Xu Hướng 6/2023 # Tác Hại Và Triệu Chứng Của Bệnh Giun Đũa # Top 12 View | Phauthuatthankinh.edu.vn

Xu Hướng 6/2023 # Tác Hại Và Triệu Chứng Của Bệnh Giun Đũa # Top 12 View

Bạn đang xem bài viết Tác Hại Và Triệu Chứng Của Bệnh Giun Đũa được cập nhật mới nhất trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Tác Hại Và Triệu Chứng Của Bệnh Giun Đũa

Tước đoạt chất dinh dưỡng

Nhiễm bệnh giun đũa có thể góp phần làm suy giảm protein. Theo sự tính toán ở một nghiên cứu thực nghiệm trên người thì ở trẻ em bị nhiễm từ 13 đến 40 giun bị mất khoảng 4g protein mỗi ngày đối với một bữa ăn có từ 35 đến 40g protein. Suy dinh dưỡng ở dạng khô cũng được gắn với nhiễm giun đũa. Nhiễm giun đũa cũng có thể góp phần làm giảm lượng sinh tố A, sinh tố C. Trẻ em hay bị quáng gà sẽ hồi phục rất nhanh các triệu chứng ở mắt sau khi được tẩy giun.

Bội nhiễm vi trùng

Miễn dịch bệnh lý

Nhiều người bị nhiễm bệnh giun đũa có sự nhảy cảm với kháng nguyên của giun đũa và khi phòng thí nghiệm nơi mổ giun cũng đủ làm viêm kết mạc, nổi mề đay và lên cơn hen. Da của những bệnh nhân này hay nhạy cảm với kháng nguyên của giun đũa ở những liều cực nhỏ, họ sẽ bị ngay phản ứng phản vệ tức thời, thường thấy biểu hiện bằng nổi ngứa và có những vết thương màu hồng. Sự di chuyển của giun đũa trưởng thành ở những người nhạy cảm có thể làm cho hậu môn ngứa dữ dội, gây nôn ói ra giun và phù nề thanh môn.

Triệu chứng lâm sàng

Đa số các trường hợp nhiễm bệnh giun đũa thường không có biểu hiện lâm sàng, nhiễm nhẹ thường không có triệu chứng nhưng đôi khi nhiễm một con duy nhất cũng có thể gây nên áp-xe gan hay làm tắt ống dẫn mật. Triệu chứng cấp tính thường tương ứng với số lượng giun đũa bị nhiễm và triệu chứng nặng có thể xảy ra khi số lượng giun đũa lên tới hàng trăm con.

Mặc dù tái nhiễm có thể xảy ra suốt đời nhưng có thể làm giảm được những trường hợp bị nhiễm nặng nếu có được miễn dịch hoặc giảm bớt phơi nhiễm.

Thời kỳ ủ bệnh

Thời kỳ ủ bệnh bắt đầu từ lúc trứng được nuốt vào cơ thể cho đến khi trứng bắt đầu xuất hiện trong phân là 60 đến 70 ngày. Triệu chứng ở phổi do ấu trùng di chuyển sẽ xuất hiện vào ngày thứ 4 và 16 sau khi bị nhiễm.

Bệnh do ấu trùng giun đũa

Viêm phổi do ấu trùng giun đũa là trong quá trình di chuyển ấu trùng giun đũa gây ra viêm phổi vào ngày thứ 4 và 16 sau khi được nuốt vào, triệu chứng gồm có sốt, ho có đàm, thâm nhiễm ở phổi. Bạch cầu toan tính tăng cao và có thể tìm thấy ấu trùng trong đàm hoặc ở trong dịch tá tràng. Viêm phổi không kéo dài, chỉ khoảng 3 tuần (ngược lại với tăng bạch cầu toan tính trong bệnh phổi nhiệt đới kéo dài tới nhiều tháng). Triệu chứng có thể là hen suyễn và gan có thể sẽ bị tổn thương, lớn nhưng mềm.

Trong quá trình chu du, ấu trùng giun đũa có thể gây ra các triệu chứng: rối loạn thận kinh (co giật, kích thích màng não và động kinh,…), phù mí mắt hoặc mất ngủ và nghiến răng ban đêm. Khi ấu trùng đi lạc lên trên não, nó gây ra u hạt, những nốt nhỏ ở mắt, võng mạc hoặc não.

Bệnh do giun đũa trưởng thành

Tại ruột: thường gặp triệu chứng rối loạn tiêu hóa, viêm ruột già và nôn ói. Nếu nhiễm nặng, biểu hiện chủ yếu là tắt ruột, thường xảy ra ở trẻ em, có trường hợp bắt được 100 giun đũa ở một bệnh nhân.

Ngoài ruột: do giun di chuyển lạc chỗ: giun trưởng thành có khuynh hướng di chuyển khi môi trường sống của nó bị xáo trộn. Bệnh nhân dùng thuốc tetrachloroethylen, bị gây mê hoặc bị sốt, chúng di chuyển và đi lạc vào ống dẫn mật, bóng Vater, ruột thừa, xung quanh hậu môn và ống eustache. Chúng có thể gây xoắn ruột và hoại tử ruột, thủng ruột và viêm phúc mạc, viêm tụy cấp, viêm ống mật có mủ, áp-xe gan, viêm túi mật cấp và vàng da do tắc mật.

Phòng bệnh

Phòng bệnh dựa trên việc vệ sinh cá nhân, xử lý phân hợp vệ sinh, giáo dục sức khỏe và điều trị những người bị nhiễm.

Liên hệ điều trị bệnh giun sán tại Phòng khám Chuyên khoa Ký sinh trùng 76 Trần Tuấn Khải, phường 5, quận 5, TP. HCM. Phòng khám mở của từ 7 giờ sáng đến 5 giờ chiều, hoạt động từ thứ 2 đến thứ 7, nghỉ ngày CN. Do các bác sĩ Chuyên khoa Ký sinh trùng giàu kinh nghiệm trực tiếp khám và điều trị./.

 Hà Mạnh Dũng

PHÒNG KHÁM KÝ SINH TRÙNG

76 TRẦN TUẤN KHẢI, TP.HCM

TRỊ MẨN NGỨA DA DO GIUN SÁN

 ĐC: 76 Trần Tuấn Khải, P.5, Q.5, TP. HCM

Bác sĩ của bạn: 0877688286 

Làm việc từ thứ 2 – 7, Nghỉ ngày CN

Tác Hại Và Cách Phòng Chống Bệnh Giun Truyền Qua Đất

Khoảng 20-50% người Việt có thể bị nhiễm giun, đa phần là trẻ em, học sinh. Với tỷ lệ này, Việt Nam hiện là nước có số người nhiễm giun đường ruột cao ở châu Á. Theo Tổ chức Y tế thế giới, ước tính hàng năm người dân Việt Nam tiêu tốn 1,5 triệu lít máu và 15 tấn lương thực để nuôi giun. Tình trạng môi trường sống ô nhiễm cùng với kiến thức vệ sinh hạn chế nên người dân Việt Nam, đặc biệt là trẻ em dễ trở thành đối tượng của các bệnh lý nguy hiểm do nhiễm giun lâu dài.

Tại Hà Tĩnh, theo số liệu của Trung tâm Sốt rét – Kí sinh trùng – Côn trùng tỉnh, có gần 1 ngàn người nằm trong vùng có nguy cơ cao lây nhiễm các bệnh lây truyền qua đất.  Kết quả điều tra năm 2011, có 67,9% dân số tỉnh ta nhiễm giun; trong đó nhiễm một loại giun là 58%, tỷ lệ đa nhiễm từ 2 loại giun trở lên là trên 42%, tỷ lệ nhiễm phối hợp là 35- 47%; trong đó tỷ lệ nhiễm giun đũa là 87%, giun móc là 69,8%, giun tóc là 32%,  riêng số trẻ em bị nhiễm giun chiếm 56,4 % , đây là một tỷ lệ còn cao so với toàn quốc.

Trẻ trong độ tuổi được uống thuốc tẩy giun đình kỳ

Từ năm 2006 đến nay, ngành Y tế đã triển khai nhiều chương trình tẩy giun miễn phí cho các đối tượng như: trẻ từ 06-24 tháng, học sinh tiểu học và phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ trên địa bàn toàn tỉnh. Nhờ có chương trình này, từ năm 2011 đến nay đã có trên 500 ngàn học sinh tiểu học, 365 ngàn trẻ từ 24-60 tháng, gần 700 ngàn phụ nữ trong độ tuổi sinh sản được uống thuốc tẩy giun. Sau một số năm triển khai thực hiện, tình trạng người bị các tai biến do giun giảm mạnh, nhiều năm nay trên địa bàn tỉnh không có trường hợp nào bị các tai biến, biến chứng do giun cần phải can thiệp về y tế, góp phần nâng cao sức khỏe cho nhân dân, giảm tỷ lệ trẻ bị suy dinh dưỡng, thiếu máu.  Cô Nguyễn Thị Hương – Hiệu trưởng trường mầm non Thạch Xuân cho biết: nhờ tẩy giun định kỳ cho các cháu 6 tháng một lần nên hơn 200 cháu theo học tại trường đều phát triển tốt, cân nặng, chiều cao, sức khỏe đảm bảo, ít bị rối loạn tiêu hóa, thiếu máu.

Theo Bác sỹ Nguyễn Hữu Thanh – GĐ Trung tâm Phòng chống SR-KST-CT: Nhiễm giun đường ruột cho đến nay vẫn bị xếp vào nhóm bệnh nhiệt đới ít được quan tâm do các triệu chứng, biểu hiện không rầm rộ như nhiều bệnh truyền nhiễm cấp tính hay các nguy cơ khác, nên chưa được cộng đồng quan tâm đúng mức. Tuy nhiên ít ai biết rằng, nhiễm giun sán ảnh hưởng rất lớn tới sức khỏe, trí tuệ và sự phát triển toàn diện của trẻ. Các tác hại của nhiễm giun phụ thuộc vào các yếu tố như số lượng giun, thời gian nhiễm lâu hay mới, cơ quan nhiễm, sức đề kháng của người bị nhiễm, tình trạng dinh dưỡng của cơ thể. Như giai đoạn ấu trùng, giun đũa và giun móc có thể gây viêm phổi dị ứng, giun móc gây viêm da tại chỗ do ấu trùng qua da. Ở giai đoạn giun trưởng thành, do chất tiết của giun, hoạt động của giun gây kích thích hóa học, cơ học tại chỗ làm thành ruột bị tổn thương, buồn nôn, nôn, đau bụng, tiêu lỏng, đi ngoài ra máu. Giun đũa có thể gây tắc ruột, lồng ruột, viêm tắc ruột, giun chui ống mật, viêm ruột thừa, dẫn đến suy dinh dưỡng, giảm khả năng phát triển trí tuệ của trẻ. Giun tóc có thể gây tổn thương niêm mạc ruột, hội chứng giống lỵ, dẫn đến rối loạn tiêu hóa, đau bụng, buồn nôn, táo bón, khó tiêu, chán ăn, nhiễm nặng và kéo dài gây sa trực tràng, nhiễm trùng thứ phát, thiếu máu nhược sắc. Giun móc có thể gây thiếu máu nặng, suy tim, phù nề, phụ nữ rong kinh, vô kinh, gầy mòn, phù thũng, suy kiệt, phối hợp các bệnh khác. Người nhiễm trứng giun mất 0,02-0,1 ml máu một ngày gây thiếu máu nhược sắc, suy tim, suy kiệt, viêm dạ dày, tá tràng…

Giun có thể bị nhiễm qua đường ăn uống, do ăn thức ăn không sạch, chưa chín kỹ, uống nước chưa đun sôi, ăn các loại rau sống chưa được rửa sạch, qua bàn tay bẩn, qua nguồn nước không vệ sinh, qua sinh hoạt hàng ngày tiếp xúc trực tiếp với môi trường đất và qua cả nguồn không khí bị ô nhiễm, trẻ có thể bị nhiễm giun khi đưa đồ chơi bẩn vào miệng, cầm nắm thức ăn không rửa tay sau khi đi đại tiện.

Ai cũng có thể mắc bệnh giun sán, đặc biệt là trẻ em. Trẻ em hầu hết đều có giun, có nhiều loại giun song trẻ thường hay bị giun đũa và giun kim. Vì vậy để phòng tránh giun sán cần tuân thủ các biện pháp phòng chống sau:

– Cắt đứt nguồn nhiễm, điều trị người nhiễm, tẩy giun định kỳ. Cần tập thói quen tẩy giun định kỳ cho cả gia đình tối thiểu 6 tháng một lần (ít nhất 2 lần trong năm).

– Chống phát tán mầm bệnh, tăng cường vệ sinh môi trường, giữ gìn nhà ở, vườn tược sạch sẽ. Quản lý chặt chẽ phân nước rác. Mỗi gia đình cần có hố xí hợp vệ sinh, không phóng uế bừa bãi. Không dùng phân tươi chưa ủ kỹ bón ruộng. Không để ruồi nhặng bậu vào thức ăn. Không để chó, lợn, gà… tha phân gây ô nhiễm môi trường.

– Không ăn uống thức ăn chưa nấu chín, ôi thiu, cần rửa kỹ thực phẩm dưới vòi nước sạch.

– Giữ vệ sinh cá nhân, rửa tay trước khi ăn và sau khi đi đại tiện, không nghịch bẩn, thường xuyên tắm rửa, không đi chân đất, không để trẻ bò lê la dưới đất. Cắt móng tay, đi dép thường xuyên, bảo hộ lao động khi tiếp xúc với đất.

Thu Hòa

Những Điều Cần Biết Về Bệnh Giun Đũa Chó Mèo

BS CKI Phạm Thị Thanh Hằng, Khoa Khám bệnh, Bệnh viện Nhân dân 115

Các giun đũa chó mèo này sẽ đẻ trứng, trứng theo phân ra ngoài môi trường và sau 1-2 tuần lễ các trứng này sẽ hoá phôi (giai đoạn có thể gây bệnh cho người nếu nuốt phải trứng) , tiếp theo các ấu trùng giun đi xuyên qua thành ruột và theo đường máu di chuyển đến gan, phổi, hệ thần kinh trung ương (nơi các ấu trùng có thể sống sót trong cơ thể người trong nhiều tháng và sau đó bị phản ứng viêm của cơ thể tiêu diệt hoặc khiến chúng ngưng phát triển ).

Mức độ tổn thương của cơ thể cùng với các triệu chứng tùy thuộc vào số lượng ấu trùng cũng như cơ quan mà chúng xâm lấn: gan, phổi, hệ thần kinh trung ương, mắt…

Các thể lâm sàng của bệnh giun đũa chó, mèo

Thể ấu trùng di chuyển nội tạng (visceral larva migrans – VLM) , chủ yếu gặp ở trẻ < 5 tuổi với các triệu chứng: sốt, gan to và bị hoại tử, lách to, triệu chứng hô hấp giống như hen suyễn, bạch cầu ái toan tăng (tỷ lệ có thể đến 70%), các globulin miễn dịch IgM, IgG và IgE trong máu tăng. Ngoài ra có thể gặp viêm cơ tim, viêm thận, hệ thần kinh trung ương bị thương tổn.

Thể ấu trùng di chuyển ở mắt (ocular larva migrans – OLM) , gặp ở trẻ từ 5 đến 10 tuổi với triệu chứng giảm thị lực một bên mắt với đôi khi bị lé mắt. Mức độ suy giảm thị lực tuỳ thuộc vào vùng bị thương tổn (võng mạc, điểm vàng ).

Chẩn đoán bệnh giun đũa chó, mèo là một việc khó vì

Triệu chứng trong các thể lâm sàng của bệnh giun đũa chó, mèo không đặc hiệu cho bệnh

Ấu trùng có thể phân tán rộng trong cơ thể và không phải lúc nào làm sinh thiết cũng phát hiện được ấu trùng .

Huyết thanh chẩn đoán ELISA sử dụng kháng nguyên ngoại tiết TES (Toxocara excretory-secretory antigen) có thể dương tính chéo với các trường hợp nhiễm giun, sán khác (giun đũa, giun móc, giun lươn, giun chỉ hệ bạch huyết, sán lá gan lớn, sán dây). Ngoài ra nhiều nơi sản xuất kit ELISA với những hiệu giá kháng thể hay mật độ quang (OD) khác nhau về ngưỡng dương tính, nên khó so sánh hay theo dõi diễn tiến bệnh .

Sự hiện diện của kháng thể chống Toxocara cũng không nói lên tình trạng đang mắc hay đã mắc bệnh vì các kháng thể chống Toxocara có thể tồn tại đến hơn 2,8 năm với kỹ thuật ELISA và đến hơn 5 năm với kỹ thuật Western-Blot.

Số lượng bạch cầu ái toan có thể bình thường hoặc có tăng nhưng với mức độ rất thay đổi.

Phòng bệnh giun đũa chó, mèo như thế nào?

Hàng tuần dọn dẹp sạch sẽ nơi chó, mèo nằm.

Phân chó, mèo phải được chôn lấp hay bỏ vào túi và vứt bỏ vào thùng rác.

Không cho trẻ chơi đùa nơi có chó, mèo thải phân.

Rửa tay với xà phòng sau khi chơi đùa với chó, mèo, sau khi nghịch đất cát và trước khi ăn uống.

Định kỳ tẩy giun cho chó, mèo.

Nguồn thông tin tổng hợp từ :Viện SR-Ký sinh trùng côn trùng TPHCM; Viện y tế công cộng; Cục y tế dự phòng; CDC (Centers for Disease Control and prevention).

BS CKI Phạm Thị Thanh Hằng

Khoa Khám bệnh, Bệnh viện Nhân dân 115

Triệu Chứng Bệnh Suy Thận Và Các Biến Chứng Nguy Hiểm

Theo y học, suy thận là hiện tượng suy giảm chức năng thận, khi mà cơ chế bài tiết các chất cặn bã không được triệt để dẫn tới sự tồn đọng các chất độc hại trong cơ thể. Suy thận có quá trình ủ bệnh khá dài nhưng thường thì không có biểu hiện rõ ràng nên rất khó phát hiện. Nếu các triệu chứng bệnh suy thận không được chữa trị kịp thời và chính xác, suy thận có thể gây ra những biến chứng nguy hiểm và có thể dẫn đến tử vong cho người mắc bệnh.

Triệu chứng của bệnh suy thận

Suy thận có nhiều biến chứng nguy hiểm, tuy nhiên lại rất khó phát hiện ở giai đoạn đầu, có một số triệu chứng suy thận nhẹ như mệt mỏi xảy ra trong một thời gian ngắn, nhưng có thể đến rất từ từ mà bệnh nhân không nhận thấy được.

Một số triệu chứng rõ ràng của bệnh suy thận đó là: Tăng tiểu tiện, đặc biệt là vào ban đêm; Giảm đi tiểu; Xuất hiện máu trong nước tiểu (hiếm gặp); Nước tiểu đục hoặc màu trà.

Suy thận là hiện tượng suy giảm chức năng thận

Biến chứng tim mạch thường chiếm tỷ trọng cao nhất khoảng 50%-80% trong số các biến chứng của bệnh suy thận mà bệnh nhân gặp phải:

Tăng huyết áp: khoảng 80% số bệnh nhân suy thận bị tăng huyết áp, đồng thời làm gia tăng nguy cơ bệnh tim mạch và tăng tỷ lệ tử vong.

Viêm màng ngoài tim khô hoặc có dịch xuất hiện ở bệnh nhân suy thận giai đoạn cuối vì urê máu cao, biểu hiện lâm sàng giống như viêm màng ngoài tim do nguyên nhân khác nhưng có đặc điểm khác là hay bị tràn máu.

Bệnh cơ tim do urê máu cao. Phì đại thất trái: rất thường gặp trong suy thận mãn tính với tỷ lệ là 40%, ở bệnh nhân lọc máu chu kỳ gặp tới 60 – 80% là một trong những biến chứng nguy hiểm của bệnh suy thận.

Bệnh mạch vành: Các biểu hiện của bệnh mạch vành ở bệnh nhân suy thận thường là không rõ ràng, có thể xảy ra ở bệnh nhân không hẹp động mạch vành, nhất là ở những bệnh nhân phì đại thất trái rõ.

Bệnh van tim: Nguyên nhân chủ yếu do vôi hóa van và tổ chức dưới van, ngoài ra giãn các buồng tim cũng gây bệnh lý van tim. Tổn thương van chủ yếu là hở, ít khi gây hẹp van.

Biến chứng thần kinh: Hội chứng tăng ure máu không chỉ gặp trong giai đoạn thiểu niệu/vô niệu mà vẫn có thể thấy ở giai đoạn bệnh nhân đái trở lại hoặc đái nhiều gây rối loạn thần kinh cơ, có thể co giật, hôn mê.

Biến chứng tim mạch

Biến chứng tiêu hóa: Viêm loét dạ dày ruột, viêm tụy cấp, xuất huyết đường tiêu hóa là những biến chứng rất nặng và làm tăng nguy cơ tử vong.

Biến chứng chuyển hóa: Bệnh nhân rất dễ bị mất nước và rối loạn điện giải như tăng calci máu, tăng phospho, tăng acid uric, tăng magie máu. Giảm K, máu natri máu trong giai đoạn đái nhiều và có thể tử vong nếu không điều trị đúng và theo dõi chặt chẽ. Giảm chuyển hóa insulin, tăng hormon cận giáp và giảm hormon tuyến giáp T3-T4

Biến chứng nhiễm trùng: Bội nhiễm phổi, đường tiết niệu, vết thương ngoài da, nhiễm khuẩn huyết.

Làm thế nào để phòng ngừa biến chứng của suy thận?

Để phòng ngừa các biến chứng của suy thận, người bệnh nên hạn chế tối đa việc sử dụng các thuốc có thể gây độc cho thận, điều chỉnh liều lượng căn cứ vào mức lọc cầu thận. Bên cạnh đó, bệnh nhân cũng nên duy trì đủ thể tích tuần hoàn, gây tăng bài tiết trong một trường hợp cụ thể (như phẫu thuật tim, chấn thương nặng, tiêu cơ vân, tan máu trong mạch, dùng các thuốc cản quang nhất là cản quang đường tĩnh mạch.

Cập nhật thông tin chi tiết về Tác Hại Và Triệu Chứng Của Bệnh Giun Đũa trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!