Xu Hướng 2/2023 # Thuyết Minh Sáng Kiến Một Số Kinh Nghiệm Giúp Học Sinh Lớp 6 Học Tốt Bài “Làm Quen Với Một Số Thiết Bị Máy Tính” Ở Trường Thcs Thị Trấn Tam Đường # Top 10 View | Phauthuatthankinh.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Thuyết Minh Sáng Kiến Một Số Kinh Nghiệm Giúp Học Sinh Lớp 6 Học Tốt Bài “Làm Quen Với Một Số Thiết Bị Máy Tính” Ở Trường Thcs Thị Trấn Tam Đường # Top 10 View

Bạn đang xem bài viết Thuyết Minh Sáng Kiến Một Số Kinh Nghiệm Giúp Học Sinh Lớp 6 Học Tốt Bài “Làm Quen Với Một Số Thiết Bị Máy Tính” Ở Trường Thcs Thị Trấn Tam Đường được cập nhật mới nhất trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TAM ĐƯỜNG TRƯỜNG THCS THỊ TRẤN THUYẾT MINH SÁNG KIẾN MỘT SỐ KINH NGHIỆM GIÚP HỌC SINH LỚP 6 HỌC TỐT BÀI "LÀM QUEN VỚI MỘT SỐ THIẾT BỊ MÁY TÍNH" Ở TRƯỜNG THCS THỊ TRẤN TAM ĐƯỜNG Tác giả/đồng tác giả: Nguyễn Văn Khoa. Trình độ chuyên môn: Cao đẳng. Chức vụ: Giáo viên. Nơi công tác: Trường THCS Thị Trấn. Thị Trấn, ngày 20 tháng 3 năm 2018 Thị Trấn, ngày 25 tháng 3 năm 2016 THUYẾT MINH SÁNG KIẾN MỘT SỐ KINH NGHIỆM GIÚP HỌC SINH LỚP 6 HỌC TỐT BÀI "LÀM QUEN VỚI MỘT SỐ THIẾT BỊ MÁY TÍNH" Ở TRƯỜNG THCS THỊ TRẤN TAM ĐƯỜNG. I. THÔNG TIN CHUNG 1. Tên sáng kiến: Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 6 học tốt bài "làm quen với một số thiết bị máy tính" ở trường THCS Thị Trấn Tam Đường. 2. Tác giả: 2.1. Họ và tên: Nguyễn Văn Khoa Năm sinh: 10/10/1987 Nơi thường trú: Thị Trấn Tam Đường - Tam Đường - Lai Châu. Trình độ chuyên môn: Cao đẳng. Chức vụ công tác: Giáo viên. Nơi làm việc: Trường THCS Thị Trấn. Điện thoại: 01683.223.123 Tỷ lệ đóng góp tạo ra sáng kiến: 100% 3. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Môn tin học lớp 6. 4. Thời gian áp dụng sáng kiến: Từ ngày 6 tháng 9 năm 2017 đến ngày 20 tháng 3 năm 2018. 5. Đơn vị áp dụng sáng kiến: Tên đơn vị: Trường THCS Thị Trấn Tam Đường. Địa chỉ: Thị Trấn Tam Đường - Tam Đường - Lai Châu. Điện thoại: 02313.879.106 II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN 1. Sự cần thiết, mục đích của việc thực hiện sáng kiến: 1.1. Sự cần thiết của việc thực hiện sáng kiến: Khi còn ngồi trên ghế của trường tiểu học thì các em học sinh đã được học tin học và làm quen với máy tính điện tử, cũng như làm quen với một số phần mềm máy tính. Nhưng phải đến khi bước vào lớp 6 các em mới được học và tìm hiểu các kiến thức sâu hơn về tin học cũng như tìm hiểu về cấu trúc chung của máy tính điện tử. Để học sinh có một kiến thức cơ bản nhất và mang lại cho các em một cái nhìn trực quan, sinh động về tin học và máy tính điện tử cũng như bước đầu làm quen với kĩ năng sử dụng máy tính phục vụ học tập và cuộc sống, chính vì thế để học sinh lớp 6 học tốt bộ môn Tin học thì tôi luôn chú trọng nhiều đến các tiết thực hành, đến việc cho học sinh tiếp cận với công nghệ mới và chỉ thực hành nhiều thì các em mới lĩnh hội được nhiều kiến thức. Vì vậy, để nâng cao chất lượng môn tin học nói chung và tin học 6 nói riêng tôi đã đăng kí nghiên cứu và thực hiện sáng kiến kinh nghiệm: Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 6 học tốt bài làm quen với một số thiết bị máy tính ở trường THCS Thị Trấn Tam Đường. 1.2. Mục đích của việc thực hiện sáng kiến: Giúp học sinh giảm áp lực và tăng hiệu quả nắm bắt kiến thức một cách logic và có hệ thống khi làm quen với một số thiết bị máy tính. Đặc biệt là tăng chất lượng đại trà, tăng tỷ lệ học sinh khá, giỏi và giảm tỷ lệ học sinh yếu môn tin học lớp 6 ở trường THCS Thị Trấn Tam Đường. 2. Phạm vi triển khai thực hiện: Học sinh khối lớp 6 trường THCS Thị Trấn Tam Đường - huyện Tam Đường - tỉnh Lai Châu. 3. Mô tả sáng kiến: a. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến: * Thực trạng: Khi dạy bài "Làm quen với một số thiết bị máy tính", có giáo viên còn không cho các em lên phòng máy mà chỉ giới thiệu nội dung, hình ảnh có trong sách giáo khoa, điều này sẽ khiến cho các em không có được hình ảnh trực quan nhất về các thiết bị máy tính. Hoặc giáo viên cho các em lên phòng máy nhưng chỉ giới thiệu sơ qua hình thức bề ngoài của một chiếc máy tính trên phòng máy, điều này có thể làm giảm khả năng nhận biết của một số học sinh vì kiểu dáng, màu sắc của các loại máy tính, các hãng máy tính khác nhau, ngoài ra còn những thiết bị bên trong mà giáo viên không dám tháo ra cho học sinh tìm hiểu. Ở khối lớp 6 trường THCS Thị Trấn Tam Đường, học sinh yếu môn Tin học chiếm tỷ lệ khá cao (khoảng trên 20%) nên khi dạy bài này giáo viên cần phải áp dụng một số phương pháp phù hợp với đối tượng học sinh của mình, để giúp các em nắm được các kiến thức cần thiết theo chuẩn kiến thức kỹ năng đề ra. Trong những sáng kiến có những phương pháp dạy môn tin thì chưa có sáng kiến nào nghiên cứu hoặc nghiên cứu nhưng không phù hợp với đối tượng học sinh vùng miền tại đơn vị trường cũng như tại huyện. * Ưu điểm của giải pháp cũ: Nhà trường có cơ sở vật chất khang trang, phòng máy và trang thiết bị phục vụ cho công tác dạy và học tương đối đầy đủ. Giáo viên bộ môn tin học còn khá trẻ, có năng lực, nhiệt tình trong công tác giảng dạy. Một số học sinh có tố chất thông minh có khả năng tiếp thu tốt, có điều kiện thực hành tại nhà, say mê môn học. * Những hạn chế của giải pháp cũ: Khi chưa áp dụng sáng kiến, sau khi học sinh học xong bài 4 trong sách giáo khoa. Để đánh giá học sinh qua các giải pháp cũ trước đây tôi đưa ra một số bài tập khảo sát như sau: + Bài 1: Hãy cho biết các thiết bị nhập dữ liệu cơ bản trên máy tính cá nhân. + Bài 2: Hãy phân biệt các bộ phận thuộc cấu trúc chung của máy tính điện tử do nhà toán học Von Neumann đưa ra. Qua thực tế giảng dạy các lớp đầu năm học 2017-2018, mức độ kiến thức của các em được giáo viên khảo sát có kết quả như sau: Tổng số HS được khảo sát Biết Hiểu Vận dụng SL TL (%) SL TL (%) SL TL (%) 122 106 86,9 96 78,7 83 68,0 Qua kết quả thu được qua khảo sát cho thấy, đa số học sinh chỉ đạt ở mức biết có thiết bị (đạt 86,9%), còn khi nhận biết các bộ phận thì còn rất nhiều học sinh chưa nắm được (chiếm 21,3%), số học sinh vận dụng để phân biệt được các bộ phận thì càng ít hơn (đạt 68,0%). Trong khi chuẩn kiến thức kĩ năng yêu cầu: Nhận biết được một số bộ phận cấu thành cơ bản của máy tính cá nhân(loại máy tính thông dụng hiện nay); Biết cách bật tắt máy tính; Làm quen với bàn phím và chuột. Vì vậy để học sinh hiểu và nhận biết được nhiều hơn một số bộ phận cấu thành cơ bản của máy tính cá nhân, tôi xin đưa ra "Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 6 học tốt bài làm quen với một số thiết bị máy tính" nhằm giúp các em phát triển năng lực quan sát, chú ý, ghi nhớ, tư duy, ngôn ngữ, kỹ năng tính toán, đặc biệt là giáo dục đạo đức cho học sinh, tính hướng đích, tự lập, tính tập thể. b. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến: * Tính mới: Qua quá trình nghiên cứu và thực hiện sáng kiến kinh nghiệm giúp giáo viên tự trau dồi kiến thức, kinh nghiệm, đổi mới phương pháp dạy học như: "Khảo sát tâm lí học sinh đối với bộ môn tin học", biện pháp này giúp giáo viên nắm bắt được tâm lí và ý thức học tập của học sinh đối với bộ môn và đưa ra các biện pháp giáo dục phù hợp và hiệu quả nhất với các đối tượng học sinh, tạo cho học sinh sự hứng thú trong quá trình học tập. "Trực quan hoá thông tin bài học", biện pháp này giúp tất cả các đối tượng học sinh tăng khả năng tiếp nhận và ghi nhớ kiến thức bài học."Trò chơi học tập", biện pháp này giúp mang lại niềm vui, sự thỏa mãn cho học sinh tham gia, kết quả của trò chơi học tập thể hiện sự cố gắng trong suy nghĩ, tìm tòi sáng tạo trong việc nắm bắt kiến thức và trong tính hợp tác của các nhóm học sinh. Từ đó giúp học sinh tiếp nhận kiến thức nhanh, nhớ lâu và vận dụng tốt trong thực tiễn. * Cách thực hiện: Qua kinh nghiệm của bản thân tôi nhận thấy để giúp học sinh lớp 6 học tốt bài "làm quen với một số thiết bị máy tính" cần thực hiện tốt các biện pháp sau: Biện pháp 1: Khảo sát tâm lí học sinh đối với môn tin học: Qua khảo sát kết quả thu được là nhiều em chưa được nhìn thấy máy tính bao giờ, chưa biết máy tính hoạt động như thế nào và làm thế nào để thao tác được với máy tính. Nên nhiều học sinh rất ngại thực hành mà đa phần chỉ có học sinh đã từng được tiếp cận với máy tính nhiều và học sinh khá giỏi thực hành, số còn lại chỉ quan sát vì vậy sẽ không thu hoạch được gì. Trong dạy học người giáo viên phải biết sáng tạo, biết vận dụng linh hoạt, thâm nhập tâm lí học sinh, từ đó đưa ra những biện pháp hiệu quả nhất. Tôi luôn giáo dục ý thức học tập của học sinh ở bộ môn mình, tạo cho học sinh sự hứng thú trong học tập bộ môn từ đó sẽ giúp cho học sinh có ý thức vươn lên. Trong mỗi tiết dạy tôi luôn liên hệ nhiều kiến thức vào thực tế để học sinh thấy được ứng dụng của tin học và tầm quan trọng của môn Tin học trong thực tiễn và tương lai sau này. Kế tiếp là phải tạo cho không khí lớp học thoải mái nhẹ nhàng, phải làm cho học sinh thương yêu, tôn trọng mình. Không nên dùng biện pháp mạnh khi học sinh không chép bài, học bài vì làm như thế học sinh sẽ không thu hoạch được gì. Luôn động viên đúng mức đối với học sinh chưa hoặc không làm bài tập, hay là với các em có làm nhưng bị sai, trên cơ sở đó giáo viên có thể chỉ ra chỗ sai, chỗ thiếu cho từng học sinh. Bên cạnh đó khen ngợi, khích lệ kịp thời đối với từng học sinh tích cực, làm cho học sinh có lòng tin vào bản thân mình. Đánh giá: Qua thời gian áp dụng biện pháp, tôi nhận thấy giờ thực hành thực sự thu hút các đối tượng học sinh hơn chứ không còn là giờ học của các đối tượng học sinh khá giỏi. Học sinh hoạt động tích cực hơn nhiều so với đầu năm. Biện pháp 2: Trực quan hoá thông tin bài học: Trực quan hoá thông tin bài học được hiểu là một quá trình thông qua các tài liệu học tập như các dạng hình ảnh, âm thanh, mô hình và vật thật,... với sự hỗ trợ của dụng cụ trực quan. Có thể nói khi sử dụng dụng cụ trực quan có nhiều thuận lợi hơn hẳn so với dạy học bằng ngôn ngữ thông thường bởi nó sẽ giúp làm đơn giản các khái niệm, làm sáng tỏ các chi tiết của một khái niệm. Đặc biệt là tranh ảnh trực quan làm tăng khả năng tiếp nhận và ghi nhớ trong học tập. Từ những ưu điểm trên, tôi nhận thấy nếu áp dụng vào dạy học nhờ dụng cụ trực quan là máy chiếu, tranh ảnh, biểu tượng, vật thật,.... vào dạy Tin học có hiệu quả rất cao. Trước khi sử dụng dụng cụ trực quan cho một bài học thì trước hết giáo viên cần xác định dụng cụ trực quan đó là gì và phục vụ cho những nội dung kiến thức nào trong bài học. Tiếp đến là công tác chuẩn bị với dụng cụ trực quan. Bàn phím có dây Bàn phím không dây Một số mẫu bàn phím khác Bàn phím trên máy tính xách tay Hình 1 Đối với thiết bị nhập dữ liệu là chuột máy tính tôi cũng thực hiện tương tự, khi giới thiệu các bộ phận của chuột máy tính, giáo viên phải mô tả con chuột, có mấy loại chuột, trên thân chuột có những phím nào, chức năng của phím đó, tay đặt lên con chuột đó như thế nào và hướng dẫn học sinh nhận biết cũng như cách thức kết nối và sử dụng. Một số mẫu chuột có dây Một số mẫu chuột không dây Hình 2 Khi dạy mục "Thân máy tính" tôi cho học sinh quan sát hình ảnh bộ xử lí của một số hãng nổi tiếng hiện nay trên thị trường như: Intel, AMD, SiS, VIA, nVIDIA, ATI, để các em có thêm kiến thức phong phú về bộ xử lí. Hình 3(Các loại CPU thông dụng) Đối với bộ nhớ ngoài(HDD) của máy tính cũng tương tự, học sinh được quan sát, tiếp xúc với nhiều loại ổ cứng khác nhau hiện nay cả về hãng sản xuất cũng như dung lượng nhớ. Từ đó học sinh ngoài việc nhớ được tác dụng của bộ nhớ thì học sinh còn nhận biết được rằng hiện nay, trên thị trường có khá nhiều nhà sản xuất khác nhau bao gồm Samsung, Transcend, Toshiba, Western Digital, Seagate, Adata, Hình 4(Các loại bộ nhớ ngoài thông dụng) Đối với bộ nhớ trong(RAM) của máy tính cũng tương tự, học sinh được quan sát nhiều loại RAM khác nhau hiện nay cả về hãng sản xuất cũng như dung lượng nhớ và quan trọng nhất là học sinh nắm được RAM là bộ nhớ truy cập ngẫu nhiên, là nơi máy tính lưu trữ thông tin hiện hành để CPU có thể truy xuất để xử lý. Dữ liệu trên RAM không được lưu lại khi tắt máy tính. Dung lượng RAM càng lớn thì lượng công việc nó giải quyết được càng nhiều. Hình 5(Các loại bộ nhớ trong thông dụng) Đối với mục"Các thiết bị xuất dữ liệu" tôi cũng sử dụng các hình ảnh phù hợp. Bằng quan sát trực quan như thế học sinh sẽ ghi nhớ kiết thức tốt nhất. Đánh giá: Sau khi áp dụng biện pháp trong đề tài, số học sinh biết phân biệt các thiết bị của máy tính tăng lên rõ rệt. Tỉ lệ khá giỏi đã được nâng lên so với chất lượng khảo sát đầu năm học: Tăng 8% Tỉ lệ yếu kém giảm: 10% Tuy nhiên một số học sinh vẫn chưa xác định đúng các vị trí thiết bị. Như vậy bước đầu việc vận dụng kiến thức, kĩ năng của các em để giải quyết vấn đề và làm bài tập đã có hiệu quả rõ rệt. Biện pháp 3: Trò chơi học tập: Để tiết học cuốn hút và sinh động giúp học sinh tiếp thu, ghi nhớ và vận dụng tốt kiến thức vào thực tế, trong bài giảng cần tổ chức cho học sinh tham gia các trò chơi học tập. Đối với bài này tôi tổ chức cho học sinh tham gia trò chơi học tập "Tìm từ cho tranh". +Mục đích: Giúp học sinh nhận biết và gọi tên các thiết bị máy tính, củng cố kiến thức đã học. + Chuẩn bị: Một số hình ảnh về các thiết bị máy tính như: Màn hình, bàn phím, chuột, bộ nhớ ngoài, bộ nhớ trong. Các từ tương ứng với các thiết bị, nam châm. + Số người chơi: Theo nhóm(cả lớp dưới hình thức thi đua 2 đội). + Luật chơi: Phải tìm đúng các từ phù hợp để gắn vào các hình. + Cách chơi: Giáo viên chiếu các hình lên bảng, các thẻ tên để ở dưới bàn, mỗi nhóm 6 - 7 thẻ (thừa 1 - 2 thẻ). Học sinh xếp thành 2 hàng dọc hoặc những người tham gia chơi của 2 đội ngồi ở phía ngoài 2 dãy bàn để chạy lên cho nhanh. Khi giáo viên hô: "bắt đầu" thì lần lượt từng đội một người lên tìm từ và gắn vào các tranh tương ứng. Sau khi gắn xong về chỗ, bạn khác mới được lên. Đội nào xếp xong trước và đúng tất cả các từ là thắng cuộc. Đánh giá: Sau mỗi lần chơi giáo viên đánh giá việc thực hiện trò chơi của học sinh hoặc cho học sinh tự đánh giá lẫn nhau những gì bạn đã thực hiện trong trò chơi. Thông qua cách chơi như vậy giáo viên có thể đánh giá được mức độ hiểu bài của học sinh, từ đó đưa ra biện pháp bổ sung những kiến thức mà học sinh chưa nắm chắc. 4. Hiệu quả do sáng kiến đem lại: Sau khi áp dụng sáng kiến, để kiểm tra khả năng lĩnh hội của học sinh tôi đưa ra một số bài tập khảo sát như sau: + Bài 1: Hãy cho biết các thiết bị nhập dữ liệu cơ bản trên máy tính cá nhân. + Bài 2: Hãy phân biệt các bộ phận thuộc cấu trúc chung của máy tính điện tử do nhà toán học Von Neumann đưa ra. Kết quả là học sinh đã không còn lúng túng trong quá trình làm bài tập. Học sinh đã nắm được các kiến thức và kỹ năng cần thiết, các em hiểu được các khối chức năng chính của máy tính cá nhân và nhận biết được các thiết bị thuộc các khối chức năng. Chất lượng bài kiểm tra sau khi đã áp dụng sáng kiến năm sau cao hơn năm trước cụ thể: Qua thực tế các lớp dạy ở năm học 2017-2018, mức độ kiến thức học sinh đạt được khi khảo sát thu được kết quả như sau: Tổng HS Biết Hiểu Vận dụng SL TL (%) SL TL (%) SL TL (%) 122 122 100 118 96,7 111 91,0 Sau khi áp dụng những biện pháp trên, tôi nhận thấy rằng mình đã áp dụng đúng với đối tượng học sinh của mình. Đa số học sinh đã nắm được kiến thức và đạt được các nội dung kiến thức theo yêu cầu của chuẩn kiến thức, kĩ năng đề ra. 5. Đánh giá về phạm vi ảnh hưởng của sáng kiến: Sáng kiến đã được áp dụng có hiệu quả với học sinh khối lớp 6 tại trường THCS Thị Trấn và có thể triển khai, áp dụng cho các thầy cô giáo đang giảng dạy môn tin học và học sinh lớp 6 tại các trường THCS trong huyện. 6. Các thông tin cần được bảo mật: Không có. 7. Kiến nghị, đề xuất: a) Về danh sách cá nhân được công nhận tác giả sáng kiến: Nguyễn Văn Khoa. b) Kiến nghị khác: Kiến nghị với Phòng GD&ĐT Tam Đường: Có kế hoạch trang bị thêm phòng máy vi tính cho các trường THCS để đẩy nhanh và mạnh việc ứng dụng CNTT vào dạy học. Kiến nghị với các cấp: Tổ chức kì thi Olympic tin học dành cho học sinh THCS hàng năm. 8. Tài liệu kèm: Không có. XÁC NHẬN CỦA NHÀ TRƯỜNG TÁC GIẢ SÁNG KIẾN Nguyễn Văn Khoa XÁC NHẬN CỦA HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN CẤP HUYỆN

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Giúp Học Sinh Lớp 6 Giải Tốt Bài Toán Tìm X

giúp học sinh lớp 6 giải tốt bài toán tìm x Phần I: Mở đầu I. Bối cảnh của đề tài Tại cơ sỏ lơi tôi đang công tác và làm việc, các em học sinh đều là học sinh dan tộc thiểu số, trình độ nhận thức chậm đặc biệt là trong tính toán. Đối với môn toán việc tính toán của các em học sinh còn rất yếu, và trong các dạng toán thì dạng toán tìm x là một trong những dạng khá quan trọng và các em học sinh hầu như gặp rất nhiều khó khăn trong việc giải đối với dạng toán này. Tôi thực hiện đề tài này giúp cho các em học sinh ngay từ khi học lớp 6 được rèn luyện thành thạo với dạng toán này. II. Lý do chọn chuyên đề tài: Trong phần số học lớp 6 có rất nhiều dạng bài toán quan trọng như thực hiện phép tính, tính giá trị của biểu thức, tìm giá trị lớn nhất nhỏ nhất, tìm x…Dạng bài toán tìm x là một trong những dạng toán rất quan trọng và xuyên suốt trong chương trình toán phổ thông đến chuyên nghiệp. Đối với học sinh dân tộc thiểu số việc học toán đã rất khó đối với học sinh vì phải đòi hỏi sự tư duy cao hơn, các em thường chỉ làm được các bài toán ở dạng nhận biết hoặc thông hiểu ( các bài tập tương tự). Vì thế với dạng bài toán tìm x để các em giải tốt được ta cần làm nhiều bài tập, nhiều dạng khác nhau dể học sinh có thể áp dụng tương tự dể làm. Qua thực tế giảng dạy Toán 6 tôi thấy,rất nhiều em không giải được bài toán tìm x (phương trình bậc nhất một ẩn ) cũng vì những lí do trên. Chính vì thế tôi đưa ra một số bài toán tìm x trong chương trình số học lóp 6 và cách giải để giúp các em học sinh giả tốt được dạng toán này, làm tiền đề cho các em học lên lớp trên không còn khó khăn trong việc giải toán tìm x. III. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu + Khách thể: Học sinh lớp 6 + Đối tượng nghiên cứu: Một số dạng bài toán “ Tìm x trong chương trình số học lớp 6 + Phạm vi nghiên cứu: Các bài toán không vượt quá chương trình toán lớp 6. Đề tài tôi thực hiện cho học sinh học lớp 6 và áp dụng cho tất cả các đối tượng khá giỏi và đặc biệt là học sinh trung bình IV. Mục đích nghiên cứu: Củng cố cho học sinh một số kiến thức để giải một số dạng giải bài toán tìm x trong phần số học. Cũng từ đó mà phát triển tư duy lôgic cho học sinh, phát triển năng lực giải toán cho các em, giúp cho bài giải của các em hoàn thiện hơn, chính xác hơn và còn giúp các em tự tin hơn khi làm toán. Phần II: Nội dung Chương I: Cơ sở thực tiễn Với học sinh lớp 6 thì việc giải dạng toán “ Tìm x ” gặp rất nhiều khó khăn do dạng toán tìm x không có một quy tắc nhất định nào, học sinh tại cơ sở còn nhận thức chậm chỉ làm được các bài tập dạng tương đương. Chính vì vậy mà khi gặp dạng toán này học sinh thường ngại, lúng túng, khi giải hay mắc sai lầm. Khi chưa có những hướng dẫn cụ thể với từng dạng bài toán học sinh giải thường vướng mắc như sau: Ví dụ 1: Tìm số tự nhiên x biết.7x – 8 = 713 Bài toán tìm x trên không giông như dạng cơ bản đã học ở tiểu học dẫn đến học sinh không biết cách thực hiện. 7x – 8 = 713 7x = 713 + 8 7x = 721 Khi tôi áp dụng đề tài này vào quá trình hướng dẫn học sinh giải được bài, hiểu rất rõ cơ sở của việc giải bài toán đó. Còn ở ví dụ 2 các em đã biết lựa chọn ngay cách giải nhanh (và hiểu được cơ sở của phương pháp giải đó là áp dụng tính chất; hai số đối nhau có giá trị tuyệt đối bằng nhau). Cụ thể : Chương II: Kết quả điều tra khảo sát Qua khảo sát khối 6 trường THCS Trung Đồng với đề bài: Tìm x biết: 7x – 8 = 713 ( 5 điểm) | 2x – 3| = 5 ( 5 điểm) Tôi thấy học sinh còn rất lúng túng về phương pháp giải, chưa nắm vững phương pháp giải đối với từng dạng bài, quá trình giải chưa chặt chẽ, chưa lựa chọn được phương pháp giải nhanh, hợp lí. Kết quả đạt được như sau: Giỏi Khá Trung bình Yếu và kém Khối 6 10% 21% 20% 49% Kết quả thấp là do học sinh vướng mắc những điều tôi đã nêu ra ( ở phần trên) và phần lớn các em chưa biết cách giải Chương III: giải pháp Yêu cầu học sinh nắm vững và ghi nhớ cách giải các bài toán tìm x cơ bản đã học ở tiểu học, một điều khó khăn khi dạy học sinh lớp 6 về vấn đề này đó là học sinh chưa được học về phương trình, bất phương trình, các phép biến đổi tương đương, hằng đẳng thức vì thế học sinh cần nắm vững được các kiến thức cơ bản sau: Quy tắc bỏ dấu ngoặc, qui tắc chuyển vế. Tìm x trong đẳng thức: Thực hiện phép tính , chuyển vế đưa về dạng cơ bản đã học ở tiểu học Định lí và tính chất vị giá trị tuyệt đối. |A| = |-A| |A| ³ 0 II. Giải pháp 1. Trước khi có quy tắc chuyển vế a, Các dạng toán tìm x * Dạng tìm x cơ bản đã học ở tiểu học, các em đã biết giải các bài toán tìm x cơ bản: a + x = b (1) a – x = b (2) x – a = b (3) x.a = b (4) x : a = b (5) a : x = b (6) Các em phải thuộc 6 qui tắc tìm x ở dạng này(ở tiểu học các em đã học) * Dạng mở rộng Thường gặp là các dạng kết hợp giữa (1);(2);(3) với (4);(5);(6): Ví dụ với các dạng tổng quát: a, a + bx = c ; a – bx = c b, a. ( x + b ) = c ; a.(x – b)= c c, ax – b = c ; ax + b= c * Dạng tích: (ít gặp,thường là dành cho học sinh giỏi): (x+a)(b+x)(x-c) = 0 b, Cách giải. * Dạng cơ bản:Các em thực hiện đọc qui tắc rồi tự giải: Ví dụ: a, x- 5 = 7 x = 7+5 x = 12 b, x : 3 = 9 x = 9 . 3 x = 27 c, x.5 = 25 x = 25 : 5 x = 5 * Dạng mở rộng: Bước1:Tìm phần ưu tiên – Đối với dạng này, chúng ta yêu cầu các em thực hiện ưu tiên tìm Phần trong ngoặc ,hoặc Tích, hoặc Thương có chứa x trước Sau khi rút gọn vế phải,nhớ yêu cầu các em phân tích: “ Tìm phần ưu tiên” ,nếu có, tiếp theolàm như thế cho đến khi được kết quả là bài toán cơ bản. Ví dụ 1: Tìm số tự nhiên x biết. a, ( x- 34 ). 2 = 10 Phần ưu tiên trong ví dụ trên là phần trong ngoặc có chứa x: ( x – 34) ( x -34 ) = 10 :2 x -34 = 5 Ví dụ 2: Tìm số tự nhiên x biết. 7x – 8 = 713 Phần ưu tiên trong ví dụ trên là tích có chứa x: 7x 7x = 713 + 8 7x = 721 Như vậy ta đã đưa bài toán về dạng cơ bản như vậy các em có thể thực hiện dễ dàng. Ví dụ 3: Tìm số tự nhiên x biết. ( 6x – 39 ) : 3 = 201 Phần ưu tiên trong ví dụ trên là phần trong ngoặc: ( 6x – 39) 6x – 39 = 201. 3 6x – 39 = 603 Phần ưu tiên trong phần đã thu gọn trong ví dụ trên lại là: 6x 6x = 603 + 39 6x = 642 Như vậy ta đã đưa bài toán về dạng cơ bản như vậy các em có thể thực hiện dễ dàng. Bước2:Giải bài toán cơ bản Phần này, các em đã biết cách làm khi học tiểu học. Nếu các em quên chúng ta gợi ý : Xem số phải tìm là số gì (thừa số,số hạng,) trong phép tính Đọc qui tắc tìm (6 qui tắc mà các em đã biết) Giải Trả lời Qua bước 2 các em có thể giải song bài toán tìm x trên một các dễ dàng Ví dụ 1: x -34 = 5 x = 5+ 34 x = 39 Ví dụ 2: 7x = 721 x = 721 : 7 x = 13 Ví dụ 3: 6x = 642 x = 642 : 6 x = 17 * Dạng tích: Từ (x-a)(x -b)(x-c)=0 ta suy ra Hoặc x-a=0, hoặc x-b=0, hoặc x-c=0, từ đó suy ra kết quả và trả lời Ví dụ 1: Tìm số tự nhiên x biết (x – 3)( x -4 ) ( 5- x) = 0 Ví dụ 2: Tìm số tự nhiên x biết (3x – 9)( 2x + 6 ) = 0 2. Sau khi có quy tắc chuyển vế Quy tắc chuyển vế: Khi chuyển một số hạng tử từ vế này sang vế kia của một đẳng thức, ta phải đổi dấu các hạng tử đó: dấu “ +” đổi thành dấu “ – “ và dấu “ – “ đổi thành dấu “ + “. Khi học sang chương số nguyên các em được học về quy tắc chuyển vế. Lúc này việc thực hiện các bài toán tìm x dễ dàng hơn, nhanh hơn, dễ hiểu hơn đối với các em. a, Các bước giải Bước 1: áp dụng quy tắc chuyển vế Chuyển cấc hạng tử tự do sang vế phải, giữu nguyên các hạng tủ chứa x ở vế trái.(Đối với các bài toán có chứa dấu ngoặc thì phải phá ngoặc trước khi thực hiện quy tắc chuyển vế) Bước2:Giải bài toán cơ bản Phần này, các em đã biết cách làm khi học tiểu học. Nếu các em quên chúng ta gợi ý : Xem số phải tìm là số gì (thừa số,số hạng,) trong phép tính Đọc qui tắc tìm (6 qui tắc mà các em đã biết) Giải Trả lời Qua bước 2 các em có thể giải song bài toán tìm x trên một các dễ dàng b, Một số ví dụ cụ thể Ví dụ 1: Tìm số nguyên x biết 3x + 82 = -8 3x = -8 -82 ( chuyển 82 sang vế phải đồng thời đổi dấu) 3x = – 90 x = -30 Ví dụ 2: Tìm số nguyên x biết -7x + 25 = -8.3 -7x + 25 = -24 (chuyển 25 sang vế phải đồng thời đổi dấu) -7x = – 24 – 25 -7x = – 49 x = 7 3. Bài toán tìm x có chứa dấu GTTĐ Cốt lõi của đường lối giải bài tập tìm x trong đẳng thức chứa dấu giá trị tuyệt đối, đó là tìm cách bỏ dấu giá trị tuyệt đối. Đặt câu hỏi bao quát chung cho bài toán: Đẳng thức có xảy ra không? Vì sao? Bài giải Vậy x = 8 hoặc x = 2 4. Một số bài tập điển hình a. bài tập có lời giải Bài 1.Tìm x ,biết: Giải Chú ý Với dạng có rất nhiều dấu ngoặc như ví dụ trên ta yêu cầu học sinh ưu tiên tìm phần trong ngoặc theo thứ tự: Bài 2. Tìm x,biết :(x-2)(x-4)(x-8)=0 Giải (x-2)(x-4)(x-8)=0 hoặc x – 2 = 0 x = 2 hoặc x – 4 = 0 x = 4 hoặc x – 8 = 0 x = 8 Vậy : x Bài 3. Tìm số nguyên x biết ( bài toán chưa dấu GTTĐ) với x là số nguyên Vậy x = -4 và x = Với bài toán có chứa dấu GTTĐ các em cần áp dụng định nghĩa gí trị tuyệt đối của một số nguyên a để phá dấu giá trị truyệt đối. Bài 4. Tìm x để Gải (x – 1) ( x+3) 0 và x + 3 không có giá trị của x nào thỏa mãn điều kiện. Lưu ý : Với bài toán tìm điều kiện của x thì x nhận giá trị là tập nghiệm. Bài 5. Tìm x biết a, b, b, Bài tập không có lời giải Bài 1. Tìm x biết a, b, c, d, Bài 2. Tìm x biết ( Dành cho học sinh khá giỏi) a, b, c, Bài 3. Tìm số nguyên n để 3n – 5 chia hết cho n -1 ( Dành cho học sinh khá giỏi) Bài 4. Tìm số nguyên n để : a, b, tối giản ( Dành cho học sinh khá giỏi) Bài 5. Tìm số nguyên x biết ( Dành cho học sinh khá giỏi) a, b, Bài 6. Tìm số tự nhiên n, để mỗi biểu thức sau là một số tự nhiên ( Dành cho học sinh khá giỏi) a, HD: suy ra n = 2 ; n = 8 b, HD: suy ra n+2 là ước của 22, hơn nữa n +2 3. Do đó n = 9 Phần III: Kết luận Những bài học kinh nghiệm Khi nghiên cứu đề tài này tôi đã rút ra một số bài học cho bản thântrong việc bồi dưỡng học sinh giỏi và phụ đạo học sinh yếu kém. Những bài học đó là: 1 Hệ thống kiến thức bổ trợ cho dạng toán sắp dạy. 2 Hệ thống các phương pháp cơ bản để giải loại toán đó. 3 Khái quát hoá, tổng quát hoá từng dạng, từng loại bài tập. II. ý nghĩa của sáng kiến kinh nghiệm Khi áp dụng đề tài nghiên cứu này vào giảng dạy học sinh đã biết cách làm các dạng bài toán tìm x một cách nhanh và gọn. Học sinh không còn lúng túng và thấy ngại khi gặp dạng bài tập này. Kết quả nhận được như sau: Học sinh của tôi không còn lúng túng về phương pháp giải cho từng dạng bài trên. Biết lựa chọn cách giải hợp lí, nhanh, gọn. Hầu hết đã trình bày được lời giải chặt chẽ. III. Khả năng ứng dụng triển khai Với đề tài này giáo viên có thể thự hiện luyện tập cho các em trên lớp cũng như trong các buổi học bồi dưỡng hay phụ đạo một các hệ thống. IV. Những kiến nghị đề xuất. Tôi xin chân thành cảm ơn. Trung Đồng, ngày 09 tháng 11 năm 2010 Người viết Nguyễn Công Trường Tài liệu tham khảo 1, Sách giáo khoa toán 6 tập 1, tập 2 2, Sách bài tập toán 6 tập 1, tập 2 3, Luyện tập toán 6 (Tác giả Nguyễn Bá Hòa) 4, Toán nâng cao và các chuyên đề toán 6 5, Tuyển chọn 400 bài tập toán 6 Tiêu đề Trang Phần I: Mở đầu 1 Phần II: Nội dung 2 Chương I: Cơ sở thực tiễn 2 Chương II: Kết quả điều tra khảo sát 2 Chương III: giải pháp 4 Phần III: Kết luận 10

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Lớp Bốn Học Tốt Môn Toán

Hồ Chủ tịch – người thầy vĩ đại của Đảng, của Cách mạng Việt Nam đã nói: “Muốn có đạo đức Cách mạng thì phải có tri thức”.

Điều này chứng tỏ tri thức trong xã hội là chìa khóa vạn năng để mở tất cả bí mật trong vũ trụ bao la này.

Muốn có tri thức thì phải học và học thật tốt. Việc học phải trải qua muôn vàn gian khổ, quá trình thử thách, nghiền ngẫm, suy luận, tìm tòi, kể cả phải vượt qua thác ghềnh, chông gai mới có được.

Một trong những nhiệm vụ quan trọng bậc nhất của nhà trường hiện nay là hình thành, phát triển trí tuệ cho học sinh. Những nghiên cứu gần đây, Hồ Ngọc Đại cho thấy khi thực hiện nhiệm vụ đó bằng cách tổ chức hoạt động học tập ngay từ khi trẻ tới trường tiểu học, môn Toán chiếm một vị trí hết sức quan trọng. Toán học với tư cách là một môn khoa học nghiên cứu về một số mặt của thế giới hiện thực, có một hệ thống kiến thức cơ bản và phương pháp nhận thức cơ bản rất cần thiết cho đời sống sinh hoạt và lao động. Nó còn là phương tiện, là công cụ cần thiết để học các môn học khác. Đồng thời nó góp phần to lớn vào việc phát triển tư duy lo-gic, bồi dưỡng và phát triển các thao tác trí tuệ: trừu tượng hóa, khái quát hóa, phân tích, tổng hợp, so sánh, Mặt khác, môn Toán còn góp phần quan trọng vào việc phát triển tư duy độc lập, linh hoạt, sáng tạo trong việc hình thành các phẩm chất của con người lao động mới.

Hiện nay, việc nâng cao chất lượng dạy và học của giáo viên và học sinh là mối quan tâm có tầm quan trọng hàng đầu bao trùm và chi phối mọi hoạt động khác. Trong các môn học ở tiểu học thì môn Toán giúp học sinh nắm được kiến thức Toán học cơ bản, có cơ sở học tốt các môn khác, giúp các em năng động, sáng tạo, tự tin hơn. Chương trình Toán lớp 4 là sự kế thừa, tiếp tục của toán 1, 2, 3. Nội dung đã có những thay đổi mới, tăng cường thực hành, ứng dụng kiến thức mới giúp học sinh phát huy được năng lực, tích cực hơn trong việc học, các bài tập vừa sức với học sinh.

I. TÊN ĐỀ TÀI: MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP BỐN HỌC TỐT MÔN TOÁN II. ĐẶT VẤN ĐỀ: Hồ Chủ tịch - người thầy vĩ đại của Đảng, của Cách mạng Việt Nam đã nói: "Muốn có đạo đức Cách mạng thì phải có tri thức". Điều này chứng tỏ tri thức trong xã hội là chìa khóa vạn năng để mở tất cả bí mật trong vũ trụ bao la này. Muốn có tri thức thì phải học và học thật tốt. Việc học phải trải qua muôn vàn gian khổ, quá trình thử thách, nghiền ngẫm, suy luận, tìm tòi, kể cả phải vượt qua thác ghềnh, chông gai mới có được. Một trong những nhiệm vụ quan trọng bậc nhất của nhà trường hiện nay là hình thành, phát triển trí tuệ cho học sinh. Những nghiên cứu gần đây, Hồ Ngọc Đại cho thấy khi thực hiện nhiệm vụ đó bằng cách tổ chức hoạt động học tập ngay từ khi trẻ tới trường tiểu học, môn Toán chiếm một vị trí hết sức quan trọng. Toán học với tư cách là một môn khoa học nghiên cứu về một số mặt của thế giới hiện thực, có một hệ thống kiến thức cơ bản và phương pháp nhận thức cơ bản rất cần thiết cho đời sống sinh hoạt và lao động. Nó còn là phương tiện, là công cụ cần thiết để học các môn học khác. Đồng thời nó góp phần to lớn vào việc phát triển tư duy lo-gic, bồi dưỡng và phát triển các thao tác trí tuệ: trừu tượng hóa, khái quát hóa, phân tích, tổng hợp, so sánh,Mặt khác, môn Toán còn góp phần quan trọng vào việc phát triển tư duy độc lập, linh hoạt, sáng tạo trong việc hình thành các phẩm chất của con người lao động mới. Hiện nay, việc nâng cao chất lượng dạy và học của giáo viên và học sinh là mối quan tâm có tầm quan trọng hàng đầu bao trùm và chi phối mọi hoạt động khác. Trong các môn học ở tiểu học thì môn Toán giúp học sinh nắm được kiến thức Toán học cơ bản, có cơ sở học tốt các môn khác, giúp các em năng động, sáng tạo, tự tin hơn. Chương trình Toán lớp 4 là sự kế thừa, tiếp tục của toán 1, 2, 3. Nội dung đã có những thay đổi mới, tăng cường thực hành, ứng dụng kiến thức mới giúp học sinh phát huy được năng lực, tích cực hơn trong việc học, các bài tập vừa sức với học sinh. Để đạt được mục tiêu chương trình đề ra, Gv phải nắm chắc mục tiêu, nội dung đề khai thác trong từng bài. Điều quan trọng là GV phải nghiên cứu, đầu tư xây dựng phương pháp dạy và học, giao việc vừa sức cho từng đối tượng học sinh nhằm giúp học sinh tích cực trong hoạt động học tập, vận dụng được thành thạo những nội dung trong từng bài. Xuất phát từ vị trí và tầm quan trọng của môn toán ở tiểu học, xuất phát từ thực trạng dạy và học trong chương trình toán 4, qua nghiên cứu khả năng ứng dụng cụ thể, thiết thực của vấn đề tôi đã mạnh dạn nghiên cứu đề tài " Một số biện pháp giúp học sinh lớp Bốn học tốt môn toán". Với mong muốn nâng cao hiệu quả trong công tác giảng day. III. CƠ SỞ LÍ LUẬN: Toán học là một môn khoa học đòi hỏi sự chính xác cao. Đặc biệt người học toán cần có kĩ năng làm toán tốt thì mới đem lại kết quả cao trong học tập. Mặt khác, học giỏi toán cũng là công cụ cần thiết để học các môn học khác cũng như nhận thức thế giới xung quanh và thực tiễn một cách có hiệu quả. Khả năng giáo dục nhiều mặt của môn toán rất to lớn, nó là tiền đề để phát triển tư duy logich đồng thời bồi dưỡng và phát triển những thao tác mang tính trí tuệ để nhận thức thế giới hiện thực như: trừu tượng hóa, khái quát hóa, phân tích tổng hợp, dự đoán, chứng minh. Nó có vai trò to lớn trong việc rèn luyện phương pháp suy luận, giải quyết vấn đề có căn cứ khoa học, toàn diện, chính xác; nó có nhiều tác dụng trong việc phát triển trí thông minh, tư duy độc lập, linh hoạt sáng tạo, góp phần giáo dục ý chí và những đức tính tốt như cần cù, nhẫn nại của con người. IV.CƠ SỞ THỰC TIỄN: Đặc điểm tình hình chung của lớp: 1. Thuận lợi: - Đa số học sinh có đầy đủ sách vở, đồ dùng học tập. - Cơ sở vật chất đầy đủ, khang trang, đầy đủ điều kiện ánh sáng để học sinh học tập. - Hầu hết các em có lòng say mê học toán, thích tìm tòi, khám phá điều mới lạ trong toán học. 2. Khó khăn: - Mức độ lĩnh hội kiến thức của các em không đồng đều. - Một số em còn ham chơi, thiếu chuyên cần trong học tập. - Một số phụ huynh thiếu quan tâm đến việc học tập của con em mình. 3. Thực trạng: Qua giảng dạy nhiều năm, tôi thấy thực trạng về chất lượng của học sinh lớp Bốn như sau: - Nhân chia các em ít thực hiện được, trong lớp có 30 em chỉ có 1/3 số học sinh làm được, theo kịp được chương trình, còn lại 2/3 là làm chưa được. - Còn nhiều em cộng trừ rất chậm, mau quên những kiến thức vừa lĩnh hội được, chưa có kĩ năng xác định yêu cầu bài toán thuộc dạng cơ bản, vận dụng kiến thức ở mức độ thấp ( máy móc, thuộc quy tắc nhưng có khi không áp dụng được). - Giải bài toán có từ hai phép tính trở lên một cách khó khăn, hầu hết chưa biết tìm lời giải chính xác, đơn vị chư thích hợp. GIỎI KHÁ TB YẾU SL TL SL TL SL TL SL TL 3 10% 10 33.3% 6 20% 11 36.7% 4 . Nguyên nhân: Qua điều tra tôi thấy học sinh yếu toán do các nguyên nhân sau: 4.1. Học sinh ít thuộc bảng nhân, bảng chia từ lớp 2, 3. - Hầu hết học sinh ít thuộc bảng nhân, bảng chia nên thực hiện phép nhân, phép chia vô cùng khó khăn; không hiểu được 28 : 4 là được bao nhiêu lần. - Nhân chia một chữ số đã khó với học sinh. Vậy mà đến lớp 4 các em phải nhân chia 2, 3 hoặc nhiều chữ số nên lại càng khó hơn. Do đó học sinh khó có thể hiểu được cách làm một cách nhanh chóng. 4.2. Một số em quá yếu, khả năng tính nhẩm chậm, nên làm các phép tính cộng, trừ chậm; nhân chia lại càng chậm hơn. Làm bài này chậm thì không thể hiểu được bài kia do vậy càng không hiểu bài dẫn đến không có kĩ năng làm bài. 4.3. Học sinh hầu hết ít thuộc quy tắc nên mau quên, còn có số đông là học suông chứ không hiểu rõ nên việc áp dụng rất khó khăn.. - Ví dụ như các quy tắc về tính giá trị của biểu thức. Học sinh không nắm rõ nên vẫn làm lộn xộn chứ không thực hiện đúng theo thứ tự trong quy tắc. 4.4 Khả năng phân tích, tổng hợp các yếu tố, các dữ kiện của đề toán của các em còn quá yếu nên học giải bài toán từ hai phép toán từ hai phép tính trở lên rất khó khăn, không biết phân tích từ kết luận đến giả thiết, không biết vận dụng cái có để đi tìm cái chưa có. Do vậy, nhiều bài tính giả giảng kĩ nhưng học sinh vẫn không làm được, khi giải xong lại ghi đơn vị của cái đã cho chứ không ghi đơn vị của cái phải tìm, lời giải cho mỗi phép tính lại không phù hợp. 4.5. Do bản thân mỗi học sinh lười học: - Trong lớp chỉ có vài học sinh ham học hỏi, ham hiểu biết, lo tìm tòi, tìm hiểu cách giải, còn lại hầu hết là học cho xong chuyện, làm cho xong rồi đi chơi không cần biết đúng hay sai, không chịu khó tìm tòi suy nghĩ, không phát triển được tư duy, không nắm được kiến thức cơ bản. 4.6. Sự cộng tác của phụ huynh còn rất hạn chế. - Một số phụ huynh đưa con em đến trường là khoáng cho GV, con em học được chừng nào hay chừng ấy, không có sự kiểm tra chỉ bảo của phụ huynh. - Còn lại số đông phụ huynh là chăm lo cho con cái nhưng không nắm được phương pháp giải nên không thể hướng dẫn cho con em học được. Với chương trình cải cách mới, cách học cách làm rất xa lạ với phụ huynh; rất nhiều phụ huynh có vốn kiến thức rất khá nhưng phương pháp giải không phù hợp với học sinh tiểu học nên vẫn không thể nào hướng dẫn cho con em được. 4.7. Cấu tạo chương trình lớp 4 quá nặng đối với học sinh, chương trình học liên tục là những tiết phải cung cấp kiến thức mới với rất nhiều dạng toán, số tiết luyện tập ít nên giáo viên không có điều kiện, thời gian để luyện cho học sinh làm bài, do đó khó có thể làm cho học sinh nắm kiến thức chắc chắn được. V . NỘI DUNG NGHIÊN CỨU: Để giúp cho học sinh học được môn toán, để hoàn thành nội dung chương trình lớp 4 theo đúng yêu cầu, tôi đã tìm ra những biện pháp cần thiết áp dụng vào việc học toán như sau: Kiểm tra bảng cửu chương: Để học sinh làm được phép nhân, phép chia với số có một chữ số tiến đến hiểu và làm được tính nhân, tính chia số có hai, ba hoặc nhiều chữ số thì bắt buộc học sinh phải thuộc lòng bảng cửu chương. Do đó việc kiểm tra bảng cửu chương là việc làm thường xuyên ở mỗi tiết toán, có như vậy thì học sinh mới lo học và có thể thuộc được. * Biện pháp: Trong mỗi tiết toán tôi đã dành khoảng 2 phút đầu để kiểm tra, những tuần đầu tôi kiểm tra đọc thuộc lòng, các tuần sau đó lại kiểm tra theo cách chỉ bất kì. ví dụ: Hỏi 8 x 7= ?. Yêu cầu học sinh phải trả lời ngay, nếu em nào trả lời chậm hoặc không trả lời được tức là chưa thật thuộc, mục đích ở đây là tránh cho các em thuộc một cách máy móc. Để khuyến khích và bắt buộc học sinh học thuộc, tôi luôn kèm theo hình thức khen thưởng và trách phạt. Nếu thuộc thì được cộng thêm một điểm, nếu không thuộc các em phải về nhà chép lại bảng nhân đó ít nhất là 10 lần cho nhớ, kèm với việc liên hệ với gia đình để nhắc nhở thêm. Đây là việc giáo viên phải làm thường xuyên cho đến khi nào biết chắc rằng cả lớp đã thật thuộc thì mới thôi. Luyện cho học sinh tính nhẩm: Tính nhẩm về cộng trừ hai chữ số trên dưới 10, học sinh đã học từ lớp một nhưng đến lớp 4 vẫn còn nhiều em tính quá chậm, tính chậm sẽ làm toán chậm do đó làm bài không kịp giờ. Muốn học sinh tính nhanh thì phải rèn kĩ năng tính nhẩm cho các em. Ví dụ : 5 + 7= 5 + 5 + 2 = 10 + 2 = 12 15 - 7 = 15 - 5 - 2 = 10 - 2 = 8 Trong mỗi tiết học đều cho học sinh yếu lên bảng, hướng dẫn cho em trên bảng tính và cả lớp cùng nghe. Đây cũng là việc giáo viên phải làm thường xuyên trong mỗi tiết học để cho học sinh khắc sâu, nhớ được cách tính, từ đó sẽ giúp các em làm tính nhanh hơn. 3. Cho học sinh nắm được qui tắc, tên số trong mỗi phép tính: - Muốn làm tốt dạng toán tìm x thì học sinh cần phải nắm được các thành phần trong mỗi phép tính thì mới áp dụng qui tắc để làm được bài, nếu không nắm được các thành phần chưa biết trong mỗi phép tính thì dù có thuộc qui tắc cũng sẽ không làm được bài. - Do đó, khi gặp loại toán này giáo viên phải thường xuyên ôn luyện . Mỗi lần ôn, luyện sẽ giúp học sinh vừa nhớ bài, vừa khắc sâu kiến thức hơn. - Khi đã thuộc được tên số và qui tắc thì chắc chắn học sinh sẽ làm bài một cách dễ dàng, không thể lẫn lộn. Ví dụ: Tìm số trừ : 325 - x = 200 Khi gặp dạng này học sinh sẽ áp dụng một cách dễ dàng: Muốn tìm số trừ ta lấy số bị trừ trừ đi hiệu: x = 325 - 200 x = 125 4. Luyện cách làm toán có nhiều phép tính: - Đến lớp 4, giải toán đã tiến lên bước cao hơn, ... động vui khỏe, nó đóng vai trò quan trọng trong việc tìm hiểu, củng cố, nâng cao kiến thức một cách sinh động và có chất lượng. - Tìm hiểu đề toán đơn giản có ý nghĩa gần gũi với thực tế, dễ hiểu, có hệ thống kiểu đề cùng dạng cho học sinh chơi để giúp học sinh có thói quen với cách phân tích tổng hợp, tìm ra lời giải. Ví dụ: Trong lớp ta em Uyên được 15 điểm mười, em Lan có số điểm mười nhiều gấp ba lần em Uyên. Hỏi cả hai em có bao nhiêu điểm mười? - Cho thi đua giữa các nhóm, nhóm nào có nhiều em giải được và giải nhanh nhất thì sẽ được tuyên dương, khen thưởng. - Nếu cách chơi này thường xuyên được tổ chức trong mỗi tiết học toán sẽ kích thích học sinh động não và tính toán nhanh. - Tìm nhiều trò chơi đố toán, đố vào đầu tiết học nhằm kích thích học sinh ham thích và cởi mở, thoải mái trong lúc học toán, cũng có thể đố toán trong lúc sinh hoạt. Làm như vậy vừa là trò chơi mà cũng vừa là cung cấp kiến thức. Ví dụ: + Cô có tám quả cam chia đều cho 3 tổ, mổi tổ được bao nhiêu quả? + Con đường từ nhà em đến trường dài 900m, em đi hết quãng đường đó trong 1/3 giờ. Hỏi mỗi phút đi được bao nhiêu mét? - Với nhiều dạng bài tập khác nhau nhưng hầu hết là gần gũi với các em làm kích thích tính ham hiểu biết cho các em, từ đó em vừa ham học, vừa có thói quen suy nghĩ tính toán, góp phần hình thành kỹ năng tính toán. 9 .Đề ra hình thức thi đua hằng tuần: - Bên cạnh việc khuyến khích học tập, gây hứng thú học tập, còn phải đề ra những biện pháp thi đua làm cho tất cả học sinh trong cả lớp tích cực học tập, hạn chế tình trạng lười học. - Để theo dõi thường xuyên và đầy đủ tất cả học sinh trong lớp, bản thân giáo viên không thể nào quán xuyến hết mà phải nhờ đến đội ngũ ban chỉ huy lớp, ban chỉ huy Đội nhưng sâu sát, đắc lực nhất là các tổ trưởng. - Lập cho mỗi học sinh một phiếu theo dõi hàng ngày về các hoạt động trên lớp và giao cho các tổ trưởng giữ để theo dõi kiểm tra và ghi vào phiếu hằng ngày. Mỗi phiếu được làm theo cỡ giấy vở học sinh gồm các nội dung sau: PHIẾU THEO DÕI HẰNG NGÀY Họ và tên Lớp.. các mặt TUẦN Không truy bài Mất trật tự Không thuộc bài Không làm bài ở nhà Nhận xét cảu giáo viên Ý kiến của P.H 1 2 . .. - Hằng ngày ở lớp trong 15 phút đầu giờ, tổ trưởng kiểm tra nội dung truy bài, kiểm tra việc tổ viên có thuộc bài theo lời dặn của giáo viên ở buổi học trước hay không, kiểm tra kết quả làm bài ở nhà và trong cả buổi tổ trưởng cũng theo dõi về trật tự để ghi vào phiếu của mỗi em. Hằng ngày được tính bằng số lần và qui định ghi bằng dấu gạch như một lần ghi , 2 lần ghi Cuối tuần tổ trưởng tổng kết số lần và ghi ở dòng dưới. giáo viên tập hợp phiếu theo dõi và nêu nhận xét trước lớp rồi gởi cho học sinh mang về cho phụ huynh xem, có ý kiến rồi trả lại cho tổ trưởng vào đầu tuần. Qua phiếu này phụ huynh sẽ nắm được việc học của con mình ở trường, việc học bài, làm bài ở nhà của con mình, từ đó phụ huynh có biện pháp theo dõi, nhắc nhỡ, giúp đỡ con mình học tốt hơn. - Việc làm này được thực hiện thường xuyên, qua phiếu theo dõi, giáo viên tóm tắt được ở lớp của mỗi học sinh và liên hệ được những điểm yếu cần khắc phục của từng em để gởi về gia đình. Nhờ vậy mà phụ huynh sẽ có cách giúp đỡ và cùng hỗ trợ với giáo viên để nâng cao chất lượng học tập của con em trong đó có môn cơ bản là môn toán. - Kèm theo với việc liên hệ phụ huynh ở lớp cuối mỗi tuần tôi cũng tổng kết tuyên dương những em đạt tốt, động viên, nhắc nhở, có thể trách phạt đối với các em chưa tốt hoặc thường xuyên vi phạm nhiều lần. - Đề ra thi đua từng đợt trong lớp. Dựa trên kết quả tổng kết hằng tuần để có khen thưởng đối với những em xuất sắc và nhất là chú ý tuyên dương khen thưởng mà có cố gắng để tiến bộ. - Tuy phần thưởng chỉ là những phần thưởng nhỏ như một cuốn vở, một cây bút bi nhưng đây là vinh dự nên sẽ kích thích tinh thần thi đua của các em, làm cho mỗi em sẽ có sự nỗ lực phấn đấu để được thường xuyên nhận vinh dự trên. VI/KẾT QUẢ: Qua một thời gian áp dụng đề tài: " Một số biện pháp giúp học sinh học tốt môn toán lớp bốn" đem lại những kết quả sau: 1. Tất cả học sinh hiện nay đều làm tính cộng trừ tốt, nhân không phải tính bằng ngón tay, ngón chân vì vậy mức độ làm toán nhanh hơn. 2. Tất cả đều thuộc lầu bảng cửu chươnglàm tính nhân chia dễ dàng. Kể cả nhân chia với số có nhiều chữ số cũng thực hiện tốt. 3. Làm toán tính x một cách khoa học, không còn nhầm lẫn giữa các dạng, không còn học sinh không biết làm. 4. Tính giá trị biểu thức một cách thành thạo, thực hiện đúng qui tắc, không thực hiện lộn xộn như trước đây. 5. Biết cách để phân tích đề toán, giải được bài toán có nhiều phép tính một cách logic, khoa học. Kết quả cụ thể qua các lần kiểm tra như sau: Thời gian kiểm tra Tổng số học sinh Kết quả Giỏi Khá TB Yếu SL % SL % SL % SL % Giữa kì I 30 10 33.3 13 43.3 5 16.7 2 6.6 Cuối kì I 30 11 36.7 12 40.0 7 23.3 VII. KẾT LUÂN: Trong dạy học nói chung, dạy toán nói riêng tôi thiết nghĩ mỗi một giáo viên ai cũng mong muốn học sinh mình đều đạt những yêu cầu cơ bản về kiến thức cũng như kĩ năng. Song đối với những đối tưọng học sinh yếu kém về môn toán thì điều này quả thật không dễ dàng chút nào. Qua trao đổi, học hỏi ở bạn bè đồng nghiệp cùng với kinh nghiệm giảng dạy của bản thân tôi đã rút ra bài học kinh nghiệm cho mình trong việc giúp đỡ học sinh gặp khó khăn trong học toán đạt kết quả như sau: - Người giáo viên phải nhiệt tình, tận tuỵ với nghề nghiệp, có lòng yêu mến trẻ. - Phải thường xuyên học hỏi để có nhiều kinh nghiệm, sáng tạo trong bài dạy, cách truyền thụ kiến thức nhằm tạo cho học sinh hứng thú học tập. - Phải nắm được trình độ học sinh, để lựa chọn phương pháp và hình thức tổ chức cho phù hợp tạo ra không khí lớp học nhẹ nhàng, vui vẻ, sôi nổi. - Giáo viên phải kiên trì, không vội vàng, nôn nóng, luôn luôn tin tưởng vào sự tiến bộ của học sinh để khuyến khích, động viên các em kịp thời. Đồng thời cũng phải nghiêm khắc đối với những học sinh có biểu hiện lười và tiêu cực trong học tập. - Khi dạy mỗi bài, mỗi dạng cần giúp các em nắm vững bản chất, xác lập mối quan hệ giữa các dữ kiện , không bỏ sót dữ kiện nào để có kĩ năng giải thạo từng dạng bài. - Giáo viên phải luôn đổi mới phương pháp dạy bằng nhiều hình thức như: trò chơi, đố vui.... phù hợp với đối tượng học sinh của mình: " Lấy học sinh để hướng vào hoạt động học, thầy là người hướng dẫn, tổ chức, trò nhận thức chủ động trong việc giải toán ''. - Trong khi giải phải yêu cầu học sinh đặt câu hỏi: '' Làm phép tính đó để làm gì ?'' , từ đó có hướng giải đúng, chính xác. Sau mỗi bài giải, học sinh phải biết xem xét lại kết quả mình làm để giúp các em tự tin hơn khi giải quyết một vấn đề gì đó. VIII. ĐỀ NGHỊ: - Đối với phòng Giáo dục:Thường xuyên mở chuyên đề về dạy toán để giáo viên tham gia học tập, cùng học hỏi ở đồng nghiệp để phục vụ cho công tác giảng dạy đạt kết quả hơn nữa. - Đối với nhà trường: Tổ chức ngoại khóa với hình thức thi đố vui để học nhằm ôn lại những kiến thức học sinh đã được học nhằm giúp các em khắc sâu hơn khi vận dụng. - Đối với phụ huynh: Cần quan tâm, tạo mọi điều kiện để giúp các em học tốt ở nhà. TÀI LIỆU THAM KHẢO: TÊN TÁC GIẢ TÊN TÀI LIỆU NHÀ XUẤT BẢN NĂM XB Đỗ Đình Hoan Sách giáo khoa toán 4 NXB Giáo Dục 1996 Đỗ Đình Hoan Sách giáo viên toán 4 NXB Giáo Dục 2005 Trần Thị Minh Phương Bồi dưỡng thường xuyên Bộ GD&ĐT 2005 Vũ Dương Thuỵ Đổi mới phương pháp dạy học tiểu học NXBGiáo Dục 2000 MỤC LỤC TT TIÊU ĐỀ TỪNG PHẦN TRANG 01 02 03 04 05 06 07 08 09 10 11 Tên đề tài Đặt vấn đề Cơ sở lý luận Cơ sở thực tiễn Nội dung nghiên cứu Kết quả nghiên cứu Kết luận Đề nghị Tài liệu tham khảo Đánh giá xếp loại SKKN 1 1 2 2 3-10 10-11 11-12 12 13 14 15-16 Mẫu SK1 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc PHIẾU ĐÁNH GIÁ, XẾP LOẠI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM Năm học: 2009 - 2001 I. Đánh giá xếp loại của HĐKH Trường Tiểu học: Đinh Bộ Lĩnh 1. Tên đề tài: Một số biên pháp nâng cao chất lượng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 4. 2. Họ và tên tác giả: 3. Chức vụ: Gáo viên - Tổ: bốn 4. Nhận xét của Chủ tịch HĐKH về đề tài: a)Ưuđiểm:......................................................................................................................................................................................................................................................................................................................... b)Hạnchế:......................................................................................................................................................................................................................................................................................................................... 5. Đánh giá, xếp loại: Sau khi thẩm định, đánh giá đề tài trên, HĐKH Trường ................................ .......................................................thống nhất xếp loại : ..................... Những người thẩm định: Chủ tịch HĐKH (Ký, ghi rõ họ tên) (Ký, đóng dấu, ghi rõ họ tên) ..................................................... ..................................................... . II. Đánh giá, xếp loại của HĐKH Phòng GD&ĐT .......................................... Sau khi thẩm định, đánh giá đề tài trên, HĐKH Phòng GD&ĐT ....................................................thống nhất xếp loại: ............... Những người thẩm định: Chủ tịch HĐKH (Ký, ghi rõ họ tên) (Ký, đóng dấu, ghi rõ họ tên) ..................................................... ..................................................... III. Đánh giá, xếp loại của HĐKH Sở GD&ĐT Quảng Nam Sau khi thẩm định, đánh giá đề tài trên, HĐKH Sở GD&ĐT Quảng Nam thống nhất xếp loại: ............... Những người thẩm định: Chủ tịch HĐKH (Ký, ghi rõ họ tên) (Ký, đóng dấu, ghi rõ họ tên) ............................................................ ................................................................

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Học Tốt Môn Thể Dục Lớp 4 Ở Trường Tiểu Học Thiện Mỹ A

quan tâm. Đối với môn thể dục ở tiểu học cũng được chú trọng đổi mới nhằm phù hợp với điều kiện hiện nay.Như chúng ta đã biết một trong những nguyên nhân làm cho kết quả học tập của học sinh giảm sút đó là sự căng thẳng, mất tập trung và thiếu minh mẫn trong học tập. Chính vì vậy để giúp các em có được một tinh thần thoải mái tập trung hơn trong học tập thì việc nâng cao chất lượng dạy học môn thể dục, đặc biệt ở khối lớp 4 là hết sức quan trọng và cần thiết, từ những vấn đề đó bản thân tôi đã nghiên cứu và viết ra sáng kiến: "Một số biện pháp giúp học sinh học tốt môn thể dục lớp 4 ở trường Tiểu học Thiện Mỹ A". 2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu: - Đề ra một số biện pháp giúp học sinh học tốt môn Thể Dục lớp 4 ở trường Tiểu Thiện Mỹ A. -Tìm hiểu cơ sở lý luận về mục tiêu đổi mới của môn học, đề xuất một số phương pháp dạy học tập trung nhiều vào việc phát huy tính tích cực của học sinh. 3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu: a/ Đối tượng nghiên cứu. - Một số biện pháp giúp học sinh học tốt môn Thể Dục lớp 4 ở trường Tiểu Học Thiện Mỹ A. b/Phạm vi nghiên cứu. - Học sinh lớp 4 ở trường Tiểu Học Tiểu Học Thiện Mỹ A. 4. Phương pháp nghiên cứu : - Phương pháp quan sát: Quan sát giờ lên lớp của các đồng nghiệp và thái độ học tập của học sinh ở tiết học môn Thể dục. - Phương pháp thực nghiệm: Bằng cách đưa vào giảng dạy thực nghiệm. - Phương pháp tập luyện: Sử dụng một số biện pháp nhằm hỗ trợ cho việc tập luyện động tác kĩ thuật. - Phương pháp tổng kết rút kinh nghiệm: Tổng hợp lại những kinh nghiệm thực tiễn, đề ra một số phương pháp. CHƯƠNG I : MỘT SỐ CƠ SỞ LÍ LUẬN I. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM TÂM SINH LÍ HỌC SINH - BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC: 1.Một số đặc điểm tâm sinh lí học sinh. - Học sinh lớp 4 (9-10) là lứa tuổi đang có nhiều chuyển biến về tâm sinh lí và tư duy. Hành động của các em chuyển dần từ thụ động, giản đơn sang trạng thái tương đối chủ động và linh hoạt hơn. Lứa tuổi này, bước đầu các em đã có khả năng phân tích và tổng hợp đơn giản, biết tự điều chỉnh những hoạt động của bản thân nhưng ở mức độ không cao. HS đã có ý thức và khả năng tự quản tương đối tốt , biết phối hợp và giúp đỡ nhau trong học tập và rèn luyện , nhưng còn kém linh hoạt với những thay đổi trong sinh hoạt, tập luyện. - Ở lứa tuổ này cơ của các em có chứa nhiều nước, tỉ lệ các chất đạm, mở còn ít nên khi hoạt động chóng mệt mỏi, sức mạnh lứa tuổi này còn hạn chế, giới hạn sinh lí về khả chịu đựng mà các em có thể mang vác được tính theo lứa tuổi. 2. Biện pháp khắc phục VD: Dạy động tác nhảy dây kiểu chân trước chân sau, giáo viên nên sử dụng các động tác bổ trợ như: + Cho học sinh tập nhảy chân trước chân sau không kết hợp tay quay dây. + Tập nhảy chân trước chân sau có kết hợp tay quay dây không có dây. + Tập nhảy chân trước chân sau có kết hợp tay quay dây có dây. VD: Dạy động tác đi đều tôi thường sử dụng các động tác bổ trợ như: + Cho học sinh tập đánh tay sang phải sang trái. + Tập nâng đùi trái nâng đùi phải. + Kết hợp động tác đánh tay và nâng đùi đề hoàn chỉnh động tác đi đều. * Ngoài ra còn có một số động tác khó trong chương trình lớp 4 tôi thường phân đoạn động tác ra thành riêng lẻ để học sinh dễ tiếp thu động tác. Với học trò giáo viên là người gợi mở, động viên, cố vấn là trọng tài trong các hoạt động tìm tòi, hào hứng, tranh luận sôi nổi của học sinh, vai trò của giáo viên không hề bị hạ thấp mà trái lại nó đòi hỏi giáo viên phải có trình độ chuyên môn sâu rộng, có trình độ sư phạm có đầu óc sáng tạo và nhạy cảm mới có thể tổ chức, hứơng dẫn cho học sinh hoạt động độc lập. CHƯƠNG II THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Thực trạng của vấn đề: Trong lúc viết chuyên đề thì bản thân tôi được sự quan tâm và giúp đỡ của tổ khối trưởng qua các tiết dự giờ của chuyên môn, các anh em đồng nghiệp động viên tinh thần, giáo viên nhiệt tình giảng dạy và chịu khó tìm tòi các phương pháp giảng dạy phù hợp cho từng đối tượng học sinh. Bên cạnh những thuận lợi đó trong lúc viết chuyên đề thì tôi cũng gặp nhiều khó khăn: Một số các em học sinh đi học không đều hoặc đi theo cha mẹ làm thuê một thời gian mới quay vào lớp học làm cho các em mất kiến thức cơ bản, khi giáo viên phân tích động tác thì các em không hiểu và chưa nắm bắt được động tác, các em quá thụ động, chưa tích cực và chủ động trong tập luyện, trang phục TDTT của các em còn thiếu, chưa đồng đều vì gia đình của các em có hoàn cảnh khó khăn về kinh tế dẫn đến việc tập luyện của các em thiếu tự tin, không được thoải mái khi tập luyện dẫn đến tình trạng tập không hết biên độ động tác do đó khi viết chuyên đề thì bản thân tôi tìm nhiều phương pháp và hình thức để giải quyết các vấn đề này và tôi đã viết ra sáng kiến 2. Các giải pháp tiến hành giải quyết vấn đề: a. Phát huy tính tích cực luyện tập cho học sinh: Để thực hiện được mục tiêu đổi mới của môn học, chương trình Thể Dục mới lấy mục tiêu rèn luyện sức khỏe thể lực cho học sinh là quan trọng nhất. Do đó phương pháp dạy học mới là tập chung nhiều vào việc phát huy tính tích cực của học sinh. Dành nhiều thời gian cho học sinh được luyện tập, hoạt động vui chơi. Chính vì vậy đổi mới phương pháp dạy học môn Thể Dục theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh bằng các biện pháp thi đua, thi đấu, biểu diễn dưới dạng các trò chơi. Khi dạy học cần nâng cao tính tự giác khả năng tự quản của học sinh để phát huy sự chủ động và học tập tích cực của các em, giáo viên cần phối hợp tổ chức tập luyện , tổ chức tự luyện tập và tự quản nhằm khai thác tính tự đánh giá của mỗi em, làm cho giờ học luôn nhẹ nhàng, sinh động và hấp dẫn. Mỗi giờ học giáo viên nên áp dụng hình thức tích cực hóa học sinh bằng cách áp dụng tối đa phương pháp trò chơi, dành nhiều thời gian cho học sinh tập luyện, hoạt động vui chơi và tham gia vào quá trình đánh giá nhận xét. Để thực hiện tốt phương pháp đổi mới giảng dạy, tất nhiên giáo viên cần có sự chuẩn bị trước về bài dạy, thiết bị, đồ dùng dạy học kể cả việc phải tập luyện trước các động tác kĩ thuật mới đạt được kết quả như mong muốn. Một số học sinh ở đây lại ở vùng nông thôn, phụ huynh đều làm nghề nông, một số ít làm thuê cuộc sống còn nhiều khó khăn nên chưa quan tâm lắm đến việc học của con em mình. Với tinh thần và trách nhiệm của một giáo viên tôi đã vận dụng những kinh nghiệm đã học hỏi được ở đồng nghiệp và qua quá trình đúc kết của bản thân, cũng như được dự các lớp chuyên môn, chuyên đề và qua tìm hiểu sách báo, tôi đã mạnh dạng áp dụng một số phương pháp đổi mới trong quá trình giảng dạy, giúp loại bỏ dần học sinh chán nản trong học tập, giúp các em ngày càng tích cực chủ động tiếp thu bài, mạnh dạng phát biểu từ đó chất lượng tiết dạy của giáo viên và kết quả học tập của học sinh ngày càng một tốt hơn. Đầu năm học, sau khi kiểm tra chất lượng xong, tôi đã rút ra được nguyên nhân học yếu của các em là : + Các em không tự tin trong học tập. + Trong quá trình học các em thường xem và học các động tác của giáo viên và của bạn rồi sau đó thực hiện một cách thụ động máy móc . + Trong phần trò chơi các em chơi chưa tích cực, còn rụt rè. Do đó khả năng giúp học sinh thực hiện được yêu cầu cơ bản về học tập trên cơ sở thực hiện được quan hệ thầy trò, quan hệ trò với trò, vì học sinh là chủ thể nhân vật trung tâm trong quá trình dạy học, vì học sinh không phải là đối tượng thụ động, chỉ biết lắng nghe giáo viên truyền đạt tri thức sẵn có trong sách giáo khoa một cách gò bó áp đặt hoặc thụ động tiếp thu những gì do giáo viên truyền đạt chỉ biết làm theo mẫu định sẵn, các em không hiểu nghĩa những việc làm không vận dụng được những kiến thức đã học để áp dụng vào bài làm mà các em phải được học tập tích cực bằng chính hành động của mình. Qua hoạt động học tập tự rèn luyện giáo viên là người hướng dẫn học sinh hoạt động nhằm giúp các em phát triển như : Tổ chức cho học sinh tập theo tổ, nhóm và hoạt động của lớp. Chẳng hạng như khi dạy một động tác mới, một trò chơi sau khi giáo viên làm mẫu thì học sinh cả lớp sẽ thực hiện, sau đó là đến từng tổ tự tập, tự hoạt động, giáo viên sẽ theo dõi uốn nắn, sửa chữa, nhưng nếu một tổ có nhiều em làm sai động tác thì sao có thể thực hiện tốt được. Nếu lúc đó giáo viên không được bình tỉnh, nóng nảy sẽ làm cho các em càng hốt hoảng, sợ sệt, không thực hiện đúng động tác được nữa. Vì thế tác phong lời nói của giáo viên phải nhẹ nhàng, chuẩn mực, ân cần, nhỏ nhẹ và tìm cách lấp dần những lổ hỏng tri thức của các em bằng cách giáo viên hướng dẫn và làm mẫu lại các động tác để học sinh làm theo, tất nhiên các động tác giáo viên thực hiện phải thật chậm cho học sinh quan sát, kết hợp với lời giải thích thực hiện từng động tác chính xác là em đó đã tiến bộ, lúc này giáo viên nên có lời khen ngợi dù các em đạt được thành công nhỏ vì nó sẽ khuyến khích, động viên các em cố gắng hơn và hăng hái hơn. Trong năm học này tôi đã áp dụng phương pháp trên nhầm đem lại sự hứng thú cho các em trong giờ học đã đạt được kết quả rất tốt từ những em rụt rè, nhút nhát thường làm sai động tác, không yêu thích môn thể dục nay đã tập thành thục tất cả các động tác đã học, tham gia tất cả các trò chơi vận động mà giáo viên đặt ra, tạo cho mỗi giờ học đều sinh động làm cho quan hệ thầy trò ngày càng gần gũi hơn. 2. Giáo dục thói quen luyện tập thường xuyên và có hệ thống: Đối với môn thể thao nói chung và môn thể dục lớp 4 nói riêng thì học sinh ở lứa tuổi này có những chuyển biến mạnh mẽ để hoàn thiện tâm sinh lý, phát triển tư duy và thể chất chuyển các hoạt động từ mang tính thụ động sang các hành động tương đối chủ động linh hoạt và có tính mục đích, quá trình hưng phấn chiếm ưu thế nên các em rất hiếu động ưa hoạt động thích bắt chước làm theo điệu bộ hành vi của giáo viên, ở một số em có tính mạnh muốn bộc lộ năng khiếu vượt trội của mình, muốn thể hiện những năng khiếu sẵn có của mình cho bạn bè, thầy, cô biết. Môn Thể Dục với đặt trưng bộ môn " học mà chơi chơi mà học " lồng ghép đang xen vào nhau. Có thể khẳng định rằng đây là một môn học chung nhất ở bật tiểu học nó còn góp phần bảo vệ tăng cường sức khoẻ, phát triển các tố chất thể lực hình thành thói quen luyện tập thể dục và trang bị cho học sinh một số hiểu biết và kĩ năng cơ bản về đội hình đội ngũ và thể dục rèn luyện tư thế cơ bản, các trò chơi vận động và môn thể thao do giáo viên chọn đồng thời nó củng cố và làm giàu vốn kĩ năng vận động cơ bản cần thiết thường gặp trong đời sống hàng ngày như: Đi, chạy, nhảy, ném phù hợp với khả năng trình độ và đạt điểm tâm sinh lý lứa tuổi giới tính của các em. Thể dục là một môn năng khiếu tuy nhiên việc dạy Thể Dục không nhằm đào tạo các em trở thành vận động viên chuyên nghiệp. Qua môn Thể Dục các em được hoạt động được nhận thức qua các động tác, trò chơi và đặt biệt một số môn thể thao , tất cả những cái đó sẽ tạo thành một trình độ văn hóa thể dục tối thiểu để góp phần cùng các môn học khác giáo dục nhân cách làm cho nội dung học tập ở các trường phổ thông mang tính toàn diện làm thăng bằng hài hòa hoạt động học tập của các em. Đây là môn học thực hành, vì vậy phương pháp giảng dạy đối với các em cũng cần được chú ý thông qua các trò chơi vận động, nhưng phải phù hợp với nội dung bài học, qua đó giúp các em có khả năng hoạt động nhanh nhẹn, khéo léo, nhưng khi dạy trò chơi cần nghiên cứu kĩ nội dung trò chơi, địa điểm các phương tiện để tổ chức cho học sinh tập vui chơi, trò chơi mới giáo viên nên giải thích kèm theo chỉ dẫn trên hình vẽ, kết hợp cho cá nhân học sinh hoặc một nhóm lên làm mẫu, nên cho các em chơi thử 1-2 lần trước khi chơi chính thức, giáo viên nên cho học sinh thi đua với nhau giữa các tổ, sau đó giáo viên nhận xét đánh giá, tuyên dương đội thắng động viên đội thua, nhắc nhở các trường hợp chơi không tích cực Vd: Trò chơi "Chạy nhanh tiếp sức". + Giáo viên nêu tên trò chơi, giải thích cách chơi. + Chia đội chơi, cho học sinh chơi thử 1-2 lần. + Cho học sinh chơi chính thức có phân thắng thua, sau đó giáo viên nhận xét đánh giá trò chơi, tuyên dương đội thắng động viên đội thua, nhắc nhở các trường hợp chơi không tích cực. Nhưng nhìn chung mỗi phương pháp dạy đều có những ưu điểm và khuyết điểm riêng, do đó muốn nâng cao chất lượng học tập, giáo viên cần phải uyển chuyển xen kẻ các phương pháp lại với nhau, để nhằm đạt được mục đích giáo viên cần phải giúp cho học sinh hình thành kĩ năng, kỹ xảo để các em có hứng thú trong học tập. CHƯƠNG IV : KẾT QUẢ 1. Thực nghiệm và kết quả thực nghiệm: * Thực nghiệm: Với các biện pháp phương pháp nêu trên, tôi đã giải quyết được một số nhược điểm của học sinh. Kết quả học tập của các em có tiến bộ hơn nhiều, phần lớn các em thực hiện hoàn thành theo yêu cầu và hoàn thành tốt cao hơn nhiều, các em tích cực học tập, không khí lớp học sôi nổi. Cụ thể các năm học2014-2015 vừa qua. * Kết quả đã thực nghiệm: Trong thời gian áp dụng những giải pháp tổ chức luyện tập động tác thể dục, cũng như chuẩn bị tốt về sân bãi, dụng cụ để tập luyện. Tôi thấy rằng học sinh luôn luôn yêu thích, ham học môn Thể dục hơn, tham gia luyện tập một cách tự giác và tích cực rèn luyện tố chất thể lực để phát triển tốt thể chất của các em học sinh ngày càng được nâng lên. Hơn nữa tính thật thà, tính trung thực, tính khiêm tốn của học sinh cũng được thể hiện rõ rệt. Qua đó các em đã biết vận dụng vào trong học tập, kết quả HS tự đánh giá, GV nhận xét theo TT 30 các em tham gia tập luyện tích cực và hứng thứ hơn. C/ Kết luận Và đề xuất 1. Ý nghĩa, hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm: - Từ những vấn đề trên tôi đã rút ra bài học kinh nghiệm là: Muốn tiết dạy đạt kết quả tốt, học sinh hiểu được bài thì phải có một phương pháp tốt - Trang bị cho học sinh một số hiểu biết về những kĩ năng cơ bản về bài thể dục phát triển chung cần thiết thường gặp trong đời sống. - Các em có tính nề nếp tập luyện thể dục thể thao, có ý thức giữ gìn sức khỏe của bản thân, có nếp sống lành mạnh, vui chơi giải trí có tổ chức và kỷ luật góp phần giáo dục đạo đức lối sống lành mạnh, hình thành nhân cách con người mới. - Nhằm phát triển thể lực, cơ thể, tạo sự hứng thú cho học sinh tập luyện, hình thành kỹ năng vận động, củng cố và nâng cao sức khỏe, có sự tác động trực tiếp tích cực đến việc rèn luyện sức khỏe và ý chí phẩm chất đạo đức cho người học. - Tăng thêm hiệu quả các bài tập thể dục về nhiều mặt, kể cả đến tác dụng thực tế lao động. - Có thói quen tổ chức nghỉ ngơi hợp lý, chuẩn bị thi đấu thuận lợi. - Làm cho người tập có cảm xúc tốt, sảng khoái, thú vị. - Trong quá trình giảng dạy và áp dụng một số biện pháp để uốn nắn sửa sai cho học sinh khi thực hiện động tác thể dục, bản thân tôi rút ra một số kinh nghiệm như sau: + Chuẩn bị đầy đủ về tranh ảnh trực quan, đồ dùng dạy học như: còi, bóng, cầu, cờ, sân bãi.v.v Ôn lại kiến thức cũ, dạy học kiến thức mới, phối hợp hài hoà các phương pháp dạy học. + Trong giảng dạy bản thân tôi sử dụng cán sự lớp một cách linh hoạt, hiệu quả nhất. + Nắm được đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi, sức khỏe của từng học sinh, giáo viên trực tiếp sửa sai uốn nắn điều chỉnh sai sót kịp thời, để tổ chức cho các em luyện tập đạt hiệu quả cao nhất. + Luôn luôn tuyên dương kịp thời những cái đúng, cái hay, cái đẹp của học sinh. + Sau mỗi tiết dạy giáo viên cần rút kinh nghiệm bổ sung những thiếu sót để tiết sau được hoàn thiện hơn. + Trong giờ học thể dục, học sinh thể hiện được tính tích cực, tính tự giác, luyện tập sôi nổi, hào hứng khi tham gia thi đua các bài tập thể dục, các em tập rất nhiệt tình, tính đồng đội của học sinh cũng được nâng lên. + Vận dụng được kiến thức học ở trong nhà trường vào cuộc sống hằng ngày, trong gia đình cũng như ngoài xã hội như: đi, đứng, chạy, nhảy, mang, vác * Từ những kinh nghiệm trên, bản thân tôi thấy học sinh trường Tiểu học Thiện Mỹ A ngày một ham thích, hăng hái và say mê tập luyện thể dục cũng như tham gia vào trò chơi đầy nhiệt tình và tự giác hơn, sức khỏe và tinh thần của các em tốt hơn. "Một tinh thần minh mẫn trong một cơ thể cường tráng" để góp phần phát triển đất nước ngày một phồn vinh - văn minh - thịnh vượng. 2. Ý kiến đề xuất: Để có điều kiện tập luyện môn Thể dục, phát triển tốt về thể chất, tôi có vài yêu cầu đến cấp trên: a/ Đối với BGH Trường. - Tổ chức thường xuyên phong trào thể dục thể thao để các em tham gia vui chơi trong năm học để có tinh thần tự tập ở nhà. - Ban giám hiệu phải quan tâm những học sinh nghèo khi đi học môn thể dục chưa có giày và chưa có đồng phục TDTD. b/ Đối với phòng giáo dục. - Đề nghị bộ phận thiết bị - đồ dùng dạy học cấp thêm một số đồ dùng dạy học cho phân môn Thể dục như: Tranh, ảnh, sàn bóng rỗ và một số dụng cụ phục vụ cho tập luyện và tổ chức trò chơi như: bóng, cầu, vòng, dây nhảy cá nhân, bóng ném Xin chân thành cảm ơn! Thiện mỹ, ngày 18 tháng 05 năm 2016. Người thực hiện Xác nhận của BGH LÝ CHANH ĐA Nhận xét của hội đồng xét duyệt sáng kiến ngành giáo dục cấp trường.

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Môn Sinh Học 6

Sáng kiến kinh nghiệm môn sinh học

MỤC LỤC Phần 1. MỞ ĐẦU

2

1.Mục đích của sáng kiến kinh nghiệm……………………………………………………….2 2.Tính mới và ưu điểm nổi bật của sáng kiến……………………………………………….3 3.Đóng góp của sáng kiến………………………………………………………………………….4 Phần 2. NỘI DUNG

5

Chương 1: Mục tiêu hướng tới khi thực hiện việc tổ chức các trò chơi trong dạy học sinh học 6……………………………………………………………………………………5 Chương 2. Những giải pháp đã được áp dụng……………………………………………7 1.Giải pháp 1……………………………………………………………………………………………7 2.Giải pháp 2………………………………………………………………………….. ………………8 3.Giải pháp 3………………………………………………………………………………………….12 4.Giải pháp 4………………………………………………………………………………………….14 5.Giải pháp 5………………………………………………………………………………………….15 6.Giải pháp 6………………………………………………………………………………………….16 Chương 3: Kiểm chứng các giải pháp đã được triển khai của sáng kiến kinh nghiệm…………………………………………………………………………………………………..18 Phần 3: KẾT LUẬN

20

1.Những vấn đề quan trọng nhất được đề cập đến của sáng kiến kinh nghiệm..20 2.Hiệu quả thiết thực của sáng kiến kinh nghiệm………………………………………..21 3.Kiến nghị với các cấp quản lý………………………………………………………………..21 Phần 4: PHỤ LỤC

23

-Tư liệu tham khảo………………………………………………………………………………….23

1

Sáng kiến kinh nghiệm môn sinh học

2

Sáng kiến kinh nghiệm môn sinh học dễ ảnh hưởng đến việc học tập của lớp khác. Giáo viên phải chuẩn bị vất vả mất nhiều thời gian, có thể gây cháy giáo án. Với đặc thù của bộ môn Sinh học, là bộ môn khoa học thực nghiệm. Việc xây dựng tổ chức các trò chơi học tập phù hợp với nội dung bài học trong môn Sinh học, cũng không phải là vấn đề quá khó, đặc biệt là đối với chương trình Sinh học 6 thì chỉ cần 5- 7 phút là giáo viên có thể tổ chức được một trò chơi phù hợp để dẫn dắt học sinh tiếp thu kiến thức, củng cố kiến thức đã học hoặc thực hiện trong những buổi ngoại khoá Sinh học. Ngoài ra, còn giáo dục được thái độ của học sinh trong việc học tập Sinh học, gây được hứng thú học tập bộ môn từ đó đem lại thành công cho tiết dạy Sinh học. Học sinh lớp 6 cũng khá tò mò, ham hiểu biết, thích tìm tòi cái mới, muốn khẳng định mình, muốn được tham gia vào các hoạt động một cách độc lập, muốn thử sức mình…thích học mà chơi, chơi mà học nên việc tổ chức các trò chơi trong dạy học Sinh học 6 chắc chắn sẽ gây được hứng thú học tập của học sinh, hình thành và phát triển ở học sinh kỹ năng quan sát, phân tích tổng hợp khái quát hoá kiến thức, khả năng suy luận phán đoán, rèn luyện tác phong nhanh nhẹn của học sinh. Xuất phát từ những vấn đề nêu trên và để góp phần hoàn thiện và nâng cao các phương pháp dạy học tích cực học tập trong dạy học Sinh học tôi đã mạnh dạn nghiên cứu việc “Tổ chức các trò chơi trong dạy học sinh học 6”. 2. Tính mới và ưu điểm nổi bật của sáng kiến * Sáng kiến với các giải pháp được trình bày có nhiều điểm khác, mới so với các giải pháp cũ trước đây: – Lấy lý luận dạy học hiện đại làm cơ sở. – Dựa vào tâm lý học hiện đại. – Đáp ứng được mục tiêu dạy học. – Tổ chức vào thời điểm phù hợp nhất trong giờ học

3

Sáng kiến kinh nghiệm môn sinh học – Hướng tới mọi đối tượng học sinh. – Được chuẩn bị kỹ càng trước giờ học. – Tạo được hứng thú học tập cho học sinh. * Sáng kiến được áp dụng lần đầu thực tiễn tại đơn vị bắt đầu từ đầu năm học 2015-2016; ưu điểm nổi bật của sáng kiến là: – Hướng dẫn thiết kế, xây dựng và tổ chức được một số trò chơi học tập trong dạy học Sinh học để nâng cao chất lượng hiệu quả giảng dạy bộ môn. – Rèn tư duy nhanh nhạy, kỹ năng quan sát, phân tích tổng hợp, khái quát hoá kiến thức, phát triển kỹ năng phán đoán của học sinh. – Vận dụng và thực hiện được yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học hiện nay: giáo viên thực sự là người tổ chức, hướng dẫn, điều khiển hoạt động của học sinh còn học sinh là đối tượng tham gia trực tiếp, chủ động, linh hoạt, sáng tạo trong hoạt động học tập của mình tạo ra một không khí phấn khởi, hào hứng trong học tập Sinh học. 3. Đóng góp của sáng kiến: – Góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Sinh học. Thông qua các trò chơi giúp học sinh nắm được các kiến thức cơ bản của Sinh học tiềm ẩn trong các tình huống trò chơi, giúp học sinh biết vận dụng các kiến thức đã học vào thực tiễn sinh động và giáo dục đạo đức học sinh. – Kích thích hứng thú, phát huy tính tích cực, tự giác, tư duy sáng tạo và khả năng hợp tác cao trong học tập cũng như trong cuộc sống của học sinh. – Tạo điều kiện để cá thể hoá hoạt động dạy học. – Giáo dục học sinh tính tự giác, trung thực, sự kiên trì, tính kỷ luật và tinh thần đồng đội trong học tập cũng như trong cuộc sống hàng ngày.

4

Sáng kiến kinh nghiệm môn sinh học

Phần 2. NỘI DUNG Chương 1: Mục tiêu hướng tới khi thực hiện việc tổ chức các trò chơi trong dạy học sinh học 6. Trò chơi là một hoạt động của con người nhằm mục đích trước tiên và chủ yếu là vui chơi giải trí, thư giãn sau những giờ làm việc căng thẳng mệt mỏi. Nhưng qua trò chơi người chơi được rèn luyện thể lực, trí lực, rèn luyện các giác quan tạo cơ hội giao lưu với mọi người, cùng hợp tác với bạn bè đồng đội trong nhóm trong tổ…… Trò chơi phải hướng vào học sinh, lấy học sinh làm trung tâm. Giáo viên là người tổ chức, hướng dẫn. Giáo viên phải tìm trò chơi có tác dụng phát huy trí sáng tạo, tính tích cực của học sinh, nhằm tạo ra những thế hệ biết tìm tòi sáng tạo nhanh nhẹn trên mọi lĩnh vực. Khắc sâu được kiến thức vừa học. Rèn luyện kỹ năng quan sát, tư duy nhanh nhạy và khả năng phán đoán của học sinh. Giáo dục được đạo đức thái độ của học sinh. Phải chú ý đến tính vừa sức đối với học sinh, không dễ quá cũng không khó quá. Nội dung trò chơi đưa ra phải phù hợp với tâm lí lứa tuổi thiếu niên thì học sinh mới có thể tham gia một cách tích cực và đạt hiệu quả cao được. Các trò chơi đưa ra phải được các em nhiệt tình hưởng ứng. Phải thực hiện được chức năng dạy học thông qua trò chơi để học tập, rèn luyện. Tùy theo nội dung và mục tiêu của từng phần trong bài mà tổ chức hoạt động trò chơi cho phù hợp, có thể giữa tiết học hoặc ở phần củng cố. Không được lạm dụng trò chơi làm ảnh hưởng đến chất lượng dạy học, lấn át thời gian chính của giờ học. Giáo viên không nên chỉ tập trung vào những học sinh khá giỏi mà còn để ý, khuyến khích động viên những học sinh yếu, học sinh có tác phong chậm hay

5

Sáng kiến kinh nghiệm môn sinh học rụt rè nhút nhát tham gia, tạo điều kiện cho các em rèn luyện tác phong, hoà đồng với tập thể. Trò chơi phải được thiết kế phù hợp với đặc điểm nhận thức và khả năng của học sinh. Tuỳ theo độ tuổi, theo lớp mà thiết kế tổ chức các trò chơi phù hợp. Giáo viên phải nắm được phương pháp tổ chức trò chơi cho học sinh trong dạy học sinh học 6 gồm: Giai đoạn chuẩn bị: – Xác định mục tiêu dạy học: Đây là nhiệm vụ quan trọng nhất có tính chất quyết định. Bởi trò chơi được thiết kế phải đạt được các mục tiêu dạy học. – Xây dựng, lựa chọn trò chơi: phù hợp đáp ứng các mục tiêu dạy học đó đề ra. – Giáo viên xác định: số nhóm chơi, số người trong nhóm và các đồ dùng, dụng cụ cần thiết như: mô hình, tranh, phấn viết bảng, mảnh bìa, hệ thống câu hỏi… Giai đoạn thực hiện: Trình bày trò chơi: – Chọn lối giải thích rõ ràng: ngắn gọn, dễ hiểu, dí dỏm. Giải thích sao cho người chậm hiểu nhất cũng hiểu được, dẫn dắt người chơi từng bước để tạo sự hấp dẫn. – Nói và cử động làm mẫu dễ hiểu, nếu cần có thể chơi thử để giảng lại luật lệ trò chơi. – Giáo viên phải quán triệt về sự nghiêm túc với học sinh khi tham gia trò chơi

.

Điều khiển trò chơi: – Đề cao tinh thần tự giác, thẳng thắn trung thực, dành cho người phát huy sáng kiến trong phạm vi luật lệ trò chơi. – Phải đổi người chơi sao cho ai cũng có dịp thắng cuộc. 6

Sáng kiến kinh nghiệm môn sinh học – Khi bắt lỗi phải khách quan, chính xác, dứt khoát, công bằng. – Phải biết dừng trò chơi đúng lúc, khi mọi người có dấu hiệu mệt mỏi, chán nản hay khi trò chơi đó có kết quả thắng thua rõ ràng và đặc biệt phải đảm bảo thời gian như dự kiến. Giai đoạn kết thúc: Phạt những người thua bằng những hình phạt nhẹ nhàng, thoải mái. Đánh giá ưu khuyết điểm của trò chơi? Về luật lệ, cách chơi và tính hấp dẫn, sự giáo dục của trò chơi đến đâu? Chương 2: Những giải pháp đã được áp dụng. 1. Giải pháp thứ nhất: Tìm hiểu quy trình tổ chức trò chơi học tập trong dạy học sinh học: Bước 1:. Ổn định: Để tập trung sự chú ý của cả lớp (sau khi học một nội dung nào đó hoặc học song kiến thức trọng tâm của bài ). Bước 2: Giới thiệu trò chơi: Có thể làm cách nào đó để học sinh thấy được sự hấp dẫn và hứng thú của trò chơi tuy nhiên giáo viên cần trình bày ngắn gọn, xúc tích. Bước 3: Hướng dẫn phổ biến cách chơi, luật chơi: Tuỳ theo mỗi trò chơi mà giáo viên linh động hướng dẫn. Có những trò chơi phức tạp cần hướng dẫn đầy đủ trước rồi mới chơi, nhưng cũng có những trò chơi đơn giản thì có thể chơi ngay, vừa chơi vừa giải thích, làm sao cho dễ hiểu, dễ nắm mới thu hút được học sinh. Bước 4: Chơi thử (chơi nháp): Rất quan trọng nhưng cần lưu ý : – Nếu thử nhiều: khi chơi thật sẽ nhàm chán. – Nếu không chơi thử hoặc chơi thử quá ít thì người chơi chưa nắm được cách chơi sẽ gây khó khăn cho người điều khiển khi hướng dẫn chơi.

7

Sáng kiến kinh nghiệm môn sinh học Bước 5: Chơi: – Học sinh tham gia trò chơi với sự giá sát, điều khiển của giáo viên hoặc học sinh do giáo viên hoặc lớp bầu ra. – Khi chơi người giáo viên phải quan sát học sinh chơi để biết được thái độ, cử chỉ, phong cách … từ đó giáo dục điều chỉnh phong cách cho phù hợp. – Trong quá trình chơi, giáo viên có thể chuyển hướng khác với dự kiến ban đầu một ít, giáo viên nên linh động khéo léo dẫn đắt. Đừng quá nguyên tắc, cứng nhắc quá làm mất vui, mất không khí lớp học. – Người giáo viên đóng vai trò là người quản trò phải công bằng xử lý tình huống một cách khách quan, không thiên vị, không quá dễ dãi. – Tác phong người quản trò phải chuẩn mực, ngôn ngữ phải sư phạm không thô thiển, phong cách vui tươi, dí dỏm, duyên dáng. – Trò chơi hình phạt (đảm bảo nhẹ nhàng): hãy quan niệm hình phạt là một trò chơi nhỏ, đừng nên bắt ép quá đáng mà nên khuyến khích động viên người bị phạt tham gia. Bước 6: Nhận xét, đánh giá: – Cần phải biết lúc nào ngừng trò chơi (do kinh nghiệm quan sát, kinh nghiệm chơi). Đảm bảo thời gian của tiết học hoặc buổi ngoại khoá, đảm bảo sức khỏe cho người chơi, tạo sự luyến tiếc cho lần chơi sau và mang lại hiệu quả giáo dục cao. – Tiến hành đánh giá nhận xét về kết quả của trò chơi học tập và rút kinh nghiệm những sai phạm, có thể tiến hành khen, phạt nhẹ nhàng (mang tính chất khích lệ học sinh). 2. Giải pháp thứ hai: Tổ chức trò chơi giải ô chữ: Trò chơi này tổ chức vào cuối tiết học, tiết ôn tập để củng cố hoặc tái hiện kiến thức. Trong các tiết ngoại khoá có thể dùng trò chơi này vào một phần chơi cũng rất thú vị và cho hiệu quả cao. – Mục đích :

8

9

10

11

V

Â

T

S

I N H C

H

Â

12

T

Sáng kiến kinh nghiệm môn sinh học đội gắn chú thích trên mô hình, một đội gắn chú thích trên tranh hoặc cùng gắn vào hai bên của tranh nếu không có mô hình. + Thời gian chơi: 2 – 3 phút. – Tiến hành: – Khi giáo viên hô ” bắt đầu”, lần lượt học sinh số 1 của mỗi đội lên gắn chú thích cho một cơ quan, sau đó về chỗ đưa lại các mảnh bìa để học sinh số 2 lên gắn tiếp… cứ như vậy cho đến hết thời gian quy định. Nhóm nào hoàn thành nhanh, chính xác thì nhóm đó thắng và được thưởng bằng một tràng pháo tay… – Vận dụng: Ví dụ: Bài 9 “Các loại rễ, các miền của rễ”. + GV chuẩn bị tranh H9.3 (tranh câm) và các mảnh bìa nhỏ ghi chú thích tên các miền của rễ cùng chức năng có dán băng dính 2 mặt ở đằng sau (dành cho 2 đội). Các miền đó là: Miền trưởng thành, miền hút có các lông hút, miền sinh trưởng, miền chóp rễ. + Yêu cầu học sinh tự nghiên cứu thông tin trong H9.3 (trang 30 SGK) trong 1 phút để xác định tên và vị trí các miền của rễ. + Giáo viên chia lớp thành 2 đội chơi theo 2 dãy bàn của lớp học + Hai đội chơi mỗi đội cử 3 học sinh đại diện cho đội mình xếp thành 2 hàng đứng lên phía trước lớp. Giáo viên đặt 2 bộ chữ (có đính băng dính 2 mặt) trên bàn cho mỗi đội một bộ để sử dụng khi chơi. + Giáo viên yêu cầu mỗi đội gắn chú thích trên một bên của tranh, (đã có tên trên các mảnh giấy nhỏ có gắn băng dính 2 mặt ở đằng sau) trong khoảng thời gian 3 phút. + Khi giáo viên hô ” bắt đầu”, lần lượt học sinh số 1 của mỗi đội lên gắn chú thích cho một miền, sau đó về chỗ đưa lại các mảnh bìa để học sinh số 2 lên gắn tiếp… cứ như vậy cho đến hết thời gian quy định. Nhóm nào hoàn thành nhanh, chính xác thì nhóm đó thắng và được thưởng bằng một tràng pháo tay… 4. Giải pháp thứ tư: Tổ chức trò chơi: Chức năng.

13

Sáng kiến kinh nghiệm môn sinh học Có thể dùng để dạy một phần kiến thức trong bài hoặc để củng cố cuối bài. – Mục đích của trò chơi: Rèn luyện phản xạ, tạo không khí để hoạt động và ôn lại chức năng của các cơ quan trên cơ thể thực vật. – Chuẩn bị: Giáo viên dự kiến các cơ quan của thực vật: Cơ quan sinh dưỡng, cơ quan sinh sản, rễ, thân, lá… – Tiến hành: + Nói và nêu đúng chức năng của các cơ quan. + Giáo viên cho tập thể lớp chơi và nêu đúng các cơ quan: – Cách chơi: Giáo viên hoặc học sinh được cử hô chức năng của cơ quan, người chơi nêu đúng tên cơ quan. Phạm luật: + Nêu tên cơ quan sai với chức năng. + Làm chậm so với quy định, làm không dứt khoát.

* Lưu ý: Tốc độ nói nhanh, chậm tùy thuộc vào đối tượng chơi. Ví dụ: Áp dụng củng cố bài 4 “Có phải tất cả thực vật đều có hoa” để khắc sâu kiến thức về thực vật có hoa và thực vật không có hoa. – Giáo viên cho học sinh nghiên cứu kỹ H4.1 và bảng thông tin trang 13 SGK để xác định tên các cơ quan và chức năng của các cơ quan đó ở thực vật. – Giáo viên gọi một học sinh bất kì lên bục giảng sát với vị trí treo tranh. Giáo viên hô “nuôi dưỡng” Học sinh phải nêu được tên rễ, thân, lá và chỉ được vị trí các cơ quan đó trên tranh vẽ. – Tương tự: Giáo viên hô “sinh sản duy trì và phát triển nòi giống”. Học sinh phải nêu được tên hoa, quả, hạt…Phần thưởng cho học sinh chỉ đúng và xác định đúng chức năng là một tràng pháo tay hoặc cũng có thể là điểm thưởng nếu

14

Sáng kiến kinh nghiệm môn sinh học hoặc sinh đó hoàn thành tốt nhiều câu hỏi trong một lần tham gia hoặc một tiết học . 5. Giải pháp thứ năm: Tổ chức trò chơi: Tiếp sức. Dùng để dạy một phần kiến thức mới hoặc củng cố cuối bài – Mục đích trò chơi: + Củng cố khắc sâu kiến thức của bài học, biết vận dụng linh hoạt, sáng tạo kiến thức đã học vào trong trò chơi. + Rèn luyện tác phong nhanh nhẹn, phối hợp nhịp nhàng giữa các thành viên trong nhóm. + Giáo dục ý thức tích cực và tinh thần hợp tác trong các hoạt động tập thể. – Chuẩn bị: + Chia lớp thành 2 hoặc 3 nhóm, cũng có thể tổ chức cho 2 hoặc 3 cá nhân. + Chia phần bảng và phấn viết cho mỗi nhóm. + Quy định thời gian chơi: 2 hoặc 3 phút. – Tiến hành: + Khi trọng tài hô bắt đầu thì 2 nhóm hoặc 2 cá nhân làm bài: lần lượt học sinh số 1 của mỗi nhóm lên làm, sau đó về chỗ giao phấn cho bạn thứ hai lên làm tiếp… cứ như vậy cho đến hết thời gian quy định. + Cá nhân hoặc nhóm nào hoàn thành với số lượng nhiều hơn trong khoảng thời gian đã cho, và đúng yêu cầu thì sẽ là đội thắng và được thưởng (bằng điểm hoặc bằng tràng pháo tay). + Giáo viên nhận xét, xác định đội thắng, đội thua để cho điểm hoặc thưởng bằng các hình thức khác. + Với các bài về cấu tạo của các cơ quan. Giáo viên hoàn toàn có thể áp dụng trò chơi này. Ví dụ – Bài 13: “Cấu tạo ngoài của thân” – Giáo viên chia lớp thành 2 nhóm, mỗi nhóm là 5 dãy bàn, dãy bàn bên trái là nhóm 1, dãy bàn bên phải là nhóm 2 và chia bảng thành 2 phần.

15

16

Sáng kiến kinh nghiệm môn sinh học + 1 chậu cây cảnh nhỏ trên có cài các câu hỏi hoặc bài tập để trên bục giảng + Kê riêng 2 bàn dành cho học sinh ngồi chuẩn bị câu trả lời sau khi đã bốc câu hỏi. – Tiến hành: + GV phổ biến cách học thông qua trò chơi này: học sinh lựa chọn câu hỏi của mình đã được gài trên các cành cây, học sinh có thể trả lời ngay hoặc về chỗ chuẩn bị trong 2 phút (không được sử dụng tài liệu). Học sinh cũng có thể đổi câu hỏi nếu câu đó không trả lời được (chỉ 1 lần). Nhưng đổi câu hỏi phải bị trừ đi 1 điểm trong kết quả cuối cùng. + Sau khi chọn song câu hỏi học sinh đọc to câu hỏi cho các bạn phía dưới lớp biết và có thời gian 2 phút để chuẩn bị (có thể trả lời ngay). + Sau 2 phút giáo viên gọi học sinh đã bốc câu hỏi trả lời và cho 1 học sinh chuẩn bị bằng việc bốc một câu hỏi khác. + Học sinh trả lời song giáo viên gọi học sinh phía dưới nhận xét, giáo viên tổng hợp và cho điểm. + Với học sinh trả lời tốt cho điểm tương ứng với mức độ đó đồng thời tán thưởng bằng một tràng pháo tay. Đối với các học sinh trả lời chưa tốt hoặc chưa trả lời được cần phê bình nhưng mang tính chất động viên để các em tiếp tục phấn đấu, không bị chán nản. – Vận dụng: có thể áp dụng trò chơi này vào các tiết bài tập hoặc phần cuối của tiết ôn tập học kì môn sinh học 6. Ví dụ: Tiết 29 – Bài tập – Yêu cầu học sinh về nhà xem lại và ôn tập tất cả các câu hỏi, bài tập cuối bài trong sách giáo khoa và các câu hỏi, bài tập trong sách bài tập Sinh học 6 từ bài mở đầu cho tới tiết 28. – GV chuẩn bị hệ thống câu hỏi gồm: Câu 1: Giữa vật sống và vật không sống có những điểm gì khác nhau?

17

Sáng kiến kinh nghiệm môn sinh học Câu 2: Các đặc điểm chung của cơ thể sống là gì? Câu 3: Nhiệm vụ của thực vật học là gì? Câu 4: Đặc điểm chung của thực vật là gì? Câu 5: Dựa vào đặc điểm nào để nhận biết thực vật có hoa và không có hoa? Câu 6: Tế bào thực vật gồm những thành phần chủ yếu nào? Câu 7: Quá trình phân chia của tế bào thực vật diễn ra như thế nào? Câu 8: Rễ gồm mấy miền, chức năng của mỗi miền? Câu 9: Nêu vai trò của nước và muối khoáng đối với cây? Câu 10: Kể tên các loại rễ biến dạng và chức năng của chúng? Câu 11: Thân cây gồm những bộ phận nào? Câu 12: Thân cây dài ra và to ra do đâu? Câu 13: Mạch gỗ và mạch rây có chức năng gì? Câu 14: Thế nào là quang hợp? Sơ đồ tóm tắt quá trình quang hợp? Câu 15: Kể tên các loại lá biến dạng cùng chức năng của chúng? – Tiến hành: + GV viết 15 câu hỏi trên vào 15 mảnh giấy nhỏ cắt hình bông hoa và gấp lại gài lên các cành của cây cảnh được đặt trên bục giảng. + GV có thể gọi học sinh xung phong hoặc chỉ định bất kì học sinh nào (mỗi đợt gọi 2 học sinh, 1 học sinh trả lời và 1 học sinh chuẩn bị). + Thưởng điểm với các học sinh trả lời tốt, phê bình các em làm chưa tốt. Lưu ý: Gv chú ý tạo cho lớp học không khí sôi nổi để học sinh tích cực tham gia, tránh tình trạng căng thẳng hoặc gây cho học sinh sự sợ sệt. Chương 3: Kiểm chứng các giải pháp đã triển khai của sáng kiến Tiến hành dạy học thực nghiệm theo đề tài tại trường THCS Nhân Thắng đối với các lớp học sinh khối 6 tôi thu được kết quả sau: – Học sinh tiếp thu kiến thức một cách nhẹ nhàng, thoải mái. – Nâng cao năng lực tư duy nhanh nhạy, tác phong nhanh nhẹn. 18

Sáng kiến kinh nghiệm môn sinh học – Học sinh tỏ ra hào hứng, chờ đợi đến tiết học tiếp theo và yêu thích bộ môn hơn. – Tạo thái độ hợp tác trong nhóm, chuẩn bị cho sự phân công lao động hợp tác trong công việc trong tương lai. – Bồi dưỡng và giáo dục tinh thần đoàn kết hợp tác giữa các em học sinh trong học tập và lao động. * Kết quả đạt được:

Lớp

Tổng

6 18,75 9 28,1 15 46,9 8 23,5 10 29,4 12 35,3 14 21,2 19 28,8 27 40,9

Qua kết quả trên đã cho thấy rõ việc đưa các trò chơi vào dạy học đã có hiệu quả. Chất lượng điểm bài kiểm tra của học sinh đã có sự tiến bộ so với kết quả khảo sát đầu năm. Hơn thế, học sinh đã tự giác, tích cực, chủ động, bước đầu đã tự tìm tòi và phát hiện được kiến thức. Đồng thời học sinh đã có lòng yêu thích, hứng thú đối với môn sinh. Một số học sinh đã say mê với môn học, đầu tư nhiều thời gian và trí tuệ cho môn học hơn, điểm số cũng theo đó mà cao hơn. Qua điều tra sơ bộ cho thấy chất lượng học tập của học sinh có tiến bộ hơn, tuy nhiên con số dưới trung bình vẫn còn chiếm với tỉ lệ khá cao.

Phần 3: KẾT LUẬN

19

Sáng kiến kinh nghiệm môn sinh học 1. Những vấn đề quan trọng nhất được đề cập đến của sáng kiến kinh nghiệm. Để có được kết quả dạy và học tốt nhất đòi hỏi người giáo viên phải có tâm huyết với nghề, bên cạnh đó còn cần sự hỗ trợ của chuyên môn nhà trường, gia đình, các đoàn thể…., để giáo dục học sinh phát triển toàn diện cả về đức, trí, thể, mĩ … chuẩn bị hành trang vững chắc cho các em bước vào cuộc sống. Là một giáo viên tôi luôn mong ước mang đến cho học sinh những giờ học thật sự hấp dẫn, tạo mọi điều kiện cho các em tự khẳng định mình, lĩmh hội kiến thức, học tập tốt, nâng cao chất lượng học và hiệu quả của tiết học. Bằng những kinh nghiệm có được qua những giờ lên lớp, trao đổi với các bạn đồng nghiệp, dự giờ thăm lớp, thao giảng liên trường hay hội thảo chuyên đề. Qua quá trình thực hiện sáng kiến kinh nghiệm tôi nhận thấy để dạy tốt, học tốt chương trình môn sinh học lớp 6: – Để một giờ dạy sinh học đạt kết quả tốt giáo viên phải chịu khó tìm tòi nghiên cứu, thiết kế giáo án mà trong đó sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy học tích cực. Tổ chức trò chơi trong giờ dạy sinh học cũng là một trong những cách thức để nâng cao hiệu quả dạy học. – Cần vận dụng các trò chơi một cách sáng tạo, hợp lý về nội dung và có tác dụng giáo dục học sinh. – Không nên quá lạm dụng trò chơi học tập, biến cả tiết học thành tiết chơi hoặc tổ chức quá nhiều trò chơi trong tiết học dẫn đến học sinh mệt mỏi vì chơi nhiều. Cần phải tránh tổ chức trò chơi lặp lại trong cùng một tiết học vì sẽ làm giảm tính hấp dẫn của trò chơi, khó thu hút được sự chú ý của học sinh. – Kinh nghiệm của tôi là chỉ nên sử dụng trò chơi học tập vào dạy một phần nội dung trong bài hoặc sử dụng vào cuối tiết học thay cho việc củng cố kiến thức kỹ năng đã học. Trò chơi học tập tạo sự hưng phấn về môn học vừa để kết thúc tiết học vừa tạo sự thư giãn cho học sinh trước khi bước vào tiết học tiếp theo.

20

Cập nhật thông tin chi tiết về Thuyết Minh Sáng Kiến Một Số Kinh Nghiệm Giúp Học Sinh Lớp 6 Học Tốt Bài “Làm Quen Với Một Số Thiết Bị Máy Tính” Ở Trường Thcs Thị Trấn Tam Đường trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!