Xu Hướng 2/2024 # Skkn Một Số Biện Pháp Giáo Dục Kỹ Năng Sống Qua Trò Chơi Cho Học Sinh Trường Thcs Luận Thành # Top 9 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Skkn Một Số Biện Pháp Giáo Dục Kỹ Năng Sống Qua Trò Chơi Cho Học Sinh Trường Thcs Luận Thành được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THƯỜNG XUÂN SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG QUA TRÒ CHƠI CHO HỌC SINH TRƯỜNG THCS LUẬN THÀNH Người thực hiện: Nguyễn Thị Oanh Chức vụ: Giáo viên Đơn vị công tác: Trường THCS Luận Thành SKKN thuộc lĩnh vực: Giáo dục kỹ năng sống THANH HÓA NĂM 2024 MỤC LỤC Mục Tên đề mục Trang 1 Mở đầu 1 1.1 Lí do chọn đề tài 1 1.2 Mục đích nghiên cứu 2 1.3 Đối tượng nghiên cứu 2 1.4 Phương pháp nghiên cứu 2 2 Nội dung 2 2.1 Cơ sở lí luận 2-3 2.2 Thực trạng vấn đề 3-4 2.3 Giải pháp thực hiện 4-12 2.4 Hiệu quả của sáng kiến 12-14 3 Kết luận, kiến nghị 14 3.1 Kết luận 14-15 3.2 Kiến nghị 15 16 Tài liệu tham khảo 16 17 Phụ lục 1. Phần mở đầu 1.1. Lí do chọn đề tài. Rèn luyện kỹ năng sống(KNS) cho học sinh là nhiệm vụ vô cùng quan trọng, ảnh hưởng đến quá trình hình thành và phát triển nhân cách sau này của cà thế hệ trẻ. Chính vì vậy, học sinh, đặc biệt là lứa tuổi học sinh THCS cần được trang bị kỹ năng sống để định hướng phát triển cá nhân một cách tốt nhất. Nội dung giáo dục KNS trong trường học lần đầu tiên được Bộ GD&ĐT  nhắc đến trong năm học 2008 – 2009 với chủ trương xây dựng “Trường học thân thiện – Học sinh tích cực”. Từ đó, việc giáo dục KNS đã được quan tâm sớm hơn một bước và đã trở thành một nội dung quan trọng trong các hoạt động giáo dục trong Nhà trường nhằm hướng đến giáo dục toàn diện cho học sinh, giúp các em rèn luyện KNS vững vàng trong cuộc sống.  Hiện nay xã hội càng ngày càng phát triển, kéo theo đó là nhiều tệ nạn xã hội, học sinh lại đang rất thiếu hụt kỹ năng sống, đặc biệt là trẻ em thuộc khu vực miền núi khó khăn như xã Luận Thành. Sự thiếu hụt này dẫn đến nhiều hậu quả nghiêm trọng như tai nạn thương tích ở trẻ em (đuối nước, tai nạn giao thông, điện giật, bỏng, ngộ độc, động vật cắn…), bạo lực học đường, trẻ em nữ bị xâm hại tình dục Học sinh THCS đang non nớt, kinh nghiệm sống chưa có, suy nghĩ và hành động thường bột phát, bốc đồng, nếu không có kỹ năng sống thì khó có khả năng ứng phó và giải quyết được các vấn đề nảy sinh trong cuộc sống và học tập, từ đó dễ dẫn đến những hậu quả đáng tiếc. Xã Luận Thành là một xã nằm ở trung tâm phía Nam của huyện, có đường Hồ Chí Minh chạy qua nên đời sống kinh tế tương đối phát triển. Gia đình học sinh có quan tâm đến việc học của con em nhưng vì lo phát triển kinh tế nên không dành nhiều thời gian và điều kiện giáo dục, quản lý con cái, thậm chí phó mặc cho Nhà trường. Nhà trường THCS Luận Thành đã tổ chức một số hoạt động giáo dục KNS cho HS nhưng do nhiều hoạt động chuyên môn, số lượng học sinh đông, kinh phí eo hẹp không thể thường xuyên tổ chức được. Việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh chỉ dựa chủ yếu vào việc lồng ghép vào hoạt động giáo dục và các tiết học trên lớp nhưng thời gian gò bó, các hình thức giáo dục chưa phong phú nên hiệu quả chưa cao. Trong những năm gần đây, nhận thấy một bộ phận không nhỏ học sinh kỹ năng giao tiếp kém, nhiều học sinh có ý định bỏ học, ham chơi đua đòi, không chú tâm vào việc học, hay vi phạm ATGT, dễ bị tai nạn rủi ro do thiếu hụt KNS và thiếu sự quan tâm giáo dục của gia đinh. Trước tình hình đó, cần đưa ra các biện pháp giáo dục KNS cho học sinh làm sao tiết kiệm được thời gian, kinh phí, thu hút được học sinh mà vẫn có thể linh hoạt sử dụng trong bất cứ hoạt động giáo dục nào. Và giáo dục KNS qua trò chơi là một lựa chọn tối ưu vì đây là hình thức giáo dục gây hứng thú mạnh mẽ cho học sinh. Các em vừa học, vừa chơi nhưng vẫn bổ ích, thiết thực. Từ những lí do trên tôi quyết định chọn đề tài “Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trường THCS Luận Thành qua một số trò chơi” để thực hiện. Với đề tài này, tôi mong muốn tạo thêm sân chơi bổ ích cho học sinh, góp phần tăng cường giáo dục KNS cho các em, giúp ích cho các em trong quá trình học tập và sinh sống. 1.2. Mục đích nghiên cứu: Từ tình hình thực tế việc giáo dục KNS tại đơn vị, tôi đưa ra một số giải pháp rèn luyện, giáo dục KNS cho học sinh, giúp các em biết vận dụng nó để giải quyết các vấn đề nảy sinh trong cuộc sống, trong học tập một cách hiệu quả, giúp các em phát triển một cách toàn diện Góp phần đa dạng hóa hình thức giáo dục KNS cho học sinh tại đơn vị, tiết kiệm thời gian, kinh phí, nâng cao hiệu quả giáo dục KNS nói riêng, giáo dục học sinh trong Nhà trường nói chung. 1.3. Đối tượng nghiên cứu Đề tài tập trung nghiên cứu về một số biện pháp rèn luyện KNS thông qua các trò chơi tập thể cho học sinh trong các hoạt động giảng dạy và giáo dục của Nhà trường. 1.4. Phương pháp nghiên cứu Giáo dục KNS cho học sinh có rất nhiều phương pháp. Nhưng đề tài chỉ dừng lại ở việc rèn luyện KNS cho học sinh qua trò chơi tại đơn vị nên chỉ sử dụng một số phương pháp như: + Phương pháp nghiên cứu tài liệu: nghiên cứu các tài liệu: Các văn bản của ngành về giáo dục KNS cho HS, các tài liệu về giáo dục KNS để làm căn cứ thực hiện đề tài. + Phương pháp điều tra khảo sát thực tế: Sử dụng phương pháp này để tìm hiểu lí do học sinh thiếu KNS, số lượng và lí do học sinh hay vi phạm các nội quy, thiếu tự tin, chán học, hay chống đối, có hành động, suy nghĩ cực đoan + Phương pháp thống kê: Sử dụng PP này để nắm được tỉ lệ có KNS của học sinh khi thực hiện khảo sát thực tế trước và sau khi thực hiện đề tài. + Phương pháp thực hành: Sử dụng phương pháp này trong quá trình rèn luyện kĩ năng cho HS, qua việc khảo sát kết quả việc thực hiện đề tài. 2. Nội dung 2.1. Cơ sở lí luận Trong môi trường không ngừng biến động con người luôn đối diện với áp lực cuộc sống từ những yêu cầu ngày càng đa dạng, ngày càng cao trong quan hệ xã hội, trong công việc và cả trong quan hệ gia đình. Quá trình hội nhập với thế giới đòi hỏi phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, ngoài kiến thức chuyên môn, yêu cầu về các kỹ năng sống ngày càng trở nên quan trọng. Thiếu kỹ năng sống con người dễ hành động tiêu cực, nông nổi. Giáo dục cần trang bị cho người học những kỹ năng thiết yếu như ý thức về bản thân, làm chủ bản thân, đồng cảm, tôn trọng người khác, biết cách hợp tác và giải quyết hợp lý các mâu thuẫn, xung đột. [1 ] Chương trình giáo dục phổ thông hiện hành quan tâm chủ yếu tới cung cấp kiến thức cho học sinh. Chương trình như vậy được xây dựng theo hướng tiếp cận nội dung dạy học, khác với một chương trình được xây dựng theo hướng tiếp cận năng lực, tức là xuất phát từ các năng lực mà mỗi học sinh cần có trong cuộc sống và kết quả cuối cùng phải đạt các năng lực ấy bằng việc xây dựng chuẩn đầu ra về năng lực mà học sinh cần phải đạt được sau một quá trình dạy – học. Khác với cách tiếp cận nội dung, tiếp cận năng lực chú trọng vào việc yêu cầu học sinh học xong phải thể hiện được, làm được; biết vận dụng những kiến thức để giải quyết các tình huống đặt ra trong cuộc sống, … Vì thế, việc học tập theo hướng tiếp cận này trở nên gần gũi và thiết thực đối với cá nhân và cộng đồng. Theo đó, nội dung, phương pháp dạy học, phương pháp kiểm tra đánh giá đều phải hướng tới năng lực tự học, năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề trong học tập, trong cuộc sống; coi trọng rèn luyện kỹ năng sống. Trong thời gian qua, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức một số hoạt động hướng tới việc rèn luyện năng lực cho học sinh như: Tổ chức Chương trình đánh giá học sinh quốc tế PISA với cách đánh giá kỹ năng vận dụng kiến thức vào giải quyết các vấn đề thực tiễn trong cuộc sống; tổ chức cuộc thi vận dụng kiến thức liên môn giải quyết các vấn đề thực tiễnỞ Việt Nam, với Đề án đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo, mục tiêu giáo dục đang chuyển hướng từ trang bị kiến thức nặng lý thuyết sang trang bị những năng lực cần thiết và phẩm chất cho người học. Điều đó cũng khẳng định thêm tầm quan trọng và yêu cầu thiết yếu đưa giáo dục KNS vào trường học cùng với các môn học và các hoạt động giáo dục.[ 2] Sự phối hợp chặt chẽ giáo dục KNS với các hoạt động giáo dục vốn đã được lồng ghép vào chương trình giáo dục từ nhiều năm nay như giáo dục bảo vệ môi trường, phòng chống ma tuý, giáo dục pháp luật, sức khỏe sinh sản vị thành niên, tạo nhiều cơ hội và điều kiện để triển khai giáo dục KNS. 2.2 Thực trạng vấn đề 2.2.1. Thuận lợi Bộ và Sở Giáo dục và Đào tạo, Phòng giáo dục đã tổ chức nhiều lớp tập huấn, bồi dưỡng cho cán bộ quản lý, giáo viên về giáo dục KNS cho học sinh phổ thông; hướng dẫn tích hợp giáo dục KNS vào các địa chỉ qua một số môn học và hoạt động giáo dục ở các cấp học phổ thông nên cán bộ quản lý và giáo viên trong trường đã nắm được cơ bản việc giáo dục KNS cho học sinh. Một số hoạt động giáo dục KNS đã được Nhà trường chú ý thực hiện trong khuôn khổ và yêu cầu của Phong trào “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” do Bộ Giáo dục và Đào tạo phát động. Giáo dục KNS từ nhà trường cũng như qua các phương tiện thông tin đại chúng đã thu hút được sự chú ý và hưởng ứng của xã hội, của phụ huynh học sinh. Hình thức tổ chức giáo dục KNS đã bước đầu được thực hiện trong một số môn học, thông qua hoạt động ngoại khoá và các hoạt động trải nghiệm. Việc giáo dục KNS cho HS trong Nhà trường được sự quan tâm và hỗ trợ của tổ chức “Tầm nhìn thế giới” nói chung và CT PTV Thường Xuân nói riêng. 2.2.2. Khó khăn, hạn chế Khi thực hiện giáo dục KNS, giáo viên còn gặp nhiều khó khăn, lúng túng (chưa có tài liệu cho giáo viên và học sinh, tiêu chí đánh giá chưa cụ thể,). Tổ chức giáo dục KNS có những đặc thù riêng khác với các hoạt động giáo dục khác, nội dung giáo dục không chỉ diễn ra trong môn học mà còn thông qua một số hoạt động khác (hoạt động ngoài giờ lên lớp, câu lạc bộ,…) cho nên thiếu cơ sở vật chất, kinh phí để thực hiện. Một bộ phận cán bộ quản lý, giáo viên, phụ huynh chưa được nhận thức một cách đúng mức trong ý nghĩa, tầm quan trọng của giáo dục KNS, còn ngại suy nghĩ, đổi mới trong phương pháp giáo dục học sinh. Giáo viên quen với việc tập trung cung cấp kiến thức mà không hoặc ít quan tâm giáo dục KNS cho học sinh. Mặt khác thời lượng tiết học là 45 phút rất nhanh nên giáo viên không có đủ thời gian lồng ghép giáo dục cho học sinh. Nhiều gia đình học sinh chưa quan tâm đến giáo dục con em, còn phó mặc cho Nhà trường. Ngoài ra, việc rèn luyện kĩ năng mềm cần tiến hành thông qua những hoạt động tích cực thực tiễn, trong khi nhiều học sinh vẫn quen với lối học thụ động. Học sinh của trường đa số xuất thân từ nông thôn nên khả năng thích ứng với xã hội hiện đại của các em còn yếu, các hiểu biết về kĩ năng mềm ở các em hầu như là chưa có. Số lượng học sinh trong trường quá đông, gần 500 học sinh, mà giáo dục và rèn luyện KNS cần cho học sinh trải nghiệm nên việc giáo dục KNS cho toàn bộ học sinh là việc vô cùng khó và không có hiệu quả. Hình thức giáo dục KNS cho HS còn nghèo nàn, chưa thu hút và hấp dẫn được học sinh do không đủ thời gian và kinh phí tổ chức. Vì những khó khăn trên nên hiện nay việc triển khai các hoạt động rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh như thế nào cho hiệu quả là vấn đề trăn trở của nhà trường và các giáo viên đang trực tiếp làm công tác giảng dạy và giáo dục. 2.3. Giải pháp thực hiện 2.3.1. Một số vấn đề chung a. Sự cần thiết phải giáo dục kỹ năng sống cho học sinh phổ thông Lứa tuổi học sinh là lứa tuổi đang hình thành những giá trị nhân cách, giàu ước mơ, ham hiểu biết, thích tìm tòi, khám phá song còn thiếu hiểu biết về cuộc sống. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, thế hệ trẻ thường xuyên chịu tác động đan xen của những yếu tố tích cực và tiêu cực, luôn được đặt vào hoàn cảnh phải lựa chọn những giá trị, phải đương đầu với những khó khăn, thử thách, những áp lực tiêu cực. Nếu không được giáo dục kĩ năng sống, nếu thiếu kĩ năng sống, các em dễ bị lôi kéo vào các hành vi tiêu cực, bạo lực, vào lối sống ích kỉ, lai căng, thực dụng, dễ bị phát triển lệch lạc về nhân cách. Một trong các nguyên nhân dẫn đến các hiện tượng tiêu cực của một bộ phận học sinh phổ thông trong thời gian vừa qua chính là do các em thiếu những kĩ năng cần thiết như: kĩ năng xác định giá trị, kĩ năng từ chối, kĩ  năng kiên định, kĩ năng giải quyết mâu thuẫn, kĩ năng thương lượng, kĩ năng giao tiếp. Vì vậy, việc giáo dục kĩ năng sống cho các em là rất cần thiết, giúp các em rèn luyện hành vi có trách nhiệm đối với bản thân, gia đình, cộng đồng và Tổ quốc; giúp các em có khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống, xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với gia đình, bạn bè và mọi người, sống tích cực, chủ động, an toàn, hài hoà và lành mạnh. b. Một số phương pháp giáo dục KNS cho học sinh phổ thông thường được sử dụng: – Phương pháp động não – Phương pháp sắm vai(trải nghiệm) – Phương pháp trò chơi – Phương pháp vẽ tranh Có nhiều phương pháp giáo dục KNS cho học sinh, mỗi phương pháp có những ưu nhược điểm riêng. Trong các phương pháp trên thì phương pháp sắm vai và trò chơi là hai phương pháp học sinh rất yêu thích. Tuy nhiên phương pháp sắm vai để có hiệu quả thì phải xây dựng tình huống, có phục trang, đạo cụ phù hợp, số học sinh tham gia được ít nên việc sử dụng phương pháp trò chơi sẽ có hiệu quả hơn. c. Sử dụng phương pháp trò chơi trong giáo dục KNS cho học sinh * Mục đích: Phương pháp trò chơi giúp cho quá trình học tập được tiến hành một cách nhẹ nhàng, sinh động, không khô khan nhàm chán nhằm lôi cuốn học sinh tham gia vào quá trình học tập một cách tự nhiên, hứng thú, có tinh thần trách nhiệm, đồng thời xua tan sự căng thằng trong học tập. * Các bước thực hiện: – Lựa chọn trò chơi phù hợp – Chuẩn bị phương tiện(nếu cần) – Lựa chọn không gian phù hợp – Huy động sự tham gia của người chơi – Giới thiệu tên trò chơi, luật chơi – Hướng dẫn chơi – Chơi thử – Tổ chức chơi – Xử lý theo luật chơi – Rút ra ý nghĩa của trò chơi(qua sử dụng các câu hỏi vấn đáp, gợi mở để học sinh rút ra được kỹ năng sống qua trò chơi)[4 ] * Lưu ý khi sử dụng phương pháp trò chơi – Trò chơi phải dễ tổ chức và thực hiện, đảm bảo mọi người đều có thể được tham gia – Trò chơi phải phù hợp(với đặc điểm, trình độ học sinh, hoàn cảnh thực tế của lớp học, phù hợp với KNS cần giáo dục) – Chú ý phát huy tính tích cực của học sinh, tạo điều kiện cho học sinh tự tổ chức chơi. – Cuối trò chơi phải có hệ thống câu hỏi để học sinh rút ra KNS cần giáo dục.[5] * Những hoạt động giáo dục có thể sử dụng phương pháp trò chơi để giáo dục KNS – Qua tiết ngoại khóa trên lớp: Với tiết học ngoại khóa thời gian và không gian thuận lợi hơn nhưng chú ý không quá ồn và vận động mạnh làm ảnh hưởng đến lớp khác. – Qua các hoạt động ngoại khóa(sinh hoạt câu lạc bộ, các hoạt động tập thể), không gian và thời gian không bị hạn chế nên chọn các trò chơi vận động, có nhiều người tham gia để tạo không khí thoải mái cho học sinh. Tùy vào từng hoạt động mà giáo viên lựa chọn trò chơi phù hợp làm sao vừa khắc sâu nội dung hoạt động vừa kết hợp giáo dục KNS cho học sinh có hiệu quả. 2.3.2. Phương pháp giáo dục KNS cho học sinh qua một số trò chơi Bất cứ trò chơi lành mạnh nào nếu vận dụng tốt đều có thể dùng để giáo dục KNS cho học sinh. Trong đây, tôi xin được giới thiệu một số trò chơi dễ thực hiện trong các hoạt động giảng dạy và giáo dục ở trường phổ thông. a. Giáo dục “Kỹ năng hợp tác ” qua trò chơi “ Vượt biển” Mục đích của trò chơi này là giúp học sinh nhận thức được vai trò, ý nghĩa của việc hợp tác, từ đó giáo dục kỹ năng hợp tác cho các em. Chuẩn bị: Một số tờ giấy báo, không gian chơi đủ rộng Trò chơi tiến hành theo các bước sau: Bước 1: Giới thiệu luật chơi Giáo viên chia học sinh thành các nhóm(chia ngẫu nhiên qua trò chơi “Kết bạn”), chia cho mỗi nhóm một tờ báo cũ, quy định khoảng sân(lớp) là biển, tờ báo là thuyền để vượt biển. Khi trò chơi bắt đầu, giáo viên cho các học sinh xung quanh sân vừa đi vừa hát. Giáo viên hô “Bão biển” thì tất cả học sinh phải chạy về đứng gọn trên thuyền, ai không đứng gọn trên thuyền thì bị loại. Khi giáo viên hô “Bão tan”, mọi học sinh lại đi xung quanh sân, lúc này thuyền bị rách nên chỉ còn lại một nửa tờ báo, khi có hiệu lệnh “Bão biển” thì lại phải chạy ngay về thuyền. Trò chơi cứ tiếp tục như vậy càng về sau càng khó(thuyền càng ngày càng nhỏ). Nhóm nào bảo tồn được số người sau cùng sẽ thắng cuộc. Bước 2: Chơi thử: Giáo viên cho học sinh chơi thử 2-3 lượt cho học sinh nắm rõ luật chơi. Bước 3: Tổ chức chơi Giáo viên cho học sinh chơi khoảng 3-5 lượt, tìm ra đội chơi thua nhanh nhất để “thưởng” bằng một hình thức vui nào đó. Bước 4: Rút ra ý nghĩa của trò chơi(giáo dục KNS): – Sau khi kết thúc trò chơi giáo viên đưa ra một số câu hỏi để học sinh rút ra ý nghĩa trò chơi: ? Để giành được thắng lợi trong trò chơi vừa rồi thì mội thành viên trong nhóm cần phải làm gì?( cần nhanh chóng chạy về thuyền, bám chặt vào nhau, chung sức giữ cho nhau đứng vững trên thuyền) ? Nếu trong nhóm có 1 người không bám chắc hoặc đứng không vững thì nhóm có đứng vững được không? Nhóm sẽ làm gì để đứng vững trên thuyền?(nhóm không thể đứng vững nếu một thành viên không kết hợp tốt, những thành viên còn lại sẽ hỗ trợ giúp cho bạn bám chắc và đứng vững ) ? Thuyền muốn đứng vững thì các em nên phân công nhiệm vụ như thế nào?(bạn to khỏe đứng giữa làm trụ, các bạn nhỏ, yếu đứng xung quanh, tất cả trong và ngoài đều giữ chặt lấy nhau thành một khối) Giáo viên kết luận: Kỹ năng hợp tác là một kỹ năng rất quan trọng với mội chúng ta, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay. Kỹ năng hợp tác là cùng chung sức, giúp đỡ, hỗ trợ nhau để đạt đến một mục đích chung. Hợp tác giúp chúng ta có thêm sức mạnh, vượt qua khó khăn, có được nhiều thành công. Muốn hợp tác tốt mỗi người cần phải biết tôn trọng, chia sẻ, lắng nghe các thành viên khác trong nhóm, có tinh thần trách nhiệm, luôn hỗ trợ mọi người trong nhóm hoàn thành nhiệm vụ chung. b. Giáo dục kỹ năng “Tự nhận thức” qua trò chơi “Soi gương” Mục đích của trò chơi này là học sinh nhận thức được rằng muốn thấy được vẻ bề ngoài của bản thân thì rất dễ bằng cách soi gương, nhưng để nhận biết được bên trong mỗi người thì cần có kỹ năng tự nhận thức bản thân. Trò chơi tiến hành theo các bước sau: Bước 1: Phổ biến luật chơi – GV cho học sinh đứng thành vòng tròn xung quanh mình. Cử ra hai người quan sát để phát hiện người làm không đúng(luân phiên) – Luật chơi: Người quản trò đứng giữa vòng tròn làm động tác nào thì những người xung quanh phải làm theo nhưng làm ngược chiều(giống hình ảnh trong gương). Nếu ai làm cùng chiều với người quản trò thì sẽ được “thưởng” Bước 2: Chơi thử: Giáo viên tổ chức cho học sinh chơi thử để học sinh nắm rõ luật chơi Bước 3: Tổ chức trò chơi: Giáo viên thực hiện các động tác( ví dụ như chải đầu soi gương, đánh răng, trang điểm, dắt xe. ) khoảng 3-5 lượt để tìm ra những người chơi chưa đúng để “thưởng” bằng một hình thức vui nào đó. Bước 4: Rút ra ý nghĩa của trò chơi(giáo dục KNS): – Sau khi kết thúc trò chơi giáo viên đưa ra một số câu hỏi để học sinh rút ra ý nghĩa trò chơi: ? Để nhận ra vẻ bề ngoài của bản thân thì chúng ta phải làm gì?(soi gương) ? Việc soi gương có giúp chúng ta nhìn thấy đặc điểm bên tro

Skkn Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Học Sinh Thcs

MỞ ĐẦU I. Lý do chọn đề tài Trong xã hội phát triển mạnh mẽ đầy thách thức hiện nay, nếu thiếu kỹ năng sống sẽ thiếu khả năng phân tích xử lý các tình huống khó khăn, xuống cấp về đạo đức, nhận thức và ứng xử lệch lạc, có phản ứng tiêu cực, dễ rơi vào bế tắc, không tự mình kéo lên được,… Trong khi đó, chương trình giáo dục hiện nay còn nặng về kiến thức, chưa chú trọng đúng mức đến việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh. Năm học 2008 – 2009 với chủ trương xây dựng “Trường học thân thiện – Học sinh tích cực”, nội dung giáo dục KNS trong trường học lần đầu tiên được Bộ GD&ĐT nhắc đến. Đặc biệt, ở một số trường học ngoài công lập, trường học quốc tế, việc giáo dục KNS đã được quan tâm sớm hơn một bước và đã trở thành một bộ môn chính khóa. Do vậy, đề tài “Giáo dục KNS cho học sinh THCS” đã thực hiện, nhằm hướng đến giáo dục toàn diện cho HS, giúp các em rèn luyện KNS vững vàng trong cuộc sống.

II. Đối tượng nghiên cứu. Đối tượng nghiên cứu của đề tài là vấn đề giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THCS.

III. Khách thể nghiên cứu. Khách thể nghiên cứu là học sinh THCS.

IV. Đối tượng khảo sát. Đối tượng khảo sát là trường THCS Nguyễn Viết Xuân, Thị xã Thủ Dầu Một, Bình Dương.

2. Phương pháp khảo sát, phỏng vấn qua bàng hỏi. Phương pháp được thực hiện nhằm thu thập thông tin về thực trạng giáo dục KNS cho học sinh THCS. Để đo mức độ hình thành KNS cho học sinh THCS.

3. Phương pháp thống kê toán học. Phương pháp thống kê toán học dùng để xử lý các kết quả khảo sát bằng phiếu hỏi.

4. Phương pháp xử lý thông tin. Phương pháp xử lý thông tin: để xây dựng các luận cứ, khái quát hoá để phục vụ cho việc chứng minh.

5. Phương pháp nghiên cứu lý luận. Nghiên cứu các đề tài, các văn bản, chỉ thị, nghị quyết của Đảng và Nhà nước về vấn đề giáo dục và giáo dục KNS cho học sinh THCS, phân tích, tổng hợp những tư liệu, tài liệu lý luận về giáo dục KNS.

VI. Cơ sở lý luận Dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những quan điểm cùa Nhà nước ta về giáo dục kỹ năng cho HS.

VI. Bố cục đề tài Ngoài phần mở đầu, đề tài gồm 4 chương và phần kết luận, kiến nghị. Chương 1. Khái quát về kỹ năng sống. Chương 2. Thực trạng về kỹ năng sống của học sinh. Chương 3. Vai trò và tác động của KNS đối với học sinh THCS. Chương 4. Phương thức và phương pháp tiếp cận giáo dục KNS cho học sinh THCS.

CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT VỀ KỸ NĂNG SỐNG 1.1. KỸ NĂNG LÀ GÌ? Kỹ năng là năng lực hay khả năng chuyên biệt của một cá nhân về một hoặc nhiều khía cạnh nào đó được sử dụng để giải quyết tình huống hay công việc nào đó phát sinh trong cuộc sống.

1.2. KHÁI NIỆM VÀ PHÂN LOẠI KỸ NĂNG SỐNG. 1.2.1. Khái niệm kỹ năng sống. Khái niệm KNS được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Theo tồ chức UNESCO định nghĩa ” kỹ năng sống” là: khả năng thích nghi và hành vi tích cực cho phép cá nhân có đầy đủ khả năng đối phó có hiệu quả với nhu cầu và thách thức cùa cuộc sống hằng ngày. Nói một cách dễ hiểu, đó là khả năng nhận thức của bản thân (giúp mỗi người biết mình là ai, sinh ra để làm gì, điểm mạnh, điểm yếu của bản thân, mình có thể làm được làm gì?)

1.2.2. Phân loại kỹ năng sống. Kỹ năng sống được chia làm hai loại: kỹ năng cơ bản và kỹ năng nâng cao.  Kỹ năng cơ bản gồm: kỹ năng nghe, nói, đọc, viết, múa, hát, đi, đứng,…  Kỹ năng nâng cao là sự kế thừa và phát triển các kỹ năng cơ bản dưới một dạng thức mới hơn. Nó bao gồm: các khả năng tư duy logic, sáng tạo, suy nghĩ nhiều chiều, phân tích, tổng hợp,… Ở các lớp THCS, kỹ năng nâng cao được xem trọng nhiều, còn kỹ năng cơ bản được xem trọng ở các lớp đầu cấp tiểu học. KNS được học qua 3 môi trường cụ thể, đó là: học từ những người truyền thụ trực tiếp kiến thức cho mình, học từ sách báo, truyền hình và các phương tiện truyền thông đại chúng khác, học từ những hiện tượng xảy ra trong tự nhiên xã hội. Hay nói cách khác, KNS có trong 3 môi trường: gia đình, nhà trường và xã hội.

1.3. Giáo dục kỹ năng sống và sự cần thiết phải giáo dục kỹ năng sống cho học sinh. 1.3.1. Giáo dục KNS là gì? Giáo dục KNS là một quá trình với những hoạt động cụ thể nhằm tổ chức, điều khiển để học sinh biết cách chuyển dịch kiến thức đã được biết và thái độ, giá trị ( HS

suy nghĩ, cảm thấy tin tưởng được) thành hành động thực tế một cách tích cực và mang tính chất xây dựng. Giáo dục KNS cho HS không phải là đưa ra những lời giải đơn giản cho những câu hỏi đơn giản, mà giáo dục KNS là việc hướng đến làm thay đổi các hành vi. Có nghĩa là, GD cho các em có cách sống tích cực trog xã hội, là xây dựng và thay đổi ở các em các hành vi theo hướng tích cực, phù hợp với mục tiêu phát triển toàn diện nhân cách người học dựa trên cơ sở giúp HS có tri thức, giá trị, thái độ và kỹ năng phù hợp. Mục tiêu giáo dục KNS cho học sinh THCS không dừng lại ở việc làm thay đổi nhận thức cho HS bằng cách cung cấp thông tin, tri thức mà tập trung vào mục tiêu xây dựng hoặc làm thay đổi hành vi của HS theo hướng tích cực, mang tính xây dựng đối với các vấn đề đặc ra trong cuộc sống.

1.3.2. Sự cần thiết phải giáo dục KNS cho học sinh THCS. Cuộc sống luôn tạo ra những khó khăn, thử thách để con người vượt qua. Vì vậy, mỗi con người cần phải trang bị cho mình những kỹ năng cần thiết để giải quyết các vấn đề gặp phải trong cuộc sống. Là một nhà giáo dục tương lai, một con người của xã hội, chúng ta cần phải thấy rõ vai trò của việc trang bị KNS cho HS. Học sinh THCS (1216 tuổi) là lứa tuổi có nhiều thay đổi mạnh mẽ về thể chất, sức khỏe và tâm sinh lý. Tuổi dậy thì các em dễ thay đổi tình cảm, hành vi, chóng vui chóng buồn. Mâu thuẫn giữa ý muốn thoát khỏi sự giám sát của bố mẹ, muốn khẳng định mình trong gia đình lẫn ngoài xã hội với ý thức “các em vẫn còn là trẻ con” trong suy nghĩ của các bậc cha mẹ, thầy cô đã nảy sinh những xung đột mà các em chưa được trang bị kỹ năng cần thiết để ứng phó và giải quyết. Đây là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng phạm pháp ở thanh thiếu niên, đặc biệt ở độ tuổi THCS, ngày càng gia tăng đến mức độ đáng báo động trong xã hội. Vì vậy, giáo dục KNS là con đường ngắn nhất, giúp các em định hướng về cách sống và hành động một cách tích cực. Nắm được KNS, các em sẽ dễ dàng áp dụng những kiến thức lý thuyết, những “cái mình biết”, “cái mình tin tưởng”,.. vào thực tiễn thành những hành động tích cực, giúp các em thích ứng nhanh nhẹn với những sự thay đổi ngày càng nhanh của xã hội, vững bước tương lai.

* Nhóm kỹ năng sống cần thiết cho khối học sinh THCS  Kỹ năng tự phục vụ bản thân  Kỹ năng xác lập mục tiêu cuộc đời  Kỹ năng quản lý thời gian hiệu quả  Kỹ năng điều chỉnh và quản lý cảm xúc 

Kỹ năng tự nhận thức và đánh giá bản thân

 Kỹ năng giao tiếp và ứng xử  Kỹ năng hợp tác và chia sẻ 

Kỹ năng thể hiện tự tin trước đám đông

 Kỹ năng đối diện và ứng phó khó khăn trong cuộc sống  Kỹ năng đánh giá người khác.

CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG VỀ VIỆC GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH THCS VÀ NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN THỰC TRẠNG ĐÓ.

2.1. THỰC TRẠNG VỀ GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ . Thời gian qua, báo chí đã phản ánh khá nhiều về thực trạng thanh thiếu niên thiếu hụt về kỹ năng xử lý, ứng phó với tình huống xảy ra trong cuộc sống nên đã rơi vào bế tắc, không thể tự kéo mình lên được, như: giết bạn vì mâu thuẫn nhỏ nhặt, bỏ nhà đi bụi, bạo lực học đường, nữ sinh tham gia vào các đường dây mại dâm, hoặc tự vẫn chỉ vì thầy cô, cha mẹ trách mắng,… Thực trạng cho nền giáo dục ở nước ta hiện nay là quá chú trọng vào việc giảng dạy kiến thức, sách vở, quản lý GD bằng những quy tắc cứng nhắc mà xem nhẹ việc GD về KNS, đạo đức cho học sinh. Chính vì thế mà Việt Nam là một trong những nước đứng đầu về bạo lực học đường. Công tác giáo dục KNS cho HS chưa được đầu tư đúng mức về tài liệu, cơ sở vật chất giảng dạy. Nội dung, cách thức giáo dục KNS đơn điệu, sơ sài, chưa thu hút được sự quan tâm tham gia của các em HS. Bản thân giáo viên cũng còn thiếu KNS nên khó đáp ứng tốt yêu cầu giáo dục KNS cho HS. Vì vậy, với không ít cơ sở GD, giáo dục KNS là nhiệm vụ bất đắc dĩ, và kết quả “được hay không thì tùy”. Về phía các đoàn thể xã hội khác, nhìn chung đều có tham gia vào công tác này, nhưng chưa thực sự quan tâm đúng mức. Đặc biệt, về phía gia đình, vì nhiều nguyên nhân mà hầu hết các bậc phụ huynh đều đẩy việc giáo dục KNS con em mình cho nhà trường, không quan tâm đến con em mình trong nhận thức về KNS. Trong khi đó, GD trong gia đình là nền tảng đầu tiên và quan trọng nhất.

Hầu hết đề tài nghiên cứu trước đây đều có chung nhận định: học sinh thời nay năng động, tự tin, mạnh dạn bày tỏ chính kiến của mình và thường có mức yêu cầu cao đối với bản thân. Kết quả nghiên cứu cho thấy các em bước đầu hình thành những quan niệm cơ bản về kỹ năng sống, phần đông nhận thức được kỹ năng sống là hành vi con người thể hiện khi ứng phó với những tình huống diễn ra trong cuộc sống, dựa trên những phẩm chất tâm lý và kinh nghiệm cá nhân. Bên cạnh đó, các em cũng nhận định được nguyên nhân chính dẫn đến việc thiếu kỹ năng sống là do chưa có sự hòa hợp trong giao tiếp giữa các em với cha mẹ, thầy cô. Đồng thời cũng bị ảnh hưởng bởi lối sống, quan niệm sống từ bạn bè cùng lớp, cùng trường và từ các phương tiện thông tin đại chúng (mạng Internet, báo chí, diễn đàn…). Tuy nhiên, chỉ mới dừng ở việc nhận thức, đa số học sinh vẫn chưa tiếp cận được những biện pháp rèn luyện để hình thành kỹ năng sống. Điều này cần sự nỗ lực từ nhiều phía: gia đình, nhà trường và chính bản thân học sinh. Có nhiều HS học rất giỏi, nhưng ngoài điểm số cao, các em chỉ biết ăn, ngủ, học và vui chơi, trong khi đó khả năng giao tiếp rất kém. Qua khảo sát thực nghiệm đối với nhóm HS trường THCS Nguyễn Viết Xuân. Để có những nhận xét, đánh giá chính xác, nhóm thực hiện đề tài đã đưa ra một phiếu khảo sát nhằm tìm hiểu thực trạng và nhu cầu cần được giáo dục KNS cho học sinh THCS. Nội dung của phiếu như sau:

Câu 5: Tôi có khuynh hướng làm những gì tôi nghĩ mình có thể làm được hơn những gì tô tin là đúng? a. Không bao giờ b. Hiếm khi c. Thỉnh thoảng d. Thường xuyên e. Luôn luôn Câu 6: Bạn kiểm soát những tình huống mới một cách khá thỏa mái và dễ dàng? a. Không bao giờ b. Hiếm khi c. Thỉnh thoảng d. Thường xuyên e. Luôn luôn Câu 7: Bân được rèn luyện kỹ năng sống ở đâu? a. Nhà trường b. Gia đình c. Bạn bè d. Tất cả Câu 8: Bạn thường rèn luyện kỹ năng sống của mình bằng cách nào? a. Trong hoạt động vui chơi với bạn bè b. Trong học tập ở nhà trường c. Trong mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình d. Trong công việc hàng ngày

Câu 9: Bạn được trường tổ chức giáo dục kỹ năng sống bao lâu một lần? a. Thường xuyên (một tuần một lần) b. Thỉnh thoàng (một tháng một lần) c. Hiếm khi d. Không bao giờ Câu 10: Trong tiết học, giáo viên có kết hợp giữa việc dạy kiến thức trong bài học với việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh hay không? a. Thường xuyên b. Thỉnh thoảng c. Hiếm khi d. Không bao giờ

* Kết quả điều tra 100 học sinh trong trường: Đánh giá tổng hợp (10 câu hỏi cho 100 HS): Câu 1 2 3

8

19,5

13,8

14,6

52,0

e

Nhận xét về kết quả điều tra cho thấy: hầu hết các em biết được tầm quan trọng của KNS trong cuộc sống hiện nay, và có những nhận thức đúng đắn về việc tiếp xúc và giải quyết các tình huống. Nhưng, hầu hết các em chưa được tiếp cận một cách thường xuyên và giáo dục đúng đắn về các KNS. Vì vậy, các em cần phải được rèn luyện và giáo dục đúng đắn về KNS.

2.2. NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN THỰC TRẠNG ĐÓ.  Về phía HS: chưa được trang bị các kỹ năng cần thiết để nhận thức về bản thân và đối phó với các tình huống đến từ các mối quan hệ xã hội và sự biến đổi tâm sinh lý của bản thân và sự biến đổi của môi trường.  Về phía gia đình: chưa nhận thức được đầy đủ về nhiệm vụ giáo dục đạo đức cho HS, còn lơ là, không quan tâm đến các em, chưa thật sự gương mẫu cho các em noi theo, phó mặc nhiệm vụ cho giáo viên và nhà trường.  Về phía nhà trường: chưa quan tâm đầy đủ đến công tác giáo dục KNS cho học sinh, chưa đưa công tác này thành kế hoạch cụ thể, chưa có công tác tổ chức và hướng dẫn thực hiện cho GV. GV thì chưa được trang bị đầy đủ về KNS và tmầ quan trọng của công tác giáo dục KNS cho HS, chưa biết cách tổ chức giáo dục KNS phù hợp cho từng lứa tuổi.

 Về phía xã hội: ngày càng có nhiều tệ nạn xã hội nguy hiểm, các khu vui chơi giải trí lành mạnh hco HS ít được đầu tư phát triển, nhiều tụ điểm không lành mạnh mọc lên ngày càng nhiều,… Từ đó những nguyên nhân đó, nhóm nghiên cứu đề tài có một số đề nghị như sau:  Đầu tiên là từ phía bản thân của các em cần phải có ý thức tự giác, tự ý thức được tầm quan trọng của việc rèn luyện KNS đối với bản thân, tích cực học tập, tìm hiều, từ đó đề ra cho mình các biện pháp và phương hướng rèn luyện có hiệu quả.  Về phía gia đình cần phải quan tâm, theo dõi các em, luôn giúp đỡ, tạo điều kiện cho các em có thể phát triển một cách toàn diện những khả năng của bản thân, phát triển trí tuệ và thể chất, để các em có cơ hội học tập và rèn luyện KNS cho bản thân.  Về phía nhà trường cần phải quan tâm, cú ý đến việc rèn luyện KNS cho các em. Chú ý kết hợp hài hòa giữa việc giáo dục kiến thức với giáo dục đạo đức, KNS cho HS. Nhà trường cẩn tổ chức các buổi sinh hoạt ngoài giờ lên lớp, sinh hoạt ngoại khóa. Tham quan, du lịch,..để các em có điều kiện tiếp xúc với thực tế, gặp những hợp mà tự bản thân các em suy nghĩ và giải quyết,…Từ đó, giúp các em rèn luyện KNS tốt hơn.  Xã hội cần phải quan tâm, tạo điều kiện cho các em vui chơi, giải trí, nhằm tăng cường việc rèn luyện KNS.

CHƯƠNG 3.

VAI TRÒ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA KỸ NĂNG SỐNG ĐỐI VỚI HỌC SINH THCS 3.1 Vai trò của kỹ năng sống Nhiều nghiên cứu đã cho phép đi đến kết luận là trong các yếu tố quyết định sự thành công của con người, kỹ năng sống đóng góp đến khoảng 85%. Theo UNESCO ba thành tố hợp thành năng lực của con người là: kiến thức, kỹ năng và thái độ. Hai yếu tố sau thuộc về kỹ năng sống, có vai trò quyết định trong việc hình thành nhân cách, bản lĩnh, tính chuyên nghiệp… Thành công chỉ thực sự đến với những người biết thích nghi để làm chủ hoàn cảnh và có khả năng chinh phục hoàn cảnh. Vì vậy, kỹ năng sống sẽ là hành trang không thể thiếu. Biết sống, làm việc, và thành đạt là ước mơ không quá xa vời, là khát khao chính đáng của những ai biết trang bị cho mình những KNS cần thiết và hữu ích. Kỹ năng sống tốt thúc đẩy thay đổi cách nhìn nhận bản thân và thế giới, tạo dựng niềm tin, lòng tự trọng, thái độ tích cực và động lực cho bản thân, tự mình quyết định số phận của mình. Kỹ năng sống giúp giải phóng và vận dụng năng lực tiềm tàng trong mỗi con người để hoàn thiện bản thân, tránh suy nghĩ theo lối mòn và hành động theo thói quen trên hành trình biến ước mơ thành hiện thực. Khối lượng kiến thức của chúng ta trở nên lỗi thời nhanh chóng trong thời đại mới. Trong môi trường không ngừng biến động con người luôn đối diện với áp lực cuộc sống từ những yêu cầu ngày càng đa dạng, ngày càng cao trong quan hệ xã hội, trong công việc và cả trong quan hệ gia đình. Quá trình hội nhập với thế giới đòi hỏi phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, ngoài kiến thức chuyên môn, yêu cầu về các kỹ năng sống ngày càng trở nên quan trọng. Thiếu kỹ năng sống con người dễ hành động tiêu cực, nông nổi. Giáo dục cần trang bị cho người học những kỹ năng thiết yếu như ý thức về bản thân, làm chủ bản thân, đồng cảm, tôn trọng người khác, biết cách hợp tác và giải quyết hợp lý các mâu thuẫn, xung đột.

Cuộc đời là một hành trình mà bằng cấp chuyên môn giống như một bệ phóng, còn kỹ năng sống chính là động lực đẩy con người vươn lên tầm cao thành đạt. Cần lưu ý rèn luyện kỹ năng sống là một quá trình lâu dài, bền bỉ. Do đó, không phải vì kỹ năng sống có tầm quan trọng rất lớn mà cố đưa vào chương trình giảng dạy cho HS nhiều chuyên đề mang tính lý thuyết. Điều cần thiết là làm cho mọi người ý thức được tầm quan trọng của kỹ năng sống và lồng nó vào các môn học. Những người đã đi làm thì cần bổ sung một vài chuyên đề cần thiết mà bản thân c

3.2 Tác động của kỹ năng sống đối với học sinh trung hoc cơ sở * Nhận thức Giúp học sinh THCS có tri thức hiểu biết về các giá trị truyển thống của dân tộc, cũng như những giá trị tốt đẹp của nhân loại, củng cố và mở rộng thêm kiến thức đã học trên lớp, có ý thức chính trị, đạo đức, pháp luật và lối sống lành mạnh, ý thức về quyền và trách nhiệm đối với bản than, gia đình, nhà trường và xã hội, có ý thức định hướng nghề nghiệp cho tương lai,… * Kỹ năng Tiếp tục rèn luyện kỹ năng cơ bản đã được hình thành, trên cơ sở đó phát triển thành một số năng lực chủ yếu như: năng lực tự hoàn thiện, khả năng thích ứng, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng kiên định, năng lực hoạt động chính trị xã hội, nang9 lực tở chức, quản lý, năng lực hợp tác, chia sẻ, thương lượng, nhằm giúp cho học sinh sống một cách an toàn, khỏe mạnh, thích ứng với cuộc sống không ngừng biến đổi. * Thái độ Giúp cho HS có lý tưởng sống vì ngày mai lập nghiệp, có niềm tin vào tương lai, có ý thức và tinh thần tự hào dnâ tộc. Biết tỏ thái độ trước những vấn đề của cuộc sống, biết chịu trách nhiệm với những hành vi của bản thân, đấu tranh tích cực với những biểu hiện sai trái của bản thân và của người khác để tự hoàn thiện mình, biết cảm thông và tha thức hco những sai lầm của người khác. Bồi dưỡng cho các em tính tích cực, chủ động, sang tạo tham gia các hoạt động tập thể, giáo dục cho các em tinh thần đoàn kết hữu nghị,..

dự án… ví dụ học về môi trường, trẻ có thể đi du khảo, tham gia làm sạch đường phố…học về trật tự an toàn giao thông, trẻ có thể bày những trò chơi về luật đi đường, quan sát tình hình giao thông rồi nhận xét.

4.1. Phương pháp động não * Mô tả phương pháp Động não là phương pháp giúp cho học sinh trong một thời gian ngắnnảy sinh được nhiều ý tưởng, nhiều giả định về một vấn đề nào đó. Đây là một phương pháp có ít để (lôi ra) một danh sách các thông tin. * Cách tiến hành Có thể tiến hành theo các bước sau: – GV nêu câu hỏi hoặc vấn đề (có nhiều cách trả lời) cần được tìm hiểu trước cả lớp hoặc trước nhóm. – Khích lệ học sinh phát biểu và đóng góp ý kiến càng nhiều càng tốt. – Liệt kê tất cả mọi ý kiến lên bảng hoặc giấy to không loại trừ một ý kiến nào, trừ trường hợp trùng lặp. – Phân loại các ý kiến. – Làm sáng tỏ những ý kiến chưa rõ ràng. – Tổng hợp ý kiến học sinh, hỏi xem có thắc mắc hay bổ sung gì không. * Những yêu cầu sư phạm – Phương pháp động não có thể dùng để lý giải bất kỳ một vấn đề nào, song đặc biệt phù hợp với các vấn đề ít nhiều đã quen thuộc trong cuộc sống thực tế của học sinh. – Phương pháp này có thể dùng cho cả câu hỏi có phần kết đóng và kết mở.

4.5. Phương pháp nghiên cứu tình huống (hai nghiên cứu các trường hợp điền hình) * Mô tả phương pháp Nghiên cứu tình huống thường là một câu chuyện được viết nhằm tạo ra một tình huống ” thật” để minh chứng một vấn đề hay loạt vấn đề. Đôi khi nghiên cứu tình huống có thể được thực hiện trên video hay một băng cátset mà không phải trên dạng chữ viết. Vì tình huống này được nêu lên nhằm phản ánh tính đa dạng của cuộc sống thực, nó phải tương đối phức tạp, với các dạng nhân vật và những tình huống khác nhau chứ không phải là một câu chuyện đơn giản * Các bước tiến hành Các bước nghiên cứu tình huống có nghĩa là :

Skkn Một Số Biện Pháp Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Học Sinh Tiểu Học

SKKN: Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Tiểu học

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỨC PHỔ TRƯỜNG TIỂU HỌC SỐ 3 PHỔ THẠNH

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TIỂU HỌC

Lĩnh vực: Lĩnh vực khác Tên tác giả: Trần Thị Thiểu Chức vụ: Giáo viên Tiểu học

Năm học 2014 – 2024

SKKN: Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Tiểu học

NỘI DUNG PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ PHẦN 2: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN

3 -4

1.1. KĨ NĂNG SỐNG LÀ GÌ?

1.2. ĐẶC ĐIỂM TÂM LÍ CỦA TRẺ CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN

THỰC TRẠNG NGUYÊN NHÂN CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP THỰC HIỆN 3.1. BÁM SÁT NỘI DUNG GIÁO DỤC KĨ NĂNG

9

SỐNG CHO HỌC SINH 3.2.THỰC HIỆN TỐT CÁC NGUYÊN TẮC GIÁO DỤC

10

KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH 3.3. PHÁT HUY VAI TRÒ, TÁC DỤNG VÀ HIỆU QUẢ CỦA HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH

3.4. XÂY DỰNG KẾ HOẠCH GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG 3.5 . VÍ DỤ MINH HỌA

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3

CHƯƠNG 5: TIỂU KẾT PHẦN 3: KẾT LUẬN

21 – 22

PHẦN I:

SKKN: Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Tiểu học

ĐẶT VẤN ĐỀ Trong thời đại công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước hiện nay, việc đào tạo thế hệ trẻ trở thành những người lao động có ích cho xã hội là việc làm cấp bách và cần thiết, đòi hỏi sự dày công của người giáo viên, bởi yêu cầu ngày càng cao của xã hội. Bản thân là một giáo viên Tiểu học có nhiều năm công tác và giảng dạy khối lớp 5 tại trường Tiểu học số 3 Phổ Thạnh với nhiều bức xúc trước học sinh chưa có kinh nghiệm kỹ năng sống. Do đó, đòi hỏi người giáo viên phải có trình độ, có năng lực phẩm chất đạo đức tốt, tâm huyết với nghề, yêu thương tận tụy với học sinh, bởi giáo viên đóng vai trò quan trọng vì mọi kiến thức, hành vi , phẩm chất và năng lực được hình thành ở nhà trường, đặc biệt là cấp Tiểu học. Hơn nữa giáo viên Tiểu học là người trực tiếp giảng dạy và giáo dục các em học sinh, ngoài việc cung cấp kiến thức, văn hoá còn dạy các học sinh tự giải quyết được một số vấn đề thiết thực trong cuộc sống hằng ngày như: tự chăm sóc sức khỏe, bảo vệ môi trường và phòng chống các tệ nạn xã hội,…để các em chủ động, tự tin không phụ thuộc hoàn toàn vào người lớn mà vẫn có thể tự bảo vệ mình. Chính vì vậy, người giáo viên ngoài việc trang bị cho học sinh vốn kiến thức cơ bản trong học tập, lao động còn phải giáo dục học sinh có kỹ năng sống đó là: Học để biết, Học để làm, Học để tự khẳng định mình và Học để cùng nhau chung sống. Năm học 2014-2024 là năm học tiếp tục thực hiện phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh là một trong những nội dung của phong trào. Vì thế, nhà trường cần chú trọng hơn đến nội dung “Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh”.

SKKN: Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Tiểu học Để thực hiện tốt giáo dục kĩ năng sống cho học sinh, nhiệm vụ đầu tiên của giáo viên là nghiên cứu và nắm vững đặc điểm tâm sinh lí của học sinh, xây dựng mục tiêu, phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục phù hợp vào hoàn cảnh, điều kiện dạy học cụ thể của lớp, của trường và vận dụng một cách linh hoạt sáng tạo với nhu cầu, trình độ của học sinh. Với những kinh nghiệm tôi rút ra từ thực tiễn sẽ góp phần xây dựng thế hệ học sinh năng động, thân thiện, phát triển toàn diện trong nhà trường.Vì vậy tôi đã chọn sáng kiến kinh nghiệm ” Một số biện pháp giáo dục Kĩ năng sống cho học sinh Tiểu học”

SKKN: Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Tiểu học

PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN Phương pháp giáo dục Phổ thông đang đổi mới theo hướng phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, phù hợp với đặc điểm từng lớp học, tăng cường khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh. Nội dung giáo dục kĩ năng sống đã được tích hợp trong một số môn học và hoạt động giáo dục. Việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh Tiểu học còn thông qua nhiều chương trình, dự án như: Giáo bảo vệ môi trường, giáo dục phòng chống HIV/AIDS, giáo dục phòng chống ma túy, giáo dục phòng chống tai nạn thương tích. Đặc biệt, rèn kĩ năng sống cho học sinh được xác định là một trong những nội dung cơ bản của phong trào thi đua ” Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” do Bộ Giáo dục và đào tạo chỉ đạo. Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trong nhà trường là: – Trang bị cho học sinh những kiến thức, giá trị, thái độ và kĩ năng phù hợp, hình thành cho học sinh những hành vi, thói quen lành mạnh, tích cực; loại bỏ những hành vi, thói quen tiêu cực trong các mối quan hệ, các tình huống và các hoạt động hằng ngày. – Tạo cơ hội thuận lợi để học sinh thực hiện tốt quyền, bổn phận của mình và phát triển hài hòa về thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức.

SKKN: Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Tiểu học – Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh là giáo dục cho các em có cách sống tích cực, xây dựng cho các em các hành vi theo hướng tích cực phù hợp với mục tiêu phát triển toàn diện nhân cách người học. 1.1. KỸ NĂNG SỐNG LÀ GÌ? Có nhiều quan niệm khác nhau về kỹ năng sống: – Theo tổ chức Y tế Thế giới (WHO), kỹ năng sống là khả năng để có hành vi thích ứng và tích cực , giúp các cá nhân có thể ứng xử hiệu quả trước nhu cầu và thác thức của cuộc sống hằng ngày. – Theo UNICEFF, Kỹ năng sống là cách tiếp cận giúp thay đổi hoặc hình thành hành vi mới. Các tiếp cận này có sự cân bằng về tiếp thu kiến thức, hình thành thái độ và kĩ năng. – Theo tổ chức văn hóa, khoa học và giáo dục Liên hợp quốc (UNESCO), kỹ năng sống gắn với 4 trụ cột của giáo dục, đó là: Học để biết: gồm các kỹ năng tư duy như: tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, ra quyết định, giải quyết vấn đề, nhận thức được hậu quả của việc làm…; Học làm người: gồm các kỹ năng cá nhân như ứng phó với căng thẳng, kiểm soát cảm xúc, tự nhận thức, tự tin…; Học để chung sống: gồm các kỹ năng như giao tiếp, thương lượng, tự khẳng định, hợp tác, làm việc theo nhóm, thể hiện sự cảm thông Học để làm: gồm kỹ năng thực hiện công việc và nhiệm vụ như: kỹ năng đặt mục tiêu, đảm nhận trách nhiệm..; Tóm lại kỹ năng sống rất cần thiết cho cuộc sống hàng ngày của con người để cá nhân tự lực trong cuộc sống, học tập và làm việc hiệu quả. 1.2. ĐẶC ĐIỂM TÂM SINH LÝ CỦA TRẺ – Trong thực tế cuộc sống cho thấy những trẻ có thể lực yếu thường hay ỷ lại, phụ thuộc nhiều vào những người thân trong gia đình những việc làm tự phục vụ mà lẽ ra chính trẻ phải tự làm như : rửa chân tay, mặc quần áo,…

SKKN: Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Tiểu học – Hệ thần kinh của trẻ tiểu học đang trong thời kì phát triển mạnh, đến 9, 10 tuổi hệ thần kinh của trẻ căn bản được hoàn thiện và bộ óc của các em đang phát triển đi dần đến hoàn thiện nên các em dễ bị kích thích. Thầy cô giáo và cha mẹ, người thân của các em cần chú ý để giúp trẻ hình thành tính tự chủ, lòng kiên trì, sự kìm hãm của bản thân trước những kích thích của hoàn cảnh xung quanh, biết giữ gìn trật tự nơi công cộng và trong lớp học. Người lớn không được mắng, doạ dẫm, đe nạt các em, vì làm như thế không những bị tổn thương đến tình cảm mà còn gây tác hại đến sự phát triển thần kinh và bộ óc của các em. – Việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học cũng được bắt đầu ngay từ những buổi đầu các em đến trường. Nếu không chuẩn bị chu đáo về mặt tâm lí cho trẻ trước khi đi học sẽ dẫn đến những tình huống như: đòi theo bố mẹ về nhà, không dám nói chuyện với bạn bè, không dám chào hỏi thầy cô, không dám xin phép cô khi ra vào lớp,… – Học sinh tiểu học thích bắt chước hành vi, cử chỉ, lời nói,… của các nhân vật trong phim, của các thầy cô giáo, của những người thân trong gia đình. tính bắt chước là con dao “hai lưỡi”, vì trẻ em bắt chước cái tốt cũng nhiều, cái xấu cũng nhiều. Chính vì vậy những tính cách hành vi của những người xung quanh là môi trường ảnh hưởng trực tiếp đến tính cách, hành vi, ứng xử của trẻ. Các mối quan hệ của trẻ em là: Trẻ em – Gia đình; Trẻ em – Đồ vật; Trẻ em – Nhà trường; Trẻ em – Xã hội. Ở tiểu học, uy tín của người thầy giáo, cô giáo các quan điểm, niềm tin, toàn bộ những hành vi cử chỉ của thầy, cô thường là những mẫu mực cho hành vi của học sinh. Các em thường tin tưởng tuyệt đối ở nơi thầy, cô giáo nên chúng thường bắt chước những cử chỉ tác phong của thầy, cô giáo mình. Ở trường các em còn được tiếp xúc với bạn bè, với tập thể nhóm bạn, tổ, lớp; những hoạt động tập thể cũng ảnh hưởng không ít đến việc hình thành, phát triển nhân cách và giáo dục kỹ năng sống cho trẻ.

SKKN: Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Tiểu học

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN 2.1. THỰC TRẠNG Thực trạng ở trường Tiểu học số 3 Phổ Thạnh, một số học sinh còn thiếu kỹ năng sống như: thiếu tính tự lập; chưa tự giác, thiếu tự tin trước tập thể, chưa biết cách ứng xử phù hợp. Kỹ năng giao tiếp hạn chế, nói trỗng với người lớn, thầy cô, gọi bạn bằng mày, tao chúng tôi Để giúp học sinh có kỹ năng sống tốt, tôi đã tiến hành khảo sát thực tế một số kỹ năng của các lớp như sau:  Khảo sát HS lớp 1 A1 phân hiệu trung tâm đầu năm học 2013 – 2014: 

Nội dung khảo sát: Tự mặc quần áo. Tự giác ngồi học bài Tự mặc quần áo

TSHS

24

Tự giác ngồi học bài

Tự mình mặc

Cần người lớn

Tự giác không

Chưa tự giác,

quần áo

giúp mặc quần

cần nhắc nhở

bố mẹ phải

áo

nhắc nhở nhiều

SL

%

SL

%

SL

%

SL

14

58,3

10

41,7

41,7

14

58,3

%

10  Khảo sát lớp 2A 2 phân hiệu trung tâm đầu năm học 2013 – 2014: 

SKKN: Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Tiểu học

TSHS

SL % SL % 25 14 56,0 11 44,0 * Khảo sát lớp 5/3 phân hiệu trung tâm đầu năm học 2013 – 2014: * Nội dung khảo sát: ứng xử với bạn khi chơi các trò chơi dân gian tập thể. Khảo sát qua quan sát thực tế, kết hợp với giáo viên chủ nhiệm và tổng phụ trách đội đánh giá HS:

Ứng xử tình huống trong chơi trò chơi tập thể Biết cách ứng xử hài hoà khá phù Hay cãi nhau, xô đẩy bạn khi chơi hợp SL 22

Từ thực trạng trên, qua nhiều năm giảng dạy tại trường Tiểu học số 3 Phổ Thạnh tôi tìm ra một số nguyên nhân dẫn đến các em học sinh chưa có kỹ năng sống tốt là: 2.2. NGUYÊN NHÂN 2.2.1.Về phía giáo viên: – Một số giáo viên chưa thực sự quan tâm đến việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh, mà chỉ chú trọng truyền thụ kiến thức ở sách giáo khoa nên chưa chịu khó tìm tòi các hình thức và phương pháp tổ chức cho các hoạt động này nên làm mất sự hứng thú của học sinh. 2.2.2. Về phía học sinh: – Học sinh học tập thụ động, chủ yếu chỉ nghe và làm theo thầy cô giáo, chưa có tính sáng tạo, tính tự giác chưa cao, lười hoạt động.

SKKN: Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Tiểu học – Học sinh chỉ có học kiến thức, khả năng ứng phó với các tình huống trong cuộc sống kém, thiếu sự tự tin trước đông người. – Kỹ năng giao tiếp hạn chế, nói trỗng với người lớn, thầy cô, gọi bạn bằng mày, tao,… 2.2.3. Về phía phụ huynh: Đa số phụ huynh cho rằng con em mình chỉ cần học giỏi kiến thức, chỉ khuyến khích con em tìm kiến thức mà quên hướng dẫn cho con em mình làm tốt hoạt động đoàn thể, hoạt động xã hội và cách ứng xử trong gia đình. Một số gia đình phụ huynh giao tiếp trong gia đình còn nhiều hạn chế, xưng hô chưa chuẩn mực nên các em bắt chước và xưng hô thiếu thiện cảm. Ngoài ra do ảnh hưởng của môi trường sống, các em bắt chước nói tục, chưởi thề. 2.2.4. Về phía nhà trường Trường Tiểu học số 3 Phổ Thạnh là một trường thuộc vùng ven biển, điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, trình độ dân trí của người dân chưa cao so với các xã ở thị trấn của huyện. Phần lớn người dân làm nghề đánh cá nên thường nói tục, chưởi thề do đó ảnh hưởng đến giáo dục của nhà trường. Vì thế trong hoạt động chuyên môn dạy và học, Nhà trường thường xuyên nghiên cứu, cải tiến nâng cao chất lượng giảng dạy theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh, không ngừng đổi mới phương pháp dạy học phù hợp với nội dung chương trình. Và đặc biệt chú trọng đến việc “Giáo dục kỹ năng sống” cho học sinh.

CHƯƠNG 3

SKKN: Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Tiểu học

BIỆN PHÁP THỰC HIỆN Giáo dục kỹ năng sống là điều cần thiết cho mọi người, mọi lứa tuổi. Đặc biệt là đối với lứa tuổi học sinh Tiểu học. Giáo dục kỹ năng sống là việc cần được tiến hành thường xuyên, liên tục, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi, hoàn cảnh, hoạt động của từng loại đối tượng cụ thể. Để giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Tiểu học tôi đã thực hiện các biện pháp sau: 3.1. BÁM SÁT NỘI DUNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH Nội dung giáo dục kỹ năng sống ở Tiểu học hết sức đơn giản, gần gũi với trẻ em, là những kiến thức tối thiểu để các em có thể tự lập… Và mục đích quan trọng nhất là giúp các em tự tin hơn, tự lập hơn trong cuộc sống. Vì vậy khi tổ chức các hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh cần: – Bám sát vào nội dung của giáo dục kỹ năng sống và vận dụng linh hoạt các nội dung của giáo dục kỹ năng sống tuỳ theo từng hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp và điều kiện cụ thể của từng môn học. – Xác định rõ các nội dung giáo dục kỹ năng sống (xác định rõ các kỹ năng sống cần hình thành và phát triển cho học sinh) để tích hợp vào nội dung của hoạt động giáo dục. – Tạo ra động lực cho học sinh tham gia một cách tích cực vào quá trình hình thành kỹ năng sống nói chung và kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng tự nhận thức về bản thân, kỹ năng ứng phó với cảm xúc… 3.2. THỰC HIỆN TỐT CÁC NGUYÊN TẮC GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG Kỹ năng sống là tất cả những điều cần thiết chúng ta phải biết để có được khả năng thích ứng với những thay đổi diễn ra hằng ngày trong cuộc sống. Vì thế GV cần nắm rõ 5 nguyên tắc về giáo dục kĩ năng sống cho học sinh. : 3.2.1. Tương tác:

SKKN: Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Tiểu học Kỹ năng sống được hình thành tốt trong quá trình học sinh tương tác với bạn bè và những người xung quanh. Tạo điều kiện để các em có dịp thể hiện ý kiến của mình và xem xét ý kiến của người khác… Do vậy, giáo viên cần tổ chức các hoạt động có tính chất tương tác trong các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp để giáo dục kỹ năng sống cho các em. 3.2.2. Trải nghiệm: Kỹ năng sống chỉ được hình thành khi người học trải nghiệm qua thực tế và nó có kĩ năng khi các em được làm việc đó. Vì thế giáo viên cần phải có thiết kế và tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh được hoạt động thực, có cơ hội thể hiện ý tưởng, có cơ hội xử lí các tình huống. 3.2.3. Tiến trình: Là một quá trình từ nhận thức – hình thành thái độ – thay đổi hành vi. Do vậy giáo dục kỹ năng sống không thể là ngày một ngày hai mà cả một quá trình. 3.2.4. Thay đổi hành vi: Giúp người học thay đổi hành vi theo hướng tích cực. Giáo dục kỹ năng sống thúc đẩy người học thay đổi hay định hướng lại các giá trị, thái độ và hành động của mình. 3.2.5. Thời gian – môi trường giáo dục: Giáo dục giáo dục kỹ năng sống được thực hiện ở mọi lúc, mọi nơi; giáo dục trong mọi môi trường như gia đình, nhà trường, xã hội; cần phải tạo điều kiện tối đa cho HS tham gia vào các tình huống thật trong cuốc sống. Do đó trong quá trình tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh GV phải đảm bảo thực hiện tốt các nguyên tắc của giáo dục. 3.3. PHÁT HUY VAI TRÒ, TÁC DỤNG VÀ HIỆU QUẢ CỦA HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH

Hoạt động giáo dục kỹ năng sống là hoạt động được tổ chức theo mục tiêu, nội dung, chương trình dưới sự hướng dẫn của giáo viên, giúp học sinh thực hiện

SKKN: Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Tiểu học một cách tự giác, tích cực tri thức thành niềm tin, kiến thức thành hành động, biến yêu cầu của nhà trường thành chương trình hành động của tập thể lớp và của cá nhân học sinh, tạo cơ hội cho học sinh trải nghiệm tri thức, thái độ, quan điểm và hành vi ứng xử của mình trong môi trường an toàn, thân thiện có định hướng giáo dục. Rèn luyện cho học sinh các kỹ năng cơ bản phù hợp với lứa tuổi như : kỹ năng giao tiếp ứng xử có văn hoá; kỹ năng tổ chức quản lý và tham gia các hoạt động tập thể với tư cách là chủ thể của hoạt động; kỹ năng tự kiểm tra, đánh giá kết quả học tập, rèn luyện; củng cố, phát triển các hành vi, thói quen tốt trong học tập, lao động và công tác xã hội. Bồi dưỡng thái độ tự giác tích cực tham gia các hoạt động tập thể và hoạt động xã hội; hình thành tình cảm chân thành, niềm tin trong sáng với cuộc sống, với quê hương đất nước; có thái độ đúng đắn đối với các hiện tượng tự nhiên và xã hội. Vì vậy cần phát huy tối đa vai trò, tác dụng và hiệu quả của hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh. 3.4. XÂY DỰNG KẾ HOẠCH GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG – Tích hợp nội dung giáo dục kỹ năng sống vào các môn học, vào các hoạt động giáo dục khác. – Thường xuyên tổ chức cho học sinh chơi các trò chơi tập thể lành mạnh, chơi các trò chơi dân gian, tổ chức các hoạt động văn nghệ thể thao, qua các hoạt động rèn cho học sinh kĩ năng ứng xử với bạn bè, xây dựng tinh thần đoàn kết tốt, kỹ năng lắng nghe, kỹ năng hợp tác, kỹ năng quyết định, biết kiềm chế bản thân trong khi xử lí các tình huống với bạn bè. – Tổ chức các hoạt động lao động vừa sức với học sinh: vệ sinh sân trường, lớp học, trồng chăm sóc cây trên sân trường, bồn hoa, vườn trường, ; học sinh được rèn một số kỹ năng như: cầm chổi quét, nhặt rác, tưới cây, tỉa lá,…; thông qua đó HS biết sử dụng có hiệu quả đồ dùng lao động. – Giáo dục học sinh có ý thức xây dựng trường lớp “Xanh – Sạch – Đẹp” thường xuyên chăm sóc cây xanh trong trường học.

SKKN: Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Tiểu học

SKKN: Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Tiểu học + Lễ phép, kính trọng ông bà, cha mẹ . + Vâng lời, giúp đỡ bố mẹ ; nhường nhịn em nhỏ . + Biết ứng xử với mọi người trong gia đình, biết nói ” cảm ơn “, ” xin lỗi “, ” vâng, ạ, dạ, thưa ” … với cả những người thân thiết trong gia đình, biết dùng từ ngữ phù hợp, đúng mực, phù hợp với hoàn cảnh đồng thời phải biết lắng nghe, tôn trọng ý kiến mọi người ngay cả khi bất đồng quan điểm, cả khi việc không theo ý mình . * VÍ DỤ MINH HỌA: Một học sinh không làm bài về nhà, giáo viên cần để học sinh nêu được : + Lí do vì sao em không làm bài về nhà ? Giáo viên cần phối hợp với phụ huynh, yêu cầu bố mẹ học sinh tìm hiểu lí do, khuyến khích rằng con có khả năng làm được việc đó hơn là la mắng, đánh đập, học sinh sẽ cảm thấy tự tin, có cơ hội được trình bày vấn đề của mình . Giáo viên cần định hướng cho học sinh trong giao tiếp hàng ngày: + Lời đề nghị khi yêu cầu, mong muốn được giúp đỡ . + Lời từ chối khi không đồng ý, không muốn hoặc không thể thực hiện đúng yêu cầu của người khác . + Lời xin lỗi khi làm phiền, khi mắc lỗi, khi không làm đúng, khi từ chối, – Để giao tiếp tế nhị, khéo léo; giáo viên cần định hướng cho học sinh biết cách xác định các nhân tố giao tiếp : Xác định nhân vật giao tiếp; xác định nội dung giao tiếp; xác định khả năng của em ; xác định ngữ cảnh; xác định phương tiện biểu đạt .

SKKN: Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Tiểu học * VÍ DỤ MINH HỌA: Lời đề nghị yêu cầu muốn được giúp đỡ – GV đưa tình huống cụ thể : ” Nhờ một người cùng trang lứa đóng giúp cửa sổ khi ngồi học ” – Học sinh có thể nêu lên một số ý kiến cá nhân : + Bạn có thể đóng giúp tớ cửa sổ được không ?

(*)

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA SÁNG KIẾN:

TSHS

24

Tự giác ngồi học bài ở nhà

Tự mình mặc

Cần người lớn

Tự giác không

Chưa tự giác,

quần áo

giúp mặc quần

cần nhắc nhở

bố mẹ phải

áo

nhắc nhở nhiều

SL

%

SL

%

SL

%

SL

%

22

91,7

2

8,3

20

83,3

4

16,7

TSHS

* Nội dung khảo sát: ứng xử với bạn khi chơi các trò chơi dân gian tập thể. Khảo sát qua quan sát thực tế, kết hợp với giáo viên chủ nhiệm và tổng phụ trách đội đánh giá HS: TSHS

Ứng xử tình huống trong chơi trò chơi tập thể Biết cách ứng xử hài hoà khá phù Hay cãi nhau, xô đẩy bạn khi chơi hợp

Skkn Một Số Biện Pháp Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Học Sinh Lớp 5 Thông Qua Môn Tiếng Việt

Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh lớp 5 thông qua môn Tiếng Việt

NÔÔI DUNG MỤC LỤC Phần mở đầu Lý do chọn đề tài Mục tiêu, nhiê m ê vụ của đề tài Đối tượng nghiên cứu Giới hạn của đề tài Phương pháp nghiên cứu Phần nô Ôi dung Cơ sở lý luâ ên Thực trạng vấn đề nghiên cứu Nô êi dung và hình thức của giải pháp Phần kết luâ Ôn, kiến nghi Kết luâ ên Kiến nghi Tài liê Ôu tham khảo

I. Phần mở đầu: 1. Lý do chọn đề tài. Để đáp ứng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế và nhu cầu phát triển của người học. Chính vì vâ êy mà Bộ GD và ĐT đã đưa nội dung giáo dục kỹ năng sống lồng ghép vào các môn học ở bậc tiểu học. Đây là một chủ trương cần thiết và đúng đắn bởi kỹ năng sống là khả năng làm chủ bản thân của mỗi người, khả năng ứng xử phù hợp với những người khác và với xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các Người thực hiện: Ngô Thị Minh

– Trang 1 –

Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh lớp 5 thông qua môn Tiếng Việt

tình huống của cuộc sống. Có thể nói kỹ năng sống chính là nhip cầu giúp con người biến kiến thức thành thái độ, hành vi và thói quen tích cực, lành mạnh. Người có kỹ năng sống phù hợp sẽ luôn vững vàng trước những khó khăn, thử thách; biết ứng ứng xử, giải quyết vấn đề một cách tích cực và phù hợp; họ thường thành công hơn trong cuộc sống, luôn yêu đời và làm chủ cuộc sống của chính mình. Ngược lại người thiếu kỹ năng sống thường bi vấp váp, dễ bi thất bại trong cuộc sống. Đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và cơ chế thi trường hiện nay, thế hệ trẻ thường xuyên chiu đan xen giữa những yếu tố tích cực và tiêu cực: một là các em được sự quan tâm chăm sóc quá sức chu đáo của phụ huynh vì sống trong gia đình ít con, hoàn cảnh kinh tế ổn đinh; hai là những em sống trong gia đình với nhiều lo toan cho cuộc mưu sinh, phụ huynh bỏ mặc con cái. Môi trường hoàn cảnh khác nhau ấy lại thường cùng mang đến cho các em một thiếu sót lớn trong từng bước trưởng thành, đó là kỹ năng sống. Giáo dục kỹ năng sống càng trở nên cấp thiết, giúp các em rèn luyện hành vi có trách nhiệm đối với bản thân, gia đình, cộng đồng và Tổ quốc; giúp các em có khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống, xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với gia đình, bạn bè và mọi người, sống tích cực, chủ động, an toàn, hài hoà và lành mạnh. Bởi vì các em là những chủ nhân tương lai của đất nước. Lứa tuổi học sinh là lứa tuổi đang hình thành những giá tri nhân cách, giàu ước mơ, ham hiểu biết, thích tìm tòi, khám phá song còn thiếu hiểu biết sâu sắc về xã hội, còn thiếu kinh nghiệm sống, dễ bi lôi kéo, kích động,… Ở bậc tiểu học, các môn học vừa cung cấp cho học sinh những kiến thức ban đầu về văn hoá,… vừa cung cấp cho học sinh những tri thức sơ đẳng về các chuẩn mực hành vi đạo đức, để từ đó giúp học sinh hình thành kỹ năng sống. Chính vì vậy việc rèn kỹ năng sống ở bậc tiểu học là một nhiệm vụ quan trọng mà người làm công tác giáo dục cần quan tâm. Từ nhiều năm nay, Bộ Giáo dục – Đào tạo chủ trương dạy kỹ năng sống là một trong những tiêu chí đánh giá “Trường học thân thiện – học sinh tích cực.” Trên tinh thần đó, bản thân nhận thấy rằng: chính ở dưới mái trường các em học được nhiều điều hay, lẽ phải. Và nhà trường trở nên là ngôi nhà thân thiện, học sinh tích cực học tập để thành người tài xây dựng đất nước, có khả năng hội nhập cao, từng bước trở thành công dân toàn cầu. Đây cũng là một nhiệm vụ quan trọng đối với các thầy cô giáo. Với học sinh tiểu học, đây là giai đoạn đầu tiên hình thành nhân cách cho các em, giúp các em có một kỹ năng sống tốt cho tương lai sau này. Giáo dục kỹ năng sống đã được lồng ghép vào các môn học ở bậc tiểu học. Tuy nhiên, để giáo dục kỹ năng sống cho học sinh đạt hiệu quả đòi hỏi nhiều yếu tố chứ không chỉ từ các bài giảng. Học để tự tin, tự lập, tự thích ứng với môi trường thế giới xung quanh. Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh hiê ên nay được đông đảo Người thực hiện: Ngô Thị Minh

– Trang 2 –

Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh lớp 5 thông qua môn Tiếng Việt

– Trang 3 –

Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh lớp 5 thông qua môn Tiếng Việt

– Mô êt số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh lớp 5 thông qua môn Tiếng Viê êt để giáo dục học sinh có những thái độ, phẩm chất, kỹ năng sống phù hợp. 4. Giới hạn của đề tài. – Tập trung nghiên cứu đề tài “Một số biê ên pháp giáo dục kỹ năng sống của học sinh lớp 5 thông qua môn Tiếng Việt” tại trường Tiểu học Trưng Vương, ở lớp 5A, năm học 2024 – 2024. 5. Phương pháp nghiên cứu. a) Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luâ ên – Phương pháp phân tích – tổng hợp tài liệu; – Phương pháp khái quát hoá các nhâ nê đinh đô êc lâ pê . b) Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn – Phương pháp điều tra; – Phương pháp quan sát; – Phương pháp thực hành luyện tập; – Phương pháp khảo nghiê êm, thử nghiê êm. II. Phần nô Ôi dung 1. Cơ sở lý luận Thực hiện Quyết đinh số 2994/QĐ-BGD và ĐT ngày 20 tháng 7 năm 2010 của Bộ Giáo dục và Đào tạo triển khai giáo dục kỹ năng sống trong một số môn học và hoạt động giáo dục ở các cấp học; Thực hiện Chỉ thi của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về nhiệm vụ trọng tâm của năm học 2024-2024; Dựa trên cơ sở những đinh hướng của đợt tập huấn tăng cường giáo dục kỹ năng sống trong các môn học của Bộ cho các cấp học trong hệ thống giáo dục phổ thông. Giáo dục cho người học những kỹ năng cơ bản, cần thiết, hướng tới hình thành những thói quen tốt giúp người học thành công, đảm bảo vừa phù hợp với thực tiễn và thuần phong mỹ tục Việt Nam vừa hội nhập quốc tế trong giai đoạn công nghiệp hoá đất nước. Giáo dục KNS là giáo dục cách sống tích cực trong xã hội hiện đại, xây dựng những hành vi lành mạnh và thay đổi những hành vi, thói quen tiêu cực trên cơ sở giúp HS có thái độ, kiến thức, kỹ năng, giá tri cá nhân thích hợp với thực tế xã hội. Mục tiêu cơ bản của giáo dục KNS là làm thay đổi hành vi của HS, chuyển từ thói quen thụ động, có thể gây rủi ro, dẫn đến hậu quả tiêu cực thành những hành vi mang tính xây dựng tích cực và có hiệu quả để nâng cao chất lượng cuộc sống cá nhân, rèn luyện kỹ năng ứng xử thân thiện trong mọi tình huống; có thói quen và kỹ năng làm việc theo nhóm, kỹ năng hoạt động xã hội; Giáo dục cho học sinh thói quen rèn luyện sức khoẻ, ý thức bảo vệ bản thân, phòng ngừa tai nạn giao thông, đuối nước và các tệ nạn xã hội. Kỹ năng sống có thể hình thành tự nhiên, học được từ những trải nghiệm của cuộc sống và do giáo dục mà có. Không phải đợi đến lúc được học kỹ năng sống Người thực hiện: Ngô Thị Minh

– Trang 4 –

Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh lớp 5 thông qua môn Tiếng Việt

một con người mới có những kỹ năng sống đầu tiên. Chính cuộc đời, những trải nghiệm, va vấp, thành công và thất bại giúp con người có được bài học quý giá về kỹ năng sống. Tuy nhiên, nếu được dạy dỗ từ sớm, con người sẽ rút ngắn thời gian học hỏi qua trải nghiệm, sẽ thành công hơn. Kỹ năng sống cần cho suốt cả cuộc đời và luôn luôn được bổ sung, nâng cấp để phù hợp với sự thay đổi của cuộc sống biến động. Người trưởng thành cũng vẫn cần học kỹ năng sống. Ở lứa tuổi lớp 5, học sinh có những nhận biết nhất đinh về thế giới xung quanh, biết đánh giá nhận xét sự việc xảy ra quanh mình. Các em đã có sự phát triển về trí tuệ, tâm hồn, các em thích quan sát mọi vật xung quanh. Khả năng tư duy cụ thể nhiều hơn khả năng khái quát hoá, về tình cảm các em rất nhạy cảm với vẻ đẹp của thiên nhiên đất nước. Các em dễ xúc động và bắt đầu biết mơ ước có trí tưởng tượng phong phú. Thích nghi lại các vấn đề mà mình đã quan sát được và có thể có khả năng ứng xử phù hợp với những người khác và với xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống. Ở một số môn học, các hoạt động ngoại khóa, giáo dục kĩ năng sống đã được đề cập đến. Tuy nhiên, do nội dung, phương pháp, cách thức truyền tải chưa phù hợp với tâm sinh lí của đối tượng nên hiệu quả lồng ghép còn chưa cao. Qua thực tế giảng dạy ở lớp 5 Trường TH Trưng Vương, bản thân tôi thấy kỹ năng sống của đa số học sinh chưa cao, phần lớn các em có nhâ nê xét, đánh giá về sự viê êc nhưng chưa có thái đô ê và cách ứng xử, cách xưng hô chuẩn mực. Học sinh còn rụt rè chưa mạnh dạn thể hiê ên kỹ năng của bản thân. Các em còn ngại nói, ngại đứng dâ êy trả lời, khả năng tự học, tự tìm tòi còn hạn chế. Chính vì vâ êy mà viê êc rèn kỹ năng sống cho học sinh là vấn đề cần quan tâm. Để nâng cao kỹ năng sống cho học sinh tiểu học, với cương vi là người giáo viên chủ nhiê êm, bản thân hết sức băn khoăn và trăn trở, luôn đặt trong đầu câu hỏi: Làm thế nào để nâng cao kỹ năng sống cho học sinh? Làm thế nào để học sinh biết cách vận dụng kỹ năng sống vào trong cuộc sống hằng ngày? Với mong muốn góp phần vào việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ngày càng tốt hơn nên bản thân chọn đề tài: ” Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh lớp 5 thông qua môn Tiếng Viê tê ở trường Tiểu học Trưng Vương”. Vấn đề mà chắc hẳn không chỉ riêng bản thân mà rất nhiều đồng nghiê êp khác quan tâm suy nghĩ là làm sao học sinh của mình có những kỹ năng sống tốt, trở thành những con người tốt, có ích cho xã hội. Đây cũng là một vấn đề mà phụ huynh và xã hội hết sức quan tâm. 2. Thực trạng vấn đề nghiên cứu Được sự quan tâm chỉ đạo sát sao của các cấp lãnh đạo; Ban giám hiệu nhà trường; sự giúp đỡ của đồng nghiệp và cha mẹ học sinh; Là người trực tiếp giảng dạy và có kinh nghiệm chủ nhiệm khối lớp 5 nhiều năm liền. Tôi luôn tận tụy với nghề, thích học hỏi, tìm tòi sáng tạo; Đô êi ngũ cán sự lớp là những thành viên khá tích cực, ham hoạt đô nê g; Người thực hiện: Ngô Thị Minh

– Trang 5 –

Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh lớp 5 thông qua môn Tiếng Việt

Bên cạnh đó, đại đa số học sinh chăm ngoan, hiếu học. Các em gắn bó, xem lớp học là ngôi nhà thứ hai của mình nên có thái độ tích cực và hợp tác. Có kỹ năng vận dụng kiến thức học được vào thực tế cuộc sống; Được sự quan tâm giúp đỡ của hội cha mẹ học sinh lớp 5A và hầu hết các phụ huynh cũng đã nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của giáo dục, đặc biệt là giáo dục ở bậc Tiểu học – bậc học nền tảng cho quá trình học của con em mình. Họ đã có ý thức tự giác, thái độ tích cực trong việc giáo dục con em mình và kết hợp với nhà trường để giáo dục học sinh. Bên cạnh những thuâ ên lợi thì viê êc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh còn có những khó khăn như sau: Các em học sinh tiểu học còn nhỏ dại, đặc điểm tâm lí, nhận thức, ngôn ngữ của các em chưa đạt tới đỉnh. Kỹ năng sống còn hạn chế, chưa có khả năng tự lập cho bản thân, chưa biết cách phòng vệ trước những tệ nạn xã hội. Các em chưa có các kỹ năng cần thiết cho cuộc sống của mình. Một số em nhà ở xa trường học nên việc thực hiện nội quy trường, lớp của các em còn hạn chế. Một số học sinh thiếu thốn tình cảm (như chỉ ở với mẹ hoặc bố, hay ở với ông bà, cha mẹ làm ăn xa) nên các em không được quan tâm, giáo dục toàn diện như các bạn cùng trang lứa, có em còn có những biểu hiện mặc cảm tự ti, không dám hòa mình trong mọi hoạt động chung của lớp. Đa số các em còn hiếu động, suy nghĩ chưa sâu sắc. Học sinh chưa có động cơ tự học tập, thiếu hứng thú, chưa thấy lợi ích của việc học, chưa có thói quen và kỹ năng lao động trí óc. Về phía các bậc cha mẹ các em luôn nóng vô êi trong viê êc dạy con; họ chỉ chú trọng đến việc con mình về nhà mà chưa biết đọc, viết chữ, hoặc chưa biết làm toán thì lo lắng một cách thái quá. Đồng thời lại chiều chuô nê g con cái khiến trẻ không có kỹ năng tự phục vụ, chỉ chú ý đến khâu dạy, không chú ý đến con mình ăn, uống như thế nào, trẻ có biết sử dụng những đồ dùng, vật dụng trong ăn uống hay không? Và vì sao chúng ta cần những đồ dùng, vật dụng đó? Những đồ dùng đó để làm gì? Về phía giáo viên, thực tế, lâu nay GV chỉ tập trung dạy kiến thức văn hóa mà chưa có thói quen dạy thêm kỹ năng sống cho HS nên khi thực hiện dạy lồng ghép còn có phần lúng túng. Ở một số bài, thời gian giảng dạy trong 1 tiết là 35 phút nhiều khi không đủ. Vì thế, khi dạy lồng ghép kỹ năng sống vào môn học thì GV phải chọn những phương pháp lồng ghép thích hợp để tránh “cháy” giáo án và nặng thêm nội dung cho bài học. Một số phụ huynh học sinh vì lí do điều kiện kinh tế còn khó khăn, bươn chải cuộc sống đi làm xa như đi làm ở Malaixia, Đài Loan, Thành phố Hồ Chí Minh… nên chưa quan tâm đến việc học và kĩ năng sống của con em ở nhà cũng như ở trường, việc giáo dục con cái của họ là “Trăm sự nhờ thầy”. Người thực hiện: Ngô Thị Minh

– Trang 6 –

Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh lớp 5 thông qua môn Tiếng Việt

Do bố mẹ của các em đều làm nghề nông nên thu nhập của người dân chưa cao dẫn đến đời sống kinh tế còn thấp và mặt bằng dân trí còn thấp nên nhận thức của phụ huynh còn hạn chế. Sự quan tâm giáo dục đạo đức, hành vi ứng xử cho con em chưa đến nơi đến chốn, chưa đúng mức, nhiều phụ huynh còn quan niệm việc giảng dạy và giáo dục học sinh là của giáo viên và nhà trường đảm nhiệm. Việc này đồng nghĩa với việc khoán trắng trọng trách cho người giáo viên. Bên cạnh những thuâ nê lợi và khó khăn thì viê êc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh còn có những thành công như: Sau những tiết học Tiếng Việt, tôi thấy học sinh trong lớp có hứng thú, tích cực học tập. Tôi đã đạt được kết quả khả quan. Các kĩ năng sống cần thiết được hình thành: Học sinh biết vâng lời và yêu quý thầy cô giáo, luôn tự hoàn thành các nhiệm vụ học tập, nề nếp tốt, lao động vệ sinh trường lớp sạch sẽ, chấp hành tốt mọi nội quy của trường của lớp đề ra, không còn đối tượng học sinh cá biệt, tập thể học sinh biết thương yêu đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ đặc biệt các em tự tin, mạnh dạn trong giao tiếp, mạnh dạn trao đổi ý kiến, chia sẻ và hợp tác trong mọi công việc chung của lớp. Chính vì thể lớp tôi là một lớp luôn dẫn đầu trong khối về mọi hoạt động, phong trào. Tiết học đa dạng, phong phú về hình thức tổ chức, nội dung luôn mới mẻ và cập nhật những vấn đề mà lứa tuổi các em quan tâm nên bản thân các em rất thích thú và tích cực, hứng thú học tập. Các nguyên nhân, các yếu tố tác động * Về phía giáo viên: Trong thực tế hiện nay, việc nhận thức tầm quan trọng, cần thiết rèn kĩ năng sống cho học sinh ở một số giáo viên còn hạn chế. Mặc dù GV đã được tiếp cận về nội dung lồng ghép giáo dục kĩ năng sống của Bộ Giáo dục và mỗi giáo viên đều được tập huấn về cách dạy và rèn kĩ năng sống cho học sinh nhưng nhận thức của nhiều giáo viên còn mơ hồ, chưa rõ, chưa đầy đủ rèn kĩ năng sống cho học sinh trong mỗi tiết học là gì? Vì nhận thức chưa đủ, chưa rõ nên không thể tìm ra được biện pháp, hình thức tổ chức hữu hiệu để rèn kỹ năng sống cho học sinh. Hoặc nếu có xem giáo trình của BGD đã ban hành thì các kỹ năng sống trong các môn học nói chung và môn Tiếng Viê êt nói riêng giáo viên còn gặp rất nhiều khó khăn trong việc tổ chức các hoạt động học tập, sử dụng phương pháp và hình thức dạy học thích hợp để giáo dục các kĩ năng đó. Trong quá trình giáo dục học sinh, giáo viên chưa thường xuyên chú ý phân loại các đối tượng, chưa thật gần gũi, thân thiện với học sinh, chưa quan tâm nhiều đến điều kiện gia đình của từng học sinh – Việc rèn kỹ năng sống qua việc tích hợp vào các môn học nói chung và môn Tiếng Viê êt nói riêng còn hạn chế, thời gian ít. – Các hoạt động ngoại khoá như văn nghệ, thể dục, thể thao, hoạt động Đội chưa được chú trọng đúng mức để nhằm phát huy tính hiệu quả của nó trong việc Người thực hiện: Ngô Thị Minh

– Trang 7 –

Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh lớp 5 thông qua môn Tiếng Việt

nâng cao giá tri giáo dục kỹ năng sống cho học sinh. – Giáo viên khuyến khích động viên khen thưởng học sinh còn ít, việc đổi mới phương pháp dạy học của giáo viên chưa nhiều, chưa phát huy được tinh thần tự tìm tòi sang tạo trong học tập cho học sinh. * Về phía học sinh – Trong lớp học ít nhiều vẫn còn có hiện tượng học sinh cãi nhau, chửi nhau, chưa lễ phép, gây mất đoàn kết trong tập thể lớp… Mô êt số em còn khá rụt rè chưa quen với cách học cũng như chưa mạnh dạn bày tỏ ý kiến với cô giáo và các bạn. Khi phát biểu các em nói không rõ ràng, trả lời trống không, không tròn câu và ít nói lời cảm ơn, xin lỗi với cô, bạn bè… Nhiều em đến trường tỏ ra nói nhiều vì ở nhà các em không có người trò chuyện, chia sẻ … – Đa số học sinh chưa có nhận thức đúng về ý thức tự giác, tích cực trong học tập, chưa có ước mơ hoài bảo, kỹ năng diễn đạt trình bài trước đám đông, kỹ năng hợp tác, kỹ năng ra quyết đinh cho bản thân,… còn hạn chế, một số học sinh ứng xử với nhau chưa thật sự có văn hóa…. – Bên cạnh đó các trò chơi vô bổ như điện tử cũng như những phim ảnh không lành mạnh đã trực tiếp tác động làm ảnh hưởng không ít đến việc học tập cũng như kĩ năng sống của các em. * Về phía các bậc cha mẹ học sinh Công tác tuyên truyền các bậc cha mẹ thực hiê ên dạy các em các kỹ năng sống cơ bản chưa nhiều. Hơn nữa cha mẹ học sinh còn mải đi làm lo kinh tế gia đình chưa dành nhiều thời gian quan tâm đến con em mình mà tất cả việc học tập của con em là do các cô giáo và nhà trường. Chính việc thiếu hụt nghiêm trọng các kỹ năng sống do sự hạn chế của giáo dục gia đình và nhà trường, sự phức tạp của xã hội và cuộc sống xung quanh học sinh là nguyên nhân trực tiếp khiến học sinh gặp khó khăn trong ứng xử với tình huống thực của cuộc sống. Kỹ năng sống là những kĩ năng tâm lý – xã hội cơ bản giúp cho cá nhân tồn tại và thích ứng trong cuộc sống, giúp cho cá nhân vững vàng trước cuộc sống có nhiều thách thức nhưng cũng nhiều cơ hội trong thực tại… Kĩ năng sống đơn giản là tất cả điều cần thiết chúng ta phải biết để có được khả năng thích ứng với những thay đổi diễn ra hằng ngày trong cuộc sống. Giáo dục kỹ năng sống là giáo dục cách sống tích cực trong xã hội hiện đại, xây dựng những hành vi lành mạnh và thay đổi những hành vi, thói quen tiêu cực trên cơ sở giúp HS có thái độ, kiến thức, kỹ năng, giá tri cá nhân thích hợp với thực tế xã hội. Mục tiêu cơ bản của giáo dục kỹ năng sống là làm thay đổi hành vi của học sinh, chuyển từ thói quen thụ động, có thể gây rủi ro, dẫn đến hậu quả tiêu cực thành những hành vi mang tính xây dựng tích cực và có hiệu quả để nâng cao chất lượng cuộc sống cá nhân và góp phần phát triển xã hội bền vững. Người thực hiện: Ngô Thị Minh

– Trang 8 –

Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh lớp 5 thông qua môn Tiếng Việt

Kỹ năng sống là cái có sau những trải nghiệm thực tế nên việc lồng ghép này sẽ không dừng lại ở mức giảng dạy lý thuyết mà sẽ cụ thể hóa thành từng trường hợp, hoàn cảnh và yêu cầu học sinh xử lý. Thực trạng việc rèn kỹ năng sống cho học sinh ở trường Tiểu học: Học tập không chỉ dừng lại ở việc nhận thức các tri thức khoa học thuần túy mà còn được hiểu là mọi tri thức về thế giới trong đó có cả những mối quan hệ, cách thức ứng xử với môi trường xung quanh. Kỹ năng sống là một trong những vấn đề quan trọng đối với mỗi cá nhân trong quá trình tồn tại và phát triển. Chương trình học hiện nay đang gặp phải nhiều chỉ trích do quá nặng nề về kiến thức trong khi những tri thức vận dụng cho đời sống hàng ngày bi thiếu vắng. Hơn nữa, người học đang chiu nhiều áp lực về học tập khiến cho không còn nhiều thời gian cho các hoạt động ngoại khóa, hoạt động xã hội. Điều này dẫn đến sự “xung đột” giữa nhận thức, thái độ và hành vi với những vấn đề xảy ra trong cuộc sống. Mặc dù ở một số môn học, các hoạt động ngoại khóa, giáo dục kỹ năng sống đã được đề cập đến. Tuy nhiên, do nội dung, phương pháp, cách thức truyền tải chưa phù hợp với tâm sinh lí của đối tượng nên hiệu quả lồng ghép còn chưa cao. Trong những năm gần đây, toàn ngành đã chú trọng đến công tác đổi mới nội dung, phương pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển mà xã hội đặt ra. Một số giáo viên còn chú trọng vào việc trang bi kiến thức cho học sinh mà xem nhẹ việc rèn luyện kỹ năng ứng xử, kỹ năng thực hành cho học sinh. Còn một số quan điểm lệch lạc chỉ nên tập trung vào việc học các môn học chính thức trong chương trình mà xem nhẹ công tác giáo dục cho các em ý thức công dân, tinh thần đoàn kết và các kỹ năng sống thông qua các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp. Điều này đã dẫn đến tình trạng kỹ năng sống của học sinh chưa cao. Chỉ một số học sinh có hành vi, thói quen, kỹ năng tốt. Còn phần lớn các em có nhận xét, đánh giá về sự việc nhưng chưa có thái độ và cách ứng xử, cách xưng hô chuẩn mực, thể hiện thái độ, tình cảm trong quá trình giao tiếp với thầy cô giáo còn rụt rè, với bạn bè trong lớp chưa tình cảm tự tin, cũng có khi một số học sinh do học được cách nói năng của người lớn trong gia đình chưa đúng mực nên nói năng chưa khiêm nhường. Học sinh thể hiện kỹ năng sống còn đại khái, chưa mạnh dạn thể hiện kỹ năng của bản thân. Các em còn ngại nói, ngại viết, khả năng tự học, tự tìm tòi còn nhiều hạn chế, nhút nhát. Ngoài ra, đội ngũ giáo viên cũng chưa được đào tạo cơ bản để dạy về kỹ năng sống trong từng môn học, từng bài giảng. Thêm vào đó, chính các em học sinh cũng chưa có nhận thức đầy đủ và ý thức trau dồi kỹ năng sống, chưa tích cực chủ động tham gia các họat động trải nghiệm để tạo lập, rèn luyện kỹ năng sống. Để các em bộc lộ được những kỹ năng của bản thân, bản thân tổ chức cho các em tham gia các buổi sinh hoạt ngoại khoá như: “Đố vui để học”, “Trò chơi học Người thực hiện: Ngô Thị Minh

– Trang 9 –

Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh lớp 5 thông qua môn Tiếng Việt

tập” nhằm phát huy tính tích cực học tập của các học sinh. Qua đó học sinh có điều kiện học mà vui, vui mà học giảm bớt đi sự căng thẳng. Như vậy, việc rèn kỹ năng sống thông qua các môn học, hoạt động ngoài giờ lên lớp nói chung và môn Tiếng Viê êt nói riêng là một trong những nội dung quan trọng góp phần tích cực vào việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh. Và cần được tổ chức một cách thường xuyên, hiệu quả. Từ cơ sở và thực tiễn trong quá trình nghiên cứu tôi đã tìm ra một số biện pháp giúp giáo viên rèn kỹ năng sống cho học sinh tiểu học có tính khả thi sau. 3. Nô êi dung và hình thức của giải pháp: a. Mục tiêu của giải pháp Đối với tâm sinh lý trẻ em bậc tiểu học thì có nhiều kỹ năng quan trọng mà trẻ cần phải biết trước khi tập trung vào học văn hoá. Thực tế kết quả của nhiều nghiên cứu đều cho thấy các kỹ năng quan trọng nhất trẻ phải học vào thời gian đầu của năm học chính là những kỹ năng sống như: sự hợp tác, tự kiểm soát, tính tự tin, tự lập, tò mò, khả năng thấu hiểu và giao tiếp. Việc xác đinh được các kỹ năng cơ bản phù hợp với lứa tuổi sẽ giúp giáo viên lựa chọn đúng những nội dung trọng tâm để dạy trẻ . Nghiên cứu kỹ nội dung, chương trình môn Tiếng Việt lớp 5 nói riêng để nắm chắc kiến thức và kỹ năng của môn học, cũng như kỹ năng sống mà HS cần được học và tiếp cận. Từ đó, tuỳ từng bài cụ thể, nội dung cụ thể để lựa chọn nội dung, phương pháp, hình thức và các kĩ thuật dạy học tích cực thích hợp các hoạt động học tập và giáo dục lồng ghép kỹ năng sống cho HS, giúp các em có thể thực hành kỹ năng sau khi tiếp cận. Ngoài ra, trong khi giảng dạy kiến thức và giáo dục lồng ghép kỹ năng sống, cần có sự khuyến khích kip thời khi HS có tiến bộ (dù chỉ là một tiến bộ rất nhỏ) để khích lệ học sinh tham gia các hoạt động một cách tích cực và có đủ tự tin thể hiện khả năng của mình trước lớp. b. Nội dung và cách thực hiện giải pháp. Môn Tiếng Việt có nhiều thuận lợi hơn cả vì bản thân nội dung bài học buộc học sinh phải vận dụng rất nhiều kỹ năng như: thu thâ êp, xử lí thông tin; hợp tác; xác đinh giá tri; thể hiê ên sự cảm thông; tư duy sáng tạo, tư duy phê phán; giải quyết vấn đề…. Để hình thành những kiến thức và rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh qua môn Tiếng Việt, người giáo viên cần phải vận dụng nhiều phương pháp dạy phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh như: thực hành giao tiếp, trò chơi học tập, phương pháp nêu và giải quyết vấn đề, phương pháp tổ chức hoạt động nhóm, phương pháp hỏi đáp,…Thông qua các hoạt động học tập, được phát huy trải nghiệm, rèn kỹ năng hợp tác, bày tỏ ý kiến cá nhân, đóng vai,…học sinh có được cơ hội rèn luyện, thực hành nhiều kỹ năng sống cần thiết. Người thực hiện: Ngô Thị Minh

– Trang 10 –

Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh lớp 5 thông qua môn Tiếng Việt

Để áp dụng một số biện, giải pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh lớp 5 thông qua môn Tiếng Viê êt ở trường TH Trưng Vương có hiệu quả, tôi đi sâu vào 4 nội dung chính sau đây: -Tìm hiểu nội dung giáo dục kỹ năng sống và đia chỉ trong chương trình sách giáo khoa môn Tiếng Viê êt lớp 5; – Xác đinh nội dung giáo dục kỹ năng sống cho HS trong môn Tiếng Viê êt lớp 5; – Xây dựng góc Tiếng Việt; – Giáo viên tuyên truyền các bậc cha mẹ thực hiê ên dạy các em các kỹ năng sống cơ bản; Tìm hiểu nội dung giáo dục kỹ năng sống và địa chỉ trong chương trình sách giáo khoa môn Tiếng viê êt lớp 5. Tuần 2 4

5

6

9

10

Môn học

Tên bài dạy

Các kỹ năng sống cần đạt – Thu thâ êp, xử lí thông tin Tâ êp làm văn Luyê ên tâ pê làm báo – Hợp tác cáo thống kê – Thuyết trình kết quả tự tin – Xác đinh giá tri. Tâ êp đọc Những con sếu bằng – Thể hiện sự thông cảm. giấy – Xác đinh giá tri Tiếng vĩ cầm ở Mỹ – Thể hiện sự thông cảm. Kể chuyê ên Lai – Phản hồi / lắng nghe tích cực – Tìm kiếm và xử lí thông tin Tâ êp làm văn Luyê ên tâ pê làm báo – Hợp tác cáo thống kê – Thuyết trình kết quả tự tin Tâ êp làm văn Luyê ên tâ pê làm đơn

– Ra quyết đinh – Thể hiện sự thông cảm.

Luyê ên tâ êp thuyết – Thể hiê ên sự tự tin Tâ êp làm văn trình, tranh luâ nê – Lắng nghe tích cực – Hợp tác Luyê ên tâ êp thuyết – Thể hiê ên sự tự tin Tâ êp làm văn trình, tranh luâ nê – Lắng nghe tích cực (Tiếp theo) – Hợp tác Ôn tâ êp giữa HKI – Hợp tác Tâ êp đọc (Tiết 1) – Thể hiê ên sự tự tin

Người thực hiện: Ngô Thị Minh

– Trang 11 –

Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh lớp 5 thông qua môn Tiếng Việt

14

17

– Ra quyết đinh. Tâ êp làm văn Luyê ên tâ pê làm đơn – Đảm nhâ nê trách nhiê êm với cô êng đồng. Người gác rừng tí – Ứng phó với căng thẳng. Tâ êp đọc hon – Đảm nhâ nê trách nhiê êm với cô êng đồng. Làm biên bản cuô êc – Ra quyết đinh / giải quyết vấn đề. Tâ êp làm văn họp – Tư duy phê phán. Luyê ên tâ pê làm biên – Ra quyết đinh / giải quyết vấn đề. Tâ êp làm văn bản cuô êc họp – Hợp tác – Tư duy phê phán. – Ra quyết đinh / giải quyết vấn đề Tâ êp làm văn Ôn tâ pê về viết đơn – Hợp tác làm viê êc nhóm, hoàn thành biên bản vụ viê êc. Tâ êp đọc

20

Ôn tâ êp giữa HKI – Thu thâ êp, xử lí thông tin. (Tiết 1) – Kỹ năng hợp tác làm viê êc nhóm, Lâ êp bảng thống kê hoàn thành bảng thống kê. Ôn tâ êp giữa HKI – Thu thâ êp, xử lí thông tin. (Tiết 2) – Kỹ năng hợp tác làm viê êc nhóm, Lâ êp bảng thống kê hoàn thành bảng thống kê.

Ôn tâ êp giữa HKI – Thể hiê ên sự cảm thông Tâ êp làm văn (Tiết 5) – Đă êt mục tiêu Viết thư Lâ pê chương trình – Hợp tác Tâ êp làm văn hoạt đô nê g – Thể hiê ên sự tự tin – Đảm nhâ nê trách nhiê êm. Tâ êp đọc Trí dũng song toàn – Tự nhận thức – Tư duy sáng tạo.

21 Lâ êp chương Tâ êp làm văn hoạt đô nê g 23

Tâ êp làm văn Lâ êp

Người thực hiện: Ngô Thị Minh

chương

trình – Hợp tác – Thể hiê ên sự tự tin – Đảm nhâ nê trách nhiê êm. – Hợp tác trình – Thể hiê ên sự tự tin – Trang 12 –

Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh lớp 5 thông qua môn Tiếng Việt

29

35

hoạt đô nê g Tâ êp viết đoạn đối Tâ êp làm văn thoại; phân vai đọc, diễn màn kich Tâ êp viết đoạn đối Tâ êp làm văn thoại; phân vai đọc, diễn màn kich

– Đảm nhâ nê trách nhiê êm. – Thể hiê ên sự tự tin. – Kỹ năng hợp tác. – Thể hiê ên sự tự tin. – Kỹ năng hợp tác.

– Tự nhâ ên thức Tâ êp đọc Mô êt vụ đắm tàu – Giao tiếp, ứng xử phù hợp. – Kiểm soát cảm xúc. – Ra quyết đinh. – Tự nhâ ên thức Kể chuyê ên Lớp trưởng lớp tôi – Giao tiếp, ứng xử phù hợp. – Tư duy sáng tạo. – Lắng nghe, phản hồi tích cực. – Kỹ năng tự nhận thức Tâ êp đọc Con gái – Giao tiếp, ứng xử phù hợp giới tính. – Ra quyết đinh – Thể hiê ên sự tự tin. Tâ êp làm văn Tâ êp viết đoạn đối – Kỹ năng hợp tác có hiê êu quả để thoại; phân vai đọc, hoàn chỉnh màn kich. diễn màn kich – Tư duy sáng tạo. Ôn tâ pê cuối HKII Tâ êp đọc (Tiết 3) Lâ êp bảng thống kê Tâ êp làm văn Ôn tâ pê cuối học kì II (Tiết 4) Viết biên bản cuô cê họp

– Thu thâ êp, xử lí thông tin: Lâ pê bảng thống kê. – Ra quyết đinh. – Ra quyết đinh. – Xử lí thông tin

Xác định nội dung giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trong môn Tiếng Viê êt lớp 5. * Kỹ năng thể hiện sự tự tin: Tự tin là có niềm tin vào bản thân, tự hài lòng với bản thân, tin rằng mình có thể trở thành người có ích và tích cực, có niềm tin về tương lai, cảm thấy có nghi lực để hoàn thành nhiệm vụ; Người thực hiện: Ngô Thị Minh

– Trang 13 –

Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh lớp 5 thông qua môn Tiếng Việt

Kỹ năng thể hiện sự tự tin giúp các nhân giao tiếp hiệu quả hơn, mạnh dạn bày tỏ suy nghĩ và ý kiến của mình, quyết đoán trong việc đưa ra quyết đinh và giải quyết vấn đề, đồng thời cũng giúp người đó có suy nghĩ tích cực và lạc quan trong cuộc sống; Kỹ năng thể hiện sự tự tin là yếu tố cần thiết trong giao tiếp, thương lượng, ra quyết đinh, đảm nhận trách nhiệm. Ví dụ: Khi dạy Tập làm văn các bài: “Luyện tập thuyết trình, tranh luâ ên”, “Lâ pê chương trình hoạt đô nê g”, “Tâ êp viết đoạn đối thoại; phân vai đọc, diễn màn kich”… người giáo viên cần tổ chức cho các em đóng vai, đối thoại, tự bô êc lô ê. Sau vài lời khuyến khích đầu tiên, tổ chức cho các em đứng đóng vai, nêu những lí lẽ, dẫn chứng, bày tỏ ý kiến,… Lúc đầu các em có thể rất ái ngại không tự tin khi đóng vai, bày tỏ ý kiến trước lớp nhưng nếu được giáo viên nhập cuộc và kip thời nhắc nhở các em những điều cần chú ý trong khi giao tiếp, cộng thêm một môi trường hòa đồng thân thiện các em thực hiện rất tốt, không còn những cái nhìn ái ngại. Thay vào đó là thái đô ê bình tĩnh, tự tin cùng những câu nói rõ ràng, diễn đạt gãy gọn và linh hoạt hơn trong khi tham gia đóng vai, đối thoại với các thuyết trình viên. *Kỹ năng thể hiện sự cảm thông: Thể hiện sự cảm thông là khả năng có thể hình dung và đặt mình trong hoàn cảnh của người khác, giúp chúng ta hiểu và chấp nhận người khác vốn là những người rất khác mình, qua đó chúng ta có thể hiểu rõ cảm xúc và tình cảm của người khác và cảm thông với hoàn cảnh hoặc nhu cầu của họ. Ví dụ: Khi dạy bài ” Những con sếu bằng giấy” Tôi yêu cầu HS trả lời câu hỏi. + Các bạn nhỏ đã làm gì để giúp đỡ Xa-xa-cô? Tôi yêu cầu HS trả lời câu hỏi. Khuyến khích nhiều em phát biểu theo cách khác nhau. Chẳng hạn: (Các bạn nhỏ trên khắp thế giới đã gấp những con sếu bằng giấy gửi tới cho Xa-xa-cô. Khi Xa-xa-cô chết các bạn đã quên góp tiền xây tượng đài tưởng nhớ những nạn bi bom nguyên tử sát hại.) + Em đã làm được việc gì để tỏ lòng cảm thông, chia sẻ, giúp đỡ những người nạn nhân bi bom nguyên tử sát hại? Tôi khuyến khích nhiều em phát biểu theo các cách hiểu của các em. Chẳng hạn: Chúng tôi gét chiến tranh. Tôi sẽ cùng mọi người đấu tranh xoá bỏ vũ khí hạt nhân. Quên góp tiền, sách vở, quần áo để ủng hô ê những nạn bi bom nguyên tử sát hại….) Ví dụ: Khi kể chuyê nê bài ” Tiếng vĩ cầm ở Mĩ Lai ” Tôi yêu cầu HS trả lời câu hỏi: + Em đã làm được việc gì để tỏ lòng cảm thông, chia sẻ, giúp đỡ những nạn nhân của vụ thảm sát Mỹ Lai, đồng cảm với hành đô nê g dũng cảm của những người lính Mỹ có lương tâm? Học sinh tự nói về sự thông cảm, chia sẻ và giúp đỡ người Người thực hiện: Ngô Thị Minh

– Trang 14 –

Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh lớp 5 thông qua môn Tiếng Việt

khác của các nhân vật trong bài. Từ đó giúp học sinh hiểu được cần phải biết quan tâm đến người khác và sẵn sàng giúp đỡ họ. Sau đó, tôi YCHS kể chuyê ên theo nhóm thể hiê ên KNS cảm thông, chia sẻ theo từng đoạn của câu chuyê ên. Hoặc khi dạy Tâ êp làm văn “Luyê Ôn tâ Ôp làm đơn” KNS cần lồng ghép là sự cảm thông: HS tự nói về sự chia sẻ, cảm thông với nỗi bất hạnh của nạn nhân chất đô êc màu da cam.Từ đó giúp học sinh hiểu được cần phải biết quan tâm đến người khác và sẵn sàng giúp đỡ họ. * Kỹ năng giao tiếp Kỹ năng giao tiếp là khả năng có thể bày tỏ ý kiến của bản thân theo hình thức nói, viết hoặc sử dụng ngôn ngữ cơ thể một cách phù hợp với hoàn cảnh và văn hóa, đồng thời biết lắng nghe, tôn trọng ý kiến của người khác ngay cả khi bất đồng quan điểm. Bày tỏ ý kiến bao gồm cả bày tỏ về suy nghĩ, ý tưởng, nhu cầu, mong muốn và cảm xúc, đồng thời nhờ sự giúp đỡ và sự tư vấn khi cần thiết. Kỹ năng giao tiếp giúp con người biết đánh giá tình huống giao tiếp và điều chỉnh cách giao tiếp một cách phù hợp, hiệu quả, cởi mở bày tỏ suy nghĩ, cảm xúc nhưng không làm hại hay gây tổn thương cho người khác. Kĩ năng này giúp chúng ta có mối quan hệ tích cực với người khác, bao gồm biết gìn giữ mối quan hệ tích cực với các thành viên trong gia đình nguồn hỗ trợ quan trọng cho mỗi chúng ta, đồng thời biết cách xây dựng mối quan hệ với bạn bè mới và đây là yếu tố rất quan trọng đối với niềm vui cuốc sống. Khi dạy các bài: “Mô Ôt vụ đắm tàu; Lớp trưởng lớp tôi; con gái….” Tôi cho HS nhận xét cách xưng hô của các nhân vật trong truyện, lời lẽ, của các nhân vật khi giao tiếp… Học sinh nhận biết cách xưng hô của các nhân vật trong truyện là đúng thứ bậc, lời nói thể hiện sự thân mật, dễ đạt được mục đích giao tiếp. HS biết thể hiện sự cần thiết phải ứng xử lich sự khi giao tiếp trong cuộc sống. Dù trong mỗi hoàn cảnh giao tiếp khác nhau, mục đích giao tiếp khác nhau nhưng các em luôn có thể hiện cách ứng xử lich sự để đạt được mục đích giao tiếp và hơn hết là xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với mọi người xung quanh. Có thể là trình bày nguyện vọng của mình với người khác kèm theo cử chỉ, nét mặt, lời nói, ngữ điệu. Có thể lắng nghe tích cực khi người khác nói. Ví dụ: Khi học bài: “Con gái” Tôi hỏi học sinh: + Cuô êc trò chuyện thân mật trình bày nguyện vọng, ý kiến của Mơ với mẹ thì Mơ có thái độ như thế nào? Tôi cho học sinh trả lời ý kiến khác nhau. Sau đó, tôi chốt lại: Mơ lắng nghe mẹ nói thể hiê ên sự giao tiếp thứ bâ êc giữa mẹ và con cái. Người thực hiện: Ngô Thị Minh

– Trang 15 –

Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh lớp 5 thông qua môn Tiếng Việt

+ Mơ đã ứng xử như thế nào khi bạn Hoan bi rơi xuống nước? (Mơ ứng xử phù hợp đã lao xuống để cứu bạn). Ví dụ: Sau khi học xong bài: ” Mô Ôt vụ đắm tàu” Tôi hỏi HS: Em có nhâ ên xét gì về cách giao tiếp của các nhâ nê vâ êt trong bài? (Mi-ri-ô là mô êt bạn trai kín đáo, cao thượng đã nhường sự sống cho bạn. Giu-li-ét-ta là mô êt bạn gái tốt bụng, giàu tình cảm biết lo lắng, chăm sóc khi bạn bi thương… Cách giao tiếp giữa các bạn thân mâ êt, gần gũi thể hiê ên những tính cách điển hình của nữ giới và nam giới). Từ những viê êc làm của các nhân vâ êt trong bài mà tôi hướng dẫn học sinh vâ ên dụng vào cuô êc sống. + Ví dụ: Khi học xong bài: “Lớp trưởng lớp tôi” Tôi hỏi HS: + Em có nhâ ên xét gì về cách xưng hô của các bạn trong câu chuyê ên? (Các bạn thể hiê ên giao tiếp tự tin, mạnh dạn, thân mâ êt, gần gũi). Tiếp theo, tôi yêu cầu học sinh kể câu chuyê ên theo nhóm có phân vai các nhân vâ êt để các em thể hiê ên được kĩ năng giao tiếp của mình. Cuối cùng, tôi tổ chức cho học sinh thực hành Kĩ năng sống bằng cách cho học sinh thảo luận đóng vai để đưa ra các tình huống xảy ra trong cuộc sống và các cách xử lí tình huống của các nhóm. *Kỹ năng tự nhận thức: Kỹ năng tự nhận thức là khả năng của con người hiểu về chính bản thân mình, như cơ thể, tư tưởng các mối quan hệ xã hội; biết nhìn nhận, đánh giá đúng về tiềm năng, tình cảm, sở thích, thói quen… của bản thân mình, quan tâm và luôn ý thức được mình đang làm gì, kể cả nhận ra lúc bản thân đang cảm thấy căng thẳng. Để tự nhận thức đúng về bản thân cẩn phải được trải nghiệm qua thực tế, đặc biệt là qua giao tiếp với người khác. Ví dụ 1: Bài ” Trí dũng song toàn” + Vì sao vua nhà Minh sai người ám hại ông Giang Văn Minh? Tôi yêu cầu HS trả lời câu hỏi. Khuyến khích nhiều em phát biểu theo cách khác nhau. Chẳng hạn: (Vì vua Minh mắc mưu Giang Văn Minh, phải bỏ lê ê góp giỗ Liễu Thăng nên căm gét ông. Vì thấy Giang Văn Minh không những không chiu nhún nhường trước câu đối của đại thần triều đình, còn dám lấy viê êc quân đô iê cả ba triều đại Nam Hán, Tống và Nguyên đều thảm bại trên sông Bạch Đằng để đối lại, nên vua giâ nê quá sai người ám hại ông…). + Vì sao có thể nói ông Giang Văn Minh là người trí dũng song toàn? (Vì Giang Văn Minh vừa mưu trí, vừa bất khuất. Giữa triều đình nhà Minh, ông biết dùng mưu để vua nhà Minh buô êc phải bỏ lê ê góp giỗ Liễu Thăng…) Ví dụ 2: Khi dạy bài: “Mô Ôt vụ đắm tàu”. Sau khi HS hiểu được hoàn cảnh và mục đích chuyến đi của Ma-ri-ô và Giu-li-ét-ta thì Giu-li-ét-ta chăm sóc Ma-ri-ô như thê nào khi bạn bi thương? ( Thấy Ma-ri-ô bi sóng lớn â êp tới, xô câ êu ngã dụi, Người thực hiện: Ngô Thị Minh

– Trang 16 –

Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh lớp 5 thông qua môn Tiếng Việt

Giu-li-ét-ta hoảng hốt chạy lại, quỳ xuống bên bạn, lau máu trên trán bạn, diu dàng gỡ chiếc khăn đỏ trên mái tóc băng vết thương cho bạn. Qua đó, cho thấy Giu-li-étta đã tự nhâ ên thức được trách nhiê êm và vai trò của mình khi thấy bạn bi thương). + Quyết đinh nhường bạn xuống xuồng cứu nạn của Ma-ri-ô nói lên điều gì? ( Ma-ri-ô có tấm lòng cao thượng, nhường sự sống cho bạn, hi sinh bản thân vì bạn. Qua đó, cho thấy Ma-ri-ô đã tự nhâ ên thức được trách nhiê êm và vai trò của mình khi thấy bạn biết bạn còn bố mẹ). Ví dụ 3: Khi dạy bài “Lớp trưởng lớp tôi ” Em có nhâ ên xét gì về lớp trưởng qua câu chuyê nê ? ( Vừa học giỏi vừa chu đáo, xốc vác công viê êc của lớp, khiến các bạn nam trong lớp ai cũng nể phục). Sau dó tôi cho HS thực hành Kĩ năng sống đó bằng cách cho HS thực hành: “Tự giới thiệu về lớp trưởng lớp mình”. Trong lời giới thiệu: HS nêu những điểm mạnh, điểm yếu của lớp trưởng. Ví dụ: Học sinh tự nhận xét về chữ viết của bạn, hoặc giới thiệu những khả năng và hạn chế của bạn. Tôi khích lệ để HS tự tin, mạnh dạn khi nói trước cả lớp để học sinh có cơ hội được rèn kĩ năng nói trước tập thể. Ví dụ 4: Khi dạy Bài “Con gái” Sau khi HS nhận biết được những viê êc làm của Mơ như học giỏi, chăm làm, dũng cứu bạn… thì mọi người đã thay đổi cách hiểu chưa đúng của cha mẹ về viê êc sinh con gái. Qua câu chuyê ên này thì chúng ta đã tự nhâ nê thức về sự bình đẳng nam nữ. *Kỹ năng xác đinh giá tri: Giá tri là những gì con người cho là quan trọng, có ý nghĩa đối với bản thân mình, có tác dụng đinh hướng cho suy nghĩ, hành động và lối sống của bản thân trong cuộc sống. Giá tri có thể là những chuẩn mực đạo đức, những chính kiến, thái độ và thậm chí là thành kiến đối với một điều gì đó… Giá tri có thể là giá tri vật chất hoặc giá tri tinh thần, có thể thuộc các lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật, đạo đức, kinh tế… Giáo dục kĩ năng “Xác đinh giá tri ” ở một số bài trong môn Tiếng Viê êt tôi đã thực hiện như sau : Ví dụ : Khi dạy bài “Những con sếu bằng giấy” TV5 tập I. Giáo dục kĩ năng sống “Xác đinh giá tri. ” trong bài là: HS nhận biết được ý nghĩa của tấm lòng nhân hậu trong cuộc sống. GV nêu: + Tìm những câu các bạn nhỏ đã làm gì để tỏ tình đoàn kết với Xa-xa-cô? + Các bạn nhỏ đã làm gì để bày tỏ nguyê nê vọng hoà bình? + Theo em, nếu được đứng trước tượng đài, em sẽ nói gì với với Xa-xa-cô? Tôi để nhiều HS được trình bày, sau đó tôi chốt ý đúng và đưa ra câu hỏi, tổ chức cho HS thảo luận nhóm đôi: “Câu chuyê ên muốn nói với các em điều gì? GV kết luận để HS nhận thấy: Chúng ta đều ghét chiến tranh mà yêu hoà bình. Chỉ Người thực hiện: Ngô Thị Minh

– Trang 17 –

Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh lớp 5 thông qua môn Tiếng Việt

có hoà bình thì cuô êc sống của chúng ta bình yên, có giá tri muốn sống, có khát vọng sống. *Kỹ năng kiểm soát cảm xúc: Kiểm soát cảm xúc là khả năng con người nhận thức rõ cảm xúc của mình trong một tình huống nào đó và hiểu được ảnh hưởng của cảm xúc đối với bản thân và người khác như thế nào, đồng thời biết cách điều chỉnh, thể hiện cảm xúc một cách phù hợp. Kĩ năng kiểm soát cảm xúc còn có nhiều tên gọi khác như: xử lý cảm xúc, kiềm chế cảm xúc, quản lý cảm xúc. Một người biết kiềm chế cảm xúc thì sẽ góp phần giảm căng thẳng, giúp giao tiếp và thương lượng hiệu quả hơn, giúp ra quyết đinh và giải quyết vấn đề tốt hơn. Kĩ năng xử lý cảm xúc cần sự kết hợp với kĩ năng tự nhận thức, kĩ năng ứng xử với người khác và kĩ năng ứng phó với căng thẳng … Ví dụ: Khi học bài: ” Mô Ôt vụ đắm tàu” Tôi hỏi HS: + Mi-ri-ô đã kiểm soát cảm xúc của mình như thế nào? (Mi-ri-ô là mô êt bạn trai kín đáo giấu nỗi bất hạnh của mình, không kể với bạn, cao thượng đã nhường sự sống cho bạn. Từ những viê êc làm của các nhân vâ êt trong bài mà tôi hướng dẫn học sinh vâ ên dụng vào cuô êc sống. *Kỹ năng tư duy sáng tạo: Tư duy sáng tạo là khả năng nhìn nhận và giải quyết vấn đề theo một cách mới, với ý tưởng mới, theo phương thức mới, cách sắp xếp và tổ chức mới; là khả năng khám phá và kết nối mối quan hệ giữa các khái niệm, ý tưởng, quan điểm, sự việc; độc lập trong suy nghĩ. Kĩ năng tư duy sáng tạo giúp con người tư duy năng động với nhiều sáng kiến và óc tưởng tượng; biết cách phán đoán và thích nghi, có tầm nhìn và khả năng suy nghĩ rộng hơn những người khác, không bi bó hẹp vào kinh nghiệm trực tiếp đang trải qua, tư duy minh mẫn và khác biệt. Tư duy sáng tạo là một Kĩ năng sống quan trọng bởi vì trong cuộc sống con người thường xuyên bi đặt vào những hoàn cảnh bất ngờ hoặc ngẫu nhiên xảy ra. Khi gặp những hoàn cảnh như vậy đòi hỏi chúng ta phải có tư duy sáng tạo để có thể ứng phó một cách linh hoạt và phù hợp. Khi một người biết kết hợp tốt giữa kĩ năng tư duy phê phán và tư duy sáng tạo thì năng lực tư duy của người ấy càng được tăng cường và sẽ giúp ích rất nhiều cho bản thân trong việc giải quyết vấn đề một cách thuận lợi và phù hợp nhất. * Kỹ năng lắng nghe tích cực: Lắng nghe tích cực là một phần quan trọng của kĩ năng giao tiếp. Người có kĩ năng lắng nghe tích cực biết thể hiện sự tập trung chú ý và thể hiện sự quan tâm lắng nghe ý kiến hoặc trình bày của người khác, biết đưa ra ý kiến phản hồi mà không vội đánh giá, đồng thời có đối đáp hợp lý trong qúa trình giao tiếp. Người thực hiện: Ngô Thị Minh

– Trang 18 –

Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh lớp 5 thông qua môn Tiếng Việt

– Trang 19 –

Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh lớp 5 thông qua môn Tiếng Việt

– Trang 20 –

Skkn Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Học Sinh

MỤC LỤC Nội dung

I. Tên sáng kiến kinh nghiệm II. Tên tác giả sáng kiến kinh nghiệm III. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm 1. Giải pháp cũ thường làm

a. Đặc điểm tình hình của nhà trường

4

b. Thực trạng công tác giáo dục kỹ năng sống cho học sinh

2. Giải pháp mới cải tiến a. Tăng cường công tác chỉ đạo, định hướng công tác giáo dục kỹ năng

7

sống b. Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tích hợp qua các môn học

8

c. Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua giờ sinh hoạt của giáo

9

viên chủ nhiệm d. Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua các hoạt động ngoài giờ do Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tổ chức 3. Hiệu quả đạt được sau khi cải tiến IV. Kết luận và kiến nghị

1. Kết luận

14

2. Kiến nghị

15

I. Tên sáng kiến kinh nghiệm: Một trong những nội dung của phong trào ” Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” là rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh. Thiết nghĩ, đây cũng là một trong những nội dung quan trọng trong mục tiêu giáo dục toàn diện 1

trong mỗi nhà trường. Trong xu thế phát triển xã hội, thế giới đã và đang có những biến đổi sâu sắc về mọi mặt tác động đến đời sống kinh tế, chính trị và xã hội. Một số chuẩn mực đạo đức, quy tắc ứng xử, phẩm chất đạo đức, lối sống của con người cũng bị ảnh hưởng bởi mặt trái của cơ chế thị trường. Thế hệ trẻ hôm nay dẽ dàng học đòi, bắt chước, tiêm nhiễm những thói hư tật xấu từ xã hội, từ mạng Internet…Trong các nhà trường, học sinh có xu hướng gia tăng về bạo lực học đường, về sự liều lĩnh, ứng phó không lành mạnh, dễ mắc các tệ nạn xã hội, sống ích kỉ, vô tâm, khép mình…đồng thời kĩ năng thực hành giao tiếp, kĩ năng phục vụ bản thân còn yếu, kém. Thực tế này đã khiến các nhà giáo dục đặc biệt quan tâm đến vấn đề giáo dục kỹ năng sống cho thế hệ trẻ trong đó có học sinh THPT. Nhiều nước phát triển trên thế giới, thanh thiếu niên được học những kỹ năng sống về những tình huống sẽ xảy ra trong cuộc sống và họ biết cách đối diện và đương đầu với những khó khăn, biết cách vượt qua những khó khăn, cũng như biết cách tránh những mâu thuẫn, xung đột, bạo lực giữa người và người, biết cách đối phó thích ứng với các tai nạn như cháy, nổ, động đất, thiên tai. Như vậy, việc giáo dục”kỹ năng sống” cho học sinh, đặc biệt là học sinh THPT là vô cùng cấn thiết . Hiện nay, Bộ GD&ĐT đã xây dựng và triển khai các chuyên đề giáo dục KNS ở các cấp học, ở mọi lứa tuổi. Chương trình giáo dục KNS thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp được bắt đầu bằng những kỹ năng đơn giản, đời thường gần gũi với các em, như: chào hỏi, bắt tay, cám ơn, xin lỗi, quan sát, lắng nghe, giữ gìn vệ sinh môi trường, chấp hành luật an toàn giao thông…Một loạt các chuyên đề giáo dục kĩ năng sống, được ứng dụng phù hợp với quá trình phát triển tâm lý tuổi vị thành niên, giúp các em tự rèn luyện nhân cách và khả năng tự lập và ý chí vươn lên trong cuộc sống. Thực hiện các văn bản chỉ đạo của Bộ, Ngành, và Sở GD&ĐT Ninh Bình, trường THPT Gia Viễn A trong những năm vừa qua đã và đang triển khai chương trình giáo dục kỹ năng sống cho học sinh. Thông qua các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, nhà trường có đã khơi dậy “sức mạnh nội tâm” tiềm ẩn 2

trong mỗi HS, giúp các em nhận ra giá trị của mình, để biết cách điều chỉnh hành vi, thái độ, biết “sống có trách nhiệm”, “sống có văn hoá”, biết cách “tự bảo vệ mình” và “giải quyết những vấn đề khó khăn trong cuộc sống”. Tuy nhiên khi triển khai và thực hiện chương trình giáo dục KNS thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp của nhà trường còn gặp nhiều khó khăn. Nguyên nhân do nhân thức, hiểu biết về kỹ năng sống cũng như việc thể chế hóa chương trình giáo dục kỹ năng sống của nhà trường chưa cụ thể, chưa sát thực và còn nhiều lúng túng. Đặc biệt việc hướng dẫn tổ chức hoạt động giáo dục KNS cho học sinh còn nhiều bất cập và chưa thật hiệu quả. Để nâng cao chất lượng và hiệu quả chương trình giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trường THPT Gia Viễn A tôi mạnh dạn chọn đề tài ” Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục kỹ năng sống cho học sinh” II. Tác giả sáng kiến: – Họ và tên: Hà Thị Lan Hương – Chức vụ: P. Hiệu trưởng – Đơn vị: Trường THPT Gia Viễn A III. Nội dung sáng kiến: 1. Giải pháp cũ thường làm: a. Đặc điểm tình hình của nhà trường: Trường THPT Gia Viễn A được thành lập năm 1960 đóng trên địa bàn xã Gia Phú, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình. Học sinh nhà trường là con em các xã thuần nông thuộc xã Gia Hưng, Gia Hoà, Gia Phú, Gia Thịnh, Gia Vượng, Gia Phương, Liên Sơn và thị trấn Me. Kinh tế hộ gia đình còn nhiều khó khăn, thu nhập không ổn định, một bộ phận phụ huynh đi làm ăn xa thiếu quan tâm đến việc học tập và rèn luyện của con em mình. Năm học 2014 – 2024, nhà trường 3

viên còn nặng về truyền thụ kiến thức và chưa thực sự chú trọng rèn kỹ năng cho học sinh. Một bộ phận nhỏ giáo viên đã đưa nội dung giáo dục kỹ năng sống vào bài giảng nhưng chất lượng và hiệu quả chưa cao. *) Công tác giáo dục kỹ năng của giáo viên chủ nhiệm lớp: Qua nghiên cứu, phân tích và kiểm tra đánh giá các tiết sinh hoạt 15 phút đầu giờ, các tiết sinh hoạt cuối tuần, giáo viên mới chỉ dừng lại ở các công việc mang tính sự vụ hành chính thông thường, nhắc việc, xử lý vi phạm của học sinh mà rất ít các thầy cô quan tâm đến việc định hướng, trang bị cho các em những kỹ năng cơ bản và cần thiết. Nhà trường phân công cho GVCN lớp đảm nhiệm công tác Hướng nghiệp cho học sinh và phối hợp với Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp nhưng hiệu quả và chất lượng của các hoạt động chưa cao. Mức độ vi phạm nội quy quy định của học sinh có chiều hướng gia tăng, các kỹ năng giao tiếp ứng xử, kỹ năng giải quyết tình huống, kỹ năng quản lý thời gian còn hạn chế. *) Công tác giáo dục kỹ năng sống thông qua các hoạt động ngoại khoá, hoạt động văn nghệ, thể dục thể thao của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh: Đoàn TNCS Hồ Chí Minh đã phối hợp với Huyện đoàn Gia Viễn tổ chức các hoạt động ngoại khoá, tuy nhiên việc tổ chức các hoạt động còn mang tình hình thức, việc xác định mục tiêu giáo dục kỹ năng sống chưa được chú trọng đúng mức và đầy đủ. Đánh giá chung về việc triển khai các hoạt động rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh như sau: mặc dù công tác giáo dục kỹ năng sống đã được nhà trường quan tâm nhưng chưa thực sự đồng bộ và hiệu quả. Nguyên nhân của thực trạng trên là do điều kiện của nhà trường xây dựng lâu năm, cơ sở vật chât còn nghèo nàn, lạc hâu, trang thiết bị, phòng học còn thiếu, chưa có phòng học đa năng nên việc triển khai các hoạt động ngoài giờ lên lớp gặp rất nhiều khó 5

6

7

khai chương trình phát thanh học đường…cũng là giải pháp góp phần trang bị thêm nhiều kiến thức kỹ năng sống cho học sinh. b. Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tích hợp qua các môn học: Theo chương trình đổi giáo dục, thì dạy học tích hợp là một trong những phương pháp dạy học tích cực và hiệu quả. Năm học 2014 – 2024, nhà trường đã chỉ dạo giáo viên bộ môn giảng dạy theo hướng tích hợp, tăng cường đầu tư nhiều hơn cho công tác chuẩn bị như: xác định nội dung, địa chỉ tích hợp và các kỹ năng cần tích hợp. Tùy đặc thù của từng bộ môn để tích hợp nhiều nội dung như giáo dục môi trường, giáo dục sức khỏe sinh sản, phòng chống tham nhũng, giáo dục pháp luật… Để hoạt động tích hợp đạt hiệu quả, giáo viên dạy các môn học đã linh hoạt và mềm dẻo trong việc lựa chọn nội dung bài học và kỹ năng sống cần thiết để tích hợp. Trong giáo án, giáo viên đã thể hiện một cách cụ thể, rõ ràng và chi tiết định hướng giảng dạy của mình từ mục tiêu giáo dục, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học đến hoạt động dạy và học của giáo viên và học sinh. Nhờ đó, giáo viên có thể làm chủ được quá trình truyền thụ tri thức và hạn chế thiếu sót trong quá trình giảng dạy. Trong khi thiết kế nội dung dạy học tích hợp kỹ năng sống, giáo viên đã thiết kế cụ thể các hoạt động mà bản thân dự kiến sẽ tổ chức và ước lượng thời gian tổ chức để tránh ảnh hưởng đến việc truyền thụ và lĩnh hội nội dung kiến thức của học sinh. Sau mỗi bài học, giáo viên bộ môn tiến hành hoạt động kiểm tra đánh giá người học theo mức độ nhận biết, thông hiểu và vận dụng các kỹ năng đã được trang bị vào để giải quyết những tình huống cụ thể. c. Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua giờ sinh hoạt của giáo viên chủ nhiệm: Trong quá trình công tác, tôi nhận thấy vai trò của giáo viên chủ nhiệm lớp đối với sự hình thành nhân cách, đạo đức của học sinh là vô cùng quan 8

trọng: là tấm gương, là người mẹ, người bạn, nhà tâm lí, luật sư… GVCN lớp là cầu nối giữa Hiệu trưởng nhà trường với học sinh, với cha mẹ học sinh và các đoàn thể mà các em sinh hoạt. Giáo viên chủ nhiệm người gần gũi với học sinh nhất cũng là , người đóng vai trò cầu nối và giáo dục kỹ năng sống cơ bản cho học sinh, chính vì vậy mà gánh nặng giáo dục kỹ năng sống hiện nay đặt lên vai giáo viên chủ nhiệm ngày càng lớn. Trong công tác giáo dục kỹ năng sống, giáo viên chủ nhiệm có những nhiệm vụ chủ yếu sau: Thứ nhất là tư vấn, giáo dục kỹ năng cơ bản: Cho dù ở bất cứ hoàn cảnh nào thì giáo viên chủ nhiệm cũng phải linh hoạt, hiểu được nhu cầu và tạo cho các em cảm giác tin tưởng, có thể giúp đỡ được, tránh cho các em rơi vào trạng thái mặc cảm tự ti do mâu thuẫn với bố mẹ, thầy cô về kết quả học tập, hay gặp rắc rối với bạn bè, bị strees do học tập quá sức hay bị dọa nạt, xúc phạm…. sẵn sàng lắng nghe những chia sẻ, tâm tư của lứa tuổi học sinh, nắm bắt được những vấn đề cơ bản, cùng các em vạch ra những phương án, tự đương đầu với những khó khăn trước mắt thay vì xấu hổ, rụt rè, tự ti để tâm lý luôn được thoải mái và học tập có hiệu quả. Thứ hai là, giáo viên chủ nhiệm có thể giúp học sinh tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm trí thông qua sự kết hợp với các nhà tham vấn, chuyên gia tư vấn tâm lý học đường, những học sinh đang có khó khăn tâm lý, đặc biệt là những học sinh “thường xuyên lo lắng và bất an” nên nỗ lực tìm cách vượt qua hoặc tìm kiếm dịch vụ trợ giúp phù hợp để tránh những tác động tiêu cực do khó khăn tâm lý gây ra. Ý thức được sự cần thiết của việc trau dồi các kiến thức tâm lý học và các kiến thức xã hội khác để hiểu được tâm lý của bản thân và tự nhận ra vấn đề khó khăn của mình. Học sinh có thể chuẩn bị tâm thế trước mọi hoàn cảnh, sẵn sàng đón nhận thử thách, khó khăn trong cuộc sống, học tập và nỗ lực tìm cách khắc phục chúng. Khi cần trợ giúp nên tìm đến những dịch vụ hay những loại hình trợ giúp tâm lý chuyên nghiệp để tránh những rủi ro khác không mong muốn. 9

Tổ chức các hoạt động văn hóa văn nghệ: Đây là một loại hình hoạt động quan trọng, không thể thiếu được trong sinh hoạt tập thể. Hoạt động này bao gồm nhiều thể loại khác nhau: Hát, múa, thơ ca, kịch ngắn, kịch câm, tấu vui, độc tấu, nhạc cụ, thi kể chuyện. Trong năm học 2014 – 2024, nhà trường đã tổ chức cuộc thi viết thư UPU, cuộc thi sáng tác thơ, truyện ngắn, cuộc thi vẽ tranh bảo vệ động vật hoang dã thu hút hơn 1000 học sinh tham gia. Thông qua các hoạt động này góp phần hình thành cho các em kỹ năng mạnh dạn, tự tin trước đám đông, kỹ năng sáng tạo… Đây là một trong những kỹ năng rất quan trọng trong xu thế toàn cầu hóa. Tổ chức các hoạt động vui chơi giải trí, TDTT: Vui chơi, giải trí là nhu cầu thiết yếu của học sinh, đồng thời là quyền lợi của các em. Nó là một loại hoạt động có ý nghĩa giáo dục to lớn đối với HS ở bậc THPT. Hoạt động này làm thỏa mãn về tinh thần cho các em sau những giờ học căng thẳng, góp phần rèn luyện một số phẩm chất: tính tổ chức, kỉ luật, nâng cao tinh thần trách nhiệm, tinh thần đoàn kết, lòng nhân ái. Tổ chức các hoạt động xã hội: Bước đầu đưa HS vào các hoạt động xã hội như chăm sóc di tích động Hoa Lư xã Gia Hưng, thăm và tặng quà mẹ Việt Nam anh hùng xã Liên Sơn, huyện Gia Viên…Từ những hoạt động trên đã giúp các em nâng cao hiểu biết về quê hương, đất nước, con người và xã hội. Ngoài ra, các em sẽ được bồi dưỡng thêm về nhân cách, đặc biệt là tình yêu thương con người, biết yêu thương, biết sẻ chia. Hoạt động này khi tiến hành thường xuyên sẽ khai thác một cách triệt để nhằm phát triển tối đa nhân cách ở các em. Tổ chức các hoạt động lao động công ích: Đây là một loại hình đặc trưng của HĐNGLL. Thông qua lao động công ích sẽ giúp các em gắn bó với đời sống xã hội. Ngoài ra lao động công ích còn góp phần làm cho học sinh hiểu thêm về giá trị lao động, từ đó giúp các em có ý thức lao động lành mạnh. Lao động công ích giúp các em vận dụng kiến thức vào đời sống như: Trực nhật, vệ sinh lớp học, sân trường, làm đẹp bồn hoa, cây cảnh cho đẹp trường, lớp. Đây là hoạt 11

động tưởng như là thường xuyên nhưng thật ra trong nhà trường bây giờ HS rất ít được tham gia các hoạt động này. Nhưng đây là hoạt động thật sự cần thiết giúp các em thích nghi với cuộc sống xung quanh. Sau này dù có rơi vào hoàn cảnh khắc nghiệt nào thì các em vẫn có thể tồn tại được. Đó là nhờ các em biết lao động. Tổ chức hoạt động tiếp cận và sáng tạo khoa học – kĩ thuật: Đây là hoạt động giúp các em tiếp cận được những thành tựu khoa học – công nghệ tiên tiến và bước đầu sáng chế những máy móc, thiết bị từ những vật liệu tái chế. Thông qua hoạt động này, nhà trường đã tạo điều kiện cho các em làm quen với việc nghiên cứu khoa học, tạo cho các em sự say mê, tìm tòi, kích thích học tập tốt hơn đồng thời hình thành ở các em đức tính cần, kiệm và kỹ năng tự khẳng định mình. 3. Hiệu quả đạt được sau khi cải tiến: Kiểm tra đánh giá chất lượng của các hoạt động ngoài giờ lên lớp được tiến hành thông qua phiếu điều tra, qua tiếp xúc với học sinh, qua bài kiểm tra trắc nghiệm nhằm đánh giá đúng thực trạng, chất lượng từ đó có sự chỉ đạo điều chỉnh chương trình giảng dạy cho thiết thực và hiệu quả. Cụ thể như sau: Tinh thần và thái độ học tập của học sinh được nâng lên rõ rệt . Qua các giờ học, học sinh tự tin hơn, năng động hơn, hào hứng sôi nổi mạnh dạn phát biểu ý kiến, chủ động đề xuất các phương án giải quyết bài tập. Các em thực sự hứng thú với các môn học, chủ động, tự giác học tập. Đặc biệt đã bắt đầu hình thành nhóm học sinh tập nghiên cứu khoa học, tự làm những thiết bị máy móc từ những nguyên liệu tái chế, tự thiết kế và lắp đặt mô hình … Trong các tiết sinh hoạt dưới cờ, sinh hoạt lớp, hoạt động NGLL…các em có thể tự quản và tổ chức các hoạt động rất sinh động, sáng tạo Các em học sinh biết cách giải quyết các mâu thuẫt và các xung đột phát sinh trong và ngoài nhà trường. Việc giao tiếp ứng xử văn hoá, văn minh. Các 12

em biết lựa chọn cho mình xu hướng thời trang phù hợp, tự tin khi giao tiếp với thầy cô và bạn bè. Việc thực hiện những nội quy, quy định của học sinh có những chuyển biến tích cực. Qua số liệu thống kê của BTV Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, hiện tượng học sinh thiếu ý thức, vô lễ với các thầy cô giáo không còn. Số lượng học sinh bỏ học, bỏ tiết đi đánh điện tử giảm đảng kể, đi học đúng giờ, ăn mặc đúng quy định, tích cực tham gia vào phong trào văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao, thi sáng tạo khoa học kỹ thuật, thi viết bài tìm hiểu về truyền thồng vẻ vang của dân tôc… do nhà trường và các cấp, các ngành tổ chức. Tình hình an ninh trật tự trong nhà trường được đảm bảo, cảnh quan môi trường xanh, sạch, đẹp. Đảm bảo hoàn thành các chỉ tiêu về giáo dục trí dục và đức dục góp phần đưa sự nghiệp giáo dục của nhà trường lên một tầm cao mới. IV. Kết luận và kiến nghị: 1. Kết luận: KNS là biểu hiện của hành vi, nhân cách đồng thời là yếu tố khẳng định chất lượng giáo dục theo tiêu chuẩn mới về sự trưởng thành của con người dưới tác động của môi trường sống và hoạt động giáo dục. KNS là mục tiêu, là nội dung quan trọng của chương trình giáo dục ở các cấp học đặc biệt là cấp THPT. Giáo dục KNS trong thời đại hiện nay là một nhiệm vụ quan trọng và cấp bách của hệ thống giáo dục quốc dân nói chung và của mỗi nhà trường nói riêng. Giáo dục KNS thông qua hoạt động NGLL chiếm vị trí quan trọng và là nền tảng thiết yếu để các em gia nhập vào đời sống xã hội. Thông qua hoạt động NGLL cần hình thành ở các em những kỹ năng cơ bản như: Xây dựng giá trị, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng đương đầu với những khó khăn, bất trắc, kỹ năng giải quyết các mâu thuẫn một cách tích cực, kỹ năng ra quyết định…Giáo dục KNS còn giúp cho các em có lối sống tích cực, hành vi tích cực phù hợp với mục tiêu phát triển nhân cách toàn diện. 13

Công tác quản lý hoạt động giáo dục KNS cho học sinh là một nhiệm vụ rất quan trong trong chiến lược phát triển giáo dục của trường THPT Gia Viễn A giai đoạn 2010 – 2024. Đồng thời cũng là một thách thức không nhỏ đối vời người làm công tác quản lý. Để hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh của nhà trường đạt chất lượng cao, thiết thực và hiệu quả thì việc xây dựng kế hoạch, chỉ đạo, tổ chức thực hiện, kiểm tra đánh giá phải diễn ra khoa học và thường xuyên. Giáo dục KNS cho học sinh là một trong những yếu tố quan trọng làm nên giá trị cốt lõi của nhà trường và của mỗi học sinh. 2. Kiến nghị: a. Bộ GD&ĐT: Bộ GD và ĐT cần sờm có những qui định về chương trình giáo dục kỹ năng sống cho học sinh các cấp học trong đó có câp THPT. Đây là cơ sở quan trọng để nhà trường chủ động lựa chọn hình thức tổ chức giáo dục KNS cho học sinh phù hợp với điều kiện thực tiễn của nhà trường b. Sở GD&ĐT Ninh Bình: Sở GD và ĐT Ninh Bình cần thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn ngắn hạn và hài hạn cho cán bộ, giáo viên chuyên trách hoạt động NGLL nhằm trang bị những kiến thức phục vụ cho quá trình giảng dạy. Xây dựng những mô hình điển hình về hoạt động NGLL và nhân rộng mô hình hay để triển khai đồng bộ ở nhiều đơn vị. Tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá rút kinh nghiệm ở các cơ sở, các đơn vị trực thuộc, c. BGH nhà trường: Nhà trường cần đầu tư cơ sở vật, nguồn kinh phí, nâng cấp, bổ sung trang thiết bị phục vụ cho việc tổ chức các chương trình ngoại khóa, các hoạt động tập thể. Công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá các hoạt động giáo dục NGLL diễn ra thường xuyên, nghiêm túc. Cử cán bộ, giáo viên chuyên trách tham dự các lớp 14

tập huấn do Sở GD và ĐT Ninh Bình, huyện đoàn Gia Viễn, tỉnh đoàn Ninh Bình tổ chức. Nâng cao nhận thức và ý thức của GV và học sinh khi tham gia vào các chương trình giáo dục KNS do nhà trường tổ chức

Gia Viễn, ngày 05 tháng 05 năm 2024 Người viết

Hà Thị Lan Hương

15

TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Tài liệu bồi dưỡng cán bộ quản lý trường THPT ( Học viện Quản lý giáo dục 2012) 2. Bộ môn kỹ năng sống ( tác giả Lê Lương Thuận) 3. ” Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trong phong trào ” xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” ( Tạp chí giáo dục số 214/2009 – tác giả Phan Thanh Vân) 4. ” Giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp” ( năm 2010- tác giả Phan Thanh Vân) 5. ” Kỹ năng sống và kỹ năng mềm là gì?” ( Tác giả Trần Đăng Khoa)

16

Một Số Biện Pháp Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Học Sinh Thông Qua Tiết Sinh Hoạt Dưới Cờ

Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua tiết sinh hoạt dưới sân cờ.

2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Nâng cao chất lượng giáo dục

3. Mô tả bản chất của sáng kiến:

3.1. Tình trạng giải pháp đã biết:

Trường tiểu học Thị trấn Kiên Lương 1 là một trường trọng điểm nằm ở vị trí trung tâm Thị trấn Kiên Lương, được đầu tư cơ sở vật chất khá khang trang. Chính vì thế mọi hoạt động của trường cần phải đạt hiệu quả nổi bậc, tạo niềm tin cho phụ huynh, xây dựng thương hiệu, khẳng định vị thế là một trường trọng điểm có chất lượng cao về giảng dạy và giáo dục. Ngoài việc dạy và học, hoạt động Đội cũng giáo dục đạo đức, rèn kỹ năng sống cho các em thông qua các tiết sinh hoạt dưới sân cờ giúp cho học sinh tự rèn luyện, tự hoàn thiện mình và hình thành nhân cách cho các em.

Khi chưa lồng ghép, áp dụng giáo dục kỹ năng sống dưới sân cờ cho học sinh, các tiết sinh hoạt dưới cờ thường là tuyên truyền về các ngày lễ, về các dịch bệnh và nêu những nhận xét về hoạt động của các em trong tuần qua, đề ra phương hướng cho tuần tới mà như thế thì tiết sinh hoạt rất lắng không sôi nổi không có tác dụng giáo dục đạo đức cho các em nhiều.

Về phía gia đình, phụ huynh chỉ quan tâm đến điểm số, kiến thức chưa chú trọng đến việc rèn kỹ năng sống cho con từ đó các em hạn chế về khả năng tự học, tự tìm tòi và đặc biệt là các kỹ năng giải quyết mâu thuẫn, đề kháng cám dỗ, thích nghi, thoát hiểm. Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, tôi mạnh dạn đưa ra đề tài: “Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua tiết sinh hoạt dưới sân cờ”.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc MÔ TẢ SÁNG KIẾN Mã số: . 1. Tên sáng kiến: Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua tiết sinh hoạt dưới sân cờ. 2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Nâng cao chất lượng giáo dục 3. Mô tả bản chất của sáng kiến: 3.1. Tình trạng giải pháp đã biết: Trường tiểu học Thị trấn Kiên Lương 1 là một trường trọng điểm nằm ở vị trí trung tâm Thị trấn Kiên Lương, được đầu tư cơ sở vật chất khá khang trang. Chính vì thế mọi hoạt động của trường cần phải đạt hiệu quả nổi bậc, tạo niềm tin cho phụ huynh, xây dựng thương hiệu, khẳng định vị thế là một trường trọng điểm có chất lượng cao về giảng dạy và giáo dục. Ngoài việc dạy và học, hoạt động Đội cũng giáo dục đạo đức, rèn kỹ năng sống cho các em thông qua các tiết sinh hoạt dưới sân cờ giúp cho học sinh tự rèn luyện, tự hoàn thiện mình và hình thành nhân cách cho các em. Khi chưa lồng ghép, áp dụng giáo dục kỹ năng sống dưới sân cờ cho học sinh, các tiết sinh hoạt dưới cờ thường là tuyên truyền về các ngày lễ, về các dịch bệnh và nêu những nhận xét về hoạt động của các em trong tuần qua, đề ra phương hướng cho tuần tới mà như thế thì tiết sinh hoạt rất lắng không sôi nổi không có tác dụng giáo dục đạo đức cho các em nhiều. Về phía gia đình, phụ huynh chỉ quan tâm đến điểm số, kiến thức chưa chú trọng đến việc rèn kỹ năng sống cho con từ đó các em hạn chế về khả năng tự học, tự tìm tòi và đặc biệt là các kỹ năng giải quyết mâu thuẫn, đề kháng cám dỗ, thích nghi, thoát hiểm... Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, tôi mạnh dạn đưa ra đề tài: "Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua tiết sinh hoạt dưới sân cờ". 3.2. Nội dung giải pháp đề nghị công nhận: 3.2.1. Mục đích của giải pháp: Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua tiết sinh hoạt dưới sân cờ là xây dựng cho các em các mối quan hệ phong phú, đa dạng, một cách có mục đích, có kế hoạch có nội dung và phương pháp nhất định, gắn giáo dục với cộng đồng và tạo sự thân thiện trong mọi tình huống. Các hoạt động giáo dục kỹ năng sống là rất cần thiết cho học sinh, giúp học sinh biết cách làm chủ bản thân, thích ứng và biết cách ứng phó trước những tình huống khó khăn trong cuộc sống và để góp phần nâng cao giáo dục toàn diện. 3.2.2: Nội dung của giải pháp: Các bước thực hiện giải pháp mới: a. Nhận thức sâu sắc về việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh: Giáo dục kỹ năng sống bắt đầu từ những việc nhỏ nhất, gần gũi với cuộc sống hằng ngày của các em để tạo cho các em một thói quen, một hành động, một cử chỉ tốt, với những câu từ đơn giản, dễ hiểu, phù hợp với tâm lý lứa tuổi của từng bậc học. Giáo dục kỹ năng sống tuyệt đối không áp đặt suy nghĩ chủ quan của người lớn. b. Xây dựng và triển khai kế hoạch: Từ tình hình thực tế tôi nghĩ nếu các em có khả năng giao tiếp tốt sẽ tạo điều kiện cho các em học tốt các môn học cũng như tham gia các hoạt động do Liên đội tổ chức. Tôi đã lên kế hoạch và tham mưu với Ban Giám Hiệu trong tiết sinh hoạt dưới sân cờ ở mỗi tuần sẽ lồng ghép với giáo dục kỹ năng sống cho các em nhằm tạo cho các em có một số kỹ năng cơ bản trong đời sống và biết được những nhiệm vụ cũng như công việc mà bản thân các em có thể giúp đỡ cha mẹ, bạn bè,... rèn luyện cho các em tinh thần đoàn kết, khả năng làm việc nhóm, mạnh dạn trước tập thể. c. Cụ thể hóa nội dung của những kỹ năng cơ bản cần giáo dục cho học sinh: Rèn luyện thói quen "Chu toàn bổn phận trong vui vẻ": Qua nội dung này các em sẽ biết làm những việc như: giúp đỡ cha mẹ, hòa thuận yêu thương tôn trọng anh chị,... học hành chăm chỉ, ngoan ngoãn lễ phép, kính trọng, vâng lời thầy cô, có ý thức bảo quản tài sản, giữ gìn vệ sinh trường lớp, tuân thủ nội quy nhà trường,... Rèn luyện văn hóa ứng xử nơi học đường: Giúp các em hiểu thế nào là văn hóa ứng xử nơi học đường, những yếu tố cấu thành văn hóa ứng xử nơi học đường, giá trị ứng xử, những biểu hiện thiếu văn hóa nơi học đường, qua đó giáo dục các em có ý thức hơn trong giao tiếp xã hội từ lời nói, thái độ, cử chỉ,... Rèn luyện ý thức về nhu cầu bản thân và tự chăm sóc bản thân: Qua hoạt động này giúp các em nhận thức về bản thân, biết những mặt tích cực, những mặt hạn chế, những mong đợi của chính mình, biết những điều cần thiết để tự chăm sóc bản thân từ việc ăn uống vui chơi đến giao tiếp với mọi người, tự trau dồi đạo đức. Rèn luyện cách ứng phó với tình trạng bị bắt nạt nơi học đường: Khi bị bắt nạt các em sẽ tổn thương về thể xác và tinh thần,... do đó ta cần giúp các em vượt qua những nỗi sợ để an tâm học tập như: hòa đồng với mọi người, có thái độ dứt khoát với những yêu cầu phi lý của bạn hoặc tìm thầy cô bạn bè để giúp đỡ, bên cạnh đó giáo dục cho các em không nên hùa vào cùng với các bạn hoặc không nên im lặng làm ngơ trước sự bắt nạt của các bạn. Rèn luyện đức tính trung thực: Qua các hoạt động giúp các em hiểu được giá trị của đức tính trung thực, có đức tính trung thực từ việc nhỏ đến việc lớn, biết nói thật, biết trung thực với chính mình sau nữa là trung thực trong các mối quan hệ với thầy cô, bạn bè, cha mẹ,...từ đó giáo dục các em yêu quý đức tính trung thực nhất là trung thực trong học tập, thực hiện tốt mùa thi nghiêm túc: thi thực chất, không gian lận trong thi cử,... d. Giúp học sinh phát triển các kĩ năng sống qua việc tổ chức các hoạt động tập thể vui tươi, lành mạnh trong nhà trường: Phối hợp với chính quyền nhà trường tổ chức các hoạt động văn nghệ, thể thao một cách thiết thực, khuyến khích sự tham gia chủ động, tự giác của học sinh. Xây dựng kế hoạch và thực hiện nhiều hoạt động một cách thiết thực, khuyến khích sự tham gia chủ động, tự giác của học sinh. Duy trì việc sinh hoạt ngoài giờ lên lớp theo chủ điểm để học sinh được học được chơi để rèn sự tự tin, kĩ năng trình bày lưu loát và kĩ năng nói chuyện trước đám đông cho học sinh. Qua đó rèn cho học sinh kĩ năng ứng xử với bạn bè, xây dựng tinh thần đoàn kết tốt, kỹ năng lắng nghe, kỹ năng hợp tác, kỹ năng quyết định, biết kiềm chế bản thân trong khi xử lí các tình huống với bạn bè. Bên cạnh đó thực hiện lồng ghép và tích hợp các nội dung giáo dục kỹ năng sống vào các môn học có ưu thế và các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp của nhà trường. Để rèn luyện cách tư duy tích cực, hình thành thói quen tốt thông qua các hoạt động và bài tập trải nghiệm, chứ không đặt mục đích "rèn nếp" hay "nghe lời". f. Phối hợp thực hiện: Vì đây là một nội dung khá mới ở trường chúng tôi nhất là trong tiết sinh hoạt dưới cờ, vì thế để chuẩn bị tốt cho các kỹ năng để giáo dục học sinh được nêu trên tôi đã tham mưu với Ban Giám hiệu, kết hợp với các đoàn thể trong nhà trường để hỗ trợ cho tôi chuẩn bị các nội dung như tranh ảnh, áp phích, các câu ca dao tục ngữ hay tiếp trong việc tập dợt các tiểu phẩm, sắm vai, tập hát, làm hoa để gắn hoa việc tốt, hoa yêu thương,... 3.3. Khả năng áp dụng của giải pháp: Giải pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh của tôi nêu ra đã áp dụng thành công tại Liên đội trường tiểu học Thị trấn Kiên Lương 1. Ngoài ra giải pháp có thể nhân rộng với các Liên đội của các trường trong huyện, tỉnh. 3.4. Hiệu quả, lợi ích thu được: Sau khi thực hiện giáo dục kỹ năng sống dưới sân cờ, các em đã ham thích tiết sinh hoạt dưới cờ, nói chuyện rõ ràng, tự tin, sôi nổi hơn. Ở lớp các em đoàn kết chan hòa, vui vẻ, cởi mở trong giao tiếp. Có ý thức giữ gìn vệ sinh cá nhân sạch sẽ, biết giữ gìn đồ dùng học tập, sắp xếp sách vở gọn gàng, ngăn nắp, biết quý trọng mọi người trong gia đình, đoàn kết giúp đỡ bạn bè, đã biết cám ơn và xin lỗi, có ý thức chắm sóc bảo vệ cây xanh, bảo vệ môi trường, biết giúp đỡ các bạn,... Qua một năm áp dụng, các em đã có sự tiến bộ rõ rệt ở từng kỹ năng và được thể hiện qua bảng so sánh sau: Nội dung TSHS Năm học 2024 - 2024 Đầu năm Cuối năm So sánh % tốt tăng T % Đ % T % Đ % Kỹ năng chu toàn bổn phận trong vui vẻ 1293 932 72,1 361 27,9 1087 84,1 206 21,8 Tăng 12 % Kỹ năng văn hóa ứng xử nơi học đường 1293 1088 84,1 205 15,9 1197 92,6 96 7,4 Tăng 8,5% Kỹ năng ý thức về nhu cầu bản thân và tự chăm sóc bản thân 1293 993 76,7 300 23,3 1137 87,9 156 12,1 Tăng 11,2% Kỹ năng ứng phó với tình trạng bị bắt nạt nơi học đường 1293 842 65,1 451 34,9 1097 84,8 196 12,2 Tăng 19,7% Kỹ năng rèn luyện đức tính trung thực 1293 1016 78,6 277 21,4 1195 92,4 98 7,6 Tăng 13,8% 3.5.Tài liệu kèm theo gồm: (10 chuyên đề Giáo dục kỹ năng sống dưới cờ - NXB Văn Hóa - Thông tin). Kiên Lương, ngày 7 tháng 5 năm 2024 Người mô tả

Cập nhật thông tin chi tiết về Skkn Một Số Biện Pháp Giáo Dục Kỹ Năng Sống Qua Trò Chơi Cho Học Sinh Trường Thcs Luận Thành trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!