Xu Hướng 2/2024 # Thực Trạng Và Giải Pháp Công Tác Xây Dựng Gia Đình Văn Hóa Tại Xã Tiên Hiệp, Tiên Phước Trong Giai Đoạn Hiện Nay # Top 4 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Thực Trạng Và Giải Pháp Công Tác Xây Dựng Gia Đình Văn Hóa Tại Xã Tiên Hiệp, Tiên Phước Trong Giai Đoạn Hiện Nay được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Môn: Chủ nghĩa xã hội khoa học

GVHD: Ph ạm Th ị Thu

MỤC LỤC MỤC LỤC……………………………………………………………………………………………….1 PHẦN MỞ ĐẦU……………………………………………………………………………………….2 CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIA ĐÌNH VĂN HÓA………………………….5 I. Gia đình……………………………………………………………………………………………..5 1. Khái niệm………………………………………………………………………………………..5 2. Đặc điểm của gia đình Việt Nam………………………………………………………..5 II. Nội dung công tác xây dựng gia đình văn hóa………………………………………..7 1. Gia đình văn hóa đang xây dựng là gì?……………………………………………….7 2. Tóm tắt quá trình hình thành công tác xây dựng gia đình văn hóa………….8 3. Tiêu chuẩn danh hiệu “Gia đình văn hóa”……………………………………………9 CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÂY DỰNG GIA ĐÌNH VĂN HÓA Ở XÃ TIÊN HIỆP, TIÊN PHƯỚC GIAI ĐOẠN HIỆN NAY………………12 I. Khái quát tình hình chung của địa phương…………………………………………….12 II. Thực trạng công tác xây dựng gia đình văn hóa……………………………………15 1. Kết quả đạt được và nguyên nhân…………………………………………………….15 2. Những tồn tại và nguyên nhân………………………………………………………….19 CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY CÔNG TÁC XÂY DỰNG GIA ĐÌNH VĂN HÓA XÃ TIÊN HIỆP TỪ NAY ĐẾN NĂM 2024………………………………23 I. Định hướng…………………………………………………………………………………….23 II. Giải pháp………………………………………………………………………………………24 KẾT LUẬN…………………………………………………………………………………………….26 TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………………………………………………..27

HVTH: Lê Thanh Thành

Trang 1

Môn: Chủ nghĩa xã hội khoa học

GVHD: Ph ạm Th ị Thu

PHẦN MỞ ĐẦU Lý do chọn đề tài Gia đình là tế bào của xã hội, nơi duy trì nòi giống, là môi trường quan trọng hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con người, bảo tồn và phát huy văn hoá truyền thống tốt đẹp, chống lại các tệ nạn xã hội, tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt. Hạt nhân của xã hội là gia đình, chính vì muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội mà phải chú ý hạt nhân cho tốt”. Trải qua nhiều thế hệ, gia đình Việt Nam được hình thành và phát triển với những chuẩn mực giá trị tốt đẹp góp phần xây dựng bản sắc văn hoá dân tộc. Những giá trị truyền thống quý báu như lòng yêu nước, tình yêu thương, ý chí tự lực, tự cường,vượt qua mọi khó khăn, thử thách đã được gia đình Việt Nam gìn giữ, vun đắp và phát huy trong suốt quá trình lịch sử dựng nước và giữ nước. Qua nhiều thời kỳ phát triển, cấu trúc và quan hệ trong gia đình Việt Nam có những thay đổi, nhưng chức năng cơ bản của gia đình vẫn tồn tại và gia đình vẫn là một nhân tố quan trọng, không thể thiếu trong sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Sau gần 30 năm đổi mới thực hiện đường lối đổi mới, đất nước đã đạt được những thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế, xã hội, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho mọi gia đình. Phong trào xây dựng đời sống văn hoá mới ở cơ sở phát triển, ngày càng có nhiều gia đình văn hoá, khu phố văn hoá, làng văn hoá, cụm dân cư văn hoá, góp phần gìn giữ và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc. Bên cạnh thành tựu đó thì dưới tác động của kinh tế thị trường đã làm cho giá trị truyền thống tốt đẹp trên bị xuống cấp nghiêm trọng. Để đáp ứng sự phát triển của xã hội và các quan hệ gia đình phù hợp với điều HVTH: Lê Thanh Thành

Trang 2

Môn: Chủ nghĩa xã hội khoa học

GVHD: Ph ạm Th ị Thu

kiện kinh tế xã hội mới. Đảng ta đã xác định trong từng giai đoạn cụ thể định hướng xây dựng nền văn hóa của đất nước trên cơ sở kế thừa giá trị bản sắc dân tộc và tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa của nhân loại. Tại Đại hội Đảng lần thứ XI, Đảng ta tiếp tục bổ sung và khẳng định mục tiêu: “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; Gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; con người phát triển toàn diện về trí tuệ, đạo đức, thể chất và năng lực sáng tạo, ý thức công dân, tuân thủ pháp luật”. Trong giai đoạn hiện nay sự chuyển biến mạnh mẽ về kinh tế có tác động rất lớn đến văn hóa và vấn đề cơ bản nhất trong nền văn hóa là “Gia đình văn hóa”. Vậy làm sao để phong trào xây dựng gia đình văn hóa thực sự hiệu quả giữ gìn được bản sắc dân tộc là vấn đề đặt ra cho cấp cơ sở là nơi trực tiếp vận động nhân dân tham gia sâu rộng thực hiện thắng lợi cuộc vận động có giá trị thực tiễn. Từ yêu cầu tất yếu của thực tiễn, tác giả đã lựa chọn đề tài “Thực trạng và giải pháp công tác xây dựng gia đình văn hóa tại xã Tiên Hiệp, Tiên Phước trong giai đoạn hiện nay” làm bài thu hoạch môn kinh tế chính trị Mác Lênin . Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Công tác xây dựng gia đình văn hóa Phạm vi nghiên cứu: Địa bàn xã Tiên Hiệp, Tiên Phước, Quảng Nam giai đoạn năm 2011-2024. Nội dung và kết cấu của đề tài Phần 1: Lời mở đầu Phần 2: Gồm 3 nội dung cụ thể Chương I: Cơ sở lý luận về gia đình văn hóa Chương II: Thực trạng công tác xây dựng gia đình văn hóa ở xã Tiên Hiệp, Tiên Phước giai đoạn hiện nay

HVTH: Lê Thanh Thành

Trang 3

Môn: Chủ nghĩa xã hội khoa học

GVHD: Ph ạm Th ị Thu

Chương III: Giải pháp thúc đẩy công tác xây dựng gia đình văn hóa xã Tiên Hiệp từ nay đến năm 2024. Phần 3: Kết luận Phương pháp nghiên cứu Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở kết hợp sử dụng phương pháp tổng hợp, tham khảo các báo cáo của địa phương. Bài viết đã hệ thống quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam, kết hợp với việc đánh giá phân tích thực tiễn tại địa phương về công tác xây dựng gia đình văn hóa giai đoạn 2011-2024 để rút ra những kết luận và đề xuất chủ yếu trong thời gian tới. Cá bước thực hiện như sau: Bước 1: Xác định thông tin, dữ liệu cần thu thập Bước 2: Thiết kế, lên kế hoạch, tiến độ thực hiện Bước 3: Thu thập và xử lý dữ liệu, thông tin đầu vào Bước 4: Phân tích, đánh giá dữ liệu Bước 5: Viết báo cáo, đề xuất và nêu ý kiến bản thân Mặc dù đã cố gắng nhưng do hạn chế về kinh nghiệm thực tiễn và thời gian nghiên cứu nên bài viết không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong được sự quan tâm và đóng góp ý kiến của các thầy cô giảng viên để bài viết được hoàn thiện hơn. Xin chân thành cảm ơn.

HVTH: Lê Thanh Thành

Trang 4

Môn: Chủ nghĩa xã hội khoa học

GVHD: Ph ạm Th ị Thu

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIA ĐÌNH VĂN HÓA I. Gia đình 1. Khái niệm a. Khái niệm Gia đình là đơn vị nhỏ của xã hội, là đơn vị xã hội đầu tiên, trong đó con người gắn bó với nhau bởi những mối quan hệ hôn nhân và huyết thống. Gia đình giữ vai trò thiết yếu trong hoạt động và phát triển của bất kỳ xã hội nào. C.Mác và Ph.Ăngghen quan niệm về gia đình: “Hằng ngày tái tạo ra đời sống của bản thân mình, con người bắt đầu tạo ra những người khác, sinh sôi nảy nởđó là quan hệ giữa chồng và vợ, cha mẹ và con cái. Đó là gia đình” b. Vị trí Gia đình là nơi con người được sinh ra, là tổ ấm thân yêu đem lại các giá trị hạnh phúc, sự hài hòa trong đời sống cá nhân cho mỗi con người. Gia đình là “tế bào xã hội”. Gia đình là xã hội thu nhỏ, nhiều gia đình cộng lại thành xã hội. Gia đình là tế bào tự nhiên, đồng thời là một đơn vị kinh tế xã hội. Bởi không có gia đình tái tạo ra con người để xây dựng xã hội thì xã hội cũng không thể tồn tại và phát triển được. c. Các chức năng thể hiện vai trò của gia đình Chức năng tái sản xuất ra con người; chức năng nuôi dưỡng và giáo dục thế hệ trẻ; chức năng kinh tế của gia đình; chức năng tổ chức đời sống tạo sự ổn định gia đình và phát triển xã hội; chức năng đáp ứng nhu cầu tâm sinh lý, tình cảm của các thành viên trong gia đình. 2. Đặc điểm của gia đình Việt Nam a. Đặc điểm gia đình truyền thống Việt Nam

HVTH: Lê Thanh Thành

Trang 5

Môn: Chủ nghĩa xã hội khoa học

GVHD: Ph ạm Th ị Thu

Có thể khái quát là gia đình truyền thống Việt Nam hình thành nên từ nền văn minh lúa nước trong môi trường địa lý khí hậu nhiệt đới nóng ẩm gió mùa luôn phải khắc phục thiên tai và chống giặc ngoại xâm. Có sự gắn kết bền chặt giữa Nhà – Làng – Nước, trong đó “Nhà” đóng vai trò hạt nhân quan trọng. Trong mối quan hệ đó gia đình – “Nhà” là đơn vị nhỏ của xã hội là khâu trung gian gắn liền giữa cá nhân với xã hội, xã hội thông qua gia đình để quản lý mọi thành viên của mình. Là sản phẩm của xã hội nông thôn – nông nghiệp nên có đặc trưng riêng của mình. Trên cơ sở kinh tế, xã hội, văn hóa của lịch sử, gia đình Việt Nam truyền thống được hình thành phát triển trên các bình diện cơ cấu và chức năng sau: + Gia đình Việt Nam truyền thống là hình thái gia đình gắn liền với xã hội nông thôn, nông nghiệp, ít biến đổi qua lịch sử cho đến khi nên văn minh công nghiệp và đô thị vào cuối thế kỷ XIX + Gắn với xã hội nông thôn và kinh tế nông nghiệp lúa nước với công cụ sản xuất thô sơ lạc hậu. Là một đơn vị sản xuất nông nghiệp tự cung, tự cấp khép kín. b. Đặc điểm gia đình Việt Nam hiện nay Gia đình chịu tác động của yếu tố kinh tế thị trường toàn cầu hóa: + Hướng tích cực: đời sống vật chất và tinh thần của đại đa số gia đình được cải thiện đáng kể. + Hướng tiêu cực: một số giá trị của gia đình bị đảo lộn; các thành viên trong gia đình ít được quan tâm, chăm sóc nên kết cấu gia đình lỏng lẻo; lối sống thực dụng gia tăng trong nhiều thế hệ; hiện tượng xấu xuất hiện như nghiện hút, mại dâm, ngoại tình… đang trực tiếp tàn phá mạnh mẽ đời sống kinh tế, văn hóa và tinh thần của các gia đình HVTH: Lê Thanh Thành

Trang 6

Môn: Chủ nghĩa xã hội khoa học

GVHD: Ph ạm Th ị Thu

Mô hình gia đình Việt Nam hiện nay đa số có kết cấu gia đình 2 thế hệ dần thay thế kết cấu gia đình truyền thống nhiều thế hệ và quy mô lớn Gia đình là một đơn vị kinh tế độc lập, chất lượng cuộc sống được nâng cao. Các mối quan hệ trong gia đình cải thiện theo hướng dân chủ, bình đẳng. Xã hội ta phát triển theo con đường kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đã tạo mọi điều kiện để gia đình và con người được phát triển toàn diện và thể hiện sự đóng góp tích cực của gia đình trong công cuộc đổi mới đất nước. II. Nội dung công tác xây dựng gia đình văn hóa 1. Gia đình văn hóa đang xây dựng là gì? Hiện nay văn hóa gia đình Việt Nam đang đứng trước sự lựa chọn các giá trị như sau: 1/ Giữ nếp văn hoá gia đình truyền thống nguyên dạng với kiểu gia đình tam tứ đại đồng đường, trong đó các thế hệ trong gia đình sống theo đạo lý “kính trên, nhường dưới”, “chị ngã, em nâng”… Người già quyết định tối cao và được chăm sóc chu đáo. Cá nhân không được quyền quyết định, ít được quyền dân chủ, có tính bảo thủ, có khi cản trở sự phát triển. 2/ Xây dựng gia đình hiện đại chỉ có 2 thế hệ, đề cao tự do cá nhân một cách tuyệt đối, cắt rời ít liên hệ với quá khứ, cội nguồn. Do đó xảy ra tình trạng nhiều người già lâm vào tình trạng cô đơn ít được chăm sóc chu đáo. 3/ Xây dựng gia đình hiện đại, giàu có, ít con, hạnh phúc trên cơ sở văn hóa gia đình truyền thống, có sự giúp đỡ, hỗ trợ giữa các thế hệ, bảo lưu có chọn lọc giá trị văn hoá gia đình truyền thống. Đây là xu thế phù hợp nhất tạo nên gia đình tiên tiến, vừa hiện đại, giàu bản sắc dân tộc. Vậy đây chính là mô hình gia đình văn hoá chúng ta cần xây dựng.

HVTH: Lê Thanh Thành

Trang 7

Môn: Chủ nghĩa xã hội khoa học

GVHD: Ph ạm Th ị Thu

2. Tóm tắt quá trình hình thành công tác xây dựng gia đình văn hóa Cuộc vận động có tiền thân ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, ngày 20-3-1947 dưới bút danh Tân Sinh, Bác Hồ đã viết tác phẩm “Đời sống mới” Người viết: “Mỗi người làm đúng theo đời sống mới thì đời trong một nhà cũng dễ thôi. Cũng như mỗi viên đá trơn tru vững chắc, thì chỉ cần một ít vôi là đắp thành một bức tường tốt Năm 1960, 6 gia đình ở thôn Ngọc Tỉnh, xã Ngọc Long, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên (gồm gia đình ông Luyện Văn Để, Đinh Văn Để, Đinh Văn Khắc, Luyện Văn Ân, Nguyễn Văn Tục, Đỗ Văn Thức) đã thống nhất bàn bạc, giúp nhau trong sản xuất, dạy bảo con cái chăm ngoan học tập, giúp đỡ láng giềng lúc khó khăn. Đây được coi là mô hình gia đình văn hoá đầu tiên, Bộ Văn hoá (Nay là Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch) có chủ trương nhân rộng mô hình này. Năm 1962, tại Hội nghị phổ biến nhân rộng mô hình xây dựng Gia đình văn hoá tại Hải Phòng, Bộ Văn hoá đã công nhận 6 gia đình văn hoá này và tặng cho thôn Ngọc Tình (tỉnh Hưng Yên) bức trướng, đề tặng chiếc nôi của phong trào xây dựng gia đình văn hoá, đồng thời phát động phong trào xây dựng gia đình văn hoá trên phạm vi cả nước. Ngày 15-3-1975, Bộ Văn hoá Thông tin và Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam đã ban hành Thông tư liên tịch về việc đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng Gia đình văn hoá mới Từ năm 1975-1985: Phong trào phát triển rộng khắp trong toàn quốc. Từ 1986 đến 1990: Thời kỳ đổi mới, thay đổi cơ chế từ bao cấp sang hạch toán, khiến cho nguồn chi cho phong trào giảm sút, ngành Văn hoá, Thông tin, cơ quan thường trực của Ban Chỉ đạo Nếp sống mới Trung ương vẫn cố gắng duy trì phong trào nhưng kết quả có hạn chế. HVTH: Lê Thanh Thành

Trang 8

Môn: Chủ nghĩa xã hội khoa học

GVHD: Ph ạm Th ị Thu

Từ 1990-2000: Ban Chỉ đạo Nếp sống mới Trung ương đã đề ra nội dung tiêu chuẩn gia đình văn hoá như sau: xây dựng gia đình no ấm, hoà thuận, tiến bộ, hạnh phúc; thực hiện tốt kế hoạch hoá gia đình; đoàn kết xóm giềng; thực hiện nghĩa vụ công dân Ngày 16-7-1998, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành Nghị quyết Trung ương 5 (Khoá VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Vấn đề gia đình và xây dựng gia đình văn hoá đã được đề cập một cách cấp thiết: “Giữ gìn và phát huy những đạo lý tốt đẹp của gia đình Việt Nam. Nêu cao vai trò gương mẫu của các bậc cha mẹ. Coi trọng xây dựng gia đình văn hoá. Xây dựng mối quan hệ khăng khít giữa “Gia đình- Nhà trường- Xã hội” Năm 2011, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch ban hành Thông tư 12/2011/TT-BVHTTDL quy định chi tiết về tiêu chuẩn, trình tự, thủ tục, hồ sơ công nhận Danh hiệu “Gia đình văn hóa”; “Thôn văn hóa”, “Làng văn hóa”, “Ấp văn hóa”, “Bản văn hóa”, “Tổ dân phố văn hóa” và tương đương. Các tiêu chí xây dựng gia đình văn hoá hiện nay vẫn được kế thừa có chọn lọc với những yếu tố của gia đình truyền thống Việt Nam. 3. Tiêu chuẩn danh hiệu “Gia đình văn hóa” 1. Gương mẫu chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tích cực tham gia các phong trào thi đua của địa phương: a) Thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ công dân; không vi phạm pháp luật Nhà nước, quy định của địa phương và quy ước, hương ước cộng đồng; b) Giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; vệ sinh môi trường; nếp sống văn hóa nơi công cộng; bảo vệ di tích lịch sử văn hóa, cảnh quan của địa

HVTH: Lê Thanh Thành

Trang 9

Môn: Chủ nghĩa xã hội khoa học

GVHD: Ph ạm Th ị Thu

phương; tích cực tham gia các hoạt động xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư; c) Không vi phạm các quy định về thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội; không sử dụng và lưu hành văn hóa phẩm độc hại; không mắc các tệ nạn xã hội; tham gia tích cực bài trừ tệ nạn xã hội và phòng chống các loại tội phạm; d) Tham gia thực hiện đầy đủ các phong trào thi đua; các sinh hoạt, hội họp ở cộng đồng. 2. Gia đình hòa thuận, hạnh phúc, tiến bộ, tương trợ giúp đỡ mọi người trong cộng đồng: a) Vợ chồng bình đẳng, thương yêu giúp đỡ nhau tiến bộ. Không có bạo lực gia đình dưới mọi hình thức; thực hiện bình đẳng giới; vợ chồng thực hiện sinh con đúng quy định, cùng có trách nhiệm nuôi con khỏe, dạy con ngoan; b) Gia đình nề nếp; ông bà, cha mẹ gương mẫu; con cháu thảo hiền; giữ gìn các giá trị văn hóa gia đình truyền thống, tiếp thu có chọn lọc các giá trị văn hóa mới về gia đình; c) Giữ gìn vệ sinh phòng bệnh; nhà ở ngăn nắp; khuôn viên xanh-sạchđẹp; sử dụng nước sạch, nhà tắm và hố xí hợp vệ sinh; các thành viên trong gia đình có nếp sống lành mạnh, thường xuyên luyện tập thể dục thể thao; d) Tích cực tham gia chương trình xóa đói, giảm nghèo; đoàn kết tương trợ xóm giềng, giúp đỡ đồng bào hoạn nạn; hưởng ứng phong trào đền ơn đáp nghĩa, cuộc vận động “Ngày vì người nghèo” và các hoạt động nhân đạo khác ở cộng đồng. 3. Tổ chức lao động, sản xuất, kinh doanh, công tác, học tập đạt năng suất, chất lượng, hiệu quả:

HVTH: Lê Thanh Thành

Trang 10

Môn: Chủ nghĩa xã hội khoa học

GVHD: Ph ạm Th ị Thu

a) Trẻ em trong độ tuổi đi học đều được đến trường, chăm ngoan, hiếu học; người lớn trong độ tuổi lao động có việc làm thường xuyên, thu nhập ổn định, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; b) Có kế hoạch phát triển kinh tế gia đình, chủ động “Xóa đói giảm nghèo”, năng động làm giàu chính đáng; c) Kinh tế gia đình ổn định, thực hành tiết kiệm; đời sống vật chất, văn hóa tinh thần của các thành viên trong gia đình ngày càng nâng cao. “Trích Điều 4, Thông tư 12/2011/TT-BVHTTDL, ngày 10/10/2011”

HVTH: Lê Thanh Thành

Trang 11

Môn: Chủ nghĩa xã hội khoa học

GVHD: Ph ạm Th ị Thu

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÂY DỰNG GIA ĐÌNH VĂN HÓA Ở XÃ TIÊN HIỆP, TIÊN PHƯỚC GIAI ĐOẠN HIỆN NAY I. Khái quát tình hình chung của địa phương  Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên Vị trí địa lý: Tiên Hiệp là một xã miền núi cách trung tâm Huyện Tiên phước 12 km về phía Tây của huyện Tiên Phước, về phía Đông giáp xã Tiên An, phía Tây giáp Tiên Ngọc, phía Nam giáp Trà Dương, Bắc Trà My, phía Bắc giáp Tiên Cảnh. Xã có trục đường QL40B chạy từ Trung tâm Huyện Tiên Phước qua xã Tiên Cảnh lên trung tâm Bắc Trà My. Diện tích tự nhiên: Diện tích tự nhiên 3.638,31 ha. Trong đó đất có khả năng sản xuất nông lâm nghiệp trên 2.125 ha, địa hình toàn là đồi núi chia cắt phức tạp. Dân số 4380 khẩu, 932 hộ, tỷ lệ hộ nghèo năm 2014 là 18,45%. Địa giới hành chính chia thành 05 thôn, mỗi thôn có một thôn trưởng, một thôn phó, và các chi hội đoàn thể ở thôn, nhân dân sinh hoạt theo cụm dân cư và 21 tổ đoàn kết. Thời tiết chia làm thành 2 mùa rõ rệt, mùa nắng từ tháng 1 đến tháng 8, mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 12 hằng năm. Về Tôn giáo toàn xã hiện nay là: 303 hộ có 1266 khẩu. Trong đó công giáo: 53 hộ, 239 khẩu, tin lành: 98 hộ 556 khẩu, phật giáo: 147 hộ 605 khẩu, cao đài: 5 hộ, 16 khẩu  Lĩnh vực kinh tế Giá trị nông lâm nghiệp ước tính mỗi năm đạt 60 tỷ đồng, tăng 20% so với Nghị quyết của Đại hội nhiệm kỳ 2010 – 2024. Kết quả thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới đạt được những kết quả nhất định tính đến năm 2014 xã đạt được 8/19 tiêu chí và phấn đấu hoàn thành 3 tiêu chí đến cuối năm 2024. Sản xuất tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ: tăng bình quân hằng năm 10%, giá trị sản xuất tăng HVTH: Lê Thanh Thành

Trang 12

Môn: Chủ nghĩa xã hội khoa học

GVHD: Ph ạm Th ị Thu

từ 1,988 tỷ đồng năm 2010 và ước đạt 2,970 tỷ đồng năm 2024. Thương mại dịch vụ phát triển tương đối ổn định, các cơ sở kinh doanh mở rộng đáp ứng đầy đủ nhu cầu thiết yếu của nhân dân. Hạ tầng kinh tế: xây dựng được nhiều công trình phúc lợi cơ bản đáp ứng nhu cầu của nhân dân và đảm bảo cơ sở vật chất cần thiết. Thu ngân sách và các khoản nghĩa vụ nhà nước, chi ngân sách đạt nhiều kết quả có chuyển biến tích cực góp phần ổn định đời sống của nhân dân.  Lĩnh vực văn hóa xã hội BCH đã tập trung chỉ đạo từng bước nâng cao, chất lượng cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống ở khu dân cư” theo tinh thần Nghị quyết TW5 (khoá VIII) và chất lượng của thôn văn hoá, gia đình văn hoá, đời sống văn hoá có nhiều chuyển biến tích cực, nền văn hoá mới từng bước được phát triển. Đời sống nhân dân được nâng cao, nhu cầu từng bước được đáp ứng. Tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi đến trường 100%, tỷ lệ trẻ em đỗ tốt nghiệp tiểu học 100%, tốt nghiêp THCS đạt 99%, hoàn thành phổ cập tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập THCS. Mạng lưới y tế được củng cố, mở rộng đến các thôn. Cơ sở vật chất y tế được trang bị, từng bước đáp ứng yêu cầu chăm sóc nhân dân hằng năm đạt 100%, kế hoạch các chương trình y tế quốc gia, công tác vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh môi trường được chú trọng, dịch bệnh ít xảy ra. Hiện nay có 100% số hộ dùng nước sạch. Hiện nay các thôn trên địa bàn xã đều có cộng tác viên dân số. Thường xuyên tổ chức nhiều đợt truyền thông tư vấn cho đối tượng trong độ tuổi sinh đẻ, thực hiện các biện pháp tránh thai đạt 90%/1 năm. Xây dựng các mô hình thôn, tổ đoàn kết không có người sinh con thứ 3, tỷ lệ dân số tự nhiên ở mức 0,73 %. Công tác bảo vệ chăm sóc trẻ em được chú trọng, tỷ lệ trẻ em SDD giảm còn 2,5%. Thực hiện tốt công tác đền ơn đáp nghĩa chính sách người có công với HVTH: Lê Thanh Thành

Trang 13

Môn: Chủ nghĩa xã hội khoa học

GVHD: Ph ạm Th ị Thu

Trang 14

Môn: Chủ nghĩa xã hội khoa học

GVHD: Ph ạm Th ị Thu

sống văn hóa, nội lực trong dân và phát huy tạo niềm tin vững chắc của nhân dân đối với Đảng trong công cuộc xây dựng quê hương.  Công tác xây dựng Đảng Tính đến nay toàn bộ Đảng có 47 Đảng viên, 8 chi bộ trực thuộc 5 chi bộ thôn, 2 chi bộ trường,1 chi bộ quân sự .Trong nhiệm kỳ qua, thực hiện theo chức năng nhiệm vụ, quyền hạn được quy định, và quy chế hoạt động của BCH Đảng bộ xã Tiên Hiệp. BCH đã coi trọng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng là nhiệm vụ trọng tâm đã tập trung nghiên cứu quán triệt đầy đủ các quan điểm, đường lối chủ trương, Nghị quyết của các cấp đến cán bộ, Đảng viên và nhân dân xem đây là nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu trong công cuộc xây dựng Đảng. Đặc biệt BCH xây dựng kế hoạch và tổ chức quán triệt cho cán bộ, Đảng viên học tập chuyên đề về tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh theo tinh thần Chỉ thị 03 của Bộ Chính trị. BCH luôn thống nhất cao với quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của các cấp và chấp hành nghiêm túc các Chỉ thị, Nghị quyết của cấp trên, kiên quyết chống lại các tư tưởng sai lệch về quan điểm của Đảng và đường lối đổi mới của Đảng cộng sản Việt Nam. Công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng bố trí sử dụng cán bộ được chú trọng có tích cực qua các đợt quy hoạch theo phương án A1, A2. II. Thực trạng công tác xây dựng gia đình văn hóa 1. Kết quả đạt được và nguyên nhân a. Kết quả đạt được Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” ở xã Tiên Hiệp được Đảng, chính quyền tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt ; được sự hưởng ứng tích cực của mọi tầng lớp nhân dân, công tác xã hội hoá của phong trào được nâng cao, thể hiện rõ nét qua việc hưởng ứng xây dựng phong trào của quần chúng nhân dân, tích cực tham gia các hoạt động văn hoá, văn nghệ, HVTH: Lê Thanh Thành

Trang 15

Môn: Chủ nghĩa xã hội khoa học

GVHD: Ph ạm Th ị Thu

TDTT, đoàn kết xây dựng lối sống tốt đẹp, phong phú lành mạnh, đẩy lùi các tệ nạn xã hội, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết của Đảng bộ, HĐND xã giai đoạn năm 2011 – 2024. Sự phối hợp chặt chẽ, có hiệu quả của các ban, ngành, đoàn thể của xã trong công tác xây dựng đời sống văn hoá. Trong đó, vai trò chủ đạo của ngành VHTT – UBMT xã và sự hưởng ứng tích cực thường xuyên của các ban, ngành, đoàn thể trong BCĐ từ xã đến thôn được thể hiện rõ phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” phát huy được tinh thần đoàn kết cộng đồng, vận động nhân dân hưởng ứng, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Từ đó, góp phần xây dựng thôn văn hoá có cuộc sống vật chất, tinh thần ngày càng nâng lên, cảnh quang môi trường ngày càng được xây dựng sạch đẹp, các thiết chế văn hoá ngày càng được quan tâm đầu tư xây dựng cơ bản hơn, trong năm 2011 phong trào của xã Tiên Hiệp đã đạt được một số kết quả như sau:  Công tác tổ chức, tham mưu, chỉ đạo thực hiện phong trào Đẩy mạnh phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” gắn với thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới trong giai đoạn năm 2011 – 2024. Dưới sự chỉ đạo của Ban thường vụ Huyện ủy Tiên Phước, toàn bộ cán bộ, Đảng viên và nhân dân trong xã hưởng ứng thực hiện mạnh mẽ cuộc vận động trên. Thường trực Ban chỉ đạo của xã đã tổ chức cuộc họp với Ban vận động các thôn để triển khai hướng dẫn thực hiện các văn bản cấp trên , UBND tỉnh, BCĐ tỉnh và BCĐ huyện về phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”. BCĐ phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” của xã được củng cố, có xây dựng quy chế hoạt động và phân công thành viên phụ trách địa bàn từng thôn, tổ đoàn kết, Ban vận động các thôn luôn duy trì hoạt động đều HVTH: Lê Thanh Thành

Trang 16

Môn: Chủ nghĩa xã hội khoa học

GVHD: Ph ạm Th ị Thu

Trang 17

Môn: Chủ nghĩa xã hội khoa học

GVHD: Ph ạm Th ị Thu

Đảng bộ đã đạt được những kết quả trong nhiệm kỳ 2011-2024 trong công tác xây dựng gia đình văn hóa thể hiện dưới bảng số liệu sau: Bảng1: Số hộ đạt gia đình văn hóa giai đoạn 2011-2014 Năm 2010 2011 2012 2013 2014

Số hộ đạt GĐVH

Tỷ lệ %

Số hộ đạt

Số thôn đạt

3 năm liền

239/924

Với điều kiện khó khăn của xã đạt được kết quả như thế đã là thành tựu lớn của sự lãnh đạo và cố gắng nổ lực vượt khó, vươn lên của nhân dân trong xã. Mặt khác một số điều kiện khách quan khó khăn về kinh tế đã tác động mạnh đến quá trình xây dựng gia đình văn hóa của các hộ trong xã. Điều đó ảnh hưởng đến tỷ lệ và số lượng hộ đạt chuẩn gia đình văn hóa có xu hướng giảm trong thời gian qua. Số lượng thôn văn hóa theo đó cũng bị giảm sút nghiêm trọng. b. Nguyên nhân đạt được Do có sự đoàn kết nhất trí cao, tinh thần trách nhiệm của toàn Đảng bộ, Ban chỉ đạo, ban vận động trong công tác xây dựng gia đình văn hóa. Nhờ sự bám sát Nghị quyết của Đảng, vận dụng linh hoạt vào điều kiện cụ thể của địa phương. Công tác chỉ đạo điều hành luôn thực hiện đúng quy chế, nêu cao sự lãnh đạo của Đảng ủy và vai trò điều hành của UBND, sự phối hợp thực hiện kiểm tra giám sát của Mặt trận và các tổ chức đoàn thể khác, luôn lắng nghe phản ánh của nhân dân, được nhân dân hưởng ứng mạnh mẽ phong trào. Đồng thời phát huy được sức mạnh đại đoàn kết.

HVTH: Lê Thanh Thành

Trang 18

Môn: Chủ nghĩa xã hội khoa học

GVHD: Ph ạm Th ị Thu

Được sự quan tâm, chỉ đạo quán triệt thường xuyên của Ban thường vụ huyện ủy, UBND huyện, Mặt trận và các ban ngành đoàn thể của huyện đã đóng góp vào mục tiêu nhiệm vụ cụ thể trong quá trình thực hiện cuộc vận động. 2. Những tồn tại và nguyên nhân a. Những tồn tại hạn chế Dù rằng ngày càng có nhiều gia đình mức sống được cải thiện, nâng cao, thì cũng còn không ít những gia đình đời sống còn gặp nhiều khó khăn. Những thành tựu và kết quả đạt được trong lĩnh vực xây dựng gia đình văn hóa còn chưa tương xứng và chưa vững chắc, chưa đủ mạnh để tác động có hiệu quả đối với lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là lĩnh vực tư tưởng, đạo đức lối sống,chất lượng đời sống văn hóa còn nhiều mặt hạn chế cụ thể là: Nhiệm vụ xây dựng con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa có đầy đủ 5 đức tính như Nghị quyết TW 5 khóaVIII đề ra chưa tạo được sự chuyển biến rõ rệt. Chênh lệch giàu nghèo ngày càng gia tăng. Nếu tính theo chỉ số của Ngân hàng thế giới về sử dụng mức chi tiêu cần thiết để đạt 2.100 calo/ người/ ngày thì nhiều gia đình sẽ rơi vào mức dưới nghèo, có sự khác biệt lớn giữa gia đình người kinh và gia đình người dân tộc. Thu nhập của các hộ gia đình trong xã tuy có khá hơn trước nhưng chưa phải là cao, cơ cấu thu nhập chuyển biến chậm và mức chênh lệch thu nhập giữa các nhóm, vùng có xu hướng gia tăng. Nếu lấy thu nhập bình quân của một người trong tháng ở nông thôn là 1 thì thu nhập của người ở thị trấn (thành thị) gấp 2,55 lần. Sở dĩ có sự chênh lệch này là do thu nhập ở khu vực nông thôn chủ yếu là nông nghiệp. Tốc độ gia tăng của sản xuất nông nghiệp thường chỉ bằng 1/2 đến 1/3 tốc độ tăng của công nghiệp, xây dựng và dịch vụ. Việc vận dụng tăng thu nhập vào mục đích phát triển kinh tế hộ gia đình còn hạn chế. HVTH: Lê Thanh Thành

Trang 19

Môn: Chủ nghĩa xã hội khoa học

GVHD: Ph ạm Th ị Thu

Khi nền kinh tế phát triển, thay đổi về cơ cấu sản xuất và điều kiện lao động cũng có ảnh hưởng nhất định đến các mối quan hệ truyền thống và sự bền vững của gia đình. Mối quan hệ vợ chồng của một số gia đình có nguy cơ bị phá vỡ do họ thiếu sự quan tâm chăm sóc lẫn nhau, con cái thiếu tôn kính đối với cha mẹ, có tâm lý ỷ lại, thích đua đòi, thích hưởng thụ do cha mẹ thiếu quan tâm, thiếu phương pháp giáo dục đúng đắn. Đây cũng chính là môi trường thuận lợi cho các tệ nạn xã hội có cơ hội thâm nhập vào gia đình. Vấn đề bình đẳng giới chưa được xã hội quan tâm và nhận thức đầy đủ, tư tưởng “gia trưởng”, “trọng nam khinh nữ” vẫn còn tồn tại ở nhiều thôn trong xã. Tình trạng bạo lực trong gia đình, nhất là bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em vẫn còn xảy ra đã gây nên bức xúc trong dư luận xã hội. Ngoài ra tình trạng vi phạm pháp luật như: trộm cắp, cướp giật, mê tín dị đoan, cờ bạc… gây mất trật tự cũng là những vấn đề đặt ra hết sức gay gắt cho các cấp, các ngành. Với tâm lý muốn sinh nhiều con để có con trai nối dõi tông đường vẫn còn tồn tại ở nhiều thôn trong xã. Nhiều gia đình sinh con đông không đủ khả năng nuôi dạy con, con cái bị thất học hay phải nghỉ học sớm, ngược lại, cũng không ít gia đình tuy sinh ít con nhưng cha mẹ lại buông lỏng quản lý do chỉ chú tâm đến việc làm kinh tế cho gia đình, thiếu sự quan tâm giáo dục toàn diện dẫn đến tình trạng trẻ em bỏ học, làm ảnh hưởng đến mục tiêu nâng cao chất lượng dân số và phát triển nguồn lực phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tình trạng suy thoái về đạo đức, tha hóa trong lối sống như chạy theo đồng tiền, ảnh hưởng bởi tệ nạn xã hội, lối sống thực dụng, đề cao tự do cá nhân dẫn đến gia đình tan vỡ, tác động tiêu cực đến xã hội. Đó chính là những thách thức to lớn trong việc xây dựng gia đình.

HVTH: Lê Thanh Thành

Trang 20

Thực Trạng Và Giải Pháp Xây Dựng, Phát Triển Nền Văn Hóa Việt Nam Tiên Tiến, Đậm Đà Bản Sắc Dân Tộc Trong Giai Đoạn Hiện Nay

12/13/2024 3:40:00 PM thanhnga 55 lượt xem Giới thiệu

Thực hiện kế hoạch nghiên cứu khoa học năm 2024, sáng ngày 10 tháng 12 năm 2024, Hội đồng nghiệm thu đề tài khoa học khoa Lý luận đại cương, Trường CĐ VHNT Nghệ An tổ chức nghiệm thu đề tài khoa học Thực trạng và giải pháp xây dựng, phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong giai đoạn hiện nay của TS Phạm Thị Thanh Nga, giảng viên khoa Lý luận đại cương. Trong đề tài của mình, TS Phạm Thị Thanh Nga đã đề cập đến thực trạng xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và đường lối, chính sách của Đảng xây dựng, phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc qua các kỳ đại hội, đặc biệt là qua Cương lĩnh của Đảng năm 2011.

Nếu Đại hội VI của Đảng mở đầu cho công cuộc đổi mới thì với việc thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (sau đây gọi tắt là Cương lĩnh năm 1991), Đại hội VII đã hoạch định đường lối của Đảng về xây dựng và phát triển đất nước trong giai đoạn mới, trong đó có đường lối về văn hóa. Trên cơ sở xác định “nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” là một trong sáu đặc trưng của mô hình chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Cương lĩnh năm 1991 chỉ ra nội dung, phương hướng căn bản xây dựng, phát triển nền văn hóa đất nước nhằm “tạo ra một đời sống tinh thần cao đẹp, phong phú và đa dạng, có nội dung nhân đạo, dân chủ, tiến bộ”.

Sau 20 năm thực hiện Cương lĩnh năm 1991, Đại hội XI của Đảng đã tổng kết, đánh giá những kết quả to lớn đạt được cùng với những hạn chế, khó khăn và những vấn đề còn tiếp tục phải giải quyết. Từ những bài học kinh nghiệm được rút ra trong quá trình tổng kết thực tiễn ấy, Đảng ta đã có nhiều nhận thức mới về mặt lý luận làm cơ sở cho việc bổ sung, phát triển Cương lĩnh của Đảng – Cương lĩnh năm 2011. Đối với lĩnh vực văn hóa, từ quan điểm nhất quán về một “nền văn hóa Việt Nam tiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ”, Cương lĩnh năm 2011 và Nghị quyết số 33-NQ/TW, ngày 9-6-2014, Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước (Nghị quyết số 33-NQ/TW), đã tiếp tục làm sâu sắc hơn nội dung, tính chất, vai trò, tầm quan trọng của văn hóa, cũng như mối quan hệ giữa văn hóa với con người và các lĩnh vực khác của đời sống xã hội.

Trong định hướng đường lối, Nghị quyết số 33-NQ/TW yêu cầu ” Văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội “. Đây là một đòi hỏi xuất phát từ nhận thức về bản chất, tầm quan trọng của văn hóa. Đồng thời, đó cũng chính là yêu cầu từ thực tiễn đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước. Trên thực tế, trong khi những thành tựu về chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, đối ngoại của chúng ta rất to lớn, thì thành tựu trong lĩnh vực văn hóa là “chưa tương xứng”, chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra với tính chất “nền tảng tinh thần” cho sự phát triển đất nước. Sự hạn chế về văn hóa thể hiện trên nhiều khía cạnh, từ đạo đức, lối sống, môi trường văn hóa, cơ sở hạ tầng văn hóa, đến đời sống văn hóa, quản lý, giáo dục văn hóa, văn hóa truyền thông, chất lượng các công trình văn hóa, nghệ thuật… Nguyên nhân của những hạn chế đó bắt nguồn từ nhận thức về văn hóa chưa rõ, chưa đủ, dẫn đến tập trung quan tâm cho chính trị, kinh tế và các lĩnh vực khác mà chưa coi trọng đúng tầm cho văn hóa, chưa có những giải pháp tích cực, cách làm hiệu quả, chưa có sự đầu tư các nguồn lực hợp lý để xây dựng, phát triển nền văn hóa đất nước.

Cương lĩnh năm 2011 cũng đã có bước đi quan trọng trong nhận thức về con người. Đó là sự kế thừa nhất quán, sáng tạo những nhận thức đúng đắn, nhân văn của Đảng ta về con người, thể hiện ở mục đích của cuộc cách mạng do Đảng phát động và lãnh đạo thực hiện chính là vì giải phóng con người, vì hạnh phúc nhân dân. Nhưng muốn đạt đến mục đích chung nhất ấy cần phải nắm được tính chất, yêu cầu của vấn đề con người, mối quan hệ tác động lẫn nhau giữa con người với văn hóa và các lĩnh vực khác trong những điều kiện cụ thể. Trong điều kiện đất nước bị thực dân đô hộ, đế quốc giày xéo, Chủ tịch Hồ Chí Minh mong muốn và cũng là đặt ra mục tiêu cụ thể của cách mạng là “nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Khi công cuộc đổi mới đã thu được những thành tựu có tính lịch sử, đời sống vật chất của nhân dân được cải thiện, đất nước hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, vấn đề con người được Đảng quan tâm toàn diện hơn, sâu rộng hơn. Bởi thế, Cương lĩnh năm 2011 khẳng định: “Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển”. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng tiếp tục khẳng định “Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện phải trở thành một mục tiêu của chiến lược phát triển”. Từ nhận thức con người là nhân tố quyết định, là mục tiêu của phát triển, đồng thời là “tác giả”, là nguồn lực quan trọng nhất của phát triển, Nghị quyết số 33-NQ/TW triển khai thành quan điểm chỉ đạo: “Phát triển hài hòa giữa kinh tế và văn hóa; cần chú ý đầy đủ đến yếu tố văn hóa và con người trong phát triển kinh tế”. Cương lĩnh năm 2011 cũng đồng thời đề ra yêu cầu quan tâm đầy đủ hơn, toàn diện hơn đến con người về đời sống vật chất, đời sống tinh thần, về điều kiện, khả năng phát triển một cách toàn diện, về việc được bảo đảm các quyền và lợi ích chính đáng trong mối quan hệ hài hòa với trách nhiệm xã hội và nghĩa vụ công dân. Và toàn bộ sự phát triển xã hội là nhằm mục đích “vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người, với trình độ tri thức, đạo đức, thể lực và thẩm mỹ ngày càng cao”, quyền con người được tôn trọng và bảo vệ trong mối quan hệ gắn bó với “quyền và lợi ích của dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân dân”. Nhận thức đó cũng là sự kế thừa, tiếp nối quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Đem tài dân, sức dân, của dân làm lợi cho dân”, dựa vào “sự giác ngộ đầy đủ và lao động sáng tạo của hàng chục triệu người” để xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Tóm lại, x ây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là một chủ trương lớn, nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam, được đề cập trong nhiều văn bản quan trọng, đặc biệt từ Nghị quyết Trung ương 5, khóa VIII , ngày 16 tháng 7 năm 1998. Trong đó, tính tiên tiến và bản sắc dân tộc được hòa quyện, gắn bó hữu cơ trong các yếu tố cấu thành của nền văn hóa, đảm bảo tính kế thừa và phát triển, vừa giữ gìn các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, đồng thời đảm bảo tính mở, tiếp thu tinh hoa của văn hóa nhân loại. Đồng thời, nội hàm của tính tiên ti ến và bản sắc văn hóa cũng được xác định rõ, phù hợp với mục tiêu, đặc điểm, truyền thống của đất nước trong quá trình đi lên CNXH. Theo đó, tiên tiến trong văn hóa trước hết là nền văn hóa yêu nước và tiến bộ, nội dung cốt lõi là lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tất cả vì con người, vì tự do, hạnh phúc và sự phát triển toàn diện của con người, trong mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng, giữa tự nhiên và xã hội; tiên tiến không chỉ thể hiện ở nội dung tư tưởng mà cả trong hình thức thể hiện, trong các phương tiện chuyển tải nội dung; bản sắc văn hóa dân tộc, là các giá trị đặc trưng, tiêu biểu phản ánh diện mạo, cốt cách, bản chất riêng của nền văn hóa, là dấu hiệu cơ bản để phân biệt nền văn hóa của dân tộc này với dân tộc khác, đó cũng là tổng hòa các khuynh hướng sáng tạo văn hóa, được hình thành trong mối liên hệ thường xuyên với điều kiện kinh tế, môi trường tự nhiên, thể chế chính trị…trong quá trình phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc. Bản sắc văn hóa được thể hiện rõ trong truyền thống dân tộc, là các giá trị văn hóa tiêu biểu được trao truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác, được khai thác và phát huy, tiếp tục bồi đắp, tạo nên dòng chảy văn hóa của dân tộc từ quá khứ đến hiện tại và tương lai.

Mục tiêu chung hướng đến của quá trình xây dựng, phát triển nền văn hóa Việt Nam là phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, hướng tới chân-thiện-mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học. Đây là một quá trình lâu dài, đòi hỏi phải có bước đi phù hợp, thích ứng với điều kiện, trình độ phát triển về kinh tế, xã hội, bối cảnh trong nước và quốc tế. Trong quá trình đó, việc từng bước xây dựng nền văn hóa tiên tiến, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống có ý nghĩa hết sức quan trọng. Cương lĩnh xây dựng đất nước (bổ sung, phát triển năm 2011), gọi tắt là Cương lĩnh 2011 đã chỉ rõ, để xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc đòi hỏi: “Kế thừa và phát huy những truyền thống văn hóa tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại, xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người”, Nghị quyết 33-NQ/TW, khóa XI ngày 9 tháng 6 năm 2014, đưa ra 5 quan điểm: (1) Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước. Văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội. (2) Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thống nhất trong đa dạng của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, với các đặc trưng dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học. (3) Phát triển văn hóa vì sự hoàn thiện nhân cách con người và xây dựng con người để phát triển văn hóa. Trong xây dựng văn hóa, trọng tâm là chăm lo xây dựng con người có nhân cách, có lối sống tốt đẹp, với các đặc tính cơ bản: yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, cần cù, sáng tạo. (4) Xây dựng đồng bộ môi trường văn hóa, trong đó chú trọng vai trò của gia đình, cộng đồng. phát triển hài hòa giữa kinh tế và văn hóa; cần chú ý đầy đủ đến yếu tố văn hóa và con người trong phát triển kinh tế. (5) Xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân là chủ thể sáng tạo, đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng. Đại hội XII của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng khẳng định: “Trong mọi hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội đều phải đề cao nhân tố văn hóa, con người. Mọi hoạt động văn hóa, từ bảo tồn, phát huy các di sản lịch sử, văn hóa; phát triển văn học, nghệ thuật, báo chí, xuất bản đến bảo tồn, phát huy văn hóa các dân tộc thiểu số, văn hóa tôn giáo, xây dựng các thiết chế văn hóa,… đều phải phục vụ thiết thực sự nghiệp xây dựng, phát triển văn hóa, con người”.

Những thành tựu to lớn trong công cuộc đổi mới xây dựng, phát triển đất nước, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã giúp cho đời sống vật chất được cải thiện không ngừng – một điều kiện cơ bản, hàng đầu bảo đảm cho sự phát triển của con người Việt Nam. Thu nhập bình quân đầu người trong cả nước năm 2024 đã tăng hơn 2 lần so với thời điểm năm 2010. Đầu tư của Nhà nước cho khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa, nhất là đường giao thông, hạ tầng giáo dục, được quan tâm hơn. Tỷ lệ hộ nghèo trong cả nước từ 14,2% giảm còn dưới 3% năm 2024 (theo chuẩn nghèo đa chiều). Chương trình xây dựng nông thôn mới đã đạt được những kết quả quan trọng, thực sự góp phần cải thiện toàn diện cuộc sống của cư dân nông thôn. Dịch vụ y tế ngày càng được nâng cao về chất lượng, thuận lợi về điều kiện tiếp cận. Tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế tăng nhanh, từ 60,9% năm 2010 lên 90,7% năm 2024. Chỉ số phát triển con người của Việt Nam được cải thiện từng năm, thuộc nhóm nước có chỉ số phát triển con người trung bình cao của thế giới. Công tác bảo vệ môi trường sống, ứng phó với những nguy cơ từ an ninh phi truyền thống, như nước biển dâng, thiên tai, dịch bệnh, ô nhiễm môi trường… được chú trọng, bắt đầu từ hoàn thiện thể chế, chính sách đến việc dự báo, phát hiện và xử lý kịp thời.

Dân chủ xã hội chủ nghĩa được thực hiện rộng rãi với những chế định bảo đảm ngày càng chặt chẽ. Việc thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở đã đóng góp tích cực vào việc thực hiện quyền làm chủ của người dân, bảo vệ những quyền và lợi ích chính đáng của họ trong các quyết định về kinh tế – xã hội ở các địa phương. Việc “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” gắn với thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” đã thúc đẩy sự hình thành văn hóa đảng, văn hóa trong chính trị, với nội dung cơ bản là tôn vinh và bảo vệ sự trong sạch, vững mạnh, các đức tính cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, gương mẫu đi đầu trước nhân dân của cán bộ, đảng viên và toàn hệ thống chính trị. Hàng loạt các phong trào, như “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, “Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2024 – 2024”, “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”, xây dựng gia đình văn hóa mới, văn hóa công sở, văn hóa doanh nghiệp, văn hóa doanh nhân… đã góp phần tạo nên chuyển biến to lớn trong xây dựng con người, ngăn chặn những biểu hiện tiêu cực, xuống cấp về đạo đức xã hội, tạo lập môi trường xã hội lành mạnh, tích cực.

Các hoạt động văn hóa, như văn học, nghệ thuật, thư viện, bảo tồn, phát huy di sản văn hóa, đều được quan tâm phát triển, có những công trình, tác phẩm có giá trị, có ý nghĩa chính trị, xã hội sâu sắc. Chỉ tính riêng năm 2024, 59 nhà xuất bản trong cả nước đã xuất bản trên 33.000 đầu sách với 400 triệu bản in, hàng nghìn sách điện tử đã được phát hành. Hệ thống báo chí, truyền thông đại chúng phát triển nhanh, ngày càng hiện đại. Hàng trăm kênh phát thanh, truyền hình đang hoạt động, trong đó có nhiều kênh kết nối, hợp tác quốc tế. Theo số liệu thống kê năm 2024, ở Việt Nam đang có 64 triệu người sử dụng in-tơ-nét, chiếm 66% dân số, 143,3 triệu thuê bao điện thoại, bằng 148% dân số, trong đó phần lớn người dân sử dụng điện thoại thông minh, loại phương tiện có thể truy cập in-tơ-nét mọi nơi, mọi lúc trên lãnh thổ Việt Nam. Sự phát triển của các phương tiện truyền thông đại chúng hiện đại tạo điều kiện mở và thuận lợi cho người dân Việt Nam có nhiều cơ hội để mở mang tri thức, giao lưu, kết nối văn hóa với các dân tộc, các nền văn hóa trên thế giới. Hoạt động thể dục, thể thao quần chúng, thể thao thành tích cao đều có sự mở rộng, đạt nhiều kết quả tích cực.

Việc bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa hiệu quả chưa cao, nguy cơ mai một chưa được ngăn chặn. Hệ thống thông tin đại chúng phát triển thiếu quy hoạch khoa học, gây lãng phí nguồn lực và quản lý không theo kịp sự phát triển. Một số cơ quan truyền thông có biểu hiện thương mại hóa, xa rời tôn chỉ, mục đích . Cơ chế, chính sách về kinh tế trong văn hóa, văn hóa trong kinh tế, về huy động, quản lý các nguồn lực cho văn hóa chưa cụ thể, rõ ràng. Hệ thống thiết chế văn hóa và cơ sở vật chất, kỹ thuật cho hoạt động văn hóa còn thiếu và yếu, có nơi xuống cấp, thiếu đồng bộ, hiệu quả sử dụng thấp.

Công tác quy hoạch, đào tạo, bố trí cán bộ lãnh đạo, quản lý văn hóa các cấp, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao còn nhiều hạn chế, bất cập. T ình trạng nhập khẩu, quảng bá, tiếp thu dễ dãi, thiếu chọn lọc sản phẩm văn hóa nước ngoài đã tác động tiêu cực đến đời sống văn hóa của một bộ phận nhân dân, nhất là lớp trẻ.

Cùng với những kết quả to lớn trong 10 năm thực hiện Cương lĩnh năm 2011, lĩnh vực văn hóa cũng đạt được nhiều thành tựu, tuy nhiên lĩnh vực này cũng còn không ít hạn chế.

về văn hóa và mối quan hệ giữa xây dựng văn hóa với phát triển con người, về vai trò, vị trí của văn hóa trong xây dựng, phát triển đất nước, có nơi, có lúc chưa đầy đủ, chưa sâu sắc. Triển khai đường lối xây dựng văn hóa của Đảng trong Cương lĩnh và các nghị quyết Đại hội Đảng chưa thật đồng bộ và toàn diện. Một số cấp ủy đảng, chính quyền còn lúng túng trong việc thể chế hóa yêu cầu coi văn hóa ngang bằng với chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh. Việc xây dựng và xác định hệ giá trị chuẩn mực văn hóa, con người Việt Nam còn chậm, kéo theo sự lúng túng, không thống nhất trong việc xây dựng các quy định, chuẩn mực văn hóa trong chính trị, kinh tế, trong các cơ quan, tổ chức của hệ thống chính trị.

Trong , tình hình tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong Đảng và trong xã hội tuy đã được cải thiện, song vẫn còn diễn biến phức tạp. Hưởng thụ văn hóa giữa đô thị với nông thôn, giữa đồng bằng, trung du với khu vực vùng sâu, vùng xa còn chênh lệch. Tệ nạn xã hội, tội phạm còn phức tạp, tồn tại nhiều hiện tượng trái với thuần phong, mỹ tục, làm cho môi trường văn hóa chưa thật lành mạnh. Những kết quả trong hoạt động văn học, nghệ thuật, trong bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa, chưa theo kịp yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn. Hệ thống thông tin đại chúng phát triển nhanh nhưng chưa hợp lý; còn có biểu hiện thương mại hóa, xa rời tôn chỉ, mục đích trong một số cơ quan, đơn vị; công tác quản lý các phương tiện truyền thông mới chưa chặt chẽ, nhiều thông tin tiêu cực, sai trái trên mạng in-tơ-nét và các kênh truyền thông xã hội gây nhiễu loạn nhận thức, bức xúc cho người dân. Đấu tranh phản bác các tư tưởng sai trái, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, các truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc còn nhiều hạn chế. Nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao cho lĩnh vực văn hóa còn nhiều hạn chế, bất cập. Hợp tác quốc tế về văn hóa hiệu quả chưa cao, chưa theo kịp yêu cầu phát triển.

Từ yêu cầu của công cuộc xây dựng và phát triển đất nước trong thời kỳ mới, trên cơ sở nghiên cứu, xem xét tình hình và kết quả thực hiện Cương lĩnh năm 2011, người nghiên cứu đã đưa ra một số giải pháp để xây dựng nền văn hóa đất nước trong thời gian tới

hát triển sự nghiệp văn học, nghệ thuật; bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hóa truyền thống, cách mạng

ở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế về văn hóa; đổi mới, tăng cường việc giới thiệu, truyền bá văn hóa, văn học, nghệ thuật, đất nước con người Việt Nam với thế giới

Có thể khẳng định rằng, cho đến nay những đánh giá về thực trạng văn hóa nước ta; về phương hướng, quan điểm chỉ đạo, nhiệm vụ, giải pháp xây dựng, phát triển văn hóa mà các nghị quyết từ Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII đến nay vẫn còn nguyên ý nghĩa thời sự. Để tiếp tục thực hiện tốt Nghị quyết trong thời gian tới, mỗi cấp ủy và chính quyền, đoàn thể, mỗi cán bộ, đảng viên cần xem xét nghiêm túc trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý của mình, rút ra những bài học kinh nghiệm trong công tác lãnh đạo, quản lý văn hóa, đẩy mạnh công tác phát triển văn hóa, xây dựng và chỉnh đốn Đảng; kiên quyết đấu tranh”chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Kiên quyết đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, chủ nghĩa cá nhân, lối sống cơ hội, thực dụng, bè phải, “lợi ích nhóm”, nói không đi đôi với làm”… Chú trọng xây dựng văn hóa trong Đảng, trong bộ máy nhà nước. Tăng cường các biện pháp quản lý cán bộ, đảng viên; tăng cường giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng; đẩy mạnh tự phê bình và phê bình; xử lý nghiêm khắc những cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật Đảng và pháp luật Nhà nước, kiên quyết đưa ra khỏi Đảng những người suy thoái, tha hóa về phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống. Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (Khóa XI, XII)về xây dựng chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và của nhân dân đối với Đảng. Phải tập trung thực hiện mục tiêu: “Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức. Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, coi đó là công việc thường xuyên của các tổ chức đảng, các cấp chính quyền, các tổ chức chính trị – xã hội, địa phương, đơn vị”.

Hội đồng bỏ phiếu đánh giá xếp loại đề tài đạt loại xuất sắc. Kết luận phiên nghiệm thu, T h.S Lê Thị Thắng , Chủ tịch Hội đồng ghi nhận và đánh giá cao những kết quả đạt được của đề tài, yêu cầu t ác giả tiếp thu đầy đủ những ý kiến đánh giá, nhận xét của Hội đồng để chỉnh sửa, bổ sung, hoàn thiện đề tài đạt chất lượng cao hơn và sớm đưa vào thực hiện, phục vụ hiệu quả cho công tác đào tạo, bồi dưỡng của nhà trường.

Luận Văn Luận Văn Công Tác Xây Dựng Gia Đình Văn Hóa Ở Huyện Tam Bình, Tỉnh Vĩnh Long Hiện Nay. Thực Trạng Và Giải Pháp

Hiện nay, trong phạm vi cả nước nói chung và tỉnh Vĩnh Long nói riêng đang đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đát nước, phấn đấu đến năm 2024 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Hòa cùng không khí đó, huyện Tam Bình cũng tích cực đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh. Những biến đổi sâu sắc về kinh tế xã hội ở huyện Tam Bình đã góp phần cải thiện đời sống vật chất và tinh thần, tạo cơ hội để xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc, bình đẳng và tiến bộ, con người trong huyện được giải phóng và vai trò cá thể được đề cao. Đất nước đang trên đà phát triển mạnh mẽ và toàn diện, hòa cùng xu thế đó gia đình ngày nay càng có một vị trí đặc biệt hơn. Gia đình là tế bào của xã hội, là một trong các tổ chức cơ sở để thực hiện các chủ trương chính sách và pháp luật của Nhà nước về tất cả các mặt kinh tế, xã hội, chính trị văn hóa, giáo dục, môi trường Gia đình Việt Nam là một nhân tố quan trọng góp phần để phát triển kinh tế xã hội của đất nước trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa . Đối với xã hội Việt Nam gia đình bao giờ cũng gắn liền với xã hội, vì lẽ đó không thể có một xã hội phát triển nếu các gia đình bị suy sụp, khủng hoảng. Đúng như chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: ” nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, xã hội tốt thì gia đình càng tốt, gia đình tốt thì xã hội mới tốt ” Xã hội đang trên đà phát triển mạnh mẽ và toàn diện đó là sơ sở để khẳng định gia đình Việt Nam cũng đang bước vào kỷ nguyên phát triển mới. Tuy nhiên, hiện nay ở huyện Tam Bình vấn đề xây dựng gia đình văn hóa bên cạnh những thành tựu đã đạt được cũng còn gặp không ít những khó khăn như: nạn ly hôn, ly thân giữa các cặp vợ chồng, nạn bạo lực, cha mẹ thiếu trách nhiệm trong giáo dục con cái cùng một số tệ nạn xã hội: cờ bạc, rượu chè, ma túy đã gia tăng, làm ảnh hưởng không nhỏ đến việc xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hóa của huyện. Đây là một hiện trạng khẩn thiết không chỉ đối với các cấp, các ngành mà còn đối với cá nhân và gia đình trong huyện. Cần phải có hướng khắc phục và giải quyết có hiệu quả. Đứng trước thực trạng đó, là một thành viên của huyện Tam Bình nên tôi đã quyết định chọn đề tài: “CÔNG TÁC XÂY DỰNG GIA ĐÌNH VĂN HÓA Ở HUYỆN TAM BÌNH, TỈNH VĨNH LONG – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP” để làm Luận văn Tốt nghiệp của mình. Nội dung chủ yếu là tìm hiểu công tác xây dựng gia đình văn hóa của huyện – kết quả đạt được bên cạnh một số hạn chế mắc phải. Từ đó đưa ra những giải pháp để công tác xây dựng gia đình văn hóa ở huyện Tam Bình ngày càng đạt hiệu quả hơn, góp phần vào sự nghiệp chung của đất nước cũng như nâng cao vị thế của gia đình trong xã hội.

Tiểu Luận Công Tác Xây Dựng Gia Đình Văn Hóa Ở Xã Tân Hòa, Huyện Buôn Đôn: Thực Trạng Và Giải Pháp

1. Lý do chọn đề tài: Gia đình là tế bào của xã hội, nơi duy trì nòi giống, là môi trường quan trọng hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con người, bảo tồn và phát huy văn hoá truyền thống tốt đẹp, chống lại các tệ nạn xã hội, tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt. Hạt nhân của xã hội là gia đình, chính vì muốn xây dựng CNXH mà phải chú ý hạt nhân cho tốt”. Trải qua nhiều thế hệ, gia đình Việt Nam được hình thành và phát triển với những chuẩn mực giá trị tốt đẹp góp phần xây dựng bản sắc văn hoá dân tộc. Những giá trị truyền thống quý báu như lòng yêu nước, yêu quê hương, yêu thương đùm bọc lẫn nhau, thuỷ chung, hiếu nghĩa, hiếu học, cần cù và sáng tạo trong lao động, bất khuất, kiên cường vượt qua mọi khó khăn, thử thách đã được gia đình Việt Nam gìn giữ, vun đắp và phát huy trong suốt quá trình lịch sử dựng nước và giữ nước. Qua nhiều thời kỳ phát triển, cấu trúc và quan hệ trong gia đình Việt Nam có những thay đổi, nhưng chức năng cơ bản của gia đình vẫn tồn tại và gia đình vẫn là một nhân tố quan trọng, không thể thiếu trong sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Sau gần 20 năm thực hiện đường lối đổi mới, đất nước đã đạt được những thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế, xã hội, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho mọi gia đình. Kinh tế hộ gia đình thực sự đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sự tăng trưởng tổng thu nhập quốc dân hàng năm. Phong trào xây dựng đời sống văn hoá mới ở cơ sở phát triển, ngày càng có nhiều gia đình văn hoá, khu phố văn hoá, làng văn hoá, cụm dân cư văn hoá, góp phần gìn giữ và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc. Công tác xoá đói, giảm nghèo, giải quyết việc làm đã giúp cho hàng triệu gia đình thoát nghèo và nâng cao mức sống. Những năm gần đây, việc thành lập cơ quan quản lý nhà nước về gia đình và lấy ngày 28 – 6 hàng năm là Ngày gia đình Việt Nam đã khẳng định vai trò của gia đình đối với xã hội và xã hội đối với gia đình trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Nhận thức được tầm quan trọng trong việc xây dựng gia đình văn hoá, xã Tân Hoà – huyện Buôn Đôn, dù là một xã mới được thành lập từ khi chia tách huyện nhưng với sự nỗ lực của các cấp uỷ Đảng, chính quyền, các ban ngành đoàn thể và nhân dân trong toàn xã. Những năm qua kinh tế – xã hội của xã tăng trưởng mạnh , văn hoá, giáo dục được coi trọng, an ninh quốc phòng được củng cố, đời sống của nhân dân ngày càng được cải thiện. Phong trào xây dựng gia đình văn hoá là nội dung quan trọng nhất trong phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá khu dân cư được triển khai rộng khắp, mang lại hiệu quả thiết thực. Tuy nhiên, công tác công tác xoá đói, giảm nghèo còn nhiều khó khăn, kết quả chưa vững chắc. Việc thực hiện Luật Hôn nhân và gia đình còn nhiều thiếu sót và bất cập. Hiện tượng tảo hôn vẫn còn tồn tại. Tình trạng ly hôn, ly thân, chung sống không kết hôn, quan hệ tình dục và nạo phá thai trước hôn nhân gia tăng đã để lại những hậu quả nghiêm trọng về nhiều mặt đối với gia đình và xã hội. Nhiều giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp của gia đình như hiếu nghĩa, thuỷ chung, kính trên nhường dưới đang có biểu hiện xuống cấp. Bạo hành trong gia đình, tình trạng buôn bán phụ nữ và trẻ em, trẻ em bị xâm hại, trẻ em phải lang thang kiếm sống, trẻ em vi phạm pháp luật có chiều hướng phát triển.Làm ảnh hưởng không nhỏ đến tốc độ phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của xã. Vấn đề xây dựng gia đình văn hoá có tính cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn. Nhận thức được vấn đề đó, tôi chọn đề tài: “CÔNG TÁC XÂY DỰNG GIA ĐÌNH VĂN HÓA Ở XÃ TÂN HÒA – HUYỆN BUÔN ĐÔN – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP” làm đề tài tốt nghiệp chương trình trung cấp lý luận chính trị của mình. Đề tài không tránh khỏi những hạn chế, khiếm khuyết, rất mong được sự đóng góp ý kiến của quý thầy, cô giáo và các bạn học viên để đề tài hoàn thiện hơn. Xin chân thành cảm ơn! 2. Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu thực trạng công tác xây dựng gia đình văn hóa của xã Tân Hoà, từ đó rút ra những giải pháp nhằm thực hiện phong trào có hiệu quả hơn, nâng cao vị thế của gia đình, góp phần phát triển kinh tế – xã hội của xã. 3. Phạm vi nghiên cứu. – Nội dung nghiên cứu: Thực trạng công tác xây dựng gia đình văn hoá. – Địa điểm: Tại xã Tân Hoà – Huyện Buôn Đôn. – Thời gian: Từ năm 2007 – 2011. 4. phương pháp nghiên cứu: Sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, và một số phương pháp cụ thể như: thống kê, so sánh, điều tra, khảo sát, phân tích và tổng hợp. 5. Kết cấu của bản tiểu luận: Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, nội dung của tiểu luận bao gồm: 1. Cơ sở lý luận của vấn đề gia đình và xây dựng gia đình văn hoá. 2. Thực trạng công tác xây dựng gia đình văn hoá ở xã Tân Hoà – Huyện Buôn Đôn từ năm 2007 – 2011. 3. Phương hướng, mục tiêu và những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác xây dựng gia đình văn hoá ở xã Tân Hoà – Huyện Buôn Đôn từ năm 2011 – 2024.

A. PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài: Gia đình là tế bào của xã hội, nơi duy trì nòi giống, là môi trường quan trọng hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con người, bảo tồn và phát huy văn hoá truyền thống tốt đẹp, chống lại các tệ nạn xã hội, tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt. Hạt nhân của xã hội là gia đình, chính vì muốn xây dựng CNXH mà phải chú ý hạt nhân cho tốt”. Trải qua nhiều thế hệ, gia đình Việt Nam được hình thành và phát triển với những chuẩn mực giá trị tốt đẹp góp phần xây dựng bản sắc văn hoá dân tộc. Những giá trị truyền thống quý báu như lòng yêu nước, yêu quê hương, yêu thương đùm bọc lẫn nhau, thuỷ chung, hiếu nghĩa, hiếu học, cần cù và sáng tạo trong lao động, bất khuất, kiên cường vượt qua mọi khó khăn, thử thách đã được gia đình Việt Nam gìn giữ, vun đắp và phát huy trong suốt quá trình lịch sử dựng nước và giữ nước. Qua nhiều thời kỳ phát triển, cấu trúc và quan hệ trong gia đình Việt Nam có những thay đổi, nhưng chức năng cơ bản của gia đình vẫn tồn tại và gia đình vẫn là một nhân tố quan trọng, không thể thiếu trong sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Sau gần 20 năm thực hiện đường lối đổi mới, đất nước đã đạt được những thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế, xã hội, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho mọi gia đình. Kinh tế hộ gia đình thực sự đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sự tăng trưởng tổng thu nhập quốc dân hàng năm. Phong trào xây dựng đời sống văn hoá mới ở cơ sở phát triển, ngày càng có nhiều gia đình văn hoá, khu phố văn hoá, làng văn hoá, cụm dân cư văn hoá, góp phần gìn giữ và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc. Công tác xoá đói, giảm nghèo, giải quyết việc làm đã giúp cho hàng triệu gia đình thoát nghèo và nâng cao mức sống. Những năm gần đây, việc thành lập cơ quan quản lý nhà nước về gia đình và lấy ngày 28 – 6 hàng năm là Ngày gia đình Việt Nam đã khẳng định vai trò của gia đình đối với xã hội và xã hội đối với gia đình trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Nhận thức được tầm quan trọng trong việc xây dựng gia đình văn hoá, xã Tân Hoà – huyện Buôn Đôn, dù là một xã mới được thành lập từ khi chia tách huyện nhưng với sự nỗ lực của các cấp uỷ Đảng, chính quyền, các ban ngành đoàn thể và nhân dân trong toàn xã. Những năm qua kinh tế – xã hội của xã tăng trưởng mạnh , văn hoá, giáo dục được coi trọng, an ninh quốc phòng được củng cố, đời sống của nhân dân ngày càng được cải thiện… Phong trào xây dựng gia đình văn hoá là nội dung quan trọng nhất trong phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá khu dân cư được triển khai rộng khắp, mang lại hiệu quả thiết thực. Tuy nhiên, công tác công tác xoá đói, giảm nghèo còn nhiều khó khăn, kết quả chưa vững chắc. Việc thực hiện Luật Hôn nhân và gia đình còn nhiều thiếu sót và bất cập. Hiện tượng tảo hôn vẫn còn tồn tại. Tình trạng ly hôn, ly thân, chung sống không kết hôn, quan hệ tình dục và nạo phá thai trước hôn nhân gia tăng đã để lại những hậu quả nghiêm trọng về nhiều mặt đối với gia đình và xã hội. Nhiều giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp của gia đình như hiếu nghĩa, thuỷ chung, kính trên nhường dưới đang có biểu hiện xuống cấp. Bạo hành trong gia đình, tình trạng buôn bán phụ nữ và trẻ em, trẻ em bị xâm hại, trẻ em phải lang thang kiếm sống, trẻ em vi phạm pháp luật có chiều hướng phát triển…Làm ảnh hưởng không nhỏ đến tốc độ phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của xã. Vấn đề xây dựng gia đình văn hoá có tính cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn. Nhận thức được vấn đề đó, tôi chọn đề tài: “CÔNG TÁC XÂY DỰNG GIA ĐÌNH VĂN HÓA Ở XÃ TÂN HÒA – HUYỆN BUÔN ĐÔN – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP” làm đề tài tốt nghiệp chương trình trung cấp lý luận chính trị của mình. Đề tài không tránh khỏi những hạn chế, khiếm khuyết, rất mong được sự đóng góp ý kiến của quý thầy, cô giáo và các bạn học viên để đề tài hoàn thiện hơn. Xin chân thành cảm ơn! 2. Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu thực trạng công tác xây dựng gia đình văn hóa của xã Tân Hoà, từ đó rút ra những giải pháp nhằm thực hiện phong trào có hiệu quả hơn, nâng cao vị thế của gia đình, góp phần phát triển kinh tế – xã hội của xã. 3. Phạm vi nghiên cứu. – Nội dung nghiên cứu: Thực trạng công tác xây dựng gia đình văn hoá. – Địa điểm: Tại xã Tân Hoà – Huyện Buôn Đôn. – Thời gian: Từ năm 2007 – 2011. 4. phương pháp nghiên cứu: Sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, và một số phương pháp cụ thể như: thống kê, so sánh, điều tra, khảo sát, phân tích và tổng hợp… 5. Kết cấu của bản tiểu luận: Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, nội dung của tiểu luận bao gồm: 1. Cơ sở lý luận của vấn đề gia đình và xây dựng gia đình văn hoá. 2. Thực trạng công tác xây dựng gia đình văn hoá ở xã Tân Hoà – Huyện Buôn Đôn từ năm 2007 – 2011. 3. Phương hướng, mục tiêu và những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác xây dựng gia đình văn hoá ở xã Tân Hoà – Huyện Buôn Đôn từ năm 2011 – 2024. B. PHẦN NỘI DUNG: 1. Cơ sở lý luận của vấn đề gia đình và xây dựng gia đình văn hoá. * Quan điểm của chủ tịch Hồ Chí Minh về gia đình và xây dựng gia đình văn hoá. Sinh thời, chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến việc xây dựng gia đình, Người luôn luôn nhắc nhở cán bộ, Đảng viên phải rất quan tâm đến gia đình, xác định mối quan hệ đúng đắn giữa tình nhà và nghĩa nước. Việc xây dựng gia đình văn hoá là một trong những vấn đề quan trọng của sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt. Hạt nhân của xã hội là gia đình. Chính vì muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội mà phải chú ý hạt nhân cho tốt”. Trong tác phẩm “Đời sống mới”, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho chúng ta thấy rõ cái nhìn biện chứng, sâu sắc trong việc xây dựng nếp sống mới. Người nói: Nếp sống mới không phủ nhận, bác bỏ hoàn toàn cái cũ và cũng không nhất thiết cái gì cũng làm mới. Cái mới không tự nhiên xuất hiện mà phải được kế thừa từ truyền thống. Còn cái gì xấu thì nhất quyết phải bỏ, có những cái cũ tuy không xấu, nhưng phiền phức thì phải sửa đổi cho hợp lý. Còn cái gì cũ mà tốt thì phải phát triển thêm. Người chỉ rõ việc xây dựng đời sống văn hóa mới phải kiên trì vận động quần chúng. Việc quan trọng phải có người làm gương, gia đình làm gương để mọi người làm theo… Chính vì vậy, cán bộ, Đảng viên đi vận động xây dựng đời sống văn hóa phải mất công sức và có nghệ thuật để vận động, làm cho dân hiểu rõ đời sống văn hóa đem lại hạnh phúc cho mọi người. Sinh thời, Bác Hồ từng khuyên bảo chúng ta: cưới hỏi, giỗ tết nên đơn giản, tiết kiệm… Vậy xây dựng gia đình văn hóa, làng xã văn hóa nên bắt đầu từ những việc cụ thể. Ngày nay chúng ta đã và đang thực hiện một chủ trương lớn là: “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”. Để đạt được mục tiêu cao cả này, mọi người cần phải ra sức học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh để xây dựng con người có văn hóa, đạo đức, xây dựng gia đình văn văn hóa mới. Trong tác phẩm “Đời sống mới” Người chỉ rõ cách ứng xử giữa người và người “phải thành thật, thân ái, giúp đỡ”; trong quan hệ giữa các thành viên trong gia đình như giữa vợ và chồng phải hòa thuận thương yêu nhau; con cái phải hiếu thảo với cha mẹ; đạo lý giữa mẹ chồng nàng dâu; rồi tình làng nghĩa xóm… Các mối quan hệ này đều cần phải phát huy những mặt tốt đẹp của đạo đức truyền thống đã ăn sâu vào nếp sống của từng gia đình Việt Nam. Những nội dung về nếp sống mới mà Bác Hồ đưa ra bao giờ cũng gắn với thực tế cuộc sống. Chúng ta phải nghiên cứu thật sâu để thực hiện nếp sống mới có hiệu quả thiết thực để mỗi người là một bông hoa đẹp, mỗi gia đình là một bó hoa tươi thắm, cả dân tộc ta là một rừng hoa đẹp. Người khẳng định nhân dân là gốc và “nếu mọi người đều cố gắng làm đời sống mới, thì dân tộc ta nhất định sẽ phú cường”. * Quan điểm của Đảng ta về gia đình và xây dựng gia đình văn hoá. Vận dụng quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về gia đình, Đảng ta luôn xem vấn đề gia đình ở vị trí mang tầm chiến lược quốc gia. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội của Đảng Cộng Sản Việt Nam khẳng định: “Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi thân yêu nuôi dưỡng cả đời người, là môi trường quan trọng giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách. Các chính sách của Nhà nước phải chú ý tới xây dựng gia đình ấm no, hòa thuận và tiến bộ. Nâng cao ý thức về nghĩa vụ gia đình đối với mọi lớp người”. Việt Nam đang ở vào thời điểm đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, cho nên việc xây dựng gia đình và củng cố gia đình ở nước ta cần phải quán triệt các quan điểm, Nghị quyết của Đảng như: vận dụng sáng tạo những định hướng chủ yếu xây dựng gia đình mới trong chủ nghĩa xã hội (gia đình mới của chủ nghĩa xã hội ra đời trên sự kế thừa những nét đẹp gia đình truyền thống, đồng thời tiếp thu những tiến bộ của thời đại về gia đình; thực hiện hôn nhân tiến bộ; các thành viên trong gia đình có quan hệ bình đẳng, thương yêu và có trách nhiệm với nhau, cùng chia sẻ, gánh vác công việc gia đình; trên cơ sở gia đình hòa thuận, cần xây dựng tốt các quan hệ với cộng đồng, tổ chức bên ngoài gia đình; đảm bảo quyền tự do) vào việc thực hiện xây dựng gia đình ở nước ta. Thực chất xây dựng gia đình mới nhằm góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, hướng tới hình thành con người mới Việt Nam với những đặc tính cao đẹp. Bởi thế, gia đình mới ở Việt Nam chính là gia đình văn hóa. Gia đình văn hóa Việt Nam trên cơ sở giữ gìn và phát huy phong tục, tập quán tốt đẹp, xóa bỏ những cái lạc hậu, những tàn tích phong kiến của chế độ hôn nhân và gia đình phong kiến, chống ảnh hưởng xấu của chế độ hôn nhân và gia đình tư sản, đồng thời biết tiếp thu những tiến bộ của văn hóa nhân loại. Quan điểm đó đã được các Đại hội của Đảng lặp đi lặp lại rất nhiều lần. Nếu như Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI khẳng định: “gia đình là tế bào của xã hội, có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp xây dựng chế độ mới, nền kinh tế mới, con người mới. Đảng, Nhà nước và các đoàn thể quần chúng cần đề ra phương hướng, chính sách và có biện pháp tổ chức thực hiện về xây dựng gia đình văn hóa mới, bảo đảm hạnh phúc gia đình. Nâng cao trình độ tự giác xây dựng những quan hệ tình cảm, đạo đức trong từng gia đình, đảm bảo sinh đẻ có kế hoạch và nuôi dạy con ngoan, tổ chức cuộc sống vật chất, văn hóa của gia đình” . Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII Đảng, tiếp tục khẳng định: “Xây dựng gia đình văn hóa mới có ý nghĩa rất quan trọng trong tình hình hiện nay, góp phần phát triển lực lượng sản xuất vật chất, ổn định và cải thiện đời sống, thực hiện kế hoạch hóa dân số, giữ gìn và phát huy những truyền thống đạo đức, văn hóa tốt đẹp của dân tộc. Nâng cao ý thức về nghĩa vụ gia đình đối với mọi lớp người. Kết hợp và phát huy vai trò của xã hội, các đoàn thể, nhà trường, tập thể lao động và tập thể dân cư trong việc chăm lo bồi dưỡng tình đồng chí, đồng đội, hình thành nhân cách cao đẹp và nếp sống có văn hóa”. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII: “Xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc, làm cho gia đình thực sự là tế bào lành mạnh của xã hội, là tổ ấm của mỗi người. Phát huy trách nhiệm của gia đình trong việc lưu truyền những giá trị văn hóa dân tộc từ thế hệ này sang thế hệ khác, thực hiện tốt luật hôn nhân và gia đình, phát huy người tốt việc tốt. Hình thành hệ giá trị và chuẩn mực xã hội mới phù hợp với truyền thống, bản sắc dân tộc và yêu cầu của thời đạị” Trước mắt “ấm no, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc” chính là những chuẩn mực cần vươn tới của gia đình mới ở nước ta. Sự ấm no là kết quả của lao động cần cù, sáng tạo và chính đáng của gia đình. Sự bình đẳng vừa thể hiện dân chủ vừa đảm bảo tính nề nếp và hòa thuận giữa các thành viên trong gia đình. Gia đình tiến bộ trên cơ sở sự tiến bộ của mọi thành viên và không tách rời sự tiến bộ chung của xã hội. No ấm, bình đẳng và tiến bộ tạo nên hạnh phúc cho gia đình. Gia đình hạnh phúc không phải là cái gì trừu tượng mà là tổng hòa những nét đẹp thường ngày của cuộc sống gia đình. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, X, XI tiếp tục khẳng định: “Nâng cao trách nhiệm của gia đình trong việc xây dựng và bồi dưỡng các thành viên của mình có lối sống văn hóa, làm cho gia đình thực sự là một tổ ấm của mỗi người và là tế bào lành mạnh của xã hội. Đẩy mạnh phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa. Đặc biệt, ngày 04 tháng 05 năm 2001, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 72/2001/QĐ-TTg chọn ngày 28 tháng 06 hàng năm làm NGÀY GIA ĐÌNH VIỆT NAM nhằm tôn vinh những giá trị truyền thống của văn hóa gia đình, đồng thời hướng tới xây dựng những chuẩn mực đạo đức, gia phong mới phù hợp với sự phát triển của xã hội hiện đại. Việc tổ chức ngày Gia đình Việt Nam hàng năm, chứng tỏ Đảng ta, Nhà nước ta, dân tộc ta rất quan tâm tới việc tôn tạo những giá trị gia đình, nêu lên tầm quan trọng của gia đình trong quá trình phát triển đất nước, thực hiện tiến bộ xã hội. Đây chính là một trong những nhân tố cơ bản để phát triển xã hội và bảo tồn giá trị của nền văn hóa dân tộc một cách bền vững trong tiến trình hội nhập quốc tế. 2. Thực trạng công tác xây dựng gia đình văn hoá ở xã Tân Hòa Huyện Buôn Đôn từ năm 2007 – 2011. a. Đặc điểm kinh tế – xã hội của xã Tân Hoà. Xã Tân Hoà – huyện Buôn Đôn là xã có đông các thành phần dân tộc cùng sinh sống, có diện tích? Toàn xã có bao nhiêu thôn buôn??với vị trí địa lý như sau: Phía Đông tiếp giáp Phía Tây Phía Nam Phía Bắc Dân số của toàn xã hiện nay có 2.575 hộ gia đình, với 11.241 khẩu, gia đình có 2 thế hệ chiếm 25% quy mô trung bình của hộ, gia đình ba thế hệ trở lên chiếm dưới 21%. Quy mô trung bình của hộ gia đình là 4,2 người/ hộ,tỷ lệ gia đình có từ 2-3 người chiếm 45%. Thu nhập chủ yếu dựa vào các hoạt động sản xuất nông nghiệp, chiếm khoảng 80%. Thu nhập bình quân hàng tháng của một nhân khẩu từ 556.000 đồng tăng lên 719.000 đồng, tỉ lệ hộ nghèo giảm từ 20,35% xuống còn 18,67% (năm 2010). Nhiều gia đình bắt đầu chú trọng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần thông qua việc xây dựng nhà ở kiên cố hơn, các phương tiện sinh hoạt trong gia đình cũng được mua sắm trang bị nhiều hơn (tivi, tủ lạnh, máy giặt, xe máy…) để phục vụ cho cuộc sống gia đình. Thực hiện mục tiêu nhiệm vụ năm 2010 và các năm tiếp theo được các ngành, các cấp tập trung tổ chức các phong trào vận động trong các tầng lớp nhân dân kết hợp cuộc vận động huy động từ nhiều nguồn vốn trong năm trên 14,8 tỷ đồng giúp vốn cho hộ nghèo; giải quyết việc làm cho 864 lao động; xây dựng mới 34 căn nhà tình nghĩa, sửa chữa 6 căn; tặng 06 sổ tiết kiệm cho 06 gia đình chính sách; hoàn thành cơ bản việc xây nhà tình nghĩa cho hộ gia đình chính sách ở 13/17 thôn trong xã, , và có 13/17 thôn không còn hộ gia đình chính sách nghèo; vận động các nhà hảo tâm, các tổ chức tôn giáo cứu hộ thường xuyên và đột xuất cho 273 hộ nghèo có hoàn cảnh khó khăn… Khi đời sống được nâng lên thì sự quan tâm về sức khỏe, học tập, thỏa mãn các nhu cầu về tình cảm – tinh thần của từng thành viên cũng được nâng lên. Từ đó người dân sẽ tham gia tích cực, hưởng ứng các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước do các tổ chức chính trị, đoàn thể, chính quyền các cấp khởi xướng. Do đó, tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy kinh tế – xã hội phát triển ở cả nông thôn và thành thị. Bên cạnh đó, năng lực xã hội của từng cá nhân cũng được nâng lên. Đặc biệt ý thức tôn trọng, chấp hành tốt các chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước, của cá nhân, gia đình đã tạo sự ổn định về mặt kinh tế – chính trị – xã hội – an ninh – quốc phòng, là cơ sở vững chắc để củng cố và phát triển gia đình. Kết cấu và qui mô của gia đình trong toàn xã hiện nay phản ánh sự biến đổi của hình thức gia đình từ gia đình nhiều thế hệ thành gia đình hạt nhân, với hai thế hệ là chủ yếu. Vừa giữ gìn được bản sắc riêng, tích cực của gia đình truyền thống, vừa kết hợp với tính chất hiện đại của gia đình mới phù hợp với xu hướng phát triển tiến bộ của xã hội trong quá trình đổi mới. Trong gia đình hạt nhân ở xã Tân Hòa huyện Buôn Đôn, đôi vợ chồng có toàn quyền quyết định cuộc sống, song xu hướng truyền thống không vì thế mà bị xem nhẹ, trái lại vẫn tiếp tục được tôn trọng, đó là, con cái có nhu cầu được ở gần cha mẹ, ông bà để các thế hệ giúp đỡ lẫn nhau, gần gũi hơn về mặt tình cảm. b. Thực trạng công tác xây dựng gia đình văn hóa ở xã Tân Hòa Huyện Buôn Đôn từ năm 2007 – 2011. * Về xây dựng gia đình văn hoá. Hưởng ứng cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư và nếp sống văn minh nơi công cộng”, những năm qua dưới sự chỉ đạo của các cấp uỷ Đảng, chính quyền, các ban ngành đoàn thể và nhân dân toàn xã Tân Hòa đã tích cực xây dựng gia đình văn hóa theo các tiêu chí cụ thể: “ấm no, hòa thuận, hạnh phúc, tiến bộ”, chấp hành tốt các chủ trương chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước, các qui định của địa phương. Hàng năm, Ban vận động phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng gia đình văn hóa” cùng các thành viên là trưởng, phó các ban ngành, đoàn thể của xã đã thường xuyên chỉ đạo việc tuyên truyền, vận động bằng nhiều hình thức tới tất cả nhân dân trong xã, cùng nhau xây dựng và thực hiện nếp sống văn minh – gia đình văn hóa. Đây là cuộc vận động thường xuyên, liên tục và việc xây dựng gia đình văn hóa cũng là một tiêu chuẩn bắt buộc trong việc xét đạt danh hiệu thôn – xóm văn hóa. Công tác tuyên truyền được xác định là nhiệm vụ quan trọng nhằm nâng cao nhận thức của mọi tầng lớp nhân dân. Đến nay, xã Tân Hòa đã tổ chức tuyên truyền sâu rộng về nội dung, ý nghĩa, tầm quan trọng của phong trào xây dựng gia đình văn hóa tới toàn thể nhân dân bằng các hình thức: thông qua các buổi sinh hoạt của các tổ chức đoàn thể, các hoạt động văn nghệ, phát thanh truyền hình, cùng các phương tiện thông tin đại chúng, nhất là vai trò của Ban vận động xóm, thôn và tổ an ninh tự quản với phương thức “mưa dầm thấm lâu”, “đi từng ngõ, gõ từng nhà” quan tâm động viên tạo mọi điều kiện cho nhân dân phấn đấu cộng đồng. Nội dung xây dựng gia đình văn hóa cũng được triển khai thường xuyên thông qua hoạt động tích cực của tổ nhân dân tự quản, các câu lạc bộ không sinh con thứ ba, phụ nữ giúp nhau làm kinh tế, xóa đói giảm nghèo, câu lạc bộ gia đình nông dân văn hóa, thanh niên với hạnh phúc gia đình. Từ khi phong trào xây dựng gia đình văn hóa, thôn văn hóa, xã văn hóa xã Tân Hòa phát triển mạnh, từng bước đi vào nội dung, chất lượng, đã tạo cho đời sống văn hóa Xã Tân Hòa khởi sắc, phát triển trên nền tảng kinh tế tăng trưởng khá, đời sống nhân dân từng bước được cải thiện, tỉ lệ hộ giàu ngày càng tăng lên, tỉ lệ hộ nghèo ngày càng giảm xuống. Kết quả phong trào quần chúng nhân dân tham gia thực hiện các chương trình kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng an ninh: Chương trình giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa: Cuộc vận động đã khơi dậy truyền thống đoàn kết nhân ái, thuỷ chung tình làng nghĩa xóm, tạo thêm nhiều tấm gương về người tốt việc tốt. Kết quả nổi bật do tác động của cuộc vận động ấy là do tác động của cuộc vận động đền ơn đáp nghĩa, thực hiện chính sách xã hội giúp đỡ các gia đình thương binh, liệt sĩ, các bà mẹ Việt Nam anh hùng cả về vật chất và tinh thần, khơi dậy truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Công tác xây dựng gia đình văn hóa được Đảng chính quyền cơ sở quan tâm, đặc biệt là văn hóa và dịch vụ văn hóa được tiến hành có trọng điểm và hiệu quả, công tác thanh tra kiểm tra văn hóa thông tin được thực hiện thường xuyên, góp phần làm lành mạn

Tăng Cường Công Tác Xây Dựng Đảng Trong Giai Đoạn Hiện Nay

Những năm qua, Huyện ủy Nông Sơn đặc biệt coi trọng công tác xây dựng Đảng, thông qua việc triển khai, thực hiện có hiệu quả các chỉ thị, nghị quyết về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức ở Đảng bộ huyện đã có nhiều chuyển biến tích cực, nhận thức của đội ngũ cán bộ, đảng viên ngày càng được nâng cao; tư tưởng thống nhất, thể hiện ở sự đoàn kết nhất trí, sự đồng thuận trong toàn Đảng bộ và quyết liệt trong tổ chức thực hiện. Những kết quả mà huyện Nông Sơn đã đạt được sau hơn 10 năm thành lập đã thể hiện rõ điều đó.

Tuy nhiên, do tác động của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, trong đó có mặt trái, mặt tiêu cực của kinh tế thị trường, dẫn đến tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Tại Hội nghị Trung ương 4 (khóa XII), Đảng ta nhấn mạnh: “Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc”. Quán triệt và nhận thức sâu sắc tinh thần của Nghị quyết, Huyện ủy luôn xác định cần phải quan tâm hơn nữa đến công tác xây dựng Đảng để nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; tăng cường cảnh giác trước âm mưu “diễn biến hòa bình”, nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức là nhiệm vụ cần thiết, trước mắt. Từ đó, Huyện ủy đã đề ra nhiều giải pháp, kiên quyết đấu tranh “ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”, đồng thời xác định đây là công việc cấp bách và phải được tiến hành thường xuyên trong từng tổ chức đảng, ở mỗi cán bộ, đảng viên. Trong tình hình hiện nay, để đạt được mục tiêu đó, Huyện ủy đã và đang tiếp tục triển khai thực hiện một số giải pháp:

Một là, thường xuyên quán triệt sâu sắc Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII) về xây dựng và chỉnh đốn Đảng, tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức cho đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp phải tăng cường hơn nữa công tác lãnh đạo, chỉ đạo và làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên. Tăng cường giáo dục lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác xây dựng Đảng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tuyệt đối tin tưởng đường lối, chủ trương của Đảng, nắm chắc chức năng, nhiệm vụ, yêu cầu trong tình hình mới. Đảng bộ phải là một khối đoàn kết, thống nhất về ý chí và hành động; mỗi tổ chức đảng, đảng viên phải chủ động, nhạy bén đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch, thống nhất tư tưởng và hành động, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; đấu tranh phòng, chống có hiệu quả những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Để làm tốt nhiệm vụ này, các cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu các cấp phải tăng cường các biện pháp giáo dục chính trị, tư tưởng; gắn công tác tư tưởng với công tác tổ chức, chính sách và các biện pháp quản lý hành chính, chấp hành nghiêm Điều lệ Đảng và Quy định về những điều đảng viên không được làm. Chủ động nghiên cứu, dự báo, đánh giá tình hình, diễn biến tư tưởng của cán bộ, đảng viên và nhân dân; giải quyết kịp thời những vấn đề tư tưởng nảy sinh, giữ vững đoàn kết, thống nhất trong cấp ủy, tổ chức đảng, sự đồng thuận trong cơ quan, đơn vị. Cùng với giáo dục, rèn luyện bản lĩnh chính trị, cấp ủy và tổ chức đảng phải tập trung bồi dưỡng, rèn luyện phẩm chất, đạo đức lối sống cho cán bộ, đảng viên. Tạo điều kiện, quan tâm đào tạo đội ngũ cán bộ “sáng” về phẩm chất, đạo đức; ” giỏi” về chuyên môn, có tinh thần, thái độ làm việc nghiêm túc, trách nhiệm, nói đi đôi với làm, nói ít làm nhiều và làm có hiệu quả thực chất.

Hai là, tập trung xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh; nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng, đảng viên.

Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp phải quán triệt và chấp hành nghiêm các quy định của Đảng; Kết luận số 18-KL/TW, ngày 22/9/2024 của Ban Bí thư về nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ trong tình hình mới; Kế hoạch số 147-KH/TU, ngày 29/3/2024 của Tỉnh ủy thực hiện Quyết định số 99-QĐ/TW, ngày 03/10/2024 của Ban Bí thư về việc ban hành Hướng dẫn khung để các cấp ủy, tổ chức đảng phát huy vai trò của nhân dân trong đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; Nghị quyết số 13-NQ/TU, ngày 16/4/2013 của Tỉnh ủy Quảng Nam về nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên; Chỉ thị số 28-CT/TW, ngày 21/01/2024 của Ban Bí thư về nâng cao chất lượng kết nạp đảng viên và rà soát, sàng lọc, đưa những đảng viên không còn đủ tư cách ra khỏi Đảng… Để nâng cao năng lực lãnh đạo, các cấp ủy, tổ chức đảng phải duy trì nền nếp, chế độ sinh hoạt, đổi mới phong cách, phương pháp công tác; làm tốt công tác quản lý, giáo dục, rèn luyện đảng viên, nâng cao chất lượng công tác phát triển đảng. Để nâng cao sức chiến đấu, mỗi cấp ủy viên, tổ chức đảng và đảng viên phải luôn coi trọng xây dựng tổ chức đảng về đạo đức, tiếp tục quán triệt, triển khai đồng bộ, hiệu quả kế hoạch, chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII) về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, gắn với Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15/5/2024 của Bộ Chính trị (khóa XII). Thực hiện nghiêm quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là cấp ủy, cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp; kịp thời khắc phục hạn chế, khuyết điểm với phương châm “tự soi, tự sửa”, tự phê bình và phê bình. Tăng cường đoàn kết, thống nhất; nâng cao vai trò lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng, đảng viên và hiệu lực, hiệu quả công tác đảng…

Ba là, tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên vững mạnh ngang tầm yêu cầu nhiệm vụ.

Quán triệt sâu sắc quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc. Muôn việc thành công hay thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”. Huyện ủy tập trung làm tốt công tác cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có phẩm chất đạo đức, lối sống trong sáng, gương mẫu, nói đi đôi với làm; có phong cách làm việc khoa học, dân chủ, chuyên nghiệp. Thực hiện tốt quy hoạch đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp; đồng thời, lãnh đạo thực hiện nghiêm nguyên tắc, quy chế, quy trình công tác cán bộ; chủ động xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực quản lý cho đội ngũ cán bộ. Quán triệt các quy định của Bộ Chính trị (khóa XII) về luân chuyển, điều động cán bộ, đánh giá cán bộ, cụ thể hóa quy định về tiêu chuẩn, chức danh, tiêu chí đánh giá cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp; rà soát, bổ sung quy hoạch cán bộ các cấp theo quy định. Xây dựng kế hoạch và quyết tâm cao trong triển khai thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25/10/2024 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, khóa XII “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả” và Nghị quyết số 19-NQ/TW về “Tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập”.

Bốn là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng. Thực hiện phương châm ” Giám sát phải mở rộng, kiểm tra có trọng tâm, trọng điểm “, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp phải chủ động thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát; phát hiện sớm và tiến hành kiểm tra các tổ chức đảng, đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm. Trong kiểm tra, giám sát phải lấy công tác lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị làm trọng tâm; lấy Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII), Chỉ thị 05-CT/TW, ngày 15/5/2024 của Bộ Chính trị làm tiêu chí; lấy ý thức tự giác chấp hành Điều lệ Đảng và Quy định về những điều đảng viên không được làm để quy chiếu khuyết điểm, tìm ra nguyên nhân, động cơ vi phạm… Công tác kiểm tra, giám sát phải chặt chẽ, công tâm, khách quan; gắn kiểm tra tổ chức đảng với kiểm tra, giám sát đảng viên và cấp ủy viên cùng cấp đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; về thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, chỉ thị, nghị quyết của cấp ủy các cấp, chấp hành nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt Đảng, đoàn kết nội bộ, thực hiện nhiệm vụ đảng viên và chức trách, nhiệm vụ được giao. Kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm kỷ luật, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; xem xét, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo, bảo đảm đúng nguyên tắc, góp phần giữ vững kỷ cương, kỷ luật trong Đảng. Bên cạnh đó, phát huy tốt vai trò của các tổ chức quần chúng, chú trọng và tạo điều kiện tốt nhất để các tổ chức quần chúng cũng như mọi cán bộ, đoàn viên, hội viên tích cực tham gia xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh. Mặt khác, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần thể hiện rõ thái độ cầu thị, lắng nghe ý kiến đóng góp của quần chúng để không ngừng nâng cao chất lượng, hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện nhiệm vụ. Các tin mới hơn: Các tin cũ hơn:

Đề Cương Bài Giảng: Gia Đình Và Công Tác Xây Dựng Gia Đình Văn Hóa

ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG: GIA ĐÌNH VÀ CÔNG TÁC XÂY DỰNG GIA ĐÌNH VĂN HÓA

1. Khái niệm, vai trò, vị trí, chức năng của gia đình 1.1. Khái niệm Gia đình là vấn đề lịch sử xã hội, có ý nghĩa rất quan trọng trong đời sống con người. Các học giả xưa nay, phương Đông hay phương Tây dù có khác nhau nhưng đều quan niệm chung rằng: Gia đình là một nhóm người ràng buộc với nhau bởi quan hệ huyết thống, đạo đức và pháp lý. Theo điều 8-Luật Hôn nhân và Gia đình của Việt Nam: Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau theo quy định Luật này; “Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng con người, là môi trường quan trọng hình thành và giáo  dục nhân cách, góp phần vào xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc”. 1.2. Vai trò vị trí, chức năng của gia đình a) Vai trò, vị trí của gia đình – Lịch sử đã chứng minh: Cá nhân-gia đình-làng xã-tổ quốc là mối quan hệ hữu cơ không thể tách rời, yếu tố tích cực hay tiêu cực của mỗi nhân tố này đều ảnh hưởng không nhỏ đến sự hưng thịnh của mỗi quốc gia trong đó gia đình là một thiết chế xã hội quan trọng, là nền tảng của xã hội và quốc gia. Gia đình là một xã hội thu nhỏ, là tổng hợp các quan hệ giá trị nhân cách, tình cảm, đạo đức, danh dự, nghĩa vụ và trách nhiệm đối với quốc gia, dân tộc. – Gia đình là tế bào của xã hội do đó văn hóa gia đình đóng vai trò quan trọng trong vấn đề giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống dân tộc. Qua nhiều thời kỳ phát triển của đất nước, cấu trúc và quan hệ trong gia đình Việt Nam có những thay đổi, nhưng những giá trị truyền thống quý báu của gia đình Việt Nam, như: Lòng yêu nước, yêu quê hương, yêu thương đùm bọc lẫn nhau, thủy chung, hiếu nghĩa, hiếu học, cần cù, sáng tạo trong lao động, bất khuất kiên cường vượt qua mọi khó khăn, thử thách… vẫn được giữ gìn, vun đắp và phát huy trong suốt quá trình lịch sử dựng nước và giữ nước. Vai trò của gia đình đối với các thành viên: 1. Chăm sóc và giáo dục trẻ em 2. Chăm sóc, phụng dưỡng người cao tuổi 3. Thực hiện an sinh xã hội, chăm sóc người ốm, người tàn tật, khuyết tật 4. Phát triển kinh tế 5. Chăm sóc sức khoẻ, luyện tập thể dục thể thao Vai trò của gia đình đối với cộng đồng và xã hội: 1. Giáo dục các thành viên thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước 2. Giữ gìn, kế thừa, phát huy các giá trị văn hoá truyền thống, hương ước, quy ước của địa phương 3. Giữ gìn trật tự an toàn xã hội và phòng chống tệ nạn xã hội 4. Thực hiện bình đẳng giới và phòng, chống bạo lực gia đình 5. Phối hợp với nhà trường, các tổ chức xã hội trong giáo dục con người 6. Giáo dục đạo đức và hướng nghiệp         Vai trò của gia đình quan trọng như vậy; năm 1983 tổ chức UNESCO của Liên hợp quốc đã ra Nghị quyết và “Thập kỷ phát triển văn hoá thế giới” (1988- 1997), phát động lấy năm 1994 là “Năm quốc tế gia đình” với biểu tượng mái nhà và trái tim bên trong. Nước ta từ năm 2001 đã chọn ngày 28 tháng 6 hàng năm là “Ngày gia đình Việt Nam”. b) Chức năng của gia đình Gia đình gồm có các chức năng như sau: – Chức năng sinh sản, tái sản xuất con người       – Chức năng kinh tế – Chức năng giáo dục, xã hội hoá cá nhân – Chức năng thoả mãn nhu cầu tinh thần, tâm lý tình cảm Từ các chức năng cơ bản đó mà gia đình có các vai trò rất quan trọng đối với con người và xã hội. Gia đình là đơn vị kinh tế nhỏ nhất, vừa là đơn vị văn hóa nhỏ nhất của xã hội, là tế bào của xã hội và là môi trường đầu tiên cho việc giáo dục và hình thành nhân cách con người.     2. Văn hóa gia đình và xây dựng gia đình văn hóa, nội quan trọng trong công tác dựng đời sống văn hóa ở cơ sở    2.1. Văn hoá gia đình – một bộ phận của văn hoá dân tộc    Gia đình là tế bào của xã hội do đó văn hóa gia đình đóng vai trò quan trọng trong vấn đề giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống dân tộc. Quá trình hình thành văn hoá dân tộc cũng là quá trình hình thành văn hoá gia đình.  Chính gia đình là một thiết chế văn hoá góp phần tạo dựng nên một xã hội có văn hoá, văn hoá gia đình được hình thành trên cơ sở nền tảng của văn hoá dân tộc, là thước đo giá trị văn hoá dân tộc. Xã hội càng phát triển, càng phản ánh sự đa dạng phong phú trong cuộc sống gia đình, mối quan hệ tốt đẹp trong xã hội phần nhiều được hình thành từ gia đình. Gia đình càng hoàn thiện, càng ổn định và có văn hoá sẽ góp phần xây dựng lối sống, nếp sống tốt đẹp cho xã hội. Khi gia đình và xã hội không gắn kết, đồng phát triển sẽ tạo nên sự trì trệ, xáo trộn và mất ổn định xã hội… Hiện nay, Văn hoá gia đình Việt Nam đang đứng trước sự lựa chọn các giá trị như sau: 1. Giữ nếp văn hoá gia đình truyền thống nguyên dạng với kiểu gia đình tam tứ đại đồng đường, trong đó các thế hệ trong gia đình sống theo đạo lý “kính trên, nhường dưới”, “chị ngã, em nâng”… Người già quyết định tối cao và được chăm sóc chu đáo. Cá nhân không được quyền quyết định, ít được quyền dân chủ, có tính bảo thủ, có khi cản trở sự phát triển. 2. Xây dựng gia đình hiện đại chỉ có 2 thế hệ, đề cao tự do cá nhân một cách tuyệt đối, cắt rời ít liên hệ với quá khứ, cội nguồn. Do đó xảy ra tình trạng nhiều người già lâm vào tình trạng cô đơn ít được chăm sóc chu đáo. 3. Xây dựng gia đình hiện đại, giàu có, ít con, hạnh phúc trên cơ sở văn hóa gia đình truyền thống, có sự giúp đỡ, hỗ trợ giữa các thế hệ, bảo lưu có chọn lọc giá trị văn hoá gia đình truyền thống. Đây là xu thế phù hợp nhất tạo nên gia đình tiên tiến, vừa hiện đại, giàu bản sắc dân tộc, đây chính là mô hình gia đình văn hoá chúng ta cần xây dựng. 2.2. Nội dung công tác xây dựng gia đình văn hoá 2.2.1. Quá trình hình thành và phát triển của phong trào xây dựng gia đình văn hoá Cuộc vận động có tiền thân ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, ngày 20-3-1947 dưới bút danh Tân Sinh, Bác Hồ đã viết tác phẩm “Đời sống mới” Người viết: “Mỗi người làm đúng theo đời sống mới thì đời trong một nhà cũng dễ thôi. Cũng như mỗi viên đá trơn tru vững chắc, thì chỉ cần một ít vôi là đắp thành một bức tường tốt. Về tinh thần thì phải trên thuận, dưới hoà, không thiên tư ai. Bỏ thói hành hạ mẹ chồng nàng dâu, gì ghẻ ghét bỏ con chồng. Về vật chất, từ ăn mặc đến việc làm phải ăn đều, tiêu sài có kế hoạch, có ngăn nắp. Cưới hỏi, giỗ, tết, nên giản đơn, tiết kiệm. Trong nhà, ngoài vườn phải luôn sạch sẽ, gọn gàng. Đối với xóm giềng phải thân mật và sẵn lòng giúp đỡ. Đối với việc làng, việc nước phải hăng hái làm gương. Người trong nhà, ai cũng biết chữ. Luôn luôn cố gắng làm cho nhà mình thành một nhà kiểu mẫu trong làng, một nhà như thế nhất định sẽ phát đạt” Năm 1960, 6 gia đình ở thôn Ngọc Tỉnh, xã Ngọc Long, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên (gồm gia đình ông Luyện Văn Để, Đinh Văn Để, Đinh Văn Khắc, Luyện Văn Ân, Nguyễn Văn Tục, Đỗ Văn Thức) đã thống nhất bàn bạc, giúp nhau trong sản xuất, dạy bảo con cái chăm ngoan học tập, giúp đỡ láng giềng lúc khó khăn. Đây được coi là mô hình gia đình văn hoá đầu tiên, Bộ Văn hoá (Nay là Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch) có chủ trương nhân rộng mô hình này. Năm 1962, tại Hội nghị phổ biến nhân rộng mô hình xây dựng Gia đình văn hoá tại Hải Phòng, Bộ Văn hoá đã công nhận 6 gia đình văn hoá này và tặng cho thôn Ngọc Tình (tỉnh Hưng Yên) bức trướng, đề tặng chiếc nôi của phong trào xây dựng gia đình văn hoá, đồng thời phát động phong trào xây dựng gia đình văn hoá trên phạm vi cả nước. Mục đích của phong trào nhằm đoàn kết giúp đỡ để gia đình hoà thuận, bình đẳng, dân chủ, tiến bộ, hạnh phúc, góp phần đấu tranh giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Ngày 15-3-1975, Bộ Văn hoá Thông tin và Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam đã ban hành Thông tư liên tịch về việc đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng Gia đình văn hoá mới (Nay là Gia đình văn hoá), tiêu chuẩn gia đình văn hoá mới thời kỳ này là: – Xây dựng gia đình hoà thuận, dân chủ, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc. – Thực hiện sinh đẻ có kế hoạch: Sản xuất, tiêu dùng tiết kiệm; đoàn kết xóm giềng tốt. – Thực hiện đầy đủ đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Từ năm 1975-1985: Phong trào phát triển rộng khắp trong toàn quốc. Từ 1986 đến 1990: Thời kỳ đổi mới, thay đổi cơ chế từ bao cấp sang hạch toán, khiến cho nguồn chi cho phong trào giảm sút, ngành Văn hoá, Thông tin, cơ quan thường trực của Ban Chỉ đạo Nếp sống mới Trung ương vẫn cố gắng duy trì phong trào nhưng kết quả có hạn chế. Từ 1990-2000: Ban Chỉ đạo Nếp sống mới Trung ương đã đề ra nội dung tiêu chuẩn gia đình văn hoá như sau: Xây dựng gia đình no ấm, hoà thuận, tiến bộ, hạnh phúc Thực hiện tốt kế hoạch hoá gia đình Đoàn kết xóm giềng Thực hiện nghĩa vụ công dân Ngày 16-7-1998, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành Nghị quyết Trung ương 5 (Khoá VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Vấn đề gia đình và xây dựng gia đình văn hoá đã được đề cập một cách cấp thiết: “Giữ gìn và phát huy những đạo lý tốt đẹp của gia đình Việt Nam. Nêu cao vai trò gương mẫu của các bậc cha mẹ. Coi trọng xây dựng gia đình văn hoá. Xây dựng mối quan hệ khăng khít giữa Gia đình- Nhà trường-Xã hội” Nghị quyết Trung ương 5 (Khoá VIII) với 5 quan điểm chỉ đạo, 10 nhiệm vụ cụ thể và 4 nhóm giải pháp, trong đó: Cuộc vận động giáo dục chủ nghĩa yêu nước gắn với thi đua yêu nước và Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” là một trong 4 nhóm giải pháp thực hiện nghị quyết Trung ương 5 (khoá VIII) về Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc. Phong trào này bao gồm 7 phong trào cụ thể, trong đó có Phong trào Xây dựng gia đình văn hoá do Bộ Văn hoá-Thông tin (Nay là Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch) chủ trì. Bộ Văn hoá-Thông tin đã ban hành Quyết định số 01/2002/QĐ-BVHTT ngày 2-1-2002 Quy chế công nhận danh hiệu “gia đình văn hoá”, “làng văn hoá”, “khu phố văn hoá”, tiêu chuẩn Gia đình văn hoá gồm: Gia đình ấm no, hoà thuận, tiến bộ, khoẻ mạnh và hạnh phúc Thực hiện tốt nghĩa vụ công dân Thực hiện tốt kế hoạch hoá gia đình Đoàn kết tương trợ cộng đồng dân cư Năm 2011, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch ban hành Thông tư 12/2011/TT-BVHTTDL quy định chi tiết về tiêu chuẩn, trình tự, thủ tục, hồ sơ công nhận Danh hiệu “Gia đình văn hóa”; “Thôn văn hóa”, “Làng văn hóa”, “Ấp văn hóa”, “Bản văn hóa”, “Tổ dân phố văn hóa” và tương đương. Các tiêu chí xây dựng gia đình văn hoá hiện nay vẫn được kế thừa có chọn lọc với những yếu tố của gia đình truyền thống Việt Nam. 2.2.2. Tiêu chuẩn danh hiệu Gia đình văn hóa hiện nay Thông tư 12/2011/TT-BVHTTDL ngày 10/10/2011 của Bộ Văn hóa, Thể thao và du lịch quy định gia đình đạt danh hiệu gia đình văn hóa phải đảm bảo 4 tiêu chuẩn sau:

1. Gương mẫu chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tích cực tham gia các phong trào thi đua của địa phương:

a) Thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ công dân; không vi phạm pháp luật Nhà nước, quy định của địa phương và quy ước, hương ước cộng đồng;

b) Giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; vệ sinh môi trường; nếp sống văn hóa nơi công cộng; bảo vệ di tích lịch sử văn hóa, cảnh quan của địa phương; tích cực tham gia các hoạt động xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư;

c) Không vi phạm các quy định về thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội; không sử dụng và lưu hành văn hóa phẩm độc hại; không mắc các tệ nạn xã hội; tham gia tích cực bài trừ tệ nạn xã hội và phòng chống các loại tội phạm;

d) Tham gia thực hiện đầy đủ các phong trào thi đua; các sinh hoạt, hội họp ở cộng đồng.

2. Gia đình hòa thuận, hạnh phúc, tiến bộ, tương trợ giúp đỡ mọi người trong cộng đồng:

a) Vợ chồng bình đẳng, thương yêu giúp đỡ nhau tiến bộ. Không có bạo lực gia đình dưới mọi hình thức; thực hiện bình đẳng giới; vợ chồng thực hiện sinh con đúng quy định, cùng có trách nhiệm nuôi con khỏe, dạy con ngoan;

b) Gia đình nề nếp; ông bà, cha mẹ gương mẫu; con cháu thảo hiền; giữ gìn các giá trị văn hóa gia đình truyền thống, tiếp thu có chọn lọc các giá trị văn hóa mới về gia đình;

c) Giữ gìn vệ sinh phòng bệnh; nhà ở ngăn nắp; khuôn viên xanh-sạch-đẹp; sử dụng nước sạch, nhà tắm và hố xí hợp vệ sinh; các thành viên trong gia đình có nếp sống lành mạnh, thường xuyên luyện tập thể dục thể thao;

d) Tích cực tham gia chương trình xóa đói, giảm nghèo; đoàn kết tương trợ xóm giềng, giúp đỡ đồng bào hoạn nạn; hưởng ứng phong trào đền ơn đáp nghĩa, cuộc vận động “Ngày vì người nghèo” và các hoạt động nhân đạo khác ở cộng đồng.

2.2.3. Điều kiện, thủ tục công nhận Danh hiệu Gia đình văn hóa Danh hiệu “Gia đình văn hóa” do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn công nhận. 1. Điều kiện công nhận: a) Đạt các tiêu chuẩn quy định như trên b) Thời gian đăng ký xây dựng danh hiệu “Gia đình văn hóa” là 01 năm. 2. Hồ sơ đề nghị gồm có: a) Bản đăng ký xây dựng danh hiệu “Gia đình văn hóa”; b) Biên bản họp bình xét ở khu dân cư kèm theo danh sách những gia đình được đề nghị công nhận danh hiệu “Gia đình văn hoá” (có từ 50% trở lên số người tham gia dự họp nhất trí đề nghị). 3. Căn cứ vào biên bản họp bình xét ở khu dân cư, Ban vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” đề nghị Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn ra quyết định công nhận danh hiệu “Gia đình văn hóa” hàng năm. 4. Khu dân cư tổ chức công bố Quyết định của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn công nhận danh hiệu “Gia đình văn hóa” vào dịp “Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc” ở khu dân cư hàng năm (ngày 18/11) và ghi “Sổ vàng Gia đình văn hóa” ở khu dân cư. 5. Đối với gia đình được công nhận danh hiệu “Gia đình văn hóa” 3 năm liên tục, được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn trao Giấy chứng nhận 03 năm đạt danh hiệu “Gia đình văn hóa” 2.2.4. Một số nội dung về công tác chỉ đạo triển khai thực hiện xây dựng gia đình văn hoá trong giai đoạn hiện nay – Xây dựng Gia đình văn hóa là một trong những phong trào xây dựng đời sống văn hóa đầu tiên, có quá trình phát triển thường xuyên, liên tục, ngày càng sâu rộng. Nội dung, tiêu chuẩn công nhận danh hiệu Gia đình văn hóa được kế thừa và phát triển cả về lý luận và thực tiễn. Từ phong trào của quần chúng, danh hiệu Gia đình văn hóa cùng với danh hiệu Làng văn hóa đã trở thành danh hiệu thi đua Nhà nước, được Luật Thi đua khen thưởng ghi nhận. Tiêu chuẩn công nhận Gia đình văn hóa theo Điều 29 Luật Thi đua khen thưởng được Bộ Văn hóa-Thông tin cụ thể hóa trong Quy chế 62, đề cao vai trò của Gia đình văn hóa trong việc chấp hành chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; gắn việc xây dựng gia đình hòa thuận, tiến bộ, hạnh phúc với đoàn kết, tương trợ xóm giềng; đề cao yếu tố văn hóa phát triển trong việc tổ chức xây dựng gia đình trở thành Gia đình văn hóa, đáp ứng yêu cầu về sự phát triển của gia đình trong thời đại hiện nay.Công tác chỉ đạo, triển khai thực hiện phong trào xây dựng Gia đình văn hóa tập trung vào một số nội dung như sau: – Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, củng cố và nâng cao nhận thức của cấp ủy Đảng, chính quyền, các ngành, đoàn thể và các tầng lớp nhân dân trên địa bàn cấp xã về ý nghĩa, tầm quan trọng và nội dung của công tác gia đình nói chung, xây dựng Gia đình văn hóa nói riêng. – Ban Chỉ đạo Phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa cấp xã và các Ban Vận động cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa ở các khu dân cư, cần tổ chức điều tra, khảo sát, phân loại gia đình trên địa bàn, xây dựng kế hoạch cụ thể để triển khai thực hiện phong trào phù hợp. – Tổ chức việc học tập, nắm vững nội dung, tiêu chuẩn công nhận danh hiệu Gia đình văn hóa đến từng hộ, từng thành viên của các hộ gia đình, đồng thời, tuyên truyền, cổ vũ phong trào xây dựng Gia đình văn hóa trên hệ thống truyền thanh công cộng, các hình thức tuyên truyền cổ động trực quan trên địa bàn. – Tổ chức đăng ký xây dựng Gia đình văn hóa, trên cơ sở tự giác, tự nguyện của các gia đình, sự tuyên truyền, vận động của các đoàn thể quần chúng. – Phát huy vai trò của Mặt trận tổ quốc, các ngành, đoàn thể quần chúng, sự gương mẫu của cán bộ, đảng viên, các đoàn viên, hội viên, tạo thành lực lượng nòng cốt trong phong trào xây dựng Gia đình văn hóa. – Tăng cường các hoạt động tự quản cộng đồng, các hoạt động tuyên truyền, vận động, thuyết phục, đôn đốc, nhắc nhở các gia đình đã đăng ký xây dựng Gia đình văn hóa, phấn đấu thực hiện tốt các tiêu chuẩn công nhận danh hiệu Gia đình văn hóa. – Gắn phong trào xây dựng Gia đình văn hóa với các phong trào thi đua yêu nước, với việc thực hiện các nhiệm vụ kinh tế-xã hội, đặc biệt là thực hiện các nhiệm vụ, mục tiêu xây dựng đời sống văn hóa hiện nay ở địa phương cơ sở. – Xây dựng, biểu dương, tôn vinh và nhân rộng các gia đình văn hóa tiêu biểu, tạo nên mũi nhọn cho phong trào xây dựng Gia đình văn hóa. – Tổ chức cho các gia đình tự đánh giá (hoặc chấm điểm) về kết quả thực hiện các tiêu chuẩn công nhận Gia đình văn hóa, trước khi đưa ra các cuộc họp ở khu dân cư, lấy ý kiến của nhân dân để bình bầu Gia đình văn hóa hàng năm. – Ban Vận động ở khu dân cư tổng hợp báo cáo Ban Chỉ đạo Phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa cấp xã trình Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp xã ra quyết định công nhận danh hiệu Gia đình văn hóa hàng năm. Khu dân cư tổ chức công bố quyết định công nhận Gia đình văn hóa và ghi Sổ vàng Gia đình văn hóa vào dịp Ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc, 18/11 hàng năm. – Các tiêu chí xây dựng gia đình văn hoá phải phù hợp và có ý nghĩa thiết thực với đời sống của người dân, đáp ứng được nguyện vọng tâm tư tình cảm mới tạo được sự đồng tình hưởng ứng của nhân dân. Đây chính là yếu tố quyết định sự thành công của phong trào xây dựng gia đình văn hoá. 2.2.5. Về yêu cầu của công tác xây dựng gia đình văn hóa – Được triển khai thường xuyên, liên tục trở thành nhiệm vụ quan trọng được các cấp các ngành quan tâm chỉ đạo, hướng dẫn, tạo điều kiện để thực hiện tốt. – Phải có nội dung, tiêu chí phù hợp với đặc điểm bản sắc, phong tục, tập quán của mỗi dân tộc, của từng thời kỳ, giai đoạn phát triển xã hội của mỗi địa phương. – Việc xây dựng gia đình văn hóa thuộc ý thức tự nguyện của mỗi gia đình, từng người dân do đó phải có phương pháp tuyên truyền vận động để nhân dân tự nguyện tham gia, tránh gò ép, cứng nhắc. – Việc xây dựng gia đình văn hóa cần được phát triển rộng nhưng phải chú ý đến chiều sâu, chú trọng chất lượng thực chất của phong trào, chất lượng của mỗi gia đình văn hóa, không chạy theo hình thức, bệnh thành tích chủ nghĩa, làm giảm giá trị danh hiệu gia đình văn hóa, giảm ý nghĩa giáo dục và hiệu quả tích cực của phong trào.

Phòng VHVN (Tổng hợp từ Trang tin điện tử Văn hóa – Thể thao và Du lịch)

 

Cập nhật thông tin chi tiết về Thực Trạng Và Giải Pháp Công Tác Xây Dựng Gia Đình Văn Hóa Tại Xã Tiên Hiệp, Tiên Phước Trong Giai Đoạn Hiện Nay trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!