Xu Hướng 2/2024 # Sáng Kiến Kinh Nghiệm # Top 4 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Sáng Kiến Kinh Nghiệm được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Những nguyên nhân kể trên đều có phần đúng nhưng chưa đầy đủ mà có thể kể thêm một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do trong thời gian qua, công tác giáo dục đạo đức, tuyên truyền tư tưởng đạo đức chưa được xem trọng. Vì vậy, tăng cường giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ (thế hệ tương lai của đất nước) là việc làm hết sức cấp thiết. Nhằm giúp cho học sinh hình thành cho mình những thói quen đạo đức, từ đó các em sẽ có những hành vi đạo đức phù hợp trong cuộc sống hằng ngày. Chính vì thế mà tôi chọn nghiên cứu và thực nghiệm đề tài “Hình thành thói quen đạo đức cho học sinh lớp 2”. PHẦN II: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI Với vai trò là một giáo viên trực tiếp giảng dạy, tôi nhận thấy rằng: muốn có những công dân tốt có ích cho xã hội, có ích cho nước, có lợi cho nhà thì trước tiên cần phải giáo dục đạo đức cho học sinh. Đặc biệt, là học sinh ở bậc học tiểu học, vì đây là bậc học nền tảng, bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân. Bậc tiểu học tạo những cơ sở ban đầu rất cơ bản và bền vững cho trẻ tiếp tục học lên những bậc trên, hình thành những cơ sở ban đầu của nhân cách. Những gì thuộc về tri thức kỹ năng, về hành vi con người … được hình thành và định hình ở học sinh tiểu học sẽ theo suốt cuộc đời mỗi người. Mặt khác, học sinh tiểu học dễ tiếp thụ sự nuôi dưỡng, sự giáo dục. Chính vì vậy, muốn hình thành cho trẻ những thói quen đạo đức cần bắt đầu từ bậc tiểu học. Đồng thời, ở lứa tuổi này các em bắt đầu được tiếp thu các kiến thức về tự nhiên, về xã hội và bước đầu đã có ý thức. Trong hoạt động nhận thức, lứa tuổi này có tâm sinh lý riêng dễ bắt chước, chưa ý thức rành mạch việc gì đúng, việc gì sai, việc gì nên làm và việc gì không nên làm. Vì vậy, giáo viên cần phải nắm rõ những đặc điểm tâm sinh lý của lứa tuổi này sẽ giúp các em có ý thức hành động đạo đức đúng đắn chuẩn mực. Việc giáo dục đạo đức cho học sinh lớp 2 không chỉ đơn thuần là những bài học đạo đức ở trên lớp; những lý thuyết chung chung học mà không hành. Do vậy, lời nói việc làm của người lớn (ông, bà, cha, mẹ, thầy cô giáo …) trong cuộc sống giao tiếp hàng ngày là khuôn mẫu, là gương sáng cho trẻ em ở bậc tiểu học. Để làm được điều đó, giáo viên chủ nhiệm không nên làm một mình mà cần tích cực kết hợp với phong trào đoàn thể trong nhà trường như phong trào Đội, sinh hoạt sao, các bậc phụ huynh và các phong trào đoàn thể ngoài nhà trường. Như vậy, từ việc giáo dục đạo đức, chúng ta sẽ hình thành cho trẻ những thói quen đạo đức thông qua giờ dạy đạo đức, các hoạt động ngoại khóa, tham quan du lịch Ngoài ra, nội dung các môn học khác trong chương trình học đều có chứa đựng nội dung giáo dục và hình thành những thói quen đạo đức nếu như ta biết khai thác. Ví dụ: Môn tiếng Việt với nhiều bài thơ, bài văn phong phú, đa dạng nói về quê hương, đất nước, con người, về cách ứng xử của các nhân vật khác nhau, nhờ đó mà có thể giáo dục hình thành cho các em tình yêu quê hương, đất nước, yêu lao động yêu con người, biết cách ứng xử trong các mối quan hệ xã hội và biết tỏ thái độ đối với các sự vật hiện tượng trong cuộc sống. Môn toán với hệ thống các bài học về bốn phép tính được mở rộng nâng cao dần từ đầu đến cuối chương trình học, các bài học về hình học, đặc biệt các bài toán có lời văn đều có ý nghĩa trong việc giúp học sinh hình thành những biểu tượng đạo đức và một số phẩm chất đạo đức tích cực như cần cù, chăm chỉ, kiên trì, chính xác, tôn trọng sự thật. Hoặc như môn thủ công, ngoài kỹ năng khéo léo, tỉ mỉ, giáo viên còn giúp học sinh yêu quý những sản phẩm mình bỏ công sức làm ra, biết giúp đỡ ban bè khi cần thiết, vừa làm vệ sinh lớp học. Từ đó, sẽ giúp các em hình thành nên những thói quen đạo đức lâu dài. Điều này phải cần thiết phù hợp, đúng lúc, đúng nơi, đúng chỗ. PHẦN III: ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH 1. Thuận lợi: – Được sự quan tâm của chính quyền địa phương, Phòng GD & ĐT, của Ban giám hiệu nhà trường, giúp cho tôi an tâm công tác và cố gắng nỗ lực hết sức mình vào sự nghiệp giảng dạy và giáo dục học sinh. – Ban giám hiệu nhà trường đặc biệt quan tâm, chỉ đạo đến công tác giáo dục đạo đức cho học sinh. – Môn học đạo đức gắn liền với thực tiễn cuộc sống nên được sử dụng thường xuyên, có những ví dụ cụ thể trong cuộc sống hằng ngày để giáo dục và từ đó hình thành nên những thói quen, chuẩn mực hành vi cho các em. – Bản thân tôi đã trực tiếp giảng dạy nhiều năm ở bậc tiểu học. 2. Khó khăn: – Đa số các em học sinh là con em nông dân, công nhân nên thiếu sự quan tâm của gia đình, đồ dùng học tập còn thiếu, chưa được trang bị đầy đủ. – Tuy rằng hiện nay, Đạo đức là một trong những môn học chính nhưng thời lượng của môn học này chưa nhiều, chỉ 01 tiết / tuần. – Chưa kết hợp chặt chẽ giữa lý thuyết và thực hành. – Trình độ học sinh không đồng đều, kiến thức thực tế để xây dựng hành vi đạo đức cho các em còn hạn chế. PHẦN IV: NỘI DUNG THỰC HIỆN Nhờ đó, học sinh có cơ hội tham gia hoạt động, được luyện tập thực hành, trải nghiệm để hình thành các kĩ năng hành vi ứng xử và bày tỏ thái độ của mình khi áp dụng vào thực tiễn, đồng thời cũng tránh được hiện tượng học sinh đã nắm vững kiến thức, thuộc lòng các chuẩn mực hành vi đạo đức theo yêu cầu bài học nhưng trong cuộc sống vẫn không có được kĩ năng hành vi tương ứng. Dạy học theo sách vở, theo chương trình là chưa đủ mà cần phải giáo dục và hình thành đạo đức cho học sinh thông qua các hoạt động tập thể như hoạt động Đội, sao nhi đồng; thông qua các buổi lao động, các buổi tham quan du lịch, các hoạt động văn nghệ, TDTT… Và đặc biệt, không thể bỏ qua sự tự giáo dục đạo đức của mỗi cá nhân học sinh . PHẦN V: BIỆN PHÁP TIẾN HÀNH 1/ Giáo dục, hình thành thói quen đạo đức cho học sinh thông qua môn Đạo đức : Để thực hiện tốt việc giáo dục và hình thành nên những thói quen hành vi chuẩn mực đạo đức cho học sinh thông qua môn Đạo đức, tôi luôn thực hiện đầy đủ và nghiêm túc các bài dạy đạo đức, không mang tâm lý xem nhẹ môn học này vì cho rằng đó là môn phụ và không phải thi cử nên có tâm lý chủ quan, dạy qua loa, chiếu lệ. Đối với 3 tiết dạy dành cho địa phương, tôi tiến hành khảo sát xem những vấn đề nào cần phải tăng cường giáo dục để từ đó biên soạn các tiết dạy này cho sát với tình hình thực tế ở địa phương. Khi giảng dạy môn đạo đức, tôi thường xuyên đổi mới phương pháp, hình thức dạy học để tạo hứng thú cho các em khi tham gia học tập. Bên đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá là một khâu quan trọng, nó ảnh hưởng sâu sắc đến chất lương và hiệu quả dạy học. Việc đánh giá kết quả học tập có nhiều hình thức khác nhau như: quan sát thái độ học tập, kiểm tra vấn đáp, trắc nghiệm, bày tỏ thái độ Từ đó, học sinh có điều kiện thể hiện được bản thân và đặc biệt thực hiện được hành vi đạo đức của mình trong cuộc sống hằng ngày. Do đó, việc đánh giá phải được thể hiện trên tất cả các mặt: kiến thức, tình cảm thi độ và kỹ năng hành vi ứng xử của các em ở gia đình, nhà trường, cộng đồng. Năm học 2005 – 2006, Bộ GD – ĐT đã ra quyết định số 30/2005/BGD&ĐT về việc ban hành quy định đánh giá và xếp loại học sinh tiểu học trong đó môn đạo đức không đánh giá bằng định lượng (điểm số) mà được đánh giá bằng nhận xét theo hai hình thức: hoàn thành tốt (xếp loại A+) – hoàn thành (xếp loại A) và hình thức thứ hai là chưa hoàn thành (xếp loại B). Vì thế, giáo viên cần có kỹ năng và tinh thần thái độ tích cực trong việc vận dụng các tiêu chí, các chứng cứ biểu hiện mới để đánh giá kết quả học tập của học sinh cho đúng và chính xác. 2/ Giáo dục hình thành thói quen đạo đức thông qua các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp: – Mỗi ngày đến trường là một ngày vui. Để giúp các em bớt thời gian chơi vô bổ. Ngoài những giờ học, vào giờ ra chơi nên tổ chức cho học sinh vui chơi với các trò chơi dân gian như: nhảy dây, bắn bi, bịt mắt bắt dê, thi kể chuyện, thi chạy nhanh, thi hát hay múa dẻo, ô ăn quan, chơi chuyền… Hoặc tập cho học sinh những bài tập thể dục với gậy, vòng để rèn luyện thân thể vui chơi nhưng bổ ích. Các em không còn thời gian để gây gổ hay chửi thề. – Ngoài giờ học chính khóa, tổ chức các hoạt động ngoại khoá cho học sinh tham gia. Chẳng hạn, tổ chức cho học sinh thăm các di tích lịch sử, di tích văn hoá để học sinh học tập các tấm gương của các danh nhân hoặc đến thăm các danh lam thắng cảnh, các khu vui chơi giúp các em có cơ hội vận dụng những điều đã học vào thực tế. – Ở trường Tiểu học, hoạt động ngoài giờ lên lớp rất phong phú, đa dạng. Trong đó, có những hoạt động được tổ chức thực hiện theo tiến độ thời gian hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng. Ví dụ: hoạt động 15 phút truy bài đầu giờ, đọc báo, văn nghệ; 30 phút ra chơi thì bao gồm thể dục giữa giờ, vui chơi giải trí; chào cờ đầu tuần; sinh hoạt Sao; hoạt động thi đua trong tháng; hoạt động hè ở địa phương…, có những hoạt động được tổ chức theo chủ điểm để kỷ niệm các ngày lễ lớn như: Ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11; mời các vị lão thành cách mạng hoặc các vị có chức trách trong chính quyền địa phương đến ôn lại truyền thống của bộ đội nhân ngày 22/12.. Ngoài ra, Giáo viên chủ nhiệm phối hợp với Liên đội hình thành các câu lạc bộ, đội nhóm sở thích như Câu lạc bộ cờ vua, Đôi bạn cùng tiến, Nói lời hay làm việc tốt, Hoa bé ngoan, Nét chữ nết người hướng các em đến các hoạt động vui chơi bổ ích và giúp nhau cùng tiến bộ. Qua hoạt động ngoài giờ lên lớp, học sinh có cơ hội được vận dụng kiến thức vào thực tiễn, rèn luyện các phẩm chất đạo đức, các giá trị nhân văn và kĩ năng ứng xử trong cuộc sống… Do đó, có thể khẳng định hoạt động ngoài giờ lên lớp là một hình thức quan trọng để giáo dục học sinh. Để tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp đạt được kết quả như mong muốn, việc xây dựng kế hoạch là rất cần thiết, bao gồm kế hoạch hoạt động cho từng ngày, từng tuần, từng tháng, từng chủ điểm, từng học kì và từng năm học. Trong đó cần nêu rõ nội dung giáo dục đạo đức được thể hiện trong từng hoạt động được tổ chức. Vì thế muốn tổ chức tốt hoạt động ngoài giờ lên lớp tôi phải học hỏi, tìm hiểu thu thập thông tin về thực tế cuộc sống, tình hình chính trị xã hội để cung cấp triển khai nội dung cho các em học sinh. Tuy nhiên, để có được bản kế hoạch khoa học, phù hợp với đặc điểm nhà trường thì cần phối hợp chặt chẽ giữa tổng phụ trách đội , nhà trường, nên thiết kế và tổ chức một số hoạt động mẫu có lồng ghép nội dung giáo dục đạo đức để học sinh học tập. Có thể chọn hoạt động hàng ngày, hàng tuần, hoặc hoạt động theo chủ điểm để làm hoạt động mẫu. Ví dụ: chọn hoạt động theo mẫu ở chủ điểm tháng 11: “Biết ơn thầy cô giáo”. Nội dung của chủ điểm bao gồm nhiều hoạt động đa dạng như thi đua nề nếp học tập tốt, giờ học tốt, giành nhiều điểm 10 kính tặng thầy cô, mit – tinh kỉ niệm và biểu diễn văn nghệ, thi viết chữ đẹp, thi kể chuyện… Mục tiêu của các hoạt động này nhằm giáo dục ý thức “Tôn sư trọng đạo”. Điều đó được thể hiện bằng lòng tôn kính, chăm chỉ học tập giành nhiều điểm tốt, vâng lời thầy cô… Về cách thức tổ chức, điều kiện thực hiện, thời gian,… cần phải được thiết kế, lên kế hoạch khoa học, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của nhà trường. Trong quá trình thực hiện nên phối hợp chặt chẽ với các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường để tạo điều kiện về mọi mặt để tổ chức tốt hoạt động. Khi đánh giá, cần xây dựng tiêu chí, chuẩn mực đánh giá cho mỗi hoạt động cụ thể và sử dụng nhiều hình thức kiểm tra nhằm thực hiện cho việc đánh giá kết quả hoạt động một cách khách quan, công bằng, chính xác, tạo tâm lý phấn khởi, tích cực thi đua hoạt động ở học sinh. Ví dụ: hình thức kiểm tra từ trên xuống, kiểm tra chéo, kiểm tra của đội sao đỏ, lớp trực tuần…). Hàng ngày, học sinh thực hiện hành vi đạo đức theo mẫu các chuẩn mực được học ở mọi lúc, mọi nơi trong các mối quan hệ, các tình huống khác nhau. Nhờ việc thực hiện thường xuyên như vậy hành vi của các em sẽ trở thành kỹ xảo thói quen bền vững (như lễ phép với người lớn tuổi, đi thưa về chào, bỏ rác đúng nơi quy định, giữ gìn trật tự vệ sinh nơi công cộng) Khi luyện tập hành vi đạo đức cho học sinh có thể sử dung biện pháp tạo tình huống giáo dục, tức là chủ động tạo ra tình huống đạo đức một cách tự nhiên, đặt ra cho học sinh một cách “tình cờ”. Trước tình huống đó, các em tự lựa chọn cách ứng xử xho mình. Khi đó, việc thực hiện hành vi của trẻ không do thầy cô, cha mẹ, bạn bè ép buộc mà hoàn toàn theo ý thức, thái độ tự giác của các em. Từ đó, học sinh biết lựa chọn hành vi sao cho phù hợp chuẩn mực đạo đức, trên cơ sở luyện tập các hành vi lặp đi lặp lại nhiều lần hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng sẽ hình thành nên những thói quen tích cực và bền vững. Mặt khác, phương tiện quan trọng để tập thói quen hành vi là chế độ giờ giấc. Việc tuân thủ theo chế độ giờ giấc có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với học sinh tiểu học nói chung và học sinh lớp 2 nói riêng, vì ở chúng, ý chí chưa hình thành đầy đủ. Với chế độ giờ giấc nghiêm ngặt, chặt chẽ sẽ giúp trẻ củng cố các hành động tích cực, điều khiển ước muốn của mình, tạo ra các thói quen tích cực. Ngoài những việc làm trên, chúng ta có thể sử dụng thêm những gương danh nhân, những gương đạo đức thực tế trong cuộc sống sẽ trở nên cụ thể hơn, sinh động hơn và có sức thuyết phục hơn để kích thích các em bắt chước theo. Bên cạnh đó, kết quả giáo dục đạo đức của học sinh còn chịu sự ảnh hưởng của gia đình. Vì thế, trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh, tôi phải thực hiện liên kết với gia đình các em để tìm hiểu, nắm vững hoàn cảnh sống , đặc điểm về thể chất, tâm sinh lý của các em. Nhờ đó, mà giúp các em phát huy những mặt mạnh của bản thân như giúp đỡ bạn, nhân hậu, vị tha khi bạn không phải với mìnhĐồng thời, tôi cũng trao đổi với gia đình qua điện thoại, hoặc gặp trực tiếp thông báo về trường hợp học sinh có những biểu hiện cá biệt để cùng phối hợp giáo dục đạo đức đạt kết quả tốt hơn. Qua đó, tôi sẽ làm công tác tư vấn giúp cha mẹ các em hiểu rõ về giáo dục đạo đức cho học sinh với những vấn đề cơ bản sau: – Trách nhiệm của gia đình trong việc phối hợp với nhà trường để giáo dục đạo đức cho con em họ . – Do khả năng nhận thức của học sinh còn hạn chế, nặng về cảm tính, chưa biết độc lập phân tích và đưa ra những đánh giá, nhận xét của riêng mình về các hiện tượng diễn ra trong cuộc sống, vì vậy gia đình cần hiểu và thống nhất với nhà trường về mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục học sinh. Nếu thiếu sự thống nhất đó thì rất dễ dẫn tới việc sai lầm các giá trị đạo đức ở các em . – Ngoài ra, gia đình cũng cần tạo điều kiện thuận lợi (Phương tiện dụng cụ học tập, thời gian học tập, vui chơi giải trí…) cho con em mình học tập và rèn luyện, đồng thời dành sự quan tâm chăm sóc và tạo bầu không khí gia đình đầm ấm, hạnh phúc * Phối hợp với chính quyền địa phương và các đoàn thể xã hội: Thực chất đây là sự liên kết giáo dục giữa nhà trường với xã hội. Các lực lượng xã hội gồm: chính quyền địa phương, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Hội Chữ thập đỏ cùng liên kết để giáo dục các em. Trên cơ sở đó, tổ chức các hoạt động như: tuyên truyền công tác bảo vệ môi trường, giữ gìn vệ sinh công cộng, an toàn giao thông, nghe nói chuyện về truyền thống đấu tranh cách mạng ở địa phương, tham quan di tích lịch sử Điều đặc biệt quan trọng là mỗi thành viên của lực lượng xã hội khi tham gia công tác phải thực sự gương mẫu, là tấm gương về lao động, công tác, nhân ái, vị tha, văn minh trong quan hệ ứng xử với mọi ngườiđó là những tấm gương sống động và mạnh mẽ sẽ ảnh hưởng tích cực đến việc hình thành nhân cách của các em và đây cũng chính là môi trường tốt và lành mạnh để các em thể hiện rõ hành vi của mình. Giáo viên là yếu tố cốt lõi, là người khởi xướng và thực hiện, là tấm gương sáng tự học và tự rèn cho học sinh noi theo. Mọi cử chỉ lời nói của giáo viên đều có ảnh hưởng sâu sắc đến học sinh lớp mình chủ nhiệm cho nên nếu các hành vi đó không mẫu mực cũng sẽ làm cho học sinh dễ bắt chước theo. Mọi cử chỉ nói năng, ăn mặc, đi đứng, thái độ biểu hiện của giáo viên đều có ảnh hưởng nhất định đến nhân cách học sinh. Chính vì thế, mà tôi luôn không ngừng học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trau dồi phẩm chất đạo đức, luôn mẫu mực trong cuộc sống, thiết lập mối quan hệ thường xuyên, thân thiết quan tâm gần gũi với các em như một người chị, người mẹđể dẫn lối chỉ đường nhằm hoàn thiện nhân cách đạo đức cho các em. Kỹ năng thể hiện hành vi của các em là quan trọng nhất và cũng là khó khăn nhất, nên trong công tác giảng dạy tôi luôn cố gắng hướng các em vào những việc làm, hành động cụ thể để các em thực hiện được những hành vi tích cực đó trong cuộc sống hằng ngày. PHẦN VI: KẾT QUẢ Sau một thời gian thực hiện các kinh nghiệm trên, lớp tôi dạy (sĩ số 32 học sinh) đã đạt kết quả như sau: – Loại hoàn thành tốt (A+) đạt 18 em, chiếm tỉ lệ: 56,25%. – Loại hoàn thành (A) đạt 14 em, chiếm tỉ lệ: 43,75%. – Không có học inh xếp loại chưa hoàn thành. Trong thực tế áp dụng các kinh nghiệm trên, tôi nhận thấy học sinh do lớp mình phụ trách có những bước tiến triển sau: – Hình thành cho các em ý thức về những chuẩn mực hành vi đạo đức (tri thức và niềm tin) tạo nên những già trị đạo đức phù hợp với những chuẩn mực quy định. – Hình thành được cho các em những kỹ năng, hành vi phù hợp với các chuẩn mực và trên cơ sở đó rèn luyện thành thói quen đạo đức tích cực. – Vận dụng những thói quen đạo đức trong cuộc sống hàng ngày của học sinh. Nói chung mỗi hành vi thói quen đạo đức của học sinh đều đòi hỏi người giáo viên phải có sự kiên trì, nhẫn nại dẫn dắt học sinh trong từng bài học, tình huống, hành vi hoạt động cụ thể nhất là khâu vận dụng vào thực tiễn cuộc sống hằng ngày để rèn luyện nó trở thành thói quen tích cực và bền vững. PHẦN VII: BÀI HỌC KINH NGHIỆM. Trong quá trình dạy và áp dụng những kinh nghiệm trên nhằm góp phần hình thành nên những thói quen đạo đức cho học sinh ở lớp 2, tôi cũng đã đọc kỹ và tìm hiểu nội dung chương trình môn học Đạo đức của lớp 2. Điều này rất có ích để tôi giáo dục đạo đức tốt hơn cho học sinh. Bên cạnh đó tôi cũng rút ra được một vài kinh nghiệm trong việc dạy học, tổ chức các hoạt động trong việc hình thành những thói quen đạo đức cho học sinh tiểu học. 1. Người giáo viên phải thực sự có lòng yêu nghề, mến trẻ, kiên trì, nhẫn nại, nhiệt tình trong công tác, không ngại khó, ngại khổ.

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Gdcd

MỤC LỤC A-PHẦN MỞ ĐẦU: 1-Lí do chọn đề tài : 1 2-Đối tượng nghiên cứu: 23- Mục tiêu nghiên cứu : 3 4-Phương pháp nghiên cứu: 4 5- Nhiệm vụ nghiên cứu: 5 B-NỘI DUNG 1-Cơ sở lí luận: 62-Thực trạng vấn đề: 73Nội dung nghiên cứu: 94-Kết quả: C-KẾT LUẬN. D-Tai lieu tham khao

A-1-LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:a-Lí do khách quan: Hiện nay, đất nước ta đang “Đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, thực hiện công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước,tích cực chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa” (NQ -TW Đảng KhóaIX), cùng với sự kiện trên, hệ thống giáo dục nói chung , bậc học nói riêng, ra sức phấn đấu thực hiện có hiệu quả đổi mới chương trình sách giáo khoa , đổi mới phương pháp giảng dạy, nâng cao chất lượng giáo dục theo chủ trưông của Đảng và Nhà nước, nhằm mục đích nâng cao trình độ hiểu biết của học sinh về mọi mặt, đáp ứng ” mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện” (Luaät -GD). . Xác định được nhiệm vụ trên, Bộ môn giáo dục công dân, ở trường trung học cơ sở có một vị trí vai trò quan trọng trong việc góp phần trực tiếp đào tạo nhân cách con người, có được phẩm chất đạo đức cần thiết, trong giảng dạy làm thế nào tạo cho được sự hứng thú học tập bộ môn,huy đọâng sự tham gia tích cựccủa HS , từ đó mới nâng cao GDCD bậc THCS. b-Lí do quan: Là giáo viên dạy GDCD, được dự các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ, nhất là các lớp thay sách giáo khoa, ñổi mới phöông pháp giảng dạy,bản thân có vốn kiến thức cũng như kinh nghiệm trong quá trình giảng dạy và cũng có mong muốn đáp ứng mục tiêu của và Nhà nước, góp phần đào tạo thế hệ trẻ có nhân cách hoàn chỉnh phù hợp với thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.Từ đó tôi chọn đề tài :“Một số biện pháp nâng cao chất lượng bộ môn Giáo Dục Công Dân ở THCS” .2-ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨUchọn học sinh khối: 6 ,7 ,8 và 9 làm đối tượng nghiên cứuThuận lợi :-Có bộ sách giáo khoa GDCD 6,7, 8,9,sách giáo viên GDCD 6,7,8 9và bộ tranh GDCD6, một số tranh lớp 7, lớp 9.-Có sự quan tâm giúp đỡ của Ban Giám Hiệu,Tổ chuyên môn -Có sự kết hợp giáo dục đồng bộ của :Gia đình ,nhà trường và xã hội.Khó khăn:-Tài liệu tham khảo quá ít .-Dụng cụ trực quan cung cấp chưa đầy đủ nên với mỗi bài phải tự thiết kếâ thêm hoặc sưu tầm, để minh họa cho tiết dạy .-Sách giáo khoa không có màu đặc trưng. Ví dụ như:Các biển báo thông dụng ,trong bài 14 :”Thực Hiện An Toàn Giao Thông”…3-MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU:-Môn GDCD,nhằm giáo dục học sinh ,các chuẩn mực đạo đức phù hợp với quy định xã hội, qua đó hình thành nhân cách con người. Trong giảng dạy, từng bước phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh, học sinh tham gia tích cực quá trình học tập, để tự phát hiện và chiếm lĩnh tri thức, hình thành kĩ năng và thái độ .-Giúp học học sinh nhận thức được: “Học phải đi đôi với hành”; “Lí luận gắn liền với thực tiễn”, giúp học hứng thú trong học tập bộ môn GDCD.-Người giáo viên phát huy được tính tích cực chủ đôïng, sáng tạo học tập của học sinh, qua sự vận dụng sáng tạo các phương pháp đặc trưng bộ môn.Bao gồm phương pháp mới kết hợp với phương pháp cổ truyền.4-NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU :-Giúp học sinh hiểu, nắm chắc và tin tưởng vào tính đúng đắn của các chuẩn mực đạo đưcù, pháp luật, đặc biệt là hiêûu được vai trò, ý nghĩa và cách rèn luyện các chuẩn mực .-Xây dựng và từng bước hình thành ở học sinh những thái độ và hành vi ứng xử đúng đắn, trong tất cả các mối quan hệ với người xung quanh .Xuất phát từ nhiệm vụ trên, đểû đạt hiệu quả chất lượng bộ môn GDCD cần có một số biện pháp giảng dạy tích cực gây hứng thú

Mô Tả Sáng Kiến Kinh Nghiệm

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc MÔ TẢ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

Mã số: ………………………

– Họ và tên : DANH HOÀI TÂM

– Chức danh: Giáo viên

– Đơn vị công tác : Trường THPT Hòa Hưng

huyện Giồng Riềng tỉnh Kiên Giang.

1.Tên sáng kiến:

Hướng dẫn học sinh phân tích biểu đồ nhiệt độ và lượng mưa trong sách giáo khoa môn Địa lí lớp 7.

Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: giảng dạy

Mô tả bản chất của sáng kiến:

3.1. Tình trạng giải pháp đã biết

– Hiện trạng trước khi áp dụng giải pháp:

Một thực tế đã diễn ra trong nhiều năm qua ở trường THPT Hòa Hưng là đa số học sinh khối 7 các em e ngại khi học tập bộ môn Địa lý vì phải ghi nhớ rất nhiều số liệu khi phân tích các biểu đồ cụ thể là biểu đồ nhiệt độ và lượng mưa.

Các em chưa có một phương pháp học tập phù hợp và đạt hiệu quả cao trong giờ học Địa lý.

Vì vậy có nhiều em học sinh chưa có hứng thú học tập bộ môn, cho nên kết quả học tập đạt chưa cao.

– Sự cần thiết của việc đề suất giải pháp:

Chúng ta đã biết nếu các em biết phân tích biểu đồ nhiệt và lượng mưa thì các em sẽ dễ dàng hiểu về đặc điểm khí hậu của bất một vùng đất nào trên thế giới.

Trong sách giáo khoa địa lí 7 có rất nhiều biểu đồ nhiệt độ và lượng mưa để các em tham khảo và tìm hiểu.

Nếu biết cách phân tích biểu một cách có hiệu quả thì các em sẽ không còn e ngại vì phải ghi nhớ nhiều số liệu và e ngại khi học tập bộ môn Địa lí.

3.2. Nội dung giải pháp đề nghị công nhận là sáng kiến:

– Mục đích của giải pháp: Giúp học sinh tự phân tích biểu đồ nhiệt độ và lượng mưa trong sách giáo khoa môn Địa lí cấp THCS.

– Nội dung giải pháp: được thực hiện khái quát qua các bước sau:

Yêu cầu hs cho biết nhưng yếu tố nào được thể hiện trên biểu đồ?Trong thời gian bao lâu?

+ Yếu tố nào được biểu hiện theo đường?

+ Yếu tố nào được biểu hiện bằng hình cột?

– Yêu cầu hs cho biết trục bên phải; trục bên trái dùng để đo tính đại lượng nào?

+ Xác định đơn vị tính nhiệt độ và đơn vị tính lượng mưa?

Bước 2: Đọc các đại lượng nhiệt độ và lượng mưa cần khai thác.

Đọc đại lượng nhiệt độ cần khai thác:

+ Tháng nóng nhất là tháng mấy, nhiệt độ là bao nhiêu? Tháng lạnh nhất là tháng mấy, nhiệt độ là bao nhiêu?

+ Chênh lệch nhiệt độ (biên độ nhiệt) ? Nhiệt độ trung bình năm?

Đọc đại lượng mưa cần khai thác:

+ Mưa nhiều nhất vào tháng nào? Lượng mưa là bao nhiêu? Mưa ít nhất là tháng nào? Lượng mưa là bao nhiêu?

Biểu đồ nhiệt độ và lượng mưa của Singapore

Để xác định được tháng nóng nhất, cần hướng dẫn học sinh làm theo cách sau:

Học sinh xác định đỉnh cao nhất của đường biểu diễn màu đỏ, đó là thời điểm nhiệt độ cao nhất. Các em cần đặt thước kẻ của mình trùng với điểm nhô lên cao nhất đó nằm ngang song song với trục hoành cắt trục tung bên phải tại một điểm. Đọc trị số nhiệt độ tại điểm đó sẽ xác định được nhiệt độ tháng cao nhất. Sau đó học sinh quay thước kẻ hạ vuông góc từ điểm đó xuống trục hoành. Đọc số chỉ tháng ở trục hoành để xác định tháng nóng nhất.

Để xác định nhiệt độ tháng thấp nhất, học sinh cần tìm được điểm thấp nhất trên đường biểu diễn màu đỏ. Sau khi xác định được điểm đó, đặt thước kẻ ngang với điểm đó song song với trục hoành, cắt trục tung bên phải tại một điểm. Đọc trị số nhiệt độ ở điểm đó sẽ xác định được nhiệt độ tháng thấp nhất.

Biên độ nhiệt năm được tính bằng hiệu của tháng nóng nhất với tháng lạnh nhất.

Để xác định lượng mưa tháng cao nhất và tháng thấp nhất, học sinh cần tìm cột màu xanh cao nhất và cột thấp nhất. Đối với lượng mưa, dưới chân cột đã được đánh số tháng nên học sinh có thể đọc được ngay. Đặt thước lên đầu cột cao nhất hoặc thấp nhất đó, nằm ngang song song với trục hoành, cắt trục tung bên trái tại một điểm. Đọc trị số tại trục tung bên trái sẽ xác định được tháng mưa nhiều nhất hay ít nhất đó là bao nhiêu.

Bước 4: Trình bày các kết quả đã khai thác.

Trên cơ sở lựa chọn các đối tượng khai thác ở bước 3 học sinh hoàn thiện các kiến thức và trình bày kết quả.

3.3. Khả năng áp dụng của giải pháp

Giải pháp đã áp dụng có hiệu quả tại 2 năm học vừa qua ở lớp 7 và có khả năng mở rộng cho toàn khối THCS của trường THPT Hòa Hưng.

3.4. Hiệu quả, lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng giải pháp

Trong quá trình triển khai, áp dụng qua hai năm học gần đây là năm học: 2014 – 2024 và năm học: 2024 – 2024, tôi đã nhận thấy có những kết quả:

Tỉ lệ học sinh tự phân tích được biểu đồ theo thời gian ngày càng tăng, các em đã hình thành được các kĩ năng khai thác lược đồ. Vì vậy việc phân tích lược đồ ngày càng có hiệu quả, giúp học sinh dễ hiểu, dễ tiếp thu kiến thức. Qua đó, ngày càng có nhiều em học sinh yêu thích học bộ môn hơn.

Từ đó, tỷ lệ học sinh yếu và học sinh trung bình ngày càng giảm, số học sinh khá, giỏi ngày càng tăng. Kết quả cụ thể qua ba năm như sau:

3.5. Tài liệu kèm theo gồm:

– Sách giáo khoa địa lí 6,7,8,9

– Các biểu đồ nhiệt độ và lượng mưa trong chương trình dạy học

Hòa Hưng, ngày 10 tháng 03 năm 2024 Người mô tả Danh Hoài Tâm

Cách Viết Sáng Kiến Kinh Nghiệm

a) Mở đầu đặt vấn đề (chiếm khoảng 5  10% tổng số trang)

Nội dung của phần mở đầu bao gồm:

– Bối cảnh của đề tài.

– Lý do chọn đề tài

– Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

– Mục đích nghiên cứu.

– Điểm mới trong các giải pháp đã tiến hành và kết quả nghiên cứu

b.1 Cơ sở lý luận của vấn đề:

+ Làm rõ một số khái niệm, định nghĩa, thuật ngữ chính trong đề tài.

VIẾT SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM Một số khái niệm: Sáng kiến: Đó là những ý tưởng ới, ý kiếnmowsi cótasc dụng làm cho công việc đợc tiến hành tốt hơn, có hiệu quả hơn. Kinh nghiệm: Là những hiểu biết có được do trải qua thực tế, được tích lũy qua hoạt động thực tế, kiến thức do từng trải mà có. Sáng kiến - Kinh nghiệm: Có thể hiểu như là những hiểu biết (tri thức) có được nhờ sự tích lũy được về một vấn đề nào đó trong thực tiễn từ những việc đã làm, đã có kết quả và đã kiểm nghiệm, rút ra những ý tưởng mới, cách giải quyết mới về vấn đề đó một cách có hiệu quả hơn, được tác giả viết lại, trình bày theo một cấu trúc chặt chẽ, lôgic. Sáng kiến kinh nghiệm được đúc kết có thể giúp cho tác giả vận dụng để nâng cao hiệu quả công tác, nếu được phổ biến thì người khác có thể áp dụng để giải quyết những vấn đề tương tự có hiệu quả hoặc có thể làm cơ sở khoa học để nghiên cứu, mở rộng ứng dụng cho phạm vi lớn hơn. Sự khác nhau giữa sáng kiến - kinh nghiệm và nghiên cứu khoa học: - NCKH: tìm kiếm, xem xét, điều tra, thí nghiệm (bằng các PP khoa học) ® phát hiện ra cái mới dựa trên cơ sở khoa học. Người NCKH phải dựa vào kinh nghiệm và thực tế khách quan. - Viết SKKN: Viết lại những việc đã làm có kết quả, viết SKKN chỉ diễn đạt nội dung công việc đã làm, không phân tích sâu bản chất sự việc, hiện tượng. Viết SKKN chỉ là "Tường thuật và phân tích kinh nghiệm". Có thể xem SKKN bao gồm 2 phần; một là hệ thống những giải pháp được chọn lọc đã tiến hành để giải quyết một vấn đề nào đó đạt hiệu quả tốt, hai là những kinh nghiệm rút ra được khi áp dụng hệ thống những giải pháp đó, những kinh nghiệm nầy có thể đem áp dụng vào những tình huống tương tự I- Một số yêu cầu cơ bản đối với người viết sáng kiến kinh nghiệm: Kiên nhẫn, đầu tư trí tuệ, công sức và thời gian. Phải có trải nghiệm thực tế (SKKN phát sinh từ việc giải quyết vấn đề cụ thể) Phải có cơ sở lý luận là cơ sở lý luận cho việc tìm tòi giải quyết vấn đề. Phải có phương pháp trình bày SKKN III- Các bước tiến hành viết một SKKN 1. Chọn đề tài - Xác định phạm vi, phương pháp nghiên cứu: a) Chọn đề tài (đặt tên cho đề tài): Xác định lý do chọn đề tài: Lý do chọn đề tài phải xuát phát từ yêu cầu thực tiễn trong công việc của chính bản thân mình. Chọn đề tài trong lĩnh vực mà mình có kinh nghiệm, đề tài được chọn phải được tác giả thực hiện và kiểm chứng bằng thực tiễn của bản thân. Đề tài được chọn nhằm giải quyết được vấn đề gì trong nhiệm vụ của bản thân, của bộ môn, của tổ, của trường . . . . . . . Tên đề tài cần ngắn gọn, súc tích, nêu được vấn đề cơ bản cần giải quyết, không nên lồng nhiều mục tiêu vào đề tài Tên đề tài phải thể hiện rõ mục tiêu và định hướng phương pháp nghiên cứu đề tài (dùng động từ hành động để thể hiện mục tiêu và phương pháp). b) Xác định phạm vi nghiên cứu - Giới hạn lĩnh vực và đối tượng nghiên cứu. (Đề tài cần tập trung giải quyết cho một bộ phận, một lĩnh vực hoặc một vấn đề cụ thể nào đó trong công việc của người viết), chỉ cần chọn một vấn đề hoặc một khía cạnh cụ thể, sâu sắc nhất để phân tích. - Giới hạn không gian và thời gian nghiên cứu (thời gian nghiên cứu và áp dụng đề tài (bắt đầu thực hiện lúc nào?) c) Xác định phương pháp nghiên cứu: - Về lí luận nghiên cứu tài liệu, giáo trình nào; - Về thực tiễn thì nghiên cứu theo hướng nào (khảo sát?; điều tra?; thực nghiệm?. . . - Đề tài thực hiện dựa trên ý tưởng nào của tác giả? Có thể tóm tắt thêm một số nét mới cơ bản nhất trong các biện pháp đã áp dụng và kết quả đã đạt được trong nội dung của đề tài . 2. Viết đề cương chi tiết - Xây dựng một đề cương chi tiết với các đề mục rõ ràng, lôgic, nêu lên những ý cần thiết trong từng đề mục cụ thể. - Liệt kê những công việc đã thực hiện trong thực tiễn bao gồm: các biện pháp, các bước tiến hành, kết quả cụ thể, các số liệu để dẫn chứng. - Viết bản thảo SKKN theo đề cương đã chuẩn bị. 3- Bố cục của một SKKN a) Mở đầu đặt vấn đề (chiếm khoảng 5 ® 10% tổng số trang) Nội dung của phần mở đầu bao gồm: Bối cảnh của đề tài. Lý do chọn đề tài Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Mục đích nghiên cứu. Điểm mới trong các giải pháp đã tiến hành và kết quả nghiên cứu b) Nội dung: b.1 Cơ sở lý luận của vấn đề: + Làm rõ một số khái niệm, định nghĩa, thuật ngữ chính trong đề tài. b.2 Thực trạng của vấn đề: + Trình bày những thuận lợi, khó khăn, mâu thuẫn gặp phải trong vấn đề chọn để viết SKKN. + Nêu thực trạng về số lượng, chất lượng, điều kiện hoạt động của các đối tượng trong đề tài, lịch sử phát triển của vấn đề đặt ra trong phần mở đầu. + Phân tích, đánh giá thực trạng, chỉ ra những hạn chế cần có giải pháp khắc phục và dự đoán hướng phát triển của vấn đề nếu không có những giải pháp mới kịp thời. b.3 Các giải pháp, biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề + Trình bày những biện pháp, các bước cụ thể đã tiến hành để khắc phục hoặc điều chỉnh những hạn chế nêu ra trong phần thực trạng. Nêu rõ các phương pháp thực hiện các giải pháp đề ra. + Phân tích ảnh hưởng, tác dụng của từng giải pháp đề ra (có số liệu dẫn chứng quá trình diễn biến của các đối tượng nghiên cứu). + So sánh kết quả đạt được với thực trạng trước đây để chứng minh cho hiệu quả của việc áp dụng các giải pháp đã tiến hành. + Nêu những nhận định hoặc đánh giá sơ bộ về hiệu quả của các giải pháp và phương pháp chính đã tiến hành. b.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm: + Đã áp dụng SKKN (hệ thống những biện pháp đã tiến hành) cho đối tượng cụ thể nào? Những kết quả cụ thể đạt được, những kinh nghiệm rút ra khi áp dụng SKKN c) Phần kết luận: (khoảng 5% tổng số trang) + Khẳng định tính thực tiễn, tính khả thi và và hiệu quả của các giải pháp đã tiến hành trong phạm vi áp dụng của đề tài (trong phạm vi đối tượng, điều kiện thực tiễn đã thực hiện), từ đó khẳng định sự cần thiết phải áp dụng các giải pháp như trên để giải quyết những khó khăn, mâu thuẫn trong thực trạng đã nêu, rút ra những bài học kinh nghiệm từ quá trình áp dụng SKKN của bản thân. + Ý nghĩa của SKKN đối với việc quản lý, giảng dạy, giáo dục. + Hướng phát triển của đề tài, khả năng ứng dụng, triển khai kết quả của SKKN. + Những kiến nghị, đề xuất đối với các cấp quản lý giáo dục để đảm bảo cho việc triển khai, ứng dụng SKKN có hiệu quả. 4- Tóm tắt kết cấu của một SKKN TRANG BÌA : : Tên đơn vị. CÁC CẤP QUẢN LÝ UBND ; PHÒNG GD-ĐT Sáng kiến kinh nghiệm Đề tài : (Ngắn gọn, cụ thể, bao quát được nội dung của vấn đề nghiên cứu) Người thực hiện: (Họ và tên, chức danh)....... Đơn vị công tác:......................................... NĂM HỌC: PHẦN TRÌNH BÀY NỘI DUNG : Phần nầy nên có kết cấu như sau: PHẦN I - ĐẶT VẤN ĐỀ (Có từ 1 à 3 trang) (lý do chọn đề tài) Bối cảnh Lý do chọn đề tài Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Mục đích nghiên cứu Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu: Điểm mới trong kết quả nhiên cứu. PHẦN II - NỘI DUNG (Giải quyết vấn đề) Cơ sở lý luận của vấn đề (không bắt buộc phải có.). Thực trạng của vấn đề. Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề. Hiệu quả của SKKN PHẦN III - KẾT LUẬN Những bài học kinh nghiệm. Ý nghĩa của SKKN Khả năng ứng dụng, triển khai. Những kiến nghị đề xuất TRANG PHỤ LỤC (Nếu có) TRANG TÀI LIỆU THAM KHẢO. TRANG MỤC LỤC. BÌA

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Lớp 1

Sáng kiến kinh nghiệm lớp 1

Sáng kiến kinh nghiệm môn Toán lớp 1

Sáng kiến kinh nghiệm – Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy – học môn Toán ở lớp 1 đua ra một số kinh nghiệm về cải tiến phương pháp dạy học môn Toán ở lớp một nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở môn học này. Mời bạn đọc cùng tham khảo.

Lưu ý: Nếu không tìm thấy nút Tải về bài viết này, bạn vui lòng kéo xuống cuối bài viết và dùng máy tính để tải về.

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY – HỌC MÔN TOÁN Ở LỚP 1

I/ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI: 1. Cơ sở lý luận:

Bậc tiểu học được coi là bậc học nền tảng của cả hệ thống giáo dục, trong đó lớp Một chính là phần móng của cái nền tảng ấy. Nền móng chắc thì mới đảm bảo cho phần kiến trúc bên trên được bền vững. Chính vì vậy việc nâng cao chất lượng dạy và học ở bậc tiểu học nói chung và ở lớp Một nói riêng luôn là vấn đề thời sự, nó được các cấp giáo dục từ Trung ương đến cơ sở hết sức quan tâm và đặt lên nhiệm vụ hàng đầu. Tuy nhiên, để nâng cao được chất lượng dạy và học thì ngoài việc áp dụng những quan điểm lý luận, những hướng dẫn mang tính định hướng về nội dung và phương pháp dạy – học của các nhà khoa học giáo dục, còn đòi hỏi người giáo viên trực tiếp đứng lớp luôn phải tự tìm tòi, nghiên cứu và sáng tạo để không ngừng cải tiến phương pháp dạy – học sao cho vừa phải phù hợp với đối tượng học sinh ơ ûtừng vùng miền, từng lớp, từng thời điểm…, vừa phải đạt được những yêu cầu chung được đặt ra về mặt kiến thức. Việc cải tiến phương pháp dạy – học càng đặc biệt cần thiết trong giai đoạn hiện nay, khi mà bậc tiểu học vừa hoàn thành xong việc triển khai chương trình sách giáo khoa mới và đang cần rất nhiều những đóng góp mang tính thực tiễn từ phía giáo viên trực tiếp đứng lớp để nội dung và phương pháp dạy – học theo chương trình mới được hoàn thiện ở mức cao nhất.

Là một người giáo viên, bản thân tôi cũng luôn mong muốn góp những kinh nghiệm nhỏ bé của mình vào cái Đại dương mênh mông kiến thức về phương pháp dạy – học của nền giáo dục nước nhà. Trong phạm vi nhỏ hẹp của đề tài này, tôi muốn đưa ra để trao đổi với các đồng nghiệp một số kinh nghiệm về cải tiến phương pháp dạy học môn Toán ở lớp Một nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở môn học này.

Trước hết, chúng ta cùng xác định một cách tổng quát về mục tiêu dạy – học môn Toán ở lớp Một.

Theo nghiên cứu của tôi về chương trình, sách giáo khoa mới thì tôi nhận thấy việc dạy – học Toán ở lớp Một nhằm giúp học sinh:

Bước đầu có một số kiến thức cơ bản, đơn giản, thiết thực về phép đếm các số tự nhiên trong phạm vi 100 và phép cộng , phép trừ không nhớ trong phạm vi 100; về đo độ dài trong phạm vi 20cm; về tuần lễ, các ngày trong tuần lễ; về đọc đúng giờ trên mặt đồng hồ; về một số hình học (đoạn thẳng, điểm, hình vuông, hình tam giác, hình tròn); về gải toán có lời văn…

Hình thành và rèn luyện các kỹ năng thực hành: đọc, viết, đếm, so sánh các số trong phạmvi 100; cộng và trừ không nhớ các số trong phạm vi 100; đo và ước lượng độ dài đoạn thẳng (với các số đo là số tự nhiên trong phạm vi 20cm); nhận biết hình vuông, hình tròn, hình tam giác, đoạn thẳng, điểm; vẽ đoạn thẳng có độ dài 10cm; giải một số toán đơn về cộng, trừ; bước đầu biết diễn đạt bằng lời, bằng ký hiệu một số nội dung đơn giản của bài học và bài thực hành; tập so sánh, phân tích, tổng hợp, trừu tượng hoá, khái quát hoá trong phạm vi những nội dung có nhiều quan hệ với đời sống thực tế của học sinh.

Học sinh chăm chỉ, tự tin, cẩn thận, ham hiểu biết và hứng thú trong học tập.

Để học sinh có thể đạt được những yêu cầu đã đặt ra ở trên không phải là khó nhưng cũng hề dễ nếu giáo viên không có những cải tiến thích hợp về phương pháp dạy – học. Đó cũng chính là điều làm tôi luôn băn khoăn, trăn trở tìm cách để nâng cao chất lượng dạy – học, nâng dần trình độ tiếp thu của học sinh.

Với thực tế kinh nghiệm của 18 năm liên tục được phân công giảng dạy ở lớp Một và sau 6 năm thực hiện chương trình sách giáo khoa mới, tôi đã có một số biện pháp hữu hiệu để khi học xong lớp Một các em phải biết:

Tính cộng và trừ trong phạm vi 100.

Đo độ dài đoạn thẳng trong phạm vi 10 cm.

Tuần lễ và các ngày trong tuần lễ.

Biết đọc giờ trên mặt đồng hồ.

Giải một số bài toán đơn về cộng, trừ.

Biết so sánh, phân tích, tổng hợp, trừu tượng hoá, khái quát hoá trong phạm vi những nội dung có nhiều quan hệ với đời sống thực tế của học sinh.

2. Thực trạng và nguyên nhân:

Trong 1-2 năm đầu thực hiện chương trình sách giáo khoa mới, chất lượng môn Toán ở lớp do tôi phụ trách nói riêng và trong toàn khối Một nói chung còn nhiều hạn chế. Các em thường xuyên sai ở một số điểm sau:

Lúng túng trong việc so sánh giá trị các số.

Chưa thành thạo khi tìm thành phần chưa biết của phép cộng, trừ.

Giải toán có lời văn còn nhầm lẫn hoặc chưa viết được câu lời giải.

Chất lượng kiểm tra định kỳ cuối kỳ II môn Toán ở lớp do tôi phụ trách trong hai năm học 2002 -2003 và 2003 -2004 như sau:

Giáo viên chưa thực sự nắm bắt được phương pháp giảng dạy mới để phát huy tính tích cực của học sinh.

Trình độ học sinh không đồng đều: có em đã được học qua lớp Mẫu giáo, có em chưa bao giờ biết đến mặt chữ, sách vở trước khi vào lớp Một; có em chỉ dạy qua một lần, thậm chí chỉ nói sơ qua đã biết, nhưng cũng không ít học sinh giáo viên dạy đi dạy lại nhiều lần vẫn chưa hiểu hoặc hiểu rồi lại quên ngay.

II/ ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH:

Năm học 2008-2009 tôi tiếp tục được phân công dạy lớp Một, lớp có 28 học sinh; trong đó có 14 học sinh nữ. Trong quá trình giảng dạy, tôi gặp một số khó khăn và thuận lợi sau:

1. Thuận lợi:

– Bản thân tôi đã trực tiếp giảng dạy lớp Một được 19 năm nên ít nhiều cũng đã tích luỹ được một số kinh nghiệm dạy học, trong đó có kinh nghiệm dạy học môn Toán ở lớp Một; có khả năng tự làm một số đồ dùng dạy học đơn giản phục vụ cho việc dạy học.

– Hoàn cảnh gia đình có nhiều thuận lợi cho công tác giảng dạy, nghiên cứu tài liệu: chồng tôi cũng là một đồng nghiệp và là lãnh đạo trong nhà trường nên anh đã hỗ trợ cho tôi rất nhiều trong giảng dạy; các con tôi đã khôn lớn; kinh tế gia đình tạm ổn định…

– Ban giám hiệu nhà trường luôn quan tâm đến công tác đổi mới phương pháp dạy – học nhằm nâng cao chất lượng mọi mặt của nhà trường.

– Nhiều học sinh học tập tích cực.

2. Khó khăn:

– Một số gia đình học sinh có hoàn cảnh khó khăn, làm nghề lao động phổ thông vất vả cả ngày nên ít có thời gian và sức lực để chăm sóc con cái về mọi mặt.

– Một số học sinh gia đình có hoàn cảnh khó khăn phải phụ giúp công việc gia đình như: trông em, mót điều, mót mủ cao su… không có thời gian chuẩn bị bài ở nhà nên đã ảnh hưởng không nhỏ tới kết quả học tập, trong đó có môn Toán.

– Địa bàn xã rộng, học sinh ở rải rác trong nhiều thôn; thậm chí có những em nhà ở trong rẫy, trong bưng, đường đi lại khó khăn nên việc gặp gỡ trực tiếp giữa giáo viên chủ nhiệm và phụ huynh học sinh còn hạn chế.

– 1/3 số học sinh trong lớp chưa được học qua trường Mẫu giáo nên còn nhút nhát, hạn chế về mặt tiếp thu kiến thức (do chưa được làm quen với mặt chữ, số).

– Lớp có 2 học sinh lưu ban, trong đó 1 em đã lưu ban 3 năm lớp Một.

III/ BIỆN PHÁP THỰC HIỆN: A- PHÂN LOẠI HỌC SINH:

Như tôi đã trình bày ở phần trên, tuy trường tôi ở thị tứ, là trung tâm của cụm gồm 5 xã nhưng tình hình học sinh vẫn rất đa dạng, có em đã học qua Mẫu giáo và cũng còn nhiều em chưa được học qua bậc học này, thậm chí có những em lưu ban nhiều năm ở lớp Một; trình độ tiếp thu do vậy cũng rất khác nhau. Vào đầu mỗi năm học, sau khi tựu trường khoảng 1 tháng, tôi tiến hành khảo sát chất lượng và đánh giá trình độ tiếp thu của học sinh. Sau đó để tiện theo dõi và giảng dạy, tôi tạm phân học sinh theo các trình độ: Giỏi, khá, trung bình, yếu, kém. Trong đó, tôi quan tâm nhiều đến 3 đối tượng học sinh: trung bình, yếu và kém. Để đảm bảo cho tất cả các đối tượng học sinh đều có thể tham gia vào quá trình tìm tòi, phát hiện kiến thức, tôi chuẩn bị trước ở nhà các bài tập ( dựa vào vở Bài tập Toán) có yêu cầu kiến thức từ dễ đến khó. Các bài tập khó dành cho học sinh khá, giỏi; các bài tập dễ dành cho học sinh trung bình trở xuống nhằm tạo hứng thú cho các em trong từng tiết học để các em chủ động tiếp thu kiến thức.

Trong năm học đầu tiên khi áp dụng thử nghiệm đề tài, sau khi phân loại học sinh và chuẩn bị được một số lượng bài tập đủ để dạy cho ít nhất 1 chương (các chương còn lại tôi sẽ tiến hành soạn tiếp trong những khoảng thời gian rảnh rỗi và những năm học tiếp theo sau đó tôi chỉ cần điều chỉnh, bổ sung thêm cho phù hợp với đối tượng học sinh của từng năm học), tôi tiến hành các biện pháp cụ thể để áp dụng đề tài.

B- BIỆN PHÁP CỤ THỂ:

Trước hết, tôi tranh thủ trong cuộc họp phụ huynh học sinh đầu năm học để gặp gỡ, yêu cầu họ mua sắm cho học sinh đầy đủ các dụng cụ cần thiết tối thiểu cho việc học tập tất cả các môn học. Riêng môn Toán, ngoài các dụng cụ, đồ dùng học tập cần thiết như sách giáo khoa, bộ ghép Toán…, tôi yêu cầu phụ huynh học sinh trang bị thêm cho mỗi em 1 cuốn vở ô li để học sinh làm lại các bài tập bị sai hoặc làm thêm một số bài mà các em chưa thông thạo về kiến thức (bài tập do giáo viên biên soạn). Việc làm này sẽ có tác dụng củng cố kiến thức cho học sinh và giúp các em nhớ lâu hơn kiến thức mình vừa phát hiêïn được, đồng thời đây cũng là cách để rèn kỹ năng viết cho học sinh.

Khi học sinh đã có đủ các dụng cụ, đồ dùng học tập cần thiết, tôi bắt đầu áp dụng đề tài cụ thể cho từng dạng Toán như sau:

1. Dạy toán về nhiều hơn, ít hơn:

Với dạng toán về nhiều hơn, ít hơn học sinh phải nắm thật kỹ để các em chuyển sang học về dấu lớn hơn, bé hơn được dễ dàng. Đối vơí học sinh khá, giỏi, các em tiếp thu bài rất nhanh vì đó chỉ là những kiến thức đơn giản các em nhận biết trong giao tiếp hàng ngày với cha mẹ, với những người xung quanh. Đối với những học sinh trung bình, yếu, kém; kiến thức về nhiều hơn, ít hơn các em chỉ được nghe khi vào học lớp Một vì những học sinh này thường ít được sự quan tâm, hướng dẫn của cha mẹ từ những sinh hoạt, vui chơi hàng ngày; hơn nữa, cha, mẹ của các em cũng vì lo bươn chải làm lụng để mưu sinh nên cũng ít chăm lo đến học tập của con cái mình. Vì vậy, khi dạy dạng toán này, tôi chú ý để các học sinh trung bình trở xuống được thực hành nhiều hơn.

Để các em dễ nhận biết kiến thức, tôi áp dụng triệt để phương pháp trực quan. Từ việc cho các em quan sát cụ thể để các em phát hiện và ghi nhớ nội dung kiến thức.

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Lớp 3

RÈN LUYỆN KĨ NĂNG NÓI – VIẾT QUAPHÂN MÔN TẬP LÀM VĂN LỚP 3, GÓP PHẦN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG MÔN TIẾNG VIỆT.

II.Lí do chọn đề tàiMôn Tiếng Việt cùng các môn học khác có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh bốn kỹ năng: ” nghe – nói – đọc – viết” . Tập làm văn là phân môn thực hành và rèn luyện tổng hợp bốn kỹ năng đó, có tính chất tích hợp các phân môn khác trong môn Tiếng Việt. Qua tiết Tập làm văn, học sinh có khả năng xây dựng một văn bản nói hoặc viết. Ngôn ngữ giữ vai trò quan trọng trong sự tồn tại và phát triển xã hội. chính vì vậy hướng dẫn cho học sinh nói đúng, viết đúng là hết sức cần thiết. Nhiệm vụ đó phụ thuộc phần lớn vào việc dạy Tiếng Việt nói chung và phân môn Tập làm văn nói riêng.Qua thực tế giảng dạy tôi nhận thấy Tập làm văn là phân môn khó trong các phân môn của môn Tiếng Việt . Trong quá trình tham gia vào các hoạt động học tập, do vốn từ còn hạn chế nên học sinh còn ngại nói vì vậy tiết học chưa đạt hiệu quả cao.Xuất phát từ thực tế đó, tôi tiến hành nghiên cứu và thực hiện đề tài: ” Rèn kỹ năng nói – viết qua phân môn Tập làm văn lớp 3, góp phần nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt” để áp dụng trong giảng dạy.III. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu:Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tất cả giáo viên và học sinh khối lớp 3.Phạm vi đề tài: Do năng lực của bản thân còn hạn chế , vì vậy dựa trên thực tế về việc dạy – học phân môn Tập làm văn lớp 3, tôi chỉ trình bày ” Một số biện pháp rèn kỹ năng nói – viết qua phân môn Tập làm văn lớp 3, góp phần nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt” nhằm nâng cao chất lượng học tập của học sinh, giúp học sinh học tốt các môn học khác trong chương trình giáo dục bậc Tiểu học.

IV.Mục đích nghiên cứu:Đề tài nhằm trao đổi kinh nghiệm với đồng nghiệp trong công tác chuyên môn. Giúp giáo viên từng bước nâng cao hiệu quả trong giảng dạy phân môn Tập làm văn, rèn cho hs kĩ năng nói – viết đoạn văn giàu hình ảnh. Từ đó góp phần nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt.V.Điểm mới trong kết quả nghiên cứu:Việc nghiên cứu để xây dựng đề tài sáng kiến kinh nghiệm này đã tiến hành trong thời gian dài, được bản thân rút kinh nghiệm qua quá trình giảng dạy các môn học, đặc biệt là phân môn Tập làm văn. Những kinh nghiệm tích luỹ được trong giảng dạy trong đó có sự tiến bộ của học sinh ở phân môn Tập làm văn, được giáo viên ghi chép vào nhật kí dạy học. Những kết quả giảng dạy được bản thân thường xuyên cập nhật để so sánh, rút kinh nhiệm vào từng thời điểm trong năm học và so sánh kết quả với những năm học trước. Từ đó đề ra những biện pháp để giảng dạy đạt kết quả cao hơn.

PHẦN NỘI DUNGI. Cơ sở lí luận:Trong công cuộc đổi mới hiện nay, sự phát triển Công nghiệp hoá

Cập nhật thông tin chi tiết về Sáng Kiến Kinh Nghiệm trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!