Xu Hướng 2/2023 # Tạp Chí Dân Vận Số 7/2019 # Top 8 View | Phauthuatthankinh.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Tạp Chí Dân Vận Số 7/2019 # Top 8 View

Bạn đang xem bài viết Tạp Chí Dân Vận Số 7/2019 được cập nhật mới nhất trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Đại hội XII của Đảng đã chỉ rõ: “Trong xây dựng và thực hiện các chính sách phát triển kinh tế – xã hội, quan tâm thích đáng đến các tầng lớp, bộ phận yếu thế trong xã hội, đồng bào các dân tộc thiểu số ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, khắc phục xu hướng gia tăng phân hóa giàu – nghèo, bảo đảm sự ổn định và phát triển xã hội bền vững. Thực hiện các giải pháp, chính sách và quản lý để khắc phục từng bước sự mất cân đối về phát triển đối với từng lĩnh vực, từng vùng, bảo đảm sự hài hòa cả trong phát triển, hưởng thụ; bảo đảm cơ cấu giai tầng xã hội, dân cư, ngành nghề hợp lý…”.

Qua gần 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển xã hội, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội góp phần quan trọng bảo đảm ổn định xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân; các cơ hội phát triển được mở rộng cho mọi thành phần kinh tế, mọi tầng lớp dân cư. Sức mạnh tổng hợp của quốc gia đã tăng lên rất nhiều, tạo ra thế và lực mới cho đất nước tiếp tục phát triển nhanh, bền vững. Những thành tựu đó chứng tỏ đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo, phù hợp thực tiễn Việt Nam.

Tuy nhiên, chúng ta đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức về suy thoái kinh tế toàn cầu, về những vấn đề nảy sinh mới của kinh tế thị trường, về chiến tranh thương mại Mỹ – Trung… và những hạn chế, khiếm khuyết vốn có của nền kinh tế, những yếu kém trong lãnh đạo, quản lý; thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu gây thiệt hại nặng nề; nhu cầu bảo đảm an sinh xã hội, phúc lợi xã hội ngày càng cao đã tác động trực tiếp đến việc phát triển việc làm bền vững, nâng cao thu nhập cho người lao động, bảo đảm an sinh xã hội cho người dân, nhất là người về hưu, người cao tuổi, người khuyết tật, người nghèo, người yếu thế và người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn trong cuộc sống hàng ngày. Hơn nữa, Việt Nam cũng đang phải đối mặt nhiều vấn đề phức tạp như chênh lệch về mức sống gia tăng, nghèo đói của đồng bào dân tộc thiểu số, người nghèo đô thị và di cư tự do, chất lượng nguồn nhân lực còn rất hạn chế và việc bảo đảm công bằng, tiến bộ xã hội chưa theo kịp yêu cầu phát triển mới của đất nước. Điều đó đòi hỏi Đảng ta phải đặt vấn đề về quản lý phát triển xã hội, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội là nội dung tất yếu của quá trình đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới đất nước trong tình hình mới.

Về phương diện lý luận và nguyên tắc để phát triển xã hội được thể hiện qua việc xây dựng và thực thi các chính sách xã hội. Còn quản lý phát triển xã hội là những hoạt động bảo đảm cho xã hội phát triển theo đúng quy luật của nó và phải đáp ứng được hai yêu cầu cơ bản, đó là: Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, để xã hội hoạt động có kỷ cương và các tổ chức xã hội thực hiện, phát huy quyền làm chủ của nhân dân thông qua hoạt động giám sát việc thực thi pháp luật và nhân dân thượng tôn pháp luật.

Để thực hiện được những yêu cầu đó phải giải quyết tốt mối quan hệ biện chứng giữa quản lý phát triển xã hội, bảo đảm công bằng, tiến bộ và bình đẳng xã hội trong quá trình phát triển của đất nước. Đây là vấn đề rất phức tạp, đan xen nhiều mối quan hệ trong các lĩnh vực của đời sống xã hội. Xét về nội dung, bản chất của quản lý phát triển xã hội là phải thật sự bảo đảm phát triển chất lượng cuộc sống của nhân dân; coi nhân dân là chủ thể phát triển của xã hội và quyền làm chủ đó phải được tôn trọng và bảo vệ. Gia đình là tế bào của xã hội phải hòa thuận, cộng đồng hài hòa; môi trường xã hội an toàn, lành mạnh; con người phát triển toàn diện, có cơ hội được cống hiến và hưởng thụ thành quả của sự phát triển, tiến bộ. Chính vì vậy, mục tiêu quản lý phát triển xã hội là phải thể hiện được tinh thần tự đổi mới, tự hoàn thiện, củng cố, phát triển trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Cần nghiên cứu, dự báo sự biến đổi về cơ cấu, các giai tầng trong xã hội để điều chỉnh; tạo sự đồng thuận xã hội thông qua giải pháp tiếp xúc, đối thoại, thương lượng, truyền thông; dân chủ hóa; tăng cường kỷ cương pháp luật và đề cao trách nhiệm của nhân dân là chủ thể phát triển xã hội trong thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Để giải quyết tốt vấn đề quản lý phát triển xã hội, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong những năm tới, cần quan tâm thực hiện một số nhiệm vụ chủ yếu sau đây:

Một là, ngày 01/4/2019, tiến hành Tổng điều tra dân số và nhà ở trên phạm vi toàn quốc, cần phải phân tích thông tin chung về dân số, tình trạng di cư, hôn nhân, mức độ sinh – chết và phát triển dân số, tình trạng lao động, việc làm, tình trạng về nhà ở… gắn với việc đánh giá chính xác thực trạng biến đổi cơ cấu xã hội, sự phân tầng xã hội của nước ta hiện nay. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp thực hiện quản lý phát triển xã hội có hiệu quả; giải quyết hài hòa các mối quan hệ xã hội, phân hóa giàu nghèo, bảo đảm sự ổn định và phát triển xã hội bền vững nhằm khắc phục từng bước sự mất cân đối về cơ cấu giai tầng xã hội, dân cư, ngành nghề, giàu nghèo; kiểm soát và xử lý các rủi ro, mâu thuẫn, xung đột xã hội để bảo đảm mọi người dân đều được tự do, bình đẳng về cơ hội và điều kiện phát triển toàn diện. Điều này chỉ có thể thực hiện được khi Nhà nước tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về chính sách xã hội, an sinh xã hội, tạo hành lang pháp lý để kiến tạo mô hình hệ thống an sinh xã hội hiện đại với các chức năng, trụ cột chính là: Phòng ngừa rủi ro, giảm thiểu rủi ro và khắc phục rủi ro.

Hai là, để đáp ứng những yêu cầu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, cùng với thị trường lao động sẽ có nhiều biến động, chất lượng cung và cầu lao động có tri thức và kỹ năng hiện đại cũng như cơ cấu lao động cũng thay đổi mạnh mẽ. Đồng thời với việc thay đổi của thị trường lao động là nhiều lĩnh vực công nghệ được tự động hoá thay thế con người sẽ xuất hiện tình trạng thất nghiệp hàng loạt ở tất cả các thị trường lao động, trong đó có Việt Nam, lúc bấy giờ người lao động chắc chắn phải cố gắng tìm mọi cách để thích ứng nhanh với sự thay đổi của sản xuất, nếu không sẽ bị đào thải khỏi thị trường lao động. Do đó, chúng ta phải có chính sách quốc gia về phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao để đáp ứng cho phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước. Cần chú trọng thực hiện đổi mới toàn diện giáo dục, đào tạo, đáp ứng mục tiêu phát triển toàn diện con người Việt Nam có phẩm chất và năng lực sáng tạo, sẽ tác động mạnh đến sự phát triển xã hội.

Ba là, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội là phải gắn kết chặt chẽ giữa chính sách tăng trưởng kinh tế với chính sách xã hội, phát triển kinh tế phải đi đôi với bảo đảm và không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, làm cho nhân dân được hưởng thụ ngày một tốt hơn thành quả của sự nghiệp đổi mới và xây dựng CNXH. Thực hiện các cơ hội bình đẳng để giải quyết tốt vấn đề lao động, việc làm và thu nhập cho người lao động, tạo cơ hội để mọi người được học tập, học nghề, có việc làm và được hưởng tiền lương, thu nhập hợp lý, thỏa đáng; bảo đảm các điều kiện làm việc công bằng, an toàn; chế độ nghỉ ngơi để đủ điều kiện tái sản xuất mở rộng sức lao động. Chú trọng giải quyết việc làm cho lao động dôi dư từ khu vực nông nghiệp do việc tích tụ ruộng đất hoặc thu hồi đất phát triển công nghiệp, đô thị và các công trình công cộng, khuyến khích đầu tư xã hội để tạo mở ra nhiều việc làm.

Cải cách hệ thống chính sách về tiền lương trong đó tiến tới thực hiện mục tiêu tiền lương cơ sở, tiền lương tối thiểu vùng đáp ứng được nhu cầu sống tối thiểu của người lao động; gắn điều chỉnh tiền lương tối thiểu với tăng năng suất lao động, năng lực cạnh tranh; đổi mới căn bản, toàn diện chính sách dạy nghề để đạt được “Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt khoảng 65 – 70%, trong đó có bằng cấp, chứng chỉ đạt 25%”. Nhà nước phải có chính sách, cơ chế và giải pháp tích cực, hiệu quả để thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động, phấn đấu thực hiện đạt chỉ tiêu: “Tỷ lệ lao động nông nghiệp trong tổng lao động xã hội khoảng 40%”, tăng tỷ trọng lao động trong khu vực có quan hệ lao động đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0.

Bốn là, công bằng xã hội là sự bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ của con người trong mọi quan hệ xã hội và thiết chế xã hội, mà cốt lõi là sự bình đẳng về kinh tế, chính trị và pháp luật. Cho nên, cần nghiên cứu hoàn thiện chính sách phân phối và phân phối lại để bảo đảm hài hòa lợi ích của Nhà nước, người lao động và doanh nghiệp. Thực hiện phân phối lại thông qua phúc lợi xã hội, đặc biệt trong lĩnh vực y tế, giáo dục. Thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế. Mở rộng chính sách phúc lợi xã hội thành hệ thống chính sách an sinh xã hội đa tầng, đây là nguyện vọng chính đáng của nhân dân và cũng là một trong những chỉ báo quan trọng của một xã hội công bằng, văn minh và chính là mục tiêu và động lực của chủ nghĩa xã hội mà chúng ta phấn đấu vì hạnh phúc của nhân dân ta.

Năm là, bảo đảm tốt an sinh xã hội để mọi người dân có đời sống ấm no, hạnh phúc. Tiếp tục quan tâm nâng mức trợ cấp xã hội, trợ cấp ưu đãi người có công, điều chỉnh lương của người về hưu có mức lương thấp, đời sống khó khăn; ban hành chuẩn nghèo mới theo phương pháp tiếp cận đa chiều để có cơ sở xây dựng chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững theo hướng tập trung chống tái nghèo và duy trì thành quả giảm nghèo bền vững. Đồng thời, tổ chức tốt hơn việc cung cấp các dịch vụ cơ bản về nhà ở, nước sạch, y tế, giáo dục, thông tin, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo.

Sáu là, coi trọng chăm sóc sức khỏe nhân dân, công tác dân số và phát triển theo hướng bảo đảm công bằng, giảm chênh lệch mới về tiếp cận chính sách chăm sóc sức khỏe nhân dân giữa các địa bàn, các nhóm đối tượng. Đầu tư cho y tế là đầu tư cho phát triển; chuyển từ cơ chế đầu tư tài chính cho cơ sở y tế sang hỗ trợ trực tiếp cho người dân thông qua bảo hiểm y tế và thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân; bảo đảm để mọi người dân có điều kiện tiếp cận và sử dụng các dịch vụ y tế có chất lượng; bình đẳng giữa y tế nhà nước và y tế tư nhân; thực hiện xã hội hóa trong lĩnh vực y tế nhưng đồng thời bảo đảm sự quản lý, điều tiết và đầu tư thích hợp của Nhà nước trong lĩnh vực này phù hợp với sự phát triển xã hội; có chính sách hỗ trợ cần thiết về chăm sóc sức khỏe đối với trẻ em, người nghèo, người dân tộc thiểu số, người cao tuổi, người khuyết tật và các đối tượng khó khăn, yếu thế khác.

Tăng cường chất lượng khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế ở tuyến y tế cơ sở; khắc phục tình trạng quá tải ở bệnh viện tuyến trên; cải cách thủ tục trong quản lý bảo hiểm y tế và khám, chữa bệnh; công khai quyền lợi của người có thẻ bảo hiểm y tế; tăng cường y đức; tăng cường quản lý nhà nước, tuyên truyền, giám sát, thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm vi phạm về trục lợi bảo hiểm y tế đang gây bất bình trong nhân dân. 

Bảy là, để giải quyết tốt vấn đề quản lý phát triển xã hội, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội vì con người và phát huy nhân tố con người, bảo đảm sự công bằng, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ công dân, yêu cầu toàn bộ hệ thống chính trị phải vào cuộc và có trách nhiệm thực hiện, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về các chính sách an sinh xã hội và quản lý phát triển xã hội, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội.

Tăng cường và đổi mới công tác dân vận, thật sự gần dân, sát dân và phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong phát triển quản lý xã hội. Chú trọng vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị – xã hội đối với việc ban hành và thực hiện các chính sách xã hội và các chính sách an sinh xã hội phù hợp với các đối tượng trong sự phát triển bền vững của xã hội, góp phần xây dựng đất nước ta giàu đẹp, văn minh, hiện đại, nhân dân ta có cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

Tạp Chí Dân Vận Số Xuân Ất Mùi

Để thực hiện thắng lợi mục tiêu công tác dân vận, đòi hỏi các tổ chức trong hệ thống chính trị phải không ngừng tăng cường, đổi mới nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác dân vận của Đảng.

Trước hết, phải thấy rằng, chất lượng, hiệu quả công tác dân vận chính là mức độ phát triển, hoàn thiện của công tác dân vận thuộc trách nhiệm của hệ thống chính trị và mặt khác là mức độ hài lòng của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, cấp ủy, chính quyền các cấp.

Chất lượng, hiệu quả của công tác dân vận do Đảng lãnh đạo thực chất cũng là một loại dịch vụ công từ đội ngũ “công bộc, đầy tớ của dân” cung cấp và được đánh giá bằng mức độ cao hay thấp, có thể so sánh giữa các tổ chức có cùng chức năng ở trong và ngoài nước. Mặt khác, nó phản ánh mối quan hệ giữa các giải pháp, công sức bỏ ra với kết quả thu được từ hoạt động của các tổ chức, cá nhân; cũng có thể lượng hóa, đánh giá được, xác định qua một số tiêu chí:

Thứ nhất, mức độ hiểu biết của Nhân dân và lòng tin của Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, đồng thuận với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và luật pháp của Nhà nước; Nhân dân hăng hái, phấn khởi, tự giác thực hiện nhiệm vụ và nghĩa vụ của mình trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thực hiện các nhiệm vụ của địa phương, đơn vị.

Đây là chất lượng, hiệu quả giáo dục, tuyên truyền, phổ biến và tổ chức thực hiện Nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong các tầng lớp Nhân dân. Nó thống nhất giữa hiểu biết với niềm tin và hành động của người dân. Để tạo ra điều đó ở phía người dân thì những quyết sách của Đảng và Nhà nước, của địa phương phải thuận với lòng dân, luôn đứng về phía người dân; mọi việc lớn, nhỏ, trước mắt cũng như lâu dài mà Đảng và Nhà nước, cấp ủy, chính quyền địa phương, cán bộ, đảng viên, công chức làm việc đều phải vì dân và dân cảm nhận, thụ hưởng trực tiếp lợi ích; thấy rõ Đảng và Nhà nước, cấp ủy, chính quyền thực sự là của mình, vì mình… Như thế, người dân sẽ bảo vệ Đảng và Nhà nước, bảo vệ chế độ, hăng hái thực hiện mọi cuộc vận động, mọi phong trào thi đua yêu nước vừa vì sự nghiệp chung, vừa đem lại lợi ích thiết thân cho mình.

Muốn vậy, dân vận và công tác dân vận phải toàn diện cả xây dựng Đảng, Nhà nước vững mạnh. Có đường lối, cơ chế chính sách thực sự vì dân, do dân, khắc phục triệt để tính hình thức, lãng phí, tính hành chính quan liêu, xa dân. Muốn vì dân thì phải hiểu dân, tin dân, tinh thần đoàn kết, kiên trì thuyết phục và nhất là nêu cao đức hy sinh, tính tiền phong, sự gương mẫu của người lãnh đạo, của cán bộ, đảng viên để Nhân dân noi theo.

Thứ hai, đẩy mạnh phát triển kinh tế đi đôi với an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo; xây dựng cơ chế, tháo gỡ vướng mắc, khó khăn, tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh, thuận lợi cho Nhân dân đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, công ăn việc làm, nâng cao đời sống mọi mặt, sự hài lòng của Nhân dân.

Cơ chế kinh tế thị trường một mặt tạo ra động lực thúc đẩy mạnh mẽ kinh tế – xã hội phát triển, song mặt trái của nó cũng thúc đẩy tạo ra sự phân hóa giàu nghèo và tiêu cực xã hội phát triển. Đảng ta đã xác định mục tiêu phát triển xã hội XHCN ở nước ta là: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Vì vậy, bên cạnh việc tập trung tháo gỡ về cơ chế, chính sách, từng bước hoàn thiện cơ chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, tạo ra môi trường thông thoáng cho sản xuất, kinh doanh và động lực cho phát triển thì cũng phải hết sức chú ý tới các chính sách an sinh xã hội, hỗ trợ giảm nghèo và những người gặp hoàn cảnh khó khăn.

Thứ ba, phải phát huy được sức mạnh đoàn kết của toàn dân tộc và tăng cường sự đoàn kết, nhất trí trong các cộng đồng dân cư ở cơ sở.

Nước ta là một nước đa dân tộc, đa tôn giáo. Mặt trận Tổ quốc là liên minh chính trị xã hội rộng lớn nhất, đóng vai trò nòng cốt, tập hợp và phát huy sức mạnh đại đoàn kết. Sự phối hợp thường xuyên và có hiệu quả các tổ chức trong hệ thống chính trị giữa hệ thống tổ chức Mặt trận từ Trung ương tới cơ sở, cùng sự hợp tác, phối hợp với các tổ chức công quyền (Nhà nước), với các tổ chức chính trị – xã hội… để cùng vận động, tuyên truyền, giúp đỡ Nhân dân, nhất là dân cư ở những vùng khó khăn, vùng dân tộc thiểu số ở miền núi… sẽ góp phần thúc đẩy chất lượng, hiệu quả dân vận và công tác dân vận.

Phát huy được sức mạnh đoàn kết là phát huy được một trong những truyền thống quý báu của dân tộc, gắn liền với truyền thống yêu nước, thương người, gắn bó cố kết cộng đồng, tương thân tương ái, đạo lý và tình nghĩa của Nhân dân ta. Đây là những giá trị tinh thần thuộc về bản sắc văn hóa Việt Nam. Chất lượng, hiệu quả công tác dân vận phải góp phần chủ động và tích cực nhất trong việc xây dựng và phát huy giá trị cộng đồng dân tộc Việt Nam, tạo ra chuyển biến tích cực về xây dựng con người Việt Nam, những thế hệ người Việt Nam biết đoàn kết, biết yêu nước, tự hào dân tộc; vun trồng đạo đức lành mạnh, chống cái ác, cái xấu, thái độ vô cảm, lẩn tránh trách nhiệm, lối sống vụ lợi, vị kỷ chạy theo đồng tiền trong nền kinh tế thị trường làm tổn thương đến giá trị con người và xã hội.

Phải chú trọng phát huy, nhân rộng, cổ vũ các điển hình cá nhân và tập thể trong cộng đồng, hướng dẫn dư luận xã hội lành mạnh, dùng sức mạnh của dư luận xã hội hỗ trợ cho các biện pháp quản lý của Nhà nước và các biện pháp tuyên truyền, giáo dục, vận động của Mặt trận và các đoàn thể để chống lại có hiệu quả sự suy đồi đạo đức, sự gia tăng tệ nạn, tội phạm, sự rối loạn kỷ cương trật tự, sự coi thường luật pháp. Có như vậy mới làm cho xã hội lành mạnh, cuộc sống của người dân được yên ổn. Dân vận lúc này phải hướng vào yên dân, an dân, chăm lo dân sinh, thực hiện an sinh xã hội, nhất là với bộ phận không nhỏ dân cư còn đang nghèo đói, thiệt thòi, dễ bị tổn thương. Chất lượng, hiệu quả công tác dân vận phải thể hiện bằng việc làm và hành động thực tế để bảo vệ dân, chăm lo cải thiện đời sống, nâng cao mức sống của dân và có cơ chế, chính sách hợp lý để phát triển, phát huy được sức dân trong một môi trường kinh tế – xã hội công bằng, dân chủ, minh bạch.

Thứ tư, công tác dân vận phải tập hợp, phát huy sức mạnh, tiềm năng trí tuệ, sáng tạo của Nhân dân thành phong trào cách mạng, phong trào thi đua yêu nước rộng lớn trong Nhân dân, thực hiện thắng lợi các mục tiêu của nhiệm vụ cách mạng và nhiệm vụ chính trị trọng tâm của địa phương, đơn vị.

Theo chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ hơn 60 năm về trước, thi đua là yêu nước, yêu nước phải thi đua, toàn dân, toàn quốc cũng như toàn Đảng, toàn dân kết thành một khối vững chắc, làm nên sức sống và ý nghĩa của các phong trào thi đua yêu nước. Phong trào ấy tạo ra khí thế và sức mạnh tổng hợp, đã từng làm nên thành công của sự nghiệp vừa kháng chiến, vừa kiến quốc thời kỳ chống thực dân Pháp, thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đánh thắng hai đế quốc to, vì độc lập – tự do của Tổ quốc. Phong trào thi đua yêu nước lúc này phải huy động sức mạnh toàn dân, toàn quân, toàn Đảng, ra sức đẩy mạnh đổi mới, chủ động hội nhập thực hiện thắng lợi mục tiêu CNH, HĐH đất nước; đánh bại mọi âm mưu và thế lực xâm lược nước ta, giữ vững độc lập chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Phong trào rộng lớn của Nhân dân phải nhằm vào việc hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ chính trị của các địa phương, đơn vị. Các tổ chức trong hệ thống chính trị phải thực sự đổi mới về phương pháp vận động Nhân dân sao cho phù hợp với đặc điểm, điều kiện, tâm tư, nguyện vọng của các tầng lớp Nhân dân để vừa tập hợp, vừa động viên, phát huy được sức mạnh của Nhân dân, tổ chức được các phong trào Nhân dân rộng lớn, thực hiện thành công sự nghiệp CNH, HĐH, bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

Thứ năm, công tác dân vận phải đảm bảo thực hành dân chủ rộng rãi nhất trong hoạt động của Đảng, Nhà nước, cấp ủy, chính quyền các cấp, thực hành dân chủ XHCN, thực hành dân chủ trong xã hội.

Trong điều kiện thông tin bùng nổ như hiện nay, xu hướng công khai, minh bạch hóa những hoạt động của Đảng, Nhà nước, cấp ủy, chính quyền các cấp là một xu thế phát triển xã hội và tạo điều kiện để Nhân dân giám sát hoạt động của Đảng, Nhà nước, tham gia ý kiến xây dựng Đảng, Nhà nước, tham gia giám sát, phản biện xã hội, tham gia xây dựng chủ trương, cơ chế chính sách sao cho thực sự vì dân, do dân.

Thứ sáu, chất lượng hiệu quả công tác dân vận còn phải được đánh giá bởi chất lượng, hiệu quả của lãnh đạo, quản lý và đổi mới nội dung phương thức vận động Nhân dân của các cấp uỷ đảng, chính quyền, Mặt trận, đoàn thể các cấp.

Những nội dung nêu trên để tham khảo, nghiên cứu, cụ thể hóa phù hợp nhiệm vụ chính trị và điều kiện hoàn cảnh cụ thể, chức năng nhiệm vụ của các tổ chức, cá nhân trong hệ thống chính trị và cấp ủy, chính quyền, lực lượng vũ trang, Mặt trận, đoàn thể ở các cấp.

Tạp Chí Gia Đình Và Trẻ Em

15:59:56 05/08/2016

Bác sĩ Nguyễn Thị Mộng Anh. ? Tôi rất khổ sở vì một năm mà phải đến gặp bác sĩ để “điều hòa kinh nguyệt” ngoài ý muốn tới ba lần, sức khỏe giảm sút, người gầy yếu xanh xao. Tôi rất ám ảnh về điều này. Đầu năm nay, tôi đã đi đặt vòng nhưng không hiểu tại sao tôi vẫn có thai. Xin bác sĩ giải thích giúp? (Trần Thanh Hằng, huyện Phù Mỹ, Bình Định)

Tất cả các biện pháp tránh thai như đặt vòng, dùng bao cao su đều không có tỉ lệ 100% an toàn mà vẫn có một phần xác suất rất nhỏ (khoảng 2%) là vẫn có thai. Cơ chế của vòng tránh thai là ngăn không cho trứng làm tổ ở niêm mạc tử cung, đồng thời cũng cản trở sự gặp gỡ của trứng và tinh trùng. Bình thường, vòng được đặt ở đáy tử cung, nhưng ở một số người, vì một lí do nào đó, thai lại bám ở khoảng giữa, bám ở eo hoặc bám ở nơi thấp hơn của buồng tử cung nên vẫn gây có thai nhưng tỉ lệ này rất ít. Nếu cảm thấy không an tâm với biện pháp đặt vòng, chị có thể thay thế bằng biện pháp uống thuốc.

? Sau thủ thuật hút thai, tôi đặt vòng luôn, nhưng sau gần hai tháng tôi liên tục bị rong kinh kèm theo các dấu hiệu mệt mỏi, lo lắng, đau lưng mặc dù tôi đã đi khám, siêu âm lại và uống thuốc chống rong kinh theo chỉ định của bác sĩ chuyên khoa. Tôi nghe nhiều người nói, sau thủ thuật có thể đặt vòng ngay mà không ảnh hưởng tới sức khỏe. Vậy hiện tượng rong kinh của tôi là do nguyên nhân gì, rong kinh kéo dài có gây tổn hại tới sức khỏe không? Tôi có nên tháo vòng ra không? Xin bác sĩ giải đáp giúp. (Nguyễn Thanh Hương – huyện Thanh Bình, Quảng Nam)

Rong kinh không chỉ xảy ra với người sau thủ thuật, kể cả những người đặt vòng bình thường mà cơ thể không đáp ứng được với cái vòng, vẫn gây rong kinh.

Khi đặt vòng tức là cơ thể đã tiếp nhận một vật thể lạ vào buồng tử cung. Nếu cơ thể người đó tiếp nhận được thì không sao, ngược lại, khi cơ thể không tiếp nhận vật thể lạ, nó tìm mọi cách tống ra, tử cung phải liên tục co bóp, khi co bóp nhiều sẽ gây sung huyết ở niêm mạc tử cung, gây chảy máu kéo dài hoặc băng kinh. Do đó, phải điều trị trong vòng 1 – 2 tháng với điều kiện bệnh nhân rong kinh số lượng ít; nếu rong kinh nhiều, dứt khoát phải có chỉ định tháo vòng ngay để điều trị cho ổn định. Sau hai tháng, có thể đặt lại. Nếu đặt lại, cơ thể vẫn không đáp ứng với vòng, lại rong kinh, băng kinh thì phải dùng các biện pháp tránh thai khác như: uống thuốc tránh thai, dùng bao cao su…

? Tôi đã đặt vòng nhưng vẫn lo sợ khả năng có thai vì nghe nói, có người đặt vòng nhưng vẫn có thai do vòng lệch vị trí mà không biết. Xin bác sĩ cho biết, dấu hiệu nào để nhận biết vòng bị lệch? (Ngô Thị Thanh – huyện Mỏ Cày Nam, Bến Tre)

Buồng tử cung chỉ có chỗ duy nhất để đặt vòng vào, rất khó để vòng đi sai vị trí, trừ phi vòng tụt thấp xuống, không bám ở đáy tử cung. Vòng bị lệch sẽ có dấu hiệu gây đau bụng và ra máu, khi đó chị cần đi khám ngay. Tuy nhiên, tỉ lệ vòng bị lệch rất thấp, đặt vòng vẫn là biện pháp tránh thai an toàn, hiệu quả hàng đầu.

Đặt vòng vẫn được các chuyên gia đánh giá là biện pháp tránh thai an toàn, hiệu quả nhất. ? Khi sinh hoạt vợ chồng, chồng tôi không thích dùng bao cao su, tôi lại không đặt được vòng vì tử cung treo cao, còn uống thuốc tránh thai tôi sợ mình hay quên… Tôi tránh thai bằng cách tính ngày trứng rụng có an toàn không, thưa bác sĩ, mặc dù tôi chưa dính bầu ngoài ý muốn lần nào? (Dương Thu Hà – quận 3, TP.HCM).

Tránh thai bằng cách tính ngày rụng trứng không an toàn. Ngày nay, ai cũng có điện thoại di động, chị có thể cài đặt báo thức vào một giờ cố định nào đó trong ngày, giúp chị không quên việc uống thuốc tránh thai hàng ngày.

? Tôi mới sinh con thứ hai được ba tháng. Tôi lo sợ có thai ngoài ý muốn trong thời gian cho con bú. Xin bác sĩ tư vấn giúp tôi nên dùng biện pháp tránh thai nào là tốt nhất? (Dương Thanh Hà – Cẩm Phả, Quảng Ninh)

Chưa đến chu kỳ hành kinh trở lại sau sinh thì chị chưa nên dùng biện pháp đặt vòng hoặc uống thuốc tránh thai. Nếu đặt vòng sau sinh, cổ tử cung còn mở và vòng tránh thai có thể bị rơi ra ngoài. Vì vậy, chị nên dùng bao cao su mỗi lần quan hệ.

? Tôi nghe đồng nghiệp khuyên không nên uống thuốc tránh thai khi quá 35 tuổi vì không tốt cho sức khỏe phụ nữ, thậm chí gây vô sinh. Xin bác sĩ cho biết điều này có đúng không? Năm nay, tôi 37 tuổi, tôi nên tiếp tục uống thuốc tránh thai hàng ngày hay dừng lại? (Kiều Trang – Thanh Trì, Hà Nội)

Uống thuốc tránh thai không gây hại cho sức khỏe. Đa số phụ nữ đều dùng được thuốc tránh thai, chỉ trừ những người bệnh tim, gan, cao huyết áp, đái đường, người trên 35 tuổi hút thuốc lá, người đang sử dụng thuốc chữa bệnh phổi, lao và những người đã phát hiện có u hay ung thư ở vú hoặc cơ quan sinh dục. Thuốc tránh thai không có hại mà còn có tác dụng giảm nguy cơ mắc bệnh ung thư buồng trứng ở phụ nữ. Nếu chị không mắc một trong những bệnh kể trên thì vẫn có thể yên tâm dùng thuốc tránh thai.

Học Tập Và Làm Theo Tư Tưởng Hồ Chí Minh Trong Thực Hiện Mô Hình “Dân Vận Khéo”, “Dân Vận Chính Quyền”

Bài báo “Dân vận” của Chủ tịch Hồ Chí Minh đăng trên báo Sự Thật ngày 15-10-1949 hàm chứa nhiều nội dung thiết thực, những chỉ dẫn quý báu về công tác dân vận. Trong tác phẩm này, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra nhiệm vụ của công tác dân vận là: “… vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân không để sót một người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân, để thực hành những công việc nên làm, những công việc Chính phủ và Đoàn thể đã giao cho”. Để vận động nhân dân, theo Người, phải tìm mọi cách giải thích cho mỗi một người dân hiểu rõ ràng; muốn triển khai công việc nào cũng cần phải “bàn bạc với dân, hỏi ý kiến và kinh nghiệm của dân, cùng với dân đặt kế hoạch cho thiết thực với hoàn cảnh địa phương, rồi động viên và tổ chức toàn dân ra thi hành”. Người còn căn dặn: “Trong lúc thi hành phải theo dõi, giúp đỡ, đôn đốc, khuyến khích dân”. Về lực lượng phụ trách công tác dân vận, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Tất cả cán bộ chính quyền, tất cả cán bộ đoàn thể và tất cả hội viên của các tổ chức nhân dân… đều phải phụ trách dân vận”. Người đặt ra yêu cầu rất cao đối với cán bộ làm công tác dân vận, đội ngũ này phải “óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm”. 12 từ này vừa là tiêu chuẩn của cán bộ làm công tác dân vận vừa là phương pháp để thực hiện có hiệu quả công tác dân vận.

Quán triệt sâu sắc tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác dân vận, thời gian qua, nhiều mô hình dân vận hiệu quả đã xuất hiện ở các địa phương, đơn vị, đặc biệt là các mô hình trong phong trào”Dân vận khéo”, “Dân vận chính quyền.

Phát huy sức mạnh của Nhân dân từ “Dân vận khéo”Trong những năm qua, mô hình “Dân vận khéo” đã được các cấp ủy đảng, chính quyền và cả hệ thống chính trị đồng tình hưởng ứng, quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo gắn với việc “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”. Đến nay, mô hình này ngày càng phát triển sâu rộng trên nhiều lĩnh vực, có sức lan tỏa mạnh mẽ trong cả nước.

Trên lĩnh vực kinh tế, nổi bật là các mô hình “Dân vận khéo” trong sản xuất, kinh doanh, nhất là ở địa bàn nông thôn, như hỗ trợ chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi; xây dựng trang trại, phát triển các làng nghề, các cơ sở tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ… Các mô hình này thu hút nhiều lao động, góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập, hình thành chuỗi liên kết giá trị trong sản xuất nông nghiệp gắn với thị trường, qua đó giúp nhiều hộ giảm nghèo, vươn lên khá giả, làm giàu chính đáng. Các mô hình “Dân vận khéo” trong xây dựng nông thôn mới cũng phát triển mạnh mẽ, điển hình như các phong trào “Khu dân cư kiểu mẫu, vườn mẫu”, “Sạch làng, đẹp ruộng”, “Đường có hoa, nhà có sổ”, “Thắp sáng làng quê”, “Quỹ tiết kiệm xây dựng nông thôn mới”. Các mô hình này đã giúp trên 790.000 hộ nghèo về vật tư, ngày công, tiêu thụ sản phẩm,… trị giá trên 15.000 tỷ đồng, tạo việc làm tại chỗ cho hơn 11 triệu lao động, giúp hơn 200.000 hộ nông dân thoát nghèo, vươn lên khá giả. Hội Cựu Chiến binh có các mô hình: tổ hợp tác, quỹ “Nghĩa tình đồng đội”, quỹ “Xóa nghèo cho hội viên”,… giúp các cấp hội trong cả nước giảm được 14.840 hộ nghèo, giảm tỷ lệ hộ nghèo còn 4,23%, tăng tỷ lệ hộ khá và giàu lên 56,2% (tính đến hết năm 2017). Mô hình “Dân vận khéo” của các cấp bộ Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh cũng phát triển mạnh mẽ với trên 14.000 mô hình thanh niên phát triển kinh tế giỏi, 356 hợp tác xã thanh niên, gần 1.200 tổ hợp tác thanh niên phát triển kinh tế. Các mô hình “Dân vận khéo” của các cấp Hội Liên hiệp Phụ nữ giúp khoảng 100.000 hộ thoát nghèo mỗi năm. Các mô hình “Dân vận khéo” trong đoàn viên công đoàn giúp trên 20.000 gia đình đoàn viên, người lao động nghèo được xây nhà mới, sửa chữa nhà ở trị giá trên 500 tỷ đồng…

Trên lĩnh vực văn hóa – xã hội, điển hình là các phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”, “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”, “Ngày Vì người nghèo”, “Lao động sáng tạo”, “Giỏi việc nước, đảm việc nhà”, “Xanh – Sạch – Đẹp”, “Bảo đảm an toàn vệ sinh lao động”, “Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc”… Bên cạnh đó còn có nhiều mô hình tiêu biểu khác như: “Tổ liên gia”, “Tổ tự quản”, “Tổ hoà giải”, “Khu dân cư không có tội phạm, tệ nạn xã hội”, “Gia đình, dòng họ không có người phạm tội, mắc tệ nạn xã hội”, “Tổ an ninh nhân dân”, Đội dân phòng, “Phúc lợi cho đoàn viên công đoàn”, “Tết sum vầy”, “Mái ấm Công đoàn”, “Thanh niên tình nguyện bảo vệ môi trường”, “Tổ phụ nữ thu gom, phân loại rác thải”… Trong thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói, giảm nghèo có các mô hình “Dân vận khéo” tiêu biểu như: mô hình “Xóa 1 hộ đói, giảm 1 hộ nghèo” ở tỉnh Đắk Lắk; mô hình chuyển đổi từ cây ngô, cây sắn cho thu nhập thấp sang trồng cây chè ở huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; mô hình “Hũ gạo vì người nghèo” của lực lượng vũ trang tỉnh Quảng Nam…

Trên lĩnh vực an ninh – quốc phòng, có nhiều mô hình hay như: “Hành quân dã ngoại làm công tác dân vận”, “Tiếng kẻng phòng gian”, “Điểm sáng vùng biên”, “Vì nước quên thân, vì dân phục vụ”, “Vì Hoàng Sa, Trường Sa”, “Tấm lưới nghĩa tình”, “Mái ấm cho người nghèo nơi biên giới, hải đảo”, “Xây dựng khu, cụm công nghiệp, tiểu, thủ công nghiệp an toàn về an ninh trật tự”, “Dòng họ tự quản về an ninh trật tự”, “Tổ an ninh tự quản ngõ xóm”, “Xây dựng xã không có tội phạm và tệ nạn ma túy”, “Mô hình 3+1” (3 phụ nữ giúp đỡ 1 phụ nữ đã từng vi phạm pháp luật),… Với nhiều cách làm sáng tạo, các mô hình này đã góp phần quan trọng trong việc từng bước đẩy lùi tội phạm, tệ nạn xã hội, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, giữ vững quốc phòng – an ninh.

Thực tiễn các mô hình “Dân vận khéo” thời gian qua cho thấy, ở nhiều nơi, các cấp ủy đảng, chính quyền và cả hệ thống chính trị ngày càng nhận thức sâu sắc hơn, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo cả hệ thống chính trị làm công tác dân vận, ngày càng hướng về cơ sở, quan tâm lắng nghe, chăm lo, giải quyết có hiệu quả hơn những nguyện vọng hợp pháp, chính đáng của người dân. Các mô hình “Dân vận khéo” cũng góp phần quan trọng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng chính quyền; phát huy trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là của người đứng đầu.

Để nâng cao hiệu quả công tác “Dân vận chính quyền”, nhiều đơn vị, địa phương đã tăng cường đầu tư hiện đại hóa nền hành chính. Đến cuối năm 2018, có 18 bộ, ngành và 54 địa phương đã xây dựng trung tâm dữ liệu; 100% số sở, cơ quan thuộc ủy ban nhân dân tỉnh, huyện, quận, thành phố sử dụng phần mềm quản lý văn bản và điều hành công việc. Với sự vào cuộc mạnh mẽ của các bộ, ngành, địa phương, cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp, hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội ở thành thị và nông thôn ngày càng được cải thiện rõ rệt. Việc thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới năm 2018 vượt mục tiêu được Quốc hội và Chính phủ giao. Đến cuối năm 2018, cả nước có 61 đơn vị cấp huyện (11,2%) và 3.838 xã (43,02%) được công nhân đạt chuẩn nông thôn mới.

Việc chú trọng và tăng cường công tác dân vận chính quyền đã tạo ra những chuyển biến trong nhận thức của cán bộ, đảng viên về trách nhiệm của mình đối với công tác dân vận. Trước đây, nhiều cán bộ, đảng viên còn có quan niệm công tác dân vận thuộc trách nhiệm của Ban Dân vận, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể các cấp. Nhưng hiện nay, ở nhiều nơi, các cấp ủy đảng, chính quyền đã thật sự quan tâm nhiều hơn đến nhu cầu chính đáng của người dân để phục vụ; đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong hệ thống chính quyền có thái độ phục vụ người dân ngày càng tốt hơn, có trách nhiệm hơn trong thực thi công vụ.

Đưa “Dân vận khéo”, “Dân vận chính quyền” đi vào chiều sâu, thiết thực

Mặc dù đã đạt được những kết quả bước đầu nhưng các mô hình “Dân vận khéo”, “Dân vận chính quyền” vẫn còn một số hạn chế, bất cập.

Hiện tại, mô hình “Dân vận khéo” chủ yếu vẫn tập trung ở lĩnh vực nông nghiệp – nông thôn, chưa triển khai mạnh ở nhiều lĩnh vực khác. Điển hình “Dân vận khéo” trong các cơ quan nhà nước, trong doanh nghiệp, hợp tác xã còn ít; ở nhiều nơi việc nhân rộng các mô hình, điển hình chưa đạt yêu cầu như mong muốn. Một số cấp ủy, chính quyền, cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, chưa nhận thức đầy đủ, chưa quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo; công tác phối, kết hợp giữa các ban, ngành, đoàn thể ở một số nơi trong thực hiện công tác dân vận chưa chặt chẽ, thiếu đồng bộ, còn hình thức…

Công tác “Dân vận chính quyền” ở một số nơi chưa thường xuyên, kịp thời, hiệu quả thấp do một bộ phận đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức nhận thức chưa đầy đủ về tầm quan trọng cũng như chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về công tác dân vận. Sự phối hợp giữa chính quyền với Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội cùng cấp chưa thường xuyên, hiệu quả chưa cao; thậm chí vẫn còn tư tưởng xem nhẹ công tác dân vận trong cơ quan hành chính nhà nước, chính quyền các cấp. Công tác kiểm tra, đánh giá tình hình thực hiện ở một số đơn vị chưa thường xuyên; một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ chủ chốt chưa gương mẫu, đi đầu trong thực hiện công tác dân vận…

Trong những năm tới, để mô hình “Dân vận khéo”, “Dân vận chính quyền” ở nước ta thật sự hiệu quả, thiết thực, góp phần phát huy sức mạnh toàn dân thực hiện thành công mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể cần quan tâm thực hiện tốt một số giải pháp sau:

Thứ nhất, tiếp tục nâng cao nhận thức về công tác dân vận, đặc biệt là nhận thức về mô hình “Dân vận khéo”, “Dân vận chính quyền”, nhằm tạo sự chuyển biến thực chất trong quan hệ giữa Đảng, chính quyền với nhân dân. Các cấp ủy đảng, chính quyền cần nâng cao hiệu quả công tác nắm, đánh giá, dự báo tình hình nhân dân, chủ động ứng phó, hóa giải kịp thời với những vấn đề phức tạp nảy sinh, giữ vững ổn định xã hội. Bên cạnh đó, tăng cường công tác tuyên truyền, định hướng phong trào gắn với chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị. Phát huy vai trò của các cơ quan truyền thông đại chúng để tiếp tục thực hiện tốt và nhân rộng các mô hình “Dân vận khéo”, “Dân vận chính quyền”.

Thứ hai, chú trọng xây dựng, phát triển mô hình, điển hình “Dân vận khéo”, “Dân vận chính quyền” ở những nơi khó khăn, phức tạp, ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng đồng bào có tôn giáo. Trong công tác “Dân vận chính quyền” cần đẩy mạnh cải cách hành chính, xây dựng bộ máy tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả. Các cấp, các ngành, cơ quan, đơn vị cần chú trọng định hướng, hướng dẫn, hỗ trợ xây dựng các mô hình, điển hình; thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, định kỳ sơ kết, tổng kết, khen thưởng kịp thời và có giải pháp để nhân rộng các mô hình, điển hình “Dân vận khéo”, “Dân vận chính quyền” có hiệu quả.

Thứ ba, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác dân vận của các cơ quan nhà nước, nhất là trong thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở; tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của các Ban Chỉ đạo thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở. Tăng cường công tác dân vận trong thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững gắn với thực hiện tốt các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về dân tộc, tôn giáo.

Thứ tư, tiếp tục triển khai, thực hiện có hiệu quả “Năm dân vận chính quyền” 2019, gắn với phương châm “Kỷ cương, liêm chính, hành động, sáng tạo, bứt phá, hiệu quả”. Trong đó chú trọng nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; tăng cường đạo đức công vụ, cải cách hành chính; cải thiện chỉ số hài lòng của người dân đối với chính quyền; xây dựng chính quyền trong sạch, vững mạnh. Đồng thời, thực hiện có hiệu quả nội dung “Công tác dân vận trong tham gia giải quyết khiếu kiện phức tạp, đông người, kéo dài”.

Thứ năm, đổi mới nội dung và phương thức thực hiện mô hình “Dân vận khéo”, “Dân vận chính quyền”. Các cấp ủy, chính quyền nên sử dụng đa dạng các hình thức tuyên truyền, ngoài tuyên truyền miệng nên chú trọng ứng dụng công nghệ thông tin, nhất là mạng in-tơ-nét (thông qua các trang mạng xã hội) để vận động người dân, cán bộ thực hiện tốt các mô hình này.

Thứ sáu, các cấp ủy đảng, chính quyền tổ chức tốt công tác tiếp dân; phát huy vai trò của người đứng đầu các cấp trong việc đối thoại với nhân dân, lắng nghe và giải quyết kịp thời những kiến nghị, bức xúc, tâm tư, nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Các địa phương, cơ quan chức năng tập trung giải quyết hiệu quả, dứt điểm đơn thư, khiếu nại tố cáo, nhất là các vụ việc phức tạp, kéo dài, không để phát sinh “điểm nóng”. Đồng thời, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động giám sát, phản biện xã hội đáp ứng yêu cầu của tình hình mới.

Thứ bảy, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác dân vận. Tăng cường tập huấn, bồi dưỡng, đào tạo, trao đổi kinh nghiệm thực tiễn về công tác dân vận cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong hệ thống chính trị và cán bộ trực tiếp làm công tác dân vận. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ hơn nội dung và phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội, nhất là công tác nắm tình hình nhân dân ở những địa bàn dễ nảy sinh phức tạp./.

Tài liệu tham khảo1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t. 62. Trương Thị Mai (2019), Xây dựng mô hình “dân vận khéo” gắn với lợi ích người dân, bài học từ thực tiễn,Tạp chí Cộng sản, số 916.3. Vương Đình Huệ (2019), Xây dựng nông thôn mới năm 2019 – Giữ vững chất lượng, bức phá về đích, Tạp chí Cộng sản, số 917.4. Hà Ngọc Anh (2019), Những kết quả quan trọng qua thực hiện “Năm dân vận chính quyền” 2018, Tạp chí Dân vận, số 1+2.

Nguồn: Tạp chí Cộng sản

Cập nhật thông tin chi tiết về Tạp Chí Dân Vận Số 7/2019 trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!