Xu Hướng 2/2023 # Sáng Kiến Kinh Nghiệm # Top 4 View | Phauthuatthankinh.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Sáng Kiến Kinh Nghiệm # Top 4 View

Bạn đang xem bài viết Sáng Kiến Kinh Nghiệm được cập nhật mới nhất trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Những nguyên nhân kể trên đều có phần đúng nhưng chưa đầy đủ mà có thể kể thêm một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do trong thời gian qua, công tác giáo dục đạo đức, tuyên truyền tư tưởng đạo đức chưa được xem trọng. Vì vậy, tăng cường giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ (thế hệ tương lai của đất nước) là việc làm hết sức cấp thiết. Nhằm giúp cho học sinh hình thành cho mình những thói quen đạo đức, từ đó các em sẽ có những hành vi đạo đức phù hợp trong cuộc sống hằng ngày. Chính vì thế mà tôi chọn nghiên cứu và thực nghiệm đề tài “Hình thành thói quen đạo đức cho học sinh lớp 2”. PHẦN II: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI Với vai trò là một giáo viên trực tiếp giảng dạy, tôi nhận thấy rằng: muốn có những công dân tốt có ích cho xã hội, có ích cho nước, có lợi cho nhà thì trước tiên cần phải giáo dục đạo đức cho học sinh. Đặc biệt, là học sinh ở bậc học tiểu học, vì đây là bậc học nền tảng, bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân. Bậc tiểu học tạo những cơ sở ban đầu rất cơ bản và bền vững cho trẻ tiếp tục học lên những bậc trên, hình thành những cơ sở ban đầu của nhân cách. Những gì thuộc về tri thức kỹ năng, về hành vi con người … được hình thành và định hình ở học sinh tiểu học sẽ theo suốt cuộc đời mỗi người. Mặt khác, học sinh tiểu học dễ tiếp thụ sự nuôi dưỡng, sự giáo dục. Chính vì vậy, muốn hình thành cho trẻ những thói quen đạo đức cần bắt đầu từ bậc tiểu học. Đồng thời, ở lứa tuổi này các em bắt đầu được tiếp thu các kiến thức về tự nhiên, về xã hội và bước đầu đã có ý thức. Trong hoạt động nhận thức, lứa tuổi này có tâm sinh lý riêng dễ bắt chước, chưa ý thức rành mạch việc gì đúng, việc gì sai, việc gì nên làm và việc gì không nên làm. Vì vậy, giáo viên cần phải nắm rõ những đặc điểm tâm sinh lý của lứa tuổi này sẽ giúp các em có ý thức hành động đạo đức đúng đắn chuẩn mực. Việc giáo dục đạo đức cho học sinh lớp 2 không chỉ đơn thuần là những bài học đạo đức ở trên lớp; những lý thuyết chung chung học mà không hành. Do vậy, lời nói việc làm của người lớn (ông, bà, cha, mẹ, thầy cô giáo …) trong cuộc sống giao tiếp hàng ngày là khuôn mẫu, là gương sáng cho trẻ em ở bậc tiểu học. Để làm được điều đó, giáo viên chủ nhiệm không nên làm một mình mà cần tích cực kết hợp với phong trào đoàn thể trong nhà trường như phong trào Đội, sinh hoạt sao, các bậc phụ huynh và các phong trào đoàn thể ngoài nhà trường. Như vậy, từ việc giáo dục đạo đức, chúng ta sẽ hình thành cho trẻ những thói quen đạo đức thông qua giờ dạy đạo đức, các hoạt động ngoại khóa, tham quan du lịch Ngoài ra, nội dung các môn học khác trong chương trình học đều có chứa đựng nội dung giáo dục và hình thành những thói quen đạo đức nếu như ta biết khai thác. Ví dụ: Môn tiếng Việt với nhiều bài thơ, bài văn phong phú, đa dạng nói về quê hương, đất nước, con người, về cách ứng xử của các nhân vật khác nhau, nhờ đó mà có thể giáo dục hình thành cho các em tình yêu quê hương, đất nước, yêu lao động yêu con người, biết cách ứng xử trong các mối quan hệ xã hội và biết tỏ thái độ đối với các sự vật hiện tượng trong cuộc sống. Môn toán với hệ thống các bài học về bốn phép tính được mở rộng nâng cao dần từ đầu đến cuối chương trình học, các bài học về hình học, đặc biệt các bài toán có lời văn đều có ý nghĩa trong việc giúp học sinh hình thành những biểu tượng đạo đức và một số phẩm chất đạo đức tích cực như cần cù, chăm chỉ, kiên trì, chính xác, tôn trọng sự thật. Hoặc như môn thủ công, ngoài kỹ năng khéo léo, tỉ mỉ, giáo viên còn giúp học sinh yêu quý những sản phẩm mình bỏ công sức làm ra, biết giúp đỡ ban bè khi cần thiết, vừa làm vệ sinh lớp học. Từ đó, sẽ giúp các em hình thành nên những thói quen đạo đức lâu dài. Điều này phải cần thiết phù hợp, đúng lúc, đúng nơi, đúng chỗ. PHẦN III: ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH 1. Thuận lợi: – Được sự quan tâm của chính quyền địa phương, Phòng GD & ĐT, của Ban giám hiệu nhà trường, giúp cho tôi an tâm công tác và cố gắng nỗ lực hết sức mình vào sự nghiệp giảng dạy và giáo dục học sinh. – Ban giám hiệu nhà trường đặc biệt quan tâm, chỉ đạo đến công tác giáo dục đạo đức cho học sinh. – Môn học đạo đức gắn liền với thực tiễn cuộc sống nên được sử dụng thường xuyên, có những ví dụ cụ thể trong cuộc sống hằng ngày để giáo dục và từ đó hình thành nên những thói quen, chuẩn mực hành vi cho các em. – Bản thân tôi đã trực tiếp giảng dạy nhiều năm ở bậc tiểu học. 2. Khó khăn: – Đa số các em học sinh là con em nông dân, công nhân nên thiếu sự quan tâm của gia đình, đồ dùng học tập còn thiếu, chưa được trang bị đầy đủ. – Tuy rằng hiện nay, Đạo đức là một trong những môn học chính nhưng thời lượng của môn học này chưa nhiều, chỉ 01 tiết / tuần. – Chưa kết hợp chặt chẽ giữa lý thuyết và thực hành. – Trình độ học sinh không đồng đều, kiến thức thực tế để xây dựng hành vi đạo đức cho các em còn hạn chế. PHẦN IV: NỘI DUNG THỰC HIỆN Nhờ đó, học sinh có cơ hội tham gia hoạt động, được luyện tập thực hành, trải nghiệm để hình thành các kĩ năng hành vi ứng xử và bày tỏ thái độ của mình khi áp dụng vào thực tiễn, đồng thời cũng tránh được hiện tượng học sinh đã nắm vững kiến thức, thuộc lòng các chuẩn mực hành vi đạo đức theo yêu cầu bài học nhưng trong cuộc sống vẫn không có được kĩ năng hành vi tương ứng. Dạy học theo sách vở, theo chương trình là chưa đủ mà cần phải giáo dục và hình thành đạo đức cho học sinh thông qua các hoạt động tập thể như hoạt động Đội, sao nhi đồng; thông qua các buổi lao động, các buổi tham quan du lịch, các hoạt động văn nghệ, TDTT… Và đặc biệt, không thể bỏ qua sự tự giáo dục đạo đức của mỗi cá nhân học sinh . PHẦN V: BIỆN PHÁP TIẾN HÀNH 1/ Giáo dục, hình thành thói quen đạo đức cho học sinh thông qua môn Đạo đức : Để thực hiện tốt việc giáo dục và hình thành nên những thói quen hành vi chuẩn mực đạo đức cho học sinh thông qua môn Đạo đức, tôi luôn thực hiện đầy đủ và nghiêm túc các bài dạy đạo đức, không mang tâm lý xem nhẹ môn học này vì cho rằng đó là môn phụ và không phải thi cử nên có tâm lý chủ quan, dạy qua loa, chiếu lệ. Đối với 3 tiết dạy dành cho địa phương, tôi tiến hành khảo sát xem những vấn đề nào cần phải tăng cường giáo dục để từ đó biên soạn các tiết dạy này cho sát với tình hình thực tế ở địa phương. Khi giảng dạy môn đạo đức, tôi thường xuyên đổi mới phương pháp, hình thức dạy học để tạo hứng thú cho các em khi tham gia học tập. Bên đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá là một khâu quan trọng, nó ảnh hưởng sâu sắc đến chất lương và hiệu quả dạy học. Việc đánh giá kết quả học tập có nhiều hình thức khác nhau như: quan sát thái độ học tập, kiểm tra vấn đáp, trắc nghiệm, bày tỏ thái độ Từ đó, học sinh có điều kiện thể hiện được bản thân và đặc biệt thực hiện được hành vi đạo đức của mình trong cuộc sống hằng ngày. Do đó, việc đánh giá phải được thể hiện trên tất cả các mặt: kiến thức, tình cảm thi độ và kỹ năng hành vi ứng xử của các em ở gia đình, nhà trường, cộng đồng. Năm học 2005 – 2006, Bộ GD – ĐT đã ra quyết định số 30/2005/BGD&ĐT về việc ban hành quy định đánh giá và xếp loại học sinh tiểu học trong đó môn đạo đức không đánh giá bằng định lượng (điểm số) mà được đánh giá bằng nhận xét theo hai hình thức: hoàn thành tốt (xếp loại A+) – hoàn thành (xếp loại A) và hình thức thứ hai là chưa hoàn thành (xếp loại B). Vì thế, giáo viên cần có kỹ năng và tinh thần thái độ tích cực trong việc vận dụng các tiêu chí, các chứng cứ biểu hiện mới để đánh giá kết quả học tập của học sinh cho đúng và chính xác. 2/ Giáo dục hình thành thói quen đạo đức thông qua các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp: – Mỗi ngày đến trường là một ngày vui. Để giúp các em bớt thời gian chơi vô bổ. Ngoài những giờ học, vào giờ ra chơi nên tổ chức cho học sinh vui chơi với các trò chơi dân gian như: nhảy dây, bắn bi, bịt mắt bắt dê, thi kể chuyện, thi chạy nhanh, thi hát hay múa dẻo, ô ăn quan, chơi chuyền… Hoặc tập cho học sinh những bài tập thể dục với gậy, vòng để rèn luyện thân thể vui chơi nhưng bổ ích. Các em không còn thời gian để gây gổ hay chửi thề. – Ngoài giờ học chính khóa, tổ chức các hoạt động ngoại khoá cho học sinh tham gia. Chẳng hạn, tổ chức cho học sinh thăm các di tích lịch sử, di tích văn hoá để học sinh học tập các tấm gương của các danh nhân hoặc đến thăm các danh lam thắng cảnh, các khu vui chơi giúp các em có cơ hội vận dụng những điều đã học vào thực tế. – Ở trường Tiểu học, hoạt động ngoài giờ lên lớp rất phong phú, đa dạng. Trong đó, có những hoạt động được tổ chức thực hiện theo tiến độ thời gian hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng. Ví dụ: hoạt động 15 phút truy bài đầu giờ, đọc báo, văn nghệ; 30 phút ra chơi thì bao gồm thể dục giữa giờ, vui chơi giải trí; chào cờ đầu tuần; sinh hoạt Sao; hoạt động thi đua trong tháng; hoạt động hè ở địa phương…, có những hoạt động được tổ chức theo chủ điểm để kỷ niệm các ngày lễ lớn như: Ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11; mời các vị lão thành cách mạng hoặc các vị có chức trách trong chính quyền địa phương đến ôn lại truyền thống của bộ đội nhân ngày 22/12.. Ngoài ra, Giáo viên chủ nhiệm phối hợp với Liên đội hình thành các câu lạc bộ, đội nhóm sở thích như Câu lạc bộ cờ vua, Đôi bạn cùng tiến, Nói lời hay làm việc tốt, Hoa bé ngoan, Nét chữ nết người hướng các em đến các hoạt động vui chơi bổ ích và giúp nhau cùng tiến bộ. Qua hoạt động ngoài giờ lên lớp, học sinh có cơ hội được vận dụng kiến thức vào thực tiễn, rèn luyện các phẩm chất đạo đức, các giá trị nhân văn và kĩ năng ứng xử trong cuộc sống… Do đó, có thể khẳng định hoạt động ngoài giờ lên lớp là một hình thức quan trọng để giáo dục học sinh. Để tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp đạt được kết quả như mong muốn, việc xây dựng kế hoạch là rất cần thiết, bao gồm kế hoạch hoạt động cho từng ngày, từng tuần, từng tháng, từng chủ điểm, từng học kì và từng năm học. Trong đó cần nêu rõ nội dung giáo dục đạo đức được thể hiện trong từng hoạt động được tổ chức. Vì thế muốn tổ chức tốt hoạt động ngoài giờ lên lớp tôi phải học hỏi, tìm hiểu thu thập thông tin về thực tế cuộc sống, tình hình chính trị xã hội để cung cấp triển khai nội dung cho các em học sinh. Tuy nhiên, để có được bản kế hoạch khoa học, phù hợp với đặc điểm nhà trường thì cần phối hợp chặt chẽ giữa tổng phụ trách đội , nhà trường, nên thiết kế và tổ chức một số hoạt động mẫu có lồng ghép nội dung giáo dục đạo đức để học sinh học tập. Có thể chọn hoạt động hàng ngày, hàng tuần, hoặc hoạt động theo chủ điểm để làm hoạt động mẫu. Ví dụ: chọn hoạt động theo mẫu ở chủ điểm tháng 11: “Biết ơn thầy cô giáo”. Nội dung của chủ điểm bao gồm nhiều hoạt động đa dạng như thi đua nề nếp học tập tốt, giờ học tốt, giành nhiều điểm 10 kính tặng thầy cô, mit – tinh kỉ niệm và biểu diễn văn nghệ, thi viết chữ đẹp, thi kể chuyện… Mục tiêu của các hoạt động này nhằm giáo dục ý thức “Tôn sư trọng đạo”. Điều đó được thể hiện bằng lòng tôn kính, chăm chỉ học tập giành nhiều điểm tốt, vâng lời thầy cô… Về cách thức tổ chức, điều kiện thực hiện, thời gian,… cần phải được thiết kế, lên kế hoạch khoa học, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của nhà trường. Trong quá trình thực hiện nên phối hợp chặt chẽ với các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường để tạo điều kiện về mọi mặt để tổ chức tốt hoạt động. Khi đánh giá, cần xây dựng tiêu chí, chuẩn mực đánh giá cho mỗi hoạt động cụ thể và sử dụng nhiều hình thức kiểm tra nhằm thực hiện cho việc đánh giá kết quả hoạt động một cách khách quan, công bằng, chính xác, tạo tâm lý phấn khởi, tích cực thi đua hoạt động ở học sinh. Ví dụ: hình thức kiểm tra từ trên xuống, kiểm tra chéo, kiểm tra của đội sao đỏ, lớp trực tuần…). Hàng ngày, học sinh thực hiện hành vi đạo đức theo mẫu các chuẩn mực được học ở mọi lúc, mọi nơi trong các mối quan hệ, các tình huống khác nhau. Nhờ việc thực hiện thường xuyên như vậy hành vi của các em sẽ trở thành kỹ xảo thói quen bền vững (như lễ phép với người lớn tuổi, đi thưa về chào, bỏ rác đúng nơi quy định, giữ gìn trật tự vệ sinh nơi công cộng) Khi luyện tập hành vi đạo đức cho học sinh có thể sử dung biện pháp tạo tình huống giáo dục, tức là chủ động tạo ra tình huống đạo đức một cách tự nhiên, đặt ra cho học sinh một cách “tình cờ”. Trước tình huống đó, các em tự lựa chọn cách ứng xử xho mình. Khi đó, việc thực hiện hành vi của trẻ không do thầy cô, cha mẹ, bạn bè ép buộc mà hoàn toàn theo ý thức, thái độ tự giác của các em. Từ đó, học sinh biết lựa chọn hành vi sao cho phù hợp chuẩn mực đạo đức, trên cơ sở luyện tập các hành vi lặp đi lặp lại nhiều lần hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng sẽ hình thành nên những thói quen tích cực và bền vững. Mặt khác, phương tiện quan trọng để tập thói quen hành vi là chế độ giờ giấc. Việc tuân thủ theo chế độ giờ giấc có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với học sinh tiểu học nói chung và học sinh lớp 2 nói riêng, vì ở chúng, ý chí chưa hình thành đầy đủ. Với chế độ giờ giấc nghiêm ngặt, chặt chẽ sẽ giúp trẻ củng cố các hành động tích cực, điều khiển ước muốn của mình, tạo ra các thói quen tích cực. Ngoài những việc làm trên, chúng ta có thể sử dụng thêm những gương danh nhân, những gương đạo đức thực tế trong cuộc sống sẽ trở nên cụ thể hơn, sinh động hơn và có sức thuyết phục hơn để kích thích các em bắt chước theo. Bên cạnh đó, kết quả giáo dục đạo đức của học sinh còn chịu sự ảnh hưởng của gia đình. Vì thế, trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh, tôi phải thực hiện liên kết với gia đình các em để tìm hiểu, nắm vững hoàn cảnh sống , đặc điểm về thể chất, tâm sinh lý của các em. Nhờ đó, mà giúp các em phát huy những mặt mạnh của bản thân như giúp đỡ bạn, nhân hậu, vị tha khi bạn không phải với mìnhĐồng thời, tôi cũng trao đổi với gia đình qua điện thoại, hoặc gặp trực tiếp thông báo về trường hợp học sinh có những biểu hiện cá biệt để cùng phối hợp giáo dục đạo đức đạt kết quả tốt hơn. Qua đó, tôi sẽ làm công tác tư vấn giúp cha mẹ các em hiểu rõ về giáo dục đạo đức cho học sinh với những vấn đề cơ bản sau: – Trách nhiệm của gia đình trong việc phối hợp với nhà trường để giáo dục đạo đức cho con em họ . – Do khả năng nhận thức của học sinh còn hạn chế, nặng về cảm tính, chưa biết độc lập phân tích và đưa ra những đánh giá, nhận xét của riêng mình về các hiện tượng diễn ra trong cuộc sống, vì vậy gia đình cần hiểu và thống nhất với nhà trường về mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục học sinh. Nếu thiếu sự thống nhất đó thì rất dễ dẫn tới việc sai lầm các giá trị đạo đức ở các em . – Ngoài ra, gia đình cũng cần tạo điều kiện thuận lợi (Phương tiện dụng cụ học tập, thời gian học tập, vui chơi giải trí…) cho con em mình học tập và rèn luyện, đồng thời dành sự quan tâm chăm sóc và tạo bầu không khí gia đình đầm ấm, hạnh phúc * Phối hợp với chính quyền địa phương và các đoàn thể xã hội: Thực chất đây là sự liên kết giáo dục giữa nhà trường với xã hội. Các lực lượng xã hội gồm: chính quyền địa phương, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Hội Chữ thập đỏ cùng liên kết để giáo dục các em. Trên cơ sở đó, tổ chức các hoạt động như: tuyên truyền công tác bảo vệ môi trường, giữ gìn vệ sinh công cộng, an toàn giao thông, nghe nói chuyện về truyền thống đấu tranh cách mạng ở địa phương, tham quan di tích lịch sử Điều đặc biệt quan trọng là mỗi thành viên của lực lượng xã hội khi tham gia công tác phải thực sự gương mẫu, là tấm gương về lao động, công tác, nhân ái, vị tha, văn minh trong quan hệ ứng xử với mọi ngườiđó là những tấm gương sống động và mạnh mẽ sẽ ảnh hưởng tích cực đến việc hình thành nhân cách của các em và đây cũng chính là môi trường tốt và lành mạnh để các em thể hiện rõ hành vi của mình. Giáo viên là yếu tố cốt lõi, là người khởi xướng và thực hiện, là tấm gương sáng tự học và tự rèn cho học sinh noi theo. Mọi cử chỉ lời nói của giáo viên đều có ảnh hưởng sâu sắc đến học sinh lớp mình chủ nhiệm cho nên nếu các hành vi đó không mẫu mực cũng sẽ làm cho học sinh dễ bắt chước theo. Mọi cử chỉ nói năng, ăn mặc, đi đứng, thái độ biểu hiện của giáo viên đều có ảnh hưởng nhất định đến nhân cách học sinh. Chính vì thế, mà tôi luôn không ngừng học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trau dồi phẩm chất đạo đức, luôn mẫu mực trong cuộc sống, thiết lập mối quan hệ thường xuyên, thân thiết quan tâm gần gũi với các em như một người chị, người mẹđể dẫn lối chỉ đường nhằm hoàn thiện nhân cách đạo đức cho các em. Kỹ năng thể hiện hành vi của các em là quan trọng nhất và cũng là khó khăn nhất, nên trong công tác giảng dạy tôi luôn cố gắng hướng các em vào những việc làm, hành động cụ thể để các em thực hiện được những hành vi tích cực đó trong cuộc sống hằng ngày. PHẦN VI: KẾT QUẢ Sau một thời gian thực hiện các kinh nghiệm trên, lớp tôi dạy (sĩ số 32 học sinh) đã đạt kết quả như sau: – Loại hoàn thành tốt (A+) đạt 18 em, chiếm tỉ lệ: 56,25%. – Loại hoàn thành (A) đạt 14 em, chiếm tỉ lệ: 43,75%. – Không có học inh xếp loại chưa hoàn thành. Trong thực tế áp dụng các kinh nghiệm trên, tôi nhận thấy học sinh do lớp mình phụ trách có những bước tiến triển sau: – Hình thành cho các em ý thức về những chuẩn mực hành vi đạo đức (tri thức và niềm tin) tạo nên những già trị đạo đức phù hợp với những chuẩn mực quy định. – Hình thành được cho các em những kỹ năng, hành vi phù hợp với các chuẩn mực và trên cơ sở đó rèn luyện thành thói quen đạo đức tích cực. – Vận dụng những thói quen đạo đức trong cuộc sống hàng ngày của học sinh. Nói chung mỗi hành vi thói quen đạo đức của học sinh đều đòi hỏi người giáo viên phải có sự kiên trì, nhẫn nại dẫn dắt học sinh trong từng bài học, tình huống, hành vi hoạt động cụ thể nhất là khâu vận dụng vào thực tiễn cuộc sống hằng ngày để rèn luyện nó trở thành thói quen tích cực và bền vững. PHẦN VII: BÀI HỌC KINH NGHIỆM. Trong quá trình dạy và áp dụng những kinh nghiệm trên nhằm góp phần hình thành nên những thói quen đạo đức cho học sinh ở lớp 2, tôi cũng đã đọc kỹ và tìm hiểu nội dung chương trình môn học Đạo đức của lớp 2. Điều này rất có ích để tôi giáo dục đạo đức tốt hơn cho học sinh. Bên cạnh đó tôi cũng rút ra được một vài kinh nghiệm trong việc dạy học, tổ chức các hoạt động trong việc hình thành những thói quen đạo đức cho học sinh tiểu học. 1. Người giáo viên phải thực sự có lòng yêu nghề, mến trẻ, kiên trì, nhẫn nại, nhiệt tình trong công tác, không ngại khó, ngại khổ.

Cách Viết Sáng Kiến Kinh Nghiệm

a) Mở đầu đặt vấn đề (chiếm khoảng 5  10% tổng số trang)

Nội dung của phần mở đầu bao gồm:

– Bối cảnh của đề tài.

– Lý do chọn đề tài

– Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

– Mục đích nghiên cứu.

– Điểm mới trong các giải pháp đã tiến hành và kết quả nghiên cứu

b.1 Cơ sở lý luận của vấn đề:

+ Làm rõ một số khái niệm, định nghĩa, thuật ngữ chính trong đề tài.

VIẾT SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM Một số khái niệm: Sáng kiến: Đó là những ý tưởng ới, ý kiếnmowsi cótasc dụng làm cho công việc đợc tiến hành tốt hơn, có hiệu quả hơn. Kinh nghiệm: Là những hiểu biết có được do trải qua thực tế, được tích lũy qua hoạt động thực tế, kiến thức do từng trải mà có. Sáng kiến - Kinh nghiệm: Có thể hiểu như là những hiểu biết (tri thức) có được nhờ sự tích lũy được về một vấn đề nào đó trong thực tiễn từ những việc đã làm, đã có kết quả và đã kiểm nghiệm, rút ra những ý tưởng mới, cách giải quyết mới về vấn đề đó một cách có hiệu quả hơn, được tác giả viết lại, trình bày theo một cấu trúc chặt chẽ, lôgic. Sáng kiến kinh nghiệm được đúc kết có thể giúp cho tác giả vận dụng để nâng cao hiệu quả công tác, nếu được phổ biến thì người khác có thể áp dụng để giải quyết những vấn đề tương tự có hiệu quả hoặc có thể làm cơ sở khoa học để nghiên cứu, mở rộng ứng dụng cho phạm vi lớn hơn. Sự khác nhau giữa sáng kiến - kinh nghiệm và nghiên cứu khoa học: - NCKH: tìm kiếm, xem xét, điều tra, thí nghiệm (bằng các PP khoa học) ® phát hiện ra cái mới dựa trên cơ sở khoa học. Người NCKH phải dựa vào kinh nghiệm và thực tế khách quan. - Viết SKKN: Viết lại những việc đã làm có kết quả, viết SKKN chỉ diễn đạt nội dung công việc đã làm, không phân tích sâu bản chất sự việc, hiện tượng. Viết SKKN chỉ là "Tường thuật và phân tích kinh nghiệm". Có thể xem SKKN bao gồm 2 phần; một là hệ thống những giải pháp được chọn lọc đã tiến hành để giải quyết một vấn đề nào đó đạt hiệu quả tốt, hai là những kinh nghiệm rút ra được khi áp dụng hệ thống những giải pháp đó, những kinh nghiệm nầy có thể đem áp dụng vào những tình huống tương tự I- Một số yêu cầu cơ bản đối với người viết sáng kiến kinh nghiệm: Kiên nhẫn, đầu tư trí tuệ, công sức và thời gian. Phải có trải nghiệm thực tế (SKKN phát sinh từ việc giải quyết vấn đề cụ thể) Phải có cơ sở lý luận là cơ sở lý luận cho việc tìm tòi giải quyết vấn đề. Phải có phương pháp trình bày SKKN III- Các bước tiến hành viết một SKKN 1. Chọn đề tài - Xác định phạm vi, phương pháp nghiên cứu: a) Chọn đề tài (đặt tên cho đề tài): Xác định lý do chọn đề tài: Lý do chọn đề tài phải xuát phát từ yêu cầu thực tiễn trong công việc của chính bản thân mình. Chọn đề tài trong lĩnh vực mà mình có kinh nghiệm, đề tài được chọn phải được tác giả thực hiện và kiểm chứng bằng thực tiễn của bản thân. Đề tài được chọn nhằm giải quyết được vấn đề gì trong nhiệm vụ của bản thân, của bộ môn, của tổ, của trường . . . . . . . Tên đề tài cần ngắn gọn, súc tích, nêu được vấn đề cơ bản cần giải quyết, không nên lồng nhiều mục tiêu vào đề tài Tên đề tài phải thể hiện rõ mục tiêu và định hướng phương pháp nghiên cứu đề tài (dùng động từ hành động để thể hiện mục tiêu và phương pháp). b) Xác định phạm vi nghiên cứu - Giới hạn lĩnh vực và đối tượng nghiên cứu. (Đề tài cần tập trung giải quyết cho một bộ phận, một lĩnh vực hoặc một vấn đề cụ thể nào đó trong công việc của người viết), chỉ cần chọn một vấn đề hoặc một khía cạnh cụ thể, sâu sắc nhất để phân tích. - Giới hạn không gian và thời gian nghiên cứu (thời gian nghiên cứu và áp dụng đề tài (bắt đầu thực hiện lúc nào?) c) Xác định phương pháp nghiên cứu: - Về lí luận nghiên cứu tài liệu, giáo trình nào; - Về thực tiễn thì nghiên cứu theo hướng nào (khảo sát?; điều tra?; thực nghiệm?. . . - Đề tài thực hiện dựa trên ý tưởng nào của tác giả? Có thể tóm tắt thêm một số nét mới cơ bản nhất trong các biện pháp đã áp dụng và kết quả đã đạt được trong nội dung của đề tài . 2. Viết đề cương chi tiết - Xây dựng một đề cương chi tiết với các đề mục rõ ràng, lôgic, nêu lên những ý cần thiết trong từng đề mục cụ thể. - Liệt kê những công việc đã thực hiện trong thực tiễn bao gồm: các biện pháp, các bước tiến hành, kết quả cụ thể, các số liệu để dẫn chứng. - Viết bản thảo SKKN theo đề cương đã chuẩn bị. 3- Bố cục của một SKKN a) Mở đầu đặt vấn đề (chiếm khoảng 5 ® 10% tổng số trang) Nội dung của phần mở đầu bao gồm: Bối cảnh của đề tài. Lý do chọn đề tài Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Mục đích nghiên cứu. Điểm mới trong các giải pháp đã tiến hành và kết quả nghiên cứu b) Nội dung: b.1 Cơ sở lý luận của vấn đề: + Làm rõ một số khái niệm, định nghĩa, thuật ngữ chính trong đề tài. b.2 Thực trạng của vấn đề: + Trình bày những thuận lợi, khó khăn, mâu thuẫn gặp phải trong vấn đề chọn để viết SKKN. + Nêu thực trạng về số lượng, chất lượng, điều kiện hoạt động của các đối tượng trong đề tài, lịch sử phát triển của vấn đề đặt ra trong phần mở đầu. + Phân tích, đánh giá thực trạng, chỉ ra những hạn chế cần có giải pháp khắc phục và dự đoán hướng phát triển của vấn đề nếu không có những giải pháp mới kịp thời. b.3 Các giải pháp, biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề + Trình bày những biện pháp, các bước cụ thể đã tiến hành để khắc phục hoặc điều chỉnh những hạn chế nêu ra trong phần thực trạng. Nêu rõ các phương pháp thực hiện các giải pháp đề ra. + Phân tích ảnh hưởng, tác dụng của từng giải pháp đề ra (có số liệu dẫn chứng quá trình diễn biến của các đối tượng nghiên cứu). + So sánh kết quả đạt được với thực trạng trước đây để chứng minh cho hiệu quả của việc áp dụng các giải pháp đã tiến hành. + Nêu những nhận định hoặc đánh giá sơ bộ về hiệu quả của các giải pháp và phương pháp chính đã tiến hành. b.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm: + Đã áp dụng SKKN (hệ thống những biện pháp đã tiến hành) cho đối tượng cụ thể nào? Những kết quả cụ thể đạt được, những kinh nghiệm rút ra khi áp dụng SKKN c) Phần kết luận: (khoảng 5% tổng số trang) + Khẳng định tính thực tiễn, tính khả thi và và hiệu quả của các giải pháp đã tiến hành trong phạm vi áp dụng của đề tài (trong phạm vi đối tượng, điều kiện thực tiễn đã thực hiện), từ đó khẳng định sự cần thiết phải áp dụng các giải pháp như trên để giải quyết những khó khăn, mâu thuẫn trong thực trạng đã nêu, rút ra những bài học kinh nghiệm từ quá trình áp dụng SKKN của bản thân. + Ý nghĩa của SKKN đối với việc quản lý, giảng dạy, giáo dục. + Hướng phát triển của đề tài, khả năng ứng dụng, triển khai kết quả của SKKN. + Những kiến nghị, đề xuất đối với các cấp quản lý giáo dục để đảm bảo cho việc triển khai, ứng dụng SKKN có hiệu quả. 4- Tóm tắt kết cấu của một SKKN TRANG BÌA : : Tên đơn vị. CÁC CẤP QUẢN LÝ UBND ; PHÒNG GD-ĐT Sáng kiến kinh nghiệm Đề tài : (Ngắn gọn, cụ thể, bao quát được nội dung của vấn đề nghiên cứu) Người thực hiện: (Họ và tên, chức danh)....... Đơn vị công tác:......................................... NĂM HỌC: PHẦN TRÌNH BÀY NỘI DUNG : Phần nầy nên có kết cấu như sau: PHẦN I - ĐẶT VẤN ĐỀ (Có từ 1 à 3 trang) (lý do chọn đề tài) Bối cảnh Lý do chọn đề tài Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Mục đích nghiên cứu Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu: Điểm mới trong kết quả nhiên cứu. PHẦN II - NỘI DUNG (Giải quyết vấn đề) Cơ sở lý luận của vấn đề (không bắt buộc phải có.). Thực trạng của vấn đề. Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề. Hiệu quả của SKKN PHẦN III - KẾT LUẬN Những bài học kinh nghiệm. Ý nghĩa của SKKN Khả năng ứng dụng, triển khai. Những kiến nghị đề xuất TRANG PHỤ LỤC (Nếu có) TRANG TÀI LIỆU THAM KHẢO. TRANG MỤC LỤC. BÌA

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Môn Vật Lí

PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, CHỦ ĐỘNG, SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH TRONG GIỜ HỌC MÔN VẬT LÍ Ở TRƯỜNG THCS.

Trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay cần phải có những con người có kiến thức, có trình độ, có khả năng tiếp cận với khoa học kỹ thuật hiện đại. Muốn như vậy, ngay từ đầu các cấp học giáo viên cần phải trang bị cho học sinh những kiến thức cơ bản nhất, trang bị cho học sinh từ ý thức học tập, năng lực tự học, tự trao dồi, tìm kiếm kiến thức mới. Trên cơ sở đó học sinh có thể vận dụng linh hoạt những kiến thức đã được học vào cuộc sống và lao động.

Với yêu cầu trên mỗi giáo viên ngoài việc truyền thụ kiến thức cho học sinh, giáo viên còn phải hình thành cho học sinh năng lực hoạt động, năng lực tư duy sáng tạo. Giúp học sinh biết vận dụng kiến thức, thu thập kiến thức. Từ đó xử lí được các vấn đề đặt ra trong khoa học và đời sống một cách hợp lí.

Kiến thức và kỹ năng là một trong những yếu tố cấu thành năng lực của học sinh. Nhưng với trình độ phát triển khoa học và kỹ thuật với điều kiện tiếp cận thông tin như hiện nay, thì năng lực đạt được kiến thức và xử lý thông tin trở nên vô cùng quan trọng và được đặt lên hàng đầu. Việc phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh trong mỗi giờ học đã trở thành một trong những nhiệm vụ chủ yếu của việc dạy học.

Nhờ đặc điểm của môn Vật lí và mối liên hệ chặt chẽ những kiến thức Vật lí với những tiến bộ khoa học kỹ thuật, mà việc giảng dạy Vật lí ở trường tạo ra rất nhiều khả năng để phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh trong quá trình dạy học.

Xuất phát từ tầm quan trọng của việc phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh trong giờ học môn Vật lí nhằm giúp học sinh có thêm nhiều phương pháp học tập tốt, lĩnh hội được toàn bộ các kiến thức trong các giờ học, từ đó vận dụng được vào trong cuộc sống một cách thiết thực và có hiệu quả tôi đã chọn đề tài: “Phương pháp dạy học phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong giờ học môn Vật lí ở trường THCS “ để làm đề tài nghiên cứu.

Tầm quan trọng của vấn đề nghiên cứu

a) Đối tượng nghiên cứu

Học sinh trường THCS Sơn Đông – Lập Thạch – Vĩnh phúc

Từ tháng 9 đến tháng 2 năm học 2014 -2015.

Phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh trong giờ học môn Vật lí ở trường THCS Sơn Đông – Lập Thạch – Vĩnh phúc.

Giới hạn nghiên cứu của đề tài

Đề tài nghiên cứu được giới hạn trong giờ học môn Vật lí

PHẦN II: NỘI DUNG

Trong giáo dục hoạt động cơ bản là dạy và học. Trong đó hoạt động dạy học không chỉ đơn thuần là cung cấp cho học sinh kiến thức có sẵn và những kinh nghiệm xã hội mà còn góp phần tích cực vào việc hình thành và phát triển nhân cách của học sinh theo mục tiêu đào tạo.

Mục tiêu của bài viết này là tôi muốn giúp cho học sinh tích cực, chủ động và ham học tập, biết vận dụng phương pháp học tập có hiệu quả nhất đối với bản thân. Qua đó học sinh nắm được vững vàng kiến thức Vật lí, rèn khả năng tư duy lô gíc và lý luận thực tế. Hơn nữa rèn luyện tính năng động, sáng tạo, cách làm việc khoa học. Đó là những phẩm chất của người ham nghiên cứu khoa học, ham học tập… phải được hình thành ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường.

Trường THCS Sơn Đông có cơ sở vật chất nhà trường khang trang, phòng học và phòng thí nghiệm thực hành kiên cố, sạch sẽ, đúng qui cách, có đồ dùng dạy học, dụng cụ thí nghiệm thực hành tương đối đầy đủ .

Giáo viên được đào tạo có trình độ chuyên môn nghiệp vụ vững vàng, kiến thức phong phú. Luôn thực hiện tốt việc ứng dụng công nghệ thông tin vào trong soạn, giảng làm cho tiết dạy thêm sinh động. Trong giờ học thí nghiệm thực hành giáo viên phát huy tối đa đồ dùng dạy học hiện có.

Học sinh có đầy đủ sách giáo khoa, sách bài tập, sách tham khảo, dụng cụ học tập đầy đủ và nhu cầu nhận thức của học sinh càng phát triển tích cực.

Thực trạng của vấn đề nghiên cứu

Được sự quan tâm chỉ đạo sát sao của Ban giám hiệu, Tổ chuyên môn và sự nhiệt tình cộng tác của các đồng nghiệp trong trường.

Bản thân luôn tích cực áp dụng đề tài trong từng tiết dạy trên lớp.

Học sinh ngoan ngoãn, lễ phép có nhiều cố gắng muốn được vươn lên nhiều hơn nữa trong học tập.

Học sinh trong lớp không đồng đều, có sự chênh lệch về nhận thức rất rõ rệt, đặc biệt nhận thức về môn học tự nhiên. Lý do là các em chưa biết phương pháp học tập, rỗng kiến thức nên sinh ra chán học, không muốn đầu tư thời gian, tâm huyết vào việc tìm tòi khám phá. Không chỉ vậy mà còn có một số học sinh chưa yêu thích môn học.

III. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Để phát huy được tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh trong giờ học môn Vật lí, tôi nghiên cứu, phân loại nội dung kiến thức và áp dụng một số phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh trong giờ học môn Vật lí. Cụ thể là:

Phương pháp dạy học thí nghiệm Vật lí;

Phương pháp dạy học một hiện tượng Vật lí;

Phương pháp dạy học một đại lượng Vật lí;

Phương pháp dạy học một định luật Vật lí;

Phương pháp dạy học tiết bài tập Vật lí.

Phương pháp dạy học tiết thực hành

Với các phương pháp đó cần phải áp dụng phù hợp cho từng nội dung, từng bài dạy. Không chỉ vậy còn phải thực hiện theo đúng tiến trình thì mới đem lại hiệu quả cao trong từng tiết dạy.

Phương pháp dạy học thí nghiệm Vật lí

Quy luật của quá trình dạy học là đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, song quá trình nhận thức đó đạt hiệu quả cao hay không còn phụ thuộc vào phương pháp giảng dạy của giáo viên và quá trình tiếp thu kiến thức của học sinh. Vật lí là một trong những môn học có ưu thế trong việc phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh. Các dụng cụ thí nghiệm là một trong những phương tiện thể hiện phương pháp dạy học tích cực trong các giờ học thí nghiệm, trong đó thí nghiệm phải kích thích được hứng thú óc sáng tạo của học sinh. Muốn đạt được điều đó giáo viên phải tìm hiểu thật kỹ nội dung bài dạy, các dụng cụ và các bước thí nghiệm sẽ làm trước khi giảng dạy.

a) Tiến trình hoạt động

– Giáo viên giới thiệu các dụng cụ thí nghiệm, cho học sinh tìm hiểu đầy đủ chức năng của từng bộ phận có trong dụng cụ thí nghiệm được sử dụng.

– Xử lí các kết quả thu được từ thí nghiệm, rút ra mối liên hệ giữa các quan sát, giữa các số liệu, lập biểu đồ, đồ thị… Từ đó rút ra nhận xét, kết luận, hình thành kiến thức mới.

b) Lưu ý: Với phương pháp này giáo viên cần phải chuẩn bị thật kĩ thí nghiệm trước khi đưa vào dạy học, cần dự phòng trước các tình huống có thể dẫn tới các thí nghiệm không thành công, từ đó tìm ra nguyên nhân khắc phục.

c) Ví dụ: Thí nghiệm để rút ra kết luận về từ tính của nam châm.

– Giáo viên giới thiệu các dụng cụ thí nghiệm cho học sinh: Kim nam châm, giá đặt kim, thanh nam châm, một số mảnh kim loại bằng sắt, nhôm, đồng.

– Từ kết quả thí nghiệm thu được: Nam châm là những vật hút sắt; khi cân bằng kim nam châm luôn đứng tự do theo hướng Nam – Bắc. Từ những kết quả thu được từ thí nghiệm học sinh rút ra kết luận là nam châm có tính chất từ.

Phương pháp dạy học một hiện tượng Vật lí

Có nhiều hiện tượng xảy ra trong đời sống hằng ngày không thể áp dụng hết các công thức để tính toán chính xác được. Vì vậy có nhiều hiện tượng cần phải giải thích về mặt định tính cho phù hợp với nhận thức của học sinh. Có thể nêu lên một vấn đề, vận dụng những kiến thức đã được học để giải thích những hiện tượng đó một cách khoa học, sẽ tạo được niềm đam mê thích được nghiên cứu học tập của học sinh.

a) Tiến trình hoạt động

– Giáo viên nêu ra một số hiện tượng trong đời sống hằng ngày mà chúng ta hay gặp, nêu vấn đề đó ra cho học sinh suy nghĩ. Ví dụ như tại sao khi bỏ chiếc đũa vào tô nước ta nhìn thấy chiếc đũa bị gãy khúc…? Giáo viên có thể tiến hành thí nghiệm cho học sinh quan sát hiện tượng đó.

– Trên cơ sở những hiện tượng mà học sinh quan sát, nhìn thấy được trong thực tế đời sống hay trong những thực nghiệm. Bằng những câu hỏi định hướng hợp lí, giáo viên hướng dẫn học sinh phát hiện được những dấu hiệu chung, bản chất của hiện tượng Vật lí.

– Giáo viên cho học sinh kiểm tra kết luận thông qua các quan sát và thí nghiệm khác.

– Diễn đạt kết luận thu được bằng những thuật ngữ Vật lí thành các khái niệm, hiện tượng được nghiên cứu.

b) Lưu ý: Trong phương pháp dạy học một hiện tượng Vật lí thì khái niệm về hiện tượng Vật lí mới chỉ đề cập tới mặt định tính của hiện tượng Vật lí.

c) Ví dụ: Dạy học hiện tượng khúc xạ ánh sáng

– Giáo viên nêu giả thuyết và tiến hành thí nghiệm cho học sinh quan sát một hiện tượng Vật lí. Tại sao khi bỏ chiếc đũa vào tô nước ta nhìn thấy chiếc đũa bị gãy khúc?

+ Phát biểu định luật truyền thẳng ánh sáng?

+ Có thể nhận biết được đường truyền của tia sáng bằng những cách nào?…

– Sau khi học sinh quan sát hiện tượng giáo viên yêu cầu học sinh trả lời các câu hỏi sau:

+ Ánh sáng truyền trong không khí và trong nước đã tuân theo định luật nào?

+ Hiện tượng ánh sáng truyền từ không khí sang nước có tuân theo định luật truyền thẳng của ánh sáng hay không?

+ Khi tia sáng truyền từ không khí sang nước có đặc điểm gì?

– Giáo viên yêu cầu học sinh phát biểu kết luận về hiện tượng khúc xạ ánh sáng.

Phương pháp dạy học một đại lượng Vật lí

Đại lượng Vật lí là các thể hiện về mặt định lượng bản chất Vật lí có thể đo lường được của một vật thể hay hiện tượng tự nhiên, như khối lượng, trọng lượng, thể tích, vận tốc, lực… Khi đo đạc một đại lượng, giá trị đo được là một con số theo sau bởi một đơn vị đo.

a) Tiến trình hoạt động

– Phát hiện đặc điểm định tính của đại lượng Vật lí;

– Làm sáng tỏ đặc điểm định lượng của đại lượng Vật lí;

Đặc điểm định lượng của đại lượng Vật lí thường được biểu diễn bằng một biểu thức toán học liên hệ giữa đại lượng mới với đại lượng đã biết.

– Định nghĩa đại lượng Vật lí;

Định nghĩa đại lượng Vật lí có nghĩa là nêu cả đặc điểm định tính và đặc điểm định lượng của đại lượng Vật lí. Đối với các đại lượng Vật lí mà đặc điểm định tính của nó về sau mới được làm sáng tỏ thì trong định nghĩa đại lượng Vật lí, ta chỉ nêu đặc điểm định lượng của nó.

– Xác định đơn vị đo đại lượng Vật lí;

Ngoài các đơn vị cơ bản, mọi đơn vị đo đều được xác định dựa trên biểu thức của đại lượng. Sau khi xác định được đơn vị đo phải chú thích được đơn vị đo dưới dạng các kí hiệu.

– Vận dụng đại lượng Vật lí;

Trong giai đoạn này, học sinh vận dụng các kiến thức vừa học để giải thích những sự vật hiện tượng cụ thể trong đời sống hằng ngày, dự đoán những dấu hiệu, hiện tượng có thể cảm nhận được trong thực tiễn bằng giác quan, có thể đo lường cụ thể và giải các bài tập tính toán.

b) Lưu ý: Mỗi đại lượng Vật lí có thể có một hoặc nhiều đơn vị đo khác nhau, nhiều kí hiệu giữa các đại lượng có thể trùng nhau. Đơn vị đo của đại lượng Vật lí này có mối liên hệ chặt chẽ với biểu thức đã lập cho đại lượng Vật lí mới. Vì vậy giáo viên phải hướng dẫn cho học sinh cách chuyển đổi về một đơn vị chuẩn và một kí hiệu đặc trưng được bản chất của đại lượng Vật lí mới.

c) Ví dụ: Hình thành kiến thức về một đại lượng Vật lí mới “Điện trở suất”.

– Giáo viên cho học sinh tiến hành thí nghiệm mắc sơ đồ mạch điện với ba dây dẫn có cùng chiều dài, cùng tiết diện nhưng được làm bằng ba vật liệu khác nhau (đồng, sắt và constantan). Xác định điện trở của ba dây dẫn có cùng chiều dài, cùng tiết diện nhưng được làm từ các vật liệu khác nhau.

– Qua thí nghiệm trên học sinh rút ra được kết luận: Điện trở của dây dẫn phụ thuộc vào vật liệu làm dây dẫn.

– Sự phụ thuộc của điện trở vào vật liệu làm dây dẫn được đặc trưng bằng đại lượng nào? Đại lượng đó được phát biểu như thế nào? (Học sinh trả lời cá nhân);

– Điện trở suất được kí hiệu như thế nào? Đơn vị đo của nó là gì? Cho biết điện trở suất của đồng là 1,7.10-8 .m con số đó có ý nghĩa là gì?

– Sau khi xây dựng công thức điện trở của dây dẫn có điện trở suất , giáo viên cho học sinh làm một bài tập vận dụng để khắc sâu hơn kiến mới mà học sinh vừa mới lĩnh hội được.

Phương pháp dạy học một định luật Vật lí

Định luật Vật lí là mối quan hệ khách quan, phổ biến giữa các thuộc tính của các đối tượng, các quá trình và trạng thái được mô tả thông qua các đại lượng Vật lí, tồn tại trong những điều kiện xác định và thể hiện khi những điều kiện này xuất hiện, tương đối bền vững và có thể lặp lại.

a) Tiến trình hoạt động

– Trước tiên ôn tập để nắm vững các đại lượng Vật lí được đề cập trong định luật sẽ được khảo sát trong bài học;

– Thiết lập và tiến hành các thí nghiệm trong đó có thể lần lượt tác động làm thay đổi trị số của hai trong số các đại lượng Vật lí, còn các đại lượng khác được giữ nguyên không đổi. Trong mỗi lần thí nghiệm, khi làm thay đổi trị số của một đại lượng sẽ dẫn tới sự thay đổi trị số của đại lượng khác. Lập bảng ghi lại trị số phụ thuộc và tương ứng của hai đại lượng này;

– Từ bảng, lập đồ thị biểu diễn mối quan hệ phụ thuộc giữa hai đại lượng. Từ đó suy luận lô gíc để tìm ra mối quan hệ định lượng giữa hai đại lượng. Nếu định luật phản ánh mối quan hệ giữa nhiều đại lượng thì lại lặp lại thí nghiệm tương tự đối với một cặp đại lượng khác và suy luận về mối quan hệ định lượng giữa cặp đại lượng này;

– Tiến hành tổng hợp, khái quát hoá và suy luận toán học, trên cơ sở mối quan hệ định lượng giữa các cặp đại lượng đã tìm được, để đi tới tổng quát giữa các đại lượng được đề cập trong định luật được khảo sát;

– Phát biểu định luật, viết công thức biểu thị mối quan hệ giữa các đại lượng, chú thích các đơn vị, kí hiệu các đại lượng trong công thức;

– Áp dụng định luật cho một số bài toán cụ thể, từ đơn giản đến phức tạp.

b) Lưu ý: Giáo viên nên tìm cách giúp đỡ học sinh trong quá trình tổng hợp, khái quát hoá, suy luận quy nạp cũng như suy luận toán học trong thí nghiệm. Giáo viên cần đầu tư suy nghĩ các giải pháp sư phạm phù hợp với từng nhóm đối tượng học sinh.

c) Ví dụ: Xây dựng hệ thức định Ôm trong bài “Điện trở của dây dẫn – Định luật Ôm”.

– Trước hết cho học sinh ôn lại kiến thức về sự phụ thuộc của cường độ dòng điện vào hiệu điện thế giữa hai đầu dây dẫn.

– Xác định thương số đối với hai dây dẫn khác nhau.

– Cho học sinh tìm hiểu đại lượng Vật lí mới, đó là điện trở của dây dẫn. Điện trở dây dẫn biểu thị mức độ cản trở dòng điện nhiều hay ít của dây dẫn;

– Cho học sinh tìm hiểu mối quan hệ giữa cường độ dòng điện I, hiệu điện thế U và điện trở R của dây dẫn. Từ đó xây dựng được hệ thức của định luật Ôm I = .

– Từ hệ thức của định luật, yêu cầu học sinh phát biểu thành định luật và chú thích các đại lượng, đơn vị đo có trong hệ thức của định Ôm.

– Cho học sinh làm bài tập vận dụng ở câu C 3; C 4 trang 8 sách giáo khoa để học sinh khắc sâu hơn kiến thức của định Ôm.

Phương pháp dạy học tiết bài tập Vật lí

Bài tập Vật lí sẽ giúp học sinh hiểu sâu hơn những qui luật Vật lí, những hiện tượng Vật lí. Thông qua các bài tập ở các dạng khác nhau, các cách giải khác nhau, tạo điều kiện cho học sinh vận dụng linh hoạt những kiến thức để tự lực giải quyết thành công những tình huống, thì những kiến thức đó mới trở nên sâu sắc và trở thành vốn riêng của học sinh. Để làm được điều này đòi hỏi giáo viên phải đưa ra nhiều phương pháp cũng như các cách giải khác nhau trong cùng một bài tập. Từ đó thấy được những ưu điểm và hạn chế trong mỗi cách giải để áp dụng phù hợp cho từng nhóm đối tượng học sinh.

a) Tiến trình hoạt động

– Ôn lại kiến thức cần vận dụng để giải bài tập đã được học ở các bài trước.

– Giáo viên lựa chọn các bài tập để giải trong tiết học:

+ Bài tập từ đơn giản đến phức tạp.

+ Các bài tập định tính, các bài tập định lượng, các bài tập trắc nghiệm và bài tập tự luận.

+ Các bài tập thường có nhiều cách giải khác nhau.

+ Các bài tập để ra thêm cho học sinh khá giỏi.

– Đối với các học sinh khá giỏi khi làm xong bài trước, giáo viên có thể hướng dẫn cách giải khác hoặc giải một bài tập khác có phần phức tạp hơn.

– Cuối bài, giáo viên tổng kết và nêu cách giải hợp lí và ngắn gọn nhất, cũng như đáp số của bài tập đó.

Phương pháp dạy học tiết thực hành:

Tiết dạy thực hành và kiểm tra thực hành ở bộ môn vật lý THCS có ý nghĩa hết sức quan trọng bởi nó giúp GV đánh giá được năng lực, tầm hiểu biết, mức độ nắm vững kiến thức của học sinh mà còn là tiết học để học sinh phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong công việc đồng thời cũng là tiết học để củng cố vững chắc lý thuyết đã học cho học sinh.

Để có được tiết dạy thực hành và kiểm tra thực hành tốt theo tôi chúng ta cần lưu ý giải quyết tốt các vấn đề sau:

* Chuẩn bị của giáo viên

Để có tiết dạy thực hành và kiểm tra thực hành tốt nhất GV cần thực hiện tốt các yêu cầu sau:

+ Chuẩn bị tốt các phương tiện dạy học.

+ Cần chuẩn bị kỹ lưỡng , đầy đủ thiết bị dạy học cho các nhóm, đảm bảo tính đồng bộ giữa các nhóm.

+ GV cần yêu cầu học sinh từ tiết trước : Chuẩn bị nội dung thực hành và trả lời các câu hỏi trong phần báo cáo thực hành ra giấy.

+ GV phải làm trước các TN để có được kết quả và lấy đó làm căn cứ, tiêu chuẩn để đánh giá kết quả thực hành của các nhóm học sinh.

+ Cần xây dựng một biểu điểm phù hợp để có thể đánh giá chính xác HS

* Chuẩn bị của học sinh :

– Nắm vững lí thuyết, mục đích yêu cầu thí nghiệm, nhận biết được các thiết bị dùng trong bài thực hành.

– Xem kĩ bài thực hành trước , chuẩn bị báo cáo thực hành và đồ dùng Gv yêu cầu

– GV kiểm tra sự chuẩn bị ở nhà của học sinh.

– GV nêu rõ mục đích, yêu cầu của tiết thực hành.

– Hướng dẫn học sinh trả lời các câu hỏi để kiểm tra bài cũ kết hợp củng cố lý thuyết.

– GV giới thiệu dụng cụ thực hành, và nêu rõ các bước tiến hành thực hành ( GV có thể làm mẫu cho HS quan sát )

– GV chia nhóm hs ( từ 4- 6 nhóm), phát dụng cụ cho các nhóm.

– HS thực hành theo nhóm, GV hướng dẫn và uốn nắn các thao tác sai của các nhóm.

– Cá nhân HS hoàn thành báo cáo thực hành.

– GV kết luận : Củng cố , khẳng định lại lý thuyết. Nhận xét, đánh giá kết quả thực hành

Có thế chia phần dạy thực hành được chia thành các hoạt động cụ thể sau:

Hoạt động 1: Kiểm tra phần chuẩn bị của HS cho bài thực hành- Ôn tập củng cố lý thuyết- Tìm hiểu mục tiêu bài thực hành:

– GV cho học sinh tìm hiểu mục tiêu bài thực hành để nắm được tiết dạy thực hành làm những công việc gì? Nhằm mục đích gì?

Hoạt động 2: Tiến hành thực hành :

– GV chia nhóm và phân công nhiệm vụ cụ thể cho mỗi thành viên trong nhóm.

GV giới thiệu cách tính điểm phần thực.

GV giới thiệu dụng cụ TN và phát cho các nhóm

– GV hướng dẫn học sinh cụ thể từng bước làm thí nghiệm (GV có thể thao tác mẫu để các nhóm HS quan sát trước khi tiến hành thực hành ).

HS tiến hành thực hành và ghi kết quả thực hành

– GV theo dõi, uốn nắn và sửa sai ( nếu có )

Hoạt động 3: Hoàn thành báo cáo thực hành:

Cá nhân học sinh làm báo cáo theo mẫu đã chẩn bị.

Hoạt động 4: Nhận xét, đánh giá kết quả thực hành:

GV thu báo cáo thực hành của học sinh, đồng thời nêu nhận xét về ý thức, tác phong thực hành của các nhóm

GV dựa vào kết quả thực hành của các nhóm đối chiếu số liệu mà GV đã thực hành trước để nhận xét kết quả thực hành của các nhóm HS

GV cho HS thu dọn, vệ sinh đồ dùng (nếu cần) và cất đồ dùng.

Bên cạnh các phương pháp dạy học áp dụng cho từng nội dung kiến thức như trên thì để phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo và các năng lực của học sinh trong giờ học môn Vật lí ta có thể áp dụng một số kiểu tổ chức dạy học sau: ( Tài liệu tập huấn dạy học và kiểm tra đánh giá kêt quả học tập theo định hướng phát triển năng lực học sinh – Vụ GD trung học – Bộ GD& ĐT)

*Các bước tổ chức dạy học theo trạm:B1: Lựa chọn nội dung hệ thống trạm học tập

Mỗi hệ thống trạm gồm các trạm học tập, nhiệm vụ ở các trạm học tập độc lập với nhau. Nội dung hệ thống trạm có thể là kiến thức của một bài học hoặc một phần kiến thức xác định.

Các kiến thức độc lập với nhau trong một bài học có thể xây dựng thành một hệ thống trạm.

B2: Xây dựng nội dung các trạm

Ở mỗi trạm học tập có thể xây dựng các loại nhiệm vụ phong phú. Các nhiệm vụ ở các trạm có thể xây dựng được thể hiện trong bảng sau

Tiến hành thí nghiệm và xử lí kết quả thí nghiệm

Cần có ảnh chụp các thiết bị, ô dành cho việc vẽ bố trí thí nghiệm, các câu hỏi, câu định hướng việc tiến hành thí nghiệm

Các thiết bị thí nghiệm

Giải thích hiện tượng

Có ảnh chụp hiện tượng, yêu cầu giải thích hiện tượng, có thể sử dụng các kĩ thuật ra bài tập dưới dạng điền khuyết

Có thể chuẩn bị dụng cụ để tạo ra hiện tượng cần giải thích

Giải bài tập

Cần có nội dung bài tập, yêu cầu

Quan sát một thiết bị kĩ thuật và mô tả lại nguyên tắc cấu tạo của nó

Ảnh chụp thiết bị kĩ thuật,

Ô để vẽ nguyên tắc cấu tạo, khung để viết nguyên tắc hoạt động

Thiết bị kĩ thuật

Đọc các nguồn thông tin và tóm tắt thông tin quan trọng

Mô tả rõ ràng nội dung nhiệm vụ: đọc, tóm tắt dưới dạng bảng biểu hay sơ đồ tư duy

Văn bản cần đọc

B3. Tổ chức dạy học theo trạm

Chuẩn bị nguyên vật liệu cho từng trạm.

Thống nhất nội quy làm việc theo trạm với HS.

HS tiến hành các nhiệm vụ học tập trong từng trạm.

Tổng kết, hệ thống hóa kiến thức.

Dạy học nghiên cứu tình huống

Các bước dạy học nghiên cứu tình huống: Các bước tổ chức dạy học dự án:

Bước

Hoạt động của GV

Hoạt động của HS

Chuẩn bị

– Xây dựng bộ câu hỏi định hướng: xuất phát từ nội dung học và mục tiêu cần đạt được.

– Thiết kế dự án: xác định lĩnh vực thực tiễn ứng dụng nội dung học, ai cần, ý tưởng và tên dự án.

– Thiết kế các nhiệm vụ cho HS: làm thế nào để HS thực hiện xong thì bộ câu hỏi được giải quyết và các mục tiêu đồng thời cũng đạt được.

– Chuẩn bị các tài liệu hỗ trợ GV và HS cũng như các điều kiện thực hiện dự án trong thực tế.

– Xây dựng kế hoạch dự án: xác định những công việc cần làm, thời gian dự kiến, vật liệu, kinh phí, phương pháp tiến hành và phân công công việc trong nhóm.

– Chuẩn bị các nguồn thông tin đáng tin cậy để chuẩn bị thực hiện dự án.

– Cùng GV thống nhất các tiêu chí đánh giá dự án.

Thực hiện dự án

– Theo dõi, hướng dẫn, đánh giá HS trong quá trình thực hiện dự án

– Liên hệ các cơ sở, khách mời cần thiết cho HS.

– Chuẩn bị cơ sở vật chất, tạo điều kiện thuận lợi cho các em thực hiện dự án.

– Bước đầu thông qua sản phẩm cuối của các nhóm HS.

– Phân công nhiệm vụ các thành viên trong nhóm thực hiện dự án theo đúng kế hoạch.

– Tiến hành thu thập, xử lý thông tin thu được.

– Xây dựng sản phẩm hoặc bản báo cáo.

– Liên hệ, tìm nguồn giúp đỡ khi cần.

– Thường xuyên phản hồi, thông báo thông tin cho GV và các nhóm khác.

Kết thúc dự án

– Chuẩn bị cơ sở vật chất cho buổi báo cáo dự án.

– Theo dõi, đánh giá sản phẩm dự án của các nhóm.

– Chuẩn bị tiến hành giới thiệu sản phẩm.

– Tiến hành giới thiệu sản phẩm.

– Tự đánh giá sản phẩm dự án của nhóm.

– Đánh giá sản phẩm dự án của các nhóm khác theo tiêu chí đã đưa ra.

Học dựa trên tìm tòi, khám phá khoa học

Các giai đoạn đặc trưng của dạy học khám phá:

Trong lĩnh vực vật lí và trong dạy học vật lí, hoạt động dạy học khám phá được phân chia thành một số giai đoạn đặc trưng sau đây:

Giai đoạn 1: Đặt ra các câu hỏi khoa học

Trong nghiên cứu khoa học, đứng trước quá trình, hiện tượng cần nghiên cứu, các nhà khoa học thường đặt ra hai loại câu hỏi chủ yếu. Loại câu hỏi thứ nhất thường được mở đầu bằng từ “tại sao”, ví dụ: Tại sao vào mùa lạnh, khi hà hơi vào tấm kính để ngoài trời lại làm kính “mờ” đi? Tại sao giọt nước mưa lại rơi từ trên trời xuống dưới? Loại câu hỏi thứ hai thường hỏi về cách thức hình thành những sự kiện nào đó, thường sử dụng từ “như thế nào”, ví dụ: Làm như thế nào để tạo ra dòng điện mà không cần nguồn điện như pin, ác qui? Làm thế nào để vận tải điện năng đi xa mà giảm tổn thất điện năng? Nghiên cứu khoa học nói chung, dạy học khám phá nói riêng bao giờ cũng bắt đầu bằng câu hỏi khoa học.

Giai đoạn 2: Đưa ra giả thuyết/ dự đoán khoa học làm cơ sở cho việc trả lời câu hỏi khoa học

Trong quá trình học tập, HS phân tích các dữ liệu này để đưa ra giả thuyết làm cơ sở cho việc trả lời câu hỏi khoa học, giải thích các quá trình, hiện tượng khoa học đã quan sát được.

Giai đoạn 3: Tiến hành các thí nghiệm đề kiểm chứng giả thuyết đó

Mọi giả thuyết đều phải được kiểm chứng bằng thực nghiệm. Giả thuyết được kiểm chứng bằng thực nghiệm, nghĩa là giả thuyết hay hệ quả được suy ra từ giả thuyết cần phải phù hợp với các quan sát, bằng chứng chỉ ra ở các thí nghiệm mới do HS đề xuất và tiến hành. Nếu giả thuyết hệ quả được suy ra từ giả thuyết không phù hợp với các quan sát, bằng chứng chỉ ra ở các thí nghiệm mới, thì nghĩa là giả thuyết sai, phải quay trở lại, phân tích quá trình, hiện tượng đang nghiên cứu để đưa ra giả thuyết khác.

Giai đoạn 4: Rút ra kết luận

Sau khi tiến hành thí nghiệm kiểm chứng giả thuyết cho thấy giả thuyết đúng thì ta cần rút ra kết luận khoa học về vấn đề nghiên cứu. Đó chính là kết quả nghiên cứu.

Các hoạt động ngoại khóa vật lí có các hình thức tổ chức như: Hội vui vật lí; Triển lãm vật lí; Báo tường về vật lí…

Hội vui vật lí là một hình thức ngoại khóa dễ phổ biến, lôi cuốn được đông đảo HS tham gia, tạo ra được khí thế trong học tập và nghiên cứu. Hội vui có thể tổ chức theo từng chuyên đề hoặc theo khối lớp. Chẳng hạn: hội vui cơ học; hội vui về nhiệt học; hội vui về điện học; hội vui về quang học… Hội vui có nội dung chính là các trò chơi hoặc các câu hỏi rèn luyện trí tuệ, như: trò chơi hái hoa dân chủ; thi khéo tay; thi giải đáp các câu hỏi trí tuệ, thi chế tạo thiết bị thí nghiệm… Thời gian tổ chức hội vui không nên kéo dài để đảm bảo cho hội vui vừa truyền tải hết nội dung cần thiết vừa không gây ảnh hưởng đến sức khỏe và sự đi lại của HS.

Báo tường về vật lí là một hình thức hoạt động ngoại khóa khá hấp dẫn, dễ tổ chức, lôi cuốn được đông đảo HS tham gia, không phân biệt trình độ HS nhiều. Hình thức hoạt động ngoại khóa này có tác dụng tốt trong việc thúc đẩy HS sưu tầm, đọc các sách báo hoặc giải các bài toán hay về vật lí. Báo tường về vật lí cũng là một hoạt động để GV hoặc các thành viên tích cực trong lớp công bố các bài toán hay mà không có điều kiện hoặc không cần thiết phải trình bày trên lớp.

Bước 2: Lập kế hoạch tổ chức hoạt động ngoại khoá

Bước 3: Tiến hành hoạt động ngoại khoá theo kế hoạch

Bước 4: Tổ chức cho HS báo cáo kết quả, rút kinh nghiệm, khen thưởng.

Dạy học theo phương pháp “Bàn tay nặn bột”

Các bước tổ chức dạy học theo phương pháp “Bàn tay nặn bột”

Bước 1: Tình huống xuất phát và câu hỏi nêu vấn đề

PHẦN III. KẾT LUẬN

Bước 2: Bộc lộ quan niệm ban đầu của HS

Bước 3: Đề xuất câu hỏi hay giả thuyết và thiết kế phương án thực nghiệm

Bước 4: Tiến hành thực nghiệm tìm tòi – nghiên cứu

Bước 5: Kết luận và hợp thức hóa kiến thức

Trong quá trình nghiên cứu và áp dụng sáng kiến này tôi rút ra được một số bài học kinh nghiệm trong quá trình giảng dạy như sau:

– Về phương pháp giảng dạy lý thuyết:

+ Giáo viên phải nắm vững chương trình giáo dục phổ thông môn Vật lí ở THCS.

+ Giáo viên phải có kĩ năng xác định mục tiêu dạy học đã lượng hoá của từng bài, từng đơn vị kiến thức.

+ Có kĩ năng tổ chức cho học sinh hoạt động chiếm lĩnh kiến thức. Để làm tốt công việc này mỗi giáo viên cần tổ chức tốt tình huống học tập, từ đó thu thập thông tin, xử lí thông tin, thông báo kết quả làm việc, vận dụng, ghi nhớ kiến thức. Các câu hỏi cần phân loại để phù hợp với từng đối tượng học sinh: Câu hỏi biết, câu hỏi hiểu, câu hỏi vận dụng, câu hỏi tổng hợp, câu hỏi đánh giá.

– Phương pháp giảng dạy thực hành:

+ Khi làm thí nghiệm cả giáo viên và học sinh cần phải nắm được mục đích của thí nghiệm.

+ Nắm chắc các bước tiến hành thí nghiệm. Thao tác thí nghiệm cẩn thận, chính xác. Tránh làm đi làm lại thí nghiệm nhiều lần, mất tính thuyết phục.

+ Với các thí nghiệm cần cho học sinh dự đoán trước hiện tượng, kết quả. Từ đó tiến hành thí nghiệm kiểm tra dự đoán và kết luận dự đoán.

+ Đối với những thí nghiệm giáo viên làm biểu diễn cần phải làm trước khi lên lớp. Giải quyết trước các tình huống có thể xảy ra. Thí nghiệm phải thành công và có tính thuyết phục cao.

+ Với những thí nghiệm học sinh làm theo nhóm: Giáo viên cần phải hướng dẫn, gợi ý cách làm. Trong khi học sinh làm thí nghiệm giáo viên luôn luôn phải quan sát, hướng dẫn; kịp thời uốn nén những thiếu sót.

+ Khi có kết quả thí nghiệm cần phải tổ chức và điều khiển lớp hình thành kiến thức bằng những câu hỏi kích thích tư duy học sinh.

+ Có sự kết hợp tốt giữa các nhóm (các nhóm nhận nhận xét đánh giá lẫn nhau), giáo viên thường xuyên động viên khi học sinh có những thao tác, có kết quả tốt, phê bình những học sinh chưa có ý thức học tập, chưa tích cực trong giờ học.

Người viết:

MỤC LỤC

Trịnh Thị Thu Hiền

PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ

1. Lý do chọn đề tài

2. Tầm quan trọng của vấn đề nghiên cứu

đang nghiên cứu

4. Giới hạn nghiên cứu của đề tài

PHẦN II: NỘI DUNG

I. CƠ SỞ LÍ LUẬN

II. CƠ SỞ THỰC TIỄN

1. Đặc điểm tình hình

2. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu

III. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

1. Phương pháp dạy học thí nghiệm Vật lí

2. Phương pháp dạy học một hiện tượng Vật lí

3. Phương pháp dạy học một đại lượng Vật lí

4. Phương pháp dạy học một định luật Vật lí

5. Phương pháp dạy học tiết bài tập Vật lí

6. Phương pháp dạy học tiết thực hành Vật lí

* Các kiểu tổ chức dạy học

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Môn Tin Học Thpt

Mẫu sáng kiến kinh nghiệm tin học 11

Báo cáo sáng kiến kinh nghiệm tin 11

MỤC LỤC

1. LỜI GIỚI THIỆU

2. TÊN SÁNG KIẾN

3. TÁC GIẢ SÁNG KIẾN

4. CHỦ ĐẦU TƯ SÁNG TẠO RA SÁNG KIẾN

5. LĨNH VỰC ÁP DỤNG SÁNG KIẾN

6. NGÀY SÁNG KIẾN ĐƯỢC ÁP DỤNG

7. MÔ TẢ BẢN CHẤT CỦA SÁNG KIẾN

7.1. Tổng quan các vấn đề nghiên cứu

7.1.1. Mục đích nghiên cứu

7.1.2. Bản chất đối tượng nghiên cứu

7.1.3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

7.1.4. Phương pháp nghiên cứu

7.1.5. Giới hạn về không gian của phương pháp nghiên cứu

7.2. Phần nội dung 3

7.2.1. Cơ sở lý luận 3

7.2.2. Cơ sở thực tiễn

7.2.3. Nội dung cụ thể

I. Lặp

II. Lặp với số lần biết trước và câu lệnh FOR – DO

1. Cú pháp và hoạt động của câu lệnh For – do

2. Một số ví dụ

III. Lặp với số lần chưa biết trước

1. Cú pháp và hoạt động của lệnh lặp với số lần chưa biết trước

a. Câu lệnh While – do

b. Câu lệnh lặp repeat_until

2. Một số ví dụ

IV. Bài tập áp dụng

7.3. Khả năng áp dụng của sáng kiến

8. NHỮNG THÔNG TIN CẦN BẢO MẬT

9. CÁC ĐIỀU KIỆN CẦN THIẾT ĐỂ ÁP DỤNG SÁNG KIẾN

10. LỢI ÍCH THU ĐƯỢC

11. DANH SÁCH TỔ CHỨC, CÁ NHÂN ĐÃ THAM GIA ÁP DỤNG SÁNG KIẾN

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN 1. LỜI GIỚI THIỆU

Một trong những yếu tố quan trọng và không thể thiếu của một trương trình là “việc điều khiển”, cụ thể là các cấu trúc điều khiển, cũng là thành tố kết hợp đồng thời giữa dữ liệu và tác vụ. Cấu trúc điều khiển là một trong các đặc trưng cơ bản của phương pháp lập trình cấu trúc. Trong đó người ta sử dụng ba cấu trúc điều khiển để tạo nên logic của chương trình. Mọi vấn đề về logic đều được giải quyết bằng cách sử dụng linh hoạt ba cấu trúc điều khiển là:

Trong chương trình tin học lớp 11, các em học sinh đã được làm quen với lập trình có cấu trúc trong đó có cấu trúc lặp nhưng trong quá trình học tập và rèn luyện học sinh vẫn gặp phải một số khó khăn trong lập trình, chưa biết cách tối ưu hóa thuật toán, thậm chí còn mắc sai lầm khi lập trình giải các bài toán có sử dụng cấu trúc lặp. Vì những lý do trên tôi chọn đề tài “Rèn luyện kĩ năng sử dụng cấu trúc lặp trong lập trình Pascal cho học sinh lớp 11” nhằm cung cấp cho học sinh những kiến thức khái quát hơn về cấu trúc lặp và rèn luyện kỹ năng lập trình cho học sinh thông qua một số bài toán cụ thể.

2. TÊN SÁNG KIẾN

“Rèn luyện kĩ năng sử dụng cấu trúc lặp trong lập trình Pascal cho học sinh lớp 11”

3. TÁC GIẢ SÁNG KIẾN

– Họ tên: Nguyễn Thị Nụ

4. CHỦ ĐẦU TƯ SÁNG TẠO RA SÁNG KIẾN

– Họ tên: Nguyễn Thị Nụ

– Trình độ chuyên môn: Cử nhân Tin Học

– Đơn vị công tác: Trường THPT Yên Lạc 2 – Huyện Yên Lạc – Tỉnh Vĩnh Phúc

5. LĨNH VỰC ÁP DỤNG SÁNG KIẾN

Rèn luyện kĩ năng sử dụng cấu trúc lặp trong lập trình Pascal giảng dạy môn Tin học lớp 11 và bồi dưỡng học sinh tham gia kì thi chọn học sinh giỏi các cấp môn Tin học.

6. NGÀY SÁNG KIẾN ĐƯỢC ÁP DỤNG

Từ ngày 01/08/2019

7. MÔ TẢ BẢN CHẤT CỦA SÁNG KIẾN

7.1. Tổng quan các vấn đề nghiên cứu

7.1.1. Mục đích nghiên cứu

Góp phần đổi mới phương pháp dạy học sinh giỏi môn Tin học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh giúp học sinh tiếp thu tri thức một cách có hiệu quả.

Góp phần gây hứng thú học tập môn Tin học cho học sinh tham gia thi chọn học sinh giỏi, tránh việc học thụ động, học vẹt. Giúp học sinh lĩnh hội tri thức một cách khoa học, củng cố và khắc sâu kiến thức.

Qua đề tài này tôi mong muốn cung cấp cho học sinh một những vấn đề mà các em đang gặp phải về kĩ năng sử dụng cấu trúc lặp trong khi lập trình giúp các em chủ động hơn trong học tập, tích luỹ kiến thức, kỹ năng lập trình.

7.1.2. Bản chất đối tượng nghiên cứu

Đưa ra hệ thống lý thuyết về cấu trúc lặp và ứng dụng cấu trúc lặp giải các bài tập trong ngôn ngữ lập trình Pascal giúp học sinh lĩnh hội tri thức, giúp các em tích cực, chủ động tích lũy kiến thức. Qua đó, học sinh phát triển được tư duy logic thông qua hệ thống bài tập giúp các em rèn luyện được tính tự giác, tính kỉ luật, thói quen tự học đó là những đức tính rèn luyện tốt của học sinh.

7.1.3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

– Đối tượng: Cấu trúc lặp trong lập trình

– Phạm vi: Các vấn đề về cấu trúc lặp trong chương trình tin học lập trình trên ngôn ngữ Pascal.

7.1.4. Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp

Nghiên cứu lí luận chung.

Khảo sát điều tra thực tế dạy học.

Tổng hợp đúc rút kinh nghiệm.

Cách thực hiện

Trao đổi với đồng nghiệp, tham khảo ý kiến giáo viên cùng bộ môn. Liên hệ thực tế trong nhà trường, áp dụng và đúc rút kinh nghiệm qua quá trình giảng dạy. Thông qua việc giảng dạy trực tiếp học sinh lớp 11 và học sinh tham gia thi chọn học sinh giỏi môn Tin học khối 10 tại trường THPT Yên Lạc 2 năm học 2019 -2020.

7.1.5. Giới hạn về không gian của phương pháp nghiên cứu

Đề tài được đề cập với đồng nghiệp và thực nghiệm sư phạm qua các em học sinh lớp 11A2 và các em học sinh tham gia dự kì thi chọn học sinh giỏi môn Tin học lớp 10 năm học 2019-2020

7.1.6. Phạm vi nghiên cứu

Tôi đã nghiên cứu đề tài này trong suốt quá trình giảng dạy và thực nghiệm đề tài này trong năm học 2019-2020.

7.2. Phần nội dung

7.2.1. Cơ sở lý luận

Cấu trúc lặp là là một trong ba cấu trúc cơ bản trong lập trình có cấu trúc. Tuy nhiên trước một bài toán lập trình tin học có các thao tác lặp đi lặp lại nhiều học sinh thường lúng túng, không biết nên lựa chọn và sử dụng câu lệnh lặp nào cho phù hợp với yêu cầu bài toán và tối ưu hóa thuật toán? Một số học sinh khá, giỏi có thể sử dụng cấu trúc lặp để mô tả nhưng đa số chưa biết tối ưu hóa thuật toán để giảm số lần lặp và điều đó gây tâm lý chán nản cho các em. Với tình hình ấy để giúp học sinh có kĩ năng tốt hơn trong việc sử dụng cấu trúc lặp để mô tả thuật toán, thì người giáo viên cần tăng cường rèn luyện cho học sinh kĩ năng sử dụng cấu trúc lặp từ các các bài toán cơ bản quen thuộc mà các em đã biết, khai thác các yếu tố đặc trưng của một số bài toán cơ bản để tìm thuật toán cho các bài toán mới, dựa vào đặc điểm cụ thể của từng bài toán để tối ưu hóa thuật toán. Việc rèn luyện kĩ năng lập trình cho học sinh từ những bài toán cơ bản để xây dựng thuật toán cho các bài toán tương tự hoặc các bài toán mở rộng từ các bài toán cơ bản đó là một quá trình giúp học sinh rèn luyện kỹ năng lập trình.

7.2.2. Cơ sở thực tiễn

7.2.3. Nội dung cụ thể

Tất cả các nội dung, các ví dụ, bài tập trong đề tài này được xây dựng trên ngôn ngữ lập trình Pascal

I. Lặp

Xét 2 bài toán sau đây:

Bài toán 1: Tính và đưa kết quả ra màn hình tổng

S = 1+2+3+…+100

Bài toán 2: Tính và đưa kết quả ra màn hình tổng

Với cả 2 bài toán trên, dễ thấy cách để tính tổng S có nhiều điểm tương tự:

· Xuất phát, S được gán giá trị 0;

· Tiếp theo công vào tổng S một giá trị i với i = 1,2,3,4,5,….

Việc cộng này được lặp lại một số lần.

Đối với bài toán 1, số lần lặp là 100 và việc cộng vào tổng S sẽ kết thúc khi thực hiện cồn việc 100 lần.

Nói chung, ta thấy trong một số thuật toán có những thao tác phải lặp đi lặp lại nhiều lần. Cấu trúc lặp mô tả thao tác lặp được phân biệt 2 loại là lặp với số lần biết trước và lặp với số lần chưa biết trước.

Các ngôn ngữ lập trình đều có các câu lệnh để mô tả cấu trúc lặp.

……………………………………………….

Mời các bạn sử dụng file tải về để xem toàn bộ nội dung của mẫu sáng kiến kinh nghiệm tin học lớp 11.

Cập nhật thông tin chi tiết về Sáng Kiến Kinh Nghiệm trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!