Xu Hướng 2/2023 # Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Du Lịch Thành Phố Cần Thơ # Top 7 View | Phauthuatthankinh.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Du Lịch Thành Phố Cần Thơ # Top 7 View

Bạn đang xem bài viết Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Du Lịch Thành Phố Cần Thơ được cập nhật mới nhất trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Thứ tư, 16 Tháng 5 2018 11:46

7063 Lượt xem

(LLCT) – Trong thời kỳ đổi mới, thành phố Cần Thơ đã sớm nhận thức rõ vị thế,tiềm năngvà thế mạnh của địa phươngtrong phát triểndu lịch nên đã tập trungđầu tư phát triển, thu hút nhiều thành phần kinh tế tham gia, tạo động lực phát triển kinh tế – xã hội của thành phố. Tuy nhiên,bên cạnh những kết quả đạt được thì ngành du lịch Cần Thơ cũng còn không ít những hạn chế, bất cập, đòi hỏi phải có các giải pháp khắc phục đểphát triển một cách bền vững.

1. Thực trạng phát triển du lịch thành phố Cần Thơ những năm qua

Với những lợi thế về vị trí địa lý, tiềm năng du lịch và điều kiện cơ sở hạ tầng, sau 10 năm phát triển (2006 – 2017), du lịch Cần Thơ đã đạt những kết quả quan trọng:

Lượng khách du lịch đến thành phố Cần Thơ không ngừng tăng lên, năm 2017 tăng 2,5 lần so với năm 2010. Thu nhập từ dịch vụ du lịch từng bước được nâng cao, năm 2016 thu nhập từ hoạt động du lịch (HĐDL)thuần túy đạt 1.826 tỷ đồng, tăng 6,7 lần so với năm 2006, đóng góp tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội và sự chuyển dịch mạnh mẽ trong cơ cấu kinh tế – xã hội của thành phố Cần Thơ(1).

Tỉnh đã thu hút nhiều thành phần kinh tế tham gia phát triển du lịch, tạo động lực phát triển và góp phần chuyển đổi cơ cấu kinh tế của từng khu vực và toàn thành phố; tạo được nhiều việc làm, nâng cao đời sống nhân dân và góp phần xóa đói giảm nghèo. Thị trường du lịch ngày càng được mở rộng, sản phẩm du lịch dần được đa dạng hoá và nâng cao chất lượng.

Từ thực tế phát triển du lịch, Cần Thơ xác định phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn và tập trung đầu tư khai thác những tiềm năng du lịch của thành phố để phát huy vai trò trung tâm du lịch vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL).

Hệ thống cơ sở hạ tầng được quan tâm đầu tư phát triển đã thúc đẩy sự phát triển HĐDLtrên địa bàn. Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch như các khu du lịch, các khách sạn nhà hàng, khu vui chơi giải trí… được chú trọng đầu tư, xây dựng tạo điều kiện thúc đẩy tăng trưởng các chỉ tiêu phát triển du lịch, góp phần tạo nên diện mạo mới cho thành phố.

Bên cạnh những kết quả đạt được, du lịch trên địa bàn thành phố Cần Thơ còn những hạn chế, yếu kém sau:

Ngành du lịch Cần Thơchưa phát huy, khai thác hết lợi thế, tiềm năng du lịch của thành phốtrực thuộc Trung ương,thiếu những khu vui chơi giải trí tầm cỡ, hiện đại, những công trình tạo điểm nhấn nhằm thu hút khách du lịch. Sản phẩm du lịch của thành phố còn thiếu tính độc đáo, hấp dẫn, phân bố không đồng đều, chưa phong phú.Dịch vụ du lịch chưa đa dạng, phong phú, một số tuyến, điểm du lịch mới hình thành nhưng chưa bổ sung dịch vụ thu hút du khách.

Kết quả khảo sát thực tế đánh giá về loại hình sản phẩm du lịch cho thấy, các hoạt động vui chơi giải trí, du lịch làng nghề còn hạn chế, tỷ lệ đánh giá tốt chỉ đạt 20,6% và 25,2% tương ứng. Về giá và phí dịch vụ cũng chưa được đánh giá cao, mức độ phù hợp với nhu cầu của du khách, tính cạnh tranh và cung cấp thông tin đầy đủ về giá dịch vụ cho du khách còn thấp(2). Theo khảo sát của tác giả, khách du lịch quốc tế đánh giá về sản phẩm du lịch đa dạng, độc đáo, hấp dẫn và hoạt động vui chơi, giải trí ở Cần Thơ, hầu hết đều cho là bình thường hoặc không tốt, chỉ 34% và 32% đánh giá tốt tương ứng từng vấn đề. Đối với du khách trong nước đánh giá về vấn đề này cao hơn (48,5%, 56,5%)(3).

Khảo sát cũng cho thấy, các HĐDLđược du khách yêu thích bao gồm: du lịch sông nước chợ nổi (khách quốc tế: 92%, khách trong nước: 90%); Trải nghiệm cuộc sống người dân (khách quốc tế: 86%, khách trong nước: 62,5%); Thưởng thức ẩm thực địa phương (khách quốc tế: 79%, khách trong nước: 70%); Thăm các di tích lịch sử (khách quốc tế: 74%, khách trong nước: 61%).

Quảng bá xúc tiếnvàtổ chức HĐDLcòn thiếu tính chuyên nghiệp, sức cạnh tranh của doanh nghiệp du lịch (DNDL)còn yếu. Sự liên kết giữa các quận, huyện trong khai thác tuyến, điểm du lịch chưa chặt chẽ. Việc gắn du lịch với các làng nghề truyền thống chưa được quan tâm đúng mức.Qua khảo sát thực tế du khách quốc tế cho thấy, chỉ có 34% là thích thăm quan làng nghề(4).

Đào tạo,bồi dưỡng nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu, tỷlệ lao động qua đào tạo chuyên ngành còn thấpso với nhu cầu ngày càng phát triển. Đội ngũ hướng dẫn viêndu lịch của thành phố còn thiếu và yếu về chuyên môn, nghiệp vụ.Các quận, huyện trên địa bàn thành phố gặp khó khăn về nhân sự chuyên trách du lịch và kinh phí HĐDL.Khảo sát thực tế cho thấy, đánh giá của du khách về sự chuyên nghiệp, tận tình và ngoại ngữ của nhân viên: ở mức tốt có tỷ lệ thấp (khách trong nước: 39,5% chuyên nghiệp, tận tình; 21,5% ngoại ngữ. Khách quốc tế: 38% và 23% tương ứng). Qua khảo sát 500 đối tượng, đánh giá ở mức tốt cũng có tỷ lệ thấp: 23% chuyên nghiệp, 7,4% ngoại ngữ.

Ngành du lịch thành phố vẫn còn chậm chuyển biến trong việc thu hút đầu tư vào các dự án lớn, chưa có những dự án quy mô, đột phá.Nguồn lực đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng du lịch còn hạn chế, chưa đủ mạnh để thúc đẩy sự phát triển. Việcđầu tư xây dựng sản phẩm du lịch đặc thù của thành phố triển khai còn chậm, nhất là tuyến du lịch đường sông liên quận, huyện, tỉnh, thành,… Môi trường du lịch tuy được cải thiện nhưng một số nơi vẫn còn nhiều bất cập, nhất là vệ sinh môi trường.

2. Một số giải pháp phát triển du lịch thành phố Cần Thơ

Một là, tăng cường đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng du lịch

-Chú trọng đầu tư phát triển các khu, điểm du lịchvà sản phẩm du lịch

Để du lịch Cần Thơ phát triển, trở thành trung tâm du lịch của vùng ĐBSCL, cần phải chú trọng đầu tư phát triển hạ tầng du lịch, các khu du lịch, tập trung cho các trọng điểm du lịch là giải pháp then chốt.

Xác định hệ thống các khu, điểm du lịch quan trọng nhất, có vị trí chiến lược đối với việc xây dựng hình ảnh và sản phẩm du lịch của Cần Thơ. Đầu tư, phát triển những sản phẩm du lịch đáp ứng nhu cầu,phù hợp với tính chất đô thị trung tâm vùng.

Lựa chọn địa điểm để hình thành và phát triển khu vực tập trung phát triển các dịch vụ du lịch để thu hút du khách đến Cần Thơ với vai trò đô thị trung tâm của vùng ĐBSCL. Hình thành khu tập trung thu nhỏ trong đó tái hiện lại mô hình với nét lịch sử, văn hoá, đời sống sinh hoạt của người dân các địa phương trong vùngđể giới thiệu với du khách về các đặc điểm của vùng ĐBSCL.

Phát triển, hình thành khu vực tập trung là đầu mối giao thương, mua bán các đặc sản của các tỉnh trong khu vực ĐBSCL, đầu mối quảng bá, xúc tiến các chương trình, tour du lịch, các sản phẩm du lịch của các địa phương trong vùng. Hình thành đầu mối nông sản của vùngtrên cơ sở phát triển chợ nổi Cái Răng nhằm vừa phát triển vừa tái tạo và bảo tồn được văn hóa chợ nổi Cái Răng.

Phát triển nghệ thuật “Đờn ca tài tử”, di sản văn hóa phi vật thể. Tổ chức điểm phục vụ vừa bảo tồn được loại hình nghệ thuật này, vừa đáp ứng được nhu cầu tìm hiểu, thưởng thức của du khách.

Đầu tư thích hợp hệ thống các công trình văn hóa, thể thao lớn, bao gồm các bảo tàng, nhà hát, rạp chiếu phim, thư viện, công viên, các sân vận động và nhà thi đấu để đa dạng hóa sản phẩm, phát triển du lịch phù hợp với vai trò, vị trí của một đô thị trung tâm vùng.

Phát triển đa dạng các loại sản phẩm du lịch làm tăng thời gian lưu trú và mức chi tiêu của khách du lịch, tăng sự hấp dẫn cho du lịch. Đầu tư các công trình, sản phẩm du lịch để thu hút và giữ chân du khách như: xây dựng khu phức hợp nghỉ dưỡng, khu nghỉ dưỡng sinh thái có các hoạt động vui chơi giải trí, khu trung tâm mua sắm, công viên, quảng trường phục vụ cho hoạt động vui chơi giải trí, các sự kiện lớn của thành phố, khu cắm trại trên các cồn, cù lao, sân golf đẳng cấp quốc tế,…

– Gia tăng nguồn cung khách sạn

Tiếp tục đầu tư phát triển về số lượng và chất lượng hệ thống các cơ sở lưu trú đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của du lịch. Đến năm 2020,cần thiết đầu tư xây dựng thêm khách sạn 5 sao, phát triển hệ thống khách sạn 3-4 sao để đáp ứng nhu cầu lưu trú của khách hạng sang, nhất là khách kinh doanh, công vụ. Trong quá trình phát triển sản phẩm lưu trú du lịch, chính quyền cần có biện pháp tăng cường kỷ cương quản lý nhà nướcnhằm bảo đảm thực hiện đúng quy hoạch, bảo toàn được môi trường thiên nhiên, giữ gìn được bản sắc vănhóađịa phương.Trên góc độ thị trường, thực hiện đồng bộ các biện pháp nhằm xây dựng và duy trì hình ảnh sản phẩm lưu trú du lịch Cần Thơ lànơi nghỉ hấp dẫn và an toàn.

-Thu hút các nguồn lực đầu tư hạ tầng du lịch

Thành lập Quỹ Phát triển du lịch Cần Thơ; Chú trọng chính sách thực hiện xã hội hóa trong công tác đầu tư phát triển du lịch, hợp tác công tư (PPP) trong lĩnh vực du lịch; xây dựng cơ chế, chính sách thông thoáng, đơn giản hóa các thủ tục hành chính vềđầu tư các hoạt động kinh doanh du lịch, hạ tầng du lịch; có chính sách ưu đãi tài chính,thuế cho các quận huyện nhằmthu hút đầu tư;tăng cường tính cạnh tranh trong quảng bá cơ hội đầu tư.

Hai là, tăng cường chính sách khuyến khích, hỗ trợ các cơ sở kinh doanh du lịch

Việc khuyến khích, hỗ trợ các cơ sở kinh doanh du lịch sẽgiúp tăng cường năng lực phục vụ du khách,từ đó làm tăng lượng du khách, thời gian lưu trú và mức chi tiêu.Đặc biệt, để thu hút nguồn vốn trong dân đầu tư phát triển du lịch, phải thể hiện rõ lợi ích người dân sẽ được hưởng khi tham gia trong thực tế hoặc có thể tồn tại được từ các HĐDL.

– Hỗ trợ về thủ tục hành chínhvà các hỗ trợ khác nhằm phát triển du lịch

Cần xây dựng “Trung tâm dịch vụ công”cung cấp các dịch vụ hành chính dành cho doanh nghiệp, người dân và các nhà đầu tư,…Khuyến khích các nhà đầu tư, người dân địa phươngthiết lập quan hệ đối tác và với các đối tác quốc tếtrong lĩnh vực du lịch (nhà hàng, khách sạn, lữ hành, vui chơi giải trí,…) đầu tư vào Cần Thơ.

Hỗtrợ, khuyến khích xây dựng khu tập trung kinh doanh món ăn đường phố của địa phương, dịch vụ dịch thực đơn cho các nhà hàng. Hỗ trợđào tạo hướng dẫn viên du lịch (chương trình đào tạo, cơ sở vật chất kỹ thuật,…). Xây dựng chương trình thanh tra, cấp chứng nhận nhà hàng, chứng nhận các dịch vụ du lịch khác và xây dựng đường dây nóng phục vụ du lịch.

-Hỗ trợ về đất đai và đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ du lịch

Kết hợp đa dạng các loại hình, phương thức đào tạo,bồi dưỡng, thu hút nguồn nhân lực để bảo đảm cho HĐDLCần Thơđến năm 2020 có đủ lực lượng lao động theo yêu cầu; tổ chức các lớp đào tạo, bồi dưỡng kiến thức cơ bản, ngắn hạndành cho các đối tượng lao động phổ thông, dân cư tại các điểm du lịch sinh thái, cộng đồng; hỗ trợ các doanh nghiệp, cơ sởdu lịch tự tổ chức các lớp truyền nghề, đào tạo tại chỗ,…

– Hỗ trợ xúc tiến du lịch

 Xây dựng chiến lược xúc tiến du lịch đến năm 2020, tầm nhìn 2030 với các mục tiêu, định hướng cho từng giai đoạn gắn với thị trường truyền thống và các thị trường có tiềm năng. Xây dựng kế hoạch, chương trình quảng bá, xúc tiến về du lịch hàng năm. Thiếp lập các cơ chế phối hợp giữa các cơ quan,ban ngành của thành phố trong quảng bá du lịch.Liên kết chặt chẽ với các thành phố lớn và các địa phương trong vùng ĐBSCLđể lên kế hoạch và tổ chức các hoạt động xúc tiến quảng bá. Xây dựng và duy trì mối quan hệ tốt với các cơ quan quan trọng, đặc biệt là Tổng cục Du lịch Việt Nam, đồng thời đặt gian hàng du lịch tại các địa điểm quan trọng trong và ngoài nước, ví dụ như các phòng du lịch nước ngoài tại các quốc gia thị trường mục tiêu.

Xây dựng hình ảnh du lịch Cần Thơ là một trong những thành phố lớn nhất nằm trực tiếp ngay bên dòng sông Mêkong. Xúc tiến chương trình dán nhãn sinh thái cho sản phẩm, dịch vụ du lịch Cần Thơ, nhãn du lịch bền vững Bông xen xanh.

Xây dựng bản sắc riêng biệt cho thành phố và các quận, huyệncủa Cần Thơ nhằm làm nổi bật giá trị văn hóa, lịch sử và môi trường của thành phốvà mỗi quận, huyện. Khách du lịch sẽ nắm rõ các sản phẩm khác nhau tốt hơn và đáp ứng nhu cầu của họ dễ dàng hơn. Phát triển các sản phẩm du lịch giúp quảng bá các điểm đặc trưng của địa phương (ví dụ, tour du lịch sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, tham quan cùng người dân ở các làng nghề du lịch, hành trình du lịch văn hóa miệt vườn).Đưa những điểm đặc trưng này vào các ấn phẩm quảng bá.

- Hỗ trợ về thông tin du lịch

- Khuyến khích hình thành các hiệp hội, mạng lưới nghề nghiệp

Ba là, đẩy mạnh hình thành và đa dạng các tour du lịch

Cần Thơ là trung tâm vùng ĐBSCL,điểm xuất phát của các tuyến du lịch nội vùng (Cần Thơ – Vĩnh Long – Tiền Giang – Bến Tre – Trà Vinh – Sóc Trăng – Cần Thơ; Cần Thơ – Sóc Trăng – Bạc Liêu – Cà Mau – Hậu Giang – Cần Thơ; Cần Thơ – Cà Mau – Kiên Giang – Cần Thơ ; Cần Thơ – Kiên Giang – An Giang – Đồng Tháp – Vĩnh Long – Cần Thơ). Ngoài ra, Cần Thơ nằm trên tuyến du lịch quốc gia, trục giao thông quốc gia liên vùng và kết nối ĐBSCL với Campuchia và các nước trong tiểu vùng sông Mekong mở rộng qua cửa khẩu Châu Đốc.

Để hình thành và đa dạng các tour du lịch thì giải pháp liên kết, kết nối là một trong những giải pháp then chốt để phát triển du lịch Cần Thơ thành trung tâm du lịch vùng. Liên kết phát triển sẽ có mục tiêu nâng cao hiệu quả đầu tư, nâng cao sức cạnh tranh của du lịch Cần Thơ cũng như của cả vùng ĐBSCL, nâng cao hiệu quả công tác quảng bá, xúc tiến, góp phần hạn chế những yếu kém, bất cập hiện nay trong công tác xây dựng sản phẩm du lịch đặc thù của các địa phương cũng như cả vùng.Cần Thơ cần liên kết để hình thành và đa dạng Tour du lịch như sau:

Hình thành các tour du lịch với sự kết hợp đa dạng loại hình di chuyển như đi ô tô, đi thuyền, đi xe đạp, đi xuồng, ghe… trong một chuyến du lịch nhằm tạo sự trải nghiệm,cảm nhận của du khách về sản phẩm du lịch.

Hình thành các tour du lịch với những sản phẩm du lịch tiềm năng chuyên biệt. Liên kết với các địa phương có thế mạnh,vận dụng những cơ sở và đặc thù của các ngành nông nghiệp, thủy sản thế mạnh của vùng ĐBSCL,để xây dựng các tour du lịch kết hợp mớinhưtham quan, tìm hiểu các quy trình đánh bắt, nuôi trồng, các cơ sở chế biển thủy sản nhằm thu hút đượcnhiều nhóm du kháchvà tăng sự đa dạng.

Hình thành các tour du lịch liên kết với các tỉnh trong vùng để phát triển sản phẩmtheo chuyên đề, có sự đơn giản hóa do sự tương đồng về tài nguyên, văn hóa và điều kiện phát triển. Ngoài ra, cách liên kết sản phẩm có thể thực hiện dọc các tuyến du lịch quốc gia, vùng theo các tuyến quốc lộ và các tuyến sông lớn của vùng. Với tính chất khá khác biệt của từng địa phươngtrong vùng ĐBSCL, việc thực hiện liên kết tạo ra sự bổ sung phù hợpvàtạo sức hấp dẫn.

Hình thành các tour du lịch bằng cách liên kết liên vùngnhằm tạo ra nhiều sản phẩm du lịch chuyên đề và tổng hợp khác nhau.Liên kết với Hà Nội, Đà Nẵng,thành phố Hồ Chí Minh,…và miền Đông Nam Bộ (du kháchhầu hết đều tập trung tại các nơi này) để thu hút khách đến Cần Thơ và điều phối khách cho toàn vùng.Sự liên kết này sẽ tạo ra sự kết hợp bổ sung, nhấn mạnh sự khác biệt và tăng tính hấp dẫn của vùng với cácsản phẩm khác nhau. 

Hình thành tour du lịch quốc tế với các liên kết sản phẩm quốc tế.Cần Thơ có thể trở thành tâm du lịch vùng ĐBSCL với sự thuận lợi ngày càng lớn trong giao thông đường bộ giữa các nước trong khu vựcđể hình thànhcác chương trình kết nối bằng đường bộ giữa ĐBSCL, Campuchia, Thái Lan và Myanmar.Có thể hình thành các tour du lịch quốc tế theo đường hàng không và đường thủy trên cơ sở phát huy tiềm năng sân bay quốc tế và cảng biển quốc tế của Cần Thơ. Đâycũng là thuận lợi lớn cho phát triển du lịch ĐBSCL cũng như cho việc phát triển các sản phẩm liên kết với các quốc gia trong khu vực.

Bốn là, đầu tư phát triển hạ tầng giao thôngphục vụ du lịch và bảo vệ môi trường

Tăng cường đầu tư, cải thiện các tuyến đường giao thông qua các tuyến du lịch quan trọng vùng ĐBSCL và Cần Thơ.Đầu tư phát triển các loại hình di chuyển đến Cần Thơ (đường bộ, đường sắt, đường không, đường thủy,…). Tăng đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông các tuyến gắn với các điểm, cụm, trung tâm du lịch trên địa bàn Thành phố.Cơ sở hạ tầng giao thôngyếu kém chính là rào cản lớn đối với phát triển du lịch,những dự án nâng cấp giao thông sẽ làm tăng đáng kể khả năng kết nối, thu hút khách du lịch tới Cần Thơ.

Từ Cần Thơ xây dựng các tuyến du lịch đường thủy nội vùng kết nối với các địa phương khác. Tăng cường khai thác tiềm năng của Sân bay quốc tế Cần Thơ, cải thiện cơ sở hạ tầng dịch vụ xe khách, xe buýtvàcó các biện pháp giúp khách du lịch, đặc biệt là khách du lịchphương Tây đi lại bằng xe khách, xe buýt dễ dàng, thuận tiện.Phát triển các tuyến du lịch với các phương tiện đặc thù thân thiện với môi trường (du lịch bằng xe đạp, xe điện…)

Cải thiện công tác quản lý môi trường, rác thải tốt hơn, tăng cường kế hoạch chương trình kiểm tra tình trạng môi trường. Xây dựng chương trình thu gom và xử lý rác thải cho chợ nổi Cái Răng và các khu điểm du lịch.Thực hiện hợp tác công tư trong bảo vệ môi trường, có các chương trình, dự án như cùng với người dân, du khách thực các hoạt động vệ sinh môi trường, vớt rác trên sông, trồng cây xanh,…

(1) Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịchCần Thơ:Báo cáo tổng kết hoạt động du lịch năm 2016, 2017.

(2) Nguồn khảo sát thực tế của tác giả đối với 500 đối tượng, gồm: chuyên gia du lịch, doanh nghiệp du lịch, quan chức, người dân địa phương, đối tượng khác (truyền thông, hướng dẫn viên, lao động tại các doanh nghiệp du lịch,…

(3), (4) Nguồn khảo sát 300 du khách trong nước và quốc tế của tác giả.

ThS Ngô Nguyễn Hiệp Phước

Trường Cao đẳng Cần Thơ

 

Phát Triển Du Lịch Thông Minh Tại Thành Phố Hồ Chí Minh: Thúc Đẩy Du Lịch Bền Vững

Tại hội thảo, Phó Chủ tịch UBND thành phố Hồ Chí Minh Trần Vĩnh Tuyến cho biết: Cách mạng công nghiệp 4.0 tận dụng sức mạnh lan tỏa của số hóa và công nghệ thông tin với sự đột phá của trí tuệ nhân tạo, internet vạn vật, dữ liệu lớn… đang tạo ra sự thay đổi to lớn đến chuỗi cung ứng toàn cầu, trong đó có ngành Du lịch. Ngành Du lịch có cơ hội cải tiến công tác quản lý Nhà nước về du lịch, gia tăng trải nghiệm của du khách tại điểm đến. Nếu các địa phương nắm bắt cơ hội tối ưu hóa hiệu quả và mở rộng công tác xúc tiến qua thương mại điện tử, đồng thời tạo ra nhiều sản phẩm du lịch mới hấp dẫn hơn sẽ nâng cao năng lực cạnh tranh và xây dựng được thương hiệu du lịch.

Theo các chuyên gia, mặc dù mang lại cơ hội mới, nhưng du lịch thông minh cũng đặt ra cho ngành Du lịch thành phố Hồ Chí Minh thách thức trước yêu cầu chuyển đổi số phù hợp, Theo đó, ngành Du lịch thành phố Hồ Chí Minh phải từng bước đảm bảo 4 chủ thể du lịch thông minh gồm: cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp, du khách và người dân tham gia làm du lịch. Trong đó, hệ sinh thái du lịch thông minh là sự hợp lực của các chủ thể nhằm tạo sự tương tác để đạt được những mục tiêu riêng của mỗi chủ thể, đồng thời hướng đến mục tiêu chung là tăng trưởng cao của toàn ngành Du lịch.

Tại hội thảo, ông Nguyễn Thiện Nhân – Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh cho biết: Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những địa phương công bố Đề án đô thị thông minh sớm nhất cả nước. Sau 18 tháng triển khai, đến nay thành phố đã chuẩn bị những bước đầu quan trọng như: xây dựng kho dữ liệu dùng chung; phát triển hệ sinh thái dữ liệu mở, tích hợp và chia sẻ; xây dựng trung tâm mô phỏng và dự báo kinh tế – xã hội… Đây là những cơ sở dữ liệu quan trọng không chỉ trong công tác quản lý hành chính Nhà nước mà cho nhiều ngành nghề, trong đó có ngành Du lịch.

“Muốn phát triển du lịch thông minh, thành phố Hồ Chí Minh cần có cái nhìn tổng quan, toàn diện và học hỏi kinh nghiệm từ nhiều quốc gia trên thế giới. Cùng với đó, các Sở, ngành thúc đẩy mối quan hệ hợp tác với nhiều tổ chức, chuyên gia toàn cầu và đồng hành cùng cộng đồng doanh nghiệp thực hiện những giải pháp cần thiết để phục vụ đô thị thông minh, trong đó có ngành Du lịch thông minh. Qua đó, thành phố Hồ Chí Minh sẽ phát triển du lịch thông minh trên “bệ phóng” của nền tảng đô thị thông minh” – Bí thư Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh Nguyễn Thiện Nhân nhấn mạnh thêm.

Để hướng đến phát triển du lịch thông minh, Bí thư Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh Nguyễn Thiện Nhân yêu cầu các Sở, ngành trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh sớm hoàn thiện chiến lược phát triển du lịch thành phố Hồ Chí Minh đến cuối năm 2019, có kết nối hợp tác với 13 tỉnh, thành đồng bằng sông Cửu Long để khai thác tiềm năng du lịch khu vực phía Nam. Cơ quan quản lý cần đưa vấn đề phát triển du lịch thông minh vào chiến lược phát triển du lịch của thành phố Hồ Chí Minh; đồng thời, phát triển du lịch thông minh phải đảm bảo kết nối thông minh, chú trọng liên kết giao thông đô thị, tạo môi trường cho doanh nghiệp hợp tác và cơ quan nhà nước đồng hành cùng doanh nghiệp…

Box: Hiện nay, ngành du lịch nhiều nước trên thế giới đã phát triển hệ sinh thái thông minh nhanh chóng như: Thành phố Tokyo (Nhật Bản) với mức tăng trưởng trên 30%/năm; thành phố Seoul (Hàn Quốc) 15%/năm… Từ yêu cầu nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường thương mại tự do, quy luật điều chỉnh của thị trường theo hành vi khách hàng, vấn đề hướng đến đô thị thông minh, trong đó có phát triển du lịch thông minh tại thành phố Hồ Chí Minh là một cấu phần không thể thiếu cho sự phát triển bền vững.

PV

Luận Văn Đề Tài Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Nguồn Nhân Lực Du Lịch Việt Nam

1.Tính cấp thiết của đề tài. Nghị quyết đại hội IX của đảng đã xác định ‘phát triển du lịch thực sự trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trên cơ sở khai thác lợi thế về điều kiện tự nhiên, sinh thái, truyền thống văn hoá, lịch sử đáp ứng nhu cầu du lịch trong nước và phát triển nhanh du lịch quốc tế, sớm đạt trình độ phát triển du lịch khu vực để đưa Du lịch Việt Nam thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, việc phát triển nguồn nhân lực Du lịch có ý nghĩa rất quan trọng. Bởi lẽ, đây chính là lực lượng trực tiếp thực hiện đường lối, chính sách, phương hướng phát triển du lịch của đảng và Nhà nước ta Năng lực và phẩm chất của đội ngũ lao động trong ngành Du lịch có tầm quan trọng đặc biệt đối với việc khai thác có hiệu quả cũng như bảo tồn lâu dài các nguồn tiềm năng du lịch của đất nước, tạo ra những sản phẩm du lịch đặc sắc, có chất lượng, hấp dẫn khách. Đội ngũ này cũng thể hiện khả năng tiếp thu kinh nghiệm Du lịch quốc tế, cũng như khả năng tham gia vào quá trình hội nhập quốc tế về du lịch. Phát triển nguồn nhân lực Du lịch cũng là nhằm bảo đảm cho Dulịch Việt Nam phát huy nội lực, nắm bắt cơ hội vượt qua những thách thức trong thế kỷ XXI.đây chính là quá trình cụ thể hoá yêu cầu về nhân tố con người trong sự nghiệp CNH,HĐH đất nước. Giao lưu thương mại và đầu tư quốc tế phát triển là cầu nối để bạn bè quốc tế đến việt nam ngày càng tăng. nguồn nhân lực du lịch cần nâng cao trình độ học vấn, ngôn ngữ, hiểu biết, chuyên môn nghiệp vụ để có thể phục vụ tốt, thu hút số lượng ngày càng tăng khách Du lịch Quốc tế đến Việt Nam. Việt Nam từ năm 1991-2001. Tổng sản phẩm quốc nội tăng gấp đôi, đạt mức tốc độ bình quân trên 7% mỗi năm, không chỉ đủ ăn, mặc, ta còn đạt mức tích luỹ nội địa 27% GDP. Đời sống nhân dân tăng. Việt Nam là quốc gia có tài nguyên thiên nhiên, nhân văn phong phú và là điểm đến an toàn với khách du lịch, an ninh, chính trị ổn định, điều này thuận lợi việc thu hút càng đông lượng khách du lịch trong nước và quốc tế. Điều này đòi hỏi phải có nguồn nhân lực du lịch tăng cả về số lượng và chất lượng. Từ 1990-2003 lượng khách du lịch trong nước tăng xấp xỉ 12 lần từ 1 triệu lên 12 triệu. khách quốc tế tăng hơn 10 lần từ 250000 lên 2.3 triệu năm 2003. Điều này đòi hỏi có số lượng lao động đủ lớn để đáp ứng việc phục vụ khách du lịch. Trong điều kiện cạnh tranh gay gắt hiện nay, muốn đứng vững trên thị trường trong và ngoài nước cần phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch. Do vậy cả lý luận và thực tiễn thấy rằng nâng cao số lượng và chất lượng nguồn nhân lực du lịch là yêu cầu cần thiết và cấp bách. 2. Đối tượng và phạm vi. Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực du lịch việt nam. Thời gian nghiên cứu từ 1990-2004và tương lai đến năm 2010 Phạm vi nghiên cứu của đề tài là trên địa bàn Hà Nội, thực trạng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực của công ty du lịch việt nam- Hà Nội, doanh. 3. Mục tiêu nghiên cứu. 3.1 Lý luận cơ bản về nguồn nhân lực du lịch. 3.2 Thực trạng nguồn nhân lực du lịch ở Việt Nam, Hà Nội 1990-2004. 3.3 Phương hướng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực Du lịch Việt Nam đến năm 2010.

Giải Pháp Phát Triển Du Lịch An Giang

(AGO) – Là vùng đất có nhiều tiềm năng, với phong cảnh thiên nhiên đặc sắc, chùa chiền, hang động mang đậm văn hóa tín ngưỡng tâm linh cùng nhiều di tích lịch sử văn hóa nổi tiếng… An Giang được đánh giá là điểm đến lý tưởng của du khách. Tuy nhiên, du lịch (DL) An Giang vẫn chưa phát triển tương xứng với thế mạnh sẵn có.

Nhiều lợi thế

An Giang có 4 dân tộc (Kinh, Hoa, Chăm, Khmer) cùng sinh sống với nhiều tín ngưỡng tôn giáo, như: Phật giáo, Thiên Chúa giáo, Cao đài, Tin Lành, Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa… Cùng với đó là hệ thống các cơ sở thờ tự, như: Đền, đình, chùa, thánh đường Hồi giáo… với 82 di tích được xếp hạng (2 di tích đặc biệt quốc gia, 28 di tích cấp quốc gia, 52 di tích cấp tỉnh). Chính sự hấp dẫn từ cảnh quan, di tích đã đánh thức sự tò mò của du khách khám phá vùng Thất Sơn ngày càng đông. Bình quân mỗi năm, trên 5 triệu lượt khách tham quan, DL ở các khu- điểm DL trên địa bàn tỉnh; lượng khách quốc tế do các doanh nghiệp lưu trú, lữ hành phục vụ trên 55.000 lượt.

Du khách tham quan rừng tràm Trà Sư (Tịnh Biên)

Phó Giám đốc Sở Văn hóa- Thể thao- Du lịch Phạm Thế Triều, cho rằng: Hoạt động DL ở An Giang đã có bước phát triển tích cực, bước đầu hình thành và phát triển các loại hình DL, như: DL tâm linh, DL sinh thái, DL cộng đồng và DL nông nghiệp gắn với các khu- điểm DL trọng điểm của tỉnh. Đặc biệt, lợi thế của tỉnh so với khu vực ĐBSCL đã thu hút du khách trong và ngoài nước đến với An Giang. Cùng với đó, nhận thức về phát triển DL của các cấp, ngành, địa phương từng bước được nâng lên, trong đó có sự tham gia tích cực của các thành phần kinh tế và cộng đồng địa phương đầu tư phát triển DL, với nhiều dịch vụ mới được đầu tư, nâng cấp. Toàn tỉnh hiện có 90 cơ sở lưu trú đạt chuẩn hạng sao, 15 doanh nghiệp lữ hành, vận chuyển khách DL.

Cần nhiều giải pháp

Dù có cố gắng nhưng DL An Giang thiếu đầu tư về cơ sở hạ tầng và chậm đổi mới trong việc tạo ra nhiều sản phẩm, nhất là sản phẩm đặc trưng. Cụ thể, Khu du lịch sinh thái rừng tràm Trà Sư đã trở thành thương hiệu DL có tiếng của tỉnh, song do thiếu đầu tư, quản lý nên hoạt động chủ yếu là tự phát, sản phẩm DL không có gì mới, chủ yếu là: Đi xuồng tham quan rừng tràm, lên đài ngắm toàn cảnh khu rừng, thưởng thức một số món ăn đồng quê… Bên cạnh, chưa kể tình trạng chèo kéo diễn ra nhiều nơi… nên chưa thật sự hấp dẫn du khách khi đến An Giang.

Ngoài ra, còn nhiều nguyên nhân khác dẫn đến việc khai thác DL chưa tương xứng tiềm năng, như: Chỉ dừng lại ở phát triển DL sinh thái, DL văn hóa- lễ hội, thiếu sản phẩm đặc thù. Thạc sĩ Phan Bửu Toàn, Phó Hiệu trưởng Trường cao đẳng Nghề DL Sài Gòn, nêu lên định hướng: “Chúng ta cứ đổ lỗi cho hạ tầng giao thông kém làm ảnh hưởng đến phát triển DL. Theo tôi, đây không phải là mấu chốt, mà vấn đề là từ nhiều năm nay chúng ta không “làm mới” các dịch vụ DL sẵn có, cũng như cách thức phục vụ quá hạn chế, thiếu sản phẩm đặc thù. Chủ yếu là “Lên xuồng- xuống ghe- vô vườn- nghe đờn ca tài tử”… An Giang là nơi thu hút rất đông khách tham quan, họ đến chỉ để hành hương, vãn cảnh; còn khách DL thì rất khiêm tốn, do chưa có nhiều dịch vụ hấp dẫn. Du khách đến An Giang rồi về ngay trong ngày, họ không cần nghỉ lại đêm, coi như chúng ta không thu được đồng nào! Trước khi chờ hạ tầng hoàn chỉnh thì An Giang chỉ cần “dọn dẹp” lại cho tươm tất, sắp xếp hợp lý các khu, điểm DL thì chắc chắn sẽ giữ du khách”.

Với mục tiêu sớm đưa DL trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, tăng tỷ lệ đóng góp trong cơ cấu GDP chung của tỉnh, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển các ngành dịch vụ, tạo công ăn việc làm cho xã hội; xây dựng thương hiệu và phấn đấu đưa An Giang trở thành trung tâm DL vùng ĐBSCL và cả nước, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 1008 ngày1-7-2014 phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển ngành DL An Giang từ năm 2014 đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030. Quy hoạch dự báo tổng doanh thu từ DL năm 2015 khoảng 1.103 tỷ đồng, năm 2020 khoảng 2.032 tỷ đồng, năm 2030 khoảng 6.598 tỷ đồng. Đến năm 2015, tỷ trọng đóng góp của ngành DL trong cơ cấu GDP chung của tỉnh ước khoảng 4%, năm 2020 khoảng 7% và năm 2030 khoảng 13%.

“Sản phẩm DL rất dễ bắt chước nhau. Tuy nhiên, tùy thuộc vào điều kiện từng nơi mà chúng ta xây dựng thành sản phẩm đặc thù. Ví như Đà Lạt là DL nghỉ dưỡng, núi Cấm là DL tâm linh… dù hai nơi đều nằm cao so đồng bằng. Quan trọng là chúng ta tổ chức thế nào, cách thức khai thác và dịch vụ đi kèm ra sao… để thu hút du khách”- Thạc sĩ Phan Bửu Toàn, Phó Hiệu trưởng Trường CĐ Nghề DL Sài Gòn chia sẻ.

Bài, ảnh: HỮU HUYNH

Cập nhật thông tin chi tiết về Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Du Lịch Thành Phố Cần Thơ trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!