Xu Hướng 12/2022 # Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Văn Hóa Đọc Của Sinh Viên Trường Đại Học Công Nghiệp Hà Nội / 2023 # Top 15 View | Phauthuatthankinh.edu.vn

Xu Hướng 12/2022 # Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Văn Hóa Đọc Của Sinh Viên Trường Đại Học Công Nghiệp Hà Nội / 2023 # Top 15 View

Bạn đang xem bài viết Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Văn Hóa Đọc Của Sinh Viên Trường Đại Học Công Nghiệp Hà Nội / 2023 được cập nhật mới nhất trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Trung tâm Thông tin Thư viện, Trường ĐHCNHN Trường Đại học Văn hóa Hà Nội TÓM TẮT

Văn hóa đọc giúp sinh viên lĩnh hội tri thức, hệ thống khái niệm khoa học, kỹ năng nghề nghiệp, phát triển phẩm chất nhân cách nghề nghiệp tương lai; hỗ trợ cho việc nâng cao trình độ học tập và nghiên cứu khoa học. Văn hóa đọc còn nâng cao khả năng tư duy độc lập, tự chủ và sáng tạo của sinh viên. Do đó, sinh viên các trường đại học nói chung và sinh viên trường Đại học Công nghiệp Hà Nội nói riêng, cần phải trang bị cho mình. Để phát huy vai trò của văn hóa đọc trong quá trình học tập, sinh viên cần có nhận thức đầy đủ, từ đó vận dụng nó một cách triệt để hỗ trợ cho việc học tập của mình. Bài báo trình bày nghiên cứu về văn hóa đọc của sinh viên tại trường Đại học Công nghiệp Hà Nội. Áp dụng phương pháp nghiên khảo sát, kết quả nghiên cứu cho thấy, văn hóa đọc của sinh viên trường Đại học Công nghiệp Hà Nội còn nhiều bất cập. Từ đó, tác giả đề xuất một số khuyến nghị để phát triển văn hóa đọc cho sinh viên trường Đại học Công nghiệp Hà Nội nói riêng, sinh viên các trường đại học nói chung.

1. GIỚI THIỆU

Văn hóa đọc có vai trò quan trọng trong xã hội, góp phần truyền bá tri thức, giúp con người trong công cuộc xây dựng và cải tạo xã hội phát triển toàn diện trên mọi lĩnh vực. Để phát triển văn hóa đọc, những năm gần đây, các thư viện và nhà xuất bản trong cả nước đã tổ chức nhiều hoạt động như: ngày đọc, tuần đọc sách, nhân ngày sách và bản quyền thế giới. Từ năm 2011, “Ngày hội sách và văn hóa đọc” được Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch tổ chức hàng năm tại Trung tâm hoạt động Văn hóa – Khoa học Văn Miếu, Quốc Tử Giám. Mục tiêu quan trọng của các hoạt động này là tôn vinh giá trị của sách, khuyến khích việc đọc và đáp ứng nhu cầu cho mọi người được khám phá và thỏa mãn sở thích đọc của mình.

Tại trường Đại học Công nghiệp Hà Nội, tính đến năm 2016, đã đào tạo hàng ngàn kỹ sư/ cử nhân đa ngành, đa lĩnh vực với gần 30 chuyên ngành. Trường đang thực hiện nâng cao chất lượng đào tạo toàn diện, triển khai các loại hình đào tạo mới, triển khai sâu rộng hoạt động nghiên cứu khoa học, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động giảng dạy và học tập, rèn luyện tư duy sáng tạo và tạo lập phong cách tự học, tự nghiên cứu. Để thực hiện tốt nhiệm vụ đó, phát triển văn hóa đọc là một nhiệm vụ quan trọng. Bên cạnh đó, nhu cầu đọc của sinh viên cũng rất phong phú và đa dạng, từ sách, giáo trình, tài liệu học tập đến báo, tạp chí… Tuy nhiên, liệu sinh viên đã có văn hóa đọc chưa và kết quả của nó như thế nào là vấn đề cần được quan tâm nghiên cứu. Trong nghiên cứu này, tác giả tập trung phân tích vai trò của văn hóa đọc và thực trạng văn hóa đọc của sinh viên trường Đại học Công nghiệp Hà Nội.

2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1. Cơ sở lý luận

Văn hóa là một hiện tượng đa dạng, được các nhà khoa học hiểu theo nhiều cách khác nhau nhưng tựu chung lại: văn hóa là phẩm chất chỉ có ở con người, là phương thức tồn tại của con người, văn hóa thể hiện trình độ phát triển của con người, giúp con người ngày càng hoàn thiện hơn. Văn hóa đọc là một bộ phận của văn hóa. Cũng như các lĩnh vực văn hóa khác, văn hóa đọc chỉ chất lượng, giá trị tinh thần của con người được tạo ra cả trong hoạt động vật chất và hoạt động tinh thần. Chú trọng tới văn hóa đọc được bắt đầu khoảng hơn thập kỷ trở lại đây. Cùng với sự phát triển của xã hội trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, thuật ngữ “văn hóa đọc” đã được bồi đắp, biến đổi theo hướng hiện đại.

Cho đến nay, các nhà nghiên cứu khoa học đã đề cập đến văn hóa đọc dưới nhiều góc độ và các cách nhìn nhận khác nhau. Văn hóa đọc là một khái niệm được xét ở hai phương diện rộng và hẹp. Ở phương diện rộng, văn hóa đọc là ứng xử đọc, giá trị đọc và chuẩn mực đọc của mỗi cá nhân, của cộng đồng xã hội và của các nhà quản lý và cơ quan quản lý nhà nước. Còn theo phương diện hẹp, văn hóa đọc là ứng xử, giá trị và chuẩn mực đọc của mỗi cá nhân. Ứng xử, giá trị và chuẩn mực này gồm ba thành phần: thói quen đọc, sở thích đọc và kỹ năng đọc (Viêm, 2009). Từ phương diện rộng, Bùi Văn Vượng coi thuật ngữ “văn hóa đọc là đọc sách có văn hóa, hay xây dựng một xã hội đọc sách” (trích bởi Đan Sơn, 2006); theo nhà ngôn ngữ học Phạm Văn Tình “Văn hóa đọc là đọc sao cho hợp với quy luật tiếp cận tri thức” (trích bởi Phan Hùng Sơn, 2012). Theo phương diện hẹp, Trần Thị Minh Nguyệt (2006), cho rằng văn hóa đọc không chỉ là đọc gì mà còn là, và chủ yếu là, đọc như thế nào, lĩnh hội và cảm thụ nội dung sách ở mức độ nào, đồng thời bao hàm cả thái độ ứng xử với sách báo của người đọc.

Như vậy, văn hóa đọc là một loại hình hoạt động văn hóa, giúp cho hoạt động đọc của con người đạt hiệu quả cao, qua đó thể hiện trình độ văn hóa của mỗi cá nhân. Trong nghiên cứu này, tác giả lựa chọn đối tượng khảo sát là sinh viên trường Đại học Công nghiệp Hà Nội, để nghiên cứu phân tích về văn hóa đọc theo ba yếu tố: (i) nhu cầu đọc, (ii) kỹ năng đọc và (iii) thái độ ứng xử với tài liệu.

Nhu cầu đọclà yếu tố quan trọng nhất của hoạt động đọc, quy định nội dung của hoạt động đọc. Nhu cầu đọc giúp cho con người tập trung khả năng nhận thức về một đối tượng cụ thể. Nhờ đó, hiệu quả của hoạt động đọc cao hơn.

Kỹ năng đọc là khả năng vận dụng những kiến thức về đọc vào thực tiễn hoạt động đọc của mỗi con người. Kỹ năng đọc được hình thành thông qua quá trình đọc, vì vậy mỗi con người có kỹ năng đọc riêng. Trong quá trình đọc, kỹ năng đọc dần được hình thành. Đó là quá trình tự học hỏi, tự rút kinh nghiệm cho bản thân người đọc. Kỹ năng đọc thể hiện trình độ văn hóa của mỗi con người, phụ thuộc vào nhiều yếu tố: tri thức, kinh nghiệm, năng lực…

Thái độ ứng xử với tài liệu luôn là chuẩn mực quan trọng để đánh giá phẩm chất của con người. Thái độ ứng xử với tài liệu thể hiện qua tư thế, tâm thế của con người qua tác phong đọc. Thái độ đọc tốt thể hiện qua việc lựa chọn tài liệu tốt, tiến bộ; đồng thời thể hiện cung cách đọc tài liệu với thái độ trân trọng, khiêm tốn, cầu thị với những kiến thức trong nội dung tài liệu.

3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1. Nhu cầu đọc

Tác giả tiến hành phân nhóm trong số 224 phiếu trả lời hợp lệ. Nhóm 1 là các sinh viên hệ đại học chính quy học các chuyên ngành công nghệ và kỹ thuật, gồm: 112 sinh viên các chuyên ngành Công nghệ kỹ thuật Cơ khí, Công nghệ kỹ thuật Cơ điện tử, Công nghệ kỹ thuật Ô tô, Công nghệ kỹ thuật Điện, Điện tử, Công nghệ kỹ thuật Điện tử-truyền thông, Công nghệ kỹ thuật Hoá, Kỹ thuật phần mềm. Nhóm 2 là các sinh viên hệ đại học chính quy học các chuyên ngành khoa học xã hội, gồm: 112 sinh viên ngành Kế toán, Quản trị kinh doanh, Thiết kế thời trang, Ngôn ngữ Anh, Tài chính ngân hàng, Việt Nam học. Trong đó, có 200 sinh viên (chiếm tỷ lệ 89,3%) trả lời là có đọc sách; 10,7% sinh viên trả lời không đọc sách. Kết quả phân tích ở nhóm sinh viên trả lời khảo sát là có đọc sách cho thấy, sinh viên học các chuyên ngành khoa xã hội có nhu cầu đọc sách nhiều hơn (chiếm 52%) so với sinh viên học các chuyên ngành công nghệ, kỹ thuật (chiếm 48%).

Nguồn tài liệu: Tỷ lệ sinh viên có nhu cầu đọc sách thường mượn trên thư viện là rất ít, chỉ chiếm 7%;mượn sách của bạn bè chiếm 17%; tự mua sách chiếm 23,5%; chủ yếu sử dụng Internet để thỏa mãn nhu cầu đọc của mình chiếm 69,5%; còn lại 4,5% là đọc sách từ các nguồn khác (hình 1).

Hình 1. Nguồn tài liệu sinh viên thường sử dụng cho việc đọc

Như vậy, tài liệu trên Internet được sinh viên sử dụng nhiều nhất (chiếm 69,5%). Trong điều kiện đời sống xã hội ngày càng phát triển như hiện nay, việc trang bị máy tính có kết nối mạng là khá dễ dàng. Sinh viên có thể sử dụng các tài liệu trên Internet ngay tại nơi mình đang sống. Với cách tiếp cận nguồn tài liệu này, sinh viên có cơ hội khai thác được thông tin một cách thường xuyên, phong phú và đa dạng. Việc đọc trên thư viện, mượn của bạn bè, tự mua sách hay các nguồn tài liệu khác chiếm số lượng ít. Do đó, nhu cầu đọc có thể bị hạn chế trước những thay đổi nhanh chóng về thị hiếu của sinh viên như hiện nay, hay việc đầu tư vào nguồn tài liệu này không cạnh tranh được với dịch vụ Internet vừa rẻ lại không phải đi lại nhiều.

Nhu cầu và hứng thú đọc: Trên cơ sở kết quả khảo sát về thói quen đọc và nguồn tài liệu sinh viên thường sử dụng, tác giả đã tiến hành phân tích nhu cầu và hứng thú đọc của sinh viên. Kết quả phân tích cho thấy, sinh viên nhóm 1 học các ngành công nghệ, kỹ thuật thích đọc thể loại sách về khoa học kỹ thuật nhất (38,5%). Điều này cũng dễ hiểu bởi thể loại sách về khoa học kỹ thuật phục vụ cho chuyên ngành mà sinh viên nhóm này đang theo học. Có 29,2% sinh viên trả lời thích đọc thể loại tài liệu tin tức thời sự, sau đó là tài liệu nghiên cứu (13,5%). Mặc dù, sinh viên nhóm 1 học các ngành khoa công nghệ, kỹ thuật nhưng có sở thích đọc sách văn học cũng không nhỏ (chiếm tỷ lệ 12,5%). Trong khi đó, sinh viên nhóm 2 học các ngành khoa xã hội có nhu cầu và hứng thú đọc với thể loại tin tức thời sự nhất (chiếm 43,3%) vì những tài liệu này bổ trợ cho môn học của họ; kế tiếp là loại sách về khoa học kỹ thuật (18,3%); 17,3% lựa chọn tài liệu nghiên cứu, thể loại văn học chiếm 16,3% (bảng 1).

Bảng 1. Kết quả phân tích nhu cầu và hứng thú đọc của sinh viên

Dạng tài liệu: Khảo sát về nhu cầu và hứng thú đọc của sinh viên với ba dạng tài liệu được sử dụng phổ biến hiện nay. Tài liệu in trên giấy vốn tồn tại rất lâu đời cùng với các bộ chữ viết, là loại hiện vật có giá trị do hàm chứa lượng thông tin lớn và đa dạng. Tài liệu in trên giấy bao gồm sách, báo, tạp chí, các ấn phẩm xuất bản bằng chữ. Khi đọc tài liệu in trên giấy, người đọc được phát huy trí tưởng tượng của mình, phát triển năng lực tư duy và mở rộng thế giới quan. Tài liệu nghe nhìn là loại hình tài liệu phản ánh các mặt đời sống chính trị, văn hoá, tinh thần bằng hình ảnh động, hình tượng âm thanh, vì vậy nó tác động trực tiếp và nhanh chóng đến thế giới quan của con người. Loại hình của tài liệu nghe nhìn gồm: tài liệu ảnh, phim điện ảnh, ghi âm, ghi hình và kĩ thuật số. Tài liệu điện tử là các thông tin có sẵn dưới dạng có thể xử lý được bằng máy tính và trong đó tất cả các chức năng bổ sung, lưu trữ, bảo quản, tìm kiếm, truy cập và hiển thị đều sử dụng kĩ thuật số. Loại hình của tài liệu điện tử bao gồm: cơ sở dữ liệu, báo và tạp chí điện tử, sách điện tử. Đây là dạng tài liệu thịnh hành nhất hiện nay, nó tập hợp được cả nội dung của tài liệu in trên giấy và tài liệu nghe nhìn.

Kết quả khảo sát theo dạng tài liệu cho thấy, đa số sinh viên thích đọc dạng tài liệu điện tử nhất (41,5%), dạng tài liệu in trên giấy chiếm tỉ lệ không nhỏ (35%), tỉ lệ sinh viên thích đọc tài liệu nghe nhìn là 23,5%. Kết quả khảo sát theo dạng tài liệu cũng cho thấy, sinh viên nhóm 2 học các ngành khoa xã hội có sở thích đọc dạng tài liệu in trên giấy và tài liệu điện tử là như nhau (38,5%), có thể do tính chất ngành học nên sinh viên nhóm này vẫn ưa thích tài liệu in trên giấy. Trong khi, sinh viên nhóm 1 lại ưa chuộng dạng tài liệu điện tử hơn tài liệu in trên giấy (chiếm 44,8%). Dạng tài liệu nghe nhìn được sinh viên cả hai nhóm thích sử dụng là tương đương nhau.

Nhớ tên tác giả khi đọc có tác dụng củng cố trí nhớ và làm giàu vốn hiểu biết của mình. Khả năng nhớ tên tác giả của sinh viên sau khi đọc xong mỗi cuốn sách là 28,2%, chủ yếu sinh viên chỉ quan tâm tới những tác giả của cuốn sách mình thích (45,7%), còn lại 26,1% sinh viên không nhớ tên tác giả sau khi đọc. Đọc có nghiền ngẫm, đúc kết đòi hỏi người đọc phải ghi chép sau khi đọc.

Khi đọc xong một cuốn sách, chỉ có 16% sinh viên ghi lại cảm nghĩ, nhận xét của mình. Đây là một phương pháp đọc hay nhưng chưa được sinh viên áp dụng thực tế nhiều. Sinh viên chỉ ghi lại những phần nội dung tâm đắc nhất của cuốn sách chiếm tỉ lệ 32,5%; 17,5% số sinh viên chỉ ghi lại những thông tin phục vụ cho việc học và nghiên cứu; khá nhiều sinh viên không ghi lại cảm nghĩ, nhận xét sau khi đọc xong chiếm 34% (bảng 2).

Bảng 2. Kết quả khảo sát về phương pháp đọc của sinh viên

Như vậy, kết quả khảo sát trên cho thấy, sinh viên vẫn chưa có phương pháp đọc khoa học, hiệu quả.

3.3. Thái độ ứng xử với tài liệu

Đánh dấu trang đang đọc dở: Hiện nay, các nhà xuất bản sách rất quan tâm đến sự lợi ích người đọc và văn hóa khi đọc sách. Hầu hết gáy các cuốn sách xuất bản (nhất là những sách có số lượng trang lớn) được đính kèm sợi chỉ nhỏ màu đỏ hoặc vàng, để thuận tiện cho việc đánh dấu lại trang sách mà người đọc đang đọc dở. Thông qua hành động tưởng như rất nhỏ ấy, cho thấy ý thức, văn hóa của mỗi con người. Kết quả điều tra về hành động này cho thấy, khi đang đọc dở một cuốn sách, sinh viên thường gấp mép trang đọc dở để đánh dấu chiếm tỷ lệ 58,8%; 27,6% sinh viên chọn cách lấy một vật gì đó để kẹp vào trang đang đọc dở; sinh viên gấp gáy cuốn sách để đánh dấu chiếm 8,1%; còn lại 5,5% sinh viên chọn cách ghi nhớ trang của riêng mình như: tự nhớ số trang đang đọc dở, ghi nhớ lại phần mình đang đọc.

Đánh dấu đoạn mình thích: Khi đọc đến đoạn thích nhất hoặc nội dung cần tìm, sinh viên chủ yếu dùng bút chì để đánh dấu chiếm tỷ lệ 29,6%; không làm gì cả chiếm 28,6%; dùng bút màu đánh dấu chiếm 23,1%; 13,6% sinh viên có cách làm khoa học và đúng đắn nhất là ghi chép vào sổ tay cá nhân; một số ít sinh viên (5,1%) chọn phương pháp riêng của mình như: đọc đi đọc lại nhiều lần, đọc kỹ hoặc học thuộc để nhớ hay dùng cách gấp mép trang giấy, đánh dấu nội dung cần, dùng chỉ đỏ ở cuốn sách để đánh dấu lại trang mình cần (bảng 3).

Bảng 3. Kết quả khảo sát về thái độ ứng xử của sinh viên với tài liệu

Mức độ đáp ứng nhu cầu sách báo của thư viện đối với sinh viên: Thư viện trường phục vụ công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học của sinh viên, giảng viên trong trường, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, là nơi cung cấp nguồn dữ liệu, thông tin quan trọng về chương trình đào tạo của nhà trường. Thư viện giúp sinh viên rèn luyện khả năng tự học, tư duy độc lập và năng lực sáng tạo của bản thân. Thư viện trường là cái nôi hình thành, duy trì và phát triển văn hóa đọc cho sinh viên. Kết quả điều tra về mức độ đáp ứng nhu cầu sách báo của thư viện đối với sinh viên cho thấy, mức độ đáp ứng nhu cầu sách báo ở thư viện của trường là không cao. Vốn tài liệu là yếu tố quan trọng nhất để thu hút sinh viên đến thư viện nhưng chủ yếu sinh viên cho rằng lượng sách báo trong thư viện trường chỉ đáp ứng được nhu cầu học tập của họ chiếm 32,2%; đáp ứng được rất ít nhu cầu học tập và giải trí chiếm 29,6%; 20,6% thỏa mãn với sách báo ở thư viện trường đã đáp ứng đầy đủ nhu cầu của sinh viên; số còn lại 17,6% cho rằng thư viện không đáp ứng được nhu cầu của họ (hình 2).

Kết quả khảo sát trên đã cho thấy, Thư viện trường Đại học Công nghiệp Hà Nội cần bổ sung thêm các tài liệu cả về chất lượng và số lượng, tương xứng với các ngành học mà trường đào tạo và tương xứng với số lượng sinh viên đang theo học để đáp ứng đầy đủ nhu cầu đọc và thu hút sinh viên đến với thư viện của trường.

Hình 2. Mức độ đáp ứng nhu cầu sách báo của thư viện đối với sinh viên

4. KHUYẾN NGHỊ VÀ KẾT LUẬN

Trên cơ sở phân tích thực trạng văn hóa đọc của sinh viên, tác giả khuyến nghị một số giải pháp nhằm phát triển văn hóa đọc cho sinh viên trường Đại học Công nghiệp Hà Nội như sau:

Một l quan tâm, đầu tư hơn nữa về vấn đề đọc sách phục vụ cho học tập, nghiên cứu và giải trí của sinh viên. Thường xuyên triển khai các hoạt động tuyên truyền, phổ biến nhằm nâng cao nhận thức về văn hóa đọc.

Bốn là, nâng cao chất lượng thư viện bằng việc đầu tư kinh phí hoạt động vì thư viện là yếu tố quan trọng nhất trong việc phát triển văn hóa đọc. Tiến hành điều tra nhu cầu đọc của sinh viên theo định kì, từ đó có những kế hoạch đầu tư hợp lý cho việc phát triển văn hóa đọc trong trường.

Năm là, nâng cao tính chủ động của sinh viên trong quá trình học tập và nghiên cứu bằng việc đổi mới phương pháp giảng dạy và học tập theo hướng lấy người học làm trung tâm, chuyển quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo, đưa hoạt động đào tạo tiếp cận với thực tế, chuyển từ tiếp thu thụ động sang chủ động khám phá. Phương pháp giảng dạy phải khiến cho sinh viên đọc giáo trình là yêu cầu bắt buộc để nắm được những kiến thức cơ bản nếu muốn hoàn thành nhiệm vụ học tập; đọc tài liệu tham khảo để bổ sung, mở rộng kiến thức của mỗi môn học nếu muốn trở thành sinh viên khá, giỏi. Định hướng cho sinh viên sử dụng Internet theo hướng tích cực; xây dựng một website mang tính định hướng văn hóa đọc cho sinh viên, phổ biến, tuyên truyền văn hóa đọc tới sinh viên; giới thiệu những cuốn sách hay, mới; tổng hợp những bài viết hay, có giá trị được đăng tải trên Internet; lập diễn đàn để sinh viên có thể chia sẻ, trao đổi kinh nghiệm trong việc đọc; giới thiệu và tạo liên kết với những trang web khác bổ ích cho việc đọc. Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh của trường nên thành lập ban chỉ đạo chuyên trách cho việc phát triển văn hóa đọc trong đoàn viên. Hàng năm, vào các ngày lễ lớn, Đoàn trường nên tổ chức các hình thức hoạt động như gặp gỡ trò chuyện với những nhà văn, nhà nghiên cứu… mà giới trẻ đang ngưỡng mộ hay tổ chức giao lưu, hội thi, trò chơi… làm cho hoạt động đọc trở thành một trong những nội dung sinh hoạt của tổ chức Đoàn. Đoàn trường nên mở một kênh chuyên mục giới thiệu sách mới qua phương tiện truyền thông để sinh viên có thể cập nhật tài liệu mới. Trong những buổi tổ chức sinh hoạt Đoàn định kỳ nên lồng ghép các hoạt động của văn hóa đọc cùng với các hoạt động Đoàn giúp cho sinh viên tiếp cận nhiều hơn với việc đọc.

5. KẾT LUẬN

Văn hóa đọc là tập hợp của các yếu tố: nhu cầu đọc, kỹ năng đọc và thái độ ứng xử với tài liệu giúp cho hoạt động đọc của sinh viên đúng đắn, khoa học tiết kiệm được thời gian, công sức lại đạt hiệu quả cao trong quá trình học tập và nghiên cứu. Bên cạnh đó, với những chức năng chủ yếu cung cấp thông tin, tri thức, giáo dục, giải trí, giao tiếp; văn hóa đọc góp phần vào việc bồi dưỡng, nâng cao kiến thức, hình thành và phát triển nhân cách sinh viên. Chính vì vậy, phát triển văn hóa đọc cho sinh viên trường Đại học Công nghiệp Hà Nội có ý nghĩa quan trọng. Trên cơ sở nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của văn hóa đọc đối với việc học tập, nghiên cứu khoa học của sinh viên, dựa vào những kết quả phân tích trên, tác giả khuyến nghị một số giải pháp nhằm thúc đẩy văn hóa đọc cho sinh viên trường Đại học Công nghiệp Hà Nội./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1]. Bộ Văn hóa thông tin và Thể thao, 1992. Thập kỷ thế giới phát triển văn hóa. Hà Nội.

[2]. C. Mác và Ph. Ăngghen, 1956. Những tác phẩm thời trẻ, tr. 587.

[3]. Đào Thị Ngọc, 2011. Nghiên cứu phát triển văn hóa đọc cho học viên tại Học viện Chính trị – hành chính khu vực I. Luận văn thạc sỹ, Đại học Văn hóa Hà Nội.

[4]. Trần Thị Minh Nguyệt, 2006. Giáo dục văn hóa đọc cho lứa tuổi thiếu nhi. Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, (5), tr.116-120.

[5]. Nguyễn Công Phúc, 2010. Liệu pháp đọc sách trong hoạt động thư viện. Tạp chí Thư viện Việt Nam, (2), tr.21-25.

[6]. Đan Sơn, 2006. Vấn đề chưa khép lại. https://www.khatvong-tuoitre.com/2012/04/van-e-chua-khep-lai.html

[7]. Phan Hùng Sơn, 2012. Văn hóa đọc sách của giới trẻ – những điều trông thấy và suy ngẫm. https://sukienhay.com/Blogs/van-hoa-doc-sach-cua-gioi-tre-nhung-dieu-trong-thay-va-suy-ngam.html.

[8]. Hoàng Thị Thục, 2011. Thư viện đại học: Thực trạng và phát triển. https://lib.haui.edu.vn/Home/GetArticleByID/10446.

[9]. Nguyễn Hữu Viêm, 2009. Văn hóa đọc và phát triển văn hóa đọc ở Việt Nam. Tạp chí Thư viện Việt Nam, (1), tr.19-26.

Bài viết đăng trên Tạp chí KHCN số 38 ra tháng 2/2017, Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội

Phát Triển Văn Hóa Đọc Trong Trường Học / 2023

Phát triển văn hóa đọc trong lứa tuổi học sinh là một cách thức dạy học sinh tự học, tự phát triển toàn diện theo sở thích, nhu cầu của mỗi cá nhân. Những tác động tích cực, thường xuyên từ giáo viên, nhà trường, gia đình sẽ giúp các em rèn luyện kỹ năng đọc và xây dựng thói quen đọc sách ngay từ nhỏ. Qua đó, đem lại hiệu quả tích cực, xây dựng nền tảng tri thức cho học sinh từ khi ngồi trên ghế nhà trường.

Phát triển văn hóa đọc trong lứa tuổi học sinh là một cách thức dạy học sinh tự học, tự phát triển toàn diện theo sở thích, nhu cầu của mỗi cá nhân.

Trong thời gian tạm nghỉ học do dịch COVID-19 diễn biến phức tạp, em La Bảo Nam, học sinh lớp 5B, Trường Tiểu học Hưng Đạo, Thành phố luôn sắp xếp thời gian để đọc sách mỗi ngày ngoài thời gian tham gia học trực tuyến với các bạn và thầy cô giáo. Được sự động viên, nhắc nhở thường xuyên của thầy cô và cha mẹ, em luôn duy trì thói quen đọc sách mỗi ngày. Với em, các loại sách truyện thiếu nhi, truyện cổ tích, sách tham khảo đã trở nên gần gũi và quen thuộc. Ngoài một số quyển sách được bố mẹ mua cho, Nam còn được mượn sách của thư viện nhà trường để về nhà tự đọc, chỗ nào không hiểu rõ, em được sự hỗ trợ từ mẹ để việc đọc trở nên hứng thú hơn.

Trường Tiểu học Hưng Đạo có 327 học sinh, chia thành 11 lớp học. Năm học 2019 – 2020, nhà trường được hỗ trợ xây dựng Thư viện sách Room to read khang trang và đồng bộ, sách được phân loại theo trình độ đọc và trưng bày trên kệ với hơn 800 đầu sách. Dưới sự hướng dẫn của Room to read, nhà trường đưa vào thời khóa biểu chính khóa tiết đọc thư viện 1 tiết/tuần/mỗi lớp với các hình thức “Cùng đọc”, “Đọc to nghe chung”, “Đọc cặp đôi” hay “Đọc cá nhân”. Bên cạnh đó, học sinh còn được tham gia những tiết sinh hoạt nhóm bổ ích và được mượn sách về nhà, do đó thu hút sự quan tâm, hứng thú đối với các em học sinh. Để duy trì thói quen đọc sách cho học sinh, trong thời gian nghỉ học, ngoài các tin nhắn nhắc nhở, hướng dẫn về thực hiện các biện pháp phòng dịch, nhà trường đã chỉ đạo các thầy cô giáo chủ nhiệm thường xuyên tuyên truyền, động viên học sinh tự học, tự đọc sách tại nhà thông qua hệ thống tin nhắn Edu, Zalo và qua các giờ học trực tuyến.

Việc tạo cho học sinh có được thói quen đọc sách, hứng thú tìm hiểu kiến thức qua sách, báo chính là nền tảng để xây dựng một thế hệ tương lai độc lập, có kỹ năng và kiến thức.

Xác định tầm quan trọng của việc xây dựng thói quen, kỹ năng tự đọc sách cho học sinh, Phòng Giáo dục và Đào tạo thành phố Cao Bằng đã chỉ đạo các trường học trên địa bàn chủ động kết nối với học sinh và phụ huynh thông qua hệ thống nhắn tin, kết nối trực tuyến, sử dụng các phần mềm học online, qua đó tuyên truyền, khuyến khích học sinh thường xuyên duy trì việc tự học, tự ôn luyện kiến thức tại nhà nhằm ôn tập và nâng cao kiến thức cho mỗi học sinh.

Em Trần Thị Thảo Linh, lớp 7D, trường THCS Hợp Giang là học sinh giỏi nhiều năm liền và là chủ nhân của nhiều giải thưởng cấp trường, cấp thành phố như giải Toán, Tiếng Anh trên mạng internet… Không chỉ học giỏi đều các môn, em còn là lớp trưởng, là liên đội phó của trường, tích cực tham gia các hoạt động của trường, của lớp. Thảo Linh chia sẻ, sở thích của em là đọc sách, vừa để trau dồi kiến thức, vừa là cách để thư giãn sau những giờ học tập căng thẳng. Chính việc đọc sách, không ngừng tìm tòi những kiến thức mới qua sách, báo đã giúp em được rèn luyện kỹ năng và tiếp thu thêm nhiều kiến thức bổ ích, hỗ trợ hiệu quả cho việc học tập. Ngoài đọc các loại sách truyền thống, em còn tìm hiểu thêm về những thông tin mới, những câu chuyện hay qua mạng internet để mở rộng vốn kiến thức đã có.

Việc tạo cho học sinh có được thói quen đọc sách, hứng thú tìm hiểu kiến thức qua sách, báo chính là nền tảng để xây dựng một thế hệ tương lai độc lập, có kỹ năng và kiến thức. Phát triển văn hóa đọc trong nhà trường góp phần thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 của Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Đồng thời, góp phần xây dựng và phát triển phong trào đọc sách trong cộng đồng, xây dựng một xã hội học tập và học tập suốt đời.

Trường Đại Học Nội Vụ Hà Nội / 2023

1.1. Đầu mối, gắn kết và điều phối chung hoạt động của Trường; tổ chức phối hợp công tác giữa các đơn vị thuộc, trực thuộc Trường; chuẩn bị nội dung, chương trình, ghi biên bản và ra thông báo kết luận các cuộc họp, họp giao ban công tác của Trường; theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện các kết luận cuộc họp;

1.2. Thực hiện công tác văn thư, lưu trữ của Trường; xây dựng quy chế và hướng dẫn, kiểm tra các đơn vị thuộc, trực thuộc Trường thực hiện công tác văn thư, lưu trữ theo quy định của Trường và quy định của pháp luật;

1.3. Xây dựng kế hoạch, chương trình, lịch công tác hằng tuần, hằng tháng, hằng năm của Trường trình Hiệu trưởng ký ban hành; giúp Hiệu trưởng theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kế hoạch, chương trình công tác, các cuộc họp giao ban tuần, tháng, quý, năm của Trường và hướng dẫn, đôn đốc các đơn vị phối hợp thực hiện;

1.4. Xây dựng báo cáo định kỳ, đột xuất, báo cáo chuyên đề về các nhiệm vụ của Trường theo quy định; chủ trì hoặc tham gia xây dựng, góp ý các đề án, văn bản theo chức năng nhiệm vụ hoặc theo phân công của Hiệu trưởng;

1.5. Thực hiện nhiệm vụ thư ký giúp việc Hiệu trưởng và các Phó Hiệu trưởng (sau đây gọi chung là Ban Giám hiệu);

1.7. Phối hợp thực hiện công tác truyền thông, quảng bá hình ảnh của Trường; là đầu mối cung cấp thông tin của Trường cho các cơ quan thông tấn báo chí theo chỉ đạo của Hiệu trưởng;

1.8. Chủ trì xây dựng chương trình tin học hóa, hiện đại hóa công tác quản lý hành chính, văn thư, lưu trữ của Trường; đầu mối hướng dẫn các đơn vị thực hiện xây dựng, áp dụng, duy trì, cải tiến Hệ thống quản lý chất lượng phù hợp Tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO 9001;

1.9. Thực hiện cấp giấy giới thiệu, giấy đi đường cho công chức, viên chức, người lao động của Trường theo quy định; chứng thực văn bằng, chứng chỉ, bảng điểm của người học do Trường cấp và các loại văn bản do Trường ban hành; ký xác nhận giấy đi đường cho khách đến công tác và lưu trú tại Trường;

1.11. Đầu mối thực hiện việc hiếu, hỉ đối với công chức, viên chức, người lao động trong Trường và các cơ quan có quan hệ công tác với Trường;

1.12. Tổ chức và thực hiện công tác y tế trường học, mua bảo hiểm y tế, phòng chống dịch bệnh, vệ sinh an toàn thực phẩm, chăm sóc sức khoẻ cho công chức, viên chức, người lao động và người học trong Trường theo quy định;

1.13. Xây dựng dự toán tài chính thực hiện nhiệm vụ hoạt động hằng năm theo kế hoạch của đơn vị và các hoạt động đơn vị được giao chủ trì thực hiện.

2. Công tác thi đua, khen thưởng và pháp chế:

2.1. Tham mưu giúp Hiệu trưởng và Hội đồng thi đua, khen thưởng của Trường chỉ đạo, quản lý và tổ chức, hướng dẫn thực hiện công tác thi đua, khen thưởng;

2.2. Tiếp nhận, kiểm tra thủ tục, nội dung, thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản trước khi trình Ban Giám hiệu; chịu trách nhiệm về thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản do Trường ban hành;

2.3. Thực hiện công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật tới công chức, viên chức, người lao động trong Trường; kiểm tra, rà soát, hệ thống hoá văn bản; tham gia thẩm định các quy định, quy chế, quy tắc, nội quy trong Trường bảo đảm thực hiện theo quy định của pháp luật.

3. Công tác quản trị công sở, phục vụ hậu cần:

3.1. Quản lý trụ sở, tài sản, cơ sở hạ tầng của Trường theo quy định của pháp luật;

3.2. Trình Hiệu trưởng ban hành các quy định: nội quy, quy chế cơ quan, quản lý tài sản; điện, nước; phòng cháy, chữa cháy; phòng chống bão lụt; sửa chữa tài sản cố định, mua sắm tài sản, vật tư, văn phòng phẩm;

3.3. Xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện mua mới, tiếp nhận, cải tạo, duy tu, bảo trì, bảo dưỡng, thay thế, sửa chữa tài sản, phương tiện, trang thiết bị phục vụ hoạt động của Trường theo quy định;

3.4. Thực hiện vận hành các loại máy, thiết bị các tòa nhà, trạm điện, thang máy, trạm bơm, máy phát điện đảm bảo an toàn theo quy định của pháp luật và quy định của Trường;

3.5. Phối hợp với phòng Kế hoạch – Tài chính tổ chức thực hiện việc kiểm kê tài sản theo định kỳ hằng năm; tổ chức việc thanh lý, nhượng bán, điều chuyển tài sản, dụng cụ, phương tiện, trang thiết bị của Trường theo quy định của pháp luật và theo phân công của Hiệu trưởng;

3.6. Quản lý, điều phối sử dụng xe ô tô đảm bảo phương tiện đi công tác c ho công chức, viên chức, người lao động theo quy định của Trường và quy định của pháp luật;

3.7. Tổ chức in ấn: phôi bằng, phôi chứng chỉ, giấy thi, giấy nháp thi, bìa hồ sơ, phong bì, lịch, sổ tay, tờ rơi, giới thiệu của Trường; tiếp nhận, quản lý quà tặng và vật phẩm lưu niệm của Trường;

3.8. Quản lý, điều phối sử dụng phòng làm việc, hội trường, phòng học, phòng họp, phòng truyền thống của Trường;

3.9. Quản lý, sửa chữa và bảo trì hệ thống mạng internet, điện thoại, máy fax và các thiết bị trong phòng làm việc, phòng học, phòng họp, hội trường, nhà khách, phòng truyền thống; hệ thống trang thiết bị âm thanh, ánh sáng; hệ thống điện lưới, hệ thống chống sét;

3.10. Quản lý, thực hiện công tác vệ sinh, chăm sóc cây xanh trong Trường;

3.11. Tổ chức và thực hiện phục vụ bếp ăn, căng tin cho công chức, viên chức, người lao động, người học của Trường.

4. Công tác đầu tư xây dựng và cải tạo, sửa chữa:

4.1. Quản lý các dự án đầu tư xây dựng cơ bản của Trường theo quy định của pháp luật;

4.2. L ập kế hoạch, tổ chức xây dựng, cải tạo, sửa chữa, bảo dưỡng, bảo trì các tòa nhà, phòng làm việc , lớp học, nhà khách, ký túc xá của Trường theo quy định pháp luật;

5. Công tác an ninh trật tự, phòng cháy chữa cháy, dân quân tự vệ, an ninh quốc phòng:

5.1. Thường trực, tổ chức thực hiện công tác bảo vệ, thực hiện các biện pháp phòng, chống cháy nổ, thiên tai, bảo đảm trật tự, an toàn trong khu vực Trường;

5.2. Xây dựng và tổ chức thực hiện các quy định về phòng cháy, chữa cháy, huấn luyện lực lượng phòng cháy, chữa cháy, phòng chống bão lụt của Trường;

5.3. Làm đầu mối công tác dân quân tự vệ, an ninh quốc phòng của Trường.

7. Quản lý và tổ chức đánh giá viên chức, người lao động thuộc Văn phòng; tham gia đánh giá công chức, viên chức quản lý, viên chức và người lao động trong Trường theo quy định.

8. Thực hiện chế độ báo cáo, thống kê định kỳ và theo yêu cầu của Hiệu trưởng về hoạt động của Văn phòng.

9. Quản lý và sử dụng tài sản, thiết bị, cơ sở vật chất được giao theo quy định của Trường và của pháp luật.

10. Thực hiện các nhiệm vụ khác do Hiệu trưởng giao.

Giáo Trình Biện Pháp Sinh Học Trong Bảo Vệ Thực Vật, Nguyễn Văn Đĩnh (Chủ Biên) Et Al., Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội / 2023

Bước sang thế kỷ XXI loài người càng nhận thức rõ ràng hơn với những thách thức về an ninh lương thực, ô nhiễm và sự nóng lên của trái đất, sự giảm sút đa dạng sinh học và an toàn lương thực thực phẩm. Trong sản xuất nông nghiệp cần áp dụng tốt hơn những tiến bộ về công nghệ sinh học và sinh thái tổng hợp.

Biện pháp sinh học, một biện pháp chủ lực trong quản lý dịch hại tổng hợp ngày càng được coi trọng hơn. Số liệu minh chứng rằng, hàng năm chi phí về về thuốc bảo vệ thực vật vào khoảng hơn 8,5 tỷ đô la Mỹ, là con số rất nhỏ so với tổng giá trị 400 tỷ đô la Mỹ của biện pháp sinh học (Van Lenteren, 2005). Điều này càng cho chúng ta thấy nguồn tài nguyên sinh vật là vô cùng phong phú thực sự chưa khai thác hết, thậm chí do hiểu biết chưa đầy đủ về các mối quan hệ trong sinh giới, con người đã vô tính huỷ hoại nguồn tài nguyên này, làm cho chúng ngày một cạn kiệt, rất nhiều loài thiên địch bị biến mất.

Biện pháp sinh học đã được con người sử dụng từ thế kỷ thứ 3, bắt đầu bằng việc dẫn dụ kiến để phòng trừ sâu hại cam quýt. Trong gần 2000 năm qua, biện pháp sinh học có rất nhiều thành tựu. Chỉ tính riêng hơn 100 năm lại đây, nhờ những tiến bộ trong nghiên cứu sinh học và sinh thái học, đã có 2000 loài chân khớp thiên địch được giới thiệu và hiện nay có trên 150 loài ký sinh, bắt mồi và vi sinh vật đang được nuôi nhân thương mại để sử dụng trong các chương trình trong trừ dịch hại trên toàn thế giới. Với những ưu thế to lớn, trong tương lai chắc chắn biện pháp sinh học ngày càng được sử dụng rộng rãi.

Giáo trình Biện pháp sinh học trong Bảo vệ thực vật được xây dựng nhằm đáp ứng yêu cầu nâng cao kiến thức của sinh viên chuyên ngành Bảo vệ thực vật về nhóm sinh vật vô cùng quan trọng trong sinh giới, về thành phần, tầm quan trọng và các biện pháp nhằm duy trì cũng như nhân nuôi và ứng dụng chúng trong sản xuất nông nghiệp.

Thuật ngữ biện pháp sinh học là rất rộng. Trong bảo vệ thực vật các nhóm gây hại lại rất phong phú, chúng gồm côn trùng, cỏ dại, vi sinh vật… Giáo trình này đề cập nhiều hơn tới các nhóm côn trùng, virut, vi khuẩn và nấm gây hại côn trùng hại. Ngoài ra, mối quan hệ giữa các biện pháp nông học và biện pháp sinh học, các nhóm vi sinh vật đối kháng và tuyến trùng cũng được giới thiệu. Biện pháp sinh học sâu hại lúa là bài học điển hình về nghiên cứu và thành tựu trong thực tiễn hiện nay.

Giáo trình bao gồm 4 phần:

– Phần A: Mở đầu

o Chương I. Định nghĩa và nội dung: chúng tôi Nguyễn Văn Đĩnh, Trường Đại học nông nghiệp I Hà Nội

o Chương II. Lịch sử biện pháp sinh học: chúng tôi Phạm Văn Lầm, Viện Bảo vệ thực vật và Nguyễn Văn Đĩnh, Trường Đại học nông nghiệp I Hà Nội

– Phần B: Cơ sở khoa học của biện pháp sinh học

o Chương III. Cân bằng sinh học: chúng tôi Phạm Bình Quyền, Đại học Quốc gia Hà Nội

o Chương IV. Một số thành tựu của Biện pháp sinh học: chúng tôi Hà Quang Hùng, Trường Đại học nông nghiệp I Hà Nội o Chương V. Các biện pháp nông học và biện pháp sinh học: chúng tôi Phạm Văn Lầm, Viện Bảo vệ thực vật.

– Phần C. Kẻ thù tự nhiên của dịch hại: Vai trò và Đặc điểm ứng dụng

[EBOOK] GIÁO TRÌNH BIỆN PHÁP SINH HỌC TRONG BẢO VỆ THỰC VẬT, NGUYỄN VĂN ĐĨNH (CHỦ BIÊN) ET AL., TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

Quý bạn đọc có thể tải ebook trên về

TẠI ĐÂY

Từ khoá: ebook, giáo trình, biện pháp sinh học trong bảo vệ thực vật, ứng dụng côgn nghệ sinh học trong bảo vệ thực vật, biện pháp sinh học, thiên địch, Cơ sở khoa học của biện pháp sinh học, Kẻ thù tự nhiên của dịch hại, Nhân nuôi và sử dụng kẻ thù tự nhiên, Biện pháp sinh học sâu hại lúa

Cập nhật thông tin chi tiết về Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Văn Hóa Đọc Của Sinh Viên Trường Đại Học Công Nghiệp Hà Nội / 2023 trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!