Xu Hướng 2/2023 # Sinh Lý Học Của Da # Top 9 View | Phauthuatthankinh.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Sinh Lý Học Của Da # Top 9 View

Bạn đang xem bài viết Sinh Lý Học Của Da được cập nhật mới nhất trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

4. CHỨC NĂNG BÀI TIẾT

4.1 Tuyến mồ hôi

Tuyến mồ  hôi nước

Tuyến mồ hôi nước tiết mồ hôi có độ PH=4,5-5,5 tùy tỉ trọng: 1,004-1,008, thành phần gồm có:  là nước là muối khoáng không hòa tan (Phosphate, sulfate, Nacl, kCL, muối calci) và chất hữu cơ (uric acid, urea, creatinin, creatin, anmmoniac, amino-acid, glucid).

Thành phần hóa học có thể thay đổi theo tình trạng của cơ thể và số nước được tiết ra. Trong các bệnh có kèm theo rối loạn chuyển hóa, bình thường các chất này không có trong mồ hôi, nay lại xuất hiện. Thí dụ như trong bệnh tiểu đường, thử nghiệm sẽ có đường trong mồ hôi. Các chất thuốc khác như arsenic, quinine, iode, brome,… có thể được đào thải qua mồ hôi.

Trong tình trạng bình thường của cơ thể, sự bài tiết qua tiết mồ hôi và sự thải nước trên bề mặt thượng bì được thực hiện một cách đều đặn không thể nhận biết được, hiện tượng này gọi là sự toát mồ hôi (perspiration). Các tuyến mồ hôi hoạt động theo từng chu kỳ và luân phiên của từng nhóm tuyến. Tại một vùng da nhất định thì có khoảng 1/10 các tuyến hoạt động mạnh, 7/10 phản ứng thường và 2/10 luôn luôn ở tình trạng nghỉ ngơi.

Nhờ tiết mồ hôi da dẻ được mềm mại, giữ cân bằng lớp nước mỡ trên da, nhờ có độ PH acid nên mồ hôi có tác dụng diệt vi khuẩn và chống nấm.

Tuyến mồ hôi nhờn

Tuyến này hoạt động theo chức năng của tuyến nội tiết nhất là tuyến sinh dục. Do đó, chúng ít phát triển trước giai đoạn dậy thì và chức năng yếu đi ở những người lớn tuổi.

Thành phần trong moog hôi nhờn: Ngoài thành phần thông thường còn có thêm glycogen, cho-lesterol và các ester của nó. Mồ hôi có phản ứng trung tính hay kiềm yếu. Vai trò chức năng của các tuyến nhày thì chưa biết rõ hết. Thực sự thì tuyến mồ hôi nhờn không quan trọng trong chức năng điều hòa thân nhiệt, nhưng nó cùng với tuyến mồ hôi ở gan bàn tay và gan bàn chân tăng hoạt động khi cơ thể bị xúc động mạnh.

4.2 Tuyến bã

Da bài tiết chất bã bảo vệ da chống thấm nước, ngăn cnr sự bỗ hơi nước, làm da mềm mại, chống nhiễm khuẩn và chống nấm.

Ở trên 1cm2 da cos 400-900 tuyến bã, số lượng phân bố khoogn đều, thay đổi theo vị trí, chẳng hạn như có nhiều nhất ở vùng trán, ngực. Hệ thống tuyến bã nằm sát trục nang lông, hiện diện trên da toàn thân nên gọi là trục nang lông- tuyến bã (trừ lòng bàn chân).

Thành phần của chất bã bao gồm: acid béo, ester, cholesterol, lipid, các hợp chất nitơ, phosphate, chlorure, khi ra ngoài không khí thì chất bã đặc lại.

Sự bài tiết của tuyến bã càng lớn, chất bã bài tiết càng nhiều.

Thức ăn chứa nhiều hydrate carbone làm tăng tiết bã, thường là ít ở trẻ nhỏ, nhiều ở tuổi dậy thì và giảm nhiều ở người lớn.

Hệ thống thần kinh không tác động trực tiếp đến tuyến bã mà thông qua tuyến nội tiết: Kích thích tố nam như Androgen kích thích sự tiết bã, trong khi đó kích thích tố nữ như Estrogen ức chế bài tiết chất bã (với liều cao) và Progesterone chỉ kích thích tuyến bã khi dùng liều cao.

Sinh Lý Và Chức Năng Của Da

Về phương diện cơ học: Da có khả năng chống đỡ các chấn thương, xây xát nhờ có lớp sừng dẻo dai và một số vùng có lông tóc. Lớp gai với những tế bào gắn chặt bằng những cầu nối, lớp trung bì có các sợi chùn giãn, lớp hạ bì có các ô mỡ và tổ chức liên kết đều góp phần làm cho da trở thành một lớp bảo vệ cơ học đáng kể. Ở những vùng luôn bị chấn thương, chà xát trong sinh hoạt và trong lao động (bàn tay, bàn chân, khuỷu tay, đầu gối…), lớp sừng bao giờ cũng dầy hơn các chỗ khác.

Về phương diện lý học: Hệ số dẫn điện, dẫn nhiệt của lớp sừng tương đối thấp. Điều rất quan trọng là da giúp cho cơ thể tránh được tác hại của bức xạ mặt trời nhờ sắc tố melanin phân bố đều ở thượng bì. Dưới kính hiển vi điện tử đã thấy rõ phía trên các nhân tế bào gai có một lớp melanin như cái ô bảo vệ. Sẫm màu là phản ứng tự vệ đầu tiên của da đối với tia cực tím của mặt trời.

Về mặt hóa học: Lớp sừng cùng với phim bã (do chất mỡ của tuyến bã tiết ra dàn đều lên da), có khả năng bảo vệ da tránh khỏi tác hại của độ kiềm, toan nhất định. Các chất độc hại muốn ngấm qua da phải vượt được hàng rào sinh học khá ổn định của lớp thượng bì (thể hiện ở độ pH, khả năng trung hòa và kháng kiềm, toan của da).

Da có khả năng chống lại vi khuẩn, nấm, virus (người ta gọi là khả năng triệt khuẩn tự nhiên của da), nhờ có tác động phối hợp của nhiều yếu tố như: tác dụng cơ học của lớp sừng, khả năng triệt khuẩn của lớp phim bã, tác dụng kháng sinh của một số acid béo và một số men ở da… Ngoài ra da cũng tự làm sạch bằng thường xuyên bóc lớp sừng, bài tiết mồ hôi và chất bã, cuốn theo vô số nguồn ô nhiễm.

Nhờ hệ số dẫn nhiệt của lớp sừng và của tổ chức mỡ dưới da tương đối thấp, nên về mùa lạnh da thường giữ không cho tỏa nhiệt nhiều cũng như cản bớt lạnh từ ngoài tác động vào cơ thể; về mùa nóng, nóng bên ngoài cũng bị da hạn chế ảnh hưởng đến cơ thể. Nhưng da còn có vai trò chủ động trong điều hòa nhiệt độ do một loạt phản xạ đi từ cơ quan thụ cảm nhiệt ở trung bì đến trung tâm điều hòa thân nhiệt ở dưới đồi thị. Da tham gia giữ thân nhiệt trung bình ở 36,5 – 37oC nhờ hai cơ chế chính: ra mồ hôi và phản ứng vận mạch.

Khi nhiệt độ bên ngoài tăng cao, cơ thể phản ứng bằng cách giãn mạch làm máu dồn ra ngoại vi, tăng tỏa nhiệt, đồng thời tăng tiết mồ hôi làm tăng bốc hơi và giảm nhiệt. Ngược lại khi nhiệt độ bên ngoài hạ thấp, cơ thể phản ứng bằng cách co mạch máu dưới da, dồn máu vào bên trong, hạn chế tỏa nhiệt, đồng thời giảm tiết mồ hôi để giữ nhiệt.

CHỨC NĂNG BÀI TIẾT VÀ ĐÀO THẢI

Trên da có chừng 2-5 triệu tuyến mồ hôi. Cùng với thận, da tham gia bài tiết nước dưới dạng mồ hôi. Qua mồ hôi một số chất độc trong đó có urê được thải bỏ. Qua các tuyến bã có nhiều ở da đầu, mặt, lưng, ngực, một số chất độc cũng được đào thải ra ngoài, đồng thời chất bã nhờn hình thành phim bã có vai trò quan trọng trong chức năng bảo vệ đã nói ở trên. Mặt khác, da còn tham gia đào thải khí cacbonic cùng với phổi. Có thể nói, da là cơ quan hỗ trợ của thận và phổi, trong nhiệm vụ đào thải chất độc.

CHỨC NĂNG DỰ TRỮ VÀ CHUYỂN HÓA

Da là kho dự trữ nước, mỡ, đường, muối, máu, một số vitamin… Khi cơ thể thiếu thứ gì thì da kịp thời cung cấp, ngược lại khi cơ thể thừa thứ gì lại nhờ da dự trữ. Do đó da giúp cho “cân bằng thu chi” trong cơ thể. Thí dụ khi ta được nuôi dưỡng tốt, lớp mỡ dưới da được phát triển, da sẽ trở thành đầy đặn, mịn màng. Ngược lại, khi đi lỏng mất nước hoặc nuôi dưỡng kém da sẽ trở thành nhăn nheo.

Dưới tác dụng của tia cực tím, vitamin D được chuyển hóa dưới da, giúp cho sự tăng trưởng của cơ thể. Da còn là nơi tạo ra chất sừng và sắc tố là hai yếu tố cơ bản quyết định chất lượng của thượng bì.

Các tận cùng thần kinh thụ cảm (các tiểu thể thần kinh) được phân bố dày đặc trong các lớp da, làm cho bất cứ vùng nào trên da cũng có thể phân biệt được các cảm giác: đau, nóng, lạnh, sờ mó, tỳ ép. Trên 1 cm2 da có khoảng 1-2 điểm tiếp thu nóng, 25 điểm tiếp thu tỳ ép, 100-200 điểm tiếp thu cảm giác đau.

Nhờ có chức năng cảm giác của da mà cơ thể thích ứng được với ngoại cảnh, đáp ứng kịp thời với các yếu tố có hại từ ngoại giới. Bệnh nhân phong, bàn tay mất cảm giác (tê dại) sẽ rất dễ bị phỏng. Người mù vẫn có thể đi lại được chính là nhờ có chức năng cảm giác của da.

Có thể nói cảm giác của da là điều kiện không thể thiếu được cho mọi sinh hoạt, lao động và nghệ thuật của con người.

Da trẻ em khác người lớn là có nhiều mạch máu, rất mịn màng mềm mại, chứa nhiều nước, lớp mỡ dưới da rất phát triển, sự thẩm thấu qua thành mạch và mô tăng (vì vậy ở trẻ em hay gặp các phản ứng dị ứng và thường biểu hiện rầm rộ), sự phân biệt giữa các tế bào và các sợi liên kết chưa rõ ràng, da trẻ em dễ bị mủn nát hơn là da người lớn.

Sản phẩm nổi bật

Cấu Tạo – Sinh Lý Da

CẤU TẠO – SINH LÝ DA

I. ĐẠI CƯƠNG.

Da là cơ quan lớn nhất của cơ thể con người. Da chiếm 16% trọng lượng cơ thể và diện tích da của 1 người lớn lên đến 1,6m2.

Da có chức năng: Bảo vệ, điều hòa nhiệt độ, bài tiết, dự trữ chuyển hóa, tạo Keratin và melanin, cảm giác, miễn dịch, ngoại hình.

Cấu trúc da gồm 3 lớp:

– Lớp biểu bì (Thượng bì): ở ngoài cùng.

– Lớp trung bì: ở giữa.

– Lớp hạ bì: ở trong cùng.

II. CẤU TẠO – NGUYÊN LÝ CHĂM SÓC DA.

1. Lớp biểu bì:

– Trung bình dày khoảng 0,2mm. Độ dày khác nhau từng vùng, dày nhất ở lòng bàn chân và mỏng nhất ở vùng quanh mắt.

– Lớp biểu bì có 4 lớp từ ngoài vào trong là: lớp sừng, lớp hạt, lớp gai, lớp đáy. Riêng lòng bàn tay & lòng bàn chân thì giữa lớp sừng với lớp hạt còn có thêm lớp trong suốt.

+ Lớp sừng:

Khi bạn nhìn vào da ai đó, là bạn đang nhìn vào lớp ngoài cùng của lớp biểu bì (lớp sừng) gồm những tế bào phản xạ được ánh sáng. Khi lớp ngoài cùng mịn màng, nó sẽ phản xạ ánh sáng đồng đều, vì vậy da bạn trông đồng nhất và sáng hơn so với lúc sần sùi.

Các tế bào ở lớp ngoài cùng (lớp sừng) có chứa yếu tố dưỡng ẩm tự nhiên (NMF), giúp giữ ẩm cho da. Cơ thể bạn phản ứng lại môi trường khô bằng cách sản xuất nhiều NMF hơn, nhưng phải mất vài ngày mới sản xuất kịp, vì thế da bạn trở nên khô trước khi có sự trợ giúp của NMF. Đó là lý do tại sao việc dưỡng ẩm cho da bạn trong điều kiện thời tiết khô là rất quan trọng.

+ Lớp giữa: Các tế bào lớp giữa của lớp biều bì giải phóng ra các chất lipid tạo thành môi trường chất béo (các lá lipid) bao quanh tế bào giúp da giữ nước. Các ngón tay, ngón chân có ít lá lipid hơn cẳng chân nên không giữ nước tốt như cẳng chân, vì thế sau khi nhúng lâu trong nước, ngón tay và ngón chân bạn trông nhăn nheo, còn cẳng chân thì không. Da bạn nứt nẻ trong mùa đông vì lipid bị làm cứng lại do thời tiết lạnh, chúng không đủ mềm dẻo để thích nghi kịp thời khi vận động. Mục đích của những chất dưỡng ẩm tốt nhất là làm tăng những lipid quan trọng này, giúp giữ ẩm cho da.

+ Lớp trong cùng của lớp biểu bì gồm các “tế bào mẹ”, được gọi là tế bào đáy, là tế bào sản sinh ra tất cả các tế bào da còn lại.

Quá trình sừng hóa (Vòng đời tế bào):  

– Quá trình này bắt đầu ở lớp đáy. Các tế bào lớp đáy sản sinh ra tế bào mới, di chuyển dần lên tạo thành các tế bào lớp trên, cuối cùng thành lớp sừng và tróc ra khỏi da. Quá trình này thường mất khoảng 28 ngày  (Trong đó tế bào di chuyển từ lớp đáy lên lớp sừng mất khoảng 14 ngày và mất thêm 14 ngày nữa để tróc ra khỏi da). Càng lớn tuổi, quá trình sứng hóa càng kéo dài – diễn ra càng chậm. Nên theo thời gian làn da của người lớn tuổi sẽ trở nên dày, nhăn nheo, bề mặt da trông sần sùi hơn. Quá trình sừng hóa của trẻ em diễn ra nhanh và liên tục, nên da trẻ em lúc nào cũng hồng hào, khỏe mạnh. 

– Nếu quá trình sừng hóa diễn ra chậm, lớp sừng sẽ ko tróc ra mà dần dần tích tụ lại tạo thành 1 lớp dày. Hiện tượng này gọi là sừng hóa quá độ. 

– Ngược lại nếu sừng hóa diễn ra nhanh, lớp sừng hình thành không đầy đủ, dẫn đến khả năng giữ nước giảm. Da sẽ trở nên khô ráp. Hiện tượng này gọi là sừng hóa không hoàn toàn.

Ứng dụng quá trình sừng hóa để chăm sóc da:

– Để có làn da sáng, chúng ta cần loại bỏ lớp sừng chết cũ để lớp da mới có cơ hội phô bày lên bề mặt da. Cách tốt nhất là chúng ta cần tẩy tế bào chết cho da 1-3 lần/tuần để ngăn sự sừng hóa quá độ.

– Để quá trình sừng hóa được diễn ra nhanh nhằm trẻ hóa cho làn da, thì cần chống nắng kĩ khi ra nắng, cung cấp đầy đủ cả lượng dầu và lượng nước cho da, massage da mặt 1-2 lần/tuần để kích thích lượng máu trên da được tuần hoàn.

a. Lớp đáy: có 1 lớp

– Là lớp dưới cùng của biểu bì, tiếp giáp trực tiếp với lớp bì và có hình gợn sóng. Được các mạch máu ở lớp bì cung cấp chất dinh dưỡng nên quá trình sản sinh ra tế bào mới ở lớp đáy diễn ra liên tục.

– Khắp nơi trên lớp đáy có tế bào tạo sắc tố (Melanocytes), có nhiệm vụ sản sinh ra melanin.

– Tế bào chứa melanin quyết định màu da theo chủng tộc, nơi sinh sống. Mỹ phẩm và một số cách khác có thể làm thay đổi màu da tạm thời nhưng rất khó để chuyển hoàn toàn từ màu da này sang màu da khác.

Melanin và sắc tố da:

Vì thế, việc tiếp xúc với ánh nắng mặt trời nhiều dễ làm da xấu đi, nám, nhanh lão hóa… Nên các chị cần che chắn kĩ khi ra nắng, dùng thêm kem chống nắng để hạn chế tác nhân gây hại của tia UV đến làn da.

b. Lớp gai

– Có từ 5-10 lớp. Là lớp dày nhất trong biểu bì

– Bề mặt tế bào có nhiều lỗ chân lông giống gai nhọn nên tạo được liên kết vững chắc với nhau.

c. Lớp hạt

Có từ 2-3 lớp. Lớp hạt được hình thành do lớp gai được phân hóa và đẩy dần lên trên, hình dạng trở nên bằng phẳng, trở thành tế bào hạt.

d. Lớp sừng

– Có từ 10-20 lớp.

– Là lớp trên cùng của biểu bì, gồm những tế bào mất nhân và trở thành tế bào chết, tự động tróc ra khỏi bề mặt da.

– Ở lớp này có các yếu tố giữ ẩm tự nhiên (Natural Moisturizing Factor) và chất béo Ceramide, có chức năng hoạt động như một rào cản giúp giữ nước cũng như ngăn cản sự xâm nhập của các sinh vật lạ vào cơ thể. 

2. Lớp trung bì.

– Chiếm đại bộ phận của da, nằm ngay bên dưới lớp biểu bì. Có độ dày gấp 15-40 lần lớp biểu bì.

– Lớp trung bì được chia thành: lớp đầu nhũ và lớp lưới.

– Quá trình sung hóa của lớp trung bì có thể lên đến 5-6 năm.

– Ngoài ra, trong lớp trung bì còn có các cơ quan trực thuộc da như: tuyến nhờn, tuyến mồ hôi.

– Trong lớp này có các sợi collagen, elastin giúp da săn chắc đàn hồi. Các mạch máu, dây thần kinh, hyaluronic acid (giúp giữ nước).

Lớp trung bì và vấn đề chống lão hóa cho da:

Lớp biểu bì làm da trông sáng và mềm mại, nhưng nếp nhăn xuất hiện là do sự thay đổi ở lớp trung bì. Mục tiêu “chống nếp nhăn” là ngăn chặn sự mất đi của collagen, elastin và axit hyaluronic (HA) – đây là 3 thành phần quan trọng của lớp bì, chúng giảm đi theo độ tuổi hoặc khi da bị viêm. Các sản phẩm kem chống lão hóa trên thị trường bảo là có chứa 3 thành phần này giúp bổ sung, trẻ hóa cho da, nhưng thật sự các thành phần trong kem dưỡng không thể nào thấm sau được đến tận lớp trung bì để mà cải thiện nếp nhăn vì phân tử của chúng quá lớn.

Tuy nhiên, vẫn có một số ngoại lệ chống lão hóa tương đối hiệu quả là sử dụng các sản phẩm kích thích da tự sản xuất ra collagen, elastin và HA. Đó là các sản phẩm chứa Retinol, vitamin C và copper peptide.

Việc uống collagen cũng giúp cải thiện phần nào da lão hóa, nhưng do khi uống vào cơ thể, các collagen sẽ phân bố đều khắp các bộ phận của cơ thể, chứ không chỉ tập trung vào da, nên nếu uống collagen các chị cần phải uống thường xuyên và lâu dài thì mới thấy được sự cải thiện.

3. Lớp hạ bì.

– Lớp này nằm dưới lớp trung bì, có chứa nhiều mỡ nên còn được gọi là mô mỡ dưới da. Lớp này đóng vai trò quan trọng như một tấm nệm giúp bảo vệ cơ bắp và các cơ quan bên trong, giữ nhiệt.

– Mô mỡ có độ dày mỏng khác nhau tùy vị trí. Dày nhất ở vùng bụng, ngực, mông, đùi. Mỏng nhất ở vùng mí mắt, mũi, môi.

– Mô mỡ của nữ dày hơn nam, nên cơ thể phụ nữ có đường cong uyển chuyển đẹp mắt. Và phụ nữ cũng dễ tăng cân béo phì hơn nam giới.

III. SINH LÝ DA.

1. Tính giữ nước của da.

Với da dầu, da bạn trông bóng và bạn nên tránh những sản phẩm gây cảm giác nhờn. Bạn dễ bị trứng cá và nổi mụn hơn so với loại da khô. Những người da khô thường nhận thấy da họ có cảm giác khô, có màu xám và sần sùi. Da sẽ dầu hay khô phụ thuộc chủ yếu vào tình trạng của Hàng rào da (các lớp tế bào sừng ngoài cùng giúp da giữ ẩm) và sự sản xuất dầu (bã dầu) của da. Hàng rào da giống như bức tường gạch, trong đó các viên gạch ( là các tế bào) được bao xung quanh bởi vữa ( là các lá lipid). Các thành phần độc hại, thời tiết lạnh và khô có thể làm hỏng các lipid này, gây ăn mòn vữa, từ đó “các viên gạch” không còn được vững chắc nữa. Nhiều tác nhân bên ngoài như: các chất tẩy rửa, acetone, clo, và các chất hóa học khác, thậm chí ngâm da trong nước lâu có thể làm hại hàng rào bảo vệ da. Hàng rào bảo vệ da có thể bị khuyết do các nguyên nhân về gen. Các thành phần chính của hàng rào da gồm: ceramide, acid béo, cholesterol, và một số thành phần lipid khác. Các thành phần này phải có tỷ lệ phù hợp để giữ cho da không thấm nước. Hàng rào da suy yếu sẽ dẫn đến việc da khô và nhạy cảm. Da khô da là do nước bên trong bay hơi ra ngoài. Da nhạy cảm da do hàng rào không ngăn được các chất kích thích bên ngoài xâm nhập vào bên trong da. Khôi phục hàng rào da bằng các sản phẩm chăm sóc da thích hợp sẽ giúp điều trị nhiều vấn đề của da. Chế độ ăn uống cung cấp các yếu tố dinh dưỡng thiết yếu như các acid béo thiết yếu và cholesterol là cần thiết để phục hồi lại hàng rào da. Thiếu dinh dưỡng có thể làm suy yếu khả năng khôi phục và tái thiết hàng rào da, vì thế nhiều người uống các thuốc làm giảm cholesterol thường bị khô da.

Sản xuất dầu, Da có nhiều tuyến bã tiết ra dầu. Trong dầu chứa các thành phần như các este nền, triglyceride và squalene. Các thành phần lipid này tạo nên lớp màng phủ bề mặt da giúp giữ ẩm bên trong da. Khi việc sản xuất dầu tăng lên sẽ gây ra da dầu. Việc sản xuất dầu có thể bị ảnh hưởng bởi chế độ ăn, stress, nội tiết và gen. Một nghiên cứu trên 20 cặp anh em sinh đôi cùng trứng và khác trứng cho thấy rằng lượng dầu ở anh em sinh đôi cùng trứng là giống nhau trong khi ở anh em sinh đôi khác trứng lại khác nhau đáng kể. Kết quả kiểm tra O/D (dầu/khô) trong bảng hỏi sẽ chỉ ra da bạn là dầu hay khô, mức độ nặng hay nhẹ, và các vấn đề về da mà bạn gặp phải, từ đó có cách giải quyết các vấn đề đó.

2. Tính nhạy cảm của da.

Da khỏe có một hàng rào da vững chắc giúp ngăn các tác nhân gây dị ứng và các chất kích thích xâm nhập. Trừ phi bị cháy nắng gây nóng rát da, da khỏe hiếm khi bị tê buốt, đỏ, hoặc trứng cá nên loại da này có thể sử dụng hầu hết các sản phẩm mà không bị phản ứng. Tuy nhiên, điều bất lợi là nhiều sản phẩm lại không đủ mạnh để có thể xâm nhập được vào hàng rào da “dày” này và tạo ra hiệu quả. Da nhạy cảm chiếm hơn 40% dân số, hàng rào da ở loại da này yếu hơn nên dễ bị phản ứng. Rất nhiều sản phẩm được sản xuất cho da nhạy cảm, tuy nhiên có 4 nhóm da nhạy cảm khác nhau, nên sự lựa chọn các liệu pháp điều trị và các sản phẩm chăm sóc da phải phù hợp với nhóm da của bạn.

Nhóm trứng cá: bị trứng cá, mụn đầu đen, hoặc mụn đầu trắng.

Nhóm trứng cá đỏ: bị đỏ bừng mặt theo cơn (cơn đỏ bừng mặt); hoặc da mặt đỏ thường xuyên và nhạy cảm với nhiệt nóng.

Nhóm tê buốt: bị tê buốt hoặc nóng da.

Nhóm dị ứng: bị đỏ da, ngứa và tróc vảy.

Tất cả các nhóm da này có điểm chung là: tình trạng viêm.Vì thế, tất cả các liệu pháp điều trị loại da nhạy cảm đều hướng đến việc giảm viêm và loại trừ các nguyên nhân gây viêm.

Sinh Lý Học Của Thai Nghén

Cung lượng tim (CO) tăng từ 30 đến 50% bắt đầu từ 6 tuần tuổi và đạt đỉnh từ 16 đến 28 tuần (thường là khoảng 24 tuần). Nó vẫn ở gần mức đỉnh điểm cho đến sau 30 tuần. Sau đó, CO trở nên nhạy cảm với tư thế của cơ thể. Vị trí làm cho tử cung rộng ra chèn ép tĩnh mạch chủ nhiều nhất (ví dụ, tư thế nằm ngửa) gây giảm cung lượng tim nhiều nhất. Trung bình, CO thường giảm nhẹ từ tuần thứ 30 cho đến khi cuộc đẻ bắt đầu. Trong cuộc đẻ, CO tăng thêm 30%. Sau khi đẻ, tử cung co lại và CO giảm xuống nhanh với khoảng 15 đến 25% trên mức bình thường, sau đó giảm dần đều (chủ yếu trong 3-4 tuần tiếp theo) cho đến khi nó đạt đến mức chuẩn như trước khi có thai vào khoảng 6 tuần sau sinh.

Sự gia tăng CO trong thời kỳ mang thai chủ yếu là do nhu cầu của tuần hoàn tử cung rau; thể tích tuần hoàn của tử cung rau tăng lên rõ rệt, và lưu thông trong lòng gai rau hoạt động một phần như một thông động tĩnh mạch. Khi rau thai và bào thai phát triển, lưu lượng máu đến tử cung phải tăng lên khoảng 1L/phút (20% CO bình thường) khi đủ tháng. Nhu cầu ngày càng tăng của da (để điều chỉnh nhiệt độ) và thận (để thải chất thải của thai nhi) là một trong những lý do của tăng CO.

Để tăng CO, nhịp tim tăng từ bình thường là 70 lần/phút đến 90 lần/phút và tăng thể tích tâm thu. Trong giai đoạn thứ hai của thai kỳ, huyết áp – BP thường giảm (và áp lực mạch rộng ra), mặc dù mức độ CO và renin và angiotensin tăng lên, bởi vì tuần hoàn tử cung rau mở rộng (không gian múi rau thai phát triển) và giảm sự kháng trở mạch máu toàn thân. Sức đề kháng giảm vì độ nhớt của máu và độ nhạy với angiotensin giảm. Trong giai đoạn cuối của thai kỳ, BP có thể trở lại bình thường. Nếu thai đôi, CO tăng nhiều hơn và huyết áp tâm trương thấp hơn ở tuần thứ 20 hơn so với thai đơn.

Tập thể dục làm tăng CO, nhịp tim, lượng tiêu thụ O2, và thể tích hô hấp/phút nhiều hơn khi mang thai so với những thời điểm khác.

Sự tăng thể tích tuần hoàn của thai kỳ làm tăng tần số của những tiếng thổi cơ năng và tiếng tim mạnh. X-quang hoặc ECG có thể cho thấy tim chuyển vào vị trí nằm ngang, quay sang trái, với đường kính ngang tăng lên. Nhịp sớm tâm nhĩ và tâm thất thường xảy ra trong thai kỳ. Tất cả những thay đổi này là bình thường và không nên được chẩn đoán sai là rối loạn tim; họ thường có thể tự theo dõi và quản lý tình trạng của mình Tuy nhiên, cơn kịch phát của nhịp nhanh nhĩ có thể xảy ra thường xuyên hơn ở phụ nữ có thai và có thể cần phải kiểm soát dự phòng bằng kỹ thuật số hoặc bằng các thuốc chống loạn nhịp khác Mang thai không ảnh hưởng đến chỉ định hoặc an toàn của kỹ thuật khử rung tim.

Cập nhật thông tin chi tiết về Sinh Lý Học Của Da trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!