tăng chi mua sắm từ nguồn nào, cú hợp lý khụng; Tăng chi cỏc khoản tiếp khỏc và hội nghị cú hợp lý khụng và từ nguồn nào). – Hiện nay, nguồn chi phớ thực hiện cải cỏch tiền lương được bố trớ riờng một dũng trong dự toỏn hoặc nhận bổ sung từ ngõn sỏch cấp trờn. Khi thực hiện và quyết toỏn việc cải cỏch tiền lương mới phản ỏnh vào trong lĩnh vực chi, trong đú cú chi hành chớnh. 4.2.3. Xem xột kết dư ngõn sỏch địa phương Kết dư ngõn sỏch địa phương là chờnh lệch giữa số thu lớn hơn số chi của ngõn sỏch địa phương. Giỏm sỏt kết dư ngõn sỏch dựa trờn cỏc nghiờn cứu cỏc số liệu quyết toỏn và chất vấn UBND để xem số kết dư đó được tớnh toỏn chớnh xỏc hay khụng. Để xỏc định kết dư ngõn sỏch địa phương, phải lưu ý cỏc điểm sau: – Số thu ngõn sỏch địa phương bao gồm tất cả cỏc khoản thu, trong đú bao gồm cả khoản thu chuyển nguồn từ năm trước sang, số đang thu so với dự toỏn. – Số chi ngõn sỏch địa phương phải tớnh đầy đủ trả chi chuyển nguồn, bao gồm: + Chi chuyển nguồn sang năm sau để thực hiện cỏc nhiệm vụ chi đó cú trong dự toỏn song chưa chi hoặc chưa chi hết được cấp cú thẩm quyền cho chuyển sang năm sau chi tiếp; + Chi chuyển nguồn cỏc khoản tạm ứng ngõn sỏch đó xuất quỷ nhưng chưa đủ thủ tục quyết toỏn được chuyển sang năm sau quyết toỏn. III. ĐIỀU KIỆN BẢO ĐẢM HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT NGÂN SÁCH ĐỊA PHƯƠNG CỦA HĐND CẤP XÃ Giỏm sỏt tài chớnh – ngõn sỏch là một hoạt động phức tạp, liờn quan đến cỏc mối quan hệ kinh tế và lợi ớch phức tạp, bao gồm cỏc khớa cạnh kinh tế – chớnh trị – hành chớnh và phỏp lý, đũi hỏi bờn giỏm sỏt phải cú những kiến thức và kỹ năng nhất định để thực hiện giỏm sỏt cú hiệu quả. Do đú cần bảo đảm một số điều kiện cần thiết khi thực hiện giỏm sỏt ngõn sỏch như sau: 1. Xỏc định đỳng vấn đề cần giỏm sỏt Việc quản lý tài chớnh – ngõn sỏch của chớnh quyền cấp xó bao quỏt nhiều nội dung, từ lập dự toỏn đến điều hành quỏ trỡnh thu chi ngõn sỏch và quyết toỏn ngõn sỏch. Rất khú cú thể đi vào mọi nội dung của quỏ trỡnh này. Vỡ vậy, cầ lựa chọn ra những vấn đề cần phải giỏm sỏt và tập trung sõu vào vấn đề này để bảo đảm giỏm sỏt cú hiệu quả. Thụng thường, cỏc vấn đề cần quan tõm giỏm sỏt liờn quan đến cỏc lĩnh vực nhạy cảm trong quản lý tài chớnh – ngõn sỏch như: chi đầu tư xõy dựng cơ bản, tỡnh trạng thất thu và trốn lậu thuế, phớ và lệ phớ, tỡnh hỡnh lóng phớ ngõn sỏch nhà nước, việc thực hiện chương trỡnh xúa đúi giảm nghốo, quản lý và sử dụng nguồn do dõn đúng gúp. Ngoài ra, cỏc vấn đề cụ thể trong lập dự toỏn, điều hành và quyết toỏn ngõn sỏch cũng thường nảy sinh do năng lực quản lý tài chớnh và những lợi ớch cỏ nhõn chi phối. HĐND là cơ quan chức năng thực hiện giỏm sỏt tài chớnh – ngõn sỏch ở địa phương cần lựa chọn cỏc nội dung cần thiết, liờn quan đến hiệu quả hoạt động kinh tế – xó hội trờn địa bàn để tiến hành giỏm sỏt. Đối với cỏc đại biểu HĐND, với những hiểu biết và thụng tin thu nhận được qua việc tiếp xỳc với cử tri và thực tiễn cụng tỏc của mỡnh, cần chỳ trọng vào những nội dung đang gõy ra sự bức xỳc trong thực tiễn và trong dư luận nhõn dõn để thực hiện theo dừi, giỏm sỏt và phản ỏnh với HĐND. 2. Bảo đảm cung cấp thụng tin đầy đủ và chớnh xỏc Việc giỏm sỏt tài chớnh – ngõn sỏch sẽ khụng cú hiệu quả nếu khụng dựa trờn cỏc thụng tinh kinh tế – tài chớnh đầy đủ và chớnh xỏc. Vỡ vậy, HĐND,cỏc ban của hội đồng cũng như từng đại biểu khi tiến hành giỏm sỏt một nội dung nào đú cần chuẩn bị và yờu cầu đối tượng bị giỏm sỏt cung cấp thụng tin đầy đủ và chớnh xỏc về nội dung được giỏm sỏt. Việc nghiờn cứu, phõn tớch cỏc thụng tin sẽ giỳp đưa ra cỏc nhận xột đỳng đắn về cỏc vấn đề giỏm sỏt. Thụng thường, cần yờu cầu đối tượng bị giỏm sỏt cung cấp cỏc bỏo cỏo về nội dung giỏm sỏt, đồng thời cần thu thập thụng tin từ cỏc bờn cú liờn quan đến nội dung giỏm sỏt. Qua nghiờn cứu, phõn tớch cỏc thụng tin và hiện tượng, cần nờu lờn những cõu hỏi nghi vấn và yờu cầu đối tượng giỏm sỏt phải giải trỡnh làm rừ cỏc vấn đề, để từ đú rỳt ra cỏc kết luận cần thiết. 3. Bảo đảm phõn cụng, phõn nhiệm vụ rừ ràng Giỏm sỏt tài chớnh – ngõn sỏch đũi hỏi phải dựa trờn cơ sở quan trọng để việc giỏm sỏt tập trung đỳng vào cỏc nội dung quản lý tài chớnh – ngõn sỏch theo phạm vi thẩm quyền và mỗi cơ quan đơn vị thuộc cơ quan cấp đú. Đối với ngõn sỏch cấp xó, bờn cạnh nội dung quản lý tài chớnh của cỏc cơ quan, đơn vị, theo quy định của luật ngõn sỏch nhà nước, chớnh quyền xó cũn cú trỏch nhiệm thực thi một số nội dung quản lý tài chớnh – ngõn sỏch chung đối với địa phương, chẵng hạn như việc ban hành cỏc định mức phõn bổ ngõn sỏch đối với cỏc lĩnh vực, một số nội dung chi thực tế cấp xó. Vỡ vậy, hoạt động giỏm sỏt tài chớnh – ngõn sỏch của HĐND xó cần xỏc định rừ phạm vi cỏc hoạt động tài chớnh – ngõn sỏch, cần giỏm sỏt phự hợp với sự phõn cụng, phõn nhiệm theo quy định phỏp luật. 4. Dành thời gian thỏa đỏng cho cụng tỏc giỏm sỏt. Giỏm sỏt tài chớnh – ngõn sỏch đũi hỏi khụng chỉ đọc cỏc bỏo cỏo liờn quan đến nội dung giỏm sỏt, mà tra cứu cỏc văn bản, tài liệu cần thiết để cú thể hiểu và phõn tớch cỏc bỏo cỏo đú trong nhiều trường hợp cần cú thời gian để tổ chức đoàn giỏm sỏt để khảo sỏt thực tiễn trước khi đưa ra kết luận. Việc xem xột vấn đề khụng kỹ lưỡng, khụng dành đủ thời gian để nghiờn cứu và phõn tớch sẽ dẫn đến những kết luận khụng chớnh xỏc, ảnh hưởng khụng nhỏ đến việc quản lý tài chớnh – ngõn sỏch ở địa phương. Vỡ vậy, cần dành thời gian thỏa đỏng cho giỏm sỏt tài chớnh – ngõn sỏch để bảo đảm đưa ra cỏc kết luận chớnh xỏc, cú căn cứ và cú tỏc dụng trong thực tiễn. 5. Tận dụng ý kiến của cỏc chuyờn gia Lĩnh vực tài chớnh – ngõn sỏch là một lĩnh vực đũi hỏi chớnh thức chuyờn mụn khỏ sõu để nắm bắt, hiểu vấn đề và đưa ra cỏc kiến nghị đỳng đắn, phự hợp. Trờn thực tế nhiều đại biểu HĐND khụng thể cú cỏc kiến thức chuyờn sõu về tài chớnh – ngõn sỏch, vỡ vậy khú cú thể nhận xột và đưa ra ý kiến cú chất lượng về những nội dung này. Việc mời cỏc chuyờn gia tư vấn và phõn tớch trong lĩnh vực tài chớnh – ngõn sỏch là hết sức cần thiết đối với những vấn đề chuyờn mụn sõu, giỳp cho HĐND cũng như cỏc đại biểu HĐND hiểu được bản chất vấn đề. Cú thể mời cỏc chuyờn gia tham gia vào quỏ trỡnh thẩm tra ngõn sỏch của HĐND để cung cấp cỏc đỏnh giỏ xỏc đỏng về ngõn sỏch địa phương. Việc tổ chức giỏm sỏt theo chuyờn đề, làm việc nhúm về cỏc vấn đề cũn nhiều tranh cói, kết hợp với tư vấn, phõn tớch của chuyờn gia sẽ giỳp HĐND đưa ra quyết định phự hợp về tài chớnh – ngõn sỏch. 6. Sử dụng hiệu quả cỏc cụng cụ giỏm sỏt Trong lĩnh vực ngõn sỏch, HĐND khú cú thể giỏm sỏt đầy đủ và chuyờn sõu về cỏc nội dung quản lý tài chớnh – ngõn sỏch nếu thiếu sự trợ giỳp của cỏc cụng cụ giỏm sỏt quan trọng như kiểm toỏn nhà nước và thanh tra tài chớnh. Kiểm toỏn nhà nước thực hiện kiểm toỏn tớnh đỳng đắn, hợp phỏp của cỏc số liệu bỏo cỏo quyết toỏn của ngõn sỏch địa phương. Kiểm toỏn bỏo cỏo quyết toỏn được thực hiện trước khi HĐND phờ chuẩn tổng quyết toỏn. Bỏo cỏo kết quả kiểm toỏn được cụng bố cụng khai. Bỏo cỏo kiểm toỏn của nhà nước sẽ phõn tớch, đỏnh giỏ cỏc thụng tin, dữ liệu đó được kiểm toỏn, giỳp HĐND thấy rừ thực trạng hoạt động kinh tế – tài chớnh, cụng tỏc quản lý, sử dụng ngõn sỏch, tiền và tài sản nhà nước. Kết quả kiểm toỏn cũng chỉ ra cỏc nguy cơ cú thể dẩn đến những rủi ro đối với thu chi ngõn sỏch và sự phỏt triển kinh tế, từ đú giỳp HĐND chỉ đạo và đề xuất cỏc giải phỏp thớch hợp để ngăn chặn cỏc rủi ro về ngõn sỏch và hậu quả của nú đối với sự phỏt triển kinh tế xó hội của địa phương. 7. Bảo đảm thực hiện cỏc kiến nghị sau giỏm sỏt Kết quả giỏm sỏt được thể hiện thụng qua bỏo cỏo giỏm sỏt và kiến nghị của HĐND đối với đối tượng bị giỏm sỏt nhằm hoàn thiện cụng tỏc quản lý tài chớnh – ngõn sỏch của đối tượng này. Trờn thực tế, do phải thực hiện nhiều nhiờm vụ khỏc nờn trong nhiều trường hợp HĐND khụng đủ điều kiện để theo dừi đến cựng việc thực hiện cỏc kiến nghị sau giỏm sỏt. Một số cơ quan thậm chớ khụng trả lời cỏc kiến nghị giỏm sỏt của HĐND. Vỡ vậy, một yờu cầu quan trọng để nõng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động giỏm sỏt của HĐND là việc thực hiện nghiờm tỳc, cụng khai cơ chế kiểm soỏt việc thực hiện cỏc kiến nghị sau giỏm sỏt. Đồng thời cú biờn phỏp xử lý đối với những cơ quan, đơn vị nào khụng nghiờm tỳc thực hiện cỏc kiến nghị của HĐND. Túm lại, HĐND với vị trớ là cơ quan quyền lực tại địa phương phải thực hiện quyền giỏm sỏt tối cao đối với hoạt động tài chớnh – ngõn sỏch địa phương. Cỏc cơ quan của HĐND thẩm tra, giỏm sỏt cỏc vấn đề cụ thể, chuyờn sõu về tài chớnh – ngõn sỏch. Đồng thời mỗi đại biểu HĐND cũng cú nghĩa vụ và trỏch nhiệm thực hiện quyền giỏm sỏt của mỡnh nhằm thực hiện một cỏch tốt nhất quyền lực mà nhõn dõn giao phú cho HĐND thụng qua cỏc đại biểu của mỡnh. Thụng qua hoat động thẩm tra, giỏm sỏt về tài chớnh – ngõn sỏch để xem xột, đỏnh giỏ việc tuõn thủ phỏp luật tài chớnh, tớnh hiệu quả, tớnh thực tiễn của cỏc chủ trương, giải phỏp, cỏc chớnh sỏch tài chớnh – tiền tệ trong đời sống kinh tế, xó hội, tỡnh hỡnh chấp hành ngõn sỏch, chấp hành kỷ luật tài chớnh, kỷ luật ngõn sỏch. Việc thực hiện chức năng thẩm tra, giỏm sỏt của HĐND là nhõn tố quan trọng để tăng cường hiệu lực và hiệu quả hoạt động của HĐND trong lĩnh vực tài chớnh – ngõn sỏch ở địa phương.

Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Hội Đồng Nhân Dân, Uỷ Ban Nhân Dân Cấp Xã / 2023

I. VỊ TRÍ, CHỨC NĂNG, NGUYÊN TẮC TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG, CƠ CẤU CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN, UỶ BAN NHÂN DÂN CẤP XÃ 1. Vị trí, chức năng của Hội đồng nhân dân cấp xã

– Hội đồng nhân dân cấp xã là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương (cấp xã), đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên.

– Hội đồng nhân dân cấp xã quyết định những chủ trương, biện pháp quan trọng để phát huy tiềm năng của địa phương, xây dựng và phát triển địa phương về kinh tế – xã hội, không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân địa phương, làm tròn nghĩa vụ của địa phương đối với cả nước.

– Hội đồng nhân dân thực hiện quyền giám sát đối với hoạt động của Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân cấp xã, giám sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và của công dân ở địa phương.

2. Vị trí, chức năng của Uỷ ban nhân dân cấp xã

– Uỷ ban nhân dân cấp xã do Hội đồng nhân dân cấp xã bầu là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân cùng cấp và cơ quan nhà nước cấp trên.

– Uỷ ban nhân dân chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp nhằm bảo đảm thực hiện chủ trương, biện pháp phát triển kinh tế – xã hội và thực hiện các chính sách khác trên địa bàn.

– Uỷ ban nhân dân thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương, góp phần bảo đảm sự chỉ đạo, quản lý thống nhất trong bộ máy hành chính nhà nước từ Trung ương tới cơ sở.

3. Nguyên tắc hoạt động của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân cấp xã 3.1. Nguyên tắc hoạt động của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân cấp xã

Tương tự như Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân cấp xã được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ.

Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo Hiến pháp, luật và các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên; phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa và chống các biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền, tham nhũng, lãng phí, vô trách nhiệm và các biểu hiện tiêu cực khác của cán bộ, công chức và trong bộ máy chính quyền địa phương.

Trong hoạt động của mình, Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân và đại biểu Hội đồng nhân dân phối hợp chặt chẽ với Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác chăm lo và bảo vệ lợi ích của nhân dân, vận động nhân dân tham gia vào việc quản lý nhà nước và thực hiện các nghĩa vụ đối với Nhà nước.

Khi quyết định những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Hội đồng nhân dân ra nghị quyết và giám sát việc thực hiện các nghị quyết đó; những nghị quyết về các vấn đề mà pháp luật quy định thuộc quyền phê chuẩn của cấp trên thì trước khi thi hành phải được cấp trên phê chuẩn.

Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn do pháp luật quy định, Uỷ ban nhân dân ra quyết định, chỉ thị và tổ chức thực hiện, kiểm tra việc thi hành các văn bản đó.

3.2. Nhiệm kỳ mỗi khoá của Hội đồng nhân dân, nhiệm kỳ của Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân cấp xã

– Nhiệm kỳ mỗi khoá của Hội đồng nhân dân các cấp là năm năm, kể từ kỳ họp thứ nhất của Hội đồng nhân dân khoá đó đến kỳ họp thứ nhất của Hội đồng nhân dân khoá sau.

– Nhiệm kỳ của Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân theo nhiệm kỳ của Hội đồng nhân dân cùng cấp. Khi Hội đồng nhân dân hết nhiệm kỳ, Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân tiếp tục làm việc cho đến khi Hội đồng nhân dân khoá mới bầu ra Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân khoá mới.

– Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân ở mỗi đơn vị hành chính không giữ chức vụ đó quá hai nhiệm kỳ liên tục.

3.3. Giám sát và hướng dẫn hoạt động của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân

– Hội đồng nhân dân chịu sự giám sát và hướng dẫn hoạt động của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, chịu sự hướng dẫn và kiểm tra của Chính phủ trong việc thực hiện các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên theo quy định của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

– Uỷ ban nhân dân cấp dưới chịu sự chỉ đạo của Uỷ ban nhân dân cấp trên. Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh chịu sự chỉ đạo của Chính phủ. Theo đó, Uỷ ban nhân dân cấp xã chịu sự chỉ đạo của Uỷ ban nhân dân cấp huyện.

4. Cơ cấu tổ chức của Hội đồng nhân dân, kỳ họp của Hội đồng nhân dân cấp xã 4.1. Cơ cấu tổ chức của Hội đồng nhân dân cấp xã

a. Thường trực Hội đồng nhân dân

Thường trực Hội đồng nhân dân do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra.

Thường trực Hội đồng nhân dân cấp xã gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân.

Thành viên của Thường trực Hội đồng nhân dân không thể đồng thời là thành viên của Uỷ ban nhân dân cùng cấp.

Kết quả bầu Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân cấp xã phải được Thường trực Hội đồng nhân dân cấp huyện phê chuẩn.

Thường trực Hội đồng nhân dân có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

– Triệu tập và chủ tọa các kỳ họp của Hội đồng nhân dân; phối hợp với Uỷ ban nhân dân trong việc chuẩn bị kỳ họp của Hội đồng nhân dân;

– Đôn đốc, kiểm tra Uỷ ban nhân dân cùng cấp và các cơ quan nhà nước khác ở địa phương thực hiện các nghị quyết của Hội đồng nhân dân;

– Giám sát việc thi hành pháp luật tại địa phương;

– Giữ mối liên hệ với đại biểu Hội đồng nhân dân; tổng hợp chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân để báo cáo Hội đồng nhân dân;

– Tiếp dân, đôn đốc, kiểm tra và xem xét tình hình giải quyết kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân; tổng hợp ý kiến, nguyện vọng của nhân dân để báo cáo tại kỳ họp của Hội đồng nhân dân;

– Trình Hội đồng nhân dân bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Hội đồng nhân dân bầu theo đề nghị của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp hoặc của ít nhất một phần ba tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân;

– Phối hợp với Uỷ ban nhân dân quyết định việc đưa ra Hội đồng nhân dân hoặc đưa ra cử tri bãi nhiệm đại biểu Hội đồng nhân dân theo đề nghị của Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp;

– Báo cáo về hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp xã lên Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân cấp huyện;

– Giữ mối liên hệ và phối hợp công tác với Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã; mỗi năm hai lần thông báo cho Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã về hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp xã.

b. Đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã

Đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân địa phương, gương mẫu chấp hành chính sách, pháp luật của Nhà nước; tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện chính sách, pháp luật và tham gia vào việc quản lý nhà nước.

Nhiệm kỳ của đại biểu Hội đồng nhân dân mỗi khoá bắt đầu từ kỳ họp thứ nhất của Hội đồng nhân dân khoá đó đến kỳ họp thứ nhất của Hội đồng nhân dân khoá sau.

Đại biểu Hội đồng nhân dân phải liên hệ chặt chẽ với cử tri ở đơn vị bầu ra mình, chịu sự giám sát của cử tri, có trách nhiệm thu thập và phản ánh trung thực ý kiến, nguyện vọng, kiến nghị của cử tri; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cử tri; thực hiện chế độ tiếp xúc và ít nhất mỗi năm một lần báo cáo với cử tri về hoạt động của mình và của Hội đồng nhân dân, trả lời những yêu cầu và kiến nghị của cử tri.

Sau mỗi kỳ họp Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân có trách nhiệm báo cáo với cử tri về kết quả của kỳ họp, phổ biến và giải thích các nghị quyết của Hội đồng nhân dân, vận động và cùng với nhân dân thực hiện các nghị quyết đó.

Đại biểu Hội đồng nhân dân nhận được yêu cầu, kiến nghị của cử tri phải có trách nhiệm trả lời cử tri.

Khi nhận được khiếu nại, tố cáo của nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân có trách nhiệm nghiên cứu, kịp thời chuyển đến người có thẩm quyền giải quyết, theo dõi, đôn đốc việc giải quyết; đồng thời thông báo cho người khiếu nại, tố cáo biết.

Trong thời hạn do pháp luật quy định, người có thẩm quyền phải xem xét, giải quyết và thông báo bằng văn bản cho đại biểu Hội đồng nhân dân biết kết quả.

Đại biểu Hội đồng nhân dân có quyền chất vấn Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch và các thành viên khác của Uỷ ban nhân dân cấp xã. Người bị chất vấn phải trả lời về những vấn đề mà đại biểu Hội đồng nhân dân chất vấn.

Đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã có thể xin thôi làm nhiệm vụ đại biểu vì lý do sức khoẻ hoặc vì lý do khác. Việc chấp nhận đại biểu Hội đồng nhân dân xin thôi làm nhiệm vụ đại biểu do Hội đồng nhân dân cấp xã xét và quyết định.

Đại biểu Hội đồng nhân dân nào không còn xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân thì tuỳ mức độ phạm sai lầm mà bị Hội đồng nhân dân hoặc cử tri bãi nhiệm. Thường trực Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân quyết định việc đưa ra Hội đồng nhân dân hoặc cử tri bãi nhiệm đại biểu Hội đồng nhân dân theo đề nghị của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp.

Trong trường hợp Hội đồng nhân dân bãi nhiệm đại biểu Hội đồng nhân dân thì việc bãi nhiệm phải được ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân biểu quyết tán thành.

Đại biểu Hội đồng nhân dân phạm tội, bị Toà án kết án và bản án đã có hiệu lực pháp luật thì đương nhiên mất quyền đại biểu Hội đồng nhân dân.

Hội đồng nhân dân cấp xã họp thường lệ mỗi năm hai kỳ. Ngoài kỳ họp thường lệ, Hội đồng nhân dân tổ chức các kỳ họp chuyên đề hoặc kỳ họp bất thường theo đề nghị của Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cùng cấp (cấp xã) hoặc khi có ít nhất một phần ba tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân cùng cấp yêu cầu. Thường trực Hội đồng nhân dân quyết định triệu tập kỳ họp thường lệ của Hội đồng nhân dân chậm nhất là hai mươi ngày, kỳ họp chuyên đề hoặc bất thường chậm nhất là mười ngày trước ngày khai mạc kỳ họp.

Hội đồng nhân dân họp công khai. Khi cần thiết, Hội đồng nhân dân quyết định họp kín theo đề nghị của Chủ tọa cuộc họp hoặc của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cùng cấp.

Ngày họp, nơi họp và chương trình của kỳ họp Hội đồng nhân dân phải được thông báo cho nhân dân biết, chậm nhất là năm ngày, trước ngày khai mạc kỳ họp.

Kỳ họp Hội đồng nhân dân được tiến hành khi có ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân tham gia.

Đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân cấp trên đã được bầu ở địa phương, Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, người đứng đầu các đoàn thể nhân dân ở địa phương và đại diện cử tri được mời tham dự kỳ họp Hội đồng nhân dân, được phát biểu ý kiến nhưng không biểu quyết.

Tài liệu cần thiết của kỳ họp Hội đồng nhân dân phải được gửi đến đại biểu Hội đồng nhân dân chậm nhất là năm ngày trước ngày khai mạc kỳ họp.

5. Cơ cấu tổ chức, hoạt động của Uỷ ban nhân dân cấp xã 5.1. Cơ cấu tổ chức của Uỷ ban nhân dân cấp xã

Uỷ ban nhân dân do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra gồm có Chủ tịch, Phó Chủ tịch và Uỷ viên. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân là đại biểu Hội đồng nhân dân. Các thành viên khác của Uỷ ban nhân dân không nhất thiết phải là đại biểu Hội đồng nhân dân.

Kết quả bầu các thành viên của Uỷ ban nhân dân cấp xã phải được Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện phê chuẩn.

Trong nhiệm kỳ, nếu khuyết Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thì Chủ tịch Hội đồng nhân dân cùng cấp giới thiệu người ứng cử Chủ tịch Uỷ ban nhân dân để Hội đồng nhân dân bầu. Người được bầu giữ chức vụ Chủ tịch Uỷ ban nhân dân trong nhiệm kỳ không nhất thiết là đại biểu Hội đồng nhân dân.

5.2. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã

Chủ tịch Uỷ ban nhân dân là người lãnh đạo và điều hành công việc của Uỷ ban nhân dân, chịu trách nhiệm cá nhân về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình và cùng với tập thể Uỷ ban nhân dân chịu trách nhiệm về hoạt động của Uỷ ban nhân dân trước Hội đồng nhân dân cấp xã và trước cơ quan nhà nước cấp trên.

Chủ tịch Uỷ ban nhân dân có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

– Lãnh đạo công tác của Uỷ ban nhân dân, các thành viên của Uỷ ban nhân dân, các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân:

+ áp dụng các biện pháp nhằm cải tiến lề lối làm việc; quản lý và điều hành bộ máy hành chính hoạt động có hiệu quả; ngăn ngừa và đấu tranh chống các biểu hiện quan liêu, vô trách nhiệm, hách dịch, cửa quyền, tham nhũng, lãng phí và các biểu hiện tiêu cực khác của cán bộ, công chức và trong bộ máy chính quyền địa phương;

+ Tổ chức việc tiếp dân, xét và giải quyết kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của nhân dân theo quy định của pháp luật.

– Triệu tập và chủ tọa các phiên họp của Uỷ ban nhân dân;

– Chỉ đạo và áp dụng các biện pháp để giải quyết các công việc đột xuất, khẩn cấp trong phòng, chống thiên tai, cháy, nổ, dịch bệnh, an ninh, trật tự và báo cáo Uỷ ban nhân dân trong phiên họp gần nhất;

– Ra quyết định, chỉ thị để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình.

5.3. Phó Chủ tịch xã và Thành viên Uỷ ban nhân dân cấp xã

a. Uỷ ban nhân dân xã miền núi, hải đảo có dân số từ 5.000 người trở lên; xã đồng bằng, trung du có dân số từ 8.000 người trở lên và xã biên giới

Uỷ ban nhân dân xã miền núi, hải đảo có dân số từ 5.000 người trở lên; xã đồng bằng, trung du có dân số từ 8.000 người trở lên và xã biên giới, có 5 thành viên gồm có 1 Chủ tịch, 2 Phó Chủ tịch, 2 ủy viên. Thành viên Uỷ ban nhân dân được phân công phụ trách các lĩnh vực công việc như sau:

– Chủ tịch phụ trách chung, khối nội chính, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội xã.

– Các Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân:

+ Một Phó Chủ tịch phụ trách khối kinh tế – tài chính, xây dựng, giao thông, nhà đất và tài nguyên – môi trường.

+ Một Phó Chủ tịch phụ trách khối văn hóa – xã hội và các lĩnh vực xã

hội khác.

– Các ủy viên Uỷ ban nhân dân:

+ Một ủy viên phụ trách công an.

+ Một ủy viên phụ trách quân sự.

b. Uỷ ban nhân dân xã không thuộc diện nêu tại điểm a

Uỷ ban nhân dân xã không thuộc diện nêu tại điểm a có 3 thành viên gồm có 1 Chủ tịch, 1 Phó Chủ tịch và 1 ủy viên. Căn cứ vào những lĩnh vực công việc được phân công tại điểm a, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã phân công các thành viên phụ trách cho phù hợp với địa phương.

Trong nhiệm kỳ Hội đồng nhân dân xã có thể ấn định thêm số lượng thành viên Uỷ ban nhân dân cấp mình nhưng tổng số không vượt quá 5 thành viên và phải được Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện phê chuẩn.

c. Uỷ ban nhân dân phường, thị trấn

Uỷ ban nhân dân phường, thị trấn có 5 thành viên gồm có 1 Chủ tịch, 2 Phó Chủ tịch, 2 ủy viên. Thành viên Uỷ ban nhân dân được phân công phụ trách các lĩnh vực công việc như sau:

– Chủ tịch phụ trách chung, khối nội chính, quản lý công tác quy hoạch đô thị.

– Các Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân:

+ Một Phó Chủ tịch phụ trách khối kinh tế – tài chính, xây dựng cơ sở hạ tầng, khoa học – công nghệ, nhà đất và tài nguyên – môi trường.

+ Một Phó Chủ tịch phụ trách khối văn hóa – xã hội và các lĩnh vực xã hội khác.

– Các ủy viên Uỷ ban nhân dân:

+ Một ủy viên phụ trách công an.

+ Một ủy viên phụ trách quân sự.

5.4. Hoạt động của Uỷ ban nhân dân

– Uỷ ban nhân dân mỗi tháng họp ít nhất một lần.

Các quyết định của Uỷ ban nhân dân phải được quá nửa tổng số thành viên Uỷ ban nhân dân biểu quyết tán thành.

+ Chương trình làm việc của Uỷ ban nhân dân;

+ Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, dự toán ngân sách, quyết toán ngân sách hàng năm và quỹ dự trữ của địa phương trình Hội đồng nhân dân quyết định;

+ Kế hoạch đầu tư, xây dựng các công trình trọng điểm ở địa phương trình Hội đồng nhân dân quyết định;

+ Kế hoạch huy động nhân lực, tài chính để giải quyết các vấn đề cấp bách của địa phương trình Hội đồng nhân dân quyết định;

+ Các biện pháp thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân về kinh tế – xã hội; thông qua báo cáo của Uỷ ban nhân dân trước khi trình Hội đồng nhân dân;

+ Đề án thành lập mới, sáp nhập, giải thể các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân và việc thành lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới hành chính ở địa phương.

II. NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP XÃ 1. Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân xã, thị trấn trong lĩnh vực kinh tế

Trong lĩnh vực kinh tế, Hội đồng nhân dân có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

– Quyết định biện pháp thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội hàng năm; biện pháp thực hiện chương trình khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, khuyến công và chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cây trồng, vật nuôi tại địa phương theo quy hoạch chung;

– Quyết định dự toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn; dự toán thu, chi ngân sách địa phương và phân bổ dự toán ngân sách cấp mình; phê chuẩn quyết toán ngân sách địa phương; các chủ trương, biện pháp để triển khai thực hiện ngân sách địa phương và điều chỉnh dự toán ngân sách địa phương theo quy định của pháp luật; giám sát việc thực hiện ngân sách đã được Hội đồng nhân dân quyết định;

– Quyết định biện pháp quản lý và sử dụng hợp lý, có hiệu quả quỹ đất được để lại nhằm phục vụ các nhu cầu công ích của địa phương;

– Quyết định biện pháp xây dựng và phát triển hợp tác xã, tổ hợp tác, kinh tế hộ gia đình ở địa phương;

– Quyết định biện pháp quản lý, sử dụng và bảo vệ nguồn nước, các công trình thuỷ lợi theo phân cấp của cấp trên; biện pháp phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, bão lụt, bảo vệ rừng, tu bổ và bảo vệ đê điều ở địa phương;

– Quyết định biện pháp thực hiện xây dựng, tu sửa đường giao thông, cầu, cống trong xã và các cơ sở hạ tầng khác ở địa phương;

– Quyết định biện pháp thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, chống tham nhũng, chống buôn lậu và gian lận thương mại.

2. Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân xã, thị trấn trong lĩnh vực giáo dục, y tế, xã hội và đời sống, văn hoá, thông tin, thể dục thể thao, bảo vệ tài nguyên, môi trường

– Quyết định biện pháp bảo đảm các điều kiện cần thiết để trẻ em vào học tiểu học đúng độ tuổi, hoàn thành chương trình phổ cập giáo dục tiểu học; tổ chức các trường mầm non; thực hiện bổ túc văn hoá và xoá mù chữ cho những người trong độ tuổi;

– Quyết định biện pháp phát triển hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao; hướng dẫn tổ chức các lễ hội cổ truyền, bảo vệ và phát huy giá trị các di tích lịch sử – văn hoá và danh lam thắng cảnh ở địa phương theo quy định của pháp luật;

– Quyết định việc xây dựng, tu sửa trường lớp, công trình văn hoá thuộc địa phương quản lý;

– Quyết định biện pháp bảo đảm giữ gìn vệ sinh, xử lý rác thải, phòng, chống dịch bệnh, biện pháp bảo vệ môi trường trong phạm vi quản lý; biện pháp thực hiện chương trình y tế cơ sở, chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình….

3. Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân xã, thị trấn trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội

– Quyết định biện pháp bảo đảm thực hiện chế độ nghĩa vụ quân sự; xây dựng lực lượng dân quân, tự vệ và quốc phòng toàn dân; thực hiện nhiệm vụ hậu cần tại chỗ; thực hiện chính sách hậu phương quân đội và chính sách đối với các lực lượng vũ trang nhân dân ở địa phương;

– Quyết định biện pháp bảo đảm giữ gìn an ninh, trật tự công cộng, an toàn xã hội; phòng, chống cháy, nổ; đấu tranh phòng ngừa, chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác trên địa bàn.

4. Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân xã, thị trấn trong lĩnh vực thực hiện chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo

– Quyết định biện pháp thực hiện chính sách dân tộc, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần, nâng cao dân trí của đồng bào các dân tộc thiểu số; bảo đảm thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc, tăng cường đoàn kết toàn dân và tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc ở địa phương;

– Quyết định biện pháp thực hiện chính sách tôn giáo, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân địa phương theo quy định của pháp luật.

5. Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân xã, thị trấn trong lĩnh vực thi hành pháp luật

– Quyết định biện pháp bảo đảm việc thi hành Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của mình ở địa phương;

– Quyết định biện pháp bảo vệ tài sản, lợi ích của Nhà nước; bảo hộ tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân ở địa phương;

– Quyết định biện pháp bảo đảm việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân theo quy định của pháp luật.

6. Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân xã, thị trấn trong lĩnh vực xây dựng chính quyền địa phương

– Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch, Phó Chủ tịch và thành viên khác của Uỷ ban nhân dân cùng cấp; bãi nhiệm đại biểu Hội đồng nhân dân và chấp nhận việc đại biểu Hội đồng nhân dân xin thôi làm nhiệm vụ đại biểu theo quy định của pháp luật;

– Bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Hội đồng nhân dân bầu;

– Bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ quyết định, chỉ thị trái pháp luật của Uỷ ban nhân dân cùng cấp;

– Thông qua đề án thành lập mới, nhập, chia và điều chỉnh địa giới hành chính ở địa phương để đề nghị cấp trên xem xét, quyết định.

III. NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA UỶ BAN NHÂN DÂN CẤP XÃ 1. Nhiệm vụ, quyền hạn của Uỷ ban nhân dân xã, thị trấn trong lĩnh vực kinh tế

– Xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội hàng năm trình Hội đồng nhân dân cùng cấp thông qua để trình Uỷ ban nhân dân huyện phê duyệt; tổ chức thực hiện kế hoạch đó;

– Lập dự toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn; dự toán thu, chi ngân sách địa phương và phương án phân bổ dự toán ngân sách cấp mình; dự toán điều chỉnh ngân sách địa phương trong trường hợp cần thiết và lập quyết toán ngân sách địa phương trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định và báo cáo Uỷ ban nhân dân, cơ quan tài chính cấp trên trực tiếp;

– Quản lý và sử dụng hợp lý, có hiệu quả quỹ đất được để lại phục vụ các nhu cầu công ích ở địa phương; xây dựng và quản lý các công trình công cộng, đường giao thông, trụ sở, trường học, trạm y tế, công trình điện, nước theo quy định của pháp luật;

– Huy động sự đóng góp của các tổ chức, cá nhân để đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng của xã, thị trấn trên nguyên tắc dân chủ, tự nguyện. Việc quản lý các khoản đóng góp này phải công khai, có kiểm tra, kiểm soát và bảo đảm sử dụng đúng mục đích, đúng chế độ theo quy định của pháp luật.

2. Nhiệm vụ, quyền hạn của Uỷ ban nhân dân xã, thị trấn trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, thuỷ lợi và tiểu thủ công nghiệp

– Tổ chức và hướng dẫn việc thực hiện các chương trình, kế hoạch, đề án khuyến khích phát triển và ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ để phát triển sản xuất và hướng dẫn nông dân chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cây trồng, vật nuôi trong sản xuất theo quy hoạch, kế hoạch chung và phòng trừ các bệnh dịch đối với cây trồng và vật nuôi;

– Tổ chức việc xây dựng các công trình thuỷ lợi nhỏ; thực hiện việc tu bổ, bảo vệ đê điều, bảo vệ rừng; phòng, chống và khắc phục hậu quả thiên tai, bão lụt; ngăn chặn kịp thời những hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ đê điều, bảo vệ rừng tại địa phương;

– Quản lý, kiểm tra, bảo vệ việc sử dụng nguồn nước trên địa bàn theo quy định của pháp luật…

3. Nhiệm vụ, quyền hạn của Uỷ ban nhân dân xã, thị trấn trong lĩnh vực xây dựng, giao thông vận tải

– Tổ chức thực hiện việc xây dựng, tu sửa đường giao thông trong xã theo phân cấp;

– Quản lý việc xây dựng, cấp giấy phép xây dựng nhà ở riêng lẻ ở điểm dân cư nông thôn theo quy định của pháp luật, kiểm tra việc thực hiện pháp luật về xây dựng và xử lý vi phạm pháp luật theo thẩm quyền do pháp luật quy định;

– Tổ chức việc bảo vệ, kiểm tra, xử lý các hành vi xâm phạm đường giao thông và các công trình cơ sở hạ tầng khác ở địa phương theo quy định của pháp luật;

– Huy động sự đóng góp tự nguyện của nhân dân để xây dựng đường giao thông, cầu, cống trong xã theo quy định của pháp luật.

4. Nhiệm vụ, quyền hạn của Uỷ ban nhân dân xã, thị trấn trong lĩnh vực giáo dục, y tế, xã hội, văn hoá và thể dục thể thao

– Thực hiện kế hoạch phát triển sự nghiệp giáo dục ở địa phương; phối hợp với trường học huy động trẻ em vào lớp một đúng độ tuổi; tổ chức thực hiện các lớp bổ túc văn hoá, thực hiện xoá mù chữ cho những người trong độ tuổi;

– Tổ chức xây dựng và quản lý, kiểm tra hoạt động của nhà trẻ, lớp mẫu giáo, trường mầm non ở địa phương; phối hợp với Uỷ ban nhân dân cấp trên quản lý trường tiểu học, trường trung học cơ sở trên địa bàn;

– Tổ chức thực hiện các chương trình y tế cơ sở, dân số, kế hoạch hoá gia đình được giao; vận động nhân dân giữ gìn vệ sinh; phòng, chống các dịch bệnh;

– Quản lý, bảo vệ, tu bổ nghĩa trang liệt sỹ; quy hoạch, quản lý nghĩa địa ở địa phương…

5. Nhiệm vụ, quyền hạn của Uỷ ban nhân dân xã, thị trấn trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội

– Tổ chức tuyên truyền, giáo dục xây dựng quốc phòng toàn dân, xây dựng làng xã chiến đấu trong khu vực phòng thủ địa phương;

– Thực hiện công tác nghĩa vụ quân sự và tuyển quân theo kế hoạch; đăng ký, quản lý quân nhân dự bị động viên; tổ chức thực hiện việc xây dựng, huấn luyện, sử dụng lực lượng dân quân tự vệ ở địa phương;

– Thực hiện các biện pháp bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội; xây dựng phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc vững mạnh; thực hiện biện pháp phòng ngừa và chống tội phạm, các tệ nạn xã hội và các hành vi vi phạm pháp luật khác ở địa phương;

– Quản lý hộ khẩu; tổ chức việc đăng ký tạm trú, quản lý việc đi lại của người nước ngoài ở địa phương.

6. Nhiệm vụ, quyền hạn của Uỷ ban nhân dân xã, thị trấn trong việc thực hiện chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo

Trong việc thực hiện chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo, Uỷ ban nhân dân xã, thị trấn có nhiệm vụ tổ chức, hướng dẫn và bảo đảm thực hiện chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo; quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân ở địa phương theo quy định của pháp luật.

7. Nhiệm vụ, quyền hạn của Uỷ ban nhân dân xã, thị trấn trong việc thi hành pháp luật

– Tổ chức tuyên truyền, giáo dục pháp luật; giải quyết các vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ trong nhân dân theo quy định của pháp luật;

– Tổ chức tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của công dân theo thẩm quyền…

IV. NHIỆM VỤ CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN, UỶ BAN NHÂN DÂN CẤP XÃ TRONG LĨNH VỰC PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG 1. Công khai, minh bạch việc huy động và sử dụng các khoản đóng góp của nhân dân 1.1. Công khai việc huy động vốn, sử dụng các khoản đóng góp

Việc huy động các khoản đóng góp của nhân dân để đầu tư xây dựng công trình, lập quỹ trong phạm vi địa phương phải lấy ý kiến nhân dân và được Hội đồng nhân dân cùng cấp xem xét, quyết định.

Ví dụ: Để nâng cấp điện, đường, trường, trạm tại địa phương, Hội đồng nhân dân cấp xã có thể ban hành Nghị quyết huy động sự tham gia của người dân trong xã. Trong quá trình xây dựng Dự thảo Nghị quyết, tổ chức, cá nhân được giao soạn thảo văn bản phải tổ chức lấy ý kiến của dân cư tại các thôn, làng, ấp, bản, cụm dân cư, tổ dân phố, phum, sóc. Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp xã chịu trách nhiệm chỉ đạo việc nghiên cứu, tiếp thu ý kiến đóng góp để chỉnh lý Dự thảo.

Việc huy động, sử dụng các khoản đóng góp của nhân dân phải được công khai để nhân dân giám sát và phải chịu sự thanh tra, kiểm tra, giám sát theo quy định của pháp luật.

1.2. Nội dung phải công khai

Nội dung phải công khai bao gồm mục đích huy động, mức đóng góp, việc sử dụng, kết quả sử dụng và báo cáo quyết toán.

Công trình cơ sở hạ tầng tại xã, phường, thị trấn sử dụng các khoản đóng góp của nhân dân phải công khai các nội dung sau đây:

– Dự toán cho từng công trình theo kế hoạch đầu tư được duyệt;

– Nguồn vốn đầu tư cho từng công trình;

– Kết quả đã huy động của từng đối tượng cụ thể, thời gian huy động;

– Kết quả lựa chọn nhà thầu đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt;

– Tiến độ thi công và kết quả nghiệm thu khối lượng, chất lượng công trình và quyết toán công trình.

2. Công khai, minh bạch trong quản lý và sử dụng đất

Trong quá trình quản lý và sử dụng đất, cần phải công khai, minh bạch các hoạt động sau đây:

– Việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phải bảo đảm dân chủ và công khai;

– Trong quá trình lập và điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết, cơ quan, tổ chức thực hiện việc lập quy hoạch,kế hoạch đó phải thông báo công khai cho nhân dân địa phương nơi được quy hoạch, điều chỉnh biết;

– Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết, việc giải phóng mặt bằng, giá đền bù khi thu hồi đất sau khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, phê duyệt hoặc điều chỉnh phải được công khai;

– Thẩm quyền, trình tự, thủ tục và việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; quy hoạch chi tiết và việc phân lô đất ở, đối tượng được giao đất làm nhà ở phải được công khai.

3. Nghĩa vụ kê khai tài sản

– Một số cán bộ, công chức tại xã, phường, thị trấn; người làm công tác quản lý ngân sách, tài sản của Nhà nước hoặc trực tiếp tiếp xúc và giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có trách nhiệm kê khai tài sản.

– Người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.

V. NHIỆM VỤ CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN, UỶ BAN NHÂN DÂN CẤP XÃ TRONG VIỆC THỰC HIỆN DÂN CHỦ 1. Những nội dung phải được công khai để dân biết

– Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, phương án chuyển dịch cơ cấu kinh tế và dự toán, quyết toán ngân sách hằng năm của cấp xã.

– Nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức cấp xã trực tiếp giải quyết các công việc của nhân dân.

– Chủ trương, kế hoạch vay vốn cho nhân dân để phát triển sản xuất, xoá đói, giảm nghèo; phương thức và kết quả bình xét hộ nghèo được vay vốn phát triển sản xuất, trợ cấp xã hội, xây dựng nhà tình thương, cấp thẻ bảo hiểm y tế.

– Kết quả thanh tra, kiểm tra, giải quyết các vụ việc tiêu cực, tham nhũng của cán bộ, công chức cấp xã, của cán bộ thôn, tổ dân phố; kết quả lấy phiếu tín nhiệm Chủ tịch và Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch và Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã.

– Nội dung và kết quả tiếp thu ý kiến của nhân dân đối với những vấn đề thuộc thẩm quyền quyết định của cấp xã mà chính quyền cấp xã đưa ra lấy ý kiến nhân dân theo quy định tại Điều 19 của Pháp lệnh Thực hiện dân chủ cơ sở ở xã, phường, thị trấn.

– Đối tượng, mức thu các loại phí, lệ phí và nghĩa vụ tài chính khác do chính quyền cấp xã trực tiếp thu.

– Những nội dung khác theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc chính quyền cấp xã khi thấy cần thiết.

2. Hình thức công khai

Những nội dung trên được công khai bằng các hình thức sau đây:

– Niêm yết công khai tại trụ sở Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân cấp xã;

– Công khai trên hệ thống truyền thanh của cấp xã;

– Công khai thông qua Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố để thông báo đến nhân dân.

Chính quyền cấp xã có thể áp dụng đồng thời nhiều hình thức công khai và thực hiện việc cung cấp thông tin theo quy định tại Điều 32 của Luật Phòng, chống tham nhũng.

3. Những nội dung nhân dân bàn và quyết định trực tiếp

Nhân dân bàn và quyết định trực tiếp về chủ trương và mức đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng, các công trình phúc lợi công cộng trong phạm vi cấp xã, thôn, tổ dân phố do nhân dân đóng góp toàn bộ hoặc một phần kinh phí và các công việc khác trong nội bộ cộng đồng dân cư phù hợp với quy định của pháp luật.

4. Hình thức nhân dân bàn và quyết định trực tiếp

Nhân dân bàn và quyết định trực tiếp bằng một trong các hình thức sau đây:

– Tổ chức cuộc họp cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình theo địa bàn từng thôn, tổ dân phố;

– Phát phiếu lấy ý kiến tới cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình.

Trường hợp tổ chức họp cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình thì việc biểu quyết được thực hiện bằng hình thức giơ tay hoặc bỏ phiếu kín; hình thức biểu quyết do hội nghị quyết định; nếu số người tán thành chưa đạt quá 50% tổng số cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố hoặc trong toàn cấp xã thì tổ chức lại cuộc họp.

Trường hợp không tổ chức lại được cuộc họp thì phát phiếu lấy ý kiến tới cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình.

5. Những nội dung nhân dân bàn, biểu quyết để có thẩm quyền quyết định 5.1. Những nội dung nhân dân bàn, biểu quyết

– Hương ước, quy ước của thôn, tổ dân phố.

– Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố.

– Bầu, bãi nhiệm thành viên Ban thanh tra nhân dân, Ban giám sát đầu tư của cộng đồng.

5.2. Hình thức để nhân dân bàn, biểu quyết

Nhân dân bàn và biểu quyết bằng một trong các hình thức sau đây:

– Tổ chức cuộc họp cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình theo địa bàn từng thôn, tổ dân phố;

– Phát phiếu lấy ý kiến tới cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình.

Trường hợp tổ chức họp cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình thì việc biểu quyết được thực hiện bằng hình thức giơ tay hoặc bỏ phiếu kín; hình thức biểu quyết do hội nghị quyết định; nếu số người tán thành chưa đạt quá 50% tổng số cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố thì tổ chức lại cuộc họp.

Trường hợp không tổ chức lại được cuộc họp thì phát phiếu lấy ý kiến tới cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình, trừ việc bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố.

6. Những nội dung nhân dân tham gia ý kiến trước khi cơ quan có thẩm quyền quyết định 6.1. Những nội dung nhân dân tham gia ý kiến

– Dự thảo kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của cấp xã; phương án chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất; đề án định canh, định cư, vùng kinh tế mới và phương án phát triển ngành nghề của cấp xã.

– Dự thảo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết và phương án điều chỉnh; việc quản lý, sử dụng quỹ đất của cấp xã.

– Dự thảo kế hoạch triển khai các chương trình, dự án trên địa bàn cấp xã; chủ trương, phương án đền bù, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, xây dựng cơ sở hạ tầng, tái định cư; phương án quy hoạch khu dân cư.

– Những nội dung khác cần phải lấy ý kiến nhân dân theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc chính quyền cấp xã thấy cần thiết.

6.2. Hình thức để nhân dân tham gia ý kiến

– Họp cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình theo địa bàn từng thôn, tổ dân phố.

– Phát phiếu lấy ý kiến cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình.

– Thông qua hòm thư góp ý.

7. Những nội dung nhân dân giám sát, kiểm tra 7.1. Những nội dung nhân dân giám sát, kiểm tra

Nhân dân giám sát việc thực hiện các nội dung đã được công khai, nội dung nhân dân bàn và quyết định trực tiếp, nhân dân bàn, biểu quyết, nhân dân tham gia ý kiến quy định tại các mục trên.

7.2. Hình thức để nhân dân thực hiện những nội dung giám sát, kiểm tra

– Nhân dân thực hiện việc giám sát thông qua hoạt động của Ban thanh tra nhân dân, Ban giám sát đầu tư của cộng đồng.

Trình tự, thủ tục hoạt động của Ban thanh tra nhân dân, Ban giám sát đầu tư của cộng đồng được thực hiện theo quy định của pháp luật.

– Nhân dân trực tiếp thực hiện việc giám sát thông qua quyền khiếu nại, tố cáo, kiến nghị với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền hoặc kiến nghị thông qua Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận cấp xã, Ban thanh tra nhân dân, Ban giám sát đầu tư của cộng đồng.

Trình tự, thủ tục khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của nhân dân được thực hiện theo quy định của pháp luật.

7.3. Lấy phiếu tín nhiệm của Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã

Hai năm một lần trong mỗi nhiệm kỳ của Hội đồng nhân dân cấp xã, Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp tổ chức lấy phiếu tín nhiệm đối với Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân và Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã.

Thành phần tham gia lấy phiếu tín nhiệm gồm các thành viên Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, thành viên Ban thường vụ của các tổ chức chính trị – xã hội cấp xã, Trưởng Ban thanh tra nhân dân, Trưởng Ban giám sát đầu tư của cộng đồng (nếu có), Bí thư chi bộ, Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố, Trưởng Ban công tác mặt trận thôn, tổ dân phố.

Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã gửi kết quả lấy phiếu tín nhiệm và kiến nghị của mình tới Hội đồng nhân dân cùng cấp và các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.

Đề Tài: Giám Sát Của Hội Đồng Nhân Dân Cấp Xã Huyện Hoài Đức, Hay / 2023

Published on

Download luận văn thạc sĩ ngành luật với đề tài: Hoạt động Giám sát của Hội đồng nhân dân cấp xã – Từ thực tiễn huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội, cho các bạn làm luận văn tham khảo

1. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ …………../…………. …../…. HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA PHÍ VĂN THUẬN HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP XÃ – TỪ THỰC TIỄN HUYỆN HOÀI ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH HÀ NỘI – NĂM 2017

2. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ …………../…………. …../…. HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA PHÍ VĂN THUẬN HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP XÃ – TỪ THỰC TIỄN HUYỆN HOÀI ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH Mã số: 60 38 01 02 NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: chúng tôi VŨ ĐỨC ĐÁN HÀ NỘI – NĂM 2017

3. LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học của tôi. Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng và kết quả nghiên cứu là quá trình lao động trung thực của tôi./. Tác giả luận văn Phí Văn Thuận

4. LỜI CẢM ƠN Với tình cảm chân thành và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới: Hội đồng Khoa học thuộc Học viện Hành chính. Các Thầy giáo, Cô giáo đã trang bị những kiến thức quý báu và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại Học viện Hành chính; chúng tôi Vũ Đức Đán người thầy trực tiếp hướng dẫn khoa học, tận tình chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu để hoàn thành Luận văn này. Tôi xin chân thành cảm ơn! Tác giả luận văn hí Văn Thuận

5. MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU ………………………………………………………………………………………………………….1 Chƣơng 1………………………………………………………………………………………………………….7 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP XÃ………………………………………………………………………………………………….7 1.1. Khái quát chung về chính quyền cấp xã và Hội đồng nhân dân cấp xã ……………7 1.1.1. Những vấn đề chung về chính quyền cấp xã……………………………………………….7 1.1.2. Vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng nhân dân cấp xã……………..12 1.1.3. Tổ chức của hội đồng nhân dân cấp xã………………………………………………………16 1.2. Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp xã……………………………………….19 1.2.1. Khái niệm giám sát của Hội đồng nhân dân……………………………………………….19 1.2.2. Đối tượng giám sát…………………………………………………………………………………..21 1.2.3. Nội dung giám sát…………………………………………………………………………………….22 1.2.4. Hình thức giám sát …………………………………………………………………………………..24 1.2.5. Chủ thể giám sát………………………………………………………………………………………32 1.3. Các yếu tố tác động đến hoạt động giám sát của HĐND cấp xã. ……………………32 1.3.1. Các quy định của pháp luật về hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp xã……………………………………………………………………………………………………………………..32 1.3.2. Tổ chức bộ máy, hoạt động của Thường trực và các Ban HĐND cấp xã……..33 1.3.3. Năng lực, bản lĩnh và trách nhiệm thực hiện chức năng giám sát của đại biểu HĐND cấp xã. ………………………………………………………………………………………………….34 1.3.4. Chương trình, kế hoạch, phương thức giám sát của HĐND cấp xã……………..35 1.3.5. Sự hợp tác của đối tượng chịu sự giám sát của HĐND cấp xã…………………….36 1.3.6. Điều kiện vật chất, chi phí cho hoạt động giám sát của HĐND cấp xã…………36 Tiểu kết chương 1……………………………………………………………………………………………..38

6. Chƣơng 2…………………………………………………………………………………………………………39 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP XÃ – TỪ THỰC TIỄN HUYỆN HOÀI ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI ..39 2.1. Vị trí địa lý, đặc điểm kinh tế xã hội tác động đến hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp xã ở huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội……………………………….39 2.1.1. Vị trí địa lý………………………………………………………………………………………………39 2.1.2. Đặc điểm kinh tế-xã hội……………………………………………………………………………40 2.2. Phân tích thực trạng hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp xã ở huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội……………………………………………………………………………..42 2.2.1. Tổ chức của Hội đồng nhân dân cấp xã ở huyện Hoài Đức…………………………42 2.2.2. Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp xã ở huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội (nhiệm kỳ 2011-2016)…………………………………………………………………….46 2.3. Đánh giá chung hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp xã ở huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội……………………………………………………………………………..62 2.3.1. Ưu điểm ………………………………………………………………………………………………….62 2.3.2. Hạn chế và nguyên nhân…………………………………………………………………………..64 Tiểu kết chương 2……………………………………………………………………………………………..68 Chƣơng 3…………………………………………………………………………………………………………69 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP XÃ……………………………………………………….69 3.1. Quan điểm đẩy mạnh hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp xã……….69 3.1.1. Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân xã phải mang lại hiệu quả thực tế69 3.1.2. Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân xã phải đưa ra được những kết luận xác đáng bảo đảm cho việc tuân thủ nghiêm chỉnh của các đối tượng chịu sự giám sát…………………………………………………………………………………………………………….69 3.1.3. Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân xã phải bảo đảm đưa ra các kiến nghị hoàn thiện cơ chế chính sách………………………………………………………………………70

7. 3.1.4. Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân xã phải bảo đảm lợi ích chung của đất nước……………………………………………………………………………………………………..71 3.1.5. Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân xã phải đặt trong mối quan hệ chặt chẽ với hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát của Đảng, Mặt trận Tổ quốc, các cơ quan nhà nước khác và của toàn xã hội…………………………………………………….71 3.2. Giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp xã..72 3.2.1. Giải pháp chung nhằm đẩy mạnh hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân xã……………………………………………………………………………………………………………………..73 3.2.2. Giải pháp đẩy mạnh hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân xã ở huyện Hoài Đức………………………………………………………………………………………………………….81 Tiểu kết chương 3……………………………………………………………………………………………..91 KẾT LUẬN …………………………………………………………………………………………………….92

8. DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT HĐND Hội đồng nhân dân UBND Ủy ban nhân dân HTCT Hệ thống chính trị KT-XH Kinh tế xã hội

9. DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU Bảng 2.1: Cơ cấu, số lượng đại biểu HĐND cấp xã ở huyện Hoài Đức đầu nhiệm kỳ 2011 – 2016 và hiện nay ……………………………………….44 Bảng 2.2: Độ tuổi đại biểu HĐND cấp xã ở huyện Hoài Đức nhiệm kỳ 2011- 2016 ………………………………………………………………………. 44 Bảng 2.3: Trình độ chuyên môn, lý luận chính trị của đại biểu HĐND huyện Hoài Đức nhiệm kỳ 2011 – 2016 ………………………………………….45 Bảng 2.4: Lĩnh vực công tác của đại biểu HĐND huyện Hoài Đức nhiệm kỳ 2011 – 2016 ………………………………………………………………. 45

10. DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ Sơ đồ 2.1: Báo cáo xem xét tại kỳ họp……………………………………… 47 Sơ đồ 2.2: Đối tượng chất vấn của HĐND xã………………………………50 Sơ đồ 2.3: Các chức vụ do HĐND bầu ………………………………………. 52

11. 1 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài. Hội đồng nhân dân (HĐND) là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, được quy định tại điều 113 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013: “HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, do Nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên”. [35, tr.49]. Chính quyền cấp xã (cấp cơ sở), là cấp chính quyền địa phương thấp nhất trong hệ thống phân cấp từ TW đến địa phương ở Việt Nam nhưng có vai trò quan trọng trong cơ cấu chính quyền địa phương, là nơi Nhân dân thực hiện quyền dân chủ, đồng thời là cấp trực tiếp tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước. HĐND cấp xã là cơ quan quyền lực nhà nước ở cơ sở có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đảm bảo quyền của Nhân dân, phát huy dân chủ, đảm bảo hiệu lực và hiệu quả hoạt động của bộ máy Nhà nước. Do vậy, hoạt động của HĐND cấp xã nói chung và hoạt động giám sát của HĐND cấp xã nói riêng đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc đảm bảo cho hoạt động của bộ máy Nhà nước được thực hiện chất lượng, hiệu quả. Trong những năm qua, hoạt động giám sát của HĐND cấp xã có nhiều chuyển biến tích cực. Hàng năm đã xây dựng chương trình kế hoạch giám sát; tổ chức các đoàn giám sát khi cần thiết, trong thực hiện giám sát có những hình thức phối hợp với các cấp, các ngành v.v. Do đó, đã đưa lại nhiều kết quả khả quan, bước đầu góp phần khắc phục tính hình thức trong hoạt động của HĐND cấp xã nói chung và hoạt động giám sát nói riêng. Tuy nhiên trong thực tiễn, hoạt động giám sát của HĐND cấp xã còn nhiều hạn chế. Chẳng hạn như việc xây dựng chương trình, cách thức tổ chức

12. 2 giám sát chưa thật sự khoa học; một số vụ việc tiêu cực của các cơ quan, tổ chức, cá nhân ở địa phương chưa được phát hiện kịp thời; các kết luận sau khi giám sát thường chung chung, thiếu kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện kết luận đó nên vẫn còn hiện tượng sau giám sát đâu lại vào đấy; kỹ năng giám sát của các đại biểu HĐND cấp xã còn nhiều hạn chế v.v. Chính vì vậy, hiệu quả hoạt động giám sát của HĐND cấp xã hiện nay còn thấp. Để khắc phục tình trạng trên, yêu cầu đặt ra hiện nay là phải đổi mới hoạt động của HĐND cấp xã, nâng cao hiệu quả giám sát của HĐND cấp xã vừa phù hợp với công cuộc đổi mới đất nước, đáp ứng yêu cầu của Nhân dân là nhu cầu, đòi hỏi khách quan của sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước trong thời kỳ mới. Hoài Đức là huyện ngoại thành thuộc tỉnh Hà Tây cũ, chính thức sáp nhập vào Thủ đô Hà Nội kể từ 01/8/2008. Với vị trí cửa ngõ phía Tây và là vùng mở rộng của đô thị trung tâm Hà Nội trong tương lai, từ những năm 2000 trở lại đây kinh tế – xã hội của huyện chuyển dịch mạnh mẽ từ nông nghiệp sang phát triển công nghiệp, thương mại và dịch vụ; quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh chóng, phần lớn đất nông nghiệp đã được quy hoạch, thu hồi, nhiều khu đô thị lớn được đầu tư xây dựng… đã đặt ra nhiều vấn đề thực tiễn quản lý mới phức tạp hơn, khó khăn hơn như chăm lo đời sống, giải quyết tạo việc làm cho người dân sau thu hồi đất nông nghiệp, sự dịch chuyển dân số cơ học, chuyển dịch cơ cấu dân cư, lao động việc làm trong quá trình đô thị hóa…. nên đây thực sự là một trong những khó khăn rất lớn cho chính quyền địa phương nói chung và hoạt động giám sát của HĐND cấp xã nói riêng. Do vậy, nghiên cứu, đánh giá về hoạt động giám sát của HĐND cấp xã trên địa bàn huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội theo pháp luật hiện hành được đặt ra nhằm đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của HĐND nói chung và hoạt động giám sát của HĐND cấp xã nói riêng với mục tiêu

13. 3 xây dựng HĐND thực sự là cơ quan đại diện, cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, là cơ quan dân cử xứng đáng với niềm tin của Nhân dân. Từ những lý do trên tác giả lựa chọn đề tài: “Hoạt động Giám sát của Hội đồng nhân dân cấp xã – Từ thực tiễn huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội” làm luận văn tốt nghiệp Cao học chuyên ngành Luật hiến pháp và Luật hành chính. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Vấn đề nghiên cứu về chất lượng, tổ chức và hoạt động của HĐND cấp xã, hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân nói chung và Hội đồng nhân dân cấp xã nói riêng đã được nhiều đề tài tiếp cận, nghiên cứu, cụ thể như: – Nguyễn Khắc Bộ (2001), Công tác giám sát tại kỳ họp Hội đồng nhân dân – Những vấn đề đặt ra nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân, Kỷ yếu nâng cao năng lực và hiệu quả giám sát của Hội đồng nhân dân, Văn phòng Quốc hội. – TS Phạm Ngọc Kỳ, Quyền giám sát của Hội đồng nhân dân và kỹ năng giám sát cơ bản, , (2001), Nxb Tư pháp, Hà Nội; – Đinh Ngọc Quang, Về đổi mới tổ chức và hoạt động của HĐND các cấp nhiệm kỳ 2004 – 2009, Tạp chí Nhà nước số 2/2005. – Nguyễn Thị Nữ – Tổ chức và hoạt động của HĐND cấp xã- qua thực tiễn ở tỉnh Thừa Thiên Huế. Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, năm bảo vệ 2012. – Lê Thị Bình Tuyết – Hoạt động giám sát của HĐND cấp huyện – Từ thực tiến tỉnh Thanh Hóa. Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, năm bảo vệ 2014. Các công trình trên đã tiếp cận tổ chức và hoạt động giám sát của HĐND ở nhiều góc độ, nhiều khía cạnh với những luận giải, đánh giá khoa học có ý nghĩa lý luận và thực tiễn như: Tổ chức hoạt động, chủ thể giám sát, đối

14. 4 tượng giám sát, hình thức giám sát, …. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn tồn tại một khoảng trống trong nghiên cứu về hoạt động giám sát của HĐND cấp xã trên địa bàn cụ thể ở thành phố Hà Nội để tổng kết, đánh giá những ưu điểm, hạn chế, qua đó đưa ra những giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động giám sát của HĐND cấp xã. 3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 3.1. Mục đích Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động giám sát của HĐND cấp xã ở huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội. Qua đó tác giả luận văn đưa ra những quan điểm và giải pháp đẩy mạnh hoạt động giám sát của HĐND cấp xã, nhằm đảm bảo HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân ở địa phương. 3.2. Nhiệm vụ – Làm rõ cơ sở lý luận về tổ chức và hoạt động giám sát của HĐND cấp xã. – Đánh giá thực trạng hoạt động giám sát của HĐND cấp xã từ thực tiễn huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội hiện nay, đặt trọng tâm vào nhiệm kỳ 2011-2016. – Đưa ra những quan điểm và giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động giám sát của HĐND cấp xã đáp ứng với yêu cầu đổi mới ở huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội thời gian tới. 4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 4.1. Đối tượng nghiên cứu Luận văn nghiên cứu hoạt động giám sát của HĐND cấp xã từ thực tiễn huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội. 4.2. Phạm vi nghiên cứu

15. 5 – Đối tượng và không gian nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu về hoạt động giám sát của HĐND cấp xã từ thực tiễn của huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội. – Thời gian nghiên cứu: Luận văn khảo sát, phân tích hoạt động giám sát của HĐND cấp xã theo pháp luật hiện hành từ thực tiễn huyện Hoài Đức thời gian qua (2011-2016), trên cơ sở đó đề ra phương hướng và giải pháp cho thời gian tới (nhiệm kỳ 2016 – 2021). 5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn 5.1. Phương pháp luận Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về các vấn đề về Nhà nước và pháp luật, về Hội đồng nhân dân, hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân. 5.2. Phương pháp nghiên cứu Có rất nhiều phương pháp nghiên cứu, ở đây tác giả chủ yếu dùng các phương pháp phân tích những tài liệu sẵn có; phương pháp thu thập và xử lý thông tin; phương pháp thống kê, phân tích và xử lý số liệu; phương pháp so sánh, đánh giá; phương pháp quan sát… để nghiên cứu. 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 6.1. Về mặt lý luận Thông qua việc phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động giám sát của HĐND cấp xã từ thực tiễn huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội, tác giả đưa ra được những giải pháp đẩy mạnh hoạt động giám sát của HĐND cấp xã, từ đó góp phần luận chứng về mặt lý luận cho việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động hoạt động của HĐND nói chung và HĐND cấp xã nói riêng trong giai đoạn hiện nay. 6.2. Về mặt thực tiễn

17. 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP XÃ 1.1. Khái quát chung về Chính quyền cấp xã và Hội đồng nhân dân cấp xã 1.1.1. Những vấn đề chung về chính quyền cấp xã 1.1.1.1. Khái niệm chính quyền cấp xã Trong lịch sử nước ta, về mặt tổ chức chính quyền, xã luôn được xác định là đơn vị hành chính cấp cơ sở, sát với dân cư. Tuy nhiên, quy mô xã, cách thức tổ chức chính quyền cấp xã thì khác nhau theo từng giai đoạn lịch sử. Hiện tại, quy mô xã về cơ bản được xác định theo những quy định ban hành từ sau cách mạng tháng Tám: xã có một diện tích nhất định, dưới xã là các làng, thôn. Trong hệ thống hành chính nước ta, cấp xã là cấp cuối cùng trong hệ thống chính quyền bốn cấp hoàn chỉnh: Trung ương, tỉnh, huyện, xã, là đơn vị hành chính cơ sở, là nơi diễn ra mọi hoạt động kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội của Nhân dân. Cấp xã là nơi trực tiếp thực hiện nhiệm vụ cụ thể quản lý hành chính nhà nước trên tất cả các lĩnh vực chính trị, an ninh, quốc phòng, kinh tế, văn hóa, xã hội ở cơ sở, đảm bảo các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đi vào cuộc sống, nâng cao mọi mặt đời sống của Nhân dân. Sự trong sạch vững mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả của chính quyền cấp xã đóng vai trò rất quan trọng trong toàn bộ hoạt động quản lý nhà nước và cung cấp dịch vụ công phục vụ Nhân dân; Là cầu nối giữa hệ thống chính quyền cấp trên với Nhân dân, hàng ngày tiếp xúc, nắm bắt và phản ánh tâm tư nguyện vọng của Nhân dân.

19. 9 xã là cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân xã và Ủy ban nhân dân xã”. [39, tr.45]. Chính quyền cơ sở cấp xã là trung tâm của HTCT ở cơ sở. Có vai trò quan trọng và thể hiện trên những mặt chủ yếu sau: Một là, hệ thống chính quyền cơ sở là hệ thống quyền lực có địa bàn rộng lớn nhất, có quan hệ trực tiếp nhất với cơ sở, Nhân dân. Là cầu nối giữa nhà nước với nhân dân. Chính quyền cấp xã là người tổ chức, quản lý mọi mặt đời sống dân cư ở địa phương đưa các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước đi vào đời sống người dân thông qua hoạt động của chính quyền cấp xã. Hai là, tất cả các quy định, chỉ thị, hướng dẫn của cơ quan Nhà nước cấp trên có được triển khai thực hiện ở nông thôn hay không, hiệu quả đến dân đều phải thông qua chính quyền cấp xã. Ba là, nhân dân gắn bó, tin tưởng vào Đảng, Nhà nước như thế nào cũng thông qua hoạt động quản lý của chính quyền và quyền lực của cán bộ chính quyền cơ sở với dân trong việc giải quyết những nhu cầu dân sinh, dân chủ, dân quyền. Bốn là, sức mạnh hiệu lực, hiệu quả quản lý của chính quyền cơ sở là ở nơi dân, là việc quy tụ được lòng dân, phát huy tình đoàn kết, truyền thống làng xã, tinh thần làm chủ của Nhân dân. Năm là, HTCT cơ sở có phát huy được vai trò lãnh đạo, tổ chức đoàn kết toàn dân thực hiện được những mục tiêu xây dựng địa phương có KT-XH, văn hoá phát triển hay không, điều đó tuỳ thuộc rất nhiều vào trình độ, phẩm chất, năng lực, quản lý điều hành của đội ngũ cán bộ chính quyền cơ sở. 1.1.1.3. Cơ cấu, tổ chức của chính quyền cấp xã Chính quyền xã là cấp cuối cùng trong hệ thống hành chính bốn cấp của bộ máy Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, theo Điều 30 Luật

20. 10 Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 quy định “Chính quyền địa phương ở xã là cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân xã và Ủy ban nhân dân xã”. [39, tr.41]. Điều 113 Hiến pháp 2013 và Khoản 1 Điều 6 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 quy định: “HĐND gồm các đại biểu HĐND do cử tri ở địa phương bầu ra, là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên”. [39, tr.10]. HĐND vừa là cơ quan quyền lực ở địa phương vừa là một bộ phận cấu thành không thể tách rời với quyền lực Nhà nước. Qua HĐND sự thống nhất giữa quyền lực Nhà nước và quyền lực của Nhân dân được biểu hiện rõ nhất, với tư cách là cơ quan đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân ở địa phương. HĐND vừa chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương vừa chịu trách nhiệm trước chính quyền cấp trên về mọi mặt KT – XH, an ninh quốc phòng ổn định và nâng cao đời sống của Nhân dân. Trong tổ chức và hoạt động của mình vai trò của HĐND còn được biểu hiện với tư cách là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, HĐND được Nhân dân giao quyền quyết định các vấn đề quan trọng để có thể phát huy được tiềm năng của địa phương, xây dựng và phát triển KT-XH, từ ý chí của Nhân dân địa phương mà đề ra những quy định pháp lý, yêu cầu mang tính nền tảng, bắt buộc nhằm quản lý dân cư trên toàn địa phương. Ngoài ra việc giám sát của HĐND đối với UBND xã và các cơ quan tổ chức Nhà nước, tổ chức kinh tế xã hội tại địa phương cũng có một vai trò quan trọng trong việc phát huy quyền làm chủ của Nhân dân và góp phần làm trong sạch bộ máy nhà nước. Đối với UBND, vị trí pháp lý và vai trò được quy định tại Điều 114 Hiến pháp 2013 và Khoản 1 Điều 8 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015: “UBND do HĐND cùng cấp bầu, là cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan

21. 11 hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương, HĐND cùng cấp và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên”. [39, tr. 12]. UBND xã có hai tư cách vừa là cơ quan chấp hành của HĐND cùng cấp vừa là cơ quan hành chính nhà nước ở cấp cơ sở. Với tư cách là cơ quan chấp hành của HDND, UBND xã có vai trò quan trọng trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước trên các lĩnh vực đời sống xã hội ở địa phương bằng pháp luật, theo pháp luật. Tổ chức và chỉ đạo việc thi hành chủ trương và Nghị quyết của HĐND xã biến ý chí, nguyện vọng của Nhân dân làng xã thành những hoạt động cụ thể có hiệu quả. Còn với tư cách là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, UBND xã có vai trò quản lý hành chính nhà nước trên các lĩnh vực đời sống KT-XH ở địa phương mình đồng thời cũng là cơ quan quản lý việc chấp hành, điều hành các quyết định, chỉ thị của UBND huyện cũng như các chủ trương, đường lối, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước. Như vậy chính quyền cấp xã là bộ phận quan trọng trong bộ máy nhà nước, là trung tâm, là lực lượng nòng cốt của HTCT ở địa phương. 1.1.1.4. Chức năng, nhiệm vụ của chính quyền cấp xã – Tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật tại địa phương; quyết định các vấn đề của của địa phương do luật định; chịu sự kiểm tra, giám sát của cơ quan nhà nước cấp trên. – Quyết định những chủ trương, biện pháp quan trọng để phát huy tiềm năng của địa phương, xây dựng và phát triển địa phương về kinh tế-xã hội (KT-XH), không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân địa phương, làm tròn nghĩa vụ của địa phương đối với cả nước. – Chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp nhằm bảo đảm thực hiện chủ trương, biện pháp phát triển KT- XH và thực hiện các chính sách khác trên địa bàn.

22. 12 – Quản lý nhà nước ở địa phương, góp phần bảo đảm sự chỉ đạo, quản lý thống nhất trong bộ máy hành chính nhà nước từ Trung ương tới cơ sở. 1.1.2. Vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng nhân dân cấp xã 1.1.2.1. Vị trí, vai trò của Hội đồng nhân dân cấp xã HĐND xã là cơ quan quyền lực Nhà nước ở cấp xã, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân trong xã, do Nhân dân xã bầu ra, chịu trách nhiệm trước Nhân dân xã và cơ quan nhà nước cấp trên. HĐND xã quyết định những chủ trương, biện pháp quan trọng để phát triển tiềm năng của xã, xây dựng và phát triển địa phương về KT-XH, củng cố quốc phòng, an ninh, không ngừng cải thiện đời sống, vật chất và tinh thần của Nhân dân xã, làm tròn nghĩa vụ của địa phương đối với huyện. HĐND xã thực hiện quyền giám sát đối với hoạt động của UBND cấp xã; giám sát việc thực các hiện nghị quyết của HĐND; giám sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân ở cấp mình. HĐND xã là đại diện tiêu biểu nhất cho tiếng nói của các tầng lớp nhân dân trong xã, được lựa chọn từ các đại biểu ưu tú của các tầng lớp nhân dân, các dân tộc, tôn giáo, nông dân, trí thức, v.v. HĐND xã đại diện cho trí tuệ, tinh thần và sức mạnh tập thể của nhân dân địa phương trong xã. HĐND là tổ chức chính quyền gần gũi nhân dân nhất, hiểu rõ tâm tư, nguyện vọng, thuận lợi, khó khăn và yêu cầu của nhân dân, do đó đưa ra những quyết sách đúng đắn, phù hợp với tình hình thực tế của địa phương, góp phần quan trọng để đạt được những thành tựu về KT-XH, quốc phòng – an ninh ở địa phương. 1.1.2.2. Chức năng của Hội đồng nhân dân xã Chức năng của HĐND cấp xã là những phương diện hoạt động chủ yếu của HĐND nhằm thực hiện vai trò và nhiệm vụ là cơ quan quyền lực nhà

23. 13 nước ở xã, quyết định những vấn đề quan trọng của địa phương; đại diện cho ý chí nguyện vọng của Nhân dân. Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 và nay là Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 đã quy định những chức năng cơ bản của HĐND các cấp (trong đó có cấp xã) bao gồm: – Quyết định những vấn đề quan trọng ở địa phương: Chức năng quyết định những vấn đề quan trọng thuộc thẩm quyền của HĐND cấp xã. Trong đó xác định cụ thể nội dung về chủ trương, biện pháp quan trọng để phát huy tiềm năng của địa phương, xây dựng và phát triển địa phương về KT-XH, củng cố quốc phòng, an ninh, không ngừng cải thiện đời sống vất chất và tinh thần của Nhân dân địa phương, làm tròn nghĩa vụ của địa phương đối với cả nước. Xác định cụ thể những nội dung quan trọng thuộc thẩm quyền quyết định của HĐND về kế hoạch phát triển KT-XH; an ninh quốc phòng, trật tự, an toàn xã hội; phát triển văn hoá, giáo dục, y tế, thể dục, thể thao, đời sống, xã hội; phát triển khoa học, công nghệ, tài nguyên, môi trường; về thực hiện chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo; về việc thi hành pháp luật; về xây dựng chính quyền địa phương và quản lý địa giới hành chính. Như vậy nội dung thực hiện chức năng quyết định của HĐND rất rộng, toàn diện bao gồm mọi mặt của đời sống KT-XH, văn hoá, khoa học, quốc phòng, an ninh… Điều này một lần nữa xác định rõ hơn vị trí, vai trò và tầm quan trọng của HĐND cấp xã trong chính quyền địa phương với tư cách là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương. Mặt khác đây cũng là căn cứ pháp lý tạo ra môi trường thuận lợi để chính quyền địa phương khai thác hết tiềm năng, nội lực sẵn có ở địa phương, nhằm nâng cao đời sống vật chất tinh thần của Nhân dân địa phương. Căn cứ quy định của Hiến pháp và pháp luật, HĐND thực hiện chức năng này trên từng lĩnh vực. HĐND nghe UBND trình bày định hướng phát

24. 14 triển, biện pháp tổ chức thực hiện, xem chủ trương, chính sách đó có phù hợp với Hiến pháp, pháp luật, với tình hình KT-XH và có bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của nhân dân địa phương hay không, trên cơ sở đó HĐND quyết định ban hành hay không ban hành. Để đảm bảo các quyết định của HĐND hợp hiến, hợp pháp, mỗi đại biểu HĐND và HĐND cần nắm bắt, am hiểu tình hình KT-XH và chính sách pháp luật của nhà nước, tránh tình trạng hiện nay quyết định của HĐND là bản sao của của UBND. – Giám sát: HĐND thực hiện quyền giám sát đối với hoạt động của Thường trực HĐND, UBND cùng cấp; giám sát việc thực hiện các Nghị quyết của HĐND; giám sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân và của công dân ở địa phương. Chức năng giám sát của HĐND luôn gắn liền chức năng quyết định những vấn đề cơ bản về KT-XH và vai trò của HĐND ở địa phương. Thực hiện tốt chức năng giám sát không những cho phép HĐND kiểm tra đánh giá hoạt động của các cơ quan nhà nước, các tổ chức, cá nhân ở địa phương trong việc tuân thủ Hiến pháp, pháp luật, nghị quyết của HĐND mà còn giúp HĐND phát hiện và sửa đổi, bổ sung những nội dung không phù hợp của nghị quyết HĐND. Kết quả giám sát của HĐND cấp xã là căn cứ để HĐND cấp huyện thực hiện quyền bãi miễn, bãi nhiệm các chức danh theo quy định của pháp luật (chủ tịch, phó chủ tịch HĐND; chủ tịch, các phó chủ tịch và các thành viên UBND); là căn cứ để HĐND cấp xã bãi bỏ những quyết định trái pháp luật của UBND cùng cấp; Để thực hiện các chức năng quan trọng, HĐND tập trung vào các hướng: Quyết định dưới hình thức Nghị quyết về các vấn đề quan trọng của địa

28. 18 Xã miền núi, vùng cao và hải đảo có trên hai nghìn dân đến ba nghìn dân được bầu hai mươi lăm đại biểu; có trên ba nghìn dân thì cứ thêm một nghìn dân được bầu thêm một đại biểu, nhưng tổng số không quá ba mươi lăm đại biểu; Xã không thuộc miền núi, vùng cao và hải đảo có từ bốn nghìn dân trở xuống được bầu hai mươi lăm đại biểu; có trên bốn nghìn dân thì cứ thêm hai nghìn dân được bầu thêm một đại biểu, nhưng tổng số không quá ba mươi lăm đại biểu. Nhiệm kỳ mới khoá HĐND các cấp là năm năm, kể kỳ họp thứ nhất của HĐND khoá đó đến kỳ họp của HĐND khoá sau. Nhiệm kỳ của thường trực HĐND, UBND, các ban của HĐND theo nhiệm kỳ của HĐND. Chủ tịch HĐND, Chủ tịch UBND ở mỗi đơn vị hành chính không giữ chức vụ đó quá hai nhiệm kỳ liên tục. 1.1.3.3. Các ban của Hội đồng nhân dân xã Đây là điểm mới về cơ cấu tổ chức của HĐND cấp xã theo quy định của Luật Tổ chức Chính quyền địa phương 2015 hiện nay. Ban của HĐND là cơ quan của HĐND, có nhiệm vụ thẩm tra dự thảo nghị quyết, báo cáo, đề án trước khi trình HĐND, giám sát, kiến nghị về những vấn đề thuộc lĩnh vực Ban phụ trách; chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước HĐND. HĐND xã thành lập Ban pháp chế, Ban KT-XH. Ban của HĐND xã gồm có Trưởng ban, một Phó Trưởng ban và các Ủy viên. Số lượng Ủy viên của các Ban của HĐND xã do HĐND xã quyết định. Trưởng ban, Phó Trưởng ban và các Ủy viên của các Ban của HĐND xã hoạt động kiêm nhiệm. Nhiệm kỳ của các Ban của HĐND theo nhiệm kỳ của HĐND cùng cấp. Khi HĐND hết nhiệm kỳ, các Ban của HĐND tiếp tục làm nhiệm vụ cho đến khi HĐND khóa mới bầu ra các Ban của HĐND khóa mới.

29. 19 1.2. Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp xã 1.2.1. Khái niệm giám sát của Hội đồng nhân dân Để nhận thức đúng bản chất, nội dung cũng như hình thức động giám sát của HĐND, trước hết cần làm rõ khái niệm giám sát. Trong các công trình nghiên cứu một số tài liệu, thuật ngữ “giám sát” được hiểu theo nhiều cách, từ nhiều góc độ khác nhau: – Có quan niệm cho rằng, giám sát là: sự theo dõi, xem xét, làm đúng hoặc sai những điều đã quy định [41, tr.305]. – Quan niệm khác coi giám sát là việc theo dõi và kiểm tra xem có thực hiện đúng những điều quy định không; là chức quan thời xưa trông nom, coi sóc một loại công việc nhất định [44, tr.389]. – Có ý kiến chỉ coi giám sát là một nhóm hoặc một tổ chức để theo dõi một việc nào đấy [43, tr.230]. Theo khoản 1, Điều 2 Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015. Giám sát là việc chủ thể giám sát theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý. Như vậy, tuy cách diễn đạt và biểu hiện ý nghĩa của từ “giám sát” có khác nhau, nhưng các quan niệm trên đều đề cập đến nội dung cơ bản: giám sát là việc theo dõi, xem xét và kiểm tra một chủ thể nào đó về một việc làm đã thực hiện đúng hoặc thực hiện chưa đúng những điều đã quy định để từ đó có biện pháp điều chỉnh hoặc xử lý đối với việc làm sai, nhằm đạt được những mục đích hiệu quả xác định từ trước, bảo đảm cho các quyết định thực hiện đúng và đầy đủ. Với quan niệm trên, giám sát có những đặc trưng sau:

30. 20 – Giám sát luôn gắn với một chủ thể nhất định, tức là phải trả lời được câu hỏi ai (người hoặc tổ chức nào) có quyền thực hiện việc theo dõi, xem xét, kiểm tra và đưa ra những nhận định, đánh giá về một việc làm nào đó đã được thực hiện đúng hoặc không đúng với những điều đã quy định, quyết định. – Giám sát bao giờ cũng cần 2 giai đoạn: giai đoạn theo dõi, xem xét, kiểm tra và giai đoạn đánh giá, đưa ra kết luận. Trong đó, giai đoạn thứ nhất là cơ sở để thực hiện giai đoạn thứ hai. Nếu giai đoạn theo dõi, xem xét, kiểm tra làm tốt thì việc đánh giá, kết luận sẽ đúng đắn, chính xác và cuộc giám sát sẽ có hiệu quả và ngược lại [27, tr.63]. – Giám sát cũng luôn gắn với một đối tượng cụ thể, tức là phải trả lời được câu hỏi giám sát ai? giám sát việc gì? Đặc điểm cơ bản này cho chúng ta phân biệt giữa giám sát và kiểm tra. Bởi nói tới kiểm tra thì chủ thể hoạt động kiểm tra và đối tượng chịu sự tác động này có thể đồng nhất là một. Đó là trường hợp chủ thể tự kiểm tra hoạt động của mình, tức là tự xem xét đánh giá tình trạng tốt xấu của công việc đang làm để từ đó uốn nắn, sửa chữa. Nhưng trong hoạt động giám sát thì không thể có tình trạng tự chủ thể hoạt động quan sát chính hành vi của mình mà phải là hoạt động theo dõi, thẩm tra và xem xét của một chủ thể khác, từ đó đưa ra kết luận và xử lý. Cũng có ý kiến cho rằng, trong cơ chế giám sát có cả việc tự giám sát tức là sự tự theo dõi, xem xét và kiểm tra chính mình có thực hiện đúng những điều đã quy định không [5, tr.87]. Với quan niệm như vậy e rằng không đúng, không phù hợp với bản chất của từ giám sát, bởi bên cạnh khái niệm giám sát còn có khái niệm kiểm tra. – Giám sát phải thể hiện được quan hệ giữa các chủ thể tham gia vào hoạt động giám sát. Nội dung của quan hệ này biểu hiện ở những quyền và nghĩa vụ của chủ thể giám sát và đối tượng chịu giám sát.

31. 21 – Giám sát phải được tiến hành trên những căn cứ do pháp luật quy định. Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng bởi vì: nếu như thiếu những quy định này thì chủ thể giám sát không có cơ sở để thực hiện quyền giám sát và tiêu chí để đưa ra những nhận định về hoạt động của đối tượng chịu giám sát. – Giám sát là hoạt động có tính mục đích. Trước hết, mục đích của giám sát là đưa ra được những nhận định chính xác của chủ thể giám sát đối với hoạt động của đối tượng chịu giám sát, từ đó có các biện pháp xử lý đối với những việc làm sai trái nhằm bảo đảm cho những quy định của pháp luật được thực hiện đúng và có hiệu quả. Như vậy, mục đích chung của giám sát nhà nước cũng như giám sát xã hội là bảo đảm cho sự hoạt động đúng đắn, minh bạch, liên tục của các cơ quan tổ chức, cá nhân có chức vụ quyền hạn trong BMNN, trên cơ sở tuân thủ thường xuyên, nghiêm chỉnh pháp luật về nghĩa vụ, chức năng và thẩm quyền của họ. Tóm lại, thuật ngữ “giám sát” nếu hiểu theo nghĩa chung thì phạm vi áp dụng của nó rất rộng, muốn có một khái niệm cụ thể thì hoạt động giám sát bao giờ cũng gắn với một chủ thể xác định chẳng hạn như giám sát của Quốc hội, giám sát của HĐND, giám sát của nhân dân. 1.2.2. Đối tượng giám sát – Thường trực HĐND, UBND cùng cấp, Ban của HĐND. – Chủ tịch HĐND, Chủ tịch UBND các thành viên khác của UBND, cơ quan chuyên môn thuộc UBND. – Các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác ở địa phương. Như vậy, theo pháp luật hiện hành, đối tượng giám sát của HĐND cấp xã rất phong phú và đa dạng, bao gồm tất cả các cơ quan, tổ chức, cá nhân ở địa phương. Tuy nhiên cần lưu ý, trong luật hiện hành không phân cấp giám sát giữa HĐND các cấp, điều đó không có nghĩa HĐND mỗi cấp thực hiện thẩm

33. 23 HĐND nắm bắt thông tin một cách đầy đủ, toàn diện về hoạt động của các cơ quan này. Từ đó đánh giá chính xác, khách quan kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan Nhà nước theo quy định của Pháp luật và Nghị quyết của HĐND. Khi xem xét các báo cáo công tác, HĐND phải tập trung làm sáng tỏ tính chính xác và thực tiễn của các báo cáo công tác nhằm xác định đúng thực trạng của tình hình được nêu ra, vấn đề cần tập trung giải quyết, kết quả đạt được cùng những khó khăn, yếu kém. Đây là một phương thức giám sát quan trọng giúp HĐND nhận thông tin chính thức từ phía cơ quan đó. Chất vấn tại kỳ họp là một hình thức chất vấn trực tiếp, có hiệu quả cao. HĐND xem xét việc trả lời chất vấn của Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân, các thành viên khác của UBND, chuyên môn thuộc UBND. Thông qua chất vấn, HĐND xem xét trách nhiệm cá nhân của những người được chất vấn. – Giám sát việc thực hiện các Nghị quyết của Hội đồng nhân dân Nghị quyết của HĐND ban hành nhằm triển khai thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, Nghị quyết của cấp uỷ, phản ánh ý chí, nguyện vọng của nhân dân. Nghị quyết của HĐND có vai trò rất quan trọng trong việc định hướng phát triển kinh tế-xã hội ở địa phương. Do đó giám sát việc thực hiện các Nghị quyết của HĐND là một nội dung không thể thiếu trong hoạt động giám sát của HĐND các cấp nhằm tháo gỡ kịp thời những khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện Nghị quyết, đảm bảo cho Nghị quyết thực sự đi vào cuộc sống. Trong quá trình giám sát, nếu phát hiện có những văn bản của UBND cùng cấp có dấu hiệu trái với văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên và Nghị quyết của HĐND thì HĐND xem xét, quyết định bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản đó.

34. 24 – Giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát. Đây là quá trình HĐND xem xét việc áp dụng pháp luật trong tổ chức và hoạt động thực tiễn của các cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc quyền giám sát. Vì vậy phạm vi giám sát của HĐND trong lĩnh vực này rất rộng. Trên thực tế pháp luật của Nhà nước, Nghị quyết của HĐND có đi vào cuộc sống, trở thành hiện thực hay không không chỉ thông qua hoạt động ban hành các văn bản hướng dẫn, thi hành bảo đảm đúng đắn, phù hợp, kịp thời mà còn phụ thuộc vào quá trình tổ chức thực hiện có hợp hiến, hợp pháp hay không? Có hiệu quả hay không? Do vậy giám sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang và công dân ở địa phương là một nội dung giám sát của HĐND, nhằm phát hiện kịp thời những vi phạm pháp luật trong hoạt động thực tiễn của các đối tượng này để từ đó nhanh chóng có biện pháp ngăn chặn, đảm bảo cho pháp luật được thực thi nghiêm chỉnh và thống nhất. Như vậy, nội dung giám sát của HĐND cấp xã được thực hiện trên cơ sở nhiệm vụ, quyền hạn được phân cấp theo quy định, bao quát hoạt động quản lý nhà nước tại địa phương trên các lĩnh vực của đời sống kinh tế – xã hội, an ninh, quốc phòng, xây dựng, củng cố chính quyền, thực hiện pháp luật, bảo đảm phát huy quyền làm chủ nhân dân ở địa phương. 1.2.4. Hình thức giám sát Hình thức ở đây được hiểu là cách thức mà HĐND cấp xã áp dụng để giám sát các đối tượng theo quy định của pháp luật. Theo Điều 57 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015, quy định các hoạt động giám sát như sau:

40. 30 Theo Điều 63, Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 quy định về HĐND lấy phiếu tín nhiệm: “1. Hội đồng nhân dân lấy phiếu tín nhiệm đối với những người giữ các chức vụ sau đây: a) Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Trưởng Ban của Hội đồng nhân dân; Chánh Văn phòng Hội đồng nhân dân đối với Hội đồng nhân dân cấp tỉnh; b) Chủ tịch Ủy ban nhân dân, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân, Ủy viên Ủy ban nhân dân. 2. Việc lấy phiếu tín nhiệm được thực hiện tại kỳ họp Hội đồng nhân dân theo trình tự sau đây: a) Thường trực Hội đồng nhân dân trình Hội đồng nhân dân quyết định danh sách những người được lấy phiếu tín nhiệm; b) Hội đồng nhân dân lấy phiếu tín nhiệm bằng cách bỏ phiếu kín; c) Thường trực Hội đồng nhân dân trình Hội đồng nhân dân thông qua nghị quyết xác nhận kết quả lấy phiếu tín nhiệm. 3. Người được lấy phiếu tín nhiệm có quá nửa tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân đánh giá tín nhiệm thấp thì có thể xin từ chức. Người được lấy phiếu tín nhiệm có từ hai phần ba tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân trở lên đánh giá tín nhiệm thấp thì Thường trực Hội đồng nhân dân trình Hội đồng nhân dân bỏ phiếu tín nhiệm. 4. Ngoài quy định tại Điều này, thời hạn, thời điểm, trình tự lấy phiếu tín nhiệm đối với người được Hội đồng nhân dân bầu được thực hiện theo nghị quyết của Quốc hội” [38, tr.93]. Điều 64 Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 quy định về HĐND bỏ phiếu tín nhiệm:

42. 32 1.2.5. Chủ thể giám sát Theo Khoản 2, Điều 2 Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015: “Chủ thể giám sát bao gồm Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân, Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân”. Khoản 6, Điều 2 Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015: “Giám sát của Hội đồng nhân dân bao gồm giám sát của Hội đồng nhân dân tại kỳ họp, giám sát của Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân, Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân và các đại biểu Hội đồng nhân dân”. Như vậy, chủ thể thực hiện quyền giám sát của HĐND cấp xã bao gồm: – HĐND: một tập thể các đại biểu HĐND tại phiên họp hội đồng. – Thường trực HĐND. – Các ban của HĐND. – Đại biểu HĐND. Theo Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 1994 (sửa đổi), thường trực HĐND lúc này chưa phải là chủ thể của hoạt động giám sát, mới chỉ là người đôn đốc, kiểm tra các hoạt động của UBND cùng cấp cũng như vấn đề giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân ở địa phương. Như vậy, theo quy định của pháp luật hiện hành, chủ thể giám sát của HĐND ngày càng được mở rộng và quy định chặt chẽ hơn. 1.3. Các yếu tố tác động đến hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp xã. 1.3.1. Các quy định của pháp luật về hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp xã.

43. 33 Đây là yếu tố đầu tiên tác động rất lớn đến hiệu quả giám sát của HĐND xã. Các quy định pháp luật về giám sát có vai trò tạo cơ sở pháp lý cho HĐND thực hiện quyền năng giám sát của mình. Nếu luật không quy định một cách cụ thể về hoạt động giám sát của HĐND thì việc ghi nhận chức năng giám sát của HĐND trong Hiến pháp cũng chỉ là hình thức. Điều này đã được minh chứng trong thực tiễn phát triển của Luật Tổ chức HĐND và UBND, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015. Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 1989 và năm 1994 có quy định về chức năng giám sát của Hội đồng nhưng rất khái quát, chung chung… Điều này đã gây nên những khó khăn cho hoạt động của HĐND và là một trong những nguyên nhân dẫn đến hiệu quả hoạt động giám sát của HĐND thời gian qua rất thấp. Nhưng từ Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 đến nay là Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 đã cụ thể, chi tiết hoá chức năng giám sát của Hội đồng, nhờ đó hiệu quả giám sát của Hội đồng trong thực tiễn được nâng lên rất nhiều. Như vậy, vấn đề đặt ra là để nâng cao hiệu quả giám sát của HĐND xã đòi hỏi Nhà nước phải ban hành đầy đủ các văn bản pháp luật trong lĩnh vực giám sát cho HĐND nói riêng và toàn bộ hoạt động của HĐND nói chung. 1.3.2. Tổ chức bộ máy, hoạt động của Thường trực và các Ban HĐND cấp xã. Yếu tố này đòi hỏi HĐND phải có một bộ máy hoạt động đủ khả năng thực hiện một cách tốt nhất chức năng giám sát trong phạm vi quyền hạn của mình. Bất kỳ cơ quan nào, nếu có một tổ chức hợp lý và đồng bộ sẽ tạo nên guồng máy làm việc nhịp nhàng và dễ mang lại hiệu quả. HĐND ở nước ta là cơ quan hoạt động không thường xuyên, cùng với đặc điểm đại biểu HĐND làm việc theo chế độ kiêm nhiệm nên ảnh hưởng rất lớn, trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của HĐND nói chung và giám sát nói

45. 35 lĩnh giám nói thẳng nói thật, không nể nang né tránh, phải vì lợi ích của dân của Nhà nước [4, tr.19]. Điều này có nghĩa, giám sát là một công việc khó khăn và phức tạp, bên cạnh nắm vững các quy định pháp luật về vấn đề giám sát, người đại biểu còn phải có kỹ năng, trình độ, bản lĩnh và trách nhiệm khi tiến hành các hoạt động giám sát. Muốn vậy, các đại biểu dân cử phải luôn ý thức được đây là một trong những điều kiện chủ quan mà bất cứ một người đại biểu nào cũng phải tự trau dồi nâng cao nghiệp vụ. 1.3.4. Chương trình, kế hoạch, phương thức giám sát của HĐND cấp xã. Xây dựng chương trình, kế hoạch và lựa chọn hình thức giám sát phù hợp là điều kiện đảm bảo thế chủ động cho HĐND khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ và cũng là một trong những yếu tố góp phần nâng cao hiệu quả giám sát. HĐND xã cần ra nghị quyết tổ chức giám sát, các cuộc giám sát đều phải lập kế hoạch, xây dựng chương trình cụ thể, thông báo sớm về nội dung, thời gian và thống nhất cách thức thực hiện, các thành viên của đoàn giám sát phải nắm vững mục đích yêu cầu, phương pháp giám sát. Nói chung, HĐND phải xây dựng chương trình giám sát hàng năm, kế hoạch giám sát hàng quý, hàng tháng của thường trực, các ban, các đại biểu và kế hoạch giám sát cụ thể bằng nội dung cũng như những cuộc giám sát đột xuất theo yêu cầu của cử tri, dư luận xã hội. Trong giai đoạn hiện nay chúng ta đang thực hiện chương trình hoá hoạt động giám sát, tổ chức giám sát một cách toàn diện, các lĩnh vực giám sát của HĐND rất rộng, cho nên khi xây dựng chương trình giám sát cần phải có trọng tâm, trọng điểm; nội dung giám sát phải tập trung vào những vấn đề thiết thực, bức xúc và đang được đông đảo cử tri ở địa phương quan tâm.

47. 37 danh kiêm nhiệm của HĐND nên có quy định được hưởng phụ cấp kiêm nhiệm để họ nâng cao tinh thần trách nhiệm của mình. Cần phải đầu tư nhiều hơn nữa các trang thiết bị cần thiết, khắc phục tình trạng khó khăn lâu nay trong công việc giám sát là thiếu nguồn thông tin cập nhật. Thứ hai, đầu tư chi phí cho hoạt động giám sát phải tối ưu nghĩa là chỉ đủ mức cần thiết và triệt để tiết kiệm, chống lãng phí. Không bao giờ và ở đâu hễ cứ tăng đầu tư chi phí thì khi đó và ở đó, công tác giám sát có hiệu quả. Ngược lại, nhiều khi chỉ với mức kinh phí hạn hẹp, nhưng nếu tổ chức thực hiện tốt, tìm ra những hình thức phương pháp thích hợp, cũng có thể đưa lại hiệu quả cao. Tuy nhiên, do tính đặc thù của công tác giám sát, hơn nữa nhiều khi dư luận xã hội cũng đóng vai trò rất lớn trong việc chấn chỉnh các vấn đề chính trị, cho nên trong một số trường hợp không nên căn ke tính toán mức chi phí bỏ ra là bao nhiêu, vấn đề chúng ta có thực hiện chương trình giám sát đến cùng hay không. Nếu cuộc giám sát đưa lại kết quả tốt không những góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế của địa phương mà còn có tác dụng to lớn trong việc chấn chỉnh các vấn đề chính trị – xã hội. Như vậy, khi nói tới hiệu quả của bất kỳ hoạt động nào nói chung và giám sát nói riêng đòi hỏi phải tính đến mức đầu tư, chi phí hợp lý, tối ưu.

48. 38 Tiểu kết chƣơng 1 Nâng cao chất lượng hoạt động của bộ máy nhà nước là một yêu cầu khách quan để góp phần xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân ở Việt Nam hiện nay. Trong hệ thống bộ máy nhà nước, HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, do Nhân dân địa phương bầu ra, đại diện cho ý chí nguyện vọng của Nhân dân địa phương trong việc thực thi quyền lực nhà nước ở địa phương. Chất lượng hoạt động của HĐND thể hiện việc ban hành các Nghị quyết, hoạt động giám sát và các hoạt động khác. Với chức năng, nhiệm vụ được quy định, HĐND có vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng trong việc đảm bảo quyền lực thuộc về Nhân dân, phát huy quyền làm chủ, đảm bảo hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước ở địa phương. Vì vậy, nâng cao chất lượng hoạt động giám sát của HĐND cấp xã nói riêng và HĐND các cấp nói chung là một trong những phương hướng và giải pháp của quá trình xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước nói riêng, của sự nghiệp đổi mới đất nước ta hiện nay nói chung, góp phần thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

49. 39 Chƣơng 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP XÃ – TỪ THỰC TIỄN HUYỆN HOÀI ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 2.1. Vị trí địa lý, đặc điểm kinh tế xã hội tác động đến hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp xã ở huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội 2.1.1. Vị trí địa lý Huyện Hoài Đức là huyện ngoại thành phía Tây Hà Nội với vị trí địa lý: – Phía Bắc giáp huyện Đan Phượng. – Phía Tây giáp huyện Quốc Oai. – Phía Nam giáp quận Hà Đông. – Phía Đông giáp quận Nam Từ Liêm và Bắc Từ Liêm. Tổng diện tích đất tự nhiên là 8.245ha (chia ra vùng đồng bằng là 5.820 ha, vũng bãi là 2.425 ha) trong đó: – Đất nông nghiệp 4.217,09 ha, gồm đất canh tác 4.076,07 ha; đất nuôi trồng thủy sản 111,1 ha; đất nông nghiệp khác 29,02 ha. – Đất phi nông nghiệp 3.972 ha, gồm đất ở 1.967,48 ha; đất chuyên dùng 1.769,56 ha; đất tôn giáo 27,85 ha; đất nghĩa trang nghĩa địa 76,81 ha; đất sông và mặt đất chuyên dùng 124,85 ha; đất phi nông nghiệp khác 5,83 ha; đất chưa sử dụng 57,3 ha. Hoài Đức có nhiều tuyến giao thông huyết mạch quan trọng đi qua như Đại lộ Thăng Long, quốc lộ 32, các trục tỉnh lộ 422, 423 và nhiều dự án như đường vành đai 4 với các khu đô thị hiện đại tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động giao thương phát triển kinh tế, thương mại, xây dựng, dịch vụ, văn hóa và phát triển nông nghiệp hàng hóa, thương nghiệp, làng nghề.

50. 40 2.1.2. Đặc điểm kinh tế-xã hội Cơ cấu hành chính của huyện Hoài Đức bao gồm 19 xã và 1 thị trấn: An Khánh, An Thượng, Cát Quế, Di Trạch, Dương Liễu, Đắc Sở, Đông La, Đức Giang, Đức Thượng, Kim Chung, La Phù, Lại Yên, Minh Khai, Sơn Đồng, Song Phương, Tiền Yên, Vân Canh, Vân Côn, Yên Sở và thị trấn Trạm Trôi. Trong đó phân loại có 4 xã loại I, 13 xã loại II và 3 xã loại III. Năm 2015, kinh tế của huyện tiếp tục phát triển khá toàn diện trên tất cả các lĩnh vực, các chỉ tiêu pháp lệnh đều đạt và vượt kế hoạch Thành phố giao. Tổng giá trị sản xuất thực hiện 14.225 tỷ đồng, đạt 100% kế hoạch, tăng 12,6% so với cùng kỳ. Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn ước thực hiện gần 500 tỷ đồng, đạt 184% so với chỉ tiêu Thành phố giao, tăng 11,3% so với cùng kỳ. Trong đó, có 9/9 chỉ tiêu thu đạt và vượt kế hoạch Thành phố giao. Giá trị sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp đạt 4.828 tỷ đồng, tăng 11,4% so với cùng kỳ, đạt 100,1% kế hoạch năm. Các ngành nghề sản xuất, kinh doanh chủ yếu như: dệt may, sản xuất bánh kẹo, chế biến nông sản, đồ thờ tượng Phật, cơ khí tiếp tục giữ được thị trường góp phần tăng thu nhập và giải quyết việc làm thường xuyên tại các làng nghề cho khoảng 44.000 lao động với thu nhập bình quân trên 4 triệu đồng/người/tháng. Hoạt động hỗ trợ xây dựng thương hiệu, phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm được quan tâm, trong năm, đã phối hợp đăng ký nhãn hiệu tập thể cho sản phẩm điêu khắc mỹ nghệ đồ thờ, xét danh hiệu nghệ nhân Hà Nội cho 4 nghệ nhân tại xã Sơn Đồng. Các ngành thương mại, dịch vụ được quan tâm chỉ đạo, có tỷ trọng tăng trưởng khá, giá trị thương mại – dịch vụ đạt 6.210 tỷ đồng, tăng 16,7% so với cùng kỳ. Công tác xây dựng Nông thôn mới, thực hiện dồn điền đổi thửa được đẩy mạnh; xây dựng đường làng ngõ xóm được tập trung chỉ đạo và nhân dân trên

Cập nhật thông tin chi tiết về Tiêu Chuẩn Đại Biểu Hội Đồng Nhân Dân Cấp Xã / 2023 trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!