Xu Hướng 2/2023 # Sở Khoa Học Công Nghệ # Top 6 View | Phauthuatthankinh.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Sở Khoa Học Công Nghệ # Top 6 View

Bạn đang xem bài viết Sở Khoa Học Công Nghệ được cập nhật mới nhất trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Nổi bật là Huyện ủy đã xây dựng và ban hành Nghị quyết số 04 về “Chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi gắn với xây dựng mô hình phát triển bền vững, giai đoạn 2017-2020”. Trên cơ sở các giải pháp, cơ chế, chính sách hỗ trợ, khuyến khích phát triển nông nghiệp, nghị quyết đã tạo điều kiện thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, giúp giá trị sản xuất đạt 17.137 tỉ đồng, tăng bình quân 0,59%/năm.

Bước tiến trong sản xuất nông nghiệp

Dấu ấn đáng ghi nhận trong quá trình triển khai, thực hiện Nghị quyết số 04 của xã Phương Bình là tập trung chỉ đạo và vận động người dân đẩy mạnh phát triển sản xuất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi gắn với ứng dụng khoa học – kỹ thuật. Nhờ vậy, Phương Bình đã xây dựng được nhiều mô hình canh tác có hiệu quả, cho thu nhập khá cao như: mô hình trồng cây có múi, rau màu, khóm MD2… góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống người dân địa phương.

Sau thời gian ngắn chuyển đổi cơ cấu cây trồng thì vùng đệm của Khu bảo tồn thiên nhiên Lung Ngọc Hoàng, ở ấp Phương Thạnh, chủ yếu chuyên canh mía ngày nào thì nay được ví như vùng khóm nguyên liệu mới của tỉnh. Điểm khác biệt ở vùng nguyên liệu này là ở giống khóm Mỹ (MD2) và tất cả diện tích đều được doanh nghiệp đến liên kết sản xuất và bao tiêu sản phẩm nên đầu ra cũng như giá bán ổn định, tạo nguồn thu nhập cao cho bà con.

Đó là nhờ khóm MD2 thích hợp với đất đai, thổ nhưỡng của vùng trũng có độ phèn nhẹ nơi đây. Vì vậy, sau thời gian thất thu từ cây mía, nhiều thành viên trong Tổ hợp tác nông nghiệp công nghệ cao ở ấp Phương Thạnh, đã và đang “ăn nên làm ra” bằng cây khóm MD2. “Quả thật, sau khi chuyển đổi đất mía sang trồng loại khóm này thì cuộc sống của nhiều hộ dân trong xóm ngày càng sung túc hơn, ông Nguyễn Văn Sỹ, Tổ trưởng Tổ hợp tác chia sẻ.

Bởi theo ước tính của ông Sỹ, với giá được công ty ký hợp đồng bao tiêu 5.700 đồng/kg thì trừ hết các khoản chi phí, người dân cũng còn lãi khoảng 20 triệu đồng/1.000m2. Trong khi trước đây, mỗi công đất trồng mía ở xứ này chỉ cho thu nhập từ 2-3 triệu đồng là cùng. “Từ hiệu quả khá hấp dẫn nên nhiều hộ dân địa phương đã mạnh dạn chuyển sang trồng loại khóm này. Giờ diện tích đã lên đến hàng chục héc-ta, tăng gấp nhiều lần so năm 2018”, ông Sỹ cho biết.

Trưởng phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Trần Văn Tuấn thông tin những năm gần đây, tình hình sản xuất nông nghiệp trên địa bàn ngày càng mang lại giá trị kinh tế cao, do nông dân tiếp cận và đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất để nâng cao năng suất, chất lượng các loại cây trồng, vật nuôi. Nhờ đó góp phần gia tăng thu nhập bình quân đầu người từ 24,31 triệu đồng vào đầu nhiệm kỳ lên 35,2 triệu đồng/người/năm như hiện nay.

Kết quả tích cực đó cũng nhờ các địa phương trong huyện triển khai có hiệu quả các đề án sản xuất, nhất là đẩy mạnh chuyển đổi cây trồng, vật nuôi theo tinh thần Nghị quyết số 04 của Huyện ủy. Trong quá trình thực hiện, còn lồng ghép tuyên truyền, vận động thành lập mới 39 tổ hợp tác, hợp tác xã; nâng tổng số tổ hợp tác, hợp tác xã trên toàn huyện lên 220. Mặt khác, xây dựng và triển khai có hiệu quả các mô hình sản xuất đột phá để làm điểm nhân rộng.

“Phần lớn các mô hình chuyển đổi thời gian qua được thực hiện theo địa chỉ, nghĩa là đều có liên kết với doanh nghiệp để bao tiêu sản phẩm, giúp nông dân hạn chế rủi ro khi thu hoạch. Đến nay, huyện đã kêu gọi được 20 công ty, doanh nghiệp tham gia bao tiêu các mặt hàng nông sản trên địa bàn thông qua tổ hợp tác, hợp tác xã. Ngành cũng luôn khuyến cáo người dân sản xuất theo hướng an toàn thực phẩm, đảm bảo nhu cầu thị trường tiêu thụ”, ông Tuấn nói.

Phát triển nông nghiệp gắn với du lịch

Trong giai đoạn 2015-2020, Huyện ủy cũng luôn quan tâm lãnh, chỉ đạo các ngành chuyên môn tập trung quy hoạch phân vùng sản xuất trên từng loại cây trồng phù hợp với điều kiện tự nhiên của từng vùng. Cụ thể là quy hoạch vùng mía nguyên liệu, vùng sản xuất lúa, cây ăn trái; vùng nuôi cá tra thâm canh, vùng chăn nuôi tập trung và cơ sở giết mổ tập trung đạt tiêu chuẩn. Cùng với đó là tiến hành đăng ký với tỉnh những sản phẩm đặc trưng của địa phương.

Trên địa bàn huyện đã hình thành vài điểm, tuyến du lịch gắn với hoạt động sản xuất nông sản khá lý tưởng

Với mong muốn tiếp tục tạo đòn bẩy, bước đột phá mới trong phát triển kinh tế cho địa phương, trong giai đoạn 2020-2025, Đảng bộ huyện sẽ tập trung sản xuất nông nghiệp theo hướng bền vững thông qua việc đẩy nhanh quá trình chuyển giao, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Mặt khác, khuyến khích áp dụng kỹ thuật canh tác, quy trình trồng trọt, chăn nuôi công nghệ cao, sử dụng giống mới, nâng cao chất lượng hàng hóa nông sản gắn với du lịch.

Theo ghi nhận của ngành chuyên môn, hoạt động du lịch của huyện tuy mới phát triển nhưng có nhiều tiềm năng, hàng năm có hơn 24.000 lượt khách đến tham quan, vui chơi ở các điểm: Khu bảo tồn thiên nhiên Lung Ngọc Hoàng, Khu di tích lịch sử căn cứ Tỉnh ủy Cần Thơ, Tượng đài Tiểu đoàn Tây Đô, cây Di sản Việt Nam (lộc vừng), Khu di tích chiến thắng Chày Đạp. Tổng doanh thu hơn 4,7 tỉ đồng, tăng gấp ba lần so nhiệm kỳ trước.

Ông Phạm Văn Thế, Trưởng phòng Văn hóa và Thông tin huyện, cho biết trên địa bàn đã hình thành vài điểm, tuyến du lịch cộng đồng gắn với hoạt động sản xuất nông sản khá lý tưởng. Chẳng hạn điểm du lịch ở vùng đệm Khu bảo tồn thiên nhiên Lung Ngọc Hoàng; tuyến du lịch cây lộc vừng kết hợp tham quan làng nghề sản xuất, chế biến cá thát lát theo chuỗi giá trị… Khi đến đây, ngoài thưởng ngoạn, du khách còn mua được nông sản an toàn, chất lượng.

Bí thư Huyện ủy Nguyễn Văn Bảy cho rằng Phụng Hiệp là huyện thuần nông, phần lớn dân số sinh sống ở nông thôn và làm kinh tế nông nghiệp. Vì vậy, Đảng bộ huyện vẫn tiếp tục xác định lĩnh vực nông nghiệp là nền tảng, động lực phát triển kinh tế của nhiệm kỳ 2020-2025. Trong đó, lấy việc tập trung triển khai, thực hiện hiệu quả Đề án “Phát triển nông nghiệp bền vững gắn với du lịch”, nâng cao hiệu quả kinh tế nông nghiệp làm nhiệm vụ đột phá.

“Muốn phát triển nông nghiệp bền vững gắn với du lịch, thu hút du khách đến với địa bàn thì trước hết phải có nền nông nghiệp sạch, được sản xuất theo hướng an toàn thực phẩm, hữu cơ. Đồng thời, phải dựa vào sản phẩm chủ lực nông nghiệp để phát triển du lịch trên cơ sở phát triển làng nghề truyền thống với Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP) nhằm khai thác tối đa tiềm năng, thế mạnh của địa phương”, ông Nguyễn Văn Bảy nhấn mạnh.

Bên cạnh việc đa dạng hóa các loại hình dịch vụ ở nông thôn, tăng cường liên kết trong sản xuất – tiêu thụ nông sản, ông Bảy cho hay huyện sẽ phối hợp với các viện, trường và nhà khoa học nghiên cứu, chuyển giao các loại giống cây trồng, vật nuôi; hỗ trợ nông dân ứng dụng khoa học kỹ thuật, nâng cao hiệu quả sản xuất, sức cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp; xây dựng dự án phát triển du lịch gắn với cộng đồng, kết hợp với các di tích lịch sử – văn hóa…

Bước đầu, các ngành chức năng huyện phối hợp với địa phương khảo sát những điểm có tiềm năng phát triển du lịch cộng đồng, xây dựng mô hình mẫu trước khi đưa vào khai thác hợp lý. Những bước đi cần thiết này tiếp tục tạo tiền đề vững chắc để kinh tế nông nghiệp của huyện đi vào chiều sâu, góp phần nâng cao giá trị hàng hóa nông sản, cải thiện thu nhập cho người dân nông thôn.

Theo ngành nông nghiệp huyện, hiện toàn huyện có 889 tổ chức, hộ gia đình xây dựng mô hình sản xuất nông nghiệp có hiệu quả, trừ chi phí cho thu nhập hơn 50 triệu đồng/ha/năm. Trong đó, nhiều mô hình tiêu biểu thu nhập hơn 100 triệu đồng/ha/năm, như mô hình trồng mãng cầu, sầu riêng, nhãn Idor, dưa lưới; nuôi baba, cua đinh…

Huyện cũng đã đăng ký với tỉnh những sản phẩm đặc trưng của địa phương (OCOP) như: Rượu Lão Tửu ở xã Tân Bình, cá thát lát ở xã Thạnh Hòa, trà mãng cầu xiêm ở xã Phụng Hiệp. Dự kiến thời gian tới sẽ đăng ký thêm những sản phẩm khác gồm: sầu riêng ở xã Tân Bình, khóm MD2 ở xã Phương Bình, bưởi da xanh ở xã Phụng Hiệp, dưa lưới ở xã Bình Thành.

Ưu tiên các dự án đầu tư phát triển công nghiệp chế biến

Ông Nguyễn Văn Bảy, Bí thư Huyện ủy: Tới đây, Phụng Hiệp sẽ tích cực phối hợp với các sở, ngành tỉnh kêu gọi, thu hút đầu tư phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp phân tán trên tuyến Quốc lộ 1, Quốc lộ 61 và Quản lộ Phụng Hiệp – Cà Mau, ưu tiên các dự án đầu tư phát triển công nghiệp chế biến, công nghiệp phụ trợ, có hàm lượng công nghệ cao; hỗ trợ phát triển tiểu thủ công nghiệp, ngành nghề truyền thống, sử dụng nguyên vật liệu, lao động tại chỗ nhằm đáp ứng yêu cầu phục vụ liên kết trong sản xuất, tiêu thụ hàng nông sản và chuyển dịch cơ cấu lao động.

Bài, ảnh: NGUYỄN NGUYỄN

​​​​​​​

Khoa Học Là Gì Và Công Nghệ Là Gì? Vai Trò Của Khoa Học Và Công Nghệ

1. Khoa học và công nghệ là gì?

1.1. Tìm hiểu khái niệm khoa học

Theo lời giải thích từ một nguồn từ điển thì khoa học mang nội hàm khá phức tạp. Chính vì vậy mà chúng ta sẽ có rất nhiều cách hiểu khác nhau với khái niệm này tùy vào từng mục đích nghiên cứu cũng như cách tiếp cận. Theo đó:

Khi hiểu ở một mức độ chung nhất thì khoa học chính là hệ thống tri thức về thế giới quan. Tại Việt Nam, Luật Khoa học và Công nghệ có chỉ rõ rằng: Khoa học bao gồm hệ thống tri thức về những hiện tượng, sự vật, quy luật trong tự nhiên, trong xã hội và trong chính tư duy của con người.

Khi nhìn từ góc độ hoạt động thì khoa học sẽ được hiểu chính là lĩnh vực hoạt động đặc biệt của con người. Đây là loại hình hoạt động mang tính mục đích khám phá ra bản chất, quy luật vận động của thế giới. Từ đó ứng dụng toàn bộ sự hiểu biết, khám phá được vào trong sản xuất và trong đời sống xã hội.

Thực chất, đối với góc độ hoạt động này thì khoa học chính là một hoạt động nghiên cứu khoa học, là một quá trình tạo ra tri thức mới cho toàn nhân loại.

Công nghệ là một thuật ngữ xuất phát từ chữ Hy lạp là “Techne” mang ý nghĩa là nghệ thuật, kỹ năng và “Logia” có nghĩa là khoa học, nghiên cứu.

Tại đất nước Việt Nam thì đã từng có quan niệm về khái niệm công nghệ rằng: Công nghệ chính là kiến thức, là kết quả của khoa học ứng dụng có mục đích biến đổi nguồn lực trở thành mục tiêu để sinh lời.

Khoa học và công nghệ là gì?

Đến ngày nay, cách hiểu được cho là phổ biến, là phù hợp nhất đối với những chính sách quản lý, phát triển và quan điểm về công nghệ đã được quy định cụ thể, rõ ràng tại Luật Khoa học và Công nghệ như sau:

Công nghệ chính là một tập hợp của những quy trình kỹ năng, phương pháp, công cụ, bí quyết, phương tiện được sử dụng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm.

1.3. Khoa học và công nghệ là gì?

Hoạt động khoa học và công nghệ chính là hoạt động nghiên cứu khoa học, triển khai các thực nghiệm, tiến hành phát triển công nghệ và các ứng dụng của công nghệ cùng với dịch vụ khoa học – công nghệ. Từ đó có thể phát huy toàn bộ những sáng kiến, hoạt động sáng tạo để phát triển khoa học và công nghệ. Một nhà nghiên cứu khoa học họ là người hiểu rõ sáng tạo là gì hơn ai hết để đưa ra những sản phẩm mới đầy tính sáng tạo góp phần thúc đẩy các hoạt động kinh tế, xã hội.

Ở Việt Nam, Luật Khoa học và Công nghệ đã quy định về nội dung của khoa học công nghệ. Cụ thể như sau:

– Việc nghiên cứu khoa học chính là một hoạt động nhằm phát hiện và tìm hiểu về những hiện tượng, sự vật cũng như quy luật tự nhiên – xã hội và tư duy. Đồng thời đó còn là việc sáng tạo những giải pháp để có thể ứng dụng vào hoạt động thực tiễn. Hoạt động nghiên cứu sẽ bao gồm các nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng.

– Phát triển công nghệ chính là hoạt động tạo ra, hoàn thiện công nghệ mới, các sản phẩm mới. Đây là một hoạt động bao gồm hai nhiệm vụ, đó là triển khai thực nghiệm, sản xuất thử nghiệm.

– Triển khai thực nghiệm là việc ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học vào hoạt động thực nghiệm. Mục đích là nhằm tạo ra những công nghệ mới và sản phẩm mới.

– Sản xuất thực nghiệm là hoạt động ứng dụng kết quả của việc triển khai từ thực nghiệm, đưa vào sản xuất thử với quy mô nhỏ, từ đó tiến tới hoàn thiện công nghệ mới và các sản phẩm mới trước khi áp dụng vào việc chính thức sản xuất.

2. Khoa học – Công nghệ có vai trò gì?

Sau khi đã hiểu rõ khoa học và Công nghệ là gì, chúng ta nên mở rộng hiểu biết của mình hơn nữa đối với mảng thông tin tri thức này, nhất là khi bạn sẽ và đang tham gia vào hoạt động nghiên cứu khoa học. Và đương nhiên, chúng ta sẽ không thể nào tiến hành nghiên cứu để mang tới những giá trị tri thức mới cho nhân loại nếu như không nắm rõ được vai trò của Khoa học – Công nghệ là gì.

2.1. Mở rộng sản xuất, thúc đẩy sự tăng trưởng, phát triển kinh tế

Các Mác đã từng dự đoán khi cả nhân loại bước vào thời kỳ công nghiệp thì việc sản sinh ra sự giàu có sẽ không bị phụ thuộc nhiều vào thời gian lao động. Tuy nhiên điều này lại phụ thuộc rất nhiều vào tình trạng chung của khoa học cũng như sự tiến bộ của kỹ thuật và cách con người ta ứng dụng khoa học kỹ thuật đó vào trong hoạt động sản xuất.

Như thế, Khoa học và Công nghệ không những tạo ra được các công cụ lao động mới cho con người mà còn mang đến cả những phương pháp sản xuất mới. Chính vì vậy mà nó mở ra một khả năng mới về kết quả sản xuất cũng như tăng năng suất cho lao động.

Nhờ có sự tác động của khoa học công nghệ mà các nguồn lực sản xuất đã được mở rộng hơn, Từ đó, cơ cấu lao động của xã hội đã chuyển giao từ lao động đơn giản sang lao động bằng máy móc và có sự hỗ trợ của kỹ thuật, từ đó có thể nâng cao năng suất lao động.

Nền kinh tế được chuyển đổi từ chiều rộng sang chiều sâu nhờ vào việc ra đời của nền công nghệ mới. Khi đó, khoa học công nghệ sẽ chính là một phương tiện đắc lực thúc đẩy nền kinh tế chuyển từ nền kinh tế nông nghiệp sang kinh tế tri thức, phát triển ngành công nghệ cao sử dụng nhiều lao động trí tuệ.

2.2. Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Khoa học và Công nghệ phát triển mạnh mẽ không những đẩy nhanh tốc độ phát triển của các ngành mà đồng thời còn làm cho hoạt động phân công lao động trong xã hội ngày một sâu sắc hơn, từ đó dẫn đến hệ quả của việc phân chia ngành kinh tế thành nhiều ngành nhỏ, có nhiều ngành nghề mới xuất hiện cùng với nhiều lĩnh vực kinh tế mới. Kết quả cuối cùng là giúp làm cho nền cơ cấu kinh tế được thay đổi theo chiều hướng tích cực.

2.3. Tăng sức cạnh tranh cho hàng hóa và thúc đẩy sự phát triển kinh tế thị trường

Mục tiêu cuối cùng trong hoạt động kinh tế tại các doanh nghiệp đó chính là tối đa hóa lợi nhuận. Các doanh nghiệp khi đó cần phải sản xuất những mặt hàng có nhu cầu lớn. tối thiểu hóa chi phí đầu vào, nâng cao chất lượng cho sản phẩm,… sao cho phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng. Để có thể thực hiện những yêu cầu này thì con người chỉ còn cách áp dụng tiến bộ của Khoa học – Công nghệ vào hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Đối với nền kinh tế thị trường thì việc con người áp dụng các tiến bộ của Khoa học và Công nghệ sẽ mang đến những tác động sau:

– Yếu tố sản xuất được đồng bộ và hiện đại hơn

– Quy mô sản xuất được mở rộng, có thể thúc đẩy các loại hình doanh nghiệp mới ra đời và phát triển

– Tạo nhịp độ cao trong các hoạt động kinh doanh, sản xuất

– Các chiến lược kinh doanh thay đổi, đẩy mạnh hướng ngoại và xuất khẩu, hướng ra thị trường quốc tế nhiều hơn để tăng sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

2.4. Khoa học và Công nghệ là công cụ mạnh trong việc phát triển con người

Khoa học và Công nghệ ngày một phát triển và ứng dụng rộng rãi, nhất là công nghệ gen hay công nghệ sinh học,… từ đó phục vụ hiệu quả cho việc chăm sóc sức khỏe con người.

Trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe con người

Với hoạt động y tế chẳng hạn, nhân loại đã chứng kiến bước nhảy vọt nhanh chóng khi khoa học và công nghệ đã phát minh ra các loại thuốc, các loại vắc xin, thiết bị y tế,… Không những thế, trong lĩnh vực môi trường, nhờ có những bước đột phá của khoa học công nghệ mà môi trường đã được cải tạo mới, giảm ô nhiễm,… Toàn bộ những điều đó đã góp một phần lớn trong vấn đề cải tạo và bảo vệ sức khỏe cho con người.

Khoa học công nghệ đã trang bị cho con người những nguồn tri thức, kinh nghiệm quan trọng để giúp họ nhanh chóng thích nghi với những trang thiết bị hiện đại trong cuộc sống. Hơn nữa những đòi hỏi về việc đổi mới của nhu cầu sống buộc con người càng phải học tập và trau dồi tri thức một cách thường xuyên để không bị nằm trong guồng quay đào thải của quá trình sản xuất xã hội. Đó chính là lý do lực lượng lao động không ngừng được nâng cao trình độ và chất lượng.

Khoa học và Công nghệ có sức tác động lớn trong việc đổi mới sản phẩm và quy trình sản xuất. Kết quả làm tăng quy mô sản xuất, năng suất trang thiết bị máy móc. Khoa học và Công nghệ một mặt giúp tăng kích cầu, tăng nguồn cung và rồi làm tăng thu nhập bình quân, cải thiện mức sống cho người dân một cách hiệu quả.

Còn rất nhiều vai trò khác như hoàn thiện cơ chế tổ chức và quản lý hoạt động sản xuất – kinh doanh; thực hiện tốt các mục tiêu phát triển xã hội bền vững;… Khi nắm vững được các vai trò thiết yếu này của Khoa học – Công nghệ thì bản thân chúng ta sẽ có phương hướng rõ ràng hơn đối trong việc định hướng mục tiêu hoạt động nghề nghiệp của bản thân.

Như vậy, bài viết này đã giúp các bạn hiểu được khoa học và công nghệ là gì cùng với những vai trò quan trọng của nó trong tiến trình phát triển xã hội bền vững. Nếu có khả năng và trình độ, hãy tham gia vào hoạt động nghiên cứu khoa học – công nghệ bởi đó là cách nhanh nhất giúp bạn đến gần hơn với những mục tiêu phát triển bền vững con đường sự nghiệp của bản thân và còn có thể cống hiến cho xã hội rất nhiều giá trị tốt đẹp.

Việc làm Giáo dục – Đào tạo

3. Có thể tìm công việc về khoa học và công nghệ ở đâu

Hiện nay có rất nhiều trang mạng tuyển dụng nhận viên về lĩnh vực khoa học và công nghệ, những người học chuyên sâu về lĩnh vực này có rất nhiều cơ hội và việc làm để lựa chọn, nhưng để tìm việc phù hợp với bản thân, yêu thích nó không phải là điều đơn giản, khi thông tin tuyển dụng của nhiều công ty lừa đảo tràn ngập nợi nơi, chính vì vậy mà người ứng tuyển cần phải chọn mặt gửi vàng, gửi hồ sơ vào những nơi tin tưởng để có thể tìm được công việc có nhiều cơ hội, nếu bạn vẫn còn phân vân về địa chỉ xin việc thì hãy tìm đến ngày với trang chúng tôi một trang đầy uy tin với rất nhiều thông tin tuyển dụng được đăng lên hàng ngày. Tôi tin chắc ở đây bạn sẽ tìm được cho mình một công việc ứng ý.

Thông Tin Chung Phòng Quản Lý Khoa Học Công Nghệ

1. Thông tin liên hệ

– Địa chỉ: Tầng 2 Nhà Hiệu bộ

– Điện thoại: 0438331848; 0432242617

– Email: khoahoc@daihocthudo.edu.vn

– Trưởng phòng: TS. Nguyễn Thị Kim Sơn

2. Thời gian thành lập

Năm 1990, Phòng Quản lí khoa học được thành lập với nhiệm vụ chuyên trách về công tác quản lí khoa học.

3. Quá trình phát triển

– Năm 1996, Phòng được đổi tên là phòng Quản lí Khoa học – Thiết bị.

– Năm 2003, Phòng được giao nhiệm vụ phụ trách chức năng đối ngoại và đổi tên thành Phòng Quản lí Khoa học – Đối ngoại.

– Tháng 6/2013 phòng một lần nữa được đổi tên thành Phòng Quản lí khoa học – Hợp tác quốc tế.

– Trước yêu cầu phát triển của sự nghiệp giáo dục và đào tạo cũng như nhiệm vụ khoa học và công nghệ và hợp tác phát triển, ngày 01/01/2016, Hiệu trưởng trường Đại học Thủ đô Hà Nội ra quyết định thành lập Phòng Quản lí khoa học công nghệ và hợp tác phát triển trên cơ sở tiền thân là Phòng Quản lí khoa học công nghệ và Hợp tác quốc tế.

– Với yêu cầu và nhiệm vụ trong tình hình mới, Phòng Quản lí Khoa học công nghệ và Hợp tác phát triển tiếp tục thực hiện chức năng tham mưu giúp lãnh đạo Trường trong quản lí, tổ chức thực hiện các hoạt động khoa học và công nghệ (KH&CN) và hợp tác phát triển (HTPT) với các đơn vị trong và ngoài nước .

4. Chức năng, nhiệm vụ

Tham mưu, giúp Hiệu trưởng quản lý, tổ chức thực hiện hoạt động khoa học công nghệ; hoạt động hợp tác phát triển với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật và của Trường Đại học Thủ đô Hà Nội.

4.1. Quản lý khoa học công nghệ

a) Xây dựng chiến lược, kế hoạch hoạt động khoa học công nghệ của trường; hướng dẫn các đơn vị trực thuộc trường xây dựng kế hoạch hoạt động khoa học công nghệ (dài hạn và hàng năm).

b) Hướng dẫn, kiểm tra, đánh giá thực hiện kế hoạch hoạt động khoa học, công nghệ của các đơn vị trực thuộc Trường; giúp Hội đồng Khoa học và Đào tạo trường thẩm định, kiểm tra tiến độ thực hiện và nghiệm thu, hướng dẫn nghiệm thu các đề tài khoa học công nghệ từ cấp Trường trở xuống.

c) Đầu mối trong tham mưu xác định hướng nghiên cứu, thành lập các nhóm nghiên cứu mạnh và phát triển tiềm lực khoa học công nghệ của trường.

đ) Đầu mối trong việc phối hợp thực hiện các chương trình, đề tài, đề án khoa học công nghệ cấp Thành phố, cấp Bộ, cấp Nhà nước; tổ chức các hội nghị, hội thảo khoa học cấp quốc gia, quốc tế và các hoạt động khoa học công nghệ có sự tham gia của tổ chức, cá nhân ngoài Trường.

e) Phối hợp với Trung tâm Khoa học – Công nghệ trong hoạt động chuyển giao công nghệ, ứng dụng các sản phẩm nghiên cứu khoa học, công nghệ trong và ngoài nhà trường.

4.2. Hợp tác phát triển

a) Xây dựng chiến lược, kế hoạch hợp tác phát triển của Trường; phối hợp tổ chức đàm phán, ký kết các văn bản hợp tác với các tổ chức, cá nhân nước ngoài.

b) Xây dựng và trình Hiệu trưởng quyết định kế hoạch đoàn ra, đoàn vào hàng năm của Trường; giải quyết các thủ tục, tổ chức, hướng dẫn, theo dõi, đánh giá quá trình thực hiện.

4.3. Tạp chí Khoa học

4.4. Thực hiện các nhiệm vụ khác do Hiệu trưởng giao.

Trong nhiệm vụ hợp tác phát triển:

+ Phòng QLKHCN&HTPT đã tiến hành tham mưu cho Đảng ủy, BGH trường Đại học Thủ đô Hà Nội mở rộng hợp tác với nhiều đối tác trong nước (các đơn vị sử dụng lao động) và các đối tác ngoài nước (tập trung ở các nước: Pháp, Đức, Hungary, Úc, Trung Quốc, Đài Loan, Lào..).

+ Trong lĩnh vực liên kết hợp tác đào tạo đã thực hiện 7 chương trình liên kết quốc tế có thể chào đón sinh viên quốc tế tới học tập như: Tiếng Việt, Thực địa cho sinh viên quốc tế tại Thủ đô Hà Nội, bồi dưỡng CNTT, Marketing và Lưu thông hàng hóa, Quản lí nhà hàng khách sạn, Quản trị du lịch – Lữ hành.

+ Phòng thực hiện kết nối 29 lượt cán bộ cùng với 94 lượt sinh viên sang công tác trường đại học lớn tại Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan… để tham gia thực hiện nhiệm vụ đào tạo nâng cao trình độ theo tiêu chuẩn quốc tế.

Định hướng phát triển

Phòng QLKHCN&HTPT trường Đại học Thủ đô Hà Nội thực hiện chức năng nhiệm vụ về quản lí khoa học và công nghệ, góp phần vào việc nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học của Nhà trường, mở rộng quan hệ quốc tế, hợp tác phát triển; cùng với các đơn vị trong Trường hoàn thành mục tiêu phấn đấu đưa trường Đại học Thủ đô Hà Nội trở thành một trong những trường đại học đa ngành, đào tạo theo định hướng nghề nghiệp ứng dụng hàng đầu của quốc gia, có uy tín trong khu vực và trên thế giới.

Sách Trực Tuyến Khoa Học Và Công Nghệ Tp. Hcm 2022

Khoa học và công nghệ đóng vai trò then chốt trong việc phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế.                           

LỜI NÓI ĐẦU

       Trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản quan trọng xác định vai trò nền tảng của khoa học và công nghệ đối với phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng – an ninh, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Văn kiện Đại hội XII của Đảng đã khẳng định: “Phát triển mạnh mẽ khoa học và công nghệ, làm cho khoa học và công nghệ thực sự là quốc sách hàng đầu,… Đến năm 2020 khoa học và công nghệ Việt Nam đạt trình độ phát triển của nhóm các nước dẫn đầu ASEAN; đến năm 2030 có một số lĩnh vực đạt trình độ tiên tiến thế giới”.

       Trong chiến lược phát triển chung của cả nước, Thành phố Hồ Chí Minh đã có những quyết sách đột phá đẩy mạnh phát triển và ứng dụng khoa học và công nghệ làm nền tảng để phát triển kinh tế – xã hội. Tiềm lực khoa học và công nghệ thành phố đã được tăng cường, nhiều thành tựu khoa học và công nghệ được ứng dụng rộng rãi trong sản xuất và đời sống. Một số ngành khoa học, công nghệ mũi nhọn đã có đóng góp tích cực đối với phát triển kinh tế – xã hội của Thành phố.

       Nhằm cung cấp thông tin cho các nhà lãnh đạo, quản lý; nhà nghiên cứu và doanh nghiệp về các chính sách khoa học và công nghệ đang được áp dụng, đặc điểm nguồn nhân lực khoa học và công nghệ, hạ tầng kỹ thuật, đầu tư tài chính cho khoa học và công nghệ của Thành phố cũng như các hoạt động nghiên cứu và phát triển trên địa bàn TP. HCM, sách “Khoa học và công nghệ thành phố Hồ Chí Minh 2016”, được biên soạn gồm 5 chương như sau:

       – Chương 1. Các chủ trương, chính sách của quốc gia về khoa học và công nghệ.

       – Chương 2. Định hướng và hoạt động khoa học và công nghệ của thành phố Hồ Chí Minh.

       – Chương 3. Tiềm lực khoa học và công nghệ.

       – Chương 4. Nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ.

       – Chương 5. Giải thưởng về khoa học và công nghệ.

       Chân thành cảm ơn Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ quốc gia, Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Hồ Chí Minh, các đơn vị đã cung cấp thông tin, đóng góp ý kiến để Ban biên tập hoàn thành cuốn sách này.

TRUNG TÂM THÔNG TIN VÀ THỐNG KÊ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TP. HỒ CHÍ MINH

CHƯƠNG 1: CÁC CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH CỦA QUỐC GIA VỀ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

1.1. CÁC CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH VỀ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

1.1.1. Định hướng phát triển khoa học và công nghệ theo Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII

       Văn kiện Đại hội XII của Đảng chứa đựng nhiều điểm mới, toàn diện và sâu sắc, trong đó có nội dung phát triển khoa học, công nghệ, làm cơ sở cho quá trình hoạch định chủ trương, đường lối lãnh đạo sự nghiệp đổi mới giai đoạn 2016 – 2020 và những năm tiếp theo. Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI được Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII (20-28/01/2016) thông qua có những nhận định, đánh giá về KH&CN: “Trong những năm qua, khoa học, công nghệ đã có những đóng góp tích cực cho phát triển kinh tế – xã hội trên tất cả các lĩnh vực. Khoa học xã hội và nhân văn góp phần quan trọng trong việc cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước; khẳng định lịch sử hình thành và phát triển dân tộc, bảo vệ chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ, bảo tồn các giá trị và bản sắc văn hóa Việt Nam. Lĩnh vực khoa học tự nhiên, các ngành khoa học cơ bản, KH&CN liên ngành, khoa học mới tiếp tục phát triển, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Một số ngành khoa học, công nghệ mũi nhọn đã có đóng góp tích cực đối với phát triển kinh tế – xã hội và tăng cường quốc phòng – an ninh. Hiệu quả hoạt động khoa học, công nghệ có chuyển biến; tiềm lực khoa học, công nghệ được nâng lên. Quản lý nhà nước về khoa học, công nghệ có đổi mới. Hợp tác quốc tế về khoa học, công nghệ có bước tiến bộ. Thị trường khoa học, công nghệ đã hình thành và bước đầu phát huy tác dụng. Tuy nhiên, khoa học, công nghệ chưa thật sự gắn kết và trở thành động lực phát triển kinh tế – xã hội. Việc huy động nguồn lực của xã hội cho khoa học, công nghệ chưa được chú trọng. Không hoàn thành mục tiêu xây dựng các trung tâm khoa học lớn đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm, có tác dụng thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội. Đầu tư cho khoa học, công nghệ còn thấp, hiệu quả sử dụng chưa cao. Cơ chế quản lý khoa học, công nghệ chậm đổi mới. Thị trường KH&CN phát triển chậm. Công tác quy hoạch, phát triển khoa học, công nghệ chưa gắn kết chặt chẽ với yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng – an ninh. Hợp tác quốc tế về khoa học, công nghệ còn thiếu định hướng, hiệu quả còn thấp”, và đề ra phương hướng phát triển và ứng dụng KH&CN thời gian tới như sau:

       – “Phát triển mạnh mẽ KH&CN, làm cho KH&CN thực sự là quốc sách hàng đầu, là động lực quan trọng nhất để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, kinh tế tri thức, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế; bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng – an ninh. Đến năm 2020 KH&CN Việt Nam đạt trình độ phát triển của nhóm các nước dẫn đầu ASEAN; đến năm 2030 có một số lĩnh vực đạt trình độ tiên tiến thế giới.

       – Phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ là một nội dung cần được ưu tiên tập trung đầu tư trước một bước trong hoạt động của các ngành, các cấp. Các ngành KH&CN có nhiệm vụ cung cấp cơ sở khoa học cho việc xây dựng và triển khai đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật. Các chương trình, kế hoạch, dự án phát triển kinh tế – xã hội đều phải xây dựng trên những cơ sở khoa học vững chắc. Xác định rõ các giải pháp công nghệ hiện đại phù hợp nhằm nâng cao năng suất lao động, hiệu quả kinh tế và phát triển bền vững. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ về tổ chức, cơ chế quản lý, cơ chế hoạt động, công tác xây dựng chiến lược, kế hoạch phát triển KH&CN; phương thức đầu tư, cơ chế tài chính, chính sách cán bộ, cơ chế tự chủ của các tổ chức KH&CN phù hợp với kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Ưu tiên và tập trung mọi nguồn lực quốc gia cho phát triển KH&CN. Xây dựng chiến lược phát triển công nghệ của đất nước, chiến lược thu hút công nghệ từ bên ngoài và chuyển giao công nghệ từ các doanh nghiệp FDI đang hoạt động trên đất nước ta. Tăng cường hợp tác về khoa học, công nghệ, nhất là công nghệ cao, phải là hướng ưu tiên trong hội nhập quốc tế.

       – Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, đồng bộ cơ chế quản lý, tổ chức, hoạt động KH&CN, nhất là cơ chế quản lý, phương thức đầu tư và cơ chế tài chính.

       – Có cơ chế thúc đẩy đổi mới công nghệ theo hướng ứng dụng công nghệ mới, công nghệ hiện đại. Huy động mạnh mẽ nguồn vốn xã hội và các nguồn vốn nước ngoài đầu tư cho phát triển KH&CN.

       – Quy hoạch, sắp xếp lại hệ thống tổ chức KH&CN, xây dựng một số trung tâm nghiên cứu hiện đại. Phát triển, nâng cao năng lực hệ thống các tổ chức dịch vụ KH&CN, phát triển thị trường KH&CN. Thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức KH&CN công lập.

       – Tăng cường liên kết giữa các tổ chức KH&CN với doanh nghiệp; mở rộng hình thức liên kết giữa Nhà nước, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp, nhà nông. Khuyến khích, tạo điều kiện để các doanh nghiệp tham gia nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng tiến bộ khoa học – kỹ thuật, đổi mới công nghệ.

       – Xây dựng và thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng, trọng dụng, đãi ngộ, tôn vinh đội ngũ cán bộ KH&CN, nhất là các chuyên gia giỏi, có nhiều đóng góp. Tạo môi trường thuận lợi, điều kiện vật chất để cán bộ KH&CN phát triển bằng tài năng và hưởng lợi ích xứng đáng với giá trị lao động sáng tạo của mình. Thực hành dân chủ, tôn trọng và phát huy tự do tư tưởng trong hoạt động nghiên cứu, sáng tạo, tư vấn, phản biện của các nhà khoa học.

       – Kiện toàn, nâng cao năng lực bộ máy và đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về KH&CN. Hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật, chất lượng sản phẩm, hàng hóa theo hướng hỗ trợ hiệu quả cho việc vận hành thị trường KH&CN.

       – Phát huy và tăng cường tiềm lực KH&CN quốc gia: tập trung đầu tư phát triển một số viện KH&CN, trường đại học cấp quốc gia và một số khu công nghệ cao, vùng kinh tế trọng điểm theo mô hình tiên tiến của thế giới”.

1.1.2. Nghị quyết số 20-NQ/TW về phát triển khoa học và công nghệ

       Để cụ thể hóa đường lối phát triển KH&CN được Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đề ra trong Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2011-2020; từ nhận định về những hạn chế, yếu kém còn tồn tại trong hoạt động KH&CN, ngày 01/11/2012, Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã thông qua Nghị quyết số 20-NQ/TW về phát triển KH&CN phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Nghị quyết xác định 5 quan điểm:

       – Phát triển và ứng dụng KH&CN là quốc sách hàng đầu, là một trong những động lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế – xã hội và bảo vệ Tổ quốc; là một nội dung cần được ưu tiên tập trung đầu tư trước một bước trong hoạt động của các ngành, các cấp. Sự lãnh đạo của Đảng, năng lực quản lý của Nhà nước và tài năng, tâm huyết của đội ngũ cán bộ KH&CN đóng vai trò quyết định thành công của sự nghiệp phát triển KH&CN.

       – Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ về tổ chức, cơ chế quản lý, cơ chế hoạt động, công tác xây dựng chiến lược, kế hoạch phát triển KH&CN hệ; phương thức đầu tư, cơ chế tài chính, chính sách cán bộ, cơ chế tự chủ của các tổ chức KH&CN phù hợp với kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

       – Đầu tư cho nhân lực KH&CN là đầu tư cho phát triển bền vững, trực tiếp nâng tầm trí tuệ và sức mạnh của dân tộc. Đảng và Nhà nước có chính sách phát triển, phát huy và trọng dụng đội ngũ cán bộ KH&CN.

       – Ưu tiên và tập trung mọi nguồn lực quốc gia cho phát triển KH&CN. Nhà nước có trách nhiệm đầu tư, khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia phát triển hạ tầng, nâng cao đồng bộ tiềm lực khoa học xã hội và nhân văn, khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và công nghệ. Chú trọng nghiên cứu, ứng dụng và triển khai; coi doanh nghiệp và các đơn vị dịch vụ công là trung tâm của đổi mới ứng dụng và chuyển giao công nghệ, là nguồn cầu quan trọng nhất của thị trường KH&CN. Quan tâm đúng mức đến nghiên cứu cơ bản, tiếp thu và làm chủ công nghệ tiên tiến của thế giới phù hợp với điều kiện Việt Nam.

       – Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế để cập nhật tri thức KH&CN tiên tiến của thế giới, thu hút nguồn lực và chuyên gia, người Việt Nam định cư ở nước ngoài và người nước ngoài tham gia các dự án KH&CN của Việt Nam. Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để sinh viên, nghiên cứu sinh, thực tập sinh sau khi được đào tạo ở nước ngoài về nước làm việc.

(Còn tiếp …)

Xem toàn văn: 1.1 CÁC CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH VỀ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

  

1.2. MỘT SỐ CHƯƠNG TRÌNH VÀ NHIỆM VỤ QUỐC GIA VỀ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

1.2.1. Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ Việt Nam đến năm 2020

       Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 418/QĐ-TTg, ngày 11/4/2012, về phê duyệt Chiến lược phát triển KH&CN giai đoạn 2011-2020, hiện thực hóa các chủ trương của Đảng về phát triển KH&CN, với các nội dung chủ yếu như sau:

       (1) Quan điểm phát triển KH&CN

       – Phát triển KH&CN cùng với giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là động lực then chốt để phát triển đất nước nhanh và bền vững. KH&CN phải đóng vai trò chủ đạo để tạo được bước phát triển đột phá về lực lượng sản xuất, đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

       – Tập trung thực hiện đồng bộ 3 nhiệm vụ chủ yếu: tiếp tục đổi mới cơ bản, toàn diện và đồng bộ tổ chức, cơ chế quản lý, cơ chế hoạt động KH&CN; tăng cường tiềm lực KH&CN quốc gia; đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng, gắn nhiệm vụ phát triển KH&CN với nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội ở các cấp, các ngành.

       – Nhà nước tăng mức đầu tư và ưu tiên đầu tư cho các nhiệm vụ KH&CN quốc gia, các sản phẩm quốc gia. Đẩy mạnh xã hội hóa, huy động mọi nguồn lực, đặc biệt là của các doanh nghiệp cho đầu tư phát triển KH&CN.

       – Phát triển thị trường KH&CN gắn với thực thi pháp luật về sở hữu trí tuệ nhằm thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ, khuyến khích sáng tạo KH&CN.

       – Hội nhập quốc tế về KH&CN là mục tiêu đồng thời là giải pháp quan trọng để góp phần đưa KH&CN Việt Nam sớm đạt trình độ quốc tế. Hội nhập quốc tế về KH&CN phải được thực hiện tích cực, chủ động, sáng tạo, bảo đảm độc lập, chủ quyền, an ninh quốc gia, bình đẳng và cùng có lợi.

       (2) Mục tiêu phát triển KH&CN

       – Mục tiêu tổng quát: phát triển đồng bộ khoa học xã hội và nhân văn, khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và công nghệ; đưa KH&CN thực sự trở thành động lực then chốt, đáp ứng các yêu cầu cơ bản của một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Đến năm 2020, KH&CN Việt Nam có một số lĩnh vực đạt trình độ tiên tiến, hiện đại của khu vực ASEAN và thế giới.

       – Mục tiêu cụ thể:

         + Đến năm 2020, KH&CN góp phần đáng kể vào tăng trưởng kinh tế và tái cấu trúc nền kinh tế, giá trị sản phẩm công nghệ cao và sản phẩm ứng dụng công nghệ cao đạt khoảng 45% GDP. Tốc độ đổi mới công nghệ, thiết bị đạt 10 – 15%/năm giai đoạn 2011 – 2015 và trên 20%/năm giai đoạn 2016 – 2020. Giá trị giao dịch của thị trường KH&CN tăng trung bình 15 – 17%/năm.

         + Số lượng công bố quốc tế từ các đề tài nghiên cứu sử dụng ngân sách nhà nước tăng trung bình 15 – 20%/năm. Số lượng sáng chế đăng ký bảo hộ giai đoạn 2011 – 2015 tăng gấp 1,5 lần so với giai đoạn 2006 – 2010, giai đoạn 2016 – 2020 tăng 2 lần so với giai đoạn 2011 – 2015, trong đó đặc biệt tăng nhanh số lượng sáng chế được tạo ra từ các chương trình KH&CN trọng điểm cấp Nhà nước.

         + Phấn đấu tăng tổng đầu tư xã hội cho KH&CN đạt 1,5% GDP vào năm 2015 và trên 2% GDP vào năm 2020. Bảo đảm mức đầu tư từ ngân sách nhà nước cho KH&CN không dưới 2% tổng chi ngân sách nhà nước hàng năm.

         + Đến năm 2015, số cán bộ nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ đạt 9 – 10 người trên một vạn dân; đào tạo và sát hạch theo chuẩn quốc tế 5.000 kỹ sư đủ năng lực tham gia quản lý, điều hành dây chuyền sản xuất công nghệ cao trong các ngành, lĩnh vực ưu tiên phát triển của đất nước.

         + Đến năm 2020, số cán bộ nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ đạt 11 – 12 người trên một vạn dân; đào tạo và sát hạch theo chuẩn quốc tế 10.000 kỹ sư đủ năng lực tham gia quản lý, điều hành dây chuyền sản xuất công nghệ cao trong các ngành, lĩnh vực ưu tiên phát triển của đất nước.

         + Đến năm 2015, hình thành 30 tổ chức nghiên cứu cơ bản và ứng dụng đạt trình độ khu vực và thế giới, đủ năng lực giải quyết những vấn đề trọng yếu quốc gia đặt ra đối với KH&CN; 3.000 doanh nghiệp KH&CN; 30 cơ sở ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao.

         + Đến năm 2020, hình thành 60 tổ chức nghiên cứu cơ bản và ứng dụng đạt trình độ khu vực và thế giới, đủ năng lực giải quyết những vấn đề trọng yếu quốc gia đặt ra đối với KH&CN; 5.000 doanh nghiệp KH&CN; 60 cơ sở ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao.

(Còn tiếp …)

Xem toàn văn: 1.2 MỘT SỐ CHƯƠNG TRÌNH VÀ NHIỆM VỤ QUỐC GIA VỀ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

1.2.2. Đề án Tái cơ cấu ngành KH&CN đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng góp phần phát triển kinh tế

       Ngày 11/12/2015, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 2245/QĐ-TTg phê duyệt Đề án Tái cơ cấu ngành khoa học và công nghệ đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng góp phần phát triển kinh tế, hướng đến mục tiêu “nâng cao năng lực nội sinh của ngành, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, năng lực cạnh tranh và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế”. Các mục tiêu cụ thể của Đề án:

       – Đến năm 2020, phát triển đồng bộ các lĩnh vực KH&CN, tập trung ưu tiên một số lĩnh vực có thế mạnh, có thứ hạng cao trên thế giới ở một số lĩnh vực như công nghệ thông tin và truyền thông, công nghệ sinh học trong y tế và nông nghiệp, công nghệ vật liệu mới; ứng dụng và phát triển các công nghệ có ảnh hưởng quyết định đến tốc độ và chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế, tạo ra các sản phẩm mới có tính cạnh tranh cao. Đến năm 2030, có một số lĩnh vực đạt trình độ tiên tiến thế giới, tiềm lực KH&CN đáp ứng yêu cầu cơ bản của một nước công nghiệp theo hướng hiện đại.

       – Đến năm 2020, thông qua yếu tố năng suất tổng hợp (TFP) hoạt động KH&CN đóng góp khoảng 30% – 35% tăng trưởng kinh tế; giá trị sản phẩm công nghệ cao và sản phẩm ứng dụng công nghệ cao đạt khoảng 40% tổng giá trị sản xuất công nghiệp, tỷ lệ đổi mới công nghệ, thiết bị tăng trung bình 20%/năm, giá trị giao dịch của thị trường KH&CN tăng trung bình 15%/năm. Đạt trình độ nhóm có thứ hạng khá trên thế giới về chỉ số đổi mới sáng tạo.

       – Hình thành đồng bộ đội ngũ cán bộ KH&CN có trình độ cao; phát triển các tổ chức, tập thể KH&CN mạnh, các nhà khoa học đầu ngành. Hoàn thành quy hoạch, sắp xếp lại hệ thống tổ chức KH&CN công lập, xây dựng một số trung tâm nghiên cứu hiện đại. Phát triển mạnh các doanh nghiệp KH&CN, nâng cao năng lực hệ thống các tổ chức dịch vụ KH&CN.

(Còn tiếp …)

Xem toàn văn: 1.2 MỘT SỐ CHƯƠNG TRÌNH VÀ NHIỆM VỤ QUỐC GIA VỀ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

1.2.3. Chương trình hành động của Chính phủ về KH&CN

       Để thực hiện đầy đủ các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp đã đề ra trong Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 01/11/2012 của Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về phát triển KH&CN phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, ngày 29/3/2013, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 46/NQ-CP về Chương trình hành động, triển khai 6 nhiệm vụ chủ yếu:

       (1) Tổ chức tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức của các cấp ủy đảng, chính quyền, ban, ngành, đoàn thể và cộng đồng về quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp phát triển KH&CN phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa-hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.

       (2) Tiếp tục hoàn thiện thể chế để đổi mới mạnh mẽ, đồng bộ cơ chế quản lý, tổ chức, hoạt động KH&CN với các nội dung:

       – Sửa đổi Luật Ngân sách nhà nước và xây dựng các văn bản hướng dẫn thi hành để cụ thể hóa nhiệm vụ “Đổi mới mạnh mẽ cơ chế quản lý, phương thức đầu tư và cơ chế tài chính” của Nghị quyết 20 về phân bổ và điều tiết ngân sách nhà nước phù hợp với đặc thù của lĩnh vực KH&CN và nhu cầu phát triển của quốc gia, ngành, địa phương, theo hướng căn cứ vào kết quả, hiệu quả sử dụng kinh phí KH&CN của Bộ, ngành, địa phương.

       – Sửa đổi Luật Chuyển giao công nghệ và xây dựng các văn bản hướng dẫn thi hành để cụ thể hóa các nội dung đổi mới sau: (i) Thúc đẩy đổi mới công nghệ theo hướng ứng dụng công nghệ mới, công nghệ hiện đại; chấm dứt và ngăn chặn có hiệu quả việc nhập công nghệ lạc hậu, công nghệ gây nguy hại đến sức khoẻ con người, tài nguyên, môi trường, kinh tế – xã hội, quốc phòng – an ninh; (ii) Nghiên cứu, triển khai cơ chế sử dụng vốn sự nghiệp kinh tế hỗ trợ đổi mới và chuyển giao công nghệ.

       – Sửa đổi Luật Năng lượng nguyên tử và xây dựng các văn bản hướng dẫn thi hành để thúc đẩy đào tạo, phát triển nguồn nhân lực; chuẩn bị cơ sở hạ tầng; bảo đảm an toàn, an ninh; nghiên cứu, ứng dụng và phát triển năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình, phục vụ có hiệu quả các lĩnh vực kinh tế – xã hội và phát triển bền vững đất nước.

       – Sửa đổi Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp và xây dựng các văn bản hướng dẫn thi hành để cụ thể hóa các nội dung đổi mới sau: (i) Huy động mạnh mẽ nguồn vốn xã hội và các nguồn vốn nước ngoài đầu tư cho phát triển KH&CN; (ii) Quy định doanh nghiệp nhà nước trích một tỷ lệ tối thiểu thu nhập tính thuế để lập quỹ phát triển KH&CN của doanh nghiệp; khuyến khích doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác trích một phần thu nhập tính thuế để lập quỹ phát triển KH&CN của doanh nghiệp hoặc đóng góp cho quỹ phát triển KH&CN của địa phương nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính; (iii) Tạo thuận lợi tối đa cho doanh nghiệp trong quản lý và sử dụng quỹ phát triển KH&CN của doanh nghiệp.

       – Sửa đổi Luật Sở hữu trí tuệ và ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành để cụ thể hóa cơ chế giao quyền sở hữu các kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ có sử dụng ngân sách nhà nước; xác định cơ chế phân chia lợi ích giữa Nhà nước, cơ quan chủ trì và tác giả.

       – Nghiên cứu, xây dựng chính sách hỗ trợ nhập khẩu công nghệ nguồn, công nghệ cao, mua thiết kế, thuê chuyên gia trong nước và nước ngoài thuộc các lĩnh vực ưu tiên; cơ chế Nhà nước chủ động mua kết quả KH&CN và hỗ trợ doanh nghiệp mua công nghệ từ các viện nghiên cứu, trường đại học trong nước; cơ chế đầu tư đặc biệt để triển khai dự án KH&CN quy mô lớn phục vụ quốc phòng – an ninh hoặc có tác động mạnh mẽ tới năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm quốc gia; cơ chế tạo điều kiện thuận lợi để các tổ chức KH&CN được vay vốn ưu đãi, hỗ trợ lãi suất sau đầu tư, bảo lãnh vốn vay từ các ngân hàng, các quỹ và các tổ chức tín dụng.

       – Xây dựng cơ chế, chính sách phát triển nguồn nhân lực, sử dụng và trọng dụng cán bộ KH&CN: (i) Xây dựng Nghị định về chính sách sử dụng và trọng dụng đội ngũ cán bộ KH&CN, trong đó có chính sách trọng dụng đặc biệt đối với cán bộ KH&CN đầu ngành, cán bộ KH&CN được giao chủ trì nhiệm vụ quan trọng của quốc gia, cán bộ KH&CN trẻ tài năng; đổi mới công tác tuyển dụng, bố trí, đánh giá và bổ nhiệm cán bộ KH&CN; tiếp tục sử dụng chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ KH&CN trình độ cao đã hết tuổi lao động; (ii) Xây dựng Đề án thí điểm cử cán bộ khoa học và công nghệ đi làm việc và thực tập có thời hạn tại các tổ chức khoa học và công nghệ, doanh nghiệp ở nước ngoài; (iii) Tiếp tục chủ động phát hiện và đào tạo, bồi dưỡng tài năng trẻ từ các trường phổ thông, cao đẳng, đại học, Xây dựng Đề án rà soát, quy hoạch và sử dụng có hiệu quả đội ngũ sinh viên, nghiên cứu sinh, thực tập sinh, chuyên gia khoa học và công nghệ học tập và làm việc ở nước ngoài; (iv) Xây dựng Đề án đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực đội ngũ công chức, viên chức ngành khoa học và công nghệ ở Trung ương và địa phương.

(Còn tiếp …)

Xem toàn văn: 1.2 MỘT SỐ CHƯƠNG TRÌNH VÀ NHIỆM VỤ QUỐC GIA VỀ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

1.2.4. Chương trình hỗ trợ phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ và tổ chức khoa học và công nghệ công lập thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm

       Ngày 22/5/2012, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định 592/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình hỗ trợ phát triển doanh nghiệp KH&CN và tổ chức KH&CN công lập thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm. Chương trình thể hiện quan điểm: “Nhà nước có cơ chế, chính sách để khuyến khích, hỗ trợ hình thành và phát triển doanh nghiệp KH&CN, huy động các nguồn lực xã hội để phát triển doanh nghiệp KH&CN nhằm tạo điều kiện thuận lợi trong việc triển khai ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ vào sản xuất – kinh doanh, đẩy mạnh thương mại hóa các sản phẩm hàng hóa là kết quả của hoạt động KH&CN, phát triển thị trường KH&CN, góp phần phát triển kinh tế – xã hội của đất nước; đẩy mạnh sắp xếp, hỗ trợ chuyển đổi các tổ chức KH&CN công lập sang hoạt động theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật nhằm tăng cường trách nhiệm và nâng cao tính tích cực, chủ động, năng động, sáng tạo của tổ chức KH&CN, nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức KH&CN, góp phần tăng cường tiềm lực KH&CN của đất nước”.

       – Các nội dung của Chương trình: “Khảo sát, phân loại các tổ chức, cá nhân hoạt động KH&CN có tiềm lực hình thành doanh nghiệp KH&CN, xây dựng cơ sở dữ liệu về doanh nghiệp KH&CN”; “Hỗ trợ các hoạt động ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp KH&CN”;“Hỗ trợ phát triển doanh nghiệp KH&CN và hướng dẫn doanh nghiệp KH&CN trong việc hưởng các chính sách ưu đãi theo quy định”; “Tổ chức các khóa đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn về việc thành lập, quản lý, điều hành hoạt động của doanh nghiệp KH&CN”; “Hỗ trợ tổ chức KH&CN công lập thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm” và “Nghiên cứu, đề xuất sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển doanh nghiệp KH&CN và cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức KH&CN công lập”.

1.2.5. Chương trình hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội nông thôn, miền núi, vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2016 – 2025

       Chương trình được triển khai theo Quyết định số 1747/QĐ-TTg ngày 13/10/2015 của Thủ tướng Chính phủ. Chương trình hướng tới: “hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao các tiến bộ KH&CN phù hợp với năng lực tiếp thu của người dân, phát huy được lợi thế so sánh từng vùng miền, phát huy được các nguồn lực xã hội tham gia thực hiện Chương trình để góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội nông thôn, miền núi, vùng dân tộc thiểu số; tập trung ưu tiên cho hoạt động ứng dụng, chuyển giao công nghệ tại các vùng đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số; các dự án có sự tham gia của các doanh nghiệp với vai trò là hạt nhân trong chuỗi giá trị sản xuất hàng hóa, tạo sinh kế cho người dân vùng đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số; chuyển giao tiến bộ KH&CN phải đi đôi với công tác đào tạo phát triển đội ngũ cán bộ cho cơ sở, nâng cao năng lực ứng dụng KH&CN của người dân”.

(Còn tiếp …)

Xem toàn văn: 1.2 MỘT SỐ CHƯƠNG TRÌNH VÀ NHIỆM VỤ QUỐC GIA VỀ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

1.2.6. Đề án hội nhập quốc tế về khoa học và công nghệ đến năm 2020

       Ngày 18/5/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 735/QĐ-TTg phê duyệt “Đề án hội nhập quốc tế về khoa học và công nghệ đến năm 2020”, có hiệu lực ngay từ ngày ký. Mục tiêu của Đề án nhằm: “đưa Việt Nam trở thành nước mạnh trong một số lĩnh vực KH&CN vào năm 2020 phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, rút ngắn khoảng cách về trình độ KH&CN của nước ta với khu vực và thế giới”.

       Với các chỉ tiêu: “đến năm 2015, đội ngũ cán bộ KH&CN Việt Nam có đủ năng lực trực tiếp tham gia hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ của khu vực và thế giới trong một số lĩnh vực ưu tiên, trọng điểm; đến năm 2020, tổ chức KH&CN, doanh nghiệp Việt Nam trong một số lĩnh vực ưu tiên, trọng điểm có đủ năng lực hợp tác với các đối tác nước ngoài, tiếp thu, làm chủ, đổi mới và sáng tạo công nghệ. Một số kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ trong lĩnh vực ưu tiên, trọng điểm của Việt Nam xác lập được vị trí trong thị trường khu vực và thế giới”, đề án đã xác định các nhiệm vụ: “Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ KH&CN, cán bộ quản lý”; “Huy động có hiệu quả các nguồn lực tài chính cho hoạt động hội nhập quốc tế về KH&CN”; “Tăng cường nguồn lực thông tin phục vụ hội nhập quốc tế về KH&CN”; “Thúc đẩy đổi mới công nghệ, đặc biệt là công nghệ cao nhằm nâng cao tính cạnh tranh của một số sản phẩm quốc gia”; “Xúc tiến thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ Việt Nam” và “Đẩy mạnh các hoạt động hội nhập quốc tế trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ và tiêu chuẩn đo lường chất lượng”.

       Một số chương trình để thực hiện các nhiệm vụ của Đề án là: “Hợp tác nghiên cứu chung song phương và đa phương về KH&CN”; “Tăng cường nguồn lực thông tin phục vụ hội nhập quốc tế về KH&CN” và “Tìm kiếm, giải mã và chuyển giao công nghệ nước ngoài về Việt Nam”.

1.3. LUẬT KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VÀ CÁC VĂN BẢN HƯỚNG DẪN

       Các luật chuyên ngành trong lĩnh vực KH&CN đã được Quốc hội ban hành:

       – Luật Khoa học và công nghệ (2013) thay thế Luật Khoa học và công nghệ năm 2000;

       – Luật Đo lường (2011);

       – Luật Sở hữu trí tuệ (2005), sửa đổi bổ sung năm 2009;

       – Luật Công nghệ cao (2008);

       – Luật Năng lượng nguyên tử (2008);

       – Luật Chất lượng sản phẩm hàng hóa (2007);

       – Luật Chuyển giao công nghệ (2006);

       – Luật Tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật (2006).

       – Luật Tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật (2006).

(Còn tiếp …)

Xem toàn văn: 1.3 LUẬT KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VÀ CÁC VĂN BẢN HƯỚNG DẪN

CHƯƠNG 2: ĐỊNH HƯỚNG VÀ HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CỦA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

2.1. ĐỊNH HƯỚNG CỦA ĐẢNG BỘ VÀ HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VỀ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

2.1.1. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh lần thứ X

       Trên cơ sở đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh lần thứ IX về lĩnh vực KH&CN tại báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh khóa IX trình bày tại Đại hội Đại biểu Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh lần thứ X (14-17/10/2015), với mục tiêu “xây dựng thành phố Hồ Chí Minh có chất lượng sống tốt, văn minh, hiện đại, nghĩa tình; có vai trò động lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; sớm trở thành một trong những trung tâm lớn về kinh tế, tài chính, thương mại, KH&CN của khu vực Đông Nam Á”, các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu về KH&CN trong nhiệm kỳ 2015-2020 đã được Đại hội Đại biểu Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh khóa X xác định gồm:

       – Hoàn thiện chính sách để thu hút nguồn lực xã hội, đặc biệt là tài chính doanh nghiệp, đầu tư phát triển khoa học – công nghệ; nâng tỷ trọng các yếu tố năng suất tổng hợp (TFP) đóng góp vào tăng trưởng kinh tế.

       – Khuyến khích đầu tư xã hội, tăng đầu tư công để nâng chất lượng, hiệu quả các chương trình khoa học – công nghệ trọng điểm; có cơ chế thích hợp để gắn kết sử dụng cơ sở nghiên cứu, thí nghiệm của các cơ quan nghiên cứu, trường đại học trên địa bàn và khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư nghiên cứu phát triển, đổi mới công nghệ; tăng cường hợp tác quốc tế; coi trọng, phát huy vai trò khoa học xã hội và nhân văn.

       – Phát triển và quản lý tốt thị trường KH&CN.

       Một số chỉ tiêu cụ thể về phát triển KH&CN đến năm 2020 (theo tài liệu “Những vấn đề chủ yếu của Văn kiện Đại hội Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh lần thứ X”):

       – Đầu tư cho KH&CN từ ngân sách thành phố tăng trung bình hàng năm 20% và huy động đầu tư từ xã hội cho KH&CN tăng 30% hàng năm.

       – Tỉ lệ ứng dụng các đề tài KH&CN vào thực tế đến năm 2020 đạt 50%, doanh thu từ đề tài đạt khoảng 1.000 tỉ đồng.

       – Số đơn đăng ký sáng chế và giải pháp hữu ích đạt 400 đơn (trong đó số bằng độc quyền được cấp là 100 bằng).

       – Năng suất các yếu tố tổng hợp (TFP) của thành phố đạt 35% trở lên.

       – Doanh nghiệp thực hiện đầu tư đổi mới công nghệ đạt 40%.

2.1.2. Nghị quyết của Hội đồng Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh

       Triển khai Chỉ thị số 22/CT-TTg ngày 05/8/2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc xây dựng Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2016-2020, tại kỳ họp thứ 2, ngày 05/8/2016, Hội đồng Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh khóa IX đã ban hành Nghị quyết số 111/2016/NQ-HĐND về kế hoạch phát triển kinh tế – văn hóa – xã hội thành phố giai đoạn 2016 – 2020, trong đó xác định: “xây dựng thành phố Hồ Chí Minh có chất lượng sống tốt, văn minh, hiện đại, nghĩa tình; có vai trò động lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; sớm trở thành một trong những trung tâm lớn về kinh tế, tài chính, thương mại, KH&CN của khu vực Đông Nam Á”. Trong các nhiệm vụ và giải pháp chính, Nghị quyết đặt ra yêu cầu ứng dụng mạnh mẽ KH&CN làm nền tảng để phát triển nhanh các lĩnh vực kinh tế – xã hội, cụ thể:

       – Phát triển mạnh mẽ KH&CN và đổi mới sáng tạo trở thành động lực chủ yếu phát triển kinh tế – xã hội gắn với phát triển kinh tế tri thức.

       – Hoàn thiện chính sách để thu hút nguồn lực xã hội, đặc biệt là tài chính doanh nghiệp để đầu tư phát triển KH&CN. Bổ sung chính sách hỗ trợ để doanh nghiệp tích cực đầu tư cho hoạt động nghiên cứu, phát triển, sáng tạo để đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực quản trị sản xuất – kinh doanh.

       – Nâng tỷ trọng các yếu tố năng suất tổng hợp (TFP) đóng góp vào tăng trưởng kinh tế; bảo hộ sở hữu trí tuệ trong chuyển giao công nghệ, tạo bước phát triển mới của thị trường KH&CN.

       – Đẩy mạnh hợp tác quốc tế nhằm nâng cao khả năng tiếp nhận chuyển giao công nghệ, từng bước tham gia vào quá trình nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ của thế giới, phát triển tiềm lực KH&CN của Thành phố.

Xem toàn văn: 2.1 ĐỊNH HƯỚNG CỦA ĐẢNG BỘ VÀ HĐND THÀNH PHỐ VỀ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

2.2. MỘT SỐ CHƯƠNG TRÌNH VÀ NHIỆM VỤ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CỦA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

2.2.1. Kế hoạch hành động triển khai thực hiện Nghị quyết số 46/NQ-CP ngày 29/3/2013 của Chính phủ về Chương trình hành động về khoa học và công nghệ tại thành phố Hồ Chí Minh

       Ngày 14/02/2015, Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định số 738/QĐ-UBND về Kế hoạch hành động triển khai thực hiện Nghị quyết số 46/NQ-CP ngày 29/3/2013 của Chính phủ về ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 01/11/2012 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về phát triển KH&CN phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, gồm nhiều nội dung.

(Còn tiếp …)

2.2.2. Phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ khoa học và công nghệ chủ yếu giai đoạn 2016-2020 trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

       Triển khai Quyết định số 418/QĐ-TTg ngày 11/4/2012 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chiến lược phát triển KH&CN giai đoạn 2011-2020; Quyết định số 1318/QĐ-BKHCN ngày 05/6/2015 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ về việc phê duyệt phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ KH&CN chủ yếu giai đoạn 2016-2020; cụ thể hóa Quyết định số 738/QĐ-UBND ngày 14/02/2015 của Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh về ban hành Kế hoạch hành động triển khai thực hiện Nghị quyết số 46/NQ-CP ngày 29/3/2013 của Chính phủ về Phát triển KH&CN phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế; ngày 31/3/2016, Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định số 1519/QĐ-UBND phê duyệt Phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ KH&CN chủ yếu giai đoạn 2016-2020 trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, với các nội dung:

(Còn tiếp …)

2.2.3. Chương trình nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và nâng cao tiềm lực khoa học và công nghệ thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2016 – 2020

       Ngày 07/6/2016, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định số 2953/QĐ-UBND về Chương trình nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ và nâng cao tiềm lực khoa học và công nghệ thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2016-2020. Việc ban hành quyết định này nhằm cụ thể hóa Quyết định số 1519/QĐ-UBND ngày 31/3/2016 của Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh về phê duyệt Phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ KH&CN chủ yếu giai đoạn 2016-2020 trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Chương trình xác định mục tiêu chung:

(Còn tiếp …)

2.2.4. Chương trình thúc đẩy phát triển thị trường khoa học và công nghệ thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2016 – 2020

       Để thúc đẩy phát triển mạnh mẽ và đồng bộ thị trường KH&CN của thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2016-2020 nhằm hỗ trợ doanh nghiệp ứng dụng tiến bộ KH&CN, đổi mới sáng tạo và nâng cao năng suất lao động, và cụ thể hóa Quyết định số 1519/QĐ-UBND ngày 31/3/2016 của Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh về phê duyệt Phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ KH&CN chủ yếu giai đoạn 2016-2020, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định số 2954/QĐ-UBND ngày 07/6/2016 về phê duyệt Chương trình thúc đẩy phát triển thị trường KH&CN thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2016 – 2020, với mục tiêu chung: “thúc đẩy phát triển mạnh mẽ và đồng bộ thị trường KH&CN của Thành phố trong giai đoạn 2016 – 2020 nhằm hỗ trợ doanh nghiệp ứng dụng tiến bộ KH&CN, đổi mới sáng tạo và nâng cao năng suất lao động”.

(Còn tiếp …)

2.2.5. Chương trình ứng dụng khoa học và công nghệ phục vụ tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2015-2020

       Ngày 21/3/2015, Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định số 1212/QĐ-UBND về Chương trình ứng dụng khoa học và công nghệ phục vụ tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2015-2020, với các mục tiêu chung: “tập trung đẩy mạnh ứng dụng KH&CN trong 3 lĩnh vực: năng suất, chất lượng, tiết kiệm năng lượng và sở hữu trí tuệ tại các doanh nghiệp nhà nước”.

(Còn tiếp …)

2.2.6. Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa đổi mới sáng tạo, nâng cao năng lực cạnh tranh và hội nhập quốc tế giai đoạn 2016 – 2020 trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

       Ngày 15/8/2016, Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định số 4181/QĐ-UBND về Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa đổi mới sáng tạo, nâng cao năng lực cạnh tranh và hội nhập quốc tế giai đoạn 2016 – 2020 trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Mục tiêu chung của Chương trình: “hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố ứng dụng hiệu quả tiến bộ KH&CN vào tổ chức quản trị, sản xuất, kinh doanh; khuyến khích nghiên cứu, đổi mới sáng tạo, gia tăng giá trị trong chuỗi cung ứng nhằm nâng cao năng suất chất lượng và năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp; hình thành hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo; đồng thời thực hiện các cam kết trong tiến trình hội nhập kinh tế và phát triển bền vững”.

(Còn tiếp …)

2.2.7. Kế hoạch hoạt động khoa học và công nghệ và đổi mới sáng tạo ở cơ sở giai đoạn 2016-2020 trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

       Triển khai Chỉ thị số 29-CT/TU ngày 27/02/2015 của Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về phát triển KH&CN phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế; Quyết định số 738/QĐ-UBND ngày 14/02/2015 của Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh về ban hành Kế hoạch hành động triển khai thực hiện Nghị quyết số 46/NQ-CP ngày 29/3/2013 của Chính phủ về Phát triển KH&CN phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế; Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định số 4937/QĐ-UBND ngày 05/10/2015 về Kế hoạch hoạt động khoa học và công nghệ và đổi mới sáng tạo ở cơ sở giai đoạn 2016 – 2020 trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.

(Còn tiếp …)

2.2.8. Quy chế quản lý nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và công nghệ

       Quy chế quản lý các chương trình, đề tài, dự án nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ đã được Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí ban hành kèm theo Quyết định số 3187/QĐ-UBND ngày 20/7/2007; và Quy chế này đã được sửa đổi, bổ sung một số điều tại Quyết định số 1962/QĐ-UBND, ngày 24/4/2015 của Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh.

(Còn tiếp …)

2.2.9. Quy chế thực hiện thí điểm một số chính sách thu hút chuyên gia KH&CN vào làm việc tại 4 đơn vị: Khu Công nghệ cao, Khu Nông nghiệp công nghệ cao, Viện Khoa học – Công nghệ Tính toán và Trung tâm Công nghệ Sinh học

       Triển khai Nghị định số 40/2014/NĐ-CP ngày 12/5/2014 của Chính phủ quy định việc sử dụng, trọng dụng cá nhân hoạt động KH&CN; Kết luận số 179-KL/TU ngày 24/02/2014 của Ban Thường vụ Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh về chủ trương thực hiện thí điểm một số chính sách thu hút chuyên gia KH&CN, ngày 21/11/2014, Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành Quyết định số 5715/QĐ-UBND về Quy chế thực hiện thí điểm một số chính sách thu hút chuyên gia KH&CN vào làm việc tại 4 đơn vị: Khu Công nghệ cao, Khu Nông nghiệp công nghệ cao, Viện Khoa học – Công nghệ Tính toán và Trung tâm Công nghệ Sinh học.

(Còn tiếp …)

Xem toàn văn: 2.2 MỘT SỐ CHƯƠNG TRÌNH VÀ NHIỆM VỤ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CỦA TP. HỒ CHÍ MINH

2.3. MỘT SỐ KẾT QUẢ TRIỂN KHAI CÁC CHƯƠNG TRÌNH, KẾ HOẠCH TRỌNG ĐIỂM VỀ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NĂM 2016

       Nhằm tạo thế và lực mới cho việc thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu, mục tiêu, nhiệm vụ mà Đại hội Đảng bộ các cấp đã đề ra cho kế hoạch phát triển kinh tế – văn hóa – xã hội giai đoạn 2016 – 2020, trong đó nâng cao sự đóng góp của KH&CN là mục tiêu hàng đầu để nâng cao năng suất, chất lượng tăng trưởng, năm 2016, Sở Khoa học và Công nghệ đã triển khai thực hiện các chương trình, kế hoạch phát triển KH&CN trọng điểm, kết quả đạt được trong năm 2016 như sau:

(1) Chương trình nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và nâng cao tiềm lực KH&CN của Thành phố

(2) Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa đổi mới sáng tạo, nâng cao năng lực cạnh tranh và hội nhập quốc tế

(3) Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ

(4) Chương trình thúc đẩy ứng dụng tiến bộ KH&CN ở cơ sở

(Còn tiếp …)

Xem toàn văn: 2.3 MỘT SỐ KẾT QUẢ TRIỂN KHAI CÁC CHƯƠNG TRÌNH, KẾ HOẠCH TRỌNG ĐIỂM VỀ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NĂM 2016

2.4. PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THÀNH PHỐ NĂM 2017

(1) Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ về tổ chức, cơ chế quản lý và hoạt động KH&CN

(2) Tập trung các nguồn lực để triển khai các định hướng phát triển KH&CN chủ yếu và nâng cao tiềm lực KH&CN thành phố

(3) Triển khai có hiệu quả chương trình hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ đổi mới sáng tạo, nâng cao năng lực cạnh tranh

(4) Triển khai có hiệu quả chương trình thúc đẩy phát triển thị trường KH&CN thành phố

(5) Tiếp tục triển khai có hiệu quả kế hoạch hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ở cơ sở và chương trình hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao tiến bộ KH&CN về nông nghiệp thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội nông thôn trên địa bàn thành phố

(Còn tiếp …)

Xem toàn văn: 2.4 PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THÀNH PHỐ NĂM 2017

CHƯƠNG 3: TIỀM LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

3.1. CÁC TỔ CHỨC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

       Tổ chức KH&CN là những tổ chức có chức năng chủ yếu là nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và triển khai thực nghiệm, phát triển công nghệ, ứng dụng công nghệ, dịch vụ KH&CN, phát huy sáng kiến và hoạt động sáng tạo khác nhằm phát triển KH&CN, được thành lập và đăng ký hoạt động theo quy định của pháp luật. Theo Luật Khoa học và Công nghệ, các loại hình tổ chức KH&CN gồm:

       – Tổ chức nghiên cứu khoa học, tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ được tổ chức dưới hình thức viện hàn lâm, viện, trung tâm, phòng thí nghiệm, trạm nghiên cứu, trạm quan trắc, trạm thử nghiệm và hình thức khác do Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định.

       – Cơ sở giáo dục đại học được tổ chức theo quy định của Luật Giáo dục đại học, bao gồm: các đại học quốc gia, đại học vùng (gọi chung là đại học); các trường đại học, học viện; các trường cao đẳng; các viện nghiên cứu khoa học được phép đào tạo trình độ tiến sĩ.

       – Tổ chức dịch vụ KH&CN được tổ chức dưới hình thức trung tâm, văn phòng, phòng thử nghiệm và hình thức khác do Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định.

3.1.1. Tổ chức nghiên cứu và phát triển

       Luật Khoa học và công nghệ năm 2013 đã xác định hoạt động NC&PT bao gồm: nghiên cứu khoa học, nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, phát triển công nghệ, triển khai thực nghiệm, sản xuất thử nghiệm. Theo hình thức sở hữu thì gồm có tổ chức NC&PT công lập, ngoài công lập và có vốn nước ngoài.

       Hệ thống các tổ chức NC&PT công lập của Việt Nam bao gồm:

       – Các viện hàn lâm khoa học thuộc Chính phủ;

       – Các tổ chức NC&PT do Chính phủ, Thủ tướng, hoặc bộ trưởng thành lập, trực thuộc các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ (không kể hai viện hàn lâm);

       – Các tổ chức NC&PT thuộc ủy ban nhân dân cấp tỉnh;

       – Các tổ chức NC&PT do các cơ quan nhà nước, đơn vị hành chính, sự nghiệp thành lập theo thẩm quyền;

       – Các tổ chức NC&PT thuộc các tập đoàn, tổng công ty nhà nước.

(Còn tiếp …)

3.1.2. Đại học, trường đại học, học viện và cao đẳng

3.1.2.1. Tình hình chung

       Các đại học, trường đại học, học viện và cao đẳng (sau đây gọi tắt là trường đại học) có nhiệm vụ tiến hành NC&PT, kết hợp đào tạo với nghiên cứu khoa học và sản xuất, dịch vụ KH&CN theo quy định của Luật Khoa học và công nghệ, Luật Giáo dục đại học và các quy định khác của pháp luật. Trường đại học thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản, nhiệm vụ KH&CN ưu tiên, trọng điểm của Nhà nước và nghiên cứu khoa học về giáo dục. Trong nhiều trường đại học có thành lập các tổ chức NC&PT (các viện, trung tâm nghiên cứu).

       Theo số liệu thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo, năm học 2015-2016, cả nước có tổng số 442 trường đại học và cao đẳng (trong đó có 223 trường đại học và 219 trường cao đẳng). Thống kê trên địa bàn thành phố có tổng số 93 trường đại học và cao đẳng (trong đó có 50 trường đại học và 43 trường cao đẳng), ngoài ra còn có 01 đại học và 06 học viện.

Số lượng các trường đại học và cao đẳng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

Nguồn: Tổng hợp của Trung tâm Thông tin và Thống kê KH&CN TP. HCM

(Còn tiếp …)

3.1.3. Tổ chức dịch vụ khoa học và công nghệ

(Còn tiếp …)

Xem toàn văn: 3.1 CÁC TỔ CHỨC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

3.2. NGUỒN NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

3.2.1. Nhân lực khoa học và công nghệ tiềm năng tại Thành phố Hồ Chí Minh

* UNESCO và OECD sử dụng thuật ngữ “Nhân lực cho KH&CN” (Human resources for science and technology, viết tắt là HRST). Thuật ngữ “Nhân lực KH&CN tiềm năng” được Cục Thông tin KH&CN Quốc gia sử dụng cho khái niệm này trong sách KH&CN Việt Nam 2013. “Nhân lực KH&CN tiềm năng” của một quốc gia/vùng lãnh thổ được hiểu bao gồm toàn bộ những người có trình độ từ cao đẳng/đại học trở lên (tương ứng với bậc đào tạo thứ 3 theo phân loại quốc tế về giáo dục đào tạo) trong mọi lĩnh vực KH&CN và những người tuy chưa qua đào tạo chính quy như trên nhưng làm loại nghề nghiệp đòi hỏi trình độ tưong đương cao đẳng, đại học trở lên. Như vậy, “nhân lực KH&CN tiềm năng” chỉ xem xét về trình độ mà không xem xét đến nghề nghiệp và hoạt động (có hoạt động trong lĩnh vực KH&CN hay không). Đối với Việt Nam nguồn “nhân lực KH&CN tiềm năng” chỉ bao gồm toàn bộ những người tốt nghiệp cao đẳng, đại học trở lên vì chúng ta chưa có văn bản pháp lý nào về việc công nhận những người chưa tốt nghiệp cao đẳng, đại học nhưng được coi là có trình độ tương đương như vậy.

Bảng 3.5 Nhân lực KH&CN tiềm năng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

Nguồn: Cục Thống kê thành phố Hồ Chí Minh, sách Tổng điều tra dân số và nhà ở thành phố Hồ Chí Minh năm 1999 và sách Tổng điều tra dân số và nhà ở thành phố Hồ Chí Minh năm 2009

       Theo số liệu tổng điều tra năm 2009, trên 65% nhân lực KH&CN tiềm năng có độ tuổi dưới 39 tuổi, trong nhóm tuổi 20 – 29 chiếm tỷ trọng lớn nhất (36,79%), đến nhóm tuổi 30 – 39 (30,84%) (Bảng 3.6).

Bảng 3.6 Cơ cấu nhân lực KH&CN tiềm năng theo nhóm tuổi đối với từng giới năm 1999 và 2009 (%)

Nguồn: Cục Thống kê thành phố Hồ Chí Minh, sách Tổng điều tra dân số và nhà ở thành phố Hồ Chí Minh năm 1999 và sách Tổng điều tra dân số và nhà ở thành phố Hồ Chí Minh năm 2009

       Đến năm 2009, nhân lực có trình độ thạc sĩ tập trung nhiều nhất ở độ tuổi 30 – 39 (8.467/20.721 người, chiếm 40,86%) và bắt đầu thấp dần từ độ tuổi 40 – 49 và trên 50 tuổi (độ tuổi 40 – 49 là 20,5% và trên 50 tuổi là 18,21%). Cơ cấu nhân lực có trình độ tiến sĩ giảm dần từ cao đến thấp, cụ thể cao nhất là trên 50 tuổi (2.751/4.889 người, chiếm 56,27%), từ 40 – 49 tuổi (22,62%), 30 – 39 (17,37%) và thấp nhất là độ tuổi 20 – 29 (chỉ có 183/4.889 người, chiếm 3,74%) (Bảng 3.7).

Bảng 3.7 Cơ cấu nhân lực KH&CN tiềm năng theo nhóm tuổi ở các trình độ chuyên môn đối với từng giới năm 2009

Nguồn: Cục Thống kê thành phố Hồ Chí Minh, sách Tổng điều tra dân số và nhà ở thành phố Hồ Chí Minh năm 1999 và sách Tổng điều tra dân số và nhà ở thành phố Hồ Chí Minh năm 2009

3.2.2. Nhân lực nghiên cứu và phát triển

       Nhân lực NC&PT bao gồm những người tham gia trực tiếp vào hoạt động NC&PT trong cơ quan/tổ chức và được trả lương cho dịch vụ của họ. Theo OECD, nhân lực NC&PT được phân thành ba nhóm:

       – Cán bộ nghiên cứu (nhà nghiên cứu/nhà khoa học/kỹ sư nghiên cứu): là những cán bộ có trình độ cao đẳng, đại học, thạc sĩ và tiến sĩ tham gia vào quá trình tạo ra tri thức, sản phẩm và quá trình mới, tạo ra phương pháp và hệ thống mới.

      – Nhân viên kỹ thuật và tương đương: gồm những người thực hiện các nhiệm vụ đòi hỏi phải có kinh nghiệm và hiểu biết kỹ thuật thuộc một trong những lĩnh vực KH&CN. Họ tham gia vào NC&PT bằng việc thực hiện những nhiệm vụ khoa học và kỹ thuật có áp dụng những khái niệm và phương pháp vận hành dưới sự giám sát của cán bộ nghiên cứu.

      Theo số liệu thống kê từ điều tra NC&PT năm 2014 do Bộ Khoa học và Công nghệ thực hiện, tổng số nhân lực tham gia hoạt động NC&PT năm 2013 trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh là 15.609 người, trong đó:

       – Cán bộ nghiên cứu (trình độ cao đẳng, đại học trở lên): 12.673 người;

       – Cán bộ kỹ thuật: 844 người;

       – Cán bộ hỗ trợ: 1.664 người;

       – Người làm chức năng khác: 428 người;

       Trong số 12.673 cán bộ nghiên cứu có 1.940 người có trình độ tiến sĩ, 5.324 người có trình độ thạc sĩ, 5.140 người có trình độ đại học (Bảng 3.8).

Bảng 3.8 Cán bộ nghiên cứu năm 2013 theo trình độ

Nguồn: Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia, Dữ liệu điều tra NC&PT năm 2014

Xem toàn văn: 3.2 NGUỒN NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

3.3. TÀI CHÍNH CHO HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

       Nguồn tài chính cho KH&CN được cấu thành từ các nguồn: ngân sách nhà nước, đầu tư của doanh nghiệp, vốn của nước ngoài.

3.3.1. Đầu tư cho khoa học và công nghệ tại Thành phố Hồ Chí Minh từ ngân sách nhà nước

3.3.1.1. Tổng đầu tư cho khoa học và công nghệ tại Thành phố Hồ Chí Minh từ ngân sách nhà nước

       Mức đầu tư cho KH&CN từ ngân sách của thành phố từ năm 2011 – 2012 chiếm chưa đến 2% tổng chi ngân sách địa phương. Tuy nhiên từ năm 2013 trở đi, Luật Khoa học và công nghệ quy định Nhà nước đảm bảo chi cho KH&CN từ 2% trở lên trong tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm và tăng dần theo yêu cầu phát triển của sự nghiệp KH&CN2. Do đó, trong 3 năm, từ 2013 – 2015, mức chi cho KH&CN của thành phố luôn trên 2%, cao nhất là năm 2014 với 4,16% tổng chi cân đối ngân sách địa phương (tương đương 1.746/41.979 tỷ đồng) (Bảng 3.9).

Bảng 3.9 Đầu tư từ ngân sách địa phương cho hoạt động KH&CN của Thành phố Hồ Chí Minh

Đơn vị tính: triệu đồng

Nguồn: Sở Tài chính thành phố Hồ Chí Minh

Ghi chú:

       – Số liệu từ năm 2011-2014: số thực hiện; Số liệu năm 2015: số dự toán;

       – Số tổng chi cân đối ngân sách địa phương năm 2014 và năm 2015 có bao gồm chi từ nguồn bổ sung có mục tiêu của ngân sách trung ương;

       Tổng mức đầu tư của thành phố trong 5 năm (giai đoạn 2011 – 2015) cho KH&CN là 5.783,51 tỷ đồng, chiếm 2,24% tổng chi cân đối ngân sách địa phương. Mức chi cho KH&CN trong 03 năm gần đây đã lên đến hơn nghìn tỷ, điều này cho thấy sự đầu tư cho KH&CN của thành phố ngày càng được chú trọng.

Hình 3.1 Ngân sách thành phố đầu tư cho KH&CN từ năm 2011-2015

       Cơ cấu chi NSNN cho KH&CN bao gồm: chi đầu tư phát triển KH&CN và chi hoạt động sự nghiệp KH&CN.

       Trong giai đoạn 2011 – 2015, Thành phố chú trọng cho đầu tư phát triển KH&CN, mức đầu tư luôn trên 70% tổng ngân sách cho KH&CN. Năm 2014, 86% chi ngân sách cho KH&CN được sử dụng để đầu tư phát triển KH&CN (1.502,375/1.746,485 tỷ đồng), cao nhất trong 5 năm gần đây. Xem xét tổng mức kinh phí cho đầu tư phát triển và hoạt động sự nghiệp KH&CN trong cả giai đoạn 2011 – 2015, Thành phố đã chi 4.628,276 tỷ đồng (chiếm 80% tổng chi cho KH&CN) để đầu tư phát triển KH&CN và 1.155,234 tỷ đồng (chiếm 20% tổng chi cho KH&CN) để sử dụng cho hoạt động sự nghiệp KH&CN (Bảng 3.10 và Hình 3.2).

Bảng 3.10 Cơ cấu chi cho KH&CN từ ngân sách thành phố

Nguồn: Sở Tài chính thành phố Hồ Chí Minh

Ghi chú: số liệu từ năm 2011-2014: số thực hiện; số liệu năm 2015: số dự toán.

Hình 3.2 Cơ cấu kinh phí từ ngân sách địa phương cho KH&CN.

3.3.1.2. Kinh phí đầu tư phát triển

       Tỷ lệ chi đầu tư phát triển KH&CN trên tổng chi đầu tư phát triển của Thành phố Hồ Chí Minh tăng dần từ năm 2011, cao nhất là vào năm 2014, đạt bình quân 4,59% tính cho cả giai đoạn 2011-2015 (Bảng 3.11).

Bảng 3.11 Tỷ lệ chi đầu tư phát triển KH&CN trên tổng chi đầu tư phát triển của thành phố Hồ Chí Minh

Nguồn: Sở Tài chính thành phố Hồ Chí Minh

Ghi chú: số liệu từ năm 2011-2014: số thực hiện; số liệu năm 2015: số dự toán.

3.3.1.3. Kinh phí sự nghiệp khoa học và công nghệ

       Chi hoạt động sự nghiệp KH&CN trên tổng chi hoạt động thường xuyên của thành phố Hồ Chí Minh tăng dần từ năm 2011 và cao nhất vào năm 2015. Tỷ lệ bình quân cho cả giai đoạn 2011- 2015 đạt 0,88% (Bảng 3.12).

Bảng 3.12 Tỷ lệ chi hoạt động sự nghiệp KH&CN trên tổng chi hoạt động thường xuyên của thành phố Hồ Chí Minh

Nguồn: Sở Tài chính thành phố Hồ Chí Minh

Ghi chú: số liệu từ năm 2011-2014: số thực hiện; số liệu năm 2015: số dự toán.

3.3.2. Đầu tư của doanh nghiệp cho khoa học và công nghệ

       Các doanh nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh cũng đã dành khoản kinh phí đáng kể để đầu tư cho hoạt động KH&CN của doanh nghiệp. Kinh phí đầu tư cho KH&CN của doanh nghiệp được chia thành hai nhóm: chi phí cho thực hiện nhiệm vụ KH&CN và chi phí cho đổi mới công nghệ*

       Số liệu từ cuộc điều tra nghiên cứu và phát triển năm 2014 (khu vực doanh nghiệp do Tổng cục Thống kê thực hiện) cho thấy trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh năm 2013, doanh nghiệp đầu tư cho KH&CN với tổng kinh phí đạt 585,87 tỷ đồng. Trong đó, kinh phí chi cho thực hiện nhiệm vụ KH&CN là 69,134 tỷ đồng (chiếm 11,8%) và cho đổi mới công nghệ là 516,736 tỷ đồng (chiếm 88,2%) (Bảng 3.13).

Bảng 3.13 Đầu tư của doanh nghiệp cho KH&CN trên địa bàn TP. HCM

Nguồn: Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia, Dữ liệu điều tra NC&PT năm 2014.

3.3.3. Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của Thành phố Hồ Chí Minh

       Quỹ phát triển Khoa học và Công nghệ thành phố Hồ Chí Minh được thành lập theo Quyết định số 76/2007/QĐ-UBND ngày 16/5/2007 của Ủy ban nhân dân thành phố.

       Mục đích hoạt động nhằm hỗ trợ triển khai ứng dụng các kết quả nghiên cứu trong nước, các kết quả nghiên cứu có triển vọng thành sản phẩm có tiềm năng thương mại. Thúc đẩy ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, chuyển giao công nghệ, đổi mới và nâng cao trình độ công nghệ. Bảo toàn vốn, bù đắp chi phí và không vì mục đích lợi nhuận.

       Đối tượng áp dụng:

       a/ Các công trình đã được cấp bằng sáng chế hoặc giải pháp hữu ích;

       b/ Các dự án tạo ra công nghệ mới thuộc những ngành mà Thành phố ưu tiên do doanh nghiệp thực hiện hoặc phối hợp với các tổ chức KH&CN thực hiện và chưa hưởng kinh phí từ ngân sách nhà nước;

       c/ Các dự án nhằm mục đích thương mại hóa các công trình nghiên cứu khoa học đoạt giải thưởng tại các hội thi sáng tạo khoa học kỹ thuật thành phố và quốc gia;

       d/ Các dự án của doanh nghiệp công nghệ được tạo dựng từ các vườn ươm công nghệ trên địa bàn thành phố.

       Các đối tượng được vay vốn:

       a/ Các dự án sản xuất thử nghiệm nhằm triển khai ứng dụng kết quả nghiên cứu có triển vọng, hiệu quả kinh tế thuộc các đề tài nghiên cứu khoa học đã được nghiệm thu của các viện nghiên cứu, các trường đại học, các đơn vị khoa học và các doanh nghiệp;

       b/ Các dự án sản xuất thử nghiệm nhằm hoàn thiện công nghệ chế tạo thiết bị hiện đại với chi phí thấp thay thế nhập khẩu của chương trình chế tạo thiết bị từ nghiên cứu trong nước đã qua giai đoạn sản xuất máy mẫu;

       c/ Chuyển giao công nghệ để đổi mới công nghệ, tạo ra sản phẩm mới có chất lượng cao hơn.

       Điều kiện cho vay: tổ chức, cá nhân không phân biệt thành phần kinh tế trên địa bàn thành phố vay vốn để thực hiện các dự án không cần tài sản thế chấp mà căn cứ vào năng lực công nghệ, nghiên cứu ứng dụng và hợp đồng sản phẩm sẵn có phải có dự án khả thi, đảm bảo khả năng hoàn trả nợ vay và lãi vay qua kết quả thẩm định của Hội đồng thẩm định của Quỹ đánh giá có tính khả thi cao.

       Các dự án vay từ Quỹ không được trùng lắp với các dự án đã và đang thực hiện bằng nguồn vốn khác của Nhà nước. Chủ đầu tư dự án phải có khả năng tài chính đảm bảo thực hiện được tối thiểu 30% giá trị dự toán được Hội đồng thẩm định phê duyệt. Mức cho vay tối đa là 70% giá trị dự toán. Ngoài các điều kiện trên, bên đi vay được giải quyết cho vay khi có một trong các yếu tố sau:

       – Dự án thuộc 04 ngành công nghiệp ưu tiên phát triển của Thành phố;

       – Dự án nằm trong chương trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế thành phố.

Xem toàn văn: 3.3 TÀI CHÍNH CHO HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

3.4. CƠ SỞ HẠ TẦNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CỦA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

3.4.1. Các phòng thí nghiệm trọng điểm trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

       Cả nước có 16 phòng thí nghiệm trọng điểm (PTNTĐ) quốc gia đặt tại 13 viện nghiên cứu, 3 trường đại học thuộc 8 bộ, ngành và 1 tổng công ty, tập trung trong 7 lĩnh vực KH&CN gồm: công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, công nghệ vật liệu, cơ khí – tự động hóa, hóa dầu, năng lượng, hạ tầng. Trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh có 3 PTNTĐ. Đó là Phòng Thí nghiệm Trọng điểm phía Nam về công nghệ tế bào thực vật thuộc Viện Sinh học nhiệt đới, 2 PTNTĐ thuộc Ðại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh là Phòng Thí nghiệm Trọng điểm Quốc gia Vật liệu polyme và compozit, và Phòng Thí nghiệm Trọng điểm Quốc gia Điều khiển số và Kỹ thuật hệ thống.

       Phòng Thí nghiệm Trọng điểm phía Nam về công nghệ tế bào thực vật chính thức hoạt động từ tháng 6/2008. Tổng diện tích sửa chữa, cải tạo và xây mới là 2.882 m2. Tổng giá trị đầu tư trang thiết bị, máy móc là 47.640 triệu đồng bao gồm hơn 1.000 thiết bị và phụ tùng thuộc 400 đầu máy; hơn 15.000 phụ kiện các loại, trong đó thiết bị có giá trị lớn nhất khoảng 1,6 tỷ đồng và thiết bị có giá trị nhỏ nhất khoảng 1,1 triệu đồng. Được đầu tư các trang thiết bị chuyên dụng/đặc thù và thiết bị phụ trợ đảm bảo yêu cầu nên đã phục vụ tốt cho các nghiên cứu với hàm lượng KH&CN cao và công tác triển khai ứng dụng, đào tạo nhân lực nhằm phát triển tiềm lực KH&CN. Tuy nhiên, với yêu cầu phát triển KH&CN hiện nay, cần thiết phải nâng cấp, thay thế bổ sung và tăng cường các thiết bị mới, hiện đại để có thể đảm trách tốt hơn cho hoạt động nghiên cứu và thực hiện các nhiệm vụ hợp tác về KH&CN trong tương lai.

(Còn tiếp …)

       Phòng Thí nghiệm Trọng điểm Quốc gia Vật liệu polyme và compozit được thành lập theo quyết định số 1027/QĐ/ĐHQG/TCCB ngày 12/12/2003 của Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh có chức năng nghiên cứu, phát triển và ứng dụng các loại vật liệu mới trong ngành vật liệu polyme và compozit; mục tiêu là trở thành phòng thí nghiệm hàng đầu Việt Nam, có uy tín trong khu vực về lĩnh vực vật liệu polyme và compozit.

(Còn tiếp …)

       Phòng Thí nghiệm Trọng điểm Quốc gia Điều khiển số và Kỹ thuật hệ thống được thành lập theo Quyết định số 590/QĐ/ÐHQG/TCCB của Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh ngày 04/08/2003. Mục tiêu của Phòng Thí nghiệm Trọng điểm Quốc gia Điều khiển số và Kỹ thuật hệ thống là tạo ra các công trình nghiên cứu có tính mới, tính sáng tạo, tiếp cận hoặc đạt trình độ quốc tế, được công bố trên các tạp chí, ấn phẩm KH&CN có uy tín trên thế giới; các sáng chế, sản phẩm KH&CN được cấp văn bằng bảo hộ sở hữu trí tuệ, có khả năng thương mại hóa, góp phần nâng cao năng lực, trình độ công nghệ trong nước; hình thành nguồn nhân lực KH&CN đủ mạnh, đủ năng lực giải quyết các nhiệm vụ KH&CN quốc gia ở trình độ quốc tế; ươm tạo và phát triển các doanh nghiệp KH&CN đáp ứng hiệu quả nhu cầu của các ngành công nghiệp và cộng đồng.

(Còn tiếp …)

3.4.2. Các khu công nghệ cao của Thành phố Hồ Chí Minh

       Xây dựng các khu công nghệ cao được coi là một trong những giải pháp đột phá nhằm nâng cao năng lực công nghệ nội sinh của quốc gia, giúp Việt Nam nhanh chóng rút ngắn khoảng cách về kinh tế và KH&CN với các nước trong khu vực và thế giới, đồng thời làm đòn bẩy góp phần phát triển kinh tế và đưa đất nước hội nhập hiệu quả vào nền kinh tế toàn cầu. Khu Công nghệ cao thành phố Hồ Chí Minh là một trong ba khu công nghệ cao quốc gia ở Việt Nam (phía Bắc có Khu Công nghệ cao Hòa Lạc, miền Trung có Khu Công nghệ cao Đà Nẵng). Ngoài ra, Thành phố Hồ Chí Minh còn có các khu công nghệ thông tin tập trung và Khu Nông nghiệp Công nghệ cao.

3.4.2.1. Khu Công nghệ cao thành phố Hồ Chí Minh

       Khu Công nghệ cao thành phố Hồ Chí Minh (SHTP) được thành lập từ năm 2004 với tổng diện tích 913 ha, bao gồm 2 giai đoạn (giai đoạn 1: 300 ha, giai đoạn 2: 613 ha). Sau 13 năm thành lập, xây dựng và phát triển, với chiến lược ban đầu là “xây dựng một đô thị KH&CN có vai trò thúc đẩy mạnh mẽ nền tảng kinh tế, công nghệ tri thức của Thành phố và khu vực kinh tế động lực phía Nam, thực hiện một mô hình sáng tạo công nghệ, phát triển vốn tri thức và nền kinh tế sáng tạo ở Việt Nam”, SHTP đã thực sự trưởng thành và phát triển mạnh mẽ.

       Với vị thế chiến lược, cách trung tâm thành phố 15 km, nằm giữa 43 khu công nghiệp, khu chế xuất của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, gần kề Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, SHTP có lợi thế phát triển để trở thành “một thành phố khoa học công nghệ”. Trong 2 năm đầu tiên (2004 – 2006), SHTP có 2 trung tâm chính, đó là Trung tâm Nghiên cứu và Triển khai, và Trung tâm Đào tạo. Trong giai đoạn này, Nidec của Nhật Bản là tập đoàn đầu tiên đã được cấp giấy chứng nhận đầu tư.

       Giai đoạn 2006 đến 2008, SHTP là 1 trong 5 dự án kinh tế trọng điểm của Thành phố giai đoạn 2006 – 2010. Đặc biệt, Ban quản lý SHTP đã cấp giấy chứng nhận đầu tư cho Tập đoàn Intel với số vốn đầu tư lên đến 1 tỷ đô. Cũng trong thời gian này, Vườn ươm Doanh nghiệp Công nghệ cao đã được thành lập.

       Giai đoạn 2008 – 2010, SHTP đã khai trương 3 phòng thí nghiệm trọng điểm của Trung tâm Nghiên cứu và Triển khai, đó là: Phòng Thí nghiệm Cơ khí chính xác và Tự động hóa, Phòng Thí nghiệm Bán dẫn và Phòng Thí nghiệm Công nghệ nano.

       Giai đoạn 2010 – 2012 được xem là giai đoạn phát triển mạnh mẽ của SHTP. Giai đoạn này đã khánh thành phân khu sản xuất công nghệ cao giai đoạn 1 và khởi động tiếp sang giai đoạn 2. SHTP tiếp tục được chọn là một trong năm chương trình kinh tế trọng điểm của Thành phố giai đoạn 2011 – 2016. Bên cạnh đó, SHTP đã khánh thành nhà máy sản xuất của Tập toàn Intel, cấp giấy chứng nhận đầu tư cho Tập đoàn Sanofi, cấp giấy chứng nhận đầu tư cho tập đoàn điện tử hàng đầu thế giới SamSung. Với những nỗ lực không ngừng vươn lên phát triển mạnh mẽ, SHTP đã được Nhà nước trao tặng Huân chương Lao động hạng Ba.

(Còn tiếp …)

3.4.2.2. Khu công nghệ thông tin tập trung

       a/ Công viên Phần mềm Quang Trung

       Công viên Phần mềm Quang Trung (QTSC) là một trong các công trình kinh tế trọng điểm của Thành phố Hồ Chí Minh, được xây dựng nhằm thúc đẩy sự nghiệp phát triển công nghệ thông tin (CNTT) của đất nước và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Thành phố trong thời kỳ hội nhập. Tháng 4/2015, QTSC đã được Tổ chức Kỷ lục Việt Nam bình chọn là một trong 10 công trình – sự kiện tạo dấu ấn của Thành phố 40 năm qua (1975 – 2015).

       Sau hơn 15 năm hình thành và phát triển, đến nay đã có 140 doanh nghiệp CNTT đang hoạt động (91 trong nước và 49 nước ngoài) và 33 nhà đầu tư đã và đang hoàn thiện các công trình xây dựng phục vụ cho các hoạt động sinh hoạt nội khu. QTSC đã thực sự trở thành điểm thu hút đầu tư, tìm kiếm cơ hội hợp tác phát triển trong ngành CNTT với những tên tuổi lớn trong và ngoài nước đang hoạt động như HP, KDDI, SPS, TMA, Global CyberSoft, Vina Data… với 20.155 người đang học tập và làm việc. Các doanh nghiệp đã xây dựng và cung cấp hơn 250 sản phẩm, dịch vụ và giải pháp thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, chủ yếu được xuất khẩu trên 20 quốc gia, tập trung vào Hoa Kỳ, Nhật Bản, châu Âu. Tính đến nay, QTSC là công viên phần mềm đầu tiên tại Việt Nam nhận được Giấy chứng nhận Khu Công nghệ thông tin tập trung do Bộ Thông tin và Truyền thông cấp. Đặc biệt, nhân dịp kỷ niệm 15 năm hình thành và phát triển, QTSC đã vinh dự đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhất.

(Còn tiếp …)

       b/ Khu Công nghệ Phần mềm Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh

       Khu Công nghệ Phần mềm Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh (Khu CNPM) là đơn vị trực thuộc Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh (ĐHQG-HCM) được thành lập theo Quyết định số 157/QĐ/ĐHQG/TCCB ngày 2/5/2003 của Giám đốc ĐHQG-HCM nhằm tạo môi trường thuận lợi giúp tăng cường sự gắn kết giữa đào tạo, nghiên cứu và kinh doanh trong lĩnh vực công nghệ phần mềm nói riêng và lĩnh vực CNTT và truyền thông nói chung. Khu CNPM là mô hình khu công viên khoa học chuyên đề về lĩnh vực CNTT tập trung nằm trong đại học đầu tiên và duy nhất tại Việt Nam.

       Tổng diện tích đất xây dựng Khu CNPM là 19,27 ha, bao gồm hai khu: Khu I rộng 8,14 ha nằm trên mặt tiền Đường Xuyên Á có tổng mức đầu tư cho hạ tầng là 316 tỷ. Khu II rộng 11,13 ha nằm trên mặt tiền Xa lộ Hà Nội, đối diện Suối Tiên có tổng mức đầu tư cho hạ tầng là 2.146 tỷ tương ứng diện tích sàn là 199.370 m2. Đặc biệt, trạm dừng Metro Suối Tiên kết nối trực tiếp vào Khu II của Khu CMPM.

(Còn tiếp …)

       c/ E-Town

       Tính đến năm 2015, Công ty TNHH Quản lý và Khai thác Bất động sản R.E.E là công ty thành viên trực thuộc REE, có vốn điều lệ 6 tỷ VNĐ, tỷ lệ sở hữu 100% quản lý, khai thác cụm E-Town với tổng diện tích đất là 35.000 m2 gồm 7 tòa nhà E-Town, E-Town EW, E-Town2, E- E-Town3, E-Town4, trụ sở REE và khu thể thao liên hợp E-Town, diện tích văn phòng là 80.000 m2. Về hạ tầng kỹ thuật, các tòa nhà được trang bị hạ tầng mạng tốc độ cao, liên kết giữa các tòa nhà trong khu vực E-Town an toàn và bảo mật; hạ tầng cáp viễn thông, cáp quang sẵn sàng và dễ dàng nâng cấp, lắp đặt mới tới khắp các khu vực văn phòng; phủ sóng di động (nội mạng) tới tất cả các tòa nhà, liên kết với các nhà mạng di động lớn như Vinaphone, Mobifone, Viettel;…

       Được đánh giá là khu cao ốc văn phòng hiệu quả của Thành phố, với hơn 200 khách thuê là các công ty nổi tiếng trong và ngoài nước chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực CNTT như: Atlas Industries (Vietnam) Co., Ascenx Technologies Vietnam Co., Ltd, Branch of Panasonic Vietnam Co., Ltd. In HCMC, Bureau Veritas (VN) Co., Ltd, CSC Vietnam Co., Ltd, Cybozu Vietnam Co., Ltd, Digital Works Vietnam Co., Ltd, DOU Holdings Networks VN Co., Ltd, Ericsson Vietnam Co., Ltd, eSilicon Vietnam JSC, Harvey Nash (Vietnam) Co., Ltd, HCS Co., Ltd, … hơn 12.000 người làm việc hàng ngày.

3.4.2.3. Khu Nông nghiệp Công nghệ cao thành phố Hồ Chí Minh

       Khu Nông nghiệp Công nghệ cao thành phố Hồ Chí Minh (gọi tắt là Khu NNCNC) được thành lập vào ngày 14/07/2004, chính thức đi vào hoạt động từ tháng 04/2010 với diện tích 88,17 ha tại xã Phạm Văn Cội, huyện Củ Chi, cách trung tâm thành phố 44 km về phía Tây Bắc, nằm trên tuyến đường đi địa đạo Củ Chi thuận tiện giao thông đi các tỉnh các tỉnh thành lân cận như: Tây Ninh, Long An, Bình Dương.

       Là nơi tập trung các nguồn lực, năng lực KH&CN cao trong nông nghiệp theo hướng nền nông nghiệp đô thị của Thành phố, Khu NNCNC là nơi ươm tạo công nghệ mới, kết hợp nghiên cứu với sản xuất kinh doanh, tiếp thu, chuyển giao, thương mại hóa công nghệ nông nghiệp; đồng thời ươm tạo doanh nghiệp công nghệ, hỗ trợ kinh tế hộ, kinh tế trang trại; gây dựng tiềm lực về công nghệ cao trong lĩnh vực nông nghiệp cho vùng Đông Nam bộ và Nam Bộ, cũng như cả nước; thúc đẩy công nghiệp hóa – hiện đại hóa nông nghiệp – nông thôn.

3.4.2.4. Cơ sở ươm tạo công nghệ

       Các chương trình hỗ trợ tích cực của Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo nên sức sống mới cho hoạt động ươm tạo doanh nghiệp công nghệ tại Thành phố. Các vườn ươm đã xây dựng khá hoàn thiện về hạ tầng, quy trình ươm tạo và chiến lược hoạt động, tạo tiền đề cho sự phát triển các doanh nghiệp công nghệ trong tương lai.

       a/ Công ty TNHH Ươm tạo Doanh nghiệp Phần mềm Quang Trung

       Công ty TNHH Ươm tạo Doanh nghiệp Phần mềm Quang Trung (gọi tắt là QTSC Incubator) được thành lập ngày 26/05/2005 và đi vào hoạt động từ tháng 03/2008, dưới hình thức phi lợi nhuận. QTSC Incubator được sự hỗ trợ về tài chính và kỹ thuật của Cộng đồng châu Âu (EU) và Chính phủ Việt Nam. QTSC Incubator có trụ sở tại Tòa nhà QTSC Incubator – Khu Công viên Phần mềm Quang Trung, phường Tân Chánh Hiệp, quận 12.

       Phương hướng hoạt động, mục tiêu và nhiệm vụ chiến lược của QTSC Incubator là xây dựng một trung tâm ươm tạo chất lượng cao nhằm hỗ trợ và nuôi dưỡng các doanh nghiệp phần mềm, CNTT vượt qua những khó khăn, rủi ro, thách thức trong giai đoạn đầu khởi nghiệp, nhằm góp phần thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp phần mềm thành ngành công nghiệp mũi nhọn phát triển bền vững và tăng trưởng cao về kinh tế, tạo ra nhiều việc làm mới, xây dựng thương hiệu CNTT quốc gia.

(Còn tiếp …)

       b/ Trung tâm Ươm tạo Doanh nghiệp Công nghệ – Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh

       Trung tâm Ươm tạo Doanh nghiệp Công nghệ – Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh, gọi tắt là CTBI-NLU, nằm trên đường số 3 thuộc khuôn viên Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh với tổng diện tích 170 m2, có 8 phòng cho các doanh nghiệp ươm tạo làm việc và 1 văn phòng trung tâm, một phòng họp từ 20-50 người với thiết bị chuyên dùng cho hội họp, tất cả đều có đường truyền internet tốc độ cao.

       CTBI-NLU chính thức đi vào hoạt động ngày 01/7/2008 (theo quyết định số 167/QĐ-ĐHNL) với mục đích phát triển và thương mại hóa các ý tưởng công nghệ thành các doanh nghiệp lớn mạnh đóng góp cho sự phát triển kinh tế – xã hội, cũng như phát triển đào tạo, nghiên cứu khoa học của Trường. Đây là một trong những chương trình hỗ trợ phát triển không lợi nhuận của Sở khoa học và Công nghệ thành phố Hồ Chí Minh nhằm mục đích tư vấn phát triển doanh nghiệp, cung cấp các dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp; và các điều kiện cần thiết khác nhằm hoàn thiện môi trường ươm tạo doanh nghiệp công nghệ trong trường đại học. Ưu tiên ươm tạo tất cả các doanh nghiệp công nghệ thuộc các lĩnh vực là thế mạnh đào tạo và cứu nghiên của Trường như nông – lâm – ngư nghiệp, công nghệ sinh học, chăn nuôi, chế biến nông sản thực phẩm, cơ khí – tự động hóa, công nghệ thông tin, sản xuất – thử nghiệm từ kết quả nghiên cứu.

(Còn tiếp …)

       c/ Trung tâm Ươm tạo Doanh nghiệp Công nghệ – Trường Đại học Bách Khoa thành phố Hồ Chí Minh

       Trung tâm Ươm tạo Doanh nghiệp Công nghệ – Trường Đại học Bách Khoa thành phố Hồ Chí Minh, gọi tắt là HCMUT-TBI, là một tổ chức KH&CN hoạt động theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP do Trường Đại học Bách khoa – Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh quản lý.

(Còn tiếp …)

       d/ Vườn ươm Doanh nghiệp Công nghệ cao

       Vườn ươm Doanh nghiệp Công nghệ cao (SHTP-IC) trực thuộc Ban Quản lý Khu Công nghệ cao thành phố Hồ Chí Minh (SHTP), với nhiệm vụ: “tổ chức và triển khai các hoạt động hỗ trợ cho các tổ chức, cá nhân có ý tưởng khoa học công nghệ, kết quả nghiên cứu khoa học công nghệ thực hiện việc hoàn thiện công nghệ, chế thử sản phẩm và thành lập doanh nghiệp sản xuất sản phẩm công nghệ cao”.

       Trong 10 năm hoạt động (từ tháng 8/2006), SHTP-IC ưu tiên ươm tạo 4 lĩnh vực chính: công nghệ thông tin – viễn thông, cơ khí chính xác – tự động hóa, công nghệ sinh học, vật liệu mới, công nghệ nano.

       Hiện tại, SHTP-IC thực hiện ươm tạo thông qua 2 chương trình là “Chương trình ươm tạo” trong thời gian tối đa 3 năm giúp doanh nghiệp phát triển trong giai đoạn khởi sự và “Chương trình hậu ươm tạo” tiếp tục hỗ trợ các doanh nghiệp đã vững mạnh và tốt nghiệp tiếp tục tăng trưởng. Để các doanh nghiệp tham gia thuận lợi và hoạt động hiệu quả, SHTP-IC đã thực hiện nhiều chính sách hỗ trợ từ tư vấn, đào tạo, bồi dưỡng, kinh phí nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, văn phòng làm việc, chi phí thuê máy móc, thiết bị, đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, đến các hoạt động nghiên cứu làm chủ công nghệ, mua vật tư, nguyên liệu, nhiên liệu sử dụng trong quá trình thực hiện nghiên cứu thí nghiệm, khảo nghiệm tại các cơ sở sản xuất thử nghiệm của SHTP-IC.

(Còn tiếp …)

       e/ Trung tâm Ươm tạo Doanh nghiệp Nông nghiệp Công nghệ cao

       Trung tâm Ươm tạo Doanh nghiệp Nông nghiệp Công nghệ cao trực thuộc Ban Quản lý Khu Nông nghiệp Công nghệ cao, được thành lập theo Quyết định số 4615/QĐ-UBND ngày 05/10/2009 của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, nhằm khuyến khích và hỗ trợ các tổ chức, cá nhân hình thành và phát triển doanh nghiệp thuộc lĩnh vực nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.

       Hiện tại Trung tâm Ươm tạo Doanh nghiệp Nông nghiệp Công nghệ cao có 7 lĩnh vực ươm tạo chính gồm: công nghệ sinh học nông nghiệp; chọn tạo giống cây trồng; chế phẩm sinh học phục vụ nông nghiệp; bảo quản và chế biến nông sản; nuôi trồng nấm, cây dược liệu; canh tác trong nhà màng không sử dụng đất; hoa, cây cảnh, cá cảnh…

(Còn tiếp …)

       f/ Trung tâm Hỗ trợ Thanh niên Khởi nghiệp

       Trung tâm Hỗ trợ Thanh niên Khởi nghiệp (gọi tắt là BSSC) được thành lập theo Quyết định số 4532/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, ngày 13/10/2010 về tổ chức lại Trung tâm Thông tin Tư vấn Kinh tế Thanh niên thành Trung tâm Hỗ trợ Thanh niên Khởi nghiệp trực thuộc Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam – Thành phố Hồ Chí Minh, với sứ mệnh giúp thanh niên thực hiện ước mơ kinh doanh, khởi nghiệp sáng tạo.

(Còn tiếp …)

Xem toàn văn: 3.4 CƠ SỞ HẠ TẦNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CỦA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

3.5. NGUỒN LỰC THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

       Nguồn lực thông tin KH&CN tại thành phố Hồ Chí Minh chủ yếu được lưu trữ, khai thác tại các hệ thống thư viện tổng hợp, hệ thống thư viện chuyên ngành và hệ thống thư viện các trường đại học

3.5.1. Hệ thống thư viện tổng hợp

       Trong hệ thống thư việc tổng hợp, đáng kể nhất là Thư viện Khoa học Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh.

       Thư viện Khoa học Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh tiền thân là thư viện của các đô đốc – thống đốc, được thành lập vào năm 1868. Trước năm 1975 có tên gọi Thư viện Quốc gia của miền Nam Việt Nam. Thư viện có diện tích 7.070 m2, địa chỉ: 69 Lý Tự Trọng, phường Bến Thành, quận 1.

(Còn tiếp …)

3.5.2. Hệ thống thư viện chuyên ngành

3.5.2.1. Thư viện Trung tâm Thông tin và Thống kê Khoa học và Công nghệ thành phố Hồ Chí Minh

       Thư viện Trung tâm Thông tin và Thống kê Khoa học và Công nghệ thuộc Trung tâm Thông tin và Thống kê Khoa học và Công nghệ – Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Hồ Chí Minh, được thành lập từ năm 1983. Thư viện được đặt ở lầu 6 tòa nhà 79 Trương Định, quận 1. Với chức năng và nhiệm vụ xây dựng, tổ chức và khai thác thông tin đặc thù thuộc 4 lĩnh vực: nghiên cứu triển khai, sở hữu công nghiệp, thông tin công nghệ, tiêu chuẩn.

(Còn tiếp …)

3.5.2.2. Thư viện Khoa học xã hội

       Thư viện Khoa học xã hội thuộc Viện Phát triển bền vững vùng Nam Bộ được thành lập năm 1975 cùng với sự thành lập của Viện Khoa học Xã hội vùng Nam Bộ (trước đây là Viện Khoa học Xã hội Miền Nam) là thư viện chuyên ngành về khoa học xã hội, đối tượng phục vụ là các nhà nghiên cứu, giảng viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh và sinh viên các ngành khoa học xã hội và nhân văn.

(Còn tiếp …)

3.5.3. Hệ thống thư viện các trường đại học

       Các trường đại học đều có thư viện riêng, sau đây là thông tin về thư viện của một số trường đại học trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.

3.5.3.1. Thư viện Trung tâm – Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh

       Thư viện Trung tâm ĐHQG-HCM là một đơn vị hành chính sự nghiệp độc lập, trực thuộc Ban Giám đốc ĐHQG-HCM, là đầu mối tổ chức liên kết và chia sẻ nguồn tài nguyên thông tin trong hệ thống Thư viện ĐHQG-HCM. Thư viện Trung tâm được trang bị các phương tiện, hệ thống hỗ trợ kỹ thuật hiện đại, đáp ứng tốt yêu cầu độc giả. Cơ sở duy nhất của Thư viện nằm tọa lạc ở Khu Phố 6, Phường Linh Trung, Quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Còn tiếp …)

3.5.3.2. Thư viện Đại học Bách khoa thành phố Hồ Chí Minh

       Thư viện Đại học Bách khoa thành phố Hồ Chí Minh được thành lập năm 1977, trên cơ sở sát nhập 3 thư viện: Thư viện Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật Phú Thọ; Thư viện Bách khoa Trung cấp; Thư viện Cao đẳng Hóa học. Hiện nay, ngoài thư viện tại cơ sở 1 (nhà A2 – 268 Lý Thường Kiệt), còn có thư viện tại cơ sở 2 (nhà H1 – Dĩ An, Bình Dương) và thư viện ký túc xá (497 Hòa Hảo) hoạt động phục vụ bạn đọc. Đối tượng phục vụ của thư viện chủ yếu là: sinh viên, học viên, giảng viên đã đăng ký và được cấp quyền sử dụng tại bộ phận quản lý bạn đọc của Thư viện Bách khoa.

(Còn tiếp …)

3.5.3.3. Thư viện Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh

       Thư viện Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh có lịch sử 60 năm. Tiền thân là thư viện Đại học Văn khoa Sài Gòn (thành lập năm 1955), phục vụ cho công tác đào tạo 7 ngành: văn chương Việt Nam, Hán Nôm, lịch sử, địa lý, triết học, Anh văn, Pháp văn. Từ năm 1997 đến nay, thư viện phục vụ theo hướng mở, tiến hành tin học hóa thư viện nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho giảng viên, nghiên cứu sinh, sinh viên tiếp cận dễ dàng nguồn lực thông tin của Thư viện.

(Còn tiếp …)

3.5.3.4. Trung tâm Thông tin – Thư viện Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh

       Trung tâm Thông tin – Thư viện Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh với mục tiêu tổ chức, khai thác, lưu trữ và cung cấp thông tin tư liệu các lĩnh vực khoa học, công nghệ, kinh tế, xã hội, nhân văn…phục vụ công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học của hơn 1.300 cán bộ, giảng viên và trên 70.000 sinh viên các hệ cao đẳng, đại học và sau đại học cho 03 cơ sở của Trường.

(Còn tiếp …)

3.5.3.5. Thư viện Đại học Tôn Đức Thắng

       Thư viện Đại học Tôn Đức Thắng có chức năng đảm bảo cung cấp nguồn tài nguyên thông tin, dịch vụ và môi trường học thuật phục vụ học tập, giảng dạy, nghiên cứu khoa học và sáng tạo của học sinh, sinh viên, giảng viên của Trường.

       Thư viện tại lầu 8 và lầu 9 tòa nhà A, địa chỉ số 19, đường Nguyễn Hữu Thọ, phường Tân Phong, quận 7. Thư viện lầu 8: phục vụ sách đọc tại chỗ; Thư viện lầu 9: phục vụ sách cho mượn về, khóa luận/đồ án tốt nghiệp, luận văn tốt nghiệp, tài liệu sau đại học, báo – tạp chí và cung cấp phòng học nhóm.

(Còn tiếp …)

3.5.3.6. Thư viện Đại học Ngân hàng thành phố Hồ Chí Minh

       Thư viện Đại học Ngân hàng thành phố Hồ Chí Minh phục vụ hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học của Trường. Thư viện gồm 2 cơ sở: cơ sở Hàm Nghi – quận 1 và cơ sở Thủ Đức với nguồn tài nguyên chuyên sâu về lĩnh vực ngân hàng.

(Còn tiếp …)

3.5.3.7. Thư viện Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh

       Thư viện Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh được thành lập vào năm 1996, cơ sở chính của thư viện tại địa chỉ số 02 Nguyễn Tất Thành, quận 4. Thư viện có chức năng đảm bảo việc thu thập, lưu trữ và phổ biến, cung cấp tài liệu phục vụ giảng dạy, học tập, nghiên cứu của cán bộ và sinh viên trong và ngoài trường. Hỗ trợ khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên thông tin đáp ứng nhu cầu bạn đọc.

(Còn tiếp …)

Xem toàn văn: 3.5. NGUỒN LỰC THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CHƯƠNG 4: NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ

       Theo UNESCO, hoạt động NC&PT là hoạt động có tính hệ thống và sáng tạo được thực hiện nhằm làm tăng khối lượng tri thức, bao gồm tri thức của con người, văn hóa và xã hội, và sử dụng những tri thức này để tạo ra những ứng dụng mới1. Theo OECD và UNESCO, những yếu tố cơ bản để xác định hoạt động NC&PT bao gồm:

       – Tính sáng tạo;

       – Tính mới;

       – Sử dụng phương pháp khoa học;

       – Tạo ra những tri thức mới.

       và NC&PT được chia thành ba nhóm loại hình hoạt động:

       – Nghiên cứu cơ bản;

       – Nghiên cứu ứng dụng;

       – Phát triển thực nghiệm (được hiểu là phát triển công nghệ, bao gồm triển khai thực nghiệm và sản xuất thử nghiệm).

       Luật Khoa học và công nghệ Việt Nam năm 2013 đã xác định hoạt động NC&PT bao gồm:

       – Nghiên cứu khoa học là hoạt động khám phá, phát hiện, tìm hiểu bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn.

       – Nghiên cứu cơ bản là hoạt động nghiên cứu nhằm khám phá bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy.

       – Nghiên cứu ứng dụng là hoạt động nghiên cứu vận dụng kết quả nghiên cứu khoa học nhằm tạo ra công nghệ mới, đổi mới công nghệ phục vụ lợi ích của con người và xã hội.

       – Phát triển công nghệ là hoạt động sử dụng kết quả nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, thông qua việc triển khai thực nghiệm và sản xuất thử nghiệm để hoàn thiện công nghệ hiện có, tạo ra công nghệ mới.

       – Triển khai thực nghiệm là hoạt động ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ để tạo ra sản phẩm công nghệ mới ở dạng mẫu.

       – Sản xuất thử nghiệm là hoạt động ứng dụng kết quả triển khai thực nghiệm để sản xuất thử nhằm hoàn thiện công nghệ mới, sản phẩm mới trước khi đưa vào sản xuất và đời sống.

       Để thu thập số liệu thống kê về NC&PT, hầu hết các nền kinh tế trên thế giới đều thường xuyên tiến hành cuộc điều tra NC&PT quốc gia. Phương pháp luận điều tra NC&PT mà các nước áp dụng là phương pháp luận của OECD trình bày trong cẩm nang Frascati

4.1. MỘT SỐ CHỈ TIÊU THỐNG KÊ TỔNG HỢP VỀ NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN

        Số liệu thống kê NC&PT trên địa bàn TP. HCM trình bày trong cuốn sách này được trích xuất từ dữ liệu điều tra NC&PT năm 2014 của Bộ Khoa học và Công nghệ thực hiện đối với các tổ chức KH&CN (bao gồm các tổ chức NC&PT, các đại học, học viện, trường đại học), các đơn vị hành chính, sự nghiệp khác có hoạt động NC&PT trên địa bàn TP. HCM.

4.1.1. Điều tra nghiên cứu và phát triển năm 2014

       Triển khai Quyết định 144/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ3 kể từ năm 2012, Bộ Khoa học và Công nghệ đã tổ chức cuộc điều tra thống kê NC&PT quốc gia theo phương pháp luận của OECD với tần suất hai năm một lần. Cho đến thời điểm hiện tại, Bộ Khoa học và Công nghệ đã phối hợp với các tỉnh thành trong cả nước tiến hành ba cuộc điều tra quốc gia về NC&PT trong các năm 2012, 2014 và 2016.

       Kỳ công bố gần đây nhất là Điều tra NC&PT năm 2014. Những chỉ tiêu thu thập theo thời điểm được lấy thông tin theo số thực tế có đến 31/12/2013. Những chỉ tiêu thu thập theo thời kỳ được lấy thông tin trong vòng 01 năm, từ 01/01/2013 đến hết 31/12/2013.

       Mục tiêu tổng quát của cuộc điều tra NC&PT là thu thập thông tin về NC&PT của các tổ chức KH&CN (bao gồm các tổ chức NC&PT, các đại học, học viện, trường đại học), các doanh nghiệp chế tạo, các đơn vị hành chính sự nghiệp khác có hoạt động NC&PT để phục vụ đánh giá, xây dựng chính sách, chiến lược KH&CN.

       Mục tiêu cụ thể của cuộc điều tra là thu thập số liệu phục vụ việc xây dựng một số chỉ tiêu thống kê gồm:

       – Một số chỉ tiêu thống kê KH&CN trong Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia, bao gồm các chỉ tiêu: số người trong các tổ chức KH&CN; số đề tài, dự án, chương trình NC&PT; chi cho hoạt động KH&CN (phần chi cho NC&PT); chi cho đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp;

       – Một số chỉ tiêu thuộc Hệ thống chỉ tiêu thống kê ngành KH&CN, gồm các chỉ tiêu: số người làm NC&PT; chi quốc gia cho NC&PT; số đề tài/dự án NC&PT.

4.1.2. Một số chỉ tiêu thống kê tổng hợp

Bảng 4.1 Một số chỉ tiêu thống kê tổng hợp về KT-XH và NC&PT trên địa bàn TP. HCM và cả nước trong năm 2013

Ghi chú:

* Cục Thống kê TP. HCM – “Niên giám thống kê TP. HCM 2015”, Tổng Cục Thống kê – “Niên giám thống kê 2013”.

** Bộ Khoa học và Công nghệ – Trích từ dữ liệu điều tra NC&PT 2014 trên địa bàn TP. HCM.

Xem toàn văn: 4.1. MỘT SỐ CHỈ TIÊU THỐNG KÊ TỔNG HỢP VỀ NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN

4.2. NHÂN LỰC NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN TRÊN ĐỊA BÀN TP. HỒ CHÍ MINH

4.2.1. Tổng số nhân lực nghiên cứu và phát triển

       Theo kết quả trích xuất từ Điều tra NC&PT 2014 trên địa bàn TP. HCM cho thấy, trong năm 2013, trên địa bàn TP. HCM có 15.609 người tham gia hoạt động NC&PT (Bảng 4.2). Nếu chia theo chức năng làm việc, nhân lực NC&PT phân bổ như sau:

       – 12.673 cán bộ nghiên cứu (có trình độ cao đẳng, đại học trở lên);

       – 844 cán bộ kỹ thuật;

       – 1.664 cán bộ hỗ trợ;

       – 428 người làm chức năng khác.

Bảng 4.2 Nhân lực NC&PT chia theo thành phần kinh tế và chức năng làm việc

Hình 4.1 Cơ cấu tỷ lệ nhân lực NC&PT trên địa bàn TP. HCM trong năm 2013

       Cơ cấu tỷ lệ nhân lực NC&PT trên địa bàn TP. HCM trong năm 2013 cho thấy 81,2% là cán bộ nghiên cứu, 5,4% là cán bộ kỹ thuật và 10,7% là cán bộ hỗ trợ (Hình 4.1).

Hình 4.2 Biểu đồ phân bố nhân lực NC&PT theo thành phần kinh tế

       Xét theo thành phần kinh tế của tổ chức NC&PT trên địa bàn TP. HCM thì số nhân lực trong khu vực nhà nước là 15.217 người (chiếm đa số với 97,5% trên tổng số nhân lực NC&PT), khu vực ngoài nhà nước là 392 người (chiếm 2,5%). Điều này cho thấy hoạt động NC&PT vẫn còn đang được thực hiện chủ yếu bởi các đơn vị của Nhà nước (Bảng 4.2).

       Số liệu nhân lực NC&PT trên địa bàn TP. HCM so với cả nước được thể hiện trong bảng 4.3:

Bảng 4.3 Nhân lực NC&PT chia theo chức năng làm việc trên địa bàn TP. HCM và cả nước trong năm 2013

Nguồn:

* Bộ Khoa học và Công nghệ – Trích từ dữ liệu điều tra NC&PT 2014 trên địa bàn TP. HCM.

** Sách Khoa học và Công nghệ Việt Nam 2014.

       Dựa vào Bảng 4.3 và Hình 4.3, có thể thấy, nhân lực tham gia hoạt động NC&PT trên địa bàn TP. HCM chiếm 9,47% nhân lực NC&PT cả nước năm 2013. Trong đó, số cán bộ nghiên cứu (CBNC) trên địa bàn TP. HCM chiếm 9,8% số CBNC cả nước, số cán bộ hỗ trợ chiếm tỷ lệ 11% so với cả nước, số cán bộ kỹ thuật chiếm tỷ lệ 6,6% so với cả nước.

Hình 4.3 Biểu đồ nhân lực NC&PT theo chức năng làm việc trên địa bàn TP. HCM và cả nước trong năm 2013

(Còn tiếp …)

Xem toàn văn: 4.2. NHÂN LỰC NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN TRÊN ĐỊA BÀN TP. HỒ CHÍ MINH

4.3. CHI CHO NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

4.3.1. Tổng chi cho nghiên cứu và phát triển theo khu vực làm việc

4.3.1.1. Chi cho NC&PT theo khu vực làm việc và thành phần kinh tế

       Kết quả trích dữ liệu chi cho NC&PT trong năm 2013 của các đơn vị trên địa bàn TP. HCM theo khu vực làm việc và thành phần kinh tế được trình bày trong bảng sau:

Bảng 4.9 Chi cho NC&PT năm 2013 chia theo khu vực làm việc và thành phần kinh tế

       Tổng chi trên địa bàn TP. HCM cho hoạt động NC&PT trong năm 2013 là 803.781,3 triệu đồng, những đơn vị thuộc khu vực sở hữu nhà nước sử dụng 773.728,53 triệu đồng (chiếm 96,3%), khu vực ngoài nhà nước chỉ sử dụng 30.052,77 triệu đồng (chiếm 3,7%) (Bảng 4.9 và Hình 4.14).

Hình 4.14 Cơ cấu chi cho NC&PT trong năm 2013 trên địa bàn TP. HCM theo thành phần kinh tế và khu vực làm việc

       Tổng hợp số liệu điều tra cho thấy, trong năm 2013, các viện, trung tâm NC&PT là khu vực có nhiều chi tiêu cho NC&PT nhất (644.128,41 triệu đồng, chiếm 80,1% tổng chi trên địa bàn thành phố), kế đến là khu vực các trường đại học (123.155,52 triệu đồng, chiếm 15,3% tổng chi).

Hình 4.15 Chi cho NC&PT trong năm 2013 trên địa bàn TP. HCM theo khu vực làm việc (Đơn vị: triệu VNĐ)

Hình 4.16 Phân bổ chi phí NC&PT theo khu vực làm việc

       Khu vực các đơn vị sự nghiệp chiếm vị trí thứ ba với 21.398,8 triệu đồng, chiếm 2,7% tổng chi trên địa bàn TP. HCM cho NC&PT. Khu vực các cơ quan hành chính và các tổ chức KH&CN ngoài nhà nước chi cho NC&PT xấp xỉ nhau, lần lượt là 7.929 triệu đồng và 7.169,57 triệu đồng, chiếm khoảng 1% tổng chi.

(Còn tiếp …)

Xem toàn văn: 4.3. CHI CHO NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

4.4. NHIỆM VỤ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐANG TIẾN HÀNH TRONG NĂM 2015 VÀ 2016 CỦA TP. HỒ CHÍ MINH

       Kể từ năm 2015, TP. HCM đã triển khai thực hiện nhiệm vụ thu thập, đăng ký, lưu giữ và công bố thông tin về nhiệm vụ KH&CN theo Thông tư 14/2014/TT-BKHCN ngày 11 tháng 6 năm 2014 của Bộ Khoa học và Công nghệ.

4.4.1. Nhiệm vụ KH&CN đang tiến hành trong năm 2015 và 2016

4.4.1.1. Tổng số nhiệm vụ KH&CN tiến hành trong năm 2015 và 2016

       Trong năm 2015 và 2016, TP. HCM có tổng cộng 147 nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh đang tiến hành sử dụng ngân sách nhà nước đăng ký tại Trung tâm Thông tin và Thống kê KH&CN. Trong đó, năm 2015 có 83 nhiệm vụ và năm 2016 có 64 nhiệm vụ KH&CN đang tiến hành (Bảng 4.15).

       Trong 187.896,193 triệu đồng kinh phí thực hiện 147 nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh trong năm 2015 và 2016, có 162.765,4 triệu đồng là do ngân sách nhà nước cấp (chiếm 86,6%), 13.926,411 triệu đồng do đơn vị thực hiện nhiệm vụ sử dụng nguồn tự có (chiếm 7,4%), còn lại 11.204,39 triệu đồng kinh phí từ các nguồn khác (6%).

Bảng 4.15 Nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh đang tiến hành trong năm 2015 và 2016 của TP. HCM

Nguồn: Trung tâm Thông tin và Thống kê KH&CN TP. HCM

4.4.1.2. Nhiệm vụ KH&CN đang tiến hành trong năm 2015 và 2016 chia theo lĩnh vực nghiên cứu

Bảng 4.16 Nhiệm vụ KH&CN đang tiến hành trong năm 2015 và 2016 của TP. HCM chia theo lĩnh vực nghiên cứu

Nguồn: Trung tâm Thông tin và Thống kê KH&CN TP. HCM

       Nếu tính tỷ lệ số nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh theo lĩnh vực nghiên cứu trong cả hai năm 2015 và 2016, lĩnh vực khoa học kỹ thuật và công nghệ chiếm cao nhất trong các lĩnh vực nghiên cứu với 49 nhiệm vụ (chiếm 33,3%), tiếp theo là lĩnh vực khoa học tự nhiên với 42 nhiệm vụ (chiếm 28,6%), đứng thứ ba là lĩnh vực khoa học xã hội với 20 nhiệm vụ (chiếm 13,6%). Các lĩnh vực khoa học y dược, khoa học nông nghiệp và khoa học nhân văn có số lượng nhiệm vụ KH&CN thấp hơn (chiếm lần lượt 11,6%; 8,8% và 4,1%) (Hình 4.21).

Hình 4.21 Cơ cấu nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh năm 2015 và 2016 của TP. HCM theo lĩnh vực nghiên cứu

       Tính riêng theo từng năm, có thể thấy nhiệm vụ KH&CN ở lĩnh vực khoa học tự nhiên và khoa học kỹ thuật và công nghệ vẫn chiếm số lượng khá cao so với các lĩnh vực khác. Số lượng nhiệm vụ KH&CN lĩnh vực khoa học kỹ thuật và công nghệ năm 2016 giảm 21 nhiệm vụ so với năm 2015, số lượng nhiệm vụ KH&CN lĩnh vực khoa học tự nhiên năm 2016 tăng 8 nhiệm vụ so với năm 2015 (Hình 4.22).

Hình 4.22 Số lượng nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh năm 2015 và 2016 của TP. HCM theo lĩnh vực nghiên cứu

4.4.1.3. Kinh phí thực hiện nhiệm vụ KH&CN đang tiến hành trong năm 2015 và 2016 chia theo lĩnh vực nghiên cứu

Bảng 4.17 Kinh phí thực hiện nhiệm vụ KH&CN đang tiến hành trong năm 2015 và 2016 của TP. HCM chia theo lĩnh vực nghiên cứu

Nguồn: Trung tâm Thông tin và Thống kê KH&CN TP. HCM

Hình 4.23 Phân bổ kinh phí các nhiệm vụ KH&CN của TP. HCM năm 2015 theo cấp nhiệm vụ sử dụng ngân sách nhà nước và lĩnh vực nghiên cứu (triệu VNĐ)

       Bảng 4.17 và Hình 4.23 cho thấy, tổng kinh phí cho nhiệm vụ KH&CN của TP. HCM năm 2015 và 2016 chủ yếu tập trung vào lĩnh vực khoa học kỹ thuật và công nghệ (Năm 2015 là 88.798,605 triệu đồng, chiếm 62,4% tổng kinh phí; Năm 2016 là 20.223,7 triệu đồng, chiếm 44,3% tổng kinh phí).

4.4.2. Nhiệm vụ khoa học và công nghệ được nghiệm thu và đăng ký kết quả thực hiện trong năm 2015 và 2016

       Trong năm 2015 và 2016, TP. HCM có tổng cộng 336 nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh được nghiệm thu (Năm 2015 là 174 và năm 2016 là 162 nhiệm vụ). Lĩnh vực nghiên cứu có số lượng nhiệm vụ được nghiệm thu nhiều nhất là khoa học kỹ thuật và công nghệ (112 nhiệm vụ, chiếm 33,3%). Kế đến là lĩnh vực khoa học y dược với 72 nhiệm vụ (chiếm 21,4%) (Bảng 4.18 và Hình 4.24).

Bảng 4.18 Số nhiệm vụ KH&CN được nghiệm thu và đăng ký kết quả thực hiện trong năm 2015 và 2016 của TP. HCM chia theo cấp nhiệm vụ và lĩnh vực nghiên cứu

Nguồn: Trung tâm Thông tin và Thống kê KH&CN TP. HCM

       Mặc dù số nhiệm vụ KH&CN đăng ký giao nộp kết quả thực hiện chưa tương ứng với số nhiệm vụ KH&CN đã được nghiệm thu trong các năm 2015 – 2016, tuy nhiên, số nhiệm vụ thực hiện đăng ký kết quả trong năm 2016 (204 nhiệm vụ) đã tăng nhiều so với năm đầu triển khai 2015 (24 nhiệm vụ).

Hình 4.24 Cơ cấu nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh được nghiệm thu trong năm 2015 và 2016 theo lĩnh vực nghiên cứu (triệu VNĐ)

       Thông tin các nhiệm vụ KH&CN được công bố trên website: www.cesti.gov.vn

Xem toàn văn: 4.4. NHIỆM VỤ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐANG TIẾN HÀNH TRONG NĂM 2015 VÀ 2016 CỦA TP. HỒ CHÍ MINH

CHƯƠNG 5: GIẢI THƯỞNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

5.1. GIẢI THƯỞNG CẤP QUỐC GIA VỀ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

5.1.1. Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học và công nghệ

       Giải thưởng Hồ Chí Minh được Chủ tịch Hội đồng Nhà nước quy định tại Pháp lệnh số 16/LCT/HDNN7, ngày 04/6/1985. Giải thưởng trao tặng cho các công trình thuộc lĩnh vực khoa học, kỹ thuật và văn học, nghệ thuật đã được công bố hoặc sử dụng tại Việt Nam.

       Giải thưởng Hồ Chí Minh được đề cập tại Điều 66, Điều 67 của Luật Thi đua, khen thưởng số 15/2003/QH11, ngày 26/11/2003 và Luật số 47/2005/QH11, ngày 14/6/2005 của Quốc hội về sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng. Giải thưởng Hồ Chí Minh tiếp tục được đề cập tại Điều 46 Nghị định số 42/2010/NĐ-CP, ngày 15/4/2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng.

       Ngày 30/7/2014, Giải thưởng Hồ Chí Minh về KH&CN được quy định chi tiết (đối tượng, điều kiện, tiêu chuẩn, quy trình, thủ tục xét tặng) tại Nghị định số 78/2014/NĐ-CP, nhằm động viên khuyến khích những người làm nghiên cứu khoa học, kỹ thuật cống hiến ngày càng nhiều cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Giải thưởng được xét và công bố 5 năm một lần vào dịp Quốc khánh 2/9, việc xét tặng do Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì. Ngày 06/11/2014 Bộ Khoa học và Công nghệ có Thông tư số 31/2014/TT-BKHCN, quy định về việc tổ chức triển khai xét tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh. Theo đó, Giải thưởng Hồ Chí Minh về KH&CN được chia thành 3 nhóm: công trình nghiên cứu khoa học, công trình nghiên cứu phát triển công nghệ, công trình nghiên cứu ứng dụng công nghệ. Thời gian công trình được công bố hoặc ứng dụng trong thực tiễn ít nhất 3 năm hoặc công trình ứng dụng đổi mới sáng tạo có hiệu quả ít nhất 1 năm tính từ thời điểm cơ quan chủ trì tổ chức xét tặng giải thưởng nhận hồ sơ công trình được xét tặng.

       Giải thưởng Hồ Chí Minh về KH&CN được xét tặng cho tác giả của công trình, cụm công trình KH&CN đặc biệt xuất sắc, có giá trị rất cao về KH&CN; được ứng dụng thành công và có hiệu quả trong các công trình trọng điểm quốc gia, có tác dụng lớn phục vụ sự nghiệp cách mạng, có ảnh hưởng rộng lớn và lâu dài trong đời sống nhân dân, góp phần quan trọng trong sự nghiệp phát triển nền kinh tế quốc dân, KH&CN hoặc ứng dụng trong thực tiễn. Các cá nhân, đồng tác giả là người nước ngoài có công trình KH&CN đủ tiêu chí cũng được đề nghị xét tặng giải thưởng.

       Tác giả có công trình, cụm công trình được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về KH&CN được nhận Bằng chứng nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh về KH&CN do Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam quyết định trao tặng, cùng tiền thưởng và được hưởng các quyền lợi khác theo quy định của pháp luật hiện hành.

(Còn tiếp …)

5.1.2. Giải thưởng Nhà nước về khoa học và công nghệ

       Tương tự như Giải thưởng Hồ Chí Minh về KH&CN, Giải thưởng Nhà nước về KH&CN nhằm động viên khuyến khích những người làm nghiên cứu khoa học, kỹ thuật cống hiến ngày càng nhiều cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Giải thưởng này cũng được quy định cụ thể tại Pháp lệnh số 16/LCT/HDNN7; Điều 66, Điều 68 Luật Thi đua, khen thưởng số 15/2003/QH11, ngày 26/11/2003 và Luật số 47/2005/QH11, ngày 14/6/2005 của Quốc hội về sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng; Điều 47 Nghị định số 42/2010/NĐ-CP, ngày 15/4/2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng; Nghị định số 78/2014/NĐ-CP và hướng dẫn tại Thông tư số 31/2014/TT-BKHCN.

       Giải thưởng Nhà nước về KH&CN được xét tặng và công bố 5 năm một lần vào dịp Quốc khánh 2/9, việc xét tặng do Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì.

       Giải thưởng Nhà nước về KH&CN cũng được chia thành 3 nhóm: công trình nghiên cứu khoa học, công trình nghiên cứu phát triển công nghệ, công trình nghiên cứu ứng dụng công nghệ. Thời gian công trình được công bố hoặc ứng dụng trong thực tiễn ít nhất 3 năm hoặc công trình ứng dụng đổi mới sáng tạo có hiệu quả ít nhất 1 năm tính từ thời điểm cơ quan chủ trì tổ chức xét tặng giải thưởng nhận hồ sơ công trình được xét tặng.

       Giải thưởng Nhà nước về KH&CN được xét tặng cho tác giả của công trình, cụm công trình KH&CN xuất sắc, có giá trị cao về KH&CN; có tác dụng và ảnh hưởng lớn trong xã hội; được ứng dụng thành công và có hiệu quả trong các công trình trọng điểm quốc gia, góp phần quan trọng trong sự nghiệp phát triển nền kinh tế quốc dân, KH&CN hoặc ứng dụng trong thực tiễn. Các cá nhân, đồng tác giả là người nước ngoài có công trình KH&CN đủ tiêu chí cũng được đề nghị xét tặng giải thưởng.

       Tác giả có công trình, cụm công trình được tặng Giải thưởng Nhà nước về KH&CN được nhận Bằng chứng nhận Giải thưởng Nhà nước về KH&CN do Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam quyết định trao tặng, cùng tiền thưởng và được hưởng các quyền lợi khác theo quy định của pháp luật hiện hành.

(Còn tiếp …)

5.1.3. Giải thưởng Tạ Quang Bửu

       Ngày 26/08/2013, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Quyết định số 2635/QĐ-BKHCN về Quy chế Giải thưởng Tạ Quang Bửu, giải thưởng được xét tặng hằng năm nhằm khích lệ và tôn vinh các nhà khoa học có thành tựu nổi bật trong nghiên cứu cơ bản thuộc các lĩnh vực khoa học tự nhiên và kỹ thuật, góp phần thúc đẩy nền KH&CN Việt Nam hội nhập và phát triển. Giải thưởng Tạ Quang Bửu được tổ chức lần đầu tiên vào năm 2014.

       Quyết định số 2635/QĐ-BKHCN đã được thay thế bằng Thông tư số 01/2015/TT-BKHCN, ngày 12/1/2015, của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ về Quy chế Giải thưởng Tạ Quang Bửu.

       Cá nhân được xét tặng Giải thưởng Tạ Quang Bửu là người có đóng góp quan trọng nhất đối với công trình khoa học thỏa mãn các tiêu chuẩn: được thực hiện tại Việt Nam, công bố trước ít nhất một năm và không quá năm năm trên các tạp chí khoa học chuyên ngành quốc tế tính đến thời điểm kết thúc nhận hồ sơ đề nghị xét tặng Giải thưởng (tính theo thời điểm công bố của tạp chí), được đăng ký lưu giữ kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ theo quy định của pháp luật trong trường hợp công trình khoa học là kết quả của nhiệm vụ KH&CN có sử dụng hoặc nhận hỗ trợ kinh phí từ ngân sách nhà nước.

       Tiêu chí đánh giá đối với công trình khoa học: ý nghĩa, giá trị khoa học của công trình khoa học; chất lượng của tạp chí khoa học có công trình khoa học được đăng tải, được xác định thông qua chỉ số tác động và các xếp hạng quốc tế tại thời điểm công bố công trình.

       Cơ cấu Giải thưởng Tạ Quang Bửu bao gồm: từ 1 đến 3 giải thưởng dành cho tác giả của công trình khoa học và 1 giải thưởng dành cho nhà khoa học trẻ (dưới 35 tuổi) là tác giả của công trình khoa học.

       Cá nhân đạt Giải thưởng được nhận Bằng chứng nhận của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ và tiền thưởng theo quy định.

(Còn tiếp …)

5.1.4. Giải thưởng Sáng tạo khoa học công nghệ Việt Nam

       Năm 1995, lần đầu tiên Quỹ Hỗ trợ sáng tạo kỹ thuật Việt Nam (Quỹ VIFOTEC) thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức Giải thưởng Khoa học công nghệ VIFOTEC (tiền thân Giải thưởng Sáng tạo khoa học công nghệ Việt Nam).

       Năm 1997, đề án phối hợp tổ chức Giải thưởng Khoa học công nghệ VIFOTEC được ký kết giữa Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam và Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường (nay là Bộ Khoa học và Công nghệ).

       Năm 1999, Giải thưởng Khoa học công nghệ VIFOTEC được nâng cấp thành Giải thưởng Sáng tạo khoa học công nghệ Việt Nam.

       Giải thưởng Sáng tạo khoa học công nghệ Việt Nam do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam và Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, cùng phối hợp tổ chức với các cơ quan như Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Bộ Tài chính, Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Thông tin – Truyền thông, Bộ Xây dựng, Bộ Giao thông Vận tải, Đài Truyền hình Việt Nam… Quỹ VIFOTEC là cơ quan thường trực.

       Giải thưởng Sáng tạo khoa học công nghệ Việt Nam được tổ chức hàng năm, xét trao tặng cho các tác giả hoặc đồng tác giả là công dân Việt Nam, người Việt Nam ở nước ngoài; người nước ngoài đang lao động, học tập, công tác tại Việt Nam có những công trình KH&CN có giá trị lớn về khoa học – kinh tế – xã hội; đang được nghiên cứu, áp dụng trên lãnh thổ Việt Nam trong thời gian 5 năm tính đến thời điểm cuối cùng nộp hồ sơ nhằm khuyến khích nghiên cứu, áp dụng các thành tựu KH&CN tiên tiến vào sản xuất và đời sống và công nhận sự đóng góp nổi bật của các nhà khoa học.

       Các công trình được trao Giải thưởng phù hợp với các lĩnh vực KH&CN ưu tiên, tập trung vào các lĩnh vực KH&CN trọng điểm của Nhà nước, và đạt các yêu cầu: tính mới (công trình đề cập tới những công nghệ, những vấn đề khoa học công nghệ chưa được công bố trên thế giới, chưa được bộc lộ hoặc phổ biến bằng các nguồn thông tin ở Việt Nam); tính sáng tạo (căn cứ vào trình độ khoa học công nghệ ở trong nước và ngoài nước, công trình đó không nảy sinh một cách hiển nhiên đối với chuyên gia trong lĩnh vực đó mà là kết quả của hoạt động khoa học kỹ thuật tạo ra); hiệu quả về kinh tế, kỹ thuật và xã hội; khả năng áp dụng ở quy mô công nghiệp, sản phẩm dễ chế tạo, dễ sử dụng, nguyên vật liệu dễ kiếm, thay thế nhập ngoại. Công trình đã được hội đồng khoa học cấp bộ, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và cấp tương đương trở lên nghiệm thu, hội đồng khoa học các tổng công ty theo Quyết định 90/TTg, 91/TTg của Thủ tướng Chính phủ và các tập đoàn kinh tế hoặc hội đồng khoa học của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam nghiệm thu đánh giá xuất sắc và không vi phạm quyền sở hữu trí tuệ của cá nhân, đơn vị khác.

       Các công trình được trao giải sẽ được nhận Bằng khen của Ban Tổ chức Giải thưởng, Biểu trưng vàng sáng tạo và kèm theo tiền mặt tương ứng với Giải thưởng.

(Còn tiếp …)

5.1.5. Giải thưởng Kovalevskaia

       Giải thưởng Kovalevskaia, giải thưởng mang tên nhà nữ toán học Nga lỗi lạc thế kỷ XIX – Sofia Vasilyevna Kovalevskaia (1850-1891), được nhà toán học người Mỹ, Neal Koblitz và vợ là Ann Hibner Koblitz thành lập năm 1985. Giải thưởng nhằm tôn vinh những tập thể, cá nhân là các nhà khoa học nữ có thành tích xuất sắc thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên.

       Giải thưởng Kovalevskaia được triển khai tại Việt Nam từ năm 1985, Chủ tịch Ủy ban Giải thưởng là bà Nguyễn Thị Bình, nguyên Phó chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Đến năm 2016, Chủ tịch Ủy ban Giải thưởng Kovalevskaia là Bà Nguyễn Thị Doan – nguyên Phó Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

       Giải thưởng Kovalevskaia được tổ chức xét trao tặng hàng năm. Tiêu chuẩn xét chọn đối với cá nhân: là phụ nữ Việt Nam đang công tác nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực khoa học tự nhiên, thuộc một trong các lĩnh vực: toán học, vật lý, hóa học, sinh vật học, y học, dược học, nông nghiệp, công nghiệp, kỹ thuật, xây dựng, công nghệ thông tin…; có nhiều công trình, đề tài nghiên cứu khoa học xuất sắc, được ứng dụng trong thực tiễn; có đóng góp tích cực vào việc xây dựng bộ, ngành; giỏi trong công tác nghiên cứu ứng dụng khoa học, đảm việc nhà, đóng góp tích cực cho phong trào phụ nữ của đơn vị, bộ/ngành; cá nhân không phải là thành viên của tập thể từng nhận giải thưởng Kovalevskaia.

       Đối với tập thể: là tập thể/nhóm các nhà khoa học người Việt Nam có ít nhất 70% các thành viên là nữ (trong đó người đứng đầu là nữ) có các công trình, đề tài nghiên cứu khoa học xuất sắc thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên như: toán học, vật lý, hóa học, sinh vật học, y học, dược học, nông nghiệp, công nghiệp, kỹ thuật, kỹ thuật xây dựng,… được thừa nhận và được ứng dụng trong thực tiễn; đóng góp tích cực vào việc xây dựng bộ/ngành; các thành viên nữ trong tập thể là những phụ nữ giỏi trong công tác nghiên cứu khoa học, đảm việc nhà, đóng góp cho phong trào phụ nữ của đơn vị và phong trào phụ nữ cả nước.

       Để được xét trao Giải thưởng Kovalevskaia, các cá nhân và tập thể nữ phải được đơn vị hay cơ quan chủ quản suy tôn và tiến cử; hồ sơ đề cử trao Giải thưởng do Hội đồng thi đua khen thưởng, Hội đồng khoa học các bộ/ngành xét chọn và giới thiệu về Ủy ban Giải thưởng Kovalevskaia.

(Còn tiếp …)

5.1.6. Giải thưởng WIPO

       Giải thưởng WIPO do Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới (WIPO – World Intellectual Property Organization, là một trong 16 tổ chức chuyên môn của Liên Hợp Quốc, có chức năng chính là thực hiện và thúc đẩy sự phối hợp quốc tế trong hoạt động bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ) sáng lập và công bố lần đầu tiên vào năm 1979.

       Giải thưởng WIPO được tổ chức hàng năm tại nhiều quốc gia trên thế giới nhằm khuyến khích các hoạt động sáng kiến, sáng chế trên toàn thế giới, đặc biệt là ở các nước đang phát triển, đồng thời góp phần làm cho công chúng chú ý nhiều hơn và trân trọng hơn công lao đóng góp của các nhà khoa học.

       Cơ cấu Giải thưởng WIPO gồm các giải thưởng dành tặng cho các nhà sáng chế, các công trình sáng tạo, doanh nghiệp sáng tạo, sinh viên sáng tạo và người sử dụng hiệu quả hệ thống WIPO. Cơ cấu này có thể thay đổi tùy điều kiện của mỗi năm và mỗi quốc gia.

       Đối với giải thưởng WIPO dành cho doanh nghiệp sáng tạo, mục tiêu nhằm khuyến khích các doanh nghiệp, chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở tất cả các quốc gia tích cực sử dụng hệ thống sở hữu trí tuệ trong hoạt động sản xuất – kinh doanh. Việc tuyển chọn dựa trên các tiêu chí: số lượng các đối tượng sở hữu công nghiệp đã được áp dụng và thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp (các bằng độc quyền sáng chế, nhãn hiệu hàng hóa, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, tên gọi xuất xứ hàng hóa, chỉ dẫn địa lý, phần mềm máy tính,…); hiệu quả ứng dụng hệ thống sở hữu trí tuệ vào trong sản xuất – kinh doanh tạo ra tăng trưởng; sử dụng dịch vụ sở hữu trí tuệ; các biện pháp khác để khuyến khích phong trào sáng kiến; các giải thưởng khác đã nhận.

       Tại Việt Nam, từ năm 2001, Giải thưởng WIPO được Bộ Khoa học và Công nghệ cùng với Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam chủ trì, thường trực là Quỹ Hỗ trợ Sáng tạo Kỹ thuật Việt Nam (VIFOTEC) tổ chức tuyển chọn và trao giải hàng năm.

(Còn tiếp …)

Xem toàn văn: 5.1. GIẢI THƯỞNG CẤP QUỐC GIA VỀ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

5.2. GIẢI THƯỞNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TẠI TP.HCM

5.2.1. Giải thưởng Sáng chế Thành phố

       Năm 2008, Giải thưởng Sáng chế Thành phố lần đầu tiên được triển khai theo Đề án tổ chức “Phong trào sáng tạo khoa học kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2007-2012” do Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh phê duyệt tại Quyết định số 4077/QĐ-UBND, ngày 11/9/2007. Giải thưởng do Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Hồ Chí Minh chủ trì, tổ chức hàng năm. Đến năm 2010, Giải thưởng Sáng chế Thành phố được chuyển sang chu kỳ hai năm một lần theo chỉ đạo của Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh.

       Kể từ năm 2014, Giải thưởng Sáng chế Thành phố được tổ chức theo Quyết định số 5825/QĐ-UBND ngày 28/11/2014 của Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh về ban hành Quy chế tổ chức các giải thưởng trong phong trào sáng tạo kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2014 – 2020.

       Các sáng chế dự giải được đánh giá theo ba điều kiện bảo hộ độc quyền của Luật Sở hữu trí tuệ (có khả năng áp dụng công nghiệp, có tính mới, có trình độ sáng tạo) và theo tiềm năng thương mại của sáng chế.

       Các sáng chế đoạt Giải Nhất sẽ được tặng Bằng khen của Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh. Mọi sáng chế dự giải sẽ được Thành phố hỗ trợ gởi tham dự Cuộc thi Sáng chế do Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì.

       Đối tượng tham gia Giải thưởng Sáng chế Thành phố là các chủ sở hữu và tác giả các bằng độc quyền sáng chế.

(Còn tiếp …)

5.2.2 Giải thưởng Hội thi Sáng tạo kỹ thuật Thành phố

       Năm 1990, Hội thi Sáng tạo kỹ thuật Thành phố hình thành từ hoạt động hưởng ứng Hội thi Sáng tạo kỹ thuật Toàn quốc lần thứ nhất. Hội thi Sáng tạo kỹ thuật Thành phố được tổ chức mỗi năm một lần do Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh (nay là Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Hồ Chí Minh) chủ trì.

       Năm 2007, Hội thi Sáng tạo kỹ thuật Thành phố được triển khai theo Đề án tổ chức Phong trào sáng tạo khoa học kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2007-2012 do Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh phê duyệt tại Quyết định số 4077/QĐ-UBND, ngày 11/9/2007. Công tác chủ trì Hội thi Sáng tạo kỹ thuật Thành phố được chuyển giao từ Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Hồ Chí Minh sang Liên hiệp các Hội Khoa học Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh.

       Năm 2010, theo chỉ đạo của Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, Hội thi Sáng tạo kỹ thuật Thành phố được chuyển sang chu kỳ hai năm một lần, luân phiên xen kẽ với Giải thưởng Sáng chế Thành phố.

       Từ năm 2014, Hội thi Sáng tạo kỹ thuật Thành phố được tổ chức theo Quyết định số 5825/QĐ-UBND ngày 28/11/2014 của Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh về ban hành Quy chế tổ chức các giải thưởng trong phong trào sáng tạo kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2014 – 2020.

       Các đề tài, giải pháp dự thi được đánh giá theo ba tiêu chí: có tính mới và tính sáng tạo so với trình độ kỹ thuật ở Việt Nam, có khả năng áp dụng rộng rãi trong điều kiện Việt Nam, mang lại hiệu quả kinh tế – xã hội cao hơn so với giải pháp tương tự đã biết.

       Các đề tài đoạt Giải Nhất sẽ được tặng Bằng khen của Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh. Đề tài dự thi hợp lệ sẽ được Thành phố hỗ trợ gởi tham dự Hội thi Sáng tạo kỹ thuật toàn quốc hoặc Giải thưởng Khoa học và công nghệ Việt Nam (Giải thưởng VIFOTEC).

       Đối tượng dự thi là cá nhân hoặc tổ chức: người Việt Nam ở trong nước và nước ngoài, người nước ngoài đang làm việc và sinh sống tại Việt Nam, không phân biệt lứa tuổi, dân tộc, nghề nghiệp có các đề tài nghiên cứu hoặc giải pháp công nghệ được tạo ra và áp dụng đều có quyền dự thi với tư cách cá nhân hoặc tập thể. Tập thể dự thi là các đơn vị, tổ chức của Việt Nam đã đầu tư nghiên cứu để tạo ra giải pháp kỹ thuật.

(Còn tiếp …)

5.2.3. Giải thưởng Tôn Đức Thắng

       Giải thưởng Tôn Đức Thắng do Liên đoàn Lao động thành phố Hồ Chí Minh phối hợp với Báo Sài Gòn Giải phóng sáng lập vào năm 2000. Đến năm 2004, Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh quyết định nâng cấp Giải thưởng Tôn Đức Thắng thành giải thưởng cấp thành phố, với Quy chế xét chọn Giải thưởng được ban hành kèm theo Quyết định số 148/QĐ-UB, ngày 07/06/2004. Lễ trao Giải thưởng được tổ chức vào dịp kỷ niệm ngày sinh của cố Chủ tịch Tôn Đức Thắng (ngày 20/8 hàng năm).

       Giải thưởng Tôn Đức Thắng nhằm tôn vinh những kỹ sư (từ bậc 2 trở lên), công nhân (từ thợ bậc 2/5, 3/6, 4/7 trở lên) đang trực tiếp sản xuất hoặc trực tiếp điều hành sản xuất trong các doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở sản xuất – kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế trên địa bàn thành phố, có nhiều cống hiến xuất sắc trong phong trào lao động sáng tạo và đào tạo, bồi dưỡng lớp thợ trẻ giỏi.

       Tiêu chuẩn xét chọn: tốt nghiệp phổ thông trung học trở lên; có từ 5 năm công tác trở lên; là Đảng viên hoặc đối tượng Đảng, hoặc Đoàn viên công đoàn xuất sắc; tích cực tham gia các hoạt động của doanh nghiệp, công đoàn; bản thân và gia đình gương mẫu chấp hành chủ trương chính sách của Đảng, luật pháp của Nhà nước. Có thành tích phong trào sáng kiến cải tiến kỹ thuật, bản thân là tác giả hoặc đồng tác giả các sáng kiến cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất tại doanh nghiệp có giá trị làm lợi, tiết kiệm trên 50 triệu đồng; có thành tích tiêu biểu trong việc bồi dưỡng, đào tạo, kèm cặp nhiều công nhân; bản thân đạt một trong các danh hiệu sau: chiến sĩ thi đua từ cấp cơ sở trở lên, đạt giải thưởng Hội thi Sáng tạo khoa học kỹ thuật Thành phố hoặc toàn quốc từ giải khuyến khích trở lên, Bằng và huy hiệu lao động sáng tạo của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Bàn tay vàng trong các hội thi thợ giỏi cấp trên cơ sở, cấp thành phố hoặc toàn quốc.

       Cá nhân đạt Giải thưởng được Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh tặng Bằng khen kèm theo tiền thưởng. Giải thưởng chỉ trao một lần cho một cá nhân.

(Còn tiếp …)

5.2.4. Giải thưởng Cuộc thi Sáng tạo Thanh thiếu nhi Thành phố

       Kể từ năm 2004, Cuộc thi Sáng tạo Thanh thiếu nhi Thành phố được Thành Đoàn thành phố Hồ Chí Minh chủ trì tổ chức hàng năm nhằm hưởng ứng Cuộc thi Sáng tạo Thanh thiếu niên nhi đồng Toàn quốc.

       Đến năm 2007, Cuộc thi Sáng tạo Thanh thiếu nhi Thành phố được triển khai theo Đề án tổ chức Phong trào sáng tạo Khoa học kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2007-2012 do Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh phê duyệt tại Quyết định số 4077/QĐ-UBND, ngày 11/9/2007.

       Từ năm 2014, Cuộc thi Sáng tạo Thanh thiếu nhi Thành phố được tổ chức căn cứ theo Quy chế Tổ chức các giải thưởng trong phong trào sáng tạo kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2014 – 2020 tại Quyết định số 5825/QĐ-UBND ngày 28/11/2014 của Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh.

       Các mô hình và sản phẩm kỹ thuật dự thi được đánh giá theo ba tiêu chí: có tính mới, tính sáng tạo và có khả năng áp dụng.

       Các mô hình, sản phẩm đoạt Giải Nhất sẽ được tặng Bằng khen của Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh. Mọi mô hình, sản phẩm dự thi hợp lệ sẽ được Thành phố hỗ trợ gởi tham dự Cuộc thi Sáng tạo Thanh thiếu niên nhi đồng Toàn quốc.

       Đối tượng dự thi là tất cả thanh thiếu nhi trên địa bàn thành phố, có thể dự thi với tư cách cá nhân hoặc theo nhóm.

(Còn tiếp …)

5.2.5. Giải thưởng Công nghệ thông tin – Truyền thông thành phố Hồ Chí Minh

       Năm 2008, Giải thưởng Công nghệ thông tin – Truyền thông thành phố Hồ Chí Minh lần đầu tiên được tổ chức theo Quyết định số 128/2007/QĐ-UBND, ngày 29/10/2007 của Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh về ban hành Quy chế xét tặng Giải thưởng Công nghệ thông tin – Truyền thông thành phố Hồ Chí Minh. Giải thưởng được tổ chức hàng năm, Sở Bưu chính, Viễn thông (nay là Sở Thông tin và Truyền thông) được giao làm cơ quan thường trực.

       Từ năm 2013, Giải thưởng được tổ chức theo Quyết định số 40/2013/QĐ-UBND ngày 26/09/2013 của Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh về ban hành Quy chế xét tặng Giải thưởng Công nghệ thông tin – Truyền thông thành phố Hồ Chí Minh.

       Giải thưởng được trao tặng cho các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân có sản phẩm, dịch vụ và thành tích xuất sắc đóng góp cho sự phát triển công nghệ thông tin – truyền thông của Thành phố, theo các lĩnh vực sau:

       – Doanh nghiệp có sản phẩm và giải pháp phần mềm tiêu biểu;

       – Doanh nghiệp có sản phẩm phần cứng tiêu biểu;

       – Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ giá trị gia tăng tiêu biểu;

       – Đơn vị ứng dụng công nghệ thông tin – truyền thông tiêu biểu;

       – Đơn vị, cá nhân có thành tích xuất sắc đóng góp vào sự phát triển công nghệ thông tin – truyền thông thành phố;

       – Sinh viên ngành công nghệ thông tin – truyền thông có thành tích nghiên cứu và học tập xuất sắc.

       Đối tượng được tham gia Giải thưởng là các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp có tư cách pháp nhân, có đăng ký hay có giấy phép hoạt động trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh; các cá nhân là người Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc người có quốc tịch nước ngoài hiện đang sinh sống làm việc tại thành phố Hồ Chí Minh.

       Đơn vị và cá nhân có thể đăng ký tham gia để được xét trao Giải thưởng cho nhiều nhóm danh hiệu khác nhau, tuy nhiên mỗi nhóm danh hiệu chỉ được đăng ký xét và trao giải cho một sản phẩm (trừ nhóm danh hiệu: đơn vị ứng dụng công nghệ thông tin – truyền thông tiêu biểu; và đơn vị, cá nhân có thành tích xuất sắc đóng góp vào sự phát triển công nghệ thông tin – truyền thông của Thành phố).

       Các đơn vị và cá nhân đã được trao Giải thưởng vẫn có quyền được tham gia xét và trao Giải thưởng ở các năm tiếp theo nếu có thành tích đặc biệt xuất sắc, đáp ứng được điều kiện và tiêu chuẩn của Giải thưởng.

(Còn tiếp …)

5.2.6. Giải thưởng Sinh viên nghiên cứu khoa học – Euréka

       Giải thưởng Sinh viên nghiên cứu khoa học – Euréka là giải thưởng dành cho sinh viên, tiền thân là Chương trình Euréka.

       Giải thưởng Sinh viên nghiên cứu khoa học – Euréka nhằm tạo sân chơi học tập, sáng tạo và nghiên cứu khoa học, qua đó phát hiện, bồi dưỡng những ý tưởng sáng tạo của sinh viên; thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học trong sinh viên các trường đại học, cao đẳng và học viện trên địa bàn thành phố; góp phần ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ vào sản xuất và cuộc sống.

       Các đề tài được xét trao Giải thưởng theo các tiêu chí: có tính mới, tính sáng tạo, có khả năng ứng dụng cao và đảm bảo tính khoa học.

       Đối tượng tham gia Giải thưởng Sinh viên nghiên cứu khoa học – Euréka là sinh viên có đề tài, công trình nghiên cứu khoa học, đang học tập tại các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và học viện trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Năm 2015, đối tượng tham gia được mở rộng ra các tỉnh thành khu vực phía Nam (từ tỉnh Bình Thuận trở vào). Năm 2016, đối tượng tham gia được mở rộng ra toàn quốc. Mỗi cá nhân hoặc tập thể (mỗi tập thể không quá 5 sinh viên) có thể đăng ký tham gia một hoặc nhiều công trình.

(Còn tiếp …)

Xem toàn văn: 5.2. GIẢI THƯỞNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TẠI TP.HCM

Cập nhật thông tin chi tiết về Sở Khoa Học Công Nghệ trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!