Xu Hướng 2/2024 # Skkn Một Số Biện Pháp Xây Dựng Văn Hóa Nhà Trường Ở Trường Tiểu Học Thanh Sơn # Top 7 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Skkn Một Số Biện Pháp Xây Dựng Văn Hóa Nhà Trường Ở Trường Tiểu Học Thanh Sơn được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Văn hóa là cái còn lại khi con người đã đi qua. Văn hóa quyết định sự ổn định của xã hội và có vai trò động lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Người Trung Quốc có câu “Thập niên chi kế mạc như thụ mộc/ Bách niên chi kế mạc như thụ nhân” (Tính kế mười năm không gì hay hơn là trồng cây/ Mưu chuyện trăm năm không gì hay hơn là trồng người), còn Bác Hồ viết: ” Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây/ Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”. Cái gốc của văn hóa là giáo dục, gieo trồng và chăm sóc. Điều ấy có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với nhà trường. Bởi lẽ, hơn bất kì một tổ chức nào khác, tính văn hóa là tính chất đặc thù của nhà trường. Điều này được xác định dựa trên những căn cứ sau: 1/ nhà trường là nơi bảo tồn và trao truyền các giá trị văn hóa nhân loại; 2/ nhà trường là nơi đào luyện những lớp người mới, những chủ nhân giữ gìn và sáng tạo văn hóa cho tương lai; 3/ nhà trường là nơi mà thầy và trò cùng tham gia vào các hoạt động chiếm lĩnh các mục tiêu văn hóa, dựa trên những cách thức, phương tiện văn hóa. Tất cả những hoạt động ấy vừa diễn ra trong môi trường văn hóa đại chúng, vừa có nét văn hóa mang bản sắc riêng phù hợp với mỗi địa phương, vùng miền.

Có thể khẳng định rằng, động lực sư phạm được tạo nên bởi nhiều yếu tố. Trong đó, văn hóa là một yếu tố nền tảng, động lực. Dù mang tính vô hình, là nội lực tinh thần nhưng nó có sức mạnh khích lệ rất lớn trong dạy và học, nâng cao trách nhiệm của công dân đối với cộng đồng, xã hội. Văn hóa nhà trường giúp mỗi cán bộ, giáo viên thấy rõ mục tiêu, định hướng phát triển, bản chất công việc mình làm. Văn hóa nhà trường phù hợp, tạo ra các mối quan hệ tốt đẹp giữa cán bộ, giáo viên, nhân viên góp phần xây dựng tập thể sư phạm vững mạnh. Văn hóa nhà trường giúp giáo viên và học sinh xây dựng mối quan hệ thầy trò tốt đẹp, thân thiện. Quan trọng hơn, việc xây dựng văn hóa nhà trường sẽ tạo ra tạo ra một môi trường làm việc thoải mái, vui vẻ, lành mạnh. Mỗi cá nhân trong môi trường văn hóa vì thế đều tích cực phấn đấu vì những điều tốt đẹp. Rõ ràng, văn hóa là nền tảng tinh thần cho sự sáng tạo, đổi mới, nâng cao chất lượng dạy học. Đây là điều quan trọng đối với hoạt động sư phạm, mà đối tượng là sự tương tác giữa người tri thức và con người, với môi trường xung quanh.

1. PHẦN MỞ ĐẦU 1.1 Lí do chọn đề tài Văn hóa là cái còn lại khi con người đã đi qua. Văn hóa quyết định sự ổn định của xã hội và có vai trò động lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Người Trung Quốc có câu "Thập niên chi kế mạc như thụ mộc/ Bách niên chi kế mạc như thụ nhân" (Tính kế mười năm không gì hay hơn là trồng cây/ Mưu chuyện trăm năm không gì hay hơn là trồng người), còn Bác Hồ viết: " Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây/ Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người". Cái gốc của văn hóa là giáo dục, gieo trồng và chăm sóc. Điều ấy có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với nhà trường. Bởi lẽ, hơn bất kì một tổ chức nào khác, tính văn hóa là tính chất đặc thù của nhà trường. Điều này được xác định dựa trên những căn cứ sau: 1/ nhà trường là nơi bảo tồn và trao truyền các giá trị văn hóa nhân loại; 2/ nhà trường là nơi đào luyện những lớp người mới, những chủ nhân giữ gìn và sáng tạo văn hóa cho tương lai; 3/ nhà trường là nơi mà thầy và trò cùng tham gia vào các hoạt động chiếm lĩnh các mục tiêu văn hóa, dựa trên những cách thức, phương tiện văn hóa. Tất cả những hoạt động ấy vừa diễn ra trong môi trường văn hóa đại chúng, vừa có nét văn hóa mang bản sắc riêng phù hợp với mỗi địa phương, vùng miền. Có thể khẳng định rằng, động lực sư phạm được tạo nên bởi nhiều yếu tố. Trong đó, văn hóa là một yếu tố nền tảng, động lực. Dù mang tính vô hình, là nội lực tinh thần nhưng nó có sức mạnh khích lệ rất lớn trong dạy và học, nâng cao trách nhiệm của công dân đối với cộng đồng, xã hội. Văn hóa nhà trường giúp mỗi cán bộ, giáo viên thấy rõ mục tiêu, định hướng phát triển, bản chất công việc mình làm. Văn hóa nhà trường phù hợp, tạo ra các mối quan hệ tốt đẹp giữa cán bộ, giáo viên, nhân viên góp phần xây dựng tập thể sư phạm vững mạnh. Văn hóa nhà trường giúp giáo viên và học sinh xây dựng mối quan hệ thầy trò tốt đẹp, thân thiện. Quan trọng hơn, việc xây dựng văn hóa nhà trường sẽ tạo ra tạo ra một môi trường làm việc thoải mái, vui vẻ, lành mạnh. Mỗi cá nhân trong môi trường văn hóa vì thế đều tích cực phấn đấu vì những điều tốt đẹp. Rõ ràng, văn hóa là nền tảng tinh thần cho sự sáng tạo, đổi mới, nâng cao chất lượng dạy học. Đây là điều quan trọng đối với hoạt động sư phạm, mà đối tượng là sự tương tác giữa người tri thức và con người, với môi trường xung quanh. Văn hóa nhà trường tích cực giúp cho người dạy, người học và những người xung quanh có cảm giác tự hào, hãnh diện vì mình được là thành viên của tổ chức nhà trường; được làm việc vì những mục tiêu cao cả. Muốn tạo động lực, dĩ nhiên văn hóa nhà trường cần phải khơi dậy, đánh thức những chân giá trị hữu ích cho con người và cuộc sống. Những giá trị ấy phải thực sự đáp ứng nhu cầu chính đáng của mọi người. Nó khác với những giá trị nhất thời, hoặc giá trị ảo. Nhiều người thường cho rằng, động lực đối với người thầy giáo hôm nay chỉ là đồng lương. Tuy nhiên, khi thu nhập đạt đến một mức nào đó đảm bảo cho cuộc sống, người lao động nói chung, nhà sư phạm nói riêng sẵn sàng đánh đổi giữa mức thu nhập cao lấy một mức thu nhập thấp hơn, với điều kiện giá trị của con người được tôn trọng, đề cao hơn. Nếu trao quyền tự chủ cho trường học, việc giáo viên chọn mức thu nhập thấp hơn để được làm việc trong một môi trường hòa đồng, thân thiện, thoải mái, được cống hiến, sáng tạo, được thừa nhận, tôn vinh sẽ xảy ra. Tất nhiên, chọn mức thu nhập cao và môi trường văn hóa cao thì hoàn toàn lý tưởng. Đây là mục tiêu phấn đấu mà những nhà quản lí hôm nay đang nỗ lực xây dựng. Đối với học sinh Tiểu học, các em đang ở lứa tuổi hình thành và phát triển nhân cách nên các giá trị, các hành vi ứng xử hàng ngày của thầy cô, bạn bè sẽ có tác động rất sâu sắc đến tư tưởng, tình cảm và nhận thức của các em. Xây dựng văn hóa nhà trường sẽ tạo cho nhà trường một bản sắc riêng, một thương hiệu riêng, một tiếng nói riêng trong việc thực hiện vai trò, sứ mệnh nhà trường. Xác định văn hóa là một lĩnh vực hàng đầu trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Đảng ta khẳng định quyết tâm "Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc" (Nghị quyết Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ V). Tiếp nữa, bước vào giai đoạn xây dựng đất nước trong giai đoạn hội nhập toàn cầu, Đảng ta nhấn mạnh: "Tiếp tục phát triển sâu rộng nâng cao chất lượng nền văn hóa tiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn với phát triển kinh tế - xã hội, làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực đời sống xã hội" (Văn kiện Đại hội lần thứ X). Trong bối cảnh thế giới có nhiều thay đổi, với xu thế hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, Việt Nam tiếp tục công cuộc đổi mới toàn diện giáo dục, mở ra nhiều triển vọng phát triển giáo dục nói chung và giáo dục tiểu học nói riêng. Đồng thời cũng đặt ra nhiều thách thức với sự phát triển giáo dục đào tạo. Những thách thức, tồn tại trong giáo dục mà chúng ta cần phải quan tâm như: chất lượng giáo dục đạo đức ở một bộ phận học sinh còn hạn chế, việc xây dựng giá trị, chuẩn mực, niềm tin và hành vi ứng xử của các thành viên trong nhà trường chưa được quan tâm thích đáng và chưa thể hiện được nét riêng trong bản sắc văn hóa nhà trường so với các trường khác. Việc đầu tư cơ sở vật chất cũng như cảnh quan, môi trường sư phạm một số nơi đầu tư cũng chưa thật sự đáp ứng nhu cầu. Trong bối cảnh ấy, việc xây dựng giá trị đạo đức, văn hóa, xây dựng hệ thống các giá trị của nhà trường là rất cần thiết. Với nhiệm vụ được phân công là Bí thư chi bộ, Phó hiệu trưởng, Chủ tịch Công đoàn nhà trường, bản thân tôi thấy tâm huyết với vấn đề xây dựng văn hóa nhà trường. Bằng kinh nghiệm ấp ủ, học tập và triển khai trong những năm học qua, tôi xin đưa ra những biện pháp xây dựng hệ thống giá trị lòng tin của học sinh, phụ huynh và mọi người. Chọn đề tài "Một số biện pháp xây dựng văn hóa nhà trường ở trường Tiểu học Thanh Sơn- Tĩnh Gia", tôi hy vọng sẽ làm tốt nhiệm vụ giáo dục ở một vùng đất có truyền thống hiếu học, góp phần phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương. 1.2. Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề tài nhằm đề xuất một số biện pháp xây dựng văn hóa nhà trường có tính khả thi, phù hợp với thực tế nhà trường, góp phần nâng cao chất lượng quản lý nhà trường và giáo dục toàn diện nhân cách cho học sinh, phấn đấu xây dựng trường học đạt chuẩn quốc gia mức độ 2. Mặt khác, giúp học sinh có điều kiện học tập và rèn luyện tốt hơn, xây dựng được hệ thống giá trị, niềm tin trong nhà trường. 1.3 Đối tượng nghiên cứu. Các biện pháp xây dựng văn hóa nhà trường ở Trường Tiểu học Thanh Sơn- Tĩnh Gia năm học 2024-2024. 1.4. Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lí thuyết. - Phương pháp điều tra khảo sát thực tế. - Phương pháp thu thập thông tin, xử lí số liệu, tổng kết kinh nghiệm 2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2.1 Cơ sở lí luận. Trước hết, nhìn văn hóa nhà trường dưới góc độ truyền thống, năm 1983, hai nhà nghiên cứu Schein và Deal và Peterson cho rằng : Văn hóa nhà trường là một tổ hợp bao gồm những tiêu chuẩn, quy phạm, giá trị, niềm tin, nghi lễ, những biểu tượng và sự kiện đã tạo nên " nét riêng" của nhà trường. Tiếp tục hướng nghiên cứu này, năm 1995, hai nhà nghiên cứu Stolp và Smith viết: Văn hóa nhà trường có thể được định nghĩa như là các kiểu ý nghĩa được lưu truyền theo lịch sử. Nó bao gồm những chuẩn mực, giá trị, niềm tin, các lễ hội, các lễ nghi, những câu chuyện thần thoại và được hiểu theo các mức độ khác nhau bởi các thành viên trong cộng đồng nhà trường. Hệ thống ý nghĩa này định hướng suy nghĩ của mọi người và cách họ hành xử hoặc văn hóa nhà trường phổ thông được hiểu là tập hợp các nguyên tắc, giá trị và niềm tin, nghi thức và nghi lễ, các biểu tượng và câu chuyện hay giai thoại tạo nên cái "tôi" của nhà trường và định hướng các thành viên trong nhà trường cùng làm việc. Cùng hướng nghiên cứu này, năm 1993, Banks cho rằng : Nhà trường là một hệ thống xã hội có văn hóa riêng của mình. Văn hóa đó bao gồm "các quy phạm, cơ cấu xã hội, niềm tin, giá trị và mục tiêu" Tiếp nữa, vào năm 1993, nhìn văn hóa nhà trường dựa trên nguyên tắc ứng xử, hai nhà nghiên cứu Deal và Bower đưa ra một cách hiểu khác về văn hóa nhà trường: Văn hóa nhà trường phổ thông là cách để các thành viên trong nhà trường làm việc với nhau. Năm 2004, Tableman nhìn văn hóa nhà trường dưới góc độ giá trị và niềm tin và sự đồng thuận trong việc thực hiện giáo dục nhân cách con người, ông viết: Văn hóa nhà trường phảm ảnh các ý tưởng được chia sẻ về các nhất trí cơ bản, về các giá trị và niềm tin và các hiện thực văn hóa tạo nên sự đồng nhất của nhà trường và là chuẩn cho hành vi mong đợi. Có thể hiểu một cách tổng quát: Văn hóa nhà trường là nhất trí cơ bản, niềm tin và các giá trị được chia sẻ tạo nên cái tôi và cách làm việc của nhà trường, cũng như định hướng cách cư xử giữa các thành viên của nhà trường với nhau, được phản ánh qua các hiện thực văn hóa. Trong đó, các nhất trí cơ bản chính là cái mà tất cả thành viên của nhà trường đều thừa nhận hay nhất trí khi làm việc với nhau; niềm tin được tạo nên từ các nhất trí cơ bản và chính là tiền đề được cho là đúng để định hướng hành vi; giá trị được tạo nên từ các nhất trí cơ bản và niềm tin. Đó chính là những cái được cho là quan trọng, hay ý thức về việc cần phải làm để tạo nên các nguyên tắc ứng xử. Nói cách khác, hành vi và cái tôi chính là tính đồng nhất hay duy nhất của nhà trường giúp phân biệt giữa trường này với trường khác. Văn hóa nhà trường được hình thành, phát triển trong quá trình xây dựng nhà trường và thường được thể hiện thông qua các hiện thực văn hóa như : biểu tượng, nghi thức, nghi lễ, các câu chuyện, giai thoại, ngôn ngữ, trang phục, hay mẫu hành vi, cách ứng xử được sử dụng trong nhà trường. Các giá trị và chuẩn mực này phải tương đối bền vững, nghĩa là phải qua trải nghiệm và thử thách của thời gian, phải biến thành niềm tin trong hành động của mọi thành viên và trở thành biểu tượng trong từng mặt hoạt động của nhà trường. Do đó, văn hóa nhà trường là sự thể hiện bản sắc tập thể, thông qua đó mà các thành viên của nhà trường được kết nối với nhau để phấn đấu cho mục tiêu chung, trách nhiệm chung. 2.2. Thực trạng việc xây dựng văn hóa nhà trường ở Trường Tiểu học Thanh Sơn 2.2.1. Đặc điểm tình hình địa phương. Thanh Sơn là một xã thuần nông nằm về phía tây bắc huyện Tĩnh Gia, cách trung tâm huyện khoảng 18 km. Đời sống của đại bộ phận người dân tương đối ổn định do ngoài sản xuất nông nghiệp nhiều hộ phát triển kinh doanh buôn bán nhỏ, chăn nuôi. Nhất là từ khi khu công nghiệp ở huyện Tĩnh Gia phát triển, tạo công ăn việc làm cho nhiều lao động địa phương nên đời sống của nhân dân được nâng lên. Thanh Sơn còn là một địa phương có truyền thống hiếu học. Trường Tiểu học là một trong hai trường ra đời đầu tiên (cùng với trường Tiểu học Hải Yến) của huyện Tĩnh Gia. Đặc biệt các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương luôn quan tâm tới giáo dục. Đa số phụ huynh đều chăm lo tới việc học hành của con em. Hằng năm, số lượng học sinh giỏi các cấp, học sinh đậu vào đại học cao. Tình hình an ninh trật tự ổn định, không có học sinh trên địa bàn mắc vào các tệ nạn xã hội. Bên cạnh những thuận lợi, tình hình giáo dục ở Thanh Sơn vẫn gặp không ít khó khăn như: một bộ phận nhân dân có đời sống khó khăn như thôn Phượng Áng (Vùng Công giáo) do nhiều gia đình đông con nên việc chăm lo cho con em chưa thật sự chu đáo, hay ở thôn Thanh Trung, nhiều phụ huynh đi làm ăn xa nhà, để con em ở nhà với ông bà. Chính vì vậy, việc học tập và giáo dục các em học sinh ít nhiều bị ảnh hưởng. 2.2.2. Khái quát tình hình nhà trường. Trước hết, là trường đạt chuẩn Quốc gia mức độ 1, trường Tiểu học Thanh Sơn luôn duy trì và củng cố các tiêu chuẩn theo qui định.Trong những năm học qua, nhà trường đã có những chuyển biến rõ nét, đặc biệt là cảnh quan khuôn viên trường lớp ngày càng khang trang Xanh - Sạch - Đẹp với hệ thống cơ sở vật chất tương đối đầy đủ phục vụ cho công tác dạy và học. Mạng lưới trường lớp được qui hoạch ổn định, cơ sở vật chất hàng năm được nâng cấp theo hướng kiên cố hoá. Chất lượng giáo dục trong những năm gần đây từng bước được nâng cao. Nhà trường thực hiện dạy đủ, dạy đúng các môn học theo qui định. thực hiện nghiêm túc chương trình đổi mới phương pháp dạy học. Chú trọng giáo dục các mặt chất lượng giáo dục đại trà và chất lượng mũi nhọn, đổi mới cách học theo phương pháp tích cực, học sinh tự phát huy tính tích cực và sáng tạo trong học tập. Thường xuyên tổ chức tốt các hoạt động bổ trợ khác, các cuộc thi, các đợt vận động do ngành tổ chức nhằm góp phần vào việc giáo dục học sinh phát triển toàn diện. Đội ngũ giáo viên nhà trường đã dần được ổn định về số lượng và chất lượng. Năm học Số cán bộ GV GV đạt chuẩn %) GV trên chuẩn (%) Số SKKN được công nhận GV giỏi Huyện Tỉnh Huyện Tỉnh 2014- 2024 26 100 73,9 1 1 2024- 2024 26 100 73,9 4 1 1 2024-2024 25 100 96 Tổng hợp chất lượng giáo dục 3 năm gần đây: Đánh giá theo thông tư 32 Năm học Hạnh kiểm Văn hoá đại trà Số học sinh giỏi HSHTCTTH THĐĐ CĐĐ G K TB Y Trường Huyện Tỉnh 2013- 2014 558 0 102 233 210 13 102 32 3 116 Đánh giá theo thông tư 30 Năm học Phẩm chất Năng lực Kiến thức, kĩ năng Học sinh được khen thưởng HSHTCTTH Đạt Đạt Hoàn thành SL TL SL TL SL TL 2014-2024 538 100 528 98,1 528 98,1 358 93 2024-2024 558 100 550 98,2 550 98,2 387 112 Bên cạnh những thành tích đã đạt được, nhà trường vẫn còn có đối mặt với những khó khăn nhất định như: Chất lượng đội ngũ: Trình độ chuyên môn chưa đồng đều, việc đổi mới phương pháp dạy học của số ít giáo viên thực hiện chưa được hiệu quả, giáo viên đạt danh hiệu giáo viên dạy giỏi cấp huyện còn thấp. Một bộ phận học sinh phải tự lập khi bố mẹ đi làm ăn ở xa, hoặc bố mẹ mải làm ăn không có thời gian quan tâm đến các em (thôn Thanh Trung). Một bộ phận học sinh điều kiện kinh tế gia đình gặp nhiều khó khăn ảnh hưởng đến việc học tập của các em (thôn Phượng Áng). Về cơ sở vật chất, nhà trường vẫn còn thiếu các phòng chức năng theo yêu cầu. 2.2.3. Thực trạng các hoạt động xây dựng văn hóa nhà trường ở trường Tiểu học Thanh Sơn trong những năm qua. Trong những năm qua, nhà trường cũng đã tạo ra được những giá trị cốt lõi trong văn hóa nhà trường, mà nổi bật trong đó là: đoàn kết, sáng tạo, chất lượng, tự tin, thân thiện. Tuy nhiên, nhà trường gặp nhiều khó khăn trong việc xây dựng văn hóa nhà trường đó là: 1/ Việc xác định các thành tố cấu thành trong văn hóa nhà trường còn lúng túng; 2/ Nhận thức của một bộ phận cán bộ giáo viên, nhân viên về việc xây dựng giá trị cốt lõi trong văn hóa nhà trường có những lúc chưa đúng đắn; 3/ Các giá trị văn hóa có nhiều giá trị đã có, có nhiều giá trị đang được xây dựng và phát triển nhưng chưa được mọi người thừa nhận và xem như đó là mục tiêu cần được quan tâm, chú ý xây dựng và phát triển hàng ngày; 4/ Một bộ phận nhỏ cán bộ giáo viên nhân viên có biểu hiện thiếu tinh thần trách nhiệm (xuất hiện sức ì, không muốn phấn đấu, không quan tâm đến chất lượng hiệu quả công việc, hay quan tâm đến quyền lợi cá nhân, so bì) khó tiếp nhận cái mới, ngôn ngữ, trang phục không phù hợp với môi trường công tác; 5/ Việc bổ sung cơ sở vật chất còn gặp nhiều khó khăn do thiếu về nguồn lực tài chính. Nhà trường còn thiếu phòng làm việc của Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng và các phòng chức năng khác. 2.3. Các biện pháp thực hiện 2.3.1 Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, hiệu quả quản lý của Ban Giám hiệu trong việc thực hiện nhiệm vụ xây dựng nhà trường văn hoá. Đây là giải pháp có tính chất quyết định tới việc nâng cao chất lượng và hiệu quả xây dựng văn hóa nhà trường ở trường Tiểu học Thanh Sơn trong giai đoạn hiện nay. Xây dựng văn hóa nhà trường nhằm đáp ứng những nhu cầu văn hoá, giáo dục học sinh, góp phần hình thành và hoàn thiện nhân cách của học sinh. Xây dựng văn hóa nhà trường tốt đẹp cần thiết có sự chỉ đạo và tham gia của các cấp uỷ Đảng, sự quản lý của Ban giám hiệu Nhà trường trong việc thực hiện nhiệm vụ. Trên thực tế, hoạt động xây dựng văn hóa nhà trường ở trường Tiểu học Thanh Sơn trong những năm qua đã cho thấy sự lãnh đạo, chỉ đạo của chi bộ Đảng và quản lý của Ban giám hiệu có vai trò đặc biệt quan trọng, mang tính chất quyết định. a.Đối với Chi bộ nhà trường: - Phối hợp cùng với chính quyền tổ chức học tập, quán triệt các chủ trương nghị quyết của Đảng, chế độ chính sách, pháp luật của Nhà nước, nội qui, qui định của ngành, của nhà trường, địa phương về giáo dục. Từ đó, cần nhận thức đầy đủ về vai trò của văn hoá và xây dựng văn hóa nhà trường trong thời kỳ Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa đất nước. Khắc phục cái nhìn phiến diện về xây dựng văn hóa nhà trường, coi xây dựng văn hóa nhà trường đơn thuần chỉ là các hoạt động mang tính chất bề nổi, không quan tâm đến chiều sâu. - Chỉ đạo cho Ban giám hiệu và Ban chấp hành Công đoàn phối hợp triển khai và hướng dẫn Ban chỉ đạo nhà trường vận động Cán bộ giáo viên, nhân viên trong cơ quan đăng ký xây dựng đơn vị có đời sống Văn hóa cấp Tỉnh. - Chỉ đạo thành lập ban vận động xây dựng trường học có đời sống văn hóa tốt năm học 2014- 2024, 2024 - 2024, 2024 - 2024 Kinh nghiệm cho thấy, ở cơ sở nào có sự lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ của các cấp uỷ Đảng, có sự đi sâu, đi sát trong chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ, kiểm tra, đánh giá các phong trào, các hoạt động thì ở đó hoạt động xây dựng văn hóa nhà trường có sự chuyển biến tốt. Điều này hoàn toàn dễ hiểu bởi ở cơ sở nào vai trò lãnh đạo, sự chỉ đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước được thực hiện tốt thì từ việc hoạch định chương trình, kế hoạch hoạt động đến việc tổ chức thực hiện và kết quả thực hiện xây dựng văn hóa nhà trường đều đạt kết quả cao. b.Đối với Ban giám hiệu nhà trường : Thực hiện hình thức tuyên truyền, nhằm giáo dục cho cán bộ giáo viên, học sinh trong nhà trường về xây dựng nếp sống văn minh, đời sống văn hóa trong nhà trường, tham mưu với phụ huynh trồng mới thêm nhiều cây xanh, tạo cảnh quan môi trường luôn xanh - sạch - đẹp. Vận động 100% Cán bộ giáo viên, nhân viên đăng ký xây dựng đơn vị có đời sống văn hóa tốt và thực hiện có hiệu quả phong trào "Trường học thân thiện, học sinh tích cực", "Cổng trường em sạch đẹp - an toàn". Vận động các em học sinh biết chăm sóc sức khỏe, giữ gìn vệ sinh chung và cá nhân, bảo vệ sinh môi trường - xanh - sạch - đẹp. Tổ chức 100% khám sức khỏe ban đầu cho học sinh và tuyên truyền phòng bệnh học đường, các bệnh truyền nhiễm khác. c. Đối với Ban chấp hành Công đoàn : Phối hợp tổ chức tốt các hoạt động văn hóa văn nghệ; thể dục thể thao. Thông qua các hoạt động này nhằm xây dựng "Trường học thân thiện, học sinh tích cực", ngăn ngừa và phòng chống có hiệu quả các tệ nạn xã hội xâm nhập vào trường; hoàn thành tốt các chỉ tiêu thi đua Nghị quyết Đại hội chi bộ, Đại hội Công đoàn và Hội nghị cán bộ - công chức từng nhiệm kỳ đề ra. Luôn có sự phối hợp chặt chẽ, đầy trách nhiệm, tất cả vì sự nghiệp Giáo dục - Đào tạo ở trường; chung vai gánh vác, chia sẻ trách nhiệm, tạo điều kiện thuận lợi cho mỗi cá nhân phát triển. Vận động 100% Đoàn viên công đoàn trong đơn vị đăng ký xây dựng đơn vị có đời sống văn hóa tốt và vận động mỗi đoàn viên công đoàn là hạt nhân tích cực hưởng ứng thực hiện xây dựng đời sống văn hóa ở nhà trường. Chỉ đạo toàn thể đoàn viên đăng ký thực hiện các tiêu chí xây dựng gia đình văn hóa, cơ quan văn hóa gắn liền với cuộc vận động "Dân chủ - kỷ cương - tình thương - trách nhiệm" 2.3.2. Nâng cao nhận thức cho cán bộ, giáo viên và học sinh về tầm quan trọng của công tác xây dựng văn hoá nhà trường. Mục đích của việc làm trên là làm cho cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh thấy rõ vai trò ý nghĩa tốt đẹp, tầm quan trọng của công tác xây dựng văn hóa nhà t

Skkn Một Số Biện Pháp Xây Dựng Văn Hóa Nhà Trường

SKKN: Một số biện pháp xây dựng văn hóa nhà trường

I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1. Đặt vấn đề Văn hóa nhà trường (VHNT) là một hệ thống giá trị, bao gồm cả những giá trị vật chất và giá trị tinh thần. Nó biểu hiện trước hết trong tầm nhìn, sứ mạng, triết lí, mục tiêu, các giá trị, phong cách lãnh đạo, quản lí, bầu không khí tâm lí, truyền thống tôn sư trọng đạo, ứng xử văn hóa nhà trường… đến hệ thống cấu trúc vật lý nhà trường, những nét văn hóa của trang trí phòng học, những khẩu hiệu, biểu tượng, tiểu cảnh, môi trường sư phạm,…thể hiện thành hệ thống được xem là tốt đẹp và được mọi người trong nhà trường chấp nhận. Có thể nói văn hóa nhà trường là yếu tố rất quan trọng để rèn luyện nhân cách và giáo dục thế hệ trẻ – những chủ nhân tương lai của đất nước trở thành những con người sống có hoài bão, có lý tưởng tốt đẹp, có nhân cách tốt, có đủ tri thức để trở thành những công dân tốt, đóng góp vào sự nghiệp xây dựng đất nước. Vì vậy vấn đề xây dựng văn hóa nhà trường phải được coi là tính sống còn, tính cấp bách và thiết thực đối với từng nhà trường. Từ Nghị quyết trung ương Đảng lần thứ V đảng ta đã khẳng định quyết tâm “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”. Tiếp theo, văn kiện Đại hội X (2006) đã nhấn mạnh: “Tiếp tục phát triển sâu rộng nâng cao chất lượng nền văn hóa tiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn với phát triển kinh tế – xã hội, làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực đời sống xã hội”. Đặc biệt đối với ngành giáo dục phải chú trọng về giá trị đạo đức, văn hóa, xây dựng hệ thống các giá trị của nhà trường. Tuy nhiên, trong bối cảnh thế giới có nhiều thay đổi, với xu thế hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, Việt Nam tiếp tục công cuộc đổi mới toàn diện đất nước đang mở ra nhiều triển vọng phát triển giáo dục nói chung và nhà trường trung học phổ thông nói riêng; đồng thời cũng có những thách thức với sự phát triển giáo dục đào tạo. Những thách thức, tồn tại trong giáo dục mà chúng ta cần phải quan tâm như: chất lượng giáo dục đạo đức ở một bộ phận học sinh còn hạn chế, việc xây dựng giá trị, chuẩn mực, niềm tin và hành vi ứng xử của các thành viên trong nhà trường chưa được quan tâm thích đáng và chưa thể hiện được nét riêng trong bản sắc văn hóa nhà trường so với các trường khác, việc đầu tư cơ sở vật chất cũng như cảnh quang môi trường sư phạm một số nơi đầu tư cũng chưa thật sự đáp ứng nhu cầu. Với nhiệm vụ được phân công là Hiệu trưởng trường THCS ở vùng biên giới đặc biệt khó khăn, tôi rất mong muốn có những biện pháp để khắc phục khó khăn trên, làm sao để có được một ngôi trường hiện đại, đạt chuẩn quốc gia, xây dựng được hệ thống giá trị lòng tin của học sinh, phụ huynh và mọi người vì thế tôi đã lựa chọn đề tài ” Một số biện pháp xây dựng văn hóa nhà trường”. GV: Trần Chí Bằng

Năm học: 2013-2014

Trang 1

SKKN: Một số biện pháp xây dựng văn hóa nhà trường

2. Mục đích đề tài. Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề tài nhằm đề xuất một số biện pháp xây dựng VHNT có tính khả thi, phù hợp với thực tế ở các trường có điều kiện còn khó khăn, góp phần nâng cao chất lượng quản lý nhà trường và giáo dục toàn diện nhân cách cho học sinh, phấn đấu xây dựng trường học đạt chuẩn quốc gia, giúp học sinh có điều kiện học tập và rèn luyện tốt hơn, xây dựng được hệ thống giá trị, niềm tin. 3. Lịch sử đề tài Cũng có nhiều đề tài nói về văn hóa nhà trường, nhưng với mỗi trường có những điều kiện thực tế khác nhau nên phải có các biện pháp, giải pháp thực hiện khác. Đối với bản thân tôi, từ khi được làm công tác quản lý tôi rất quan tâm đến xây dựng văn hóa nhà trường, đặc biệt từ năm 2010 khi được tập huấn giáo dục theo hình thức liên kết giáo dục Việt Nam – Singapore. Đến năm 2013-2014 (năm học 2012-2013 và 2013-2014) tôi chính thức nghiên cứu thực hiện đề tài này. 4. Phạm vi đề tài Đề tài không đi sâu nghiên cứu xây dựng những lý luận về văn hóa nhà trường mà chủ yếu giới thiệu một số biện pháp xây dựng văn hóa ở trường THCS. Đối tượng nghiên cứu và thực hiện đề tài là trường THCS Bình Tân.

II. NỘI DUNG CÔNG VIỆC ĐÃ LÀM 1. Thực trạng GV: Trần Chí Bằng

Năm học: 2013-2014

Trang 2

SKKN: Một số biện pháp xây dựng văn hóa nhà trường

Phòng bộ môn

2009-2010

8

185

1.07%

4

2

21.04%

78.95%

2010-2011

8

4

2

21.04%

78.95%

0%

197

1.06%

4

2

57.89%

42.11%

189 2011-2012

7

0%

0%

* Bảng thu thập về tình hình đạo đức học sinh Năm học

Tốt

Khá

Trung bình

Yếu

2009-2010

83.78%

13.51%

2.7%

0%

2010-2011

79.89%

16.4%

3.7%

0%

2011-2012

82.23%

9.14%

8.63%

0%

Qua 2 bảng số liệu trên cho thấy: – Về cở sở vật chất nhà trường còn thiếu nhiều phòng bộ môn, phòng học văn hóa chỉ đủ bố trí lớp dạy 2 ca/ngày nên không thể mở được các lớp trên 6 buổi/tuần, trường học chưa đạt chuẩn. Đây là một trong những khó khăn về bố trí cấu trúc vật lý nhà trường đảm bảo được yêu cầu chuẩn, sự khang trang và xây dựng văn hóa trong cấu trúc vật lý nhà trường. – Về chất lượng đội ngũ tuy tỉ lệ trên chuẩn có nâng lên hàng năm nhưng vẫn chưa phát huy hết khả năng tự học của giáo viên. Đây là một trong những nội dung xây dựng chiến lược, thể hiện tầm nhìn của đơn vị. – Tỉ lệ học sinh bỏ học vẫn còn cao so với quy định trường chuẩn. – Học sinh chiếm tỉ lệ xếp loại hạnh kiểm trung bình còn cao, đặc biệt năm học 2011-2012 tỉ lệ này lại tăng cao hơn so với các năm học trước. Đây là một bài toán đối với nhà trường trong việc tìm ra biện pháp để tăng cường GV: Trần Chí Bằng

Năm học: 2013-2014

Trang 3

SKKN: Một số biện pháp xây dựng văn hóa nhà trường

giáo dục đạo đức học sinh, hiển nhiên học sinh vi phạm đạo đức nhiều sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến văn hóa trường học. Đi sâu vào tìm hiểu các nguyên nhân dẫn đến hạn chế trên, tôi rút ra được các nguyên nhân cơ bản sau: – Việc xây dựng kế hoạch chiến lược, kế hoạch dài hạn của nhà trường có thực hiện nhưng việc cụ thể kế hoạch hàng năm còn hạn chế, nhất là kế hoạch thực hiện các tiêu chí của trường chuẩn quốc gia. – Do đặc thù vùng biên giới khó khăn, số học sinh ít hơn với các trường khác, cơ sở vật chất và một số tiêu chuẩn, tiêu chí chưa đạt được còn nhiều nên BGH chưa mạnh dạn trong việc tham mưu các cấp trong việc đầu cơ về cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học. – Một số giáo viên còn e ngại trong việc sắp xếp thời gian học tập trên chuẩn để nâng cao trình độ chuyên môn, tay nghề. – Có nhiều nguyên nhân học sinh bỏ học, nhưng nguyên nhân cơ bản là học sinh học yếu dẫn đến chán học, chưa xác định được động cơ học tập tích cực. – Do tác động từ nhiều mặt xã hội nên các em dễ vi phạm một số nội quy nhà trường dẫn đến đạo đức chưa tốt như: thường xuyên nghỉ học để chơi game, trang phục, đầu tóc chưa đúng quy định của nhà trường, ứng xử với bạn bè thầy cô chưa tốt,… Mặc khác, việc giải quyết tình huống sư phạm của một số giáo viên đôi lúc còn hạn chế nên có đôi lúc dẫn đến sự bất đồng giữa giáo viên và học sinh, nhất là đối với những em học sinh có cá tính đặc biệt. Công tác tư vấn của nhà trường đối với học sinh vẫn còn hạn chế. – Việc quan tâm xây dựng nét văn hóa, truyền thống của nhà trường chưa được chú trọng, nhất là vai trò của Hiệu trưởng nhà trường. 2. Nội dung cần giải quyết Để giải quyết các hạn chế, yếu kém thực trạng trên, qua việc thống kê, phân tích tìm hiểu nguyên nhân tôi tập trung giải quyết một số vấn đề sau trong việc xây dựng văn hóa nhà trường như: Một là, tăng cường vai trò của Hiệu trưởng nhà trường trên nhiều mặt, trong đó tập trung hơn đối với việc xây dựng văn hóa nhà trường. Hai là, nâng cao nhận thức cho cán bộ, giáo viên và học sinh về tầm quan trọng của công tác xây dựng văn hoá nhà trường. Ba là, thực hiện tốt việc xây dựng kế hoạch chiến lược, xây dựng hệ thống giá trị nhà trường, kế hoạch trường đạt chuẩn quốc gia. GV: Trần Chí Bằng

Năm học: 2013-2014

Trang 4

SKKN: Một số biện pháp xây dựng văn hóa nhà trường

Năm học: 2013-2014

Trang 5

SKKN: Một số biện pháp xây dựng văn hóa nhà trường

Năm học: 2013-2014

Trang 6

SKKN: Một số biện pháp xây dựng văn hóa nhà trường

Tạo ra môi trường có lợi nhất cho học sinh: – An toàn. – Cởi mở và chấp nhận các nhu cầu và hoàn cảnh khác nhau của học sinh. – Khuyến khích học sinh phát biểu, bày tỏ quan điểm cá nhân. – Xây dựng mối quan hệ ứng xử tôn trọng, hiểu biết lẫn nhau, học hỏi lẫn nhau giữa thầy và trò. * Ảnh hưởng của Hiệu trưởng đến văn hóa nhà trường – Triết lí giáo dục của hiệu trưởng ảnh hưởng đến văn hóa nhà trường. – Hiệu trưởng có vai trò quyết định trong việc hình thành các nhóm chuẩn mực niềm tin. – Sự quan tâm, chú ý của hiệu trưởng đến cái gì… sẽ ảnh hưởng chi phối văn hóa nhà trường. – Hiệu trưởng xác định, tập hợp, tạo lập giá trị cốt lõi của nhà trường. – Hiệu trưởng xác định các đặc trưng và chia sẽ tầm nhìn…. 3.2 Nâng cao nhận thức cho cán bộ, giáo viên và học sinh về tầm quan trọng của công tác xây dựng văn hoá nhà trường. Mục đích của việc làm trên là làm cho cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh thấy rõ vai trò ý nghĩa tốt đẹp, tầm quan trọng của công tác xây dựng VNHT, trên cơ sở đó mỗi người, mỗi bộ phận xác định rõ ý thức trách nhiệm, chủ động, tự giác, tích cực tham gia công tác này; tạo sự nhất trí cao và phối hợp đồng bộ giữa các tổ chức, các lực lượng đối với công tác xây dựng VNHT. Tôi tập trung thực hiện một số biện pháp sau: – Tổ chức các cuộc tuyên truyền, phổ biến về nội dung, vai trò ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác xây dựng VHNT trong cán bộ, giáo viên và học sinh; đến cha mẹ học sinh. – Đưa nội dung công tác xây dựng VHNT vào kế hoạch hoạt động của nhà trường, của các tổ chuyên môn, tổ giáo viên chủ nhiệm, của Đoàn TNCSHCM, các lớp học sinh và là một tiêu chí trong xếp loại thi đua các tập thể, cá nhân của nhà trường. – Tổ chức các lớp tập huấn về nội dung, phương pháp, kỹ năng xây dựng VHNT cho giáo viên và học sinh. GV: Trần Chí Bằng

Năm học: 2013-2014

Trang 7

SKKN: Một số biện pháp xây dựng văn hóa nhà trường

Năm học: 2013-2014

Trang 8

SKKN: Một số biện pháp xây dựng văn hóa nhà trường

– Học sinh gần gũi với thầy cô. – Đa số học sinh tự giác chấp hành nội quy trường lớp. – Đa số phụ huynh tin tưởng, tạo được lòng tin các cấp quản lý và đối với các trường bạn. – Được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo, sự phối hợp của các ban ngành đoàn thể. * Những giá trị cần xây dựng hoặc cần thực hiện tốt hơn – Tham mưu lãnh đạo các cấp xây dựng thêm các phòng bộ môn, nâng cấp sữa cấp sữa chữa phòng học để phấn đấu trường đạt chuẩn quốc gia đến năm 2013-2014. – Văn hóa trong bố trí kiến trúc vật lý của trường: sơ đồ bố trí các phòng phải hợp lý, bố trí, trang trí trong từng phòng phù hợp, mỗi phòng bộ môn phải có bảng nội quy cụ thể. Tạo một số tiểu cảnh trong nhà trường, trang trí thêm khẩu hiệu, tăng cường cây xanh, cây kiểng và bố trí khu vực trồng hợp lý. – Văn hóa trong giao tiếp: thầy với trò, trò với thầy, đồng nghiệp, lãnh đạo, cấp dưới, phụ huynh học sinh,… – Văn hóa trong sử dụng đồ dùng dạy học. – Xây dựng sứ mệnh, hệ thống giá trị cơ bản, tầm nhìn và công khai rộng rãi. – Nâng cao chất lượng giáo dục đại trà và mũi nhọn, tạo lòng tin vững chắc cho học sinh và phụ huynh. – Nâng cao hơn chất lượng đội ngũ. Khi xây dựng xong tôi thể chế hàng năm một cách cụ thể gắn với nhiệm vụ năm học hàng năm. Thực hiện tốt việc tổ chức sơ kết, đánh giá từng học kỳ và năm học. Khi cần thiết thì tổ chức đóng góp ý kiến và điều chỉnh kịp thời. * Một số lưu ý khi hiệu trưởng xây dựng kế hoạch + Đề ra các mục tiêu, chỉ tiêu cần đạt được cho tập thể cán bộ giáo viên và học sinh.

GV: Trần Chí Bằng

Năm học: 2013-2014

Trang 9

SKKN: Một số biện pháp xây dựng văn hóa nhà trường

+ Lựa chọn biện pháp xây dựng VHNT cụ thể, phù hợp để thực hiện đạt các mục tiêu, chỉ tiêu tương ứng và xác định rõ thời gian triển khai, hoàn thành nội dung công việc. + Phân công cá nhân, bộ phận thực hiện biện pháp đề ra; kiểm tra đôn đốc. + Xác định các nguồn lực thực hiện kế hoạch. + Kế hoạch phải có tính khả thi. 3.4 Tạo điều kiện cho giáo viên tích cực tự học nâng cao trình độ, chuyên môn, tay nghề, kinh nghiệm ứng xử tình huống sư phạm Trong một đơn vị không phải giáo viên nào cũng có điều kiện học tập được thuận lợi, giáo viên nào cũng muốn học nâng cao. Hơn nữa, việc tạo điều kiện cho giáo viên học dài hạn có thể ảnh hướng tới năng suất công việc, khó khăn trong việc sắp xếp, phân công. Tuy nhiên xác định được tầm quan trọng của một đội ngũ có trình độ chuyên môn tay nghề cao để xây dựng VHNT nên tôi luôn tìm biện pháp để động viên và tạo điều kiện cho giáo viên đi học như sau: – Phối hợp Công đoàn tuyên truyền về quyền lợi của việc học nâng cao trình độ tay nghề như nâng ngạch, đánh giá chuẩn, xét thi đua,… thông tin và giới thiệu kịp thời về các trường có tuyển sinh. – Sắp xếp, phân công, thời khóa biểu thuận lợi nhất cho giáo viên đi học. Vận động giáo viên dạy thay cho giáo viên trong những trường hợp lớp học tập trung đột xuất. – Giải quyết đúng chế độ, chính sách cho giáo viên một cách kịp thời. – Cùng công đoàn vận động xây dựng quỹ xoay vòng để giúp đỡ trong lúc giáo viên khó khăn về kinh tế khi tham gia học tập. – Biểu dương khi có giáo viên đi học và đạt thành tích cao trong học tập. Do đặc thù trường thành lập chưa lâu và vùng đặc biệt khó khăn đa số đội ngũ còn non về tay nghề, xử lý tính huống sư phạm đôi lúc còn lúng túng nhất là khi gặp học sinh có cá tính đặc biệt. Để giúp giáo viên có thêm và được chia sẽ kinh nghiệm tôi thực hiện như sau: – Tổ chức trao đổi ứng xử tình huống đầu năm, trong họp hội đồng, họp chuyên môn. Hiệu trưởng, phó hiệu trưởng cần có sự chuẩn bị kỹ lưỡng tình huống và các phương pháp giải quyết, khuyến khích giáo viên nêu thêm tinh huống và hướng giải quyết.

GV: Trần Chí Bằng

Năm học: 2013-2014

Trang 10

SKKN: Một số biện pháp xây dựng văn hóa nhà trường

– Tổ chức thi đưa ra tình huống sư phạm, “Hội thi hùng biện” trong dịp 20/11 hàng năm. – Tăng cường thêm sách, tài liệu tham khảo trong kho sách thư viện. – Cùng trao đổi với các giáo viên có kinh nghiệm hoặc hội ý một số giáo viên khác về những trường hợp học sinh vi phạm khuyết điểm trong những tình huống khó xử lý. 3.5 Xây dựng quy tắc ứng xử VHNT, thực hiện tốt hơn công tác tư vấn, rèn kỹ năng sống cho học sinh. Phối hợp tốt với các ban ngành đoàn thể trong và ngoài nhà trường hạn chế HS lưu ban, bỏ học, tăng cường giáo dục đạo đức học sinh. a) Xây dựng quy tắc ứng xử VHNT: Ứng xử văn hóa là một truyền thống quý báo không chỉ của nhà trường mà đó cũng chính là truyền thống của dân tộc ta. Khi gặp một tình huống khó đến đâu, nếu chúng ta cứ giữ vững nguyên tắc ứng xử có văn hóa thì dù việc nào kết quả cũng sẽ tốt đẹp. Đối với trường học, nhiều trường hợp học sinh có hạnh kiểm chưa tốt đều nguyên nhân do cách ứng xử với bạn bè, thầy cô chưa tốt, chưa thể hiện văn hóa, nét đẹp trong tính cách mỗi người. Đối với đơn vị tôi, nhất là ở năm học 2011-2012 thì học sinh có đạo đức xếp loại trung bình cao hơn nhiều so với năm học trước, đây là điều tôi rất băn khoăn cho các năm học tiếp theo. Do đó, tôi xây dựng biểu điểm cụ thể để giáo viên chủ nhiệm cùng với ý kiến đóng góp của học sinh nhận xét việc rèn luyện đạo đức học sinh hàng tháng. Đồng thời ban hành quy tắc ứng xử văn hóa nhà trường dành cho học sinh và chúng tôi Để thực hiện BGH phối hợp với Công đoàn, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Đội TNTP Hồ Chí Minh tổ chức triển khai thực hiện. * Nội dung quy tắc ứng xử văn hóa trường THCS Bình Tân có 2 phần: Phần I. NHỮNG QUY ĐỊNH ỨNG XỬ VĂN HÓA ĐỐI VỚI HỌC SINH Gồm các mục quy định ứng xử như: 1. Ứng xử với thầy cô, cán bộ và nhân viên nhà trường. 2. Ứng xử với bạn bè. 3. Ứng xử trong việc học tập và rèn luyện.

GV: Trần Chí Bằng

Năm học: 2013-2014

Trang 11

SKKN: Một số biện pháp xây dựng văn hóa nhà trường

4. Ứng xử trong gia đình. 5. Ứng xử trong nhà trường và nơi công cộng. Phần II. NHỮNG QUY ĐỊNH ỨNG XỬ VĂN HÓA ĐỐI VỚI CB.GV.CNV Gồm các mục quy định ứng xử như: 1.

Ứng xử với công việc được giao.

2.

Ứng xử với đồng nghiệp và cán bộ quản lý.

3.

Ứng xử với học sinh.

4.

Ứng xử với phụ huynh học sinh và nhân dân.

5.

Ứng xử trong gia đình.

6.

Ứng xử trong nhà trường và nơi công cộng.

b) Công tác tư vấn, rèn kỹ năng sống cho học sinh Trong bối cảnh xã hội có quá nhiều tác động xấu ảnh hưởng không nhỏ đến tâm lý của HS, nếu làm tốt công tác tư vấn tâm lý sẽ góp phần quan trọng trong việc ngăn ngừa các nguy cơ HS bị lôi kéo, bị sa vào những hành vi tiêu cực, sống ích kỷ và dễ bị phát triển lệch lạc về nhân cách, không xác định được phương hướng cuộc sống của chính mình,… Do đó, nếu công tác tư vấn tâm lý học đường làm tốt sẽ giúp HS có “khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống, xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với gia đình, bè bạn và mọi người, sống tích cực, chủ động, an toàn, hài hòa và lành mạnh”. Theo điều lệ nhà trường thì hiệu trưởng có thể phân công giáo viên làm công tác tư vấn tâm lý học sinh. Tuy nhiên khi thực hiện thì lại gặp khó khăn do chưa có chế độ cụ thể và cũng chưa có giáo viên được đào tạo cụ thể về tư vấn tâm lý. Do đó, để thực hiện công tác tư vấn tâm lý học sinh tôi đã thành lập tổ tư vấn tâm lý học sinh gồm có BGH, GVCN, GV có kinh nghiệm trong giáo dục học sinh và trưởng ban đại diện cha mẹ học sinh. Sau khi thành lập xong, hiệu trưởng tổ chức họp để xây dựng kế hoạch, bồi dưỡng chuyên đề về nhiệm vụ và hoạt động của tổ công tác tư vấn, phân chia nhiệm vụ các thành viên trong tổ, phối hợp giáo viên thư viện giới thiệu một số sách, tài liệu như: tâm lý lứa tuổi sư phạm, tâm lý trẻ vị thành niên, kĩ năng sống, các tình huống sư phạm, giáo dục học sinh bằng biện pháp kĩ luật thích hợp,…. Về hoạt động tùy vào nội dung học sinh cần tư vấn thì sẽ chọn giáo viên phù hợp để tư vấn và giúp đỡ các em. Qua thời gian hoạt động tôi rút ra có 4 nhóm khó khăn tâm lý mà học sinh THCS thường gặp là: GV: Trần Chí Bằng

Năm học: 2013-2014

Trang 12

SKKN: Một số biện pháp xây dựng văn hóa nhà trường

+ Nhóm khó khăn từ chính bản thân: khó khăn trong giao tiếp, mặc cảm tự ti về bản thân, đánh giá thấp bản thân, cảm thấy buồn rầu… + Khó khăn tâm lý trong học tập: khó tập trung nghe giảng, khó tiếp thu bài, khó khăn trong việc ghi nhớ, khó khăn trong việc vận dụng kiến thức đã học… + Khó khăn tâm lý trong các mối quan hệ: khó khăn trong các mối quan hệ giữa cá nhân với bạn bè, với thầy/cô giáo, với cha mẹ… + Khó khăn trong việc lựa chọn nghề nghiệp tương lai. Khi hiểu rõ được các em cần tư vấn thuộc nhóm nào thì giáo viên sẽ dễ đồng cảm, chia sẽ, giúp đỡ các em hơn. Một điều cần chú ý là cần bố trí nơi tư vấn sao cho phù hợp, linh hoạt để giúp học sinh tự tin, tự nhiên và gần gũi. Hoạt động của tổ tư vấn cũng có sự sơ kết, rút kinh nghiệm. c) Phối hợp tốt với các ban ngành đoàn thể trong và ngoài nhà trường Ngay đầu năm BGH nhà trường phối hợp với các đoàn thể trong và ngoài nhà trường xây dựng kế hoạch liên tịch. Trong kế hoạch cần nêu rõ nội dung phối hợp và kết quả của việc phối hợp. Chẳng hạn: – Đối với tổ chức Đoàn – Đội: gắn với chỉ tiêu rèn luyện đạo đức, giúp học sinh học tập tiến bộ,… – Ban đại diện CMHS: vận động học sinh bỏ học trở lại lớp, giúp đỡ HS khó khăn, phối hợp giáo dục đạo đức học sinh ngoài nhà trường, tham gia hoạt động giáo dục ngoài giờ,… – Công an: phối hợp về an toàn giao thông, tệ nạn xã hội,.. – Y tế – dân số: Khám sức khỏe định kỳ, các chuyên đề về y tế, sức khỏe sinh sản vị thành niên,… Các kế hoạch trên cần thực hiện tốt việc sơ kết đánh giá công tác phối hợp và kết quả thực hiện định kỳ kết thúc HKI và cuối năm học. Việc thực hiện sơ kết, tổng kết công tác phối hợp thông thường các trường ít chú trọng nên công tác phối hợp thường hiệu quả chưa cao. Do đó, hàng năm vào cuối năm học tôi đều tổ chức một cuộc họp đánh giá về kết quả công tác phối hợp trong năm nhằm rút kinh nghiệm và định hướng cho năm học tiếp theo. 4. Kết quả đạt được Qua những năm áp dụng các giải pháp trên từ năm học 2012-2013 và 2013-2014 tôi nhận thấy có nhiều chuyển biến tích cực thể hiện được nét văn GV: Trần Chí Bằng

Năm học: 2013-2014

Trang 13

SKKN: Một số biện pháp xây dựng văn hóa nhà trường

hóa trong trường học, cụ thể như sau: * Cơ sở vật chất trường lớp, trình độ giáo viên Năm học

Phòng văn hóa

Phòng bộ môn

GV Đạt Chuẩn

2012-2013

7

192

0,52%

4

2

66,67%

33.33%

0

2013-2014

8

198

0,5%

6

7

66,67%

33.33%

*Kết quả giáo dục đạo đức học sinh Năm học

Tốt

Khá

Trung bình

Yếu

2012-2013

93.23%

6.25%

0.52%

0%

2013-2014

91.0%

7%

2%

0%

Qua bảng kết quả trên ta nhận thấy rằng cơ sở vật chất nhà trường được cải thiện rõ rệt. Số phòng bộ môn, phòng chức năng tăng lên đáp ứng được nhu cầu của nhà trường. Đồng thời việc bố trí hệ thống các công trình nhà trường đẹp, khoa học thể hiện được nét đặc trưng của trường. Chất lượng đội ngũ được nâng lên, trình độ chuyên môn tay nghề giáo viên được nâng lên rõ rệt. Năm học 2012-2013 có 32% đạt danh hiệu chiến sĩ thi đua cơ sở, 1 giáo viên được Chủ tịch UBND tỉnh Long An tặng bằng khen. Năm học 2013-2014 cũng đang đề nghị khen thưởng 8 chúng tôi đạt danh hiệu chiến sĩ thi đua cơ sở và 1 cá nhân tặng bằng khen của chủ tịch UBND tỉnh. Học sinh đạt giải học sinh giỏi văn hóa các cấp trong các năm học 2012-2013 và 2013-2014 được tăng lên. Đó cũng là một trong những nét văn hóa của trường. Ngoài ra, nhờ có điều kiện cơ sở vật chất và phòng bộ môn mà nhà trường mở được các lớp học trên 6 buổi/tuần, hạn chế được tỉ lệ học sinh yếu kém, từ đó tỉ lệ học sinh bỏ học hàng năm giảm hẳn, đạt tỉ lệ quy định của trường chuẩn (bỏ học dưới 1 %). Tỉ lệ HS xếp loại đạo đức khá, tốt ngày tăng hơn so với các năm học trước khi nghiên cứu thực hiện. Có nhiều học sinh ngoan, lễ phép, không có học sinh xếp loại hạnh kiểm yếu. Một kết quả quan trọng thể hiện sự thành công của nhà trường trong việc áp dụng các giải pháp xây dựng văn hóa nhà trường là trường đạt được các tiêu chí, tiêu chuẩn của trường đạt chuẩn quốc gia. Trường THCS Bình Tân được công nhận trường chuẩn quốc gia vào thời điểm tháng 12/2014.

GV: Trần Chí Bằng

Năm học: 2013-2014

Trang 14

SKKN: Một số biện pháp xây dựng văn hóa nhà trường

III. KẾT LUẬN 1. Tóm lược giải pháp

GV: Trần Chí Bằng

Năm học: 2013-2014

Trang 15

SKKN: Một số biện pháp xây dựng văn hóa nhà trường

3. Kiến nghị GV: Trần Chí Bằng

Năm học: 2013-2014

Trang 16

SKKN: Một số biện pháp xây dựng văn hóa nhà trường

Traàn Chí Baèng

MUÏC LUÏC

GV: Trần Chí Bằng

Năm học: 2013-2014

Trang 17

SKKN: Một số biện pháp xây dựng văn hóa nhà trường

I/ Lyù do choïn ñeà taøi 1.

Ñaët vaán ñeà

Trang 1

2.

Muïc ñích ñeà taøi

Trang 2

3.

Lòch söû ñeà taøi

4.

Phaïm vi ñeà taøi

Trang 2 Trang 2

II/ Noäi dung coâng vieäc 1.

Thöïc traïng ñeà taøi

Trang 3-4

2.

Noäi dung caàn giaûi quyeát

Trang 4-5

3.

Bieän phaùp giaûi quyeát

Trang 5-14

4.

Keát quaû

Trang 14-15

III/ Keát luaän 1. Toùm löôïc giaûi phaùp 2.

Trang 16

Phaïm vi, ñoái töôïng aùp duïng

Trang

16 3. Kieán nghò vôùi caùc caáp veà ñieàu kieän thöïc hieän

GV: Trần Chí Bằng

Năm học: 2013-2014

Trang 17

Trang 18

Một Số Biện Pháp Xây Dựng Văn Hóa Nhà Trường

I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI1. Đặt vấn đềVăn hóa nhà trường (VHNT) là một hệ thống giá trị, bao gồm cả những giá trị vật chất và giá trị tinh thần. Nó biểu hiện trước hết trong tầm nhìn, sứ mạng, triết lí, mục tiêu, các giá trị, phong cách lãnh đạo, quản lí, bầu không khí tâm lí, truyền thống tôn sư trọng đạo, ứng xử văn hóa nhà trường… đến hệ thống cấu trúc vật lý nhà trường, những nét văn hóa của trang trí phòng học, những khẩu hiệu, biểu tượng, tiểu cảnh, môi trường sư phạm,…thể hiện thành hệ thống được xem là tốt đẹp và được mọi người trong nhà trường chấp nhận. Có thể nói văn hóa nhà trường là yếu tố rất quan trọng để rèn luyện nhân cách và giáo dục thế hệ trẻ – những chủ nhân tương lai của đất nước trở thành những con người sống có hoài bão, có lý tưởng tốt đẹp, có nhân cách tốt, có đủ tri thức để trở thành những công dân tốt, đóng góp vào sự nghiệp xây dựng đất nước. Vì vậy vấn đề xây dựng văn hóa nhà trường phải được coi là tính sống còn, tính cấp bách và thiết thực đối với từng nhà trường. Từ Nghị quyết trung ương Đảng lần thứ V đảng ta đã khẳng định quyết tâm “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”. Tiếp theo, kiện hội X (2006) đã nhấn mạnh: “Tiếp tục phát triển sâu rộng nâng cao chất lượng nền văn hóa tiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn với phát triển kinh tế – xã hội, làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực đời sống xã hội”. Đặc biệt đối với ngành giáo dục phải chú trọng về giá trị đạo đức, văn hóa, xây dựng hệ thống các giá trị của nhà trường. Tuy nhiên, trong bối cảnh thế giới có nhiều thay đổi, với xu thế hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, Việt Nam tiếp tục công cuộc đổi mới toàn diện đất nước đang mở ra nhiều triển vọng phát triển giáo dục nói chung và nhà trường trung học phổ thông nói riêng; đồng thời cũng có những thách thức với sự phát triển giáo dục đào tạo. Những thách thức, tồn tại trong giáo dục mà chúng ta cần phải quan tâm như: chất lượng giáo dục đạo đức ở một bộ phận học sinh còn hạn chế, việc xây dựng giá trị, chuẩn mực, niềm tin và hành vi ứng xử của các thành viên trong nhà trường chưa được quan tâm thích đáng và chưa thể hiện được nét riêng trong bản sắc văn hóa nhà trường so với các trường khác, việc đầu tư cơ sở vật chất cũng như cảnh quang môi trường sư phạm một số nơi đầu tư cũng chưa thật sự đáp ứng nhu cầu. Với nhiệm vụ được phân công là Hiệu trưởng trường THCS ở vùng biên giới đặc biệt khó khăn, tôi rất mong muốn có những biện pháp để khắc phục khó khăn trên, làm sao để có được một ngôi trường hiện đại, đạt chuẩn quốc gia, xây dựng được hệ thống giá trị lòng tin của học sinh, phụ huynh và mọi người vì thế tôi đã lựa chọn đề tài ” Một số biện pháp xây dựng văn hóa nhà trường”.2. Mục đích đề tài.Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề tài nhằm đề xuất một số biện pháp xây dựng VHNT có tính khả thi, phù hợp với thực tế ở các trường có điều kiện còn khó khăn, góp phần nâng cao chất lượng quản lý nhà trường và giáo dục toàn diện nhân cách cho học sinh, phấn đấu xây dựng trường học đạt chuẩn quốc gia, giúp học sinh có điều kiện học tập và rèn luyện tốt hơn, xây dựng được hệ thống giá trị, niềm tin.3. Lịch sử đề tàiCũng có nhiều đề tài nói về văn hóa nhà trường, nhưng với mỗi trường có những điều kiện thực tế khác nhau nên phải có các biện pháp, giải pháp thực hiện khác. Đối với bản thân tôi, từ khi được làm công tác quản lý tôi rất quan tâm đến xây dựng văn hóa nhà trường, đặc biệt từ năm 2010 khi được tập huấn giáo dục theo hình thức liên kết giáo dục Việt Nam – Singapore. Đến năm 2013-2014 (năm học 2012-2013 và 2013-2014) tôi chính thức nghiên cứu thực hiện đề tài này.4. Phạm vi đề tàiĐề tài không đi sâu nghiên cứu xây dựng những lý luận về văn hóa nhà trường mà chủ yếu giới thiệu một số biện pháp xây dựng văn hóa ở trường THCS. Đối tượng nghiên cứu và thực hiện đề tài là trường THCS Bình Tân.

II. DUNG CÔNG VIỆC ĐÃ LÀM1. Thực trạng VHNT có tác động đến mọi khía cạnh sư phạm của giáo viên, là yếu tố lan tỏa khắp nhà trường

Một Số Biện Pháp Xây Dựng Nhà Trường Văn Hóa Ở Trường Thpt Số 2 Bắc Hà

Sáng kiến kinh nghiệm

Vũ Thu Hường – Hiệu trưởng THPT số 2 Bắc Hà MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU:……………………………………………………………………….. I. Lý do chọn đề tài……………………………………………………… II. Mục đích nghiên cứu………………………………………………… III. Nhiệm vụ nghiên cứu………………………………………………… IV. Đối tượng nghiên cứu……………………………………………….. V. Phương pháp nghiên cứu…………………………………………….. PHẦN NỘI DUNG:……………………………………………………………………… I. Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài…………………………….. 1. Cơ sở lý luận…………………………………………………………. 2. Cơ sở thực tiễn………………………………………………………… II. Thực trạng xây dựng nhà trường văn hóa – trường THPT số 2 Bắc Hà 1. Đặc điểm tình hình trường THPT số 2 Bắc Hà…… 2. Thực tế các hoạt động xây dựng NTVH……………………………… III. Một số giải pháp xây dựng NTVH – THPT số 2 Bắc Hà năm học 2010 2011 1. Giải pháp xây dựng “phần nổi” của nhà trường văn hóa 2. Giải pháp xây dựng “phần chìm” của nhà trường văn hóa 3. Các giải pháp cụ thể 3.1. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, hiệu quả quản lý của Ban Giám hiệu trong việc thực hiện nhiệm vụ xây dựng nhà trường văn hoá. 3.2. Vai trò của người Hiệu trưởng trong việc xây dựng nhà trường văn hóa. 3.3. Nâng cao nhận thức cho giáo viên, cán bộ, công chức và toàn thể học sinh để xây dựng NTVH 3.4. Phát huy sức mạnh tổng hợp của giáo viên và học sinh trong trường làm chuyển biến mạnh mẽ cuộc vận động ……………………………………. 3.5. Xây dựng và thực hiện các quy tắc ứng xử văn hóa trong nhà trường 3.6. Tăng cường các biện pháp giáo dục hành vi văn hóa cho học sinh hiện nay: 3.7. Tăng cường xây dựng nguồn lực và cơ sở vật chất cho các hoạt động … 3.8. Xây dựng một môi trường đạo đức tích cực, trong sáng, lành mạnh trong Nhà trường. PHẦN KẾT LUẬN :…………………………………………………………………….. Tài liệu tham khảo. I. Lý do chọn đề tài

PHẦN MỞ ĐẦU

Theo tinh thần Nghị quyết của Đảng, sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá mà chúng ta đang tiến hành nhằm xây dựng cơ sở vật chất cho Chủ nghĩa xã hội đang Trường THPT số 2 Bắc Hà

1

Sáng kiến kinh nghiệm Vũ Thu Hường – Hiệu trưởng THPT số 2 Bắc Hà đặt ra nhiệm vụ cấp bách là xây dựng một xã hội không chỉ có nền kinh tế và khoa học công nghệ phát triển cao, cùng với nó phải là một môi trường văn hóa trong sạch, lành mạnh, thực sự là nguồn năng lượng tinh thần, là “cái nôi” nuôi dưỡng tâm hồn, phát triển trí tuệ và hình thành nhân cách con người. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X cũng khẳng định, phải phát triển nhanh nhưng bền vững; tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường; mục tiêu chân – thiện – mỹ là mục đích vươn tới của văn hoá Việt Nam. Bên cạnh những thành tựu đáng tự hào mà Việt Nam đã đạt được trong công cuộc đổi mới vừa qua, cũng phải nghiêm túc nhìn nhận về thực trạng môi trường văn hóa nước ta vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập đáng lo ngại: sự gia tăng nhanh chóng của tệ nạn xã hội; sự băng hoại đạo đức, lối sống của một lớp người trong xã hội, đặc biệt là lớp thanh niên trẻ; sự tấn công, phá hoại nhiều mặt của các thế lực thù địch trong và ngoài nước đang làm xói mòn đạo đức, lối sống, phá vỡ thuần phong mỹ tục, đảo lộn kỷ cương, phép nước … Ở lĩnh vực Giáo dục – Đào tạo, nhiều cơ sở đào tạo và trường học chưa thực sự coi trọng vấn đề xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh để đào tạo những con người phát triển toàn diện. Nhiều trường học mới chỉ quan tâm tới việc truyền thụ kiến thức cho học sinh, chưa chú trọng đúng mức đến việc giáo dục phẩm chất đạo đức, phát triển nhân cách con người. Một số hiện tượng tiêu cực nảy sinh không được kịp thời uốn nắn dẫn đến những hậu quả đáng tiếc trong học sinh, sinh viên: lang thang bụi đời, trộm cắp, cướp giật, ma tuý, mại dâm, .v.v… Trật tự học đường ở một số trường chưa được đảm bảo, mối quan hệ giữa nhà trường – gia đình – xã hội lỏng lẻo, tạo điều kiện cho các tệ nạn xã hội luồn lách, thâm nhập vào học đường. Môi trường giáo dục ở một số nơi còn thiếu lành mạnh bởi hoạt động “thương mại hoá

Trường THPT số 2 Bắc Hà

2

giáo dục” của một số thầy cô giáo. Ở một vài trường học, cơ sở vật chất phục vụ học tập còn chưa được trang bị đầy đủ, bàn ghế thiếu thốn, sân chơi nhiều rác, nhà vệ sinh thiếu sạch sẽ, môi trường không khí bị ô nhiễm … làm ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục. Đây là những bức xúc, đòi hỏi sự quan tâm hàng đầu của các cấp lãnh đạo, các cơ quan đoàn thể trên địa bàn. Bên cạnh đó, cùng với gia đình, nhà trường là “cái nôi” đầu tiên trong quá trình giáo dục, hình thành và phát triển nhân cách con người, tạo nên nguồn nguyên khí của quốc gia. Vì thế để giáo dục các em, những chủ nhân tương lai của đất nước thành một con người phát triển toàn diện thì đầu tiên phải chú ý đến việc xây dựng nhà trường văn hóa, nhà giáo mẫu mực.Vấn đề xây dựng một nhà trường văn hóa được coi là có tính sống còn đối với mỗi trường, vì nếu trường học mà thiếu văn hóa thì không thể làm được chức năng chuyển tải những giá trị kiến thức và nhân văn cho thế hệ trẻ. Xuất phát từ tình hình đó, đồng thời nhằm thực hiện hiệu quả cuộc vận động xây dựng “Trường học thân thiện – Học sinh tích cực” mà ngành giáo dục đang triển khai hiện nay và tiến tới xây dựng một nhà trường đạt tiêu chuẩn “Nhà trường văn hóa – nhà giáo mẫu mực – học sinh thanh lịch”, tôi đã chọn đề tài: “Một số biện pháp xây dựng nhà trường văn hoá ở trường THPT số 2 Bắc Hà ” nhằm trao đổi kinh nghiệm trong công tác quản lý chỉ đạo tại nhà trường, giúp cho việc thực hiện nhiệm vụ năm học ngày càng đạt hiệu quả cao. II. Mục đích nghiên cứu. Đề tài nghiên cứu đề xuất một số biện pháp chỉ đạo thực hiện xây dựng nhà trường văn hóa ( NTVH ) ở trường THPT số 2 Bắc Hà năm học 2010 – 2011. III. Nhiệm vụ nghiên cứu. 1. Nghiên cứu cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn của việc xây dựng NTVH nói chung và trường THPT số 2 Bắc Hà nói riêng. 2. Đánh giá thực trạng của việc xây dựng NTVH ở trường THPT số 2 Bắc Hà Lào Cai. Trường THPT số 2 Bắc Hà

3

Sáng kiến kinh nghiệm Vũ Thu Hường – Hiệu trưởng THPT số 2 Bắc Hà 3. Đề xuất một số biện pháp nhằm xây dựng Nhà trường văn hoá, nhà giáo mẫu mực, học sinh chăm ngoan. Đẩy mạnh phong trào thi đua “Dạy tốt – Học tốt”, đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao hiệu quả giáo dục toàn diện; thực hiện cuộc vận động “Dân chủ – Kỷ cương – Tình thương – Trách nhiệm” trong trường THPT số 2 Bắc Hà IV. Đối tượng nghiên cứu. Những biện pháp chỉ đạo thực hiện xây dựng NTVH trong trường THPT. V. Phương pháp nghiên cứu. 1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận 2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn 3. Phương pháp điều tra, khảo sát, thực nghiệm. 4. Phương pháp mô tả 5. Phương pháp phân tích 6. Phương pháp tổng hợp, tổng kết kinh nghiệm.

PHẦN NỘI DUNG I. Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài 1. Cơ sở lý luận : Tiêu chuẩn: Nhà trường văn hóa – Nhà giáo mẫu mực – Học sinh thanh lịch 1.1.Tiêu chuẩn chung: – Nhà trường văn hoá: Khung cảnh đẹp – Nền nếp tốt – Chất lượng cao – Nhà giáo mẫu mực: Phẩm chất tốt – Chuyên môn giỏi – Phong cách đẹp – Học sinh thanh lịch: Đạo đức tốt – Học tập giỏi – Lối sống đẹp 1.2. Nội dung cụ thể: * Nhà trường văn hóa: – Khung cảnh đẹp: + Có đủ điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị, có biện pháp giữ gìn, khai thác tốt tài sản, cơ sở vật chất phục vụ dạy và học. + Cảnh quan sư phạm đảm bảo xanh, sạch, đẹp; môi trường giáo dục lành mạnh, văn hoá, an toàn. + Các phòng học, phòng làm việc, phòng chức năng, thư viện, phòng thí nghiệm… bố trí khoa học, ngăn nắp, sạch đẹp, phục vụ hiệu quả cho các hoạt động của nhà trường. – Nền nếp tốt: + Nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật của nhà nước, các quy định, quy chế chuyên môn của ngành, các quy định về cải cách thủ tục hành chính. Đảm bảo kỷ cương trong quản lý, thực chất trong đánh giá; nền nếp làm việc, học tập, hội họp khoa học, thiết thực và hiệu quả. + Xây dựng và thực hiện tốt Quy chế dân chủ, quy định trách nhiệm của các thành viên trong nhà trường. Triển khai có hiệu quả cuộc vận động Dân chủ – Kỷ

cương – Tình thương – Trách nhiệm. Xây dựng và giữ gìn khối đoàn kết trong tập thể nhà trường. Đảm bảo chế độ thông tin báo cáo. + Thực hiện nếp sống văn minh, tổ chức tốt các phong trào thi đua và các hoạt động giáo dục trong nhà trường – Chất lượng cao: + Thực hiện tốt các hoạt động giáo dục toàn diện, thực hiện đổi mới và đạt kết quả cao trong hoạt động dạy và học. Thực hiện tốt công tác xã hội hoá giáo dục. + Thực hiện tốt công tác xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục. + Đạt danh hiệu thi đua “Trường Tiên tiến” trở lên. * Nhà giáo mẫu mực: – Phẩm chất tốt: + Yêu nước, yêu quê hương, làng xóm, yêu nghề, yêu trẻ, thực hiện tốt đường lối giáo dục của Đảng, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật của nhà nước, quy định, quy chế của ngành. + Có tinh thần tập thể, ý thức trách nhiệm, ý thức tổ chức kỷ luật và tinh thần đoàn kết. Có đạo đức trong sáng, tận tuỵ với nghề, gương mẫu, trung thực, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. – Chuyên môn giỏi: + Tích cực tham gia các sinh hoạt chuyên môn, đảm bảo ngày công lao động cao. Thực hiện có hiệu quả việc đổi mới dạy học. + Thường xuyên tham gia hoạt động bồi dưỡng và tự bồi dưỡng nâng cao trình độ, thực hiện có chất lượng công tác nghiên cứu khoa học, đúc kết sáng kiến kinh nghiệm, có ý thức học hỏi, được đồng nghiệp tin cậy. + Chất lượng dạy học và công tác tốt, được học sinh và phụ huynh tin tưởng. Đạt danh hiệu Chiến sỹ thi đua hoặc Lao động tiên tiến trở lên.

– Phong cách đẹp: + Có nền nếp làm việc khoa học, lối sống lành mạnh, ứng xử giao tiếp văn hoá. Quan hệ tốt với đồng nghiệp và phụ huynh học sinh. + Trang phục, tác phong, ngôn ngữ, cử chỉ thể hiện nếp sống thanh lịch của người thầy, có tác dụng làm gương cho học sinh noi theo. + Gia đình được công nhận là “Gia đình văn hoá”. * Học sinh thanh lịch: – Đạo đức tốt: + Có ý thức phấn đấu tu dưỡng, động cơ học tập đúng đắn. Có tinh thần khắc phục khó khăn, vươn lên trong học tập và công tác. Tích cực, gương mẫu trong các hoạt động tập thể, tham gia xây dựng nhà trường. + Biết kính trên, nhường dưới, trọng già, quý trẻ, đoàn kết thân ái với bạn bè. + Được xếp loại đạo đức Tốt, được tập thể tín nhiệm. – Học tập giỏi: + Có phương pháp học tập khoa học, đạt kết quả cao và đồng đều ở các môn học, các mặt hoạt động. + Có ý thức rèn luyện, tinh thần tự học, không ngừng nâng cao kiến thức toàn diện. Hăng hái tham gia các hoạt động văn nghệ, thể dục thể thao… để trở thành con người phát triển toàn diện. Trung thực trong học tập và kiểm tra, thi cử. Có ý thức giúp đỡ bạn trong học tập. + Đạt danh hiệu Học sinh Tiên tiến trở lên. – Lối sống đẹp: + Có nền nếp tốt trong học tập, sinh hoạt, vui chơi, giải trí; giữ gìn trật tự, vệ sinh nơi công cộng; có ý thức học tập để hiểu biết, kế thừa và phát huy truyền thống văn hoá và nếp sống thanh lịch. Trang phục, giao tiếp, ứng xử có văn hoá.

Sáng kiến kinh nghiệm Vũ Thu Hường – Hiệu trưởng THPT số 2 Bắc Hà + Nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, thực hiện tốt nội quy, quy chế của nhà trường. Có ý thức bảo vệ môi trường, bảo vệ của công. Tích cực đấu tranh với các biểu hiện không lành mạnh và phòng chống các tệ nạn xã hội. Các mối quan hệ trên nếu được nhà trường chú ý thực hiện tốt, chặt chẽ và đồng bộ thì chắc chắn các trường THPT sẽ đạt hiệu quả tốt hơn về các mặt giáo dục và trở thành địa chỉ tin cậy của học sinh và phụ huynh. 2. Cơ sở thực tiễn. Hiện nay sự du nhập lối sống và sản phẩm công nghệ hiện đại từ các nước phát triển đã làm không ít học sinh xa rời các giá trị đạo đức truyền thống, hình thành tư tưởng hưởng thụ, ăn chơi, đua đòi, chịu tác động của tệ nạn xã hội. Những biểu hiện văn hóa lệch lạc, lối sống thiếu lành mạnh, những hiện tượng tha hóa, những sai lệch chức năng, chuẩn mực giá trị, đạo đức, xa rời thuần phong mỹ tục của dân tộc…đang xuất hiện trong đời sống văn hóa của học sinh. Sự phát triển và lan rộng của hệ thống Internet bên cạnh mặt tích cực giúp phát triển tri thức, cập nhật những thành công, mở rộng hiểu biết và tăng cường các mối quan hệ… cũng đã có những tác động tiêu cực đến đời sống của học sinh. Từ việc sử dụng Internet làm công cụ giải trí tiêu phí thời gian, sức lực và tiền bạc vào game online, sử dụng tiện ích chát, truy cập trang web đen như một thú tiêu khiển, sinh ra thói lừa lọc, mua bán đồ đạc ảo bằng tiền thật…Từ môi trường giao tiếp ảo, nhiều học sinh đã ảo hoá những thông tin cá nhân (tên, tuổi, giới tính, địa phương cư trú, hình dáng…) và đi đến cung cấp thông tin giả. Hiện tượng một bộ phận học sinh hiện nay mắc các tệ nạn xã hội là vấn đề khiến gia đình, nhà trường và toàn xã hội không khỏi lo lắng. Theo thống kê của Cục Thống kê tội phạm, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, học sinh dễ mắc phải những tội phạm như: cướp của, giết người, vận chuyển ma túy… Năm 2009 và 3 tháng đầu năm 2010, riêng trẻ em dưới 16 tuổi có 7000 vụ vi phạm, chiếm đến 70% tội phạm vị thành niên dưới 18 tuổi. Công an các địa phương đã khởi tố điều tra 8.531 vụ với 11.732 đối

Sáng kiến kinh nghiệm Vũ Thu Hường – Hiệu trưởng THPT số 2 Bắc Hà tượng ở tất cả các tội danh này. Xử lý hành chính lên tới 35.463 vụ với 48.187 đối tượng; trong đó giao cho gia đình giáo dục 21.484 đối tượng, xã phường quản lý, giáo dục 8.892 đối tượng, lập hồ sơ đưa đi trường giáo dục 5.616 đối tượng, áp dụng các biện pháp khác 11.677 đối tượng. Trong hàng loạt các vụ cướp, đâm, chém… vừa qua, hầu hết hung thủ đều trong độ tuổi rất trẻ, thậm chí chỉ mới 16 – 17 tuổi. II. THỰC TRẠNG XÂY DỰNG NHÀ TRƯỜNG VĂN HOÁ – TRƯỜNG THPT SỐ 2 BẮC HÀ 1. Đặc điểm tình hình Trường THPT số 2 Bắc Hà Trường THPT số 2 huyện Bắc Hà được thành lập năm 2004 theo Quyết định số 310/QĐ-UB ngày 02 tháng 6 năm 2004 của UBND tỉnh Lào Cai. Trụ sở nhà trường đặt tại Xã Bảo Nhai, Huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai. Sau 6 năm thành lập và trưởng thành, trường THPT số 2 Bắc Hà đã tăng nhanh về số lượng, phát triển mạnh về quy mô, cơ sở vật chất, nâng cao dần về chất lượng giáo dục. Quán triệt tinh thần Nghị quyết Trung ương 2 (Khoá VIII) của Đảng coi Giáo dục & Đào tạo, Khoa học & Công nghệ là “Quốc sách hàng đầu”. Trong những năm qua, sự nghiệp giáo dục của trường THPT số 2 Bắc Hà có bước phát triển mới. Nhà trường đã tổ chức sắp xếp phát triển trường lớp khang trang, cải thiện khung cảnh sư phạm đáp ứng nhu cầu học và trở thành địa chỉ tin cậy của cha mẹ học sinh và học sinh 6 xã hạ huyện Bắc Hà và 2 xã Xuân Quang, Phong Niên thuộc huyện Bảo Thắng. Cơ sở vật chất của trường cũng được đầu tư đáng kể. Hệ thống lớp học được điều chỉnh, xây dựng, tu bổ đảm bảo các điều kiện học tập và vui chơi của học sinh. Với diện tích rộng, thoáng mát đáp ứng được điều kiện cho các em học sinh vui chơi và học tập. Việc bồi dưỡng đào tạo, chuẩn hoá đội ngũ giáo viên cũng đem lại nhiều kết quả tốt. Năm học 2010 – 2011, tổng số CBQL, giáo viên toàn trường là 31 đồng chí, số giáo viên đạt chuẩn 96.8%. Đội ngũ giáo viên ngoài việc phấn đấu bồi dưỡng chuyên môn qua các phong trào “dạy tốt, học tốt” còn được bổ sung kiến thức, rèn

Sáng kiến kinh nghiệm Vũ Thu Hường – Hiệu trưởng THPT số 2 Bắc Hà luyện đạo đức nghề nghiệp qua các đợt bồi dưỡng theo chương trình qui định, các buổi sinh hoạt tư tưởng thường kỳ. Từ khi thành lập đến nay trường đã đạt được những thành tích như sau: – Trường liên tục đạt danh hiệu tập thể Lao động tiên tiến. – Chi bộ liên tục đạt Chi bộ trong sạch vững mạnh. – Số cán bộ giáo viên giỏi cấp tỉnh: 01 – Số giáo viên giỏi cấp trường: 29 lượt. – Công đoàn: Liên tục đạt công đoàn vững mạnh. – Đoàn thanh niên: Liên tục đạt danh hiệu Đoàn trường vững mạnh xuất sắc. 2. Thực tế các hoạt động xây dựng nhà trường văn hóa trong trường THPT số 2 Bắc Hà những năm qua Nhận thức rõ tầm quan trọng của việc thực hiện xây dựng NTVH, thực hiện nghiêm túc Chương trình và kế hoạch hoạt động của Sở giáo dục & đào tạo Lào Cai, trong những năm vừa qua, trường THPT số 2 Bắc Hà đã tiến hành các nhiêm vụ để tiến tới xây dựng Nhà trường văn hoá, nhà giáo mẫu mực, học sinh chăm ngoan, học giỏi. Đẩy mạnh phong trào thi đua “Dạy tốt – Học tốt”, đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao hiệu quả giáo dục toàn diện; thực hiện cuộc vận động “Dân chủ – Kỷ cương – Tình thương – Trách nhiệm”, triển khai cuộc vận động “Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục” trong nhà trường, xây dựng môi trường thân thiện, học sinh hoạt động tích cực. Nhờ những cố gắng vươn lên của tập thể nhà trường, đồng thời có sự quan tâm chỉ đạo sát sao của Ban giám hiệu, sự phối kết hợp chặt chẽ giữa các lực lượng xã hội. Trong những năm vừa qua, đặc biệt năm học 2009 – 2010 hoạt động xây dựng NTVH đã có sự chuyển biến rõ rệt cả về chất lượng và nội dung, đặc biệt trong giáo dục toàn diện cho học sinh. 2.1. Đối với học sinh:

Sáng kiến kinh nghiệm Vũ Thu Hường – Hiệu trưởng THPT số 2 Bắc Hà Nhà trường đã phát động, triển khai các phong trào thi tìm hiểu môi trường xung quanh, nhằm nâng cao thói quen lễ giáo cho học sinh trong toàn trường. Tổ chức các cuộc thi “Học sinh thanh lịch”, “Nữ sinh thanh lịch” nhằm giáo dục nhận thức thẩm mỹ và ứng xử trong cuộc sống. Các hoạt động này tạo ra những sân chơi bổ ích, sinh hoạt văn hoá lành mạnh nhằm phát triển con người toàn diện. Thông qua các hoạt động này, mối quan hệ giữa giáo viên và học sinh được cải thiện, kỷ cương trật tự nhà trường được xây dựng, củng cố. Sự nhận thức trong các em học sinh về thói quen lễ giáo có sự biến chuyển tốt. Đa số các em học sinh đều biết cư xử đúng mực trong giao tiếp với thầy cô và bạn bè. Có thói quen giữ gìn vệ sinh thân thể, vệ sinh ăn uống, vệ sinh môi trường, biết yêu thương kính trọng ông bà, bố mẹ, thầy cô giáo và những người gần gũi, biết vâng lời, biết tự nhận lỗi khi mắc lỗi. Trong công tác xây dựng NTVH, Nhà trường luôn xác định mục tiêu tổ chức giáo dục thể chất, giáo dục thẩm mỹ với các nhiệm vụ trọng tâm: Dạy đủ, đúng chương trình môn giáo dục thể chất và thẩm mỹ – hình thành và phát triển khả năng cảm nhận vẻ đẹp trong cuộc sống và nghệ thuật. Bộc lộ cảm xúc phù hợp trước vẻ đẹp của các sự vật, hiện tượng xung quanh và các tác phẩm nghệ thuật Để xây dựng NTVH, nhà trường còn chú trọng, quan tâm việc chăm sóc sức khỏe cho học sinh và y tế học đường. Có kế hoạch trang bị hoàn chỉnh hệ thống nước uống sạch, đảm bảo đủ nước uống sạch, vệ sinh an toàn thực phẩm, hệ thống chiếu sáng học đường hợp lý. Để thực tốt nhiệm vụ này, nhà trường luôn đề cao các biện pháp như: Phối kết hợp với trung tâm y tế xã tổ chức cho 100% học sinh được chăm sóc sức khoẻ ban đầu. Nhà trường đẩy mạnh hoạt động Thể dục – Thể thao, phong trào văn nghệ, phong trào ca hát tập thể và thể dục thể thao trong nhà trường, hoạt động xã hội của ngành, địa phương. Trong năm học, trường luôn tổ chức sinh hoạt tập thể nhân những ngày lễ lớn.

Sáng kiến kinh nghiệm 2.2. Đối với giáo viên:

Vũ Thu Hường – Hiệu trưởng THPT số 2 Bắc Hà

Thực hiện xây dựng NTVH, Chi bộ, Ban giám hiệu trường tiến hành việc tăng cường giáo dục đạo đức, chính trị, tư tưởng: tổ chức học tập tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh cho cán bộ, giáo viên, công nhân viên và học sinh kết hợp với phong trào xây dựng “Nhà trường văn hoá – Nhà giáo mẫu mực – Học sinh chăm ngoan”. Quá trình thực hiện nhiệm vụ xây dựng nhà trường văn hóa được tiến hành theo cách xây dựng và triển khai kế hoạch hoạt động, thông qua các khâu như: – Giáo viên đóng góp ý kiến xây dựng kế hoạch. – Ban giám hiệu có biện pháp quản lý chỉ đạo hoạt động – Ban chấp hành Công đoàn xây dựng khối đoàn kết nội bộ. Hoạt động xây dựng NTVH được biểu hiện trong khối cán bộ, giáo viên như: – Xây dựng nếp sống văn hoá: Ra vào lớp, hội họp đúng giờ, ghi chép đầy đủ, tập trung đóng góp ý kiến xây dựng… – Thực hiện tốt kế hoạch bồi dưỡng thường xuyên của trường, của Sở Giáo dục để nâng cao trình độ, tạo điều kiện cho giáo viên đi học đạt chuẩn và phấn đấu học trên chuẩn. Tổ chức cho giáo viên học tập và thực hiện các văn bản, chỉ thị của ngành giáo dục – Nhà trường phối kết hợp với Công đoàn hưởng ứng, thực hiện tốt cuộc vận động “Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục”, thực hiện tốt cuộc vận động “Dân chủ – Kỷ cương – Tình thương – Trách nhiệm ” và “Nếp sống văn hoá công nghiệp”. Đề ra những tiêu chuẩn thi đua mang tính khả thi được bàn bạc thống nhất một cách dân chủ động viên giáo viên thực hiện tốt nhiệm vụ năm học, tổ chức sơ kết, tổng kết và khen thưởng kịp thời. Trong hoạt động xây dựng NTVH, Nhà trường luôn nghiêm khắc xử lý đối với giáo viên còn những tồn tại như: – Một số giáo viên chưa thực sự mẫu mực trong giao tiếp ứng xử với đồng nghiệp, với học sinh và cha mẹ học sinh. Tác phong, lời nói chưa chuẩn mực.

Sáng kiến kinh nghiệm Vũ Thu Hường – Hiệu trưởng THPT số 2 Bắc Hà – Trong nghề nghiệp, khả năng sư phạm, phương pháp dạy học chưa thực sự đáp ứng được với yêu cầu đổi mới dạy học dẫn đến việc đánh giá học sinh chưa đúng mức, chưa thực sự làm cho phụ huynh học sinh khâm phục về khả năng chuyên môn, khả năng thu hút học sinh còn hạn chế. – Lối sống, giao tiếp và trang phục đôi lúc chưa chuẩn mực có thể do nhận thức, hoặc cẩu thả trong cách ăn mặc dẫn đến những hạn chế trong việc hướng dẫn học sinh ăn mặc, ứng xử giao tiếp có văn hoá. – Trong việc tự học, tự bồi dưỡng nâng cao trình độ: một bộ phận nhỏ giáo viên còn chưa tích cực, chưa tự giác để nâng cao trình độ dẫn đến việc thiếu kiến thức chuyên môn và cả kiến thức xã hội để giáo dục và truyền thụ cho học sinh. – Trong việc tham gia các hoạt động xã hội còn có giáo viên nhận thức hạn chế hoặc vì những toan tính cá nhân đã không tích cực tham gia các hoạt động xã hội hoặc không coi trọng các hoạt động xã hội Có thể nói hoạt động xây dựng nhà trường văn hóa tại Trường THPT số 2 Bắc Hà trong những năm qua đã đạt được một số thành tích nhất định. Tuy nhiên, do một số điều kiện khách quan và chủ quan như: điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trường, một số các bậc phụ huynh mải làm ăn kinh tế nên đã xem nhẹ việc giáo dục uốn nắn con em mình. Để phát huy những mặt đã đạt được và khắc phục những tồn tại trong hoạt động xây dựng nhà trường văn hóa ở trường THPT số 2 Bắc Hà, cần phải có những giải pháp cụ thể. III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG NHÀ TRƯỜNG VĂN HÓA THPT SỐ 2 BẮC HÀ NĂM HỌC 2010 – 2011 1. Giải pháp xây dựng “phần nổi” của nhà trường văn hóa: 1.1. Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng trường học “Xanh – sạch – đẹp – an toàn” – Quan tâm xây dựng khung cảnh bên ngoài Nhà trường (Cổng trường, tường rào, nhà để xe…)

Sáng kiến kinh nghiệm Vũ Thu Hường – Hiệu trưởng THPT số 2 Bắc Hà và tham gia của các cấp uỷ Đảng, sự quản lý của Ban giám hiệu Nhà trường trong việc thực hiện nhiệm vụ xây dựng NTVH. Trên thực tế, hoạt động xây dựng NTVH ở trường THPT số 2 Bắc Hà trong những năm qua đã cho thấy sự lãnh đạo, chỉ đạo của chi bộ Đảng và quản lý của Ban giám hiệu có vai trò đặc biệt quan trọng, mang tính chất quyết định. a. Đối với Chi Bộ nhà trường: – Phối hợp cùng với chính quyền tổ chức học tập, quán triệt các chủ trương nghị quyết của Đảng, chế độ chính sách, pháp luật của Nhà nước, nội qui, qui định của nhà trường, địa phương về giáo dục. Từ đó, cần nhận thức đầy đủ về vai trò của văn hoá và xây dựng NTVH trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước. Khắc phục sự nhìn nhận phiến diện về xây dựng NTVH, coi xây dựng NTVH đơn thuần chỉ là các hoạt động mang tính chất bề nổi, không quan tâm đến chiều sâu. – Chỉ đạo cho BGH và BCHCĐ phối hợp triển khai và hướng dẫn Ban chỉ đạo nhà trường vận động CBCC trong cơ quan đăng ký xây dựng đơn vị có đời sống Văn hóa: Văn minh – Sạch đẹp – An toàn. – Chỉ đạo thành lập ban vận động xây dựng trường học có đời sống văn hóa tốt năm học 2010-2011. Kinh nghiệm cho thấy, ở cơ sở nào có sự lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ của các cấp uỷ Đảng, có sự đi sâu, đi sát trong chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ, kiểm tra, đánh giá các phong trào, các hoạt động thì ở đó hoạt động xây dựng NTVH có sự chuyển biến tốt. Điều này hoàn toàn dễ hiểu bởi ở cơ sở nào vai trò lãnh đạo, sự chỉ đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước được thực hiện tốt thì từ việc hoạch định chương trình, kế hoạch hoạt động đến việc tổ chức thực hiện và kết quả thực hiện xây dựng NTVH đều đạt kết quả cao. b. Đối với BGH nhà trường : – Thực hiện hình thức tuyên truyền, nhằm giáo dục cho cán bộ giáo viên, học sinh trong nhà trường về xây dựng nếp sống văn minh, đời sống văn hóa trong nhà Trường THPT số 2 Bắc Hà

16

Sáng kiến kinh nghiệm Vũ Thu Hường – Hiệu trưởng THPT số 2 Bắc Hà trường, tham mưu với phụ huynh trồng mới thêm nhiều cây xanh, tạo cảnh quan môi trường luôn xanh – sạch – đẹp. – Vận động 100% CBCC đăng ký xây dựng đơn vị có đời sống văn hóa tốt và thực hiện có hiệu quả phong trào “Trường học thân thiện, học sinh tích cực”, “Cổng trường em sạch đẹp – an toàn”. – Chỉ đạo cho cán bộ y tế trường học: Vận động các em học sinh biết chăm sóc sức khỏe, giữ gìn vệ sinh chung và cá nhân, bảo vệ sinh môi trường – xanh – sạch đẹp. Tổ chức 100% khám sức khỏe ban đầu cho học sinh và tuyên truyền phòng bệnh học đường, các bệnh truyền nhiễm khác. c. Đối với BCH Công đoàn : – Phối hợp tổ chức tốt các hoạt động văn hóa văn nghệ; thể dục thể thao. Thông qua các hoạt động này nhằm xây dựng “Trường học thân thiện, học sinh tích cực”, ngăn ngừa và phòng chống có hiệu quả các tệ nạn xã hội xâm nhập vào trường; hoàn thành tốt các chỉ tiêu thi đua Nghị quyết Đại hội chi bộ, Đại hội Công đoàn và hội nghị cán bộ – công chức từng nhiệm kỳ đề ra. – Luôn có sự phối hợp chặt chẽ, đầy trách nhiệm, tất cả vì sự nghiệp Giáo dục Đào tạo ở trường; chung vai gánh vác, chia sẻ trách nhiệm, tạo điều kiện thuận lợi cho mỗi cá nhân phát triển. – Vận động 100% Đoàn viên công đoàn, người lao động trong đơn vị đăng ký xây dựng đơn vị có đời sống văn hóa tốt và vận động mỗi đoàn viên công đoàn là hạt nhân tích cực hưởng ứng thực hiện xây dựng đời sống văn hóa ở nhà trường. Chỉ đạo toàn thể đoàn viên đăng ký thực hiện các tiêu chí xây dựng gia đình văn hóa, cơ quan văn hóa gắn liền với cuộc vận động “Dân chủ – kỷ cương – tình thương – trách nhiệm” và cuộc vận động xây dựng người cán bộ “Trung thành – Sáng tạo – Tận tụy – Gương mẫu”. 3.2. Vai trò của người Hiệu trưởng trong việc xây dựng nhà trường văn hóa:

Sáng kiến kinh nghiệm Vũ Thu Hường – Hiệu trưởng THPT số 2 Bắc Hà – Hiệu trưởng cần xây dựng bầu không khí dân chủ: cởi mở, hợp tác, cùng chia sẻ hỗ trợ lẫn nhau; mọi người đều được tôn trọng, luôn được coi trọng và có cơ hội thể hiện, phát triển các khả năng của mình, xây dựng cơ chế giám sát, đánh giá, khen thưởng hợp lý thúc đẩy mọi người nỗ lực làm việc. – Mỗi cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên trong trường đều có bản mô tả công việc, rõ trách nhiệm, quyền hạn và nghĩa vụ. – Hiệu trưởng tăng cường dự giờ, trao đổi chuyên môn với giáo viên đứng lớp về cách dạy và học, làm cho học sinh biết là các em được yêu thương, được quan tâm chăm sóc. Cố gắng bảo đảm cho học sinh có một tương lai xứng đáng với sự đầu tư của cha mẹ các em. – Hiệu trưởng chia sẻ quyền lực, mạnh dạn trao quyền cho giáo viên trong đó đề cao vai trò lãnh đạo hoạt động dạy và học của giáo viên, cho mọi người thấy một hiệu trưởng đầy nhiệt tâm, luôn trách nhiệm và tình yêu thương học trò. – Hiệu trưởng nên có mặt thường xuyên trong trường và trong lớp học; tham dự càng nhiều những sinh hoạt của học sinh thì càng tốt. – Hiệu trưởng thường xuyên trau dồi kỹ năng giao tiếp; lắng nghe tất cả mọi người, khuyến khích phụ huynh học sinh tham gia vào các hoạt động giáo dục của trường và làm cho phụ huynh hiểu rõ vai trò của họ. Hiệu trưởng luôn suy nghĩ để học hỏi, để đổi mới và nâng cao uy tín của mình trong nhà trường 3.3. Nâng cao nhận thức cho giáo viên, cán bộ, công chức và toàn thể học sinh để xây dựng NTVH Nhà giáo trong dạy học và giáo dục học sinh không chỉ là người truyền đạt tri thức, rèn luyện kỹ năng mà còn phải là tấm gương để học sinh tin cậy noi gương về phẩm giá và cách sống ở đời, do vậy như một lẽ tự nhiên, cũng là “nghiệp” của mình, nhà giáo phải mẫu mực. Từ mẫu mực làm gương cho học trò, nhà giáo cũng tác động vào cha mẹ học sinh, tạo dựng niềm tin của gia đình vào nhà trường và nhà giáo, đồng thời bằng tấm gương của mình, nhà giáo điều chỉnh thái độ, hành vi của cha mẹ khi

Xây dựng NTVH cần phải huy động được sức mạnh của toàn trường, trong đó giải pháp giáo dục nhận thức cho giáo viên, cán bộ, công chức và học sinh là cực kỳ quan trọng, nó mang tính chất bao quát các hoạt động nhằm tạo ra sự chính xác trong nhìn nhận đối với văn hoá, hiểu biết toàn diện hơn về văn hoá, vai trò của văn hoá trong phát triển giáo dục và đào tạo. Từ đó biến hoạt động xây dựng NTVH thành hoạt động mang tính chất tự giác, thường xuyên của mỗi giáo viên và học sinh trong trường. – Tăng cường công tác tuyên truyền vận động CBGV, NV nhà trường tích cực tham gia công tác xây dựng môi trường văn hoá trong sạch, lành mạnh. – Tổ chức các buổi nghe báo cáo chuyên đề, các buổi hội thảo, tọa đàm về công tác xây dựng nhà trường văn hoá theo từng thời điểm cụ thể, hợp lý. – Tổ chức các hội thi, các buổi giao lưu văn nghệ, thể dục, thể thao trong và ngoài trường nhằm xây dựng phong trào thi đua sôi nổi, thu hút sự tham gia tích cực của đông đảo cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh. 3.4. Phát huy sức mạnh tổng hợp của giáo viên và học sinh trong trường làm chuyển biến mạnh mẽ cuộc vận động xây dựng NTVH . Mỗi thành viên trong trường cũng phải nhận thức được đầy đủ và đúng đắn xây dựng nhà trường văn hóa không của riêng ai mà là trách nhiệm, nghĩa vụ, là trí tuệ, công sức của mỗi thành viên trong nhà trường. – Thông qua hội thảo, sinh hoạt tổ chuyên môn, các đoàn thể, họp Hội đồng sư phạm hàng tháng, sinh hoạt chủ nhiệm, lồng ghép trong bộ môn… mỗi thành viên trong trường góp ý kiến về các giải pháp cụ thể để xây dựng tốt các mối quan hệ: Mỗi người xây dựng cho mình lối sống trong sáng, lành mạnh, trách nhiệm, ngay thẳng,

bao dung; lòng tự chủ, tự giác, tự trọng, tự chịu trách nhiệm và biết hy sinh cho quyền lợi chung. Không ngừng tự học tập bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ; tác phong làm việc khoa học, nhanh nhẹn, kịp thời, nói đi đôi với làm; hành vi, cử chỉ, điệu bộ, …mẫu mực mô phạm. – Biết ứng xử với từng cá nhân: con người – con người; thầy – thầy, thầy – trò, trò – trò, trong đó vai trò của người thầy là chủ đạo trong mọi ứng xử. Biết ứng xử với tập thể: Nhà trường – Xã hội: Nhà trường – Phụ huynh, Nhà trường – với địa phương (Với chính quyền, đoàn thể, di tích lịch sử, công trình công cộng…). Biết ứng xử với môi trường: Con người – Môi trường: Vệ sinh cá nhân, vệ sinh công cộng, trồng và chăm sóc cây xanh, sử dụng và bảo vệ cơ sở vật chất kỹ thuật, danh lam thắng cảnh … Cụ thể hơn: – Mỗi giáo viên phải tham gia có hiệu quả vào các phong trào thi đua “Giảng dạy tốt, học tập tốt, tổ chức quản lý và phục vụ đời sống tốt” theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh và cuộc vận động “Trung thành – Sáng tạo -Tận tuỵ – Gương mẫu”, “Kỷ cương – Tình thương – Trách nhiệm”, “Đền ơn đáp nghĩa”,”Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục”; “Xây dựng nếp sống văn minh trong cơ quan”; “Không hút thuốc lá trong trường học”; “Đảm bảo an toàn giao thông”; “An toàn vệ sinh lao động”; “An toàn vệ sinh thực phẩm”; Vệ sinh môi trường, xây dựng Nhà trường “Xanh – Sạch – Đẹp”, xây dựng gia đình văn hoá. – Bên cạnh việc truyền thụ kiến thức văn hóa, mỗi giáo viên còn có nhiệm vụ giáo dục rèn luyện học sinh về mặt phẩm chất, đạo đức để học sinh không chỉ có kiến thức mà còn có cách sống, cách ứng xử văn hóa. – Bản thân mỗi CBGV tích cực tham gia đăng ký xây dựng đơn vị có đời sống văn hóa tốt, văn minh – sạch đẹp – an toàn; vận động phụ huynh tích cực tham gia xây dựng nhà trường xanh – sạch – đẹp và văn minh. – Mỗi CBGV đăng ký xây dựng ít nhất một điểm sáng văn hóa tại cơ quan.

Skkn Một Số Biện Pháp Xây Dựng Trường Chuẩn Quốc Gia Mức Độ 1 Ở Trường Tiểu Học Xuân Lộc

STT Tên mục Trang 1 1. PHẦN MỞ ĐẦU 2 1.1. Lí do chọn đề tài: 1 3 1.2. Mục đích nghiên cứu 1 4 1.3. Đối tượng nghiên cứu 1 5 1.4. Phương pháp nghiên cứu 2 6 2. NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 7 2.1. Cơ sở lí luận 3 8 2.2. Thực trạng về quản lý xây dựng trường Tiểu học Xuân Lộc đạt chuẩn Quốc gia mức độ 1 8 9 2.3. Một số giải pháp xây dựng trường chuẩn Quốc gia mức độ 1 ở trường Tiểu học Xuân Lộc 12 10 2.4. Hiệu quả của Sáng kiến kinh nghiệm 15 12 3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 13 – Kết luận 18 14 – Kiến nghị 19 15 Tài liệu tham khảo 20 1. MỞ ĐẦU 1.1. Lí do chọn đề tài: Xác định rõ chuẩn quốc gia về trường học được xem là thước đo đánh giá hình thức hoạt động và hiệu quả đạt được của các loại hình trường, trên cơ sở đó để thực hiện mục tiêu: “nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”1. Theo Nghị quyết của Đảng bộ xã Xuân Lộc lần thứ XIX: “Trong nhiệm kỳ có hai trường đạt Chuẩn Quốc gia”3. Trong đó lộ trình xây dựng trường tiểu học được Hội đồng nhân dân huyện Thường Xuân thông qua. Đây là chỉ tiêu mang tính đột phá đối với sự nghiệp giáo dục của xã. Bởi vì, để nâng cao chất lượng giáo dục, để giáo dục phát triển, không có giải pháp nào khác là xây dựng trường theo hướng đạt Chuẩn Quốc gia. Bên cạnh, xây dựng trường Chuẩn Quốc gia cũng là một tiêu chí quan trọng trong đề án xây dựng nông thôn mới hiện nay. Với kinh nghiệm bản thân trong việc xây dựng trường đạt chuẩn Quốc gia thời gian qua cho thấy, xây dựng được một trường đạt chuẩn Quốc gia là một quá trình chuẩn bị kỹ càng về mọi mặt, phải có sự nỗ lực, quyết tâm cao của các ngành, các cấp cùng với sự hỗ trợ tích cực của xã hội, bên cạnh là vai trò nòng cốt là ngành giáo dục. Với một địa phương còn khó khăn nhiều về kinh tế thì việc xây dựng trường Chuẩn Quốc gia thật sự là một thách thức, nếu không có biện pháp, giải pháp tốt thì khó có khả năng đạt được. Trong Nghị quyết số 29- NQ/TW về Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, Đảng và Nhà nước xác định mục tiêu của đổi mới lần này là: [Tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ Quốc và nhu cầu học tập của nhân dân. Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu Tổ Quốc, yêu đồng bào; sống tốt và làm việc hiệu quả. Phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực]2. Để đáp ứng tốt các yêu cầu quan điểm chỉ đạo trên của Đảng, của ngành Giáo dục và thực hiện trách nhiệm của một cơ sở giáo dục xây dựng trường Tiểu học Xuân Lộc đạt chuẩn Quốc gia mức độ 1 vào năm học 2024 – 2024. Chính vì những lí do trên nên tôi chọn nội dung: “Một số biện pháp xây dựng trường Chuẩn Quốc gia mức độ 1 ở trường Tiểu học Xuân Lộc” làm đề tài nghiên cứu cho bản thân trong năm học 2024 – 2024 và những năm tiếp theo. 1.2. Mục đích nghiên cứu: Chọn đề tài với mục đích đưa ra một số giải pháp nhằm xây dựng trường Tiểu học Xuân Lộc, Thường Xuân, Thanh Hoá đạt chuẩn Quốc gia mức độ 1. 1.3. Đối tượng nghiên cứu: * Đối tượng nghiên cứu: Tập trung nghiên cứu một số biện pháp quản lý, tham mưu nhằm xây dựng trường Tiểu học Xuân Lộc đạt chuẩn Quốc gia mức độ 1. * Phạm vi nghiên cứu: Trường Tiểu học Xuân Lộc, Tiểu học Ngọc Phụng 2 huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hoá. 1.4. Phương pháp nghiên cứu: * Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: – Nghiên cứu văn kiện, chỉ thị, nghị quyết của Đảng; nghiên cứu hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước, của ngành về trường Tiểu học đạt chuẩn Quốc gia. * Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: – Phương pháp quan sát. – Phương pháp phỏng vấn, điều tra. – Phương pháp hội thảo, hội nghị về kinh nghiệm xây dựng trường Tiểu học đạt chuẩn Quốc gia mức độ 1. 2. NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2.1. Cơ sở lí luận: 2.1.1. Trường Tiểu học đạt chuẩn Quốc gia: Chúng ta biết rằng : “Giáo dục là động lực phát triển kinh tế – xã hội. Giáo dục đào tạo là con đường cơ bản nhất hoàn thiện nhân cách con người đáp ứng với yêu cầu của thời kì CNH, HĐH đất nước”. Để đạt được mục tiêu của giáo dục trong thời kì mới, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân trong đó đặc biệt chú trọng đến bậc Tiểu học bởi “Bậc Tiểu học là bậc học đầu tiên và được xác định là bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân”. Vấn đề được quan tâm là: Làm thế nào để các nhà trường Tiểu học phải đảm bảo tương xứng với mục tiêu, nội dung chương trình, phương pháp dạy học Tiểu học trong giai đoạn hiện nay? Đó cũng chính là những điểm khởi nguồn cho việc phải xây dựng được trường Tiểu học đạt chuẩn Quốc gia. Trường Tiểu học theo tiêu chuẩn mới này bắt đầu được hình thành từ năm 1996 theo định hướng chiến lược của Nghị quyết TW 2 (khoá 8) với mô hình thiết chế tổng thể, hoàn chỉnh và chuẩn quốc gia. Ngày 28 tháng 12 năm 2012 Bộ Giáo dục – Đào tạo đã ban hành Thông tư số: 59/2012/TT-BGDĐT, Quy định về tiêu chuẩn đánh giá, công nhận trường tiểu học đạt mức chất lượng tối thiểu, trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia mức độ 1 theo 5 tiêu chuẩn: Tiêu chuẩn 1: Tổ chức và quản lí nhà trường (Điều 12) Tiêu chuẩn 2: Cán bộ quản lí, giáo viên, nhân viên và học sinh (Điều 13) Tiêu chuẩn 3: Cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học (Điều 14) Tiêu chuẩn 4: Quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội (Điều 15) Tiêu chuẩn 5: Hoạt động giáo dục giáo dục và kết quả giáo dục (Điều 16) Năm tiêu chuẩn trên là các tiêu chuẩn cần thiết để đảm bảo tổ chức các hoạt động giáo dục có chất lượng toàn diện, kết thành giải pháp tổng thể để tạo điều kiện tốt nhất cho trường Tiểu học thực hiện đầy đủ mục tiêu và kế hoạch giáo dục Tiểu học, phát triển đúng hướng theo định hướng chiến lược của Đảng. 2.1.2. Cơ cở pháp lý của việc quản lý nhằm xây dựng trường Tiểu học đạt chuẩn Quốc gia mức độ 1: Xây dựng trường chuẩn quốc gia là một tất yếu trong giai đoạn hiện nay đã góp phần vào sự phát triển kinh tế, văn hóa, khoa học kĩ thuật. Đó là điều kiện để hiện đại hóa các trường học, giúp cho cán bộ giáo viên và học sinh được tiếp cận, được sử dụng tốt nhất các điều kiện khoa học công nghệ thông tin trong giảng dạy và học tập. Ngoài ra xây dựng trường chuẩn quốc gia mức độ 1 còn là cơ hội để nhà trường quảng bá thương hiệu và định hướng tương lai lâu dài đáp ứng nhu cầu nguồn lực cho một xã hội tiên tiến. Vì vậy xây dựng trường chuẩn quốc gia cần dựa vào những cơ sở pháp lý cụ thể: * 5 tiêu chuẩn xây dựng trường Tiểu học đạt chuẩn Quốc gia mức độ 1: “Điều 12”4. Tiêu chuẩn 1: Tổ chức và quản lý nhà trường Đạt các quy định tại Điều 7 của Thông tư này, bổ sung một số yêu cầu sau: 1. Thực hiện nhiệm vụ của các tổ chuyên môn, tổ văn phòng Nhà trường tổ chức định kì các hoạt động trao đổi chuyên môn, sinh hoạt chuyên đề, tham quan, trao đổi học tập kinh nghiệm với các trường bạn và có báo cáo đánh giá cụ thể đối với mỗi hoạt động này. 2. Quản lý hành chính và thực hiện các phong trào thi đua a) Ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý; b) Chủ động, sáng tạo và đạt kết quả cao trong việc thực hiện các cuộc vận động, phong trào thi đua theo hướng dẫn của ngành và quy định của Nhà nước. 3. Quản lý các hoạt động giáo dục a) Nhà trường xây dựng kế hoạch hoạt động năm học, học kì, tháng, tuần; có phương hướng phát triển từng thời kì; có biện pháp tổ chức thực hiện kế hoạch đúng tiến độ; b) Quản lý và sử dụng hiệu quả cơ sở vật chất để phục vụ cho hoạt động dạy, học và các hoạt động giáo dục khác; c) Các tổ chức, đoàn thể và hội đồng nhà trường được tổ chức và hoạt động có hiệu quả; d) Nhà trường chấp hành sự chỉ đạo trực tiếp về chuyên môn, nghiệp vụ của phòng giáo dục và đào tạo. Thực hiện nghiêm túc báo cáo định kì và đột xuất (nếu có) tình hình giáo dục tiểu học ở địa phương với cấp trên theo quy định. “Điều 13″4. Tiêu chuẩn 2: Cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên và HS Đạt các quy định tại Điều 8 của Thông tư này, bổ sung một số yêu cầu sau: 1. Năng lực của cán bộ quản lý a) Trình độ đào tạo của hiệu trưởng, phó hiệu trưởng từ Cao đẳng Sư phạm trở lên; hiệu trưởng có ít nhất 5 năm dạy học, phó hiệu trưởng có ít nhất 3 năm dạy học (không kể thời gian tập sự); b) Đánh giá hiệu trưởng, phó hiệu trưởng hằng năm theo Quy định Chuẩn hiệu trưởng trường tiểu học đạt từ mức khá trở lên. 2. Số lượng, trình độ đào tạo của giáo viên a) Bảo đảm đủ số lượng và cơ cấu giáo viên để dạy các môn học theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Giáo viên dạy các môn thể dục, âm nhạc, mĩ thuật, ngoại ngữ và tin học chưa qua đào tạo sư phạm tiểu học phải được tập huấn và được cấp Chứng chỉ sư phạm tiểu học; b) Có 100% giáo viên đạt chuẩn trình độ đào tạo, trong đó ít nhất 40% giáo viên đạt trình độ trên chuẩn; c) Công tác đào tạo, bồi dưỡng: nhà trường có quy hoạch xây dựng đội ngũ, kế hoạch bồi dưỡng để tất cả giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn về trình độ đào tạo; thực hiện nghiêm túc chương trình bồi dưỡng thường xuyên theo quy định của Bộ giáo dục và Đào tạo; từng giáo viên có kế hoạch và thực hiện tự bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; có ít nhất 70% giáo viên được xếp loại khá, giỏi về bồi dưỡng thường xuyên, trong đó có ít nhất 25% giáo viên được xếp loại giỏi về bồi dưỡng thường xuyên, không có giáo viên không hoàn thành kế hoạch. 3. Kết quả đánh giá, xếp loại giáo viên a) Có ít nhất 50% giáo viên đạt loại khá trở lên, trong đó có ít nhất 15% giáo viên đạt loại xuất sắc theo quy định Chuẩn nghề nghiệp giáo viên tiểu học; b) Có ít nhất 50% giáo viên đạt danh hiệu giáo viên dạy giỏi cấp trường, trong đó ít nhất 20% giáo viên đạt danh hiệu dạy giỏi cấp huyện trở lên; không có giáo viên yếu kém về chuyên môn, nghiệp vụ. “Điều 14”4. Tiêu chuẩn 3: Cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học Đạt các quy định tại Điều 9 của Thông tư này, bổ sung một số yêu cầu sau: 1. Diện tích, khuôn viên, sân chơi, sân tập a) Diện tích, khuôn viên, sân chơi, sân tập thực hiện theo quy định hiện hành tại Điều lệ trường tiểu học; b) Đối với những trường ở thành phố, thị xã và thị trấn đã được xây dựng từ năm 1997 trở về trước, do điều kiện đặc thù, có thể vận dụng để tính diện tích khuôn viên nhà trường là diện tích mặt bằng sử dụng; có sân chơi, sân tập đảm bảo yêu cầu cho học sinh luyện tập thường xuyên, có hiệu quả; tổ chức được ít nhất 1 buổi/tháng cho học sinh học tập thực tế ở ngoài lớp học; c) Bảo đảm yêu cầu môi trường sư phạm xanh, sạch, đẹp, yên tĩnh, thoáng mát, thuận tiện cho học sinh học tập, vui chơi; không có hàng quán, nhà ở trong khu vực trường; môi trường xung quanh khu vực trường sạch, đẹp, an toàn; d) Diện tích sân chơi, sân tập thể dục thể thao (hoặc nhà đa năng) được bố trí, xây dựng theo quy định hiện hành tại Điều lệ trường tiểu học; sân trường có trồng cây bóng mát và có thảm cỏ. 2. Phòng học, bảng, bàn ghế cho giáo viên, học sinh a) Trường có tối đa không quá 30 lớp; mỗi lớp có tối đa không quá 35 học sinh. Có đủ 1 phòng học/1 lớp. Diện tích phòng học đạt tiêu chuẩn theo quy định hiện hành của Bộ Y tế. b) Kích thước, vật liệu, kết cấu, kiểu dáng, màu sắc bàn ghế học sinh bảo đảm quy định hiện hành của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Y tế. 3. Khối phòng, trang thiết bị văn phòng phục vụ công tác quản lý, dạy và học a) Khối phòng phục vụ học tập, khối phòng hành chính quản trị thực hiện theo quy định hiện hành tại Điều lệ trường tiểu học; b) Khu nhà bếp, nhà nghỉ (nếu có) phải đảm bảo điều kiện sức khỏe và an toàn, vệ sinh cho học sinh. 4. Khu vệ sinh, nhà để xe, hệ thống nước sạch, hệ thống thoát nước, thu gom rác a) Khu vệ sinh của cán bộ, giáo viên, nhân viên, học sinh đảm bảo yêu cầu an toàn, thuận tiện, sạch sẽ và được xây dựng ở vị trí phù hợp với cảnh quan nhà trường; b) Có nhà để xe cho cán bộ, giáo viên, nhân viên, học sinh và đảm bảo an toàn, tiện lợi. 5. Thư viện a) Có thư viện đạt chuẩn trở lên theo quy định về tiêu chuẩn thư viện trường phổ thông do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành; b) Hoạt động của thư viện đáp ứng nhu cầu nghiên cứu, dạy học của cán bộ, giáo viên và học tập của học sinh. 6. Thiết bị dạy học và hiệu quả sử dụng thiết bị dạy học Sử dụng thiết bị dạy học trong các giờ lên lớp và tự làm một số đồ dùng dạy học của giáo viên đảm bảo hiệu quả, đáp ứng yêu cầu đổi mới nội dung, phương pháp được quy định trong Chương trình giáo dục Tiểu học. “Điều 15”4. Tiêu chuẩn 4: Quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội Đạt các quy định tại Điều 10 của Thông tư này, bổ sung một số yêu cầu sau: 1. Nhà trường chủ động, tích cực tham mưu với các cấp ủy Đảng, chính quyền và phối hợp với các tổ chức đoàn thể của địa phương để xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh trong nhà trường và ở địa phương. 2. Nhà trường phối hợp với các tổ chức đoàn thể của địa phương, huy động sự tham gia của cộng đồng để giáo dục truyền thống lịch sử, văn hóa dân tộc, đạo đức lối sống, pháp luật, nghệ thuật, thể dục thể thao cho học sinh và thực hiện mục tiêu, kế hoạch giáo dục. 3. Chăm sóc di tích lịch sử, cách mạng, công trình văn hóa; chăm sóc gia đình thương binh, liệt sĩ, gia đình có công với Nước, Mẹ Việt Nam Anh hùng ở địa phương. 4. Huy động được sự đóng góp về công sức và tiền của của các tổ chức, cá nhân và gia đình để xây dựng cơ sở vật chất; bổ sung phương tiện, thiết bị dạy và học; khen thưởng giáo viên dạy giỏi, học sinh giỏi và hỗ trợ học sinh nghèo. “Điều 16”4. Tiêu chuẩn 5: Hoạt động giáo dục và kết quả giáo dục Đạt các quy định tại Điều 11 của Thông tư này, bổ sung một số yêu cầu sau: 1. Thực hiện chương trình, kế hoạch dạy học a) Dạy đủ các môn học, đúng chương trình, kế hoạch, đảm bảo yêu cầu của chuẩn kiến thức, kỹ năng; lựa chọn nội dung, thời lượng, phương pháp, hình thức dạy học phù hợp với từng đối tượng và đáp ứng yêu cầu, khả năng nhận thức của từng học sinh; b) Có ít nhất 50% học sinh học 2 buổi/ngày và có kế hoạch từng năm để tăng số lượng học sinh học 2 buổi/ngày. 2. Các hoạt động ngoài giờ lên lớp của nhà trường Tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp theo kế hoạch với các hình thức phong phú phù hợp với lứa tuổi học sinh và đạt kết quả thiết thực. 3. Công tác phổ cập giáo dục tiểu học a) Nhà trường đạt các tiêu chí chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi mức độ 1 trở lên; không có hiện tượng tái mù chữ ở địa phương; b) Tổ chức tốt “Ngày toàn dân đưa trẻ đến trường”; huy động được 100% trẻ 6 tuổi vào lớp 1; tỷ lệ học đúng độ tuổi đạt từ 90% trở lên. 4. Kết quả xếp loại giáo dục của học sinh a) Tỷ lệ học sinh xếp loại giáo dục từ trung bình trở lên đạt ít nhất 96%; b) Tỷ lệ học sinh xếp loại giáo dục khá, giỏi đạt ít nhất 50%, trong đó loại giỏi đạt ít nhất 15%; c) Có học sinh tham gia và đạt giải các hội thi, giao lưu do cấp huyện trở lên tổ chức. 5. Tổ chức các hoạt động chăm sóc, giáo dục thể chất, giáo dục ý thức bảo vệ môi trường a) Tổ chức khám sức khỏe định kỳ, tiêm chủng cho học sinh; b) Tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường, vui chơi, thể dục thể thao… 6. Hiệu quả đào tạo của nhà trường a) Tỷ lệ học sinh hoàn thành chương trình tiểu học sau 5 năm học đạt ít nhất 90%; b) Trẻ 11 tuổi hoàn thành chương trình tiểu học đạt từ 95% trở lên. Nội dung các tiêu chuẩn trên có tính pháp lí, tính thực tiễn và tính hiện đại đảm bảo cho tổ chức các hoạt động giáo dục có chất lượng toàn diện, tạo điều kiện tiếp cận với trình độ phát triển của các trường học ở các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới. Các tiêu chuẩn chứa đựng tinh thần và nội dung Luật Giáo dục, Luật chăm sóc bảo vệ trẻ em và các văn bản dưới luật về Giáo dục; tổng kết được kinh nghiệm của Giáo dục Việt Nam, kinh nghiệm xây dựng các điển hình tiên tiến của địa phương. Vì vậy có thể nói 5 tiêu chuẩn trên đủ điều kiện để tạo thành một nhà trường hoàn chỉnh với chất lượng giáo dục toàn dịên, thể hiện trình độ phát triển mới của nhà trường, phù hợp với yêu cầu CNH,HĐH đất nước. 2.2. Thực trạng về xây dựng quả lý trường Tiểu học Xuân Lộc đạt chuẩn Quốc gia mức độ 1: 2.2.1. Một số đặc điểm tình hình giáo dục của xã Xuân Lộc và nhà trường * Một số đặc điểm tình hình giáo dục của xã Xuân Lộc: Xã Xuân Lộc nằm ở khu vực phía Tây huyện Thường Xuân. Là một trong những xã vùng 135 có điều kiện kinh tế khó khăn, dân trí thấp. Với tổng diện tích đất tự nhiên là: 3 269,89 ha, 931 hộ và 3828 nhân khẩu. Gồm 2 dân tộc chung sống: Thái và Kinh. Đảng bộ, chính quyền và nhân dân xã Xuân Lộc luôn quan tâm đến sự nghiệp giáo dục, nên đã đầu tư và tạo điều kiện thuận lợi cho giáo dục phát triển cả về quy mô và chất lượng. Hệ thống giáo dục của xã có một trường Tiểu học, một trường THCS và một trường Mầm non, trong đó trường Tiểu học được ưu tiên xây dựng trường đạt chuẩn Quốc gia mức độ 1trước nhất. Ngoài ra, giáo dục địa phương còn được đầu tư từ các dự án TKK trước đây, nhận được sự quan tâm từ các tổ chức, các Ban ngành, đoàn thể, Hội Khuyến học xã, Hội đồng hương Thắng Lộc. Tóm lại: Nhiều năm trở lại đây, giáo dục Xuân Lộc đã tạo được nhiều bước chuyển biến cơ bản về quản lý và nâng cao chất lượng giáo dục đặc biệt là thực hiện tốt công tác xây dựng trường chuẩn Quốc gia. Điều đó đã tạo điều kiện cho giáo dục phát triển vững chắc, xây dựng được mặt bằng mới, thế đứng mới, thúc đẩy sự nghiệp giáo dục phát triển toàn diện, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội ở địa phương. * Tình hình nhà trường Tiểu học Xuân Lộc: Tiểu học Xuân Lộc Trong những năm qua, trường đã có nhiều thành tích trong công tác dạy và học. Vì vậy, nhà trường liên tục được công nhận trường tiên tiến cấp huyện, được Sở giáo dục và Đào tạo tặng Giấy khen. Trường được công nhận là trường đạt chuẩn mức chất lượng tối thiểu năm 2024. Đến nay, Ban giám hiệu nhà trường đã có kế hoạch xây dựng trường chuẩn Quốc gia mức độ 1, song vì điều kiện kinh tế của địa phương còn gặp nhiều khó khăn nên việc đầu tư xây dựng cơ sở vật chất chưa được thực hiện một cách nhanh chóng. Đảng bộ, chính quyền, nhân dân và trường Tiểu học phấn đấu đến năm 2024, trường Tiểu học sẽ đạt trường chuẩn Quốc gia mức độ 1. * Một số kết quả đã đạt được trong việc quản lý xây dựng trường Tiểu học Xuân Lộc đạt chuẩn Quốc gia mức độ 1: Về tiêu chuẩn 1: Tổ chức và quản lý 1. Thực hiện quản lí, hiệu lực quản lí Trong từng năm học, BGH nhà trường đã xây dựng kế hoạch hoạt động cho năm học đó. Trong kế hoạch nêu rõ các nhiệm vụ trọng tâm của từng học kỳ, từng tháng để trên cơ sở đó xây dựng kế hoạch cho từng tuần. Từ kế hoạch chung của nhà trường, các tổ, khối, cá nhân đã xây dựng kế hoạch cho chính mình và đưa ra các biện pháp cụ thể để thực hiện tốt kế hoạch mà mình đã xây dựng. Hiệu trưởng đã tổ chức cho nhà trường thực hiện đúng theo lịch trình mà kế hoạch đã xây dựng, đảm bảo tính khoa học, tính dân chủ, tính hiệu quả trong quá trình thực hiện kế hoạch. + Trong quá trình quản lí, bản thân là Hiệu trưởng tôi luôn chú trọng đến việc thực hiện công bằng, dân chủ, công khai. Điều này được thể hiện qua việc xây dựng các chỉ tiêu, nhiệm vụ năm học có được sự đồng thuận, nhất trí cao của tập thể cán bộ, giáo viên; việc đánh giá xếp loại giáo viên hàng tháng, hàng kì trên các tiêu chí đã được xác định, đảm bảo hợp lí, hợp tình; việc thu chi tài chính đảm bảo đúng nguyên tắc, công khai, minh bạch. + Trong thời gian qua, nhà trường luôn luôn tham mưu với UBND xã và vận động phụ huynh học sinh

Skkn Một Số Giải Pháp Xây Dựng Thư Viện Xanh, Thân Thiện Ở Trường Tiểu Học

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆMMột số giải pháp xây dựng thư viện xanh, thân thiện ở trường tiểu họcA. Tác giả sáng kiến– Họ và tên: Đinh Thị Thuý– Chức danh: Hiệu trưởng– Học vị: Đại học sư phạm– Địa chỉ: Trường Tiểu học Thị trấn Nho Quan – Nho Quan- Ninh Bình– Email: [email protected]– Số điện thoại: 0915 834 845B. Nội dung sáng kiếnThư viện trường học là một cơ quan truyền thông trong nhà trường có vaitrò cung cấp thông tin để giải đáp thắc mắc, thỏa mãn óc tò mò, tìm hiểu của họcsinh; là một động lực đóng góp vào việc cải tiến giáo dục trong nhà trường,nhằm mục đích sử dụng các nguồn tài liệu để hỗ trợ cho sự thay đổi cách học tậpcủa học sinh và giảng dạy của giáo viên trong nhà trường.Thư viện trường học là bộ phận cơ sở vật chất trọng yếu, trung tâm sinhhoạt văn hóa và khoa học của nhà trường. Thư viện góp phần nâng cao chấtlượng giảng dạy của giáo viên, bồi dưỡng kiến thức và xây dựng thói quen tựhọc, tự nghiên cứu cho học sinh, tạo cơ sở từng bước thay đổi phương pháp dạyvà học, đồng thời thư viện tham gia tích cực vào việc bồi dưỡng tư tưởng chínhtrị và xây dựng nếp sống văn hóa mới cho các thành viên của nhà trường.

Với chức năng truyền thông, thư viện trường học có nhiệm vụ thu thập vàtích lũy các nguồn tài liệu gồm những tài liệu tham khảo đầy đủ cùng những tàiliệu nghe nhìn phản ánh những kiến thức, kinh nghiệm, và sắp xếp thế nào để cóthể đáp ứng nhu cầu tìm hiểu của học sinh.Thực hiện Chỉ thị số 40/2008/CT-BGDĐT ngày 22/7/2008 của Bộ Giáodục và Đào tạo về việc triển khai phong trào thi đua “Xây dựng trường học thânthiện, học sinh tích cực”, để các hoạt động giáo dục trong nhà trường đảm bảoan toàn, thân thiện và hiệu quả thì vai trò của thư viện trong nhà trường là hếtsức quan trọng. Thư viện phải làm thế nào để thu hút được nhiều bạn đọc, tạothuận lợi cho giáo viên và học sinh khi tham gia đọc sách, phát triển văn hóa đọctrong nhà trường và nâng cao chất lượng dạy và học. Song song với hoạt độnggiáo dục của phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tíchcực” thì tại trường Tiểu học Thị trấn Nho Quan, mô hình xây dựng thư việnxanh, thân thiện được ra đời nhằm đáp ứng các yêu cầu đó.1

thực hiện trong việc chỉ đạo hoạt động thư viện tại trường Tiểu học Thị trấn NhoQuan như sau:1.1. Xây dựng nội quy thư việnChúng tôi đã xây dựng nội quy thư viện như sau:Thư viện là tài sản vô giá của nhà trường. Tất cả thành viên trong nhàtrường đều là bạn đọc của thư viện, có trách nhiệm bảo vệ và xây dựng thư viện.Bạn đọc cần thực hiện đúng các quy định sau:1. Vào thư viện phải giữ gìn trật tự và giữ vệ sinh chung, tôn trọng ngườixung quanh.2. Mỗi lần mượn không quá 4 quyển sách. Thời hạn mượn sách là 1 tuần.Nếu đọc chưa xong bạn đọc phải đến thư viện xin gia hạn.3. Báo chí, từ điển, sách quý hiếm chỉ được sử dụng tại chỗ.4. Bạn đọc cần giữ gìn sách báo cẩn thận, không được làm rách, làm bẩn,không vẽ viết vào sách báo, cần tham gia bọc và tu sửa sách thường xuyên.2

III. Hiệu quả của sáng kiếnTrong thời gian thử nghiệm, áp dụng các giải pháp nêu trên, chúngtôi đã thu được kết quả rất tốt trong hoạt động thư viện và góp phần rất lớn trongviệc nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường. cụ thể:* Huy động nguồn sách: Từ công tác tuyên truyền, chúng tôi đãhuy động được nguồn sách rất đáng kể vào thư viện nhà trường, phục vụcho hoạt động của thư viện xanh, thân thiện:Tổng sốsách đã huy

155

128

27

– Báo, tạp chí

1258

1069

152

37

– Truyện

746

491

80

175

– Sách BD nâng cao

63

63

2222

1751

259

212

1

Sách giáo khoa

2

Sách tham khảo

Cộng

* Cơ sở vật chất huy động xây dựng thư viện xanh, thân thiện nămhọc 2014- 2024:STT

Nội dung

Thành tiền

1

Mái, cổng…Thư viện xanh Hội cha mẹ học sinh

40 000 000 đ

2

Ghế đá

CB, GV, Hội CMHS

24 000 000 đ

3

Khẩu hiệu trang trí

Hội CMHS

12 000 000 đ

4

Vỏ chai, ống nhựa…

CB, GV, Học sinh

5 000 000 đ

5

Ngày công lao động

CB, GV, HS, phụ huynh

10 000 000 đ

Cộng

91 000 000 đ

* Hoạt động thư việnTừ mô hình hoạt động thư viện mở rộng và thân thiện, thư viện nhàtrường đã thu hút được 100% cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh trongtrường tham gia hằng ngày. Hoạt động thư viện thực sự sôi nổi và tạo ra khôngkhí hào hứng, vui tươi, phấn khởi của cả phụ huynh cũng như CB, GV, NV vàhọc sinh.8

động thư viện trong trường học và phong trào thi đua “Xây dựng trường họcthân thiện, học sinh tích cực”, góp phần tích cực vào việc nâng cao chất lượnggiáo dục của trường Tiểu học Thị trấn Nho Quan.Tôi nghĩ rằng, những giải pháp trên có thể áp dụng trong tất cả các trườngtiểu học của huyện Nho Quan cũng như các trường tiểu học khác trong cả nước.Rất mong được sự góp ý của đồng nghiệp và các cấp quản lý giáo dục để đề tàinghiên cứu của tôi được hoàn thiện hơn, giúp tôi có thêm bài học kinh nghiệm,hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao./.Thị trấn Nho Quan, ngày 15 tháng 4 năm 2024KẾT QUẢ THẨM ĐỊNH ĐÁNH GIÁ CỦA TRƯỜNG

TÁC GIẢ SÁNG KIẾN

Đinh Thị Thúy

10

Cập nhật thông tin chi tiết về Skkn Một Số Biện Pháp Xây Dựng Văn Hóa Nhà Trường Ở Trường Tiểu Học Thanh Sơn trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!