Xu Hướng 2/2023 # Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Toàn Diện Trong Trương Tiểu Học # Top 6 View | Phauthuatthankinh.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Toàn Diện Trong Trương Tiểu Học # Top 6 View

Bạn đang xem bài viết Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Toàn Diện Trong Trương Tiểu Học được cập nhật mới nhất trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

TRƯỜNG TIỂU HỌC TRIỆU LỘC ——***—— SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC TOÀN DIỆN TRONG TRƯƠNG TIỂU HỌC Người thực hiện: Trịnh Văn Thường Chức vụ: Hiệu trưởng Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Triệu Lộc SKKN thuộc lĩnh vực: Quản lý giáo dục HẬU LỘC NĂM 2018 MỤC LỤC TT Nội dung Trang 1 I. Phần mở đầu 1 2 1. Lí do chọn đề tài: 1 3 2. Mục đích nghiên cứu: 2 4 3. Đối tượng nghiên cứu: 2 5 4.Phương pháp nghiên cứu: 2 6 5. Những điểm mới 2 7 II. Phần nội dung 3 8 1. Cơ sở lý luận 3 9 2. Thực trạng địa phương – Nhà trường 4 – 5 10 3. Biện pháp thực hiện 6 – 16 11 4. Hiệu quả : 17 12 III. Kết luận và kiến nghị 18 13 1. Kết luận 18 14 2. Kết luận – kiến nghị 18 I. MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài. Giáo dục và Đào tạo có một ý nghĩa rất quan trọng trong việc bồi dưỡng con người phát triển toàn diện (Đạo đức – Trí tuệ – Thể chất – Thẩm mỹ). Nó là con đường cơ bản nhất để hình thành nhân cách người lao động nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Nghị quyết số 29 – NQ/TW ngày 4 tháng 11 năm 2013 Hội nghị Trung ương 8 ( Khóa XI) về Đổi mới căn bản toàn diện giáo dục. Mục tiêu đối với giáo dục phổ thông: “Tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời. Hoàn thành việc xây dựng chương trình giáo dục phổ thông giai đoạn sau năm 2015”. Bậc tiểu học được coi là nền tảng của hệ thống giáo dục phổ thông. Chất lượng giáo dục phổ thông còn phụ thuộc nhiều vào kết quả giáo dục của bậc học, do đó yêu cầu giáo dục tiểu học phải làm sao để có kết quả và chất lượng tốt nhất. Để đạt được điều đó một trong những giải pháp của ngành đã đề ra là “Tiếp tục đổi mới Nội dung – Phương pháp giáo dục, tăng cường cơ sở vật chất – Thiết bị dạy học, xây dựng môi trường giáo dục an toàn – thân thiện, đồng thời giáo dục kỹ năng sống, giá trị sống cho học sinh trong các trường học ”. Để thực hiện được mục tiêu của bậc học và nhiệm vụ trọng tâm của các năm học đề ra, đòi hỏi mỗi cán bộ làm công tác quản lý trường học phải nhiệt tình và thể hiện lương tâm trách nhiệm trước công việc; thật sự năng động, sáng tạo, có năng lực, dám nghĩ, dám làm để cải tiến phương pháp quản lý, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục. Nhận thức rõ nhiệm vụ: Muốn nâng cao được chất lượng giáo dục của nhà trường lên một bước tiến mới cần tập trung đổi mới phương pháp “ Bồi dưỡng đội ngũ về phẩm chất đạo đức, ý thức trách nhiệm và nghiệp vụ chuyên môn. Đổi mới công tác tham mưu về công tác xã hội hóa giáo dục nhằm huy động mọi nguồn lực xây dựng cơ sở vật chất, thư viện thiết bị đáp ứng các tiêu chuẩn trường Tiểu học đạt chuẩn Quốc gia mức độ II. Nâng cao chất lượng giáo dục kỹ năng sống cho học sinh giúp các em rèn luyện hành vi có trách nhiệm đối với bản thân, gia đình, cộng đồng và Tổ quốc; có khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống trong cuộc sống. Xuất phát từ nhận thức về “vị trí giáo dục của Đảng ta trong thời kỳ công nghiệp hóa – Hiện đại hóa đất nước”. Với trách nhiệm là Hiệu trưởng nhà trường, đứng trước tình hình thực tế về cơ sở vật chất, chất lượng giáo dục của nhà trường còn gặp nhiều khó khăn và yếu kém. Tôi đã suy nghĩ và tìm hiểu thực trạng, nguyên nhân yếu kém; tập trung nghiên cứu, tìm giải pháp và tổ chức thực hiện trong hai năm học 2016 – 2017 và 2017 – 2018 góp phần tích cực nâng cao hiệu quả giáo dục của nhà trường. 2. Mục đích nghiên cứu: – Tham mưu với lãnh đạo địa phương đầu tư xây dựng cơ sở vật chất trường học đảm bảo cơ sở vật chất phục vụ công tác dạy và học – Phối hợp chặt chẽ với các tổ chức đoàn thể xã hội, Hội cha mẹ học sinh xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, đồng thời tăng cường giáo dục kỹ năng sống, giá trị sống cho học sinh. – Bồi dưỡng đội ngũ giáo viên nâng cao tinh thần trách nhiệm trong công tác, tích cực tự học tự bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ đáp ứng với yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông. 3. Đối tượng nghiên cứu: – Nghiên cứu về vị trí địa lý, tình hình phát triển kinh tế, trật tự an toàn xã hội tại địa phương xã Triệu Lộc. – Nghiên cứu nội dung chương trình, các văn bản chỉ đạo của các cấp về giáo dục bậc Tiểu học. – Nghiên cứu đội ngũ giáo viên – Học sinh trường Tiểu học. 4. Phương pháp nghiên cứu: – Phương pháp quan sát, khảo sát thực tế về tình hình cơ sở vật chất trang thiết bị dạy và học trong nhà trường. – Quan sát, khảo sát thực tế trật tự an toàn xã hội tại địa phương xã Triệu Lộc. – Quan sát, khảo sát chất lượng dạy và học trên lớp và các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp. – Phương pháp phân tích tổng hợp, thuyết trình tranh luận. – Phương pháp tổ chức nghiệm thu, so sánh đối chứng tổng hợp. 5. Điểm mới trong công tác nghiên cứu: – Thu hút, huy động nhiều lực lượng trong và ngoài nhà trường cùng tham gia các hoạt động nhằm nâng cao chất lượng giáo dục. – Vai trò giáo dục giá trị sống, rèn luyện kỹ năng sống trong các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, hoạt động trải nghiệm. – Từng bước làm thay đổi quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục rèn luyện của học sinh. II. NỘI DUNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN. Mục tiêu của giáo dục tiểu học là hình thành cho học sinh cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về tình cảm, trí tuệ, thể chất , thẫm mỹ và các kĩ năng cơ bản để tiếp tục học trung học cơ sở. Vì kết thúc quá trình học tập của bậc học, học sinh tiểu học phải đạt được những chuẩn kiến thức, kĩ năng cơ bản. Vì vậy quản lý mục tiêu giáo dục là sự phối hợp điều khiển các tác động có chủ định vào đối tượng giáo dục (học sinh) để các khía cạnh của mục tiêu giáo dục được thực hiện một cách đồng bộ. Cùng với xu thế thế giới đang có sự thay đổi sâu sắc về mọi mặt khoa học, kỹ thuật, công nghệ thông tin phát triển như vũ bảo, tác động đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Một số các chuẩn mực đạo đức, quy tắc ứng xử, quy tắc sống cũng bị ảnh hưởng, đặc biệt là thế hệ trẻ, các em dể dàng học theo, bắt trước một số thói hư tật xấu du nhập từ bên ngoài. Vì vậy giáo dục kỹ năng sông cho học sinh tiểu học là một yêu cầu cần thiết đã và đang được triển khai trong các nhà trường. Giáo dục kỹ năng sống cần trang bị cho học sinh những kỹ năng thiết yếu như ý thức về bản thân, làm chủ bản thân, đồng cảm, tôn trọng người khác, biết cách hợp tác và giải quyết hợp lý các tình huống trong cuộc sống. Công tác quản lý trường tiểu học có nhiệm vụ rất quan trọng trong công tác xây dựng kế hoạch và thực hiện kế hoạch đạt kết quả cao. Để nâng cao được chất lượng trong nhà trường, đòi hỏi đội ngũ cán bộ quản lý phải luôn nhiệt tình, sáng tạo đề ra những giải pháp tích cực, kịp thời, phù hợp với điều kiện thực tế của nhà trường và địa phương. Cán bộ quản lý, đứng đầu là người Hiệu trưởng phải làm tốt công tác tham mưu với lãnh đạo địa phương, với lãnh đạo phòng Giáo dục và Đào tạo, phối hợp chặt chẽ với các tổ chức chính trị xã hội; tranh thủ mọi nguồn lực tập trung xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy và học; đẩy mạnh phong trào xã hội hóa giáo dục và công tác bồi dưỡng đội ngũ giáo viên. Bởi có điều kiện tốt về cơ sở vật chất, trang thiết bị, tài liệu nghiên cứu và môi trường giáo dục lành mạnh thân thiện; thu hút được nhiều lực lượng xã hội cùng tham gia làm công tác giáo dục; kích thích được đội ngũ giáo viên trong nhà trường dành nhiều tâm huyết, sáng tạo trong giảng dạy sẽ tạo những động lực tích cực để nhà trường nâng cao chất lượng giáo dục. Để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong mỗi năm học, đội ngũ cán bộ quản lý phải bám sát vào nhiệm vụ trọng tâm của năm học. Tổ chức triển khai sâu sắc các văn bản chỉ đạo của Đảng – Nhà nước và của Ngành đến toàn thể cán bộ giáo viên, giúp giáo viên nhận thức đúng và đầy đủ nhiệm vụ năm học. Đề ra phương hướng mục tiêu, xây dựng kế hoạch sát với điều kiện thực tế của nhà trường; huy động các nguồn lực sẵn có ( Nhân lực, vật lực, tài lực….) để tổ chức thực hiện các giải pháp đạt kết quả cao theo kế hoạch đề ra. Phát động sâu rộng các phong trào thi đua, tổ chức sơ kết nhân rộng những điển hình tiên tiến. 2. THỰC TRẠNG ĐỊA PHƯƠNG VÀ NHÀ TRƯỜNG. Thực tế ở địa phương Triệu Lộc – Hậu Lộc trong những năm gần đây cùng với sự phát triển chung của đất nước cũng đã có những bước khởi sắc về phát triển kinh tế. Cùng với những mặt mạnh của phát triển kinh tế, xã hội ở địa phương cũng đã xuất hiện một số tụ điểm chơi Gemas và một số tai tệ nạn xã hội khác. Một bộ phận nhỏ học sinh đã tham gia vào các trò chơi vô ích, dẫn đến nghỉ học vô lý do, không chịu khó học tập, kết quả học tập sa sút. Là một địa phương có đường quốc lộ 1A và đường sắt Bắc – Nam chạy qua, có diện tích đồi 357 ha/ 912,8 ha chiếm 39,1 % tổng diện tích chung của xã nên có diện tích trồng rừng lớn và các hồ nước nằm sâu trong các thung lũng núi bao quanh, có khu di tích lịch sử Quốc gia ( Đền Bà Triệu). Khu vực thị tứ Quán Dốc là đầu mối luôn trung chuyển lưu thông hàng hóa nông, lâm, thủy sản của huyện đi các tỉnh trong nước và biên giới Trung Quốc; có đồi núi, rừng cây và một số hồ nước nằn khuất sâu trong các thung lũng và đặc biệt từ năm 2017 lưu lượng phương tiện tham gia giao thông rất đông do công nhân đi làm tại nhà máy may xã Châu Lộc trùng với thời gian học sinh đến trường nên đã có một số trường hợp đã bị va quệt khi tham gia giao thông. 2.1. Cơ sở vật chất nhà trường: – Cuối tháng 8 năm 2016 tôi được phân công công tác tại trường Tiểu học Triệu Lộc. Thực tế cơ sở vật chất nhiều hạng mục đã xuống cấp: Hệ thống chiếu sáng, quạt mát, bàn ghế học sinh, bảng biểu trong các phòng học đã bị hư hỏng nhiều; sách trong thư viện và trang thiết bị đồ dùng dạy học còn thiếu và bị hư hỏng gây khó khăn trong việc đổi mới phương pháp dạy học và công tác quản lý chất lượng giáo dục của nhà trường. – Phòng thiết bị, đồ dùng dạy học còn sử dụng trong một phòng với diện tích 12 m2 rất khó khăn trong việc quản lý và sử dụng. – Hệ thống thoát nước trong khuôn viên nhà trường chưa có nên thường hay ngập úng về mùa mưa, các bồn cây trên sân trường đã bị long, nứt và đổ vỡ gây khó khăn tổ chức các hoạt động sinh hoạt tập thể và hoạt động ngoài giờ lên lớp. – Nhà để xe chưa đảm bảo diện tích và đã bị xuống cấp, hư hỏng phần mái che. 2.2.Về chất lượng đội ngũ: – Đội ngũ giáo viên thiếu về số lượng và cơ cấu bộ môn ( chưa có giáo viên Âm nhạc, Thể dục), đặc biệt một số giáo viên trong nhà trường luôn biến động do luân chuyển về thành phố Thanh Hóa nên phần nào không ổn định về tư tưởng để cống hiến lâu dài. Công tác bồi dưỡng đội ngũ về Đổi mới phương pháp dạy học – Ứng dụng CNTT, sử dụng ĐDDH còn bị xem nhẹ, công tác kiểm tra đánh giá chất lượng giáo dục chưa được quan tâm đúng mức. – Chất lượng đội ngũ giáo viên không đồng đều về nghiệp vụ chuyên môn, một số giáo viên chưa thực sự tâm huyết, say sưa với nghề nghiệp, còn lười suy nghĩ trong việc đổi mới phương pháp dạy học, chưa chịu khó sử dụng phương tiện thiết bị – Đồ dùng dạy học, việc ứng dụng CNTT trong công tác giảng dạy hiệu quả chưa cao, chưa phấn đấu vươn lên để trở thành giáo viên giỏi các cấp, lớp có chất lượng cao. 2.3. Công tác quản lý. – Công tác bồi dưỡng đội ngũ về chính trị tư tưởng chưa được thường xuyên, có một số giáo viên chưa vượt khó vươn lên, hay có tư tưởng ỷ lại. Công tác bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ còn mang nặng tính hình thức, chưa tập trung vào giải quyết những vấn đề khó trong quá trình ĐMPPDH. – Công tác kiểm tra đánh giá chất lượng đội ngũ giáo viên có biểu hiện xem nhẹ. Công tác nhận xét chữa bài của học sinh trên lớp chưa thường xuyên, việc phân loại đối tượng học sinh để có biện pháp bồi dưỡng học sinh năng khiếu, phụ đạo học sinh chưa hoàn thành chưa được chú trọng. – Công tác sinh hoạt chuyên môn chưa phát huy được tính sáng tạo, thiếu tập trung phân tích cấu trúc nội dung chương trình, nội dung bài học và phương pháp, hình thức dạy học. – Công tác giáo dục kỹ năng sống còn chưa được quan tâm đúng mức, nên kỹ năng ứng xử trong giao tiếp và kỹ năng xử lý các tình huống trong cuộc sống còn nhiều hạn chế. – Công tác thi đua khen thưởng còn bị xem nhẹ, chưa khơi dậy lòng nhiệt tình và sáng tạo của đội ngũ giáo viên trong điều kiện thực tại, chưa xây dựng được những cá nhân, tập thể điển hình tiên tiến. 2.4. Công tác xã hội hóa giáo dục. – Sự lãnh chỉ đạo của Cấp uỷ Đảng – Chính quyền địa phương đối với sự nghiệp giáo dục chưa phát huy được nội lực trong nhân dân, chưa tập hợp được nhiều lực lượng xã hội ở địa phương tham gia giáo dục. Công tác chỉ đạo thực hiện phổ cập giáo dục – xóa mù chữ chưa triệt để dẫn tới một số phụ huynh do nhận thức chưa đầy đủ nên buông lỏng nề nếp học tập của con em mình. – Do điều kiện kinh tế của nhiều gia đình học sinh còn gặp khó khăn. Một số phụ huynh đã đi làm ăn xa với thời gian dài, gửi con nhờ ông bà, cô, dì, chú, bác chăm hộ nên việc quan tâm, chăm sóc, quản lý học sinh tại gia đình còn nhiều bất cập. – Do mặt trái của nền kinh tế thị trường, tại địa phương đã xuất hiện nhiều tụ điểm chơi Gemas và một số tai tệ nạn khác…đã ảnh hưởng trực tiếp đến tư tưởng, thời gian học tập của học sinh. 2.5. Tổng hợp kết quả thực trạng: 2.5.1.Chất lượng giáo dục. Năm học HT CHT Xếp thứ HSG SL TL SL TL 2015 – 2016 296 99,3 2 0,7 30 2016 – 2017 295 100 0 26 2.5.2. Chất lượng đội ngũ giáo viên. Năm học TSGV Loại Giỏi Loại Khá Loại TB Loại Yếu SL TL SL TL SL TL SL TL 2015 – 2016 15 5 33,3 6 40,0 4 26,7 0 2016 – 2017 16 6 31,25 7 43,5 3 18,7 0 2.5.3. Cơ sở vật chất Năm học Tổng số lớp Tổng số phòng học Phòng chức năng 2016 – 2017 11 13 ( 2 phòng học đặc thù) 1 phòng truyền thống, 1 phòng TV, 1 kho TB 2017 – 2018 11 13 ( 2 phòng học đặc thù) 1 phòng truyền thống, 1 phòng TV, 1 kho TB. Từ thực tiễn ở nhà trường, điều kiện kinh tế và môi trường giáo dục tại địa phương. Tôi đã tập trung nghiên cứu “ Một số biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện trong trường tiểu học”. 3. CÁC BIỆN PHÁP TỔ CHỨC THỰC HIỆN 3.1 Biện pháp thứ nhất: Thực hiện tốt công tác tham mưu với cấp uỷ Đảng – Chính quyền địa phương. Trong hai năm học vừa qua, Tôi đã tập trung thực hiện kịp thời công tác tham mưu với cấp uỷ Đảng – Chính quyền địa phương, Phòng GD&ĐT Hậu Lộc về kế hoạch phát triển giáo dục của nhà trường. Trong quá trình tham mưu, tôi đã cụ thể hoá các Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng – Nhà nước và Ngành Giáo dục đã đề ra. Đó là: tu sửa cơ sở vật chất đảm bảo đủ phòng học, đủ bàn ghế để tất cả học sinh được học 2 buổi / ngày, xây dựng các phòng chức năng; đầu tư kinh phí mua sắm thiết bị – Đồ dùng dạy học; đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục và công tác thi đua khen thưởng. Để thực hiện đạt kết quả cao kế hoạch đã đề ra, Tôi đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền; phối hợp chặt chẽ với đài truyền thanh xã “viết” và “đưa” các tin bài về Chủ trương – Chính sách của Đảng, Nhà nước đối với sự nghiệp giáo dục trên hệ thống đài truyền thanh của xã, thôn xóm. Với nội dung: Thực hiện phổ cập giáo dục – xóa mù chữ; công tác “ Tu sửa cơ sở vật chất đảm bảo các tiêu chuẩn trường Tiểu học đạt chuẩn Quốc gia mức độ II, phong trào thi đua: “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”; phong trào xã hội hóa giáo dục….. Nhằm giúp nhân dân nhận thức đúng vị trí, vai trò giáo dục trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước. Từ công tác tuyên truyền và tổ chức Chuyên đề, tổ chức Hội thảo đã có sức lan tỏa lớn trong quần chúng nhân dân. Vì vậy trong 2 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Cấp ủy – Chính quyền địa phương và sự tham gia đóng góp của cha mẹ học sinh, cơ sở vật chất của nhà trường từng bước đã được cải thiện. Tháng 9 – 10 năm 2016 đã tu sửa bàn ghế học sinh, hệ thống chiếu sáng trên các phòng học cao tầng đảm bảo đủ bàn ghế, ánh sáng để tổ chức học 2 buổi / ngày. Tháng 3/2017 Ủy ban nhân dân xã và Hội cha mẹ học sinh đã tập trung xây dựng hệ thống thoát nước và khuôn viên trường học theo hướng xanh, sạch, đẹp. Tháng 8 năm 2017 Hội cha mẹ học sinh đã xây dựng nhà để xe cho cán bộ giáo viên và học sinh với diện tích 167 m2. Tổng kinh phí đầu tư xây dựng và tu sửa cơ sở vật chất gần 135.000.000 đồng. Than mưu tích cực với lãnh đạo địa phương về xây dựng “Quy ước” phối hợp giữa các lực lượng đoàn thể xã hội, Cấp ủy chi bộ các thôn với nhà trường. Tổ chức hội nghị “Chuyên đề” về phát triển sự nghiệp giáo dục một lần/ năm nhằm đánh giá chất lượng giáo dục một cách sâu sắc. Gắn vai trò trách nhiệm giữa Nhà trường – Thôn xóm và các tổ chức đoàn thể xã hội về phong trào giáo dục chung của xã nhà. Thông báo kết quả học tập của học sinh về cấp ủy thôn để biểu dương kịp thời những gương học tốt nhân rộng điển hình; đồng thời có biện pháp phối hợp cùng nhà trường giúp đỡ học sinh gặp khó khăn. 3.2 Biện pháp thứ hai : Bồi dưỡng đội ngũ giáo viên. 3.2.1. Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên trong việc “Đổi mới phương pháp dạy học”. Đội ngũ giáo viên có vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục. Để nâng cao được chất lượng đội ngũ của nhà trường, tôi đã tổ chức “Hội thảo” đánh giá thực trạng đội ngũ về phẩm chất đạo đức lối sống, lương tâm nghề nghiệp, ý thức trách nhiệm, tinh thần vượt khó và chuyên môn nghiệp vụ. Trao đổi đánh giá khách quan, chính xác về hiệu quả công tác của mỗi giáo viên. Phân tích làm rõ những ưu điểm và những tồn tại hạn chế, giúp giáo viên nhận thức đúng, có ý thức phấn đấu vươn lên trong công tác. Đồng thời tổ chức “Hội thảo” áp dụng những sáng kiến kinh nghiệm hay, phù hợp với nhà trường với đối tượng học sinh như: Sáng kiến kinh nghiệm tự làm và sử dụng ĐDDH hiệu quả của cô giáo Vũ Thị Xuân; kinh nghiệm Ứng dụng CNTT trong các giờ học của thầy giáo Lê Trong Long; kinh nghiệm về ĐMPPDH nhằm phân hóa đối tượng học sinh để bồi dưỡng năng khiếu, phụ đạo học sinh chưa hoàn thành của cô giáo Nguyễn Thị Bích; kinh nghiệm xây dựng nề nếp và tổ chức các tiết sinh hoạt tập thể, tổ chức HĐNGLL của cô giáo Hoàng Thị Hạnh (GV – TPTĐ). Thông qua hội thảo mỗi giáo viên đã nhận thức đúng và đầy đủ hơn về mục tiêu giáo dục của bậc học và chủ trương đổi

Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Sinh Thcs

Để nâng cao chất lượng bộ môn Sinh học THCS bạn có thể áp dụng những thay đổi trong công tác giảng dạy như sau để tạo sự hứng thú cho học sinh của mình. giúp cho bài giảng có được hay, thu hút hơn và đem lại những kết quả tốt nhất.

Thay đổi cách kiểm tra bài cũ

Thông thường, phần kiểm tra bài cũ được giáo viên tiến hành ở đầu giờ. Đây là việc làm theo đúng tiến trình dạy học.Tuy nhiên, sự lặp đi lặp lại cách làm đó sẽ khiến học sinh nhàm chán, đôi khi gây áp lực, tạo sự căng thẳng cho học sinh trong suốt tiết học hôm đó. Theo tôi giáo viên có thể lồng ghép các câu hỏi kiểm tra kiến thức đã học trong quá trình dạy bài mới để làm giảm bớt đi sự căng thẳng không đáng có.

Ví dụ : Khi dạy mục I bài 29. Hấp thụ chất dinh dưỡng và thải phân , giáo viên có thể treo tranh phóng to về Cấu tạo trong của ruột non. Sau đó yêu cầu học sinh nhắc lại cấu tạo của ruột non phù hợp với chức năng tiêu hóa; kiểm tra kiến thức của học sinh về cấu tạo của ruột non, sau đó nhận xét và cho điểm.

Thay đổi cách đặt vấn đề vào bài mới

Trong một giờ học, nếu ngay từ phần vào bài giáo viên đã tạo ra sự hứng thú cho học sinh, chắc chắn trong những phút tiếp theo, các em sẽ hào hứng hơn với những hoạt động do giáo viên tổ chức.

Do đó phần vào bài có vai trò quan trọng đến hoạt động dạy cũng như kích thích quá trình tiếp thu kiến thức của học sinh trong một tiết dạy.

Kinh nghiệm của tôi để có cách dẫn dắt vào bài mới hấp dẫn hơn là: Mở đầu bằng một câu chuyện vui; mở đầu bằng một đoạn phim hay hình ảnh; hay mở đầu bằng một câu chuyện li kì, hấp dẫn…

Một điều cần lưu ý là: đặt vấn đề hay góp phần làm tăng tính hấp dẫn cho bài học, tạo hứng thú cũng như làm cho không khí học tập trở nên thoải mái hơn. Tuy nhiên, giáo viên cũng cần chú ý đến thời gian cho phần vào bài để tránh ảnh hưởng đến thời lượng dành cho bài mới.

Thay đổi cách giao tiếp

Trong hoạt động dạy học luôn đòi hỏi sự tương tác qua lại thường xuyên giữa thầy và trò. Một trong những điều kiện để học sinh có thể học sâu là các em phải có cảm giác thoải mái.

Trong quá trình giao tiếp với học sinh, giáo viên cần có thái độ nhẹ nhàng, vui vẻ, tạo cho học sinh cảm giác được yêu thương, nhưng khi cần vẫn phải nghiêm khắc để học sinh hiểu được giới hạn của sự thoải mái. Vì nếu quá dễ dãi, học sinh không kính nể sẽ rất khó dạy; quá nghiêm khắc, học sinh sẽ bị ức chế khó tiếp thu bài học.

Hơn ai hết, giáo viên phải nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên đối với công tác giáo dục. Khi cảm thấy mình được tôn trọng có nghĩa là các em sẽ thêm phần tự tin vào bản thân mình, sẽ đáp lại bằng thái độ tôn trọng, yêu quý đối với thầy cô, nhờ đó mà cũng sẽ yêu thích hơn bộ môn những thầy cô giáo đó đang giảng dạy.

Bên cạnh đó, người giáo viên cũng cần quan tâm đến những học sinh chậm tiến của lớp, quan tâm nhắc nhở các em học bài và chỉ cách học bài cho học sinh; kịp thời khen ngợi khi học sinh tiến bộ.

Ví dụ, có em học sinh chậm tiến lần thứ nhất kiểm tra bài cũ chỉ được 3 điểm, nhưng lần thứ hai được 5 điểm, giáo viên cần khen ngợi để học sinh cảm thấy mình có tiến bộ, từ đó sẽ cố gắng nhiều hơn.

Đổi mới cách thức soạn bài và thiết kế các hoạt động dạy học

Trước hết, giáo viên cần nghiên cứu kĩ nội dung của bài học trong sách giáo khoa, kết hợp nghiên cứu những tài liệu tham khảo khác như sách giáo viên, sách giải bài tập sinh học, chuẩn kiến thức kĩ năng,… để chỉ ra được mục tiêu chính là những yêu cầu về kiến thức, kĩ năng và thái độ cần hướng học sinh tìm hiểu và đạt được.

Tiếp theo, giáo viên xác định số lượng hoạt động, hình thức tổ chức và nội dung các hoạt động nhằm đạt được các mục tiêu ở trên.

Tuy nhiên, để hướng đến sự thích thú, say mê của học sinh với mỗi hoạt động đó thì giáo viên cần lựa chọn cách tổ chức phù hợp nhất, làm sao để học sinh phát huy tối đa khả năng và hiểu biết của bản thân, đồng thời có sự liên kết chặt chẽ với tập thể.

Trong quá trình thiết kế, giáo viên nên có sẵn những dự kiến và phương án giải quyết cho những tình huống không theo ý muốn có thể xảy ra để có thể chủ động điều chỉnh nhằm tránh sự lúng túng, kéo dài thời gian, thậm chí là không đạt được các mục tiêu đã đề ra.

Chuẩn bị đồ dùng dạy học chu đáo cho các tiết dạy

Trong quá trình tổ chức các hoạt động dạy học, giáo viên không thể bỏ qua vai trò của các đồ dùng, phương tiện dạy học. Việc lựa chọn được những đồ dùng phù hợp và có chất lượng không chỉ làm tăng hiệu quả của việc khai thác, phát hiện kiến thức mà còn tạo ra sự thích thú cho học sinh.

Trong nhiều trường hợp, giáo viên có thể giao nhiệm vụ cho học sinh chuẩn bị những đồ dùng nhất định. Khi được tự chuẩn bị, học sinh sẽ phải nghiên cứu tài liệu để hiểu về vấn đề được giao tức là các em đã được học tập thêm một lần nữa.

Ví dụ: Khi sử dụng tranh vẽ “Thí nghiệm về hoạt động của enzim trong nước bọt” (hình 26- SGK, trang 85, sinh 8) để khai thác phát hiện kiến thức mới, giáo viên phải hướng học sinh chỉ ra được: Vì sao ống A lại có độ trong không đổi? Vì sao ống B lại có độ trong tăng lên và vì sao ống C và D lại có độ trong không đổi!  Từ đó, hướng học sinh đến kết luận về hoạt động của enzim trong tuyến nước bọt.

Tổ chức các hoạt động dạy học

Một số cách tổ chức các hoạt động học tập

Tổ chức dạy học theo nhóm sử dụng kĩ thuật “Khăn phủ bàn”: Để tiến hành kĩ thuật này, giáo viên chia học sinh thành nhóm (4 người/nhóm), mỗi người ngồi vào một vị trí đã được sắp xếp. Mỗi nhóm được nhận một tờ giấy có chia các ô dành cho hoạt động của từng cá nhân, ở giữa là ô trống dành cho kết quả chung của nhóm sau khi đã thống nhất ý kiến.

Tổ chức dạy học theo nhóm sử dụng kĩ thuật “Các mảnh ghép”: Để thiết kế, giáo viên cần lựa chọn nội dung/chủ đề phù hợp, xác định một nhiệm vụ phức hợp cần giải quyết ở vòng 2 dựa trên các nhiệm vụ khác nhau đã thực hiện ở vòng 1. Học sinh được chia thành các nhóm, giao nhiệm vụ cụ thể cho mỗi thành viên trong nhóm.

Trong quá trình tiến hành, ở vòng 1 giáo viên tổ chức cho học sinh hoạt động theo nhóm 3 hoặc 4 người, mỗi nhóm được giao một nhiệm vụ, đảm bảo mỗi thành viên trong nhóm đều trả lời được tất cả các câu hỏi trong nhiệm vụ được giao, mỗi thành viên đều trình bày được kết quả câu trả lời của nhóm.

Ở vòng 2, giáo viên hình thành nhóm 3 hoặc 4 người mới là sự kết hợp giữa mỗi thành viên trong mỗi nhóm trên, các câu trả lời và thông tin của vòng 1 được các thành viên nhóm mới chia sẻ đầy đủ với nhau. Sau khi chia sẻ xong thông tin ở vòng 1, nhiệm vụ mới sẽ được giao cho nhóm vừa lập để giải quyết. Các nhóm mới trình bày, chia sẻ kết quả nhiệm vụ ở vòng 2.

Tuy nhiên, điều quan trọng là thiết kế và tổ chức như thế nào để mọi thành viên đều phát huy được năng lực cá nhân cũng như biết cách phối hợp với tập thể nhằm tăng cường sự liên kết và khả năng thu nhận, tích lũy kiến thức.

Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học

Khi được hỗ trợ bởi công nghệ thông tin thì khả năng truyền tải ý tưởng của giáo viên cũng dễ dàng và phong phú hơn.

Để có thể sử dụng hiệu quả công nghệ thông tin trong dạy học, giáo viên cần phải đầu tư nhiều thời gian để học tập, nghiên cứu cho thành thạo cách thiết kế bài giảng, cách khai thác các ứng dụng khác.

Đồng thời, giáo viên cần nghiên cứu kĩ nội dung bài dạy để thiết kế những hoạt động dạy học phù hợp, có kế hoạch sắp xếp và khai thác hợp lí các tranh, ảnh, mô hình, băng hình,… sưu tầm được theo trật tự nhất định phù hợp với nội dung kiến thức từng phần.

Trong quá trình dạy học phải gắn kiến thức với thực tiễn

Sự gần gũi của kiến thức lí thuyết với thực tế giúp học sinh dễ dàng kiểm chứng, liên hệ đã trở thành một trong những yếu tố thúc đẩy tính tích cực của học sinh.

Bồi dưỡng học sinh năng khiếu bộ môn                      

Tiến hành phân loại học sinh trên cơ sở bài khảo sát đầu năm và thông qua quá trình giảng dạy từ đó sẽ chọn lọc ra những học sinh năng khiếu để tiến hành bồi dưỡng vào thời gian trái buổi hoặc vào ngày chủ nhật.

Phối hợp với giáo viên chủ nhiệm, phụ huynh học sinh chặt chẽ để truy bài cho các em vào những buổi chiều hoặc ngày chủ nhật nhằm giúp các em nắm kiến thức trọng tâm và nâng cao của từng bài học cụ thể. Thường xuyên liên lạc với phụ huynh, kết hợp với phụ huynh hướng dẫn về biện pháp để giúp con em học tập để có kết quả cao.

AZtest là hệ thống tạo lập website thi trắc nghiệm trực tuyến do CÔNG TY TNHH PHÁT TRIỂN VÀ DỊCH VỤ NGUỒN MỞ THUẬN ĐỨC phát triển. Với AZtest, người dùng có thể dễ dàng sở hữu một website tổ chức ôn tập, thi trắc nghiệm trực tuyến hoàn toàn miễn phí, độc lập, được cá nhân hóa theo yêu cầu của người quản trị.

Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Sinh Lớp 8

Để nâng cao chất lượng bộ môn sinh học 8 năm học 2017-2018 tôi đã áp dụng những thay đổi trong công tác giảng dạy như sau:

Thay đổi cách kiểm tra bài cũ

Thông thường, phần kiểm tra bài cũ được giáo viên tiến hành ở đầu giờ. Đây là việc làm theo đúng tiến trình dạy học.

Tuy nhiên, sự lặp đi lặp lại cách làm đó sẽ khiến học sinh nhàm chán, đôi khi gây áp lực, tạo sự căng thẳng cho học sinh trong suốt tiết học hôm đó.

Theo tôi giáo viên có thể lồng ghép các câu hỏi kiểm tra kiến thức đã học trong quá trình dạy bài mới để làm giảm bớt đi sự căng thẳng không đáng có.

Ví dụ : Khi dạy mục I bài 29. Hấp thụ chất dinh dưỡng và thải phân , giáo viên có thể treo tranh phóng to về Cấu tạo trong của ruột non. Sau đó yêu cầu học sinh nhắc lại cấu tạo của ruột non phù hợp với chức năng tiêu hóa; kiểm tra kiến thức của học sinh về cấu tạo của ruột non, sau đó nhận xét và cho điểm.

Thay đổi cách đặt vấn đề vào bài mới

Trong một giờ học, nếu ngay từ phần vào bài giáo viên đã tạo ra sự hứng thú cho học sinh, chắc chắn trong những phút tiếp theo, các em sẽ hào hứng hơn với những hoạt động do giáo viên tổ chức.

Do đó phần vào bài có vai trò quan trọng đến hoạt động dạy cũng như kích thích quá trình tiếp thu kiến thức của học sinh trong một tiết dạy.

Kinh nghiệm của tôi để có cách dẫn dắt vào bài mới hấp dẫn hơn là: Mở đầu bằng một câu chuyện vui; mở đầu bằng một đoạn phim hay hình ảnh; hay mở đầu bằng một câu chuyện li kì, hấp dẫn…

Một điều cần lưu ý là: đặt vấn đề hay góp phần làm tăng tính hấp dẫn cho bài học, tạo hứng thú cũng như làm cho không khí học tập trở nên thoải mái hơn. Tuy nhiên, giáo viên cũng cần chú ý đến thời gian cho phần vào bài để tránh ảnh hưởng đến thời lượng dành cho bài mới.

Thay đổi cách giao tiếp

Trong hoạt động dạy học luôn đòi hỏi sự tương tác qua lại thường xuyên giữa thầy và trò. Một trong những điều kiện để học sinh có thể học sâu là các em phải có cảm giác thoải mái.

Trong quá trình giao tiếp với học sinh, giáo viên cần có thái độ nhẹ nhàng, vui vẻ, tạo cho học sinh cảm giác được yêu thương, nhưng khi cần vẫn phải nghiêm khắc để học sinh hiểu được giới hạn của sự thoải mái. Vì nếu quá dễ dãi, học sinh không kính nể sẽ rất khó dạy; quá nghiêm khắc, học sinh sẽ bị ức chế khó tiếp thu bài học.

Hơn ai hết, giáo viên phải nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên đối với công tác giáo dục. Khi cảm thấy mình được tôn trọng có nghĩa là các em sẽ thêm phần tự tin vào bản thân mình, sẽ đáp lại bằng thái độ tôn trọng, yêu quý đối với thầy cô, nhờ đó mà cũng sẽ yêu thích hơn bộ môn những thầy cô giáo đó đang giảng dạy.

Bên cạnh đó, người giáo viên cũng cần quan tâm đến những học sinh chậm tiến của lớp, quan tâm nhắc nhở các em học bài và chỉ cách học bài cho học sinh; kịp thời khen ngợi khi học sinh tiến bộ.

Ví dụ, có em học sinh chậm tiến lần thứ nhất kiểm tra bài cũ chỉ được 3 điểm, nhưng lần thứ hai được 5 điểm, giáo viên cần khen ngợi để học sinh cảm thấy mình có tiến bộ, từ đó sẽ cố gắng nhiều hơn.

Đổi mới cách thức soạn bài và thiết kế các hoạt động dạy học

Trước hết, giáo viên cần nghiên cứu kĩ nội dung của bài học trong sách giáo khoa, kết hợp nghiên cứu những tài liệu tham khảo khác như sách giáo viên, sách giải bài tập sinh học, chuẩn kiến thức kĩ năng,… để chỉ ra được mục tiêu chính là những yêu cầu về kiến thức, kĩ năng và thái độ cần hướng học sinh tìm hiểu và đạt được.

Tiếp theo, giáo viên xác định số lượng hoạt động, hình thức tổ chức và nội dung các hoạt động nhằm đạt được các mục tiêu ở trên.

Tuy nhiên, để hướng đến sự thích thú, say mê của học sinh với mỗi hoạt động đó thì giáo viên cần lựa chọn cách tổ chức phù hợp nhất, làm sao để học sinh phát huy tối đa khả năng và hiểu biết của bản thân, đồng thời có sự liên kết chặt chẽ với tập thể.

Trong quá trình thiết kế, giáo viên nên có sẵn những dự kiến và phương án giải quyết cho những tình huống không theo ý muốn có thể xảy ra để có thể chủ động điều chỉnh nhằm tránh sự lúng túng, kéo dài thời gian, thậm chí là không đạt được các mục tiêu đã đề ra.

Chuẩn bị đồ dùng dạy học chu đáo cho các tiết dạy

Trong quá trình tổ chức các hoạt động dạy học, giáo viên không thể bỏ qua vai trò của các đồ dùng, phương tiện dạy học. Việc lựa chọn được những đồ dùng phù hợp và có chất lượng không chỉ làm tăng hiệu quả của việc khai thác, phát hiện kiến thức mà còn tạo ra sự thích thú cho học sinh.

Trong nhiều trường hợp, giáo viên có thể giao nhiệm vụ cho học sinh chuẩn bị những đồ dùng nhất định. Khi được tự chuẩn bị, học sinh sẽ phải nghiên cứu tài liệu để hiểu về vấn đề được giao tức là các em đã được học tập thêm một lần nữa.

Ví dụ: Khi sử dụng tranh vẽ “Thí nghiệm về hoạt động của enzim trong nước bọt” (hình 26- SGK, trang 85, sinh 8) để khai thác phát hiện kiến thức mới, giáo viên phải hướng học sinh chỉ ra được: Vì sao ống A lại có độ trong không đổi? Vì sao ống B lại có độ trong tăng lên và vì sao ống C và D lại có độ trong không đổi!  Từ đó, hướng học sinh đến kết luận về hoạt động của enzim trong tuyến nước bọt.

Tổ chức các hoạt động dạy học

Một số cách tổ chức các hoạt động học tập

Tổ chức dạy học theo nhóm sử dụng kĩ thuật “Khăn phủ bàn”: Để tiến hành kĩ thuật này, giáo viên chia học sinh thành nhóm (4 người/nhóm), mỗi người ngồi vào một vị trí đã được sắp xếp. Mỗi nhóm được nhận một tờ giấy có chia các ô dành cho hoạt động của từng cá nhân, ở giữa là ô trống dành cho kết quả chung của nhóm sau khi đã thống nhất ý kiến.

Tổ chức dạy học theo nhóm sử dụng kĩ thuật “Các mảnh ghép”: Để thiết kế, giáo viên cần lựa chọn nội dung/chủ đề phù hợp, xác định một nhiệm vụ phức hợp cần giải quyết ở vòng 2 dựa trên các nhiệm vụ khác nhau đã thực hiện ở vòng 1. Học sinh được chia thành các nhóm, giao nhiệm vụ cụ thể cho mỗi thành viên trong nhóm.

Trong quá trình tiến hành, ở vòng 1 giáo viên tổ chức cho học sinh hoạt động theo nhóm 3 hoặc 4 người, mỗi nhóm được giao một nhiệm vụ, đảm bảo mỗi thành viên trong nhóm đều trả lời được tất cả các câu hỏi trong nhiệm vụ được giao, mỗi thành viên đều trình bày được kết quả câu trả lời của nhóm.

Ở vòng 2, giáo viên hình thành nhóm 3 hoặc 4 người mới là sự kết hợp giữa mỗi thành viên trong mỗi nhóm trên, các câu trả lời và thông tin của vòng 1 được các thành viên nhóm mới chia sẻ đầy đủ với nhau. Sau khi chia sẻ xong thông tin ở vòng 1, nhiệm vụ mới sẽ được giao cho nhóm vừa lập để giải quyết. Các nhóm mới trình bày, chia sẻ kết quả nhiệm vụ ở vòng 2.

Tuy nhiên, điều quan trọng là thiết kế và tổ chức như thế nào để mọi thành viên đều phát huy được năng lực cá nhân cũng như biết cách phối hợp với tập thể nhằm tăng cường sự liên kết và khả năng thu nhận, tích lũy kiến thức.

Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học

Khi được hỗ trợ bởi công nghệ thông tin thì khả năng truyền tải ý tưởng của giáo viên cũng dễ dàng và phong phú hơn.

Để có thể sử dụng hiệu quả công nghệ thông tin trong dạy học, giáo viên cần phải đầu tư nhiều thời gian để học tập, nghiên cứu cho thành thạo cách thiết kế bài giảng, cách khai thác các ứng dụng khác.

Đồng thời, giáo viên cần nghiên cứu kĩ nội dung bài dạy để thiết kế những hoạt động dạy học phù hợp, có kế hoạch sắp xếp và khai thác hợp lí các tranh, ảnh, mô hình, băng hình,… sưu tầm được theo trật tự nhất định phù hợp với nội dung kiến thức từng phần.

Trong quá trình dạy học phải gắn kiến thức với thực tiễn

Sự gần gũi của kiến thức lí thuyết với thực tế giúp học sinh dễ dàng kiểm chứng, liên hệ đã trở thành một trong những yếu tố thúc đẩy tính tích cực của học sinh.

Ví dụ: Khi dạy bài 25. Tiêu hóa ở khoang miệng, giáo viên yêu cầu học sinh liên hệ với thực tế giải thích vì sao: Tại sao khi nhai cơm lâu trong miệng ta thấy có vị ngọt?

                                        Tại sao khi ăn uống ta không nên cười đùa thái quá?

                                         Khi ăn uống ta có thực hiện đồng thời phản xạ nuốt không?….

Bồi dưỡng học sinh năng khiếu bộ môn                      

Tiến hành phân loại học sinh trên cơ sở bài khảo sát đầu năm và thông qua quá trình giảng dạy từ đó sẽ chọn lọc ra những học sinh năng khiếu để tiến hành bồi dưỡng vào thời gian trái buổi hoặc vào ngày chủ nhật.

Phối hợp với giáo viên chủ nhiệm, phụ huynh học sinh chặt chẽ để truy bài cho các em vào những buổi chiều hoặc ngày chủ nhật nhằm giúp các em nắm kiến thức trọng tâm và nâng cao của từng bài học cụ thể.

Thường xuyên liên lạc với phụ huynh, kết hợp với phụ huynh hướng dẫn về biện pháp để giúp con em học tập để có kết quả cao.

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Giáo Dục Lễ Giáo Cho Trẻ Trong Trường Mần Non

giao tiếp với phụ huynh, Khi nói với trẻ tôi phát âm chuẩn, rõ ràng song không khô khan, cứng nhắc. Tôi nhận thấy tư duy của trẻ gắn với yếu tố tình cảm, hành động suy nghĩ theo hứng thú trẻ ghi nhớ chủ yếu qua những gì ấn tượng mạnh: Một giọng nói hấp dẫn nhẹ nhàng ,cháu hỏi gì tôi trả lời rõ ràng, đủ câu, không trả lời qua loa chiếu lệ. Mặt khác tôi luôn tìm hiểu kỹ về đặc điểm tâm lý của từng trẻ để có những cách ứng xử phù hợp với trẻ. Ví dụ: Lớp tôi có cháu Cháu Châu anh, cháu minh Nhật, Cháu Trung Hiếu, Cháu Khánh Hà Ở lớp các cháu rất nhút nhát, trong giờ học ít tham gia phát biểu ý kiến, và dường như trẻ không thích tham gia vào các hoạt động tập thể. Chính vì vậy tôi luôn dành nhiều thời gian để trò chuyện, gần gũi trẻ. Nhiều lúc tôi tham gia chơi và hoạt động cùng trẻ và lôi cuốn trẻ vào các hoạt động chung. Còn với những cháu hay làm nũng thì lại cần tập cho trẻ thói quen biết tự lập, tự phục vụ cho bản thân mình mà không phải lúc nào cũng cần đến sự giúp đỡ của người thân. 3.3. Ứng dụng công nghệ thông tin và việc giáo dục lễ giáo cho trẻ thông qua các môn học Mỗi phương pháp hay biện pháp mà giáo viên sử dụng trong giảng dạy đều hướng đến mục đích: góp phần phát triển toàn diện nhân cách trẻ và ứng dụng công nghệ thông tin vào trong giảng dạy là một trong những biện pháp đó. Để việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy đòi hỏi người giáo viên mầm non không chỉ có năng lực sư phạm mà còn cần có những kinh nghiệm trong việc phối kết hợp giữa giáo án điện tử và phần giảng dạy của cô để việc ứng dụng tin học thực sự đem lại hiệu quả giáo dục cao. Ví dụ: Trong các tiết học tôi đã áp dụng công nghệ thông tin và đưa đên cho trẻ những hình ảnh thật về các hành vi văn minh, lễ phép. Cho trẻ xem những đoạn phim về các bạn nhỏ đang thực hiện công việc nhặt rác ở sân trường và giáo dục cho trẻ biết các bạn đang làm vệ sinh môi trường ở những nơi công cộng để giữ gìn vệ sinh chung. Hoặc có thể đưa ra clip về các hành vi đúng, sai về việc bảo vệ môi trường và tham gia giao thông. Yêu cầu trẻ lên chọn cho cô các hành vi đúng và chỉ ra các hành vi sai. Nếu cháu chọn đúng cô sẽ cho hiệu ứng mặt cười, và các cháu chọn sai sẽ hiện ra mặt mếu. điều đó khiến trẻ rất hứng thú và tham gia học tập với hiệu quả cao. Các tiết học được tổ chức thường xuyên và thu hút được sự chú ý, thích thú của trẻ. Vì vậy lồng ghép nội dung giáo dục lễ giáo vào các môn học có nhiều ưu thế nhằm hình thành cho trẻ những thói quen, hành vi có văn hoá. Ví dụ: + Môn làm quen văn học: Qua câu chuyện "Tấm cám". Sau khi cô cho trẻ kể trên màn hình máy chiếu .Cô đàm thoại cùng với trẻ: Tấm là người như thế nào? - Mẹ con cám là người như thế nào? - Con thích nhân vật nào? Vì sao? Cô giáo dục cháu lòng thật thà, chăm lo lao động, dạy cháu yêu cái thiện ghét cái ác, hình thành ở trẻ lòng nhân ái với mọi người xung quanh . Hay khi kể cho trẻ nghe câu chuyện: "Cái hồ nhỏ" Sau khi kể cho trẻ nghe và đàm thoại về nội dung câu chuyện: Bạn thỏ đã nhận ra lỗi của mình và xin lỗi các bạn Tôm, cua, ếch. Và bạn còn tự mình vớt hết rác trong hồ lên để cho nước trong sạch. Qua câu chuyện đó tôi lồng ghép giáo dục trẻ không vứt rác bừa bãi mà phải bỏ vào đúng nơi quy định, đồng thời giáo dục các cháu biết giữ gìn vệ sinh cho môi trường trong sạch. Và khi làm điều gì sai phải biết xin lỗi bạn bè và biết sửa lỗi. Như vậy mới được mọi người yêu quý. Dạy trẻ bài thơ: "Phải là hai tay" sau khi cho trẻ đọc trên máy tính cô đàm thoại cùng trẻ Lễ phép với người bề trên kính trọng yêu thương mọi người trong gia đình khi ăn xong phải biết rót nước, mời tăm bố mẹ ông bà mời ai cái gì phải đưa bằng hai tay mới là con ngoan. + Qua môn khám phá khoa học. Tiết "Trò chuyện cùng trẻ về cây xanh quanh bé". Sau khi cho trẻ quan sát trên màn hình, đàm thoại về lợi ích của cây và các bạn nhỏ đang chăm sóc cho cây cô hỏi trẻ: Con có biết các bạn đang làm gì không? Các bạn có đáng khen không? Muốn được khen như các bạn thì con phải làm gì? Qua đó trẻ biết bảo vệ chăm sóc cây xanh để cây cho ta nhiều lợi ích bằng cách tưới nước cho cây, không bẻ cành ngắt lá Có thể cho trẻ trực tiếp được tưới cây, nhổ cỏ cho cây, nhắc trẻ về nhà giúp đỡ bố mẹ chăm sóc cây trong vườn. + Môn học âm nhạc: Tiết dạy hát: Bông hoa mừng cô Sau khi dạy trẻ hát cô trò chuyện về nội dung bài hát: - Đối với cô giáo các con phải như thế nào? Khi tặng hoa cho cô các con tặng bằng mấy tay? Thông qua đó giáo dục trẻ khi nhận hoặc trao vật gì với người lớn nên trao hoặc nhận phải là hai tay, khi nhận con nói lời cảm ơn. + Môn giáo dục thể chất: Trước giờ hoạt động có chủ đích tôi mở cho trẻ xem hình về các môm thể thao và trao đổi với trẻ Muốn cơ thể khỏe mạnh thì các con phải làm gì? - Cô giáo dục trẻ siêng năng tập thể dục, tập đều đặn giúp cho cơ thể luôn khỏe mạnh và phát triển các nhóm cơ, trong lúc tập các con phải không chen lấn nhau hay xô đẩy bạn. + Đối với giờ học tạo hình: Ví dụ: "Vẽ người thân trong gia đình". Cô cho trẻ quan sát các vật mẫu trên máy tính và trò chuyện cùng trẻ về các thành viên có trên máy cô hỏi gia đình trẻ có những ai? - Gia đình một thế hệ hay hai thế hệ? - Mọi người sống trong gia đình như thế nào với nhau? - Cô giáo dục trẻ biết yêu thương kính trọng đối với ông bà, cha mẹ, anh chị, biết nhường nhịn em bé không tranh giành đồ chơi của em. 3.4. Xây dựng cảnh quan sư phạm trong và ngoài lớp học Để tạo được cảnh quan sân trường trước giờ học tôi thường cho trẻ nhặt rác, lá cây để tạo môi trường sạch đẹp, đối với kệ góc đầu tuần tôi thường tổ chức cho trẻ thi đua, lau dọn sắp xếp đồ chơi gọn gàng. Nhờ vậy qua mỗi lần tổ chức hoạt động vui chơi trẻ chơi xong thu dọn đồ chơi gọn gàng và ngăn nắp. Trong lớp tôi có sọt rác, để vào góc lớp, sau mỗi giờ nêu tiêu chuẩn bé ngoan xong, tôi thường nhắc nhở trẻ, sau khi ăn quà nên bỏ rác vào giỏ để giữ vệ sinh chung và trẻ thực hiện tốt, nhất là sau khi hoạt động tạo hình xé dán trong lớp không còn mảnh vụn giấy nào rơi xuống sàn. 3.5. Giáo dục lễ giáo cho trẻ mọi lúc mọi nơi Khi thực hiên giáo dục lễ giáo cho trẻ tôi đã lồng ghép vào các hoạt động trong ngày như hoạt động đón trả trẻ hoạt động góc, hoạt động dạo chơi ngoài trời, hoạt động chiều * Giờ đón, trả trẻ: Ở lứa tuổi của trẻ luôn thích được cô yêu thương gần gủi mọi hành vi của cô được trẻ lưu tâm nhất vì vậy cô luôn chuẩn mực trong giao tiếp giờ đón trả trẻ tôi luôn ân cần dịu dàng thương yêu trẻ, khiêm tốn lịch sự trong giao tiếp với phụ huynh, sau đó nhắc trẻ biết cất đồ dùng đúng nơi quy định, chào cô sau đó chào tạm biệt bố mẹ để đi vào lớp. - Trước giờ trả trẻ cô nhắc trẻ từ tốn, không vội vàng, xô đẩy nhau chào Bố Mẹ và xin phép cô ra về. Dặn trẻ về nhà ngoan, vâng lời bố mẹ ông bà anh chị * Giáo dục lễ giáo vào hoạt động vui chơi : Đối với trẻ lứa tuổi này trẻ học mà chơi, chơi mà học, trong giờ hoạt động góc trẻ được thực hành trải nghiệm nhiều vai chơi khác nhau phản ánh sinh hoạt cuộc sống của người lớn, tôi tiến hành lồng ghép lễ giáo vào các góc, qua đó trẻ được đối thoại những câu chào hỏi lễ phép, câu cảm ơn, xin lỗi, trao nhận bằng hai tay, tôi theo dõi quan sát lắng nghe để kịp thời uốn nắn trẻ khi có biểu hiện chưa đúng. Giúp trẻ hình thành thói quen hành vi văn minh trong giao tiếp. Ví dụ: Qua trò chơi phân vai - y tá - bác sỹ: Tôi hướng dẫn trẻ biết đóng vai bác sĩ, biết thăm hỏi bệnh nhân ân cần. +Bác sĩ biết hỏi bệnh nhân, cháu đau chỗ nào? Đau ra sao? +Trẻ đóng vai bác sĩ phát thuốc dặn bệnh nhân uống thuốc ngày mấy lần. +Trẻ đóng vai bệnh nhân nhận thuốc, nhận đơn thuốc bằng hai tay và nói lời cảm ơn đối với bác sĩ. Ví dụ : Qua trò chơi bán hàng: Yêu cầu người bán hàng và người mua hàng phải nói nhẹ nhàng, đủ câu: + Cô chú mua gì ạ? + Bán cho tôi quả nải chuối + Bao nhiêu tiền vậy cô Sau khi chơi xong tôi nhắc nhở trẻ thu dọn đồ chơi cất lên giá gọn gàng, ngay ngắn. Qua hoạt động góc cháu mạnh dạn dần, thành thạo dần trong giao tiếp, trong ứng xử, chào hỏi đối với mọi người xung quanh mình. Từ đây trẻ lớp tôi đã hết nói trống không . Trẻ biết nói và trả lời đầy đủ câu, biết xưng hô chuẩn mực đối với cô và bạn. Trong khi chơi nếu trẻ làm việc gì sai đối với bạn, tôi nhắc nhở trẻ phải biết xin lỗi cô, xin lỗi bạn, ai cho cái gì thì nhận bằng hai tay và nói cảm ơn. Ngoài ra còn giáo dục cháu đoàn kết với bạn bè, không tranh giành đồ chơi với bạn, gặp chuyện gì phải thông báo cho người lớn biết. * Đối với giờ dạo chơi ngoài trời Ví dụ: Tham quan vườn cây ăn quả .Cô đàm thoại với trẻ: - Khi đi tham quan các con phải đi như thế nào? - Khi ăn quả các con phải nhớ đến ai? Sau khi đàm thoại tôi giáo dục trẻ ngoan, không chen lấn, xô đẩy bạn. Biết kính trọng, yêu quý những người lao động, trước khi ăn quả phải rửa sạch và gọt vỏ, không vứt vỏ và hạt bừa bãi mà phải để vỏ vào nơi qui định. Ăn phải từ tốn, chậm rãi. Giáo dục trẻ giữ gìn vệ sinh môi trường, vệ sinh lớp, biết đoàn kết, giúp đỡ bạn bè, mọi người xung quanh. * Giờ đón trẻ hoặc trả trẻ: Tôi rất ân cần và chuẩn mực trong xưng hô với bố mẹ trẻ, nhắc nhở trẻ cất đồ dùng đúng nơi quy định và chào cô, sau đó chào tạm biệt bố mẹ để vào lớp học. Ra về nhắc trẻ từ tốn, không vội vàng, xô đẩy nhau chào Bố Mẹ và xin phép cô ra về. Dặn trẻ về nhà ngoan, nghe lời Ông Bà, Bố Mẹ * Giờ ăn: - Trước khi ăn cô cho trẻ rửa tay bằng xà phòng dưới vòi nước sạch Ví dụ: Chuẩn bị trước giờ ăn cô cho trẻ đọc bài thơ: Giờ ăn Giờ ăn bé nhớ lời cô Ăn chậm nhai kỹ sao cho đàng hoàng Ăn xong xếp ghế gọn gàng Nhặt vụn cơm vãi bé càng đáng khen Cô mời trẻ và gợi ý để trẻ mời cô, mời các bạn cùng ăn cơm. Nhắc nhở trẻ ăn gọn gàng, không để cơm rơi vãi, nhặt rác bỏ vào thùng rác đúng nơi quy định. Giờ ăn phụ chiều khi cô đưa cho trẻ, cô gợi ý để trẻ biết nói Cháu xin cô, Cháu cảm ơn cô, và biết nhận quà khi người lớn cho bằng hai tay. 3.6.Phối kết hợp với các bậc phụ huynh Cùng với mục tiêu xã hội hoá giáo dục thì vai trò của phụ huynh có vai trò không nhỏ trong việc giáo dục trẻ. Vì vậy việc phối kết hợp với phụ huynh trong việc giáo dục lễ giáo cho trẻ là vô cùng cần thiết. Trong buổi họp phụ huynh đầu năm tôi trao đổi với phụ huynh nói lên những đặc điểm tâm sinh lý của con mình ở nhà để cô nắm rõ được đặc điểm tâm sinh lý của trẻ . Phụ huynh phải trung thực cho dù là trẻ có vấn đề về sức khỏe hay điều kiện sống, tính cách đặc biệt. Có như vậy cô mới nắm được đặc điểm tâm sinh lý đầu năm của trẻ để có biện pháp giáo dục trẻ tích cực và hiệu quả. Tiếp đó tôi mạnh dạn trao đổi với phụ huynh về tầm quan trọng của giáo dục lễ giáo đối với trẻ mẫu giáo, nhất là trong tình hình hiện nay, nhiều nền văn hoá và trò chơi giải trí đã ảnh hưởng một phần không nhỏ về hành vi văn minh của trẻ. Trẻ có thể đối xử thô bạo với bạn sau một đoạn phim hành động hay trẻ có những lời không nên đối với bố mẹ, khi không ddoonfd ý cho trẻ chơi điện tử. Để phụ huynh nhận nhận thức ý nghĩa của vấn đề để cùng nhà trường giáo dục trẻ. Tôi cũng trao đổi với phụ huynh không nên nuông chiều con quá mức, phải giải thích cho trẻ hiểu cái gì là tốt, cái gì chưa tốt. Dần dần trẻ sẽ hiểu ra những mong muốn của mình đó là sai, là không đúng, là chưa ngoan. Hơn nữa phần đông phụ huynh là nông dân nên cũng không có nhiều thời gian dành cho con cái nhất là trong việc giáo dục lễ giáo, qua các cuộc họp phụ huynh hoặc những buổi truyền thông tôi luôn phổ biến và tuyên truyền cách nuôi dạy con khoa học và cách giáo dục lễ giáo đối với trẻ lúc ở nhà . Phụ huynh giành nhiều thời gian chăm sóc con cái như vêh sinh thân thể, chải răng đúng cách, phụ huynh phải mẫu mực trong giao tiếp ở nhà để trẻ noi theo.Đồng thời chú ý sửa sai trẻ kịp thời những thiếu sót trong giao tiếp đối với bạn bè, đối với người lớn. Tôi luôn trao đổi với phụ huynh hàng tháng thông qua sổ liên lạc và tôi đã đưa ra yêu cầu là hàng tháng sẽ có kế hoạch học tập và sinh hoạt cũng như việc rèn luyện lễ giáo cho trẻ do cô giáo lập ra. Kế hoạch này sẽ được dán ở bảng thông báo của lớp để tất cả mọi phụ huynh đều nắm được từ đó cùng cô có những biện pháp giáo dục phù hợp và đạt hiệu quả cao hơn. 3.7. Giáo dục lễ giáo bằng hình thức khích lệ, động viên. Tâm lý của con người thích được khen hơn là chê nhất là trẻ nhỏ rất thích được khen ngợi, động viên, khi làm được việc tốt. Những lời động viên, những phần thưởng nhỏ cũng làm trẻ vui sướng và khích lệ trẻ cố gắng hơn nữa để lại được khen, được thưởng. Vì vậy cuối ngày tôi sẽ cho các trẻ tự nhận xét xem ngày hôm nay mình đã ngoan hay chưa, nhận xét trong lớp có những bạn nào ngoan, bạn nào chưa ngoan và cho trẻ cắm cờ bé ngoan. Ngoài ra tôi luôn dành thời gian để gần gũi với trẻ. Tôi tìm những câu nói hài hước, hóm hỉnh, những món quà bất ngờ, kịp thời và các hình thức khen dễ thương để động viên cho trẻ. Ví dụ 1: Hằng ngày vào giờ nêu gương cuối ngày trước khi cắm cờ, tôi cho trẻ tự nhận xét về mình trong ngày đó có bạn nào hành vi lời nói hay tôi nêu gương ra cho cả lớp và tặng trẻ một bông hoa. Tôi làm bông hoa là một nội dung yêu cầu : Hoa màu đỏ: "Bé sạch sẽ". Hoa Màu xanh: "Bé lễ phép". Hoa màu vàng: "Bé học ngoan". Khi nào trẻ nhận được bông hoa màu gì, tôi hỏi cả lớp vì sao bạn nhận được bông hoa màu đó? Ngoài ra, vào mỗi buổi sáng tôi thường đưa ra những tiêu chuẩn bé ngoan và lễ giáo để trẻ thực hiện . Trẻ rất thích thú và mong muốn ngày nào cũng ngoan để được nhận nhiều những món quà thú vị. Còn với những bạn chưa ngoan thì cô sẽ tạo cơ hội bằng cách cho trẻ lên đọc thơ, hát múa và tặng những món quà nhỏ để khuyến khích động viên trẻ cố gắng hơn nữa để lần sau cũng được nhận nhiều quà như các bạn. Ví dụ 2: Tôi còn lên kế hoạch cuối tuần bao giờ cũng có tiết mục kể chuyện về gương tốt, tuần nào cũng vậy tôi không bao giờ bỏ qua: Tuần 1 Tháng 10 tôi kể chuyện: " Tích Chu" cho trẻ nghe. Tuần 1 Tháng 11 tôi kể chuyện "Cháu ngoan của bà"cho trẻ nghe và tuần khác tôi kể cho trẻ nghe: Sự tích cây vú sữa, hay những câu chuyện về ăn uống có văn hóa do tôi sáng tạo hay sưu tầm, những giờ như vậy trẻ rất thích lắng nghe, nhằm kích thích trẻ học ngoan, muốn được cắm cờ, trẻ sẽ nổ lực ý chí. 3.8. Giáo dục lễ giáo thông qua ngày hội, ngày lễ: Truyền thống của người Việt Nam chúng ta luôn tôn sư trọng đạo và giữ vững những nét văn hóa đặc trưng. Vì vậy tôi thường xuyên tạo điều kiện cho trẻ có cơ hội được tham gia các buổi tổ chức ngày lễ, ngày hội như ngày nhà giáo Việt Nam, ngày tết trung thu, ngày múa hát mừng xuân Từ ý nghĩa của những ngày lễ lớn, truyền thống của dân tộc để giáo dục trẻ lòng tự hào dân tộc, tôi cũng đã cung cấp cho trẻ biết về ngày lễ, biết kính trọng những người đã hy sinh cho lợi ích dân tộc, lợi ích trồng người. Từ đó hình thành cho trẻ lòng tự hào, kính yêu đối với người lớn tuổi, thông qua đó khuyến khích trẻ học tập và phấn đấu thành con người có ích sau này. Ví dụ: Ngày nhà giáo Việt Nam tôi tổ chức cho các tổ trong lớp thi hát về cô giáo. Các tổ sẽ phải nhớ được các bài hát về cô giáo và hát thi với nhau. Sau đó trò chuyện để trẻ hiểu thêm về ý nghĩa công việc của các cô giáo. Giáo dục trẻ biết quí trọng, nghe lời cô giáo, cố gắng học giỏi để cô vui lòng. Hay đến ngày Tết trung thu tôi chuẩn bị mâm ngũ quả, đèn ông sao và rất nhiều hoa quả, bánh kẹo. Mời trẻ cùng chuẩn bị, bày mâm ngũ quả và thắp đèn. Nhắc trẻ giúp đỡ nhau trong khi làm, cùng nhau làm để có một sản phẩm đẹp. Tôi đóng vai làm chị Hằng kể cho trẻ nghe về ngày tết trung thu có trăng sáng, có chị hằng, chú cuội và tổ chức cho trẻ rước đèn, hát múa. Cùng với cuộc thi Bé khỏe bé thông minh do nhà trường tổ chức tôi cũng đã tổ chức cho lớp mình thi Bé khỏe bé thông minh. Trong cuộc thi có các bức tranh hành động đúng và sai như: tranh em bé quét nhà, tranh em bé chào hỏi, tranh em bé bẻ cành cây, tranh các bạn tranh giành nhau Yêu cầu trẻ dán tranh hành động đúng vào bảng có khuôn mặt cười và tranh hành động sai vào bảng có khuôn mặt mếu. Để trẻ tự tìm tranh đúng hay sai và dán vào bảng phù hợp. Và những cháu nào thực hiện tốt thì sẽ có phần thưởng. Trẻ rất hứng thú khi tham gia cuộc thi và đem lại hiệu quả cao. 4. Kiết quả đạt được và bài học kinh nghiệm 4.1. Kết quả đạt được Sau những biện pháp tôi đã nghiên cứu và thực hiện chất lượng giáo dục về lễ giáo tăng lên rõ rệt đó là làm tôi phấn khởi yêu nghề, yêu trẻ nhiều hơn. Giúp tôi có nghị lực trong công tác. Từ quá trình tìm hiểu và áp dụng các giải pháp trên vào giáo dục lễ giáo đối với trẻ tôi đã thu được kết quả như sau: Bảng 2: Khảo sát kết quả cuối năm học TT Nội dung giáo dục TS trẻ 1 Biết xưng hô, chào hỏi lễ phép 95% 2 Biết nói cảm ơn, xin lỗi đúng lúc 100% 3 Biết giữ gìn, cất, sắp xếp đồ chơi theo quy định 100% 4 Biết giữ gìn vệ sinh thân thể, vệ sinh môi trường 98% 5 Biết nhường nhịn giúp đỡ bạn 95% 6 Trẻ mạnh dạn tự tin trong giao tiếp 90% Như vậy sau khi sử dụng các biện pháp giáo dục lễ giáo cho trẻ chúng ta thấy mức độ đạt được đã tăng lên rõ rệt. Điều đó khẳng định một điều rằng các biện pháp được sử dụng là đúng đắn và đem lại hiệu quả tốt trong quá trình giáo dục. 4.2. Bài học kinh nghiệm Khi thực hiện đề tài này, với những biện pháp thực hiện và kết quả thu được tôi rút ra bài học như sau: Ngay từ đầu năm giáo viên chủ nhiệm phải nắm rõ tình hình của lớp, đặc điểm tâm sinh lý của từng cháu về sức khỏe, sở thích cũng như hoàn cảnh gia đình, mức độ quan tâm của Bố Mẹ và tạo cho trẻ môi trường học tập và nề nếp tốt. Có như vậy thì hiệu quả giáo dục sẽ được nâng cao. Phải thường xuyên thực hiện giờ nêu gương và kể chuyện hàng tuần hoặc tổ chức văn nghệ để động viên tinh thần trẻ. Cô giáo phải thật sự là tấm gương sáng để trẻ noi theo, luôn giàu tình yêu thương, luôn thận trọng trong mọi hành vi của mình, thân thiện yêu thương để tạo tâm lý thoải mái cho trẻ thực hiện tốt mọi hành vi cũng như hoạt động giao tiếp, nhằm giúp trẻ từng bước hình thành nhân cách cho trẻ. III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ Kết luận - Giáo dục lễ giáo là một mắt xích quan trọng của trẻ từ 0- 6 tuổi. Đây là giai đoạn đặt nền móng đầu tiên của nhân cách trẻ. Vậy công tác chăm sóc giáo dục trẻ trong những năm đóng vai trò quan trọng đến sự phát triển toàn diện của trẻ. Nhằm giúp trẻ nhận thức được hành vi ứng xử của mình. Điều đó cô giáo phải là tấm gương sáng để noi theo, luôn giàu tình yêu thương , luôn thận trọng trong mọi hành vi cũng như hoạt động giao tiếp thân thiện yêu thương để tạo tâm lý cho trẻ. Nhằm giúp trẻ từng bước hình thành nhân cách cho trẻ. Bên cạnh đó môi trường và cảnh quan sư phạm cũng góp phần hình thành cho trẻ những hành vi văn minh để dần dần hoàn thiện nhân cách tốt đẹp của truyền thống con người việt Nam phù hợp với mọi chuẩn mực đạo đức xã hội một cách tự nguyện. 2. KiÕn nghị * Đối với cấp trên: Tôi mong muốn được sự giúp đỡ hỗ trợ về cơ sở vật chất để trường chúng tôi thuận lợi hơn trong việc cho trẻ được hoạt động ngoại khóa. * Đối với nhà trường: Tham mưu mua sắm thêm các loại đồ chơi về giao thông để trẻ hoạt động một cáh tích cực, sáng tạo và có hiệu quả * Đối với phụ huynh: Mong muốn kết hợp với cô giáo trong việc sưu tầm các tranh ảnh, nguyên vật liệu sẵn có ở địa phương để làm đồ dùng, đồ chơi phục vụ dạy và học một cách tốt nhất. Tôi chân thành cảm ơn!

Cập nhật thông tin chi tiết về Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Toàn Diện Trong Trương Tiểu Học trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!