Xu Hướng 2/2023 # Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Dạy Học Toán 5 Giúp Học Sinh Tự Tìm Tòi, Khám Phá Kiến Thức # Top 4 View | Phauthuatthankinh.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Dạy Học Toán 5 Giúp Học Sinh Tự Tìm Tòi, Khám Phá Kiến Thức # Top 4 View

Bạn đang xem bài viết Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Dạy Học Toán 5 Giúp Học Sinh Tự Tìm Tòi, Khám Phá Kiến Thức được cập nhật mới nhất trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Thực tế cho thấy việc đó đòi hỏi giáo viên phải chủ động lựa chọn  nội dung theo từng đối tượng học sinh, tức là phải dạy học xuất phát từ trình độ, năng lực, điều kiện cụ thể của từng học sinh. Điều đó có nghĩa là phải “cá thể hoá” dạy học, giáo viên là người tổ chức, hướng dẫn quá trình học tập. Điều đó không có nghĩa là làm giảm vai trò của người giáo viên mà chính là làm tăng vai trò chủ động, sáng tạo của họ. Điều đó cũng kéo theo sự thay đổi hoạt động học tập của học sinh. Mục đích của việc làm này là nhằm tạo điều kiện cho mọi học sinh có thể học tập tích cực, sáng tạo, chủ động theo khả năng của mình trong từng lĩnh vực. Cách dạy này gọi là: “Dạy học phát huy tính tích cực của học sinh” (phương pháp dạy học toán). Vì lý do trên mà trong sáng kiến kinh nghiệm này tôi đưa ra một số biện pháp gây hứng thú trong giờ học toán cho học sinh tiểu học bằng cách tổ chức các hoạt động học tập để học sinh tự tìm tòi khám phá kiến thức mới góp phần nâng cao chất lượng trong các giờ học toán. II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU I. Thực trạng của lớp: I.1 Thuận lợi Cơ sở vật chất đảm bảo, đủ ánh sáng thoáng mát. Các em đã qua chương trình học lớp 1 dến lớp 4 của môn toán và đã làm quen với các phép tính cơ bản và làm quen với phần phân số, Các em được đào tạo theo chẩn mực của học sinh từ những năm trước nên nề nếp lớp ổn định và các em tương đối ngoan trong các giờ học. I.2. Khó khăn Tâm lý học sinh hiện nay, việc học môn toán, các em rất ngại hay nói đúng hơn là sợ do còn yếu và ít học toán. Thời gian tập trung cho việc học toán còn ít. Do vậy, học sinh không phát triển được năng lực tư duy, tìm tòi sáng tạo trong khi học môn toán, không hình thành được kĩ năng khái quát hóa, trừu tượng hóa của trí lực học sinh. Năm học trước, tôi áp dụng đề tài này cho lớp tôi và thấy có kết quả rất khả quan nên đến đầu năm học 2011-2012, được sự đồng ý của Hội đồng khoa học trường, tôi đăng ký thực hiện đề tài này cho học sinh lớp lớp 5A. Do đó, vào đầu năm học tôi thống kê các sai lầm của học sinh trong lớp tôi để tìm ra nguyên nhân và các biện pháp để khắc phục ngay cho môn toán. Qua thống kê, tôi nhận thấy học sinh của lớp tôi học chưa tốt về môn toán do những nguyên nhân sau: Một số em tiếp thu bài còn chậm, ý thức tự học chưa cao. Chưa hiểu và nắm được đầy các khái niệm trong môn toán và chưa có hứng thú trong môn học toán. II. Biện pháp thực hiện II.1. Tự tìm tòi, khám phá kiến thức trong học tập. Tính tích cực là một phẩm chất vốn có của con người trong đời sống xã hội; con người không chỉ tiếp thu những cái đã có mà luôn chủ động tìm tòi, khám phá, sáng tạo ra những cái mới phục vụ cho nhu cầu và cuộc sống của mình. Tính tích cực trong học tập là tính tích cực trong hoạt động nhận thức, đặc trưng ở khát vọng hiểu biết, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh nội dung học tập bằng hoạt động tìm tòi, khám phá. Hoạt động tìm tòi, khám phá là một chuỗi hành động và thao tác để hướng tới một mục tiêu xác định. Hoạt động tìm tòi, khám phá trong học tập có nhiều dạng khác nhau, từ mức độ thấp đến mức đọ cao tuỳ theo năng lực tư duy của từng học sinh và được tổ chức thực hiện theo cá nhân hoặc theo nhóm. Hoạt động tìm tòi, khám phá trong học tập có thể tóm tắt như sau: A. Mục tiêu của hoạt động: – Hình thành kiến thức, kĩ năng mới. – Xây dựng thái độ, niềm tin cho học sinh. – Rèn luyện khả năng tư duy, năng lực xử lí tình huống, giải quyết vấn đề. B. Các dạng hoạt động: – Trả lời câu hỏi và đặt câu hỏi.(hỏi – đáp) – Lập bảng, biểu đồ, sơ đồ, phân tích dữ kiện. – Thông báo kết quả, kiểm định kết quả. – Đưa ra giải pháp, kiến thức mới. C. Hình thức tổ chức: – Hoạt động cá nhân. – Hoạt động theo nhóm (2 người hoặc 4 người). – Làm việc chung cả lớp. – Trò chơi. II.2. Tác dụng của hoạt động tự tìm tòi khám phá kiến thức mới. – Giúp học sinh rèn luyện tính chủ động, sáng tạo trong học Toán. – Học sinh sẽ hiểu sâu, nhớ lâu kiến thức nếu như chính mình tìm ra kiến thức đó hoặc góp phần cùng các bạn tìm tòi, khám phá, xây dựng lên kiến thức đó. – Trong quá trình tìm tòi, khám phá học sinh tự đánh giá được kiến thức của mình. Cụ thể: + Khi gặp khó khăn chưa giải quyết được vấn đề, học sinh tự đo được thiếu sót của mình về mặt kiến thức, về mặt tư duy và tự rút kinh nghiệm. + Khi tranh luận với các bạn, học sinh cũng tự đánh giá được trình độ của mình so với các bạn để tự rèn luyện, điều chỉnh. – Trong quá trình học sinh tự tìm tòi, khám phá, Giáo viên biết được tình hình của học sinh về mức độ nắm kiến thức từ vốn hiểu biết, từ bài học cũ; trình độ tư duy, khả năng khai thác mối liên hệ giữa yếu tố đã biết với yếu tố phải tìm. – Học sinh tự tìm tòi, khám phá sẽ rèn luyện được tính kiên trì vượt khó khăn và một số phẩm chất tốt của người học Toán như: Tự tin, suy luận có cơ sở, coi trọng tính chính xác, tính hệ thống… II.3. Quy trình dạy học để học sinh tự tìm tòi, khám phá kiến thức mới. II.3.1. Đặc trưng của cách dạy – Giáo viên đặt ra bài toán nhận thức chứa đựng mâu thuẫn hoặc mối quan hệ giữa cái đã biết với cái phải tìm theo cấu trúc một cách hợp lí, tự nhiên. – Học sinh tiếp nhận mâu thuẫn và được đặt vào tình huống có vấn đề. Khi đó học sinh được đặt vào trạng thái muốn tìm tòi, khám phá và chiếm lĩnh nội dung kiến thức. – Bằng cách giải bài toán nhận thức mà học sinh lĩnh hội được một cách tự giác và tích cực cả kiến thức và kĩ năng; từ đó có được niềm vui của sự nhận thức sáng tạo. II.3.2. Quy trình cụ thể. Bước 1: Ôn tập tái hiện Bước 2: Phát hiện, nêu vấn đề: Cho học sinh phát hiện ra những vấn đề chưa rõ và xem đó là vấn đề cần được giải quyết trong tiết học đó. Bước 3: Tổng hợp, so sánh và đề xuất ý tưởng: Bước 4: Dự đoán giả thuyết: Cho học sinh suy nghĩ tiếp và dự đoán hay đề xuất giả thuyết về nội dung kiến thức, kĩ năng mới. Bước 5: Kiểm tra giả thuyết: Cho học sinh kiểm tra giả thuyết đã đề xuất qua một số ví dụ cụ thể để khẳng định đó là kiến thức, kĩ năng mới. Bước 6: Rút ra kiến thức mới: Sau khi kiểm tra và khẳng định giả thuyết đó là đúng, Giáo viên cho học sinh phân tích tìm ra kết luận chung về kiến thức, kĩ năng mới. II.3.3. Một số lưu ý khi thực hiện cách dạy để học sinh tự tìm tòi, khám phá kiến thức mới. – Phải chú ý ngay từ việc soạn giáo án. Phải tập trung vào việc thiết kế các hoạt động của học sinh trước, trên cơ sở đó mới xác định các hoạt động chỉ đạo, tổ chức của Giáo viên. – Số lượng hoạt động và mức độ tư duy trong mỗi tiết học phải phù hợp với trình độ học sinh để có đủ thời gian tổ chức hoạt động tìm tòi, khám phá. – Nghiên cứu kĩ nội dung bài học, tìm kiếm các tinh huống có vấn đề, tạo cơ hội cho học sinh tìm tòi, khám phá. II.3.4. Một số ví dụ: II.3.4.1. Ví dụ 1: Tuần 1 – Bài: Phân số thập phân (trang 8 SGK) I. Mục tiêu. – Giúp học sinh nhận biết được các phân số thập phân. – Giúp các em biết được một số phân số có thể viết thành phân số thập phận và biết cách chuyển những phân số đó thành phân số thập phân. II. Các hoạt động dạy học chủ yếu. 1. Kiểm tra bài cũ: (5 – 6 phút) – Kiểm tra viết tất cả học sinh trong lớp ( có thể dùng phiếu kiểm tra). (1 học sinh lên bảng làm , yêu cầu học sinh này trình bày ở bảng bên trái.) Đề bài Đáp án (Học sinh làm) a) So sánh với = = = = b) với = = = = 2. Bài mới a) Giới thiệu bài: Dựa vào các bài làm trên bảng, giáo viên dùng thước để chỉ vào những phân số nói đến: Để so sánh với ta so sánh hai phân số tương đương là với , để so sánh với ta so sánh 2 phân số tương ứng là với , những phân số này…… và phân số (giáo viên dùng phấn màu đóng khung 5 phân số đó) gọi là phân số thập phân. Từ đó giáo viên giới thiệu tên bài mới VD: Phân số thập phân b. Giới thiệu về phân số thập phân: ( 15 – 18 phút) *) Nhận biết phân số thập phân. – Dựa vào 5 phân số trên, mỗi học sinh trong lớp viết vào giấy nháp 2 phân số thập phân và hai phân số không phải là phân số thập phân (1 học sinh A lên bảng viết). – Tất cả lớp, dùng bút đánh dấu đặc điểm của phân số thập phân (học sinh A cũng làm tương tự ở bảng). – Ba, bốn học sinh nêu đặc điểm mà minh đánh dấu (trong đó có học sinh A) – Giáo viên tổng kết theo phần a (SGK) và yêu cầu cả lớp cầm bút gạch 1 gạch dưới 3 chữ: Có mẫu số và gạch 2 gạch dưới các số 10;100,1000;… (trong SGK) – Giáo viên viết sẵn 5 phân số (ở bài 3 trang 8) vào băng giấy rồi gắn lên bảng. Gọi 1 học sinh lên bảng, yêu cầu dùng bút hãy xoá những phân số không phải là phân số thập phân trong 5 phân số ở băng giấy đó – tất cả học sinh còn lại cũng dùng bút xoá tương tự ở bài 3 trang 8 SGK. – Cũng từ bài làm kiểm tra của học sinh ở trên (đáp án). Giáo viên chỉ và nói tiếp: Khi so sánh với ta đã chuyển thành và chuyển thành , … thế là ta đã làm 1 việc là chuyển từ 1 phân số thành 1 phân số thập phân. *) Chuyển 1 phân số thành phân số thập phân. Dựa theo cách chuyển như bài kiểm tra trên. – Từng em trình bày trong giấy nháp, chuyển và thành phân số thập phân. – Gọi 1 học sinh lên bảng làm. – Cả lớp sửa lại câu trên thành 1 câu đúng. (gọi 1 học sinh lên bảng viết câu đúng đó). – Giáo viên tổng kết và gắn lên bảng băng giấy đã viết sẵn cách chuyển. Cách chuyển: Tìm một số khi nhân với mẫu số để được 10, 100, 1000… rồi nhân số ấy với cả tử số và mẫu số sẽ được phân số thập phân. c. Thực hành ( 12 – 15 phút). Bài 1: Đọc phân số thập phân. Từng em trong lớp (gọi một học sinh lên bảng làm) ghi lời đọc cho từng phân số thập phân ở dưới phân số thập phân đó trong SGK. Theo mẫu. ; ; ; ; Chín phần mười Bài 2: Viết phân số thập phân. Tiến hành tương tự như trên. Theo mẫu: Bảy phần mười; hai mươi phần trăm; bốn trăm bảy mươi lăm phần nghìn; một phần triệu. Bài 4. Chuyển phân số thành phân số thập phân. + Tất cả học sinh điều làm bài ngay trong sách giáo khoa hoặc vào giấy nháp (gọi 2 học sinh lên bảng). Giáo viên chú ý kèm cặp, giúp đỡ những em còn yếu làm bài. II.3.4.2- Ví dụ 2: Tuần 15 – Bài: Giải toán về tỉ số phần trăm (trang 75 SGK) I. Mục tiêu. Giúp học sinh: – Biết cách tìm tỷ số phần trăm của hai số. – Biết vận dụng để giải các bài toán đơn giản có nội dung tìm tỷ số phần trăm của hai số. II. Các hoạt động dạy học chủ yếu * Hoạt động 1: Tổ chức cho học sinh nhắc lại khái niệm tỉ số phần trăm. chẳng hạn: GV nêu bài toán tương tự ví dụ 2 trang 74 trong SGK, ghi tóm tắt lên bảng: Số HS toàn trường: 400 Số học sinh nữ: 208 Sau đó hỏi học sinh: Tỉ số phần trăm của số học sinh nữ và số học sinh toàn trường là bao nhiêu? Hay: Số HS nữ chiếm bao nhiêu phần trăm số HS toàn trường? (Kết quả là 52%). * Hoạt động 2: Giới thiệu hoặc hướng dẫn HS cách tìm tỉ số phần trăm của hai số 315 và 600. – Gợi ý để HS có thể viết tỷ số của số HS nữ và số HS toàn trường (315 : 600). – Giao việc cho HS làm thế nào để đưa tỉ số (315 : 600) về tỉ số phần trăm. Từ đó xuất hiện vấn đề cần phải giải quyết. – Giúp HS tự tìm đọc cách giải quyết là thực hiện phép chia. Nếu không thì yêu cầu HS thực hiện phép chia (315 : 600 = 0,525). – Hướng dẫn để HS tự tìm thấy được là để chuyển tỉ số về tỉ số phần trăm thì phải nhân kết quả đó với 100 và chia cho 100. 0,525 x 100 : 100 = 52,5 : 100 = 52, 5%. – Từ đó dẫn dắt giúp học sinh nêu được quy tắc: + Chia 315 cho 600. + Nhân thương đó với 100 và viết kí hiệu % vào bên phải tích vừa tìm được. * Hoạt động 3: Hướng dẫn HS vận dụng để giải bài toán có nội dung tìm tỉ số phần trăm. – GV đọc bài toán hoặc gọi HS đọc bài toán trong SGK và giải thích: Khi 80 kg nước biển bốc hơi hết thì thu được 2,8 kg muối. Tìm tỉ số phần trăm của lượng muối trong nước biển. – Hướng dẫn học sinh trình bày lời giải bài toán: Bài giải Tỉ số phần trăm của lượng muối trong nước biển là: 2,8 : 80 = 0,035 0,035 = 3,5 % Đáp số : 3,5 % * Hoạt động 4: Tổ chức cho HS luyện tập thực hành qua 3 bài tập. Bài 1: Cho HS nêu bài toán, GV giới thiệu mẫu. Yêu cầu HS làm vào vở, sau đó trao đổi kết quả với nhau. 0,3 = 30%; 0,234 = 23,4 %; 1,35 = 135 %. Bài 2: Giáo viên giới thiệu mẫu (cho HS thực hiện tính 19 : 30, dừng lại ở 4 chữ số sau dấu phẩy, viết 0,6333… = 63,33%). Cho HS tự làm bài, gọi 1 vài HS trình bày trên bảng rồi chữa bài. Kết quả là: 45 : 61 = 0,7377… = 73,77 %; 1,2 : 26 = 0,0461 … = 4,61 %. Bài 3: Hướng dẫn HS tìm hiểu đề bài, tóm tắt bài toán, làm vào vở. GV chú ý giúp đỡ học sinh còn lúng túng. Có thể cho HS trao đổi theo nhóm để giải toán. Gọi HS trình bày trên bảng hoặc bảng phụ. Bài giải Tỉ số phần trăm của số HS nữ và số HS của lớp học là. 13 : 25 = 0,52. 0,52 = 52% Đáp số: 52% II.3.4.3- Ví dụ 3: Tuần 18 – Bài: Diện tích hình tam giác (trang 87 SGK) I/- Mục tiêu. – HS tự hình thành được công thức tính diện tích của hình tam giác. – Biết vận dụng công thức để tính diện tích hình tam giác. II/- Các hoạt động dạy học chủ yếu Hoạt động 1: Hình thành công thức tính diện tích hình tam giác. Bước 1: Tạo tình huống có vấn đề. GV: Đưa hình tam giác chuẩn bị sẵn (như hình vẽ 1), yêu cầu HS tính diện tích của hình tam giác (xem hình 1). 3cm 4cm Bước 2: Tổ chức cho HS phát hiện và tìm hiểu vấn đề (hoạt động theo nhóm nhỏ). – GV gợi ý để HS phát hiện được: Vấn đề được đặt ra là gì? (tính diện tích của hình tam giác). HS tìm cách giải quyết vấn đề? Bước 3: Tổ chức cho học sinh hoạt động giải quyết vấn đề. Cắt tam giác ghép thành hình chữ nhật (hình 2). Sử dụng hai tam giác bằng nhau, ghép thành hình bình hành (hình 3). Sử dụng hai tam giác bằng nhau, ghép thành hình chữ nhật (hình 4). Hoặc đếm số ô vuông nằm trọn trong tam giác (hình 1). Hình 2 Hình 3 Hình 4 – Các nhóm trình bày cách giải quyết vấn đề của nhóm mình và trao đổi ý kiến về các cách đó để tự rút ra được: Có 2 cách là thuận lợi hơn cả, đó là: Cách 1: Sử dụng 2 tam giác bằng nhau ghép thành 1 hình bình hành. Cách 2: Sử dụng 2 tam giác bằng nhau cắt, ghép thành hình chữ nhật. (các cách khác nhau không thuận lợi bằng). GV có thể hướng dẫn: Theo cách 1: Dùng 2 tam giác bằng nhau ghép lại để tạo thành hình bình hành ABCD (như hình vẽ) A H H Cho học sinh so sánh, đối chiếu các yếu tố hình học trong hình để thấy: Hình bình hành ABCD gổm 2 hình tam giác bằng nhau ghép lại nên có diện tích gấp 2 lần diện tích hình tam giác ABC. Hình bình hành ABCD và hình tam gíc ABC có chung đáy BC và đường cao AH. Tính diện tích hình bình hành ABCD bằng cách: lấy đáy x chiều cao, tức là BC x AH. Rút ra cách tính diện tích hình tam giác ABC là: Từ đó nêu quy tắc và công thức tính như SGK Theo cách 2 (là cách trong SGK): Sử dụng mô hình chuẩn bị trước: Lấy ra 2 tam giác bằng nhau (trong đó có một tam giác đã chia làm hai mảnh) rồi ghép thành hình chữ nhật. Hoặc sử dụng giấy (đã chuẩn bị sẵn ở trên ), cắt đồng thời 2 tam giác bằng nhau (gấp đôi mảnh giấy, cắt theo hình tam giác đã vẽ), rồi cắt một tam giác (theo đường cao) được 2 tam giác nhỏ ghép vào tam giác kia để được hình chữ nhật. Bước 4: Tổ chức cho HS phân tích vấn đề và khái quát hoá vấn đề (hoạt động cá nhân kết hợp hoạt dộng chung cả lớp). + GV mô tả hoạt động cắt, ghép trên bằng hình vẽ: Đường cắt 1 2 1 2 + GV hướng dẫn HS so sánh, đồi chiếu các yếu tố hình học trong hình vừa ghép để nhận thấy: Chiều rộng của hình chữ nhật bằng chiều cao của hình tam giác, chiều dài của hình chữ nhật bằng cạnh đáy của hình tam giác. Từ đó, GV có thể gợi ý: * Viết ngắn gọn cách tính diện tích của hình chữ nhật? (Chiều cao x đáy). * So sánh diện tích của hình tam giác với diện tích của hình chữ nhật và rút ra cách tính diện tích của hình tam giác (chiều cao x đáy: 2); + GV nhận xét kết quả làm việc của HS, hướng dẫn HS khái quát hoá: S = a x b : 2, trong đó a là độ dài đáy, h là chiều cao tương ứng với đáy a (a và h có cùng đơn vị đo) S là diện tích (kèm hình vẽ). h a * Lưu ý HS: Cần ghi nhớ công thức, cách thành lập công thức để vận dụng trong những trường hợp khác sẽ gặp sau này. + Học sinh áp dụng công thức (vừa thành lập) để tính diện tích tam giác đã nêu trong bước 1 (3 x 4 : 2 = 6 (cm2)) Hoạt động 2: : Thực hành Bài 1: Tính diện tích hình tam giác mà độ dài đáy và chiều cao có cùng đơn vị đo. + HS tự làm và nêu kết quả. HS khác nhận xét (cách tính và kết quả). 8 x 6 : 2 = 24 cm2; 2,3 x 1,2 : 2 = 1, 38 dm2. + GV tổ chức cho HS khá, giỏi giúp đỡ bạn. Nhận xét về đơn vị đo (đáy và chiều cao đều có đơn vị đo là cm (dm)), diện tích có đơn vị đo là cm2 (dm2). Bài 2: Tính diện tích hình tam giác mà độ dài đáy và chiều cao không có cùng đơn vị đo (1 bài) và 1 bài tính diện tích hình tam giác mà độ dài đáy và chiều cao có cùng đơn vị đo, số đo là số thập phân nhưng số chữ số ở phần nguyên khác nhau. + HS tự làm và nêu kết quả? HS khác nhận xét. a) 5m = 50 dm; hoặc 24 dm = 2,4 m. 50 x 24 : 2 = 600 (dm2); hoặc 5 x 2,4 : 2 = 6 (m2). b) 42,5 x 5,2 : 2 = 110,5 (m2) + HS phát hiện thêm vấn đề: số đo độ dài đáy và chiều cao không cùng đơn vị đo (câu a).+ GV tổ chức cho HS khá, giỏi giúp đỡ bạn. GV nhận xét, kết luận và nêu vấn đề: trước khi áp dụng công thức tính diện tích hình tam giác cần lưu ý điều gì? (đổi số đo độ dài đáy và chiều cao về cùng số đo) III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Kết quả đạt được: Lớp 5A GIỎI KHÁ TRUNG BÌNH YẾU SL TL(%) SL TL(%) SL TL(%) SL TL(%) Sĩ số:31 Nhờ vận dụng những biện pháp tạo tình huống có vấn đề trong tiết dạy Toán ở trên tôi thấy chất lượng môn Toán của lớp tôi tăng lên rất nhiều. Tôi đã đối chiếu bài kiểm tra cuối học kỳ II với bài kiểm tra Khảo sát đầu năm học năm như sau: IV. KẾT LUẬN Các biện pháp tạo ra tình huống có vấn đề trong tiết dạy Toán là rất quan trọng, nó mang lại rất nhiều lợi ích cho giáo viên và học sinh trong quá trình dạy học. – Về nhận thức: đa số giáo viên trong nhà trường đều hiểu và xác định được vai trò và sự cần thiết của việc đổi mới phương pháp dạy học trong quá trình lên lớp. giáo viên, tổ chuyên môn đều xây dựng các giờ dạy thử, các giờ dạy mẫu nhằm định hình cho mình một phương pháp dạy học phù hợp trong từng bài dạy, tiết dạy. nếu trước kia giáo viên đổi mới phương pháp dạy học chủ yếu dựa vào kinh nghiệm của bản thân thì nay dựa vào cơ sở khoa học và định hướng của đề tài mà giáo viên có một cách nhìn tổng thể để đổi mới phương pháp dạy học, nhờ đó mà thực hiện dễ dàng và hiệu quả hơn. Cách dạy này có một số ưu điểm sau: + Học sinh nắm chắc được kiến thức trọng tâm của bài. + Phát huy được tính chủ động, tích cực trong học tập. + Giáo viên không phải nói nhiều mà thay vào đó học sinh sẽ được thực hành nhiều. + Các tồn tại của những năm học trước đã được khắc phục ở năm học này. + Tiết học đảm bảo đúng thời gian quy định (không kết thúc sớm), tránh được sự đơn điệu trong bài học, thu hút sự chú ý của học sinh. Tôi xin trân thành cảm ơn Người viết Nguyễn Ngọc Ánh V. KIẾN NGHỊ 1. Đối với nhà

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Lớp Bốn Học Tốt Môn Toán

Hồ Chủ tịch – người thầy vĩ đại của Đảng, của Cách mạng Việt Nam đã nói: “Muốn có đạo đức Cách mạng thì phải có tri thức”.

Điều này chứng tỏ tri thức trong xã hội là chìa khóa vạn năng để mở tất cả bí mật trong vũ trụ bao la này.

Muốn có tri thức thì phải học và học thật tốt. Việc học phải trải qua muôn vàn gian khổ, quá trình thử thách, nghiền ngẫm, suy luận, tìm tòi, kể cả phải vượt qua thác ghềnh, chông gai mới có được.

Một trong những nhiệm vụ quan trọng bậc nhất của nhà trường hiện nay là hình thành, phát triển trí tuệ cho học sinh. Những nghiên cứu gần đây, Hồ Ngọc Đại cho thấy khi thực hiện nhiệm vụ đó bằng cách tổ chức hoạt động học tập ngay từ khi trẻ tới trường tiểu học, môn Toán chiếm một vị trí hết sức quan trọng. Toán học với tư cách là một môn khoa học nghiên cứu về một số mặt của thế giới hiện thực, có một hệ thống kiến thức cơ bản và phương pháp nhận thức cơ bản rất cần thiết cho đời sống sinh hoạt và lao động. Nó còn là phương tiện, là công cụ cần thiết để học các môn học khác. Đồng thời nó góp phần to lớn vào việc phát triển tư duy lo-gic, bồi dưỡng và phát triển các thao tác trí tuệ: trừu tượng hóa, khái quát hóa, phân tích, tổng hợp, so sánh, Mặt khác, môn Toán còn góp phần quan trọng vào việc phát triển tư duy độc lập, linh hoạt, sáng tạo trong việc hình thành các phẩm chất của con người lao động mới.

Hiện nay, việc nâng cao chất lượng dạy và học của giáo viên và học sinh là mối quan tâm có tầm quan trọng hàng đầu bao trùm và chi phối mọi hoạt động khác. Trong các môn học ở tiểu học thì môn Toán giúp học sinh nắm được kiến thức Toán học cơ bản, có cơ sở học tốt các môn khác, giúp các em năng động, sáng tạo, tự tin hơn. Chương trình Toán lớp 4 là sự kế thừa, tiếp tục của toán 1, 2, 3. Nội dung đã có những thay đổi mới, tăng cường thực hành, ứng dụng kiến thức mới giúp học sinh phát huy được năng lực, tích cực hơn trong việc học, các bài tập vừa sức với học sinh.

I. TÊN ĐỀ TÀI: MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP BỐN HỌC TỐT MÔN TOÁN II. ĐẶT VẤN ĐỀ: Hồ Chủ tịch - người thầy vĩ đại của Đảng, của Cách mạng Việt Nam đã nói: "Muốn có đạo đức Cách mạng thì phải có tri thức". Điều này chứng tỏ tri thức trong xã hội là chìa khóa vạn năng để mở tất cả bí mật trong vũ trụ bao la này. Muốn có tri thức thì phải học và học thật tốt. Việc học phải trải qua muôn vàn gian khổ, quá trình thử thách, nghiền ngẫm, suy luận, tìm tòi, kể cả phải vượt qua thác ghềnh, chông gai mới có được. Một trong những nhiệm vụ quan trọng bậc nhất của nhà trường hiện nay là hình thành, phát triển trí tuệ cho học sinh. Những nghiên cứu gần đây, Hồ Ngọc Đại cho thấy khi thực hiện nhiệm vụ đó bằng cách tổ chức hoạt động học tập ngay từ khi trẻ tới trường tiểu học, môn Toán chiếm một vị trí hết sức quan trọng. Toán học với tư cách là một môn khoa học nghiên cứu về một số mặt của thế giới hiện thực, có một hệ thống kiến thức cơ bản và phương pháp nhận thức cơ bản rất cần thiết cho đời sống sinh hoạt và lao động. Nó còn là phương tiện, là công cụ cần thiết để học các môn học khác. Đồng thời nó góp phần to lớn vào việc phát triển tư duy lo-gic, bồi dưỡng và phát triển các thao tác trí tuệ: trừu tượng hóa, khái quát hóa, phân tích, tổng hợp, so sánh,Mặt khác, môn Toán còn góp phần quan trọng vào việc phát triển tư duy độc lập, linh hoạt, sáng tạo trong việc hình thành các phẩm chất của con người lao động mới. Hiện nay, việc nâng cao chất lượng dạy và học của giáo viên và học sinh là mối quan tâm có tầm quan trọng hàng đầu bao trùm và chi phối mọi hoạt động khác. Trong các môn học ở tiểu học thì môn Toán giúp học sinh nắm được kiến thức Toán học cơ bản, có cơ sở học tốt các môn khác, giúp các em năng động, sáng tạo, tự tin hơn. Chương trình Toán lớp 4 là sự kế thừa, tiếp tục của toán 1, 2, 3. Nội dung đã có những thay đổi mới, tăng cường thực hành, ứng dụng kiến thức mới giúp học sinh phát huy được năng lực, tích cực hơn trong việc học, các bài tập vừa sức với học sinh. Để đạt được mục tiêu chương trình đề ra, Gv phải nắm chắc mục tiêu, nội dung đề khai thác trong từng bài. Điều quan trọng là GV phải nghiên cứu, đầu tư xây dựng phương pháp dạy và học, giao việc vừa sức cho từng đối tượng học sinh nhằm giúp học sinh tích cực trong hoạt động học tập, vận dụng được thành thạo những nội dung trong từng bài. Xuất phát từ vị trí và tầm quan trọng của môn toán ở tiểu học, xuất phát từ thực trạng dạy và học trong chương trình toán 4, qua nghiên cứu khả năng ứng dụng cụ thể, thiết thực của vấn đề tôi đã mạnh dạn nghiên cứu đề tài " Một số biện pháp giúp học sinh lớp Bốn học tốt môn toán". Với mong muốn nâng cao hiệu quả trong công tác giảng day. III. CƠ SỞ LÍ LUẬN: Toán học là một môn khoa học đòi hỏi sự chính xác cao. Đặc biệt người học toán cần có kĩ năng làm toán tốt thì mới đem lại kết quả cao trong học tập. Mặt khác, học giỏi toán cũng là công cụ cần thiết để học các môn học khác cũng như nhận thức thế giới xung quanh và thực tiễn một cách có hiệu quả. Khả năng giáo dục nhiều mặt của môn toán rất to lớn, nó là tiền đề để phát triển tư duy logich đồng thời bồi dưỡng và phát triển những thao tác mang tính trí tuệ để nhận thức thế giới hiện thực như: trừu tượng hóa, khái quát hóa, phân tích tổng hợp, dự đoán, chứng minh. Nó có vai trò to lớn trong việc rèn luyện phương pháp suy luận, giải quyết vấn đề có căn cứ khoa học, toàn diện, chính xác; nó có nhiều tác dụng trong việc phát triển trí thông minh, tư duy độc lập, linh hoạt sáng tạo, góp phần giáo dục ý chí và những đức tính tốt như cần cù, nhẫn nại của con người. IV.CƠ SỞ THỰC TIỄN: Đặc điểm tình hình chung của lớp: 1. Thuận lợi: - Đa số học sinh có đầy đủ sách vở, đồ dùng học tập. - Cơ sở vật chất đầy đủ, khang trang, đầy đủ điều kiện ánh sáng để học sinh học tập. - Hầu hết các em có lòng say mê học toán, thích tìm tòi, khám phá điều mới lạ trong toán học. 2. Khó khăn: - Mức độ lĩnh hội kiến thức của các em không đồng đều. - Một số em còn ham chơi, thiếu chuyên cần trong học tập. - Một số phụ huynh thiếu quan tâm đến việc học tập của con em mình. 3. Thực trạng: Qua giảng dạy nhiều năm, tôi thấy thực trạng về chất lượng của học sinh lớp Bốn như sau: - Nhân chia các em ít thực hiện được, trong lớp có 30 em chỉ có 1/3 số học sinh làm được, theo kịp được chương trình, còn lại 2/3 là làm chưa được. - Còn nhiều em cộng trừ rất chậm, mau quên những kiến thức vừa lĩnh hội được, chưa có kĩ năng xác định yêu cầu bài toán thuộc dạng cơ bản, vận dụng kiến thức ở mức độ thấp ( máy móc, thuộc quy tắc nhưng có khi không áp dụng được). - Giải bài toán có từ hai phép tính trở lên một cách khó khăn, hầu hết chưa biết tìm lời giải chính xác, đơn vị chư thích hợp. GIỎI KHÁ TB YẾU SL TL SL TL SL TL SL TL 3 10% 10 33.3% 6 20% 11 36.7% 4 . Nguyên nhân: Qua điều tra tôi thấy học sinh yếu toán do các nguyên nhân sau: 4.1. Học sinh ít thuộc bảng nhân, bảng chia từ lớp 2, 3. - Hầu hết học sinh ít thuộc bảng nhân, bảng chia nên thực hiện phép nhân, phép chia vô cùng khó khăn; không hiểu được 28 : 4 là được bao nhiêu lần. - Nhân chia một chữ số đã khó với học sinh. Vậy mà đến lớp 4 các em phải nhân chia 2, 3 hoặc nhiều chữ số nên lại càng khó hơn. Do đó học sinh khó có thể hiểu được cách làm một cách nhanh chóng. 4.2. Một số em quá yếu, khả năng tính nhẩm chậm, nên làm các phép tính cộng, trừ chậm; nhân chia lại càng chậm hơn. Làm bài này chậm thì không thể hiểu được bài kia do vậy càng không hiểu bài dẫn đến không có kĩ năng làm bài. 4.3. Học sinh hầu hết ít thuộc quy tắc nên mau quên, còn có số đông là học suông chứ không hiểu rõ nên việc áp dụng rất khó khăn.. - Ví dụ như các quy tắc về tính giá trị của biểu thức. Học sinh không nắm rõ nên vẫn làm lộn xộn chứ không thực hiện đúng theo thứ tự trong quy tắc. 4.4 Khả năng phân tích, tổng hợp các yếu tố, các dữ kiện của đề toán của các em còn quá yếu nên học giải bài toán từ hai phép toán từ hai phép tính trở lên rất khó khăn, không biết phân tích từ kết luận đến giả thiết, không biết vận dụng cái có để đi tìm cái chưa có. Do vậy, nhiều bài tính giả giảng kĩ nhưng học sinh vẫn không làm được, khi giải xong lại ghi đơn vị của cái đã cho chứ không ghi đơn vị của cái phải tìm, lời giải cho mỗi phép tính lại không phù hợp. 4.5. Do bản thân mỗi học sinh lười học: - Trong lớp chỉ có vài học sinh ham học hỏi, ham hiểu biết, lo tìm tòi, tìm hiểu cách giải, còn lại hầu hết là học cho xong chuyện, làm cho xong rồi đi chơi không cần biết đúng hay sai, không chịu khó tìm tòi suy nghĩ, không phát triển được tư duy, không nắm được kiến thức cơ bản. 4.6. Sự cộng tác của phụ huynh còn rất hạn chế. - Một số phụ huynh đưa con em đến trường là khoáng cho GV, con em học được chừng nào hay chừng ấy, không có sự kiểm tra chỉ bảo của phụ huynh. - Còn lại số đông phụ huynh là chăm lo cho con cái nhưng không nắm được phương pháp giải nên không thể hướng dẫn cho con em học được. Với chương trình cải cách mới, cách học cách làm rất xa lạ với phụ huynh; rất nhiều phụ huynh có vốn kiến thức rất khá nhưng phương pháp giải không phù hợp với học sinh tiểu học nên vẫn không thể nào hướng dẫn cho con em được. 4.7. Cấu tạo chương trình lớp 4 quá nặng đối với học sinh, chương trình học liên tục là những tiết phải cung cấp kiến thức mới với rất nhiều dạng toán, số tiết luyện tập ít nên giáo viên không có điều kiện, thời gian để luyện cho học sinh làm bài, do đó khó có thể làm cho học sinh nắm kiến thức chắc chắn được. V . NỘI DUNG NGHIÊN CỨU: Để giúp cho học sinh học được môn toán, để hoàn thành nội dung chương trình lớp 4 theo đúng yêu cầu, tôi đã tìm ra những biện pháp cần thiết áp dụng vào việc học toán như sau: Kiểm tra bảng cửu chương: Để học sinh làm được phép nhân, phép chia với số có một chữ số tiến đến hiểu và làm được tính nhân, tính chia số có hai, ba hoặc nhiều chữ số thì bắt buộc học sinh phải thuộc lòng bảng cửu chương. Do đó việc kiểm tra bảng cửu chương là việc làm thường xuyên ở mỗi tiết toán, có như vậy thì học sinh mới lo học và có thể thuộc được. * Biện pháp: Trong mỗi tiết toán tôi đã dành khoảng 2 phút đầu để kiểm tra, những tuần đầu tôi kiểm tra đọc thuộc lòng, các tuần sau đó lại kiểm tra theo cách chỉ bất kì. ví dụ: Hỏi 8 x 7= ?. Yêu cầu học sinh phải trả lời ngay, nếu em nào trả lời chậm hoặc không trả lời được tức là chưa thật thuộc, mục đích ở đây là tránh cho các em thuộc một cách máy móc. Để khuyến khích và bắt buộc học sinh học thuộc, tôi luôn kèm theo hình thức khen thưởng và trách phạt. Nếu thuộc thì được cộng thêm một điểm, nếu không thuộc các em phải về nhà chép lại bảng nhân đó ít nhất là 10 lần cho nhớ, kèm với việc liên hệ với gia đình để nhắc nhở thêm. Đây là việc giáo viên phải làm thường xuyên cho đến khi nào biết chắc rằng cả lớp đã thật thuộc thì mới thôi. Luyện cho học sinh tính nhẩm: Tính nhẩm về cộng trừ hai chữ số trên dưới 10, học sinh đã học từ lớp một nhưng đến lớp 4 vẫn còn nhiều em tính quá chậm, tính chậm sẽ làm toán chậm do đó làm bài không kịp giờ. Muốn học sinh tính nhanh thì phải rèn kĩ năng tính nhẩm cho các em. Ví dụ : 5 + 7= 5 + 5 + 2 = 10 + 2 = 12 15 - 7 = 15 - 5 - 2 = 10 - 2 = 8 Trong mỗi tiết học đều cho học sinh yếu lên bảng, hướng dẫn cho em trên bảng tính và cả lớp cùng nghe. Đây cũng là việc giáo viên phải làm thường xuyên trong mỗi tiết học để cho học sinh khắc sâu, nhớ được cách tính, từ đó sẽ giúp các em làm tính nhanh hơn. 3. Cho học sinh nắm được qui tắc, tên số trong mỗi phép tính: - Muốn làm tốt dạng toán tìm x thì học sinh cần phải nắm được các thành phần trong mỗi phép tính thì mới áp dụng qui tắc để làm được bài, nếu không nắm được các thành phần chưa biết trong mỗi phép tính thì dù có thuộc qui tắc cũng sẽ không làm được bài. - Do đó, khi gặp loại toán này giáo viên phải thường xuyên ôn luyện . Mỗi lần ôn, luyện sẽ giúp học sinh vừa nhớ bài, vừa khắc sâu kiến thức hơn. - Khi đã thuộc được tên số và qui tắc thì chắc chắn học sinh sẽ làm bài một cách dễ dàng, không thể lẫn lộn. Ví dụ: Tìm số trừ : 325 - x = 200 Khi gặp dạng này học sinh sẽ áp dụng một cách dễ dàng: Muốn tìm số trừ ta lấy số bị trừ trừ đi hiệu: x = 325 - 200 x = 125 4. Luyện cách làm toán có nhiều phép tính: - Đến lớp 4, giải toán đã tiến lên bước cao hơn, ... động vui khỏe, nó đóng vai trò quan trọng trong việc tìm hiểu, củng cố, nâng cao kiến thức một cách sinh động và có chất lượng. - Tìm hiểu đề toán đơn giản có ý nghĩa gần gũi với thực tế, dễ hiểu, có hệ thống kiểu đề cùng dạng cho học sinh chơi để giúp học sinh có thói quen với cách phân tích tổng hợp, tìm ra lời giải. Ví dụ: Trong lớp ta em Uyên được 15 điểm mười, em Lan có số điểm mười nhiều gấp ba lần em Uyên. Hỏi cả hai em có bao nhiêu điểm mười? - Cho thi đua giữa các nhóm, nhóm nào có nhiều em giải được và giải nhanh nhất thì sẽ được tuyên dương, khen thưởng. - Nếu cách chơi này thường xuyên được tổ chức trong mỗi tiết học toán sẽ kích thích học sinh động não và tính toán nhanh. - Tìm nhiều trò chơi đố toán, đố vào đầu tiết học nhằm kích thích học sinh ham thích và cởi mở, thoải mái trong lúc học toán, cũng có thể đố toán trong lúc sinh hoạt. Làm như vậy vừa là trò chơi mà cũng vừa là cung cấp kiến thức. Ví dụ: + Cô có tám quả cam chia đều cho 3 tổ, mổi tổ được bao nhiêu quả? + Con đường từ nhà em đến trường dài 900m, em đi hết quãng đường đó trong 1/3 giờ. Hỏi mỗi phút đi được bao nhiêu mét? - Với nhiều dạng bài tập khác nhau nhưng hầu hết là gần gũi với các em làm kích thích tính ham hiểu biết cho các em, từ đó em vừa ham học, vừa có thói quen suy nghĩ tính toán, góp phần hình thành kỹ năng tính toán. 9 .Đề ra hình thức thi đua hằng tuần: - Bên cạnh việc khuyến khích học tập, gây hứng thú học tập, còn phải đề ra những biện pháp thi đua làm cho tất cả học sinh trong cả lớp tích cực học tập, hạn chế tình trạng lười học. - Để theo dõi thường xuyên và đầy đủ tất cả học sinh trong lớp, bản thân giáo viên không thể nào quán xuyến hết mà phải nhờ đến đội ngũ ban chỉ huy lớp, ban chỉ huy Đội nhưng sâu sát, đắc lực nhất là các tổ trưởng. - Lập cho mỗi học sinh một phiếu theo dõi hàng ngày về các hoạt động trên lớp và giao cho các tổ trưởng giữ để theo dõi kiểm tra và ghi vào phiếu hằng ngày. Mỗi phiếu được làm theo cỡ giấy vở học sinh gồm các nội dung sau: PHIẾU THEO DÕI HẰNG NGÀY Họ và tên Lớp.. các mặt TUẦN Không truy bài Mất trật tự Không thuộc bài Không làm bài ở nhà Nhận xét cảu giáo viên Ý kiến của P.H 1 2 . .. - Hằng ngày ở lớp trong 15 phút đầu giờ, tổ trưởng kiểm tra nội dung truy bài, kiểm tra việc tổ viên có thuộc bài theo lời dặn của giáo viên ở buổi học trước hay không, kiểm tra kết quả làm bài ở nhà và trong cả buổi tổ trưởng cũng theo dõi về trật tự để ghi vào phiếu của mỗi em. Hằng ngày được tính bằng số lần và qui định ghi bằng dấu gạch như một lần ghi , 2 lần ghi Cuối tuần tổ trưởng tổng kết số lần và ghi ở dòng dưới. giáo viên tập hợp phiếu theo dõi và nêu nhận xét trước lớp rồi gởi cho học sinh mang về cho phụ huynh xem, có ý kiến rồi trả lại cho tổ trưởng vào đầu tuần. Qua phiếu này phụ huynh sẽ nắm được việc học của con mình ở trường, việc học bài, làm bài ở nhà của con mình, từ đó phụ huynh có biện pháp theo dõi, nhắc nhỡ, giúp đỡ con mình học tốt hơn. - Việc làm này được thực hiện thường xuyên, qua phiếu theo dõi, giáo viên tóm tắt được ở lớp của mỗi học sinh và liên hệ được những điểm yếu cần khắc phục của từng em để gởi về gia đình. Nhờ vậy mà phụ huynh sẽ có cách giúp đỡ và cùng hỗ trợ với giáo viên để nâng cao chất lượng học tập của con em trong đó có môn cơ bản là môn toán. - Kèm theo với việc liên hệ phụ huynh ở lớp cuối mỗi tuần tôi cũng tổng kết tuyên dương những em đạt tốt, động viên, nhắc nhở, có thể trách phạt đối với các em chưa tốt hoặc thường xuyên vi phạm nhiều lần. - Đề ra thi đua từng đợt trong lớp. Dựa trên kết quả tổng kết hằng tuần để có khen thưởng đối với những em xuất sắc và nhất là chú ý tuyên dương khen thưởng mà có cố gắng để tiến bộ. - Tuy phần thưởng chỉ là những phần thưởng nhỏ như một cuốn vở, một cây bút bi nhưng đây là vinh dự nên sẽ kích thích tinh thần thi đua của các em, làm cho mỗi em sẽ có sự nỗ lực phấn đấu để được thường xuyên nhận vinh dự trên. VI/KẾT QUẢ: Qua một thời gian áp dụng đề tài: " Một số biện pháp giúp học sinh học tốt môn toán lớp bốn" đem lại những kết quả sau: 1. Tất cả học sinh hiện nay đều làm tính cộng trừ tốt, nhân không phải tính bằng ngón tay, ngón chân vì vậy mức độ làm toán nhanh hơn. 2. Tất cả đều thuộc lầu bảng cửu chươnglàm tính nhân chia dễ dàng. Kể cả nhân chia với số có nhiều chữ số cũng thực hiện tốt. 3. Làm toán tính x một cách khoa học, không còn nhầm lẫn giữa các dạng, không còn học sinh không biết làm. 4. Tính giá trị biểu thức một cách thành thạo, thực hiện đúng qui tắc, không thực hiện lộn xộn như trước đây. 5. Biết cách để phân tích đề toán, giải được bài toán có nhiều phép tính một cách logic, khoa học. Kết quả cụ thể qua các lần kiểm tra như sau: Thời gian kiểm tra Tổng số học sinh Kết quả Giỏi Khá TB Yếu SL % SL % SL % SL % Giữa kì I 30 10 33.3 13 43.3 5 16.7 2 6.6 Cuối kì I 30 11 36.7 12 40.0 7 23.3 VII. KẾT LUÂN: Trong dạy học nói chung, dạy toán nói riêng tôi thiết nghĩ mỗi một giáo viên ai cũng mong muốn học sinh mình đều đạt những yêu cầu cơ bản về kiến thức cũng như kĩ năng. Song đối với những đối tưọng học sinh yếu kém về môn toán thì điều này quả thật không dễ dàng chút nào. Qua trao đổi, học hỏi ở bạn bè đồng nghiệp cùng với kinh nghiệm giảng dạy của bản thân tôi đã rút ra bài học kinh nghiệm cho mình trong việc giúp đỡ học sinh gặp khó khăn trong học toán đạt kết quả như sau: - Người giáo viên phải nhiệt tình, tận tuỵ với nghề nghiệp, có lòng yêu mến trẻ. - Phải thường xuyên học hỏi để có nhiều kinh nghiệm, sáng tạo trong bài dạy, cách truyền thụ kiến thức nhằm tạo cho học sinh hứng thú học tập. - Phải nắm được trình độ học sinh, để lựa chọn phương pháp và hình thức tổ chức cho phù hợp tạo ra không khí lớp học nhẹ nhàng, vui vẻ, sôi nổi. - Giáo viên phải kiên trì, không vội vàng, nôn nóng, luôn luôn tin tưởng vào sự tiến bộ của học sinh để khuyến khích, động viên các em kịp thời. Đồng thời cũng phải nghiêm khắc đối với những học sinh có biểu hiện lười và tiêu cực trong học tập. - Khi dạy mỗi bài, mỗi dạng cần giúp các em nắm vững bản chất, xác lập mối quan hệ giữa các dữ kiện , không bỏ sót dữ kiện nào để có kĩ năng giải thạo từng dạng bài. - Giáo viên phải luôn đổi mới phương pháp dạy bằng nhiều hình thức như: trò chơi, đố vui.... phù hợp với đối tượng học sinh của mình: " Lấy học sinh để hướng vào hoạt động học, thầy là người hướng dẫn, tổ chức, trò nhận thức chủ động trong việc giải toán ''. - Trong khi giải phải yêu cầu học sinh đặt câu hỏi: '' Làm phép tính đó để làm gì ?'' , từ đó có hướng giải đúng, chính xác. Sau mỗi bài giải, học sinh phải biết xem xét lại kết quả mình làm để giúp các em tự tin hơn khi giải quyết một vấn đề gì đó. VIII. ĐỀ NGHỊ: - Đối với phòng Giáo dục:Thường xuyên mở chuyên đề về dạy toán để giáo viên tham gia học tập, cùng học hỏi ở đồng nghiệp để phục vụ cho công tác giảng dạy đạt kết quả hơn nữa. - Đối với nhà trường: Tổ chức ngoại khóa với hình thức thi đố vui để học nhằm ôn lại những kiến thức học sinh đã được học nhằm giúp các em khắc sâu hơn khi vận dụng. - Đối với phụ huynh: Cần quan tâm, tạo mọi điều kiện để giúp các em học tốt ở nhà. TÀI LIỆU THAM KHẢO: TÊN TÁC GIẢ TÊN TÀI LIỆU NHÀ XUẤT BẢN NĂM XB Đỗ Đình Hoan Sách giáo khoa toán 4 NXB Giáo Dục 1996 Đỗ Đình Hoan Sách giáo viên toán 4 NXB Giáo Dục 2005 Trần Thị Minh Phương Bồi dưỡng thường xuyên Bộ GD&ĐT 2005 Vũ Dương Thuỵ Đổi mới phương pháp dạy học tiểu học NXBGiáo Dục 2000 MỤC LỤC TT TIÊU ĐỀ TỪNG PHẦN TRANG 01 02 03 04 05 06 07 08 09 10 11 Tên đề tài Đặt vấn đề Cơ sở lý luận Cơ sở thực tiễn Nội dung nghiên cứu Kết quả nghiên cứu Kết luận Đề nghị Tài liệu tham khảo Đánh giá xếp loại SKKN 1 1 2 2 3-10 10-11 11-12 12 13 14 15-16 Mẫu SK1 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc PHIẾU ĐÁNH GIÁ, XẾP LOẠI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM Năm học: 2009 - 2001 I. Đánh giá xếp loại của HĐKH Trường Tiểu học: Đinh Bộ Lĩnh 1. Tên đề tài: Một số biên pháp nâng cao chất lượng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 4. 2. Họ và tên tác giả: 3. Chức vụ: Gáo viên - Tổ: bốn 4. Nhận xét của Chủ tịch HĐKH về đề tài: a)Ưuđiểm:......................................................................................................................................................................................................................................................................................................................... b)Hạnchế:......................................................................................................................................................................................................................................................................................................................... 5. Đánh giá, xếp loại: Sau khi thẩm định, đánh giá đề tài trên, HĐKH Trường ................................ .......................................................thống nhất xếp loại : ..................... Những người thẩm định: Chủ tịch HĐKH (Ký, ghi rõ họ tên) (Ký, đóng dấu, ghi rõ họ tên) ..................................................... ..................................................... . II. Đánh giá, xếp loại của HĐKH Phòng GD&ĐT .......................................... Sau khi thẩm định, đánh giá đề tài trên, HĐKH Phòng GD&ĐT ....................................................thống nhất xếp loại: ............... Những người thẩm định: Chủ tịch HĐKH (Ký, ghi rõ họ tên) (Ký, đóng dấu, ghi rõ họ tên) ..................................................... ..................................................... III. Đánh giá, xếp loại của HĐKH Sở GD&ĐT Quảng Nam Sau khi thẩm định, đánh giá đề tài trên, HĐKH Sở GD&ĐT Quảng Nam thống nhất xếp loại: ............... Những người thẩm định: Chủ tịch HĐKH (Ký, ghi rõ họ tên) (Ký, đóng dấu, ghi rõ họ tên) ............................................................ ................................................................

Báo Cáo Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Lớp 5 Luyện Chữ Đẹp

PHÒNG GD&ĐT HOÀNG SU PHÌ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TRƯỜNG TIỂU HỌC HỒ THẦU Độc lập - Tự do - Hạnh phúc BÁO CÁO SÁNG KIẾN ĐỀ NGHỊ XÉT TẶNG DANH HIỆU CHIẾN SĨ THI ĐUA CƠ SỞ NĂM HỌC 2016 - 2017 I. Sơ lược lý lịch - Họ và tên: Vương Thị Mùi Giới tính: Nữ - Năm sinh: 1991 - Quê quán: Xã Tụ Nhân - Hoàng Su Phì - Hà Giang - Chỗ ở hiện nay: Xã Hồ Thầu - Huyện Hoàng Su Phì - Hà Giang - Chức vụ: Giáo viên - Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Hồ Thầu. II. Đề tài sáng kiến kinh nghiệm: 1. Tên đề tài: "MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 5 LUYỆN CHỮ ĐẸP" Chúng ta biết rằng, chữ viết có tầm quan trọng với học sinh đăc biệt ở bậc tiểu học, học sinh dùng chữ viết để học tập và giao tiếp. Vì vậy, chữ viết không những có quan hệ mật thiết tới chất lượng học tập ở các môn học khác mà còn góp phần rèn luyện một trong những kỹ năng hàng đầu của việc học môn Tiếng Việt trong trường tiểu học - kỹ năng viết chữ. Thông qua chữ viết có thể đánh giá được "nét chữ, nết người". Nếu học sinh viết đúng, đẹp, rõ ràng, đảm bảo tốc độ quy định thì học sinh có điều kiện để ghi chép và làm bài học tốt, nhờ vậy mà kết quả học tập tốt hơn, ngược lại viết xấu sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng học tập của các em. Xuất phát từ thực tế, tôi thấy chữ viết của một số em chưa đúng mẫu, viết không đúng quy trình, chưa liền mạch, còn sai nhiều lỗi chính tả.một số em viết đẹp nhưng không có ý thức giữ gìn sách vở, còn để quăn mép, bong bìa, viết vẽ bừa bãi lên vở. Việc rèn chữ viết còn góp phần rèn luyện cho học sinh những phẩm chất đạo đức tốt như tính cẩn thận, kiên trì, tinh thần kỉ luật và phát triển óc thẩm mĩ. Trong quá trình công tác, tôi nhận thấy một số biện pháp tôi áp dụng để giúp học sinh luyện chữ đẹp đã có những hiệu quả nhất định. Chính vì vậy, để giúp học sinh viết đúng, viết đẹp, biết giữ sách vở, tôi đã nghiên cứu, tìm tòi một số biện pháp "giúp học sinh lớp 5 luyện chữ đẹp" 2. Thời gian thực hiện sáng kiến kinh nghiệm: Từ tháng 9 năm 2016 đến tháng 3 năm 2017 3. Quá trình hoạt động để áp dụng sáng kiến kinh nghiệm: Trong chương trình học 175 tuần ở các lớp, các yêu cầu về số chữ viết tăng dần theo khối lớp. Do vậy, đối với các lớp lớn, do lượng chữ viết tương đối nhiều, các em thường viết nhanh ẩu nếu không được nhắc nhở kịp thờ của giáo viên, các em dễ tạo thành thói quen. Dần dần, các nét chữ cơ bản không còn đúng, chữ viết chưa đúng quy trình do các em tìm cách viết tắt cho nhanh. Mặt khác, một số ít học sinh chậm nhận thức ở các lớp, khả năng đọc còn chậm, do vậy áp theo chuẩn kiến thức để các em thực hiện thì không hiệu quả, không theo kịp các bạn, các em không được kèm cặp dẫn đến càng viết càng không chính xác. Còn đối với các em lớp nhỏ hơn, khi vừa biết đọc, viết, giáo viên chú trọng nhiều hơn vào việc làm sao để các em viết đúng chính tả, đọc đúng bài đọc đã là một quá trình kéo dài, vì vậy việc rèn các em viết đẹp, giữ vở sạch còn chưa được chú trọng. Chính vì vậy, tôi lựa chọn đề tài về vấn đề luyện viết chữ đẹp cho học sinh. Lựa chọn, sử dụng các phương pháp dạy phù hợp với từng đối tượng học sinh. Các giải pháp giúp học sinh luyện chữ viết đẹp, giữ vở sạch hơn. 1. Đối với bản thân người giảng dạy : - Luôn ý thức được rằng chữ viết của giáo viên là rất quan trọng vì nó là mẫu để các em học tập và viết theo. Vì vậy, tôi và đồng nghiệp luôn có ý thức rèn luyện để chữ viết của bản thân rõ ràng, đúng mẫu và tương đối đẹp. Giáo viên phải mẫu mực về chữ viết ở bảng lớp, ở lời nhận xét trong vở học sinh, làm gương cho học sinh học tập và noi theo. - Tôi thường xuyên nghiên cứu, tìm hiểu các tài liệu tham khảo như dạy viết ở Tiểu học, tài liệu tham khảo trên mạng internet và trao đổi lại với đồng nghiệp cùng nghiên cứu thực hiện. - Có mẫu chữ viết trong trường Tiểu học, nắm chắc quy trình, độ cao các chữ viết quy định trong nhà trường. - Ngoài ra tôi còn tham quan, tham khảo, học hỏi kinh nghiệm của đồng nghiệp trong việc rèn chữ viết cho học sinh. - Chú trọng cùng đồng nghiệp rèn chữ cho học sinh trong tất cả các giờ học, đặc biệt trong các giờ Chính tả và các tiết ôn luyện buổi chiều. - Tôi thường xuyên động viên tuyên dương những học sinh có tiến bộ về chữ viết, có ý thức giữ vở sạch, viết chữ đẹp. 2. Đối với việc giữ vở sạch : - Ngay từ đầu năm giáo dục các em hiểu tầm quan trọng, ý nghĩa, tác dụng của viêc giữ vở sạch, rèn chữ đẹp. Tôi còn cho các em xem những bộ vở sạch, chữ đẹp từ những năm trước và động viên các em hăng say rèn luyện để đạt được những bộ vở sạch, chữ đẹp như các anh chị và các bạn. - Ngoài ra tôi còn hướng dẫn học sinh cách bơm mực, cách cầm bút đúng (không bơm quá đầy, chỉ bơm 1/2 sức chứa của bút) - Khi viết không ấn bút, mở nắp nhẹ nhàng, nếu bút bẩn cần lấy giẻ lau lau sạch rồi mới viết. Trước khi viết cần thử bút ra giấy nháp, khi nào thấy mực ra đều đặn ,nét đẹp mới viết vào vở. Khi mới viết xong để mực khô mới gấp vở hay chạm tay vào. Các em hay mắc lỗi này nên để vở hay nhoè, rây bẩn. - Tôi luôn nhắc nhở học sinh mở vở, gấp vở nhẹ tay, khi viết không gấp đôi vở. - Cuối giờ học thu vở để ở lớp, đầu giờ học lớp trưởng phát vở theo bàn. - Hàng ngày bàn học của học sinh phải được lau sạch trước khi vào lớp, học sinh cần phải rửa tay sạch trước khi vào giờ học . - Nếu viết sai trong vở cần dùng thước kẻ chân dưới chữ viết sai, không được tẩy xoá - Cuối mỗi tuần, tháng học tôi luôn kiểm tra vở của các em, nhận xét thường xuyên để kịp thời giúp đỡ. - Thường xuyên động viên, tuyên dương những em viết sạch, đẹp và đưa vở cho những em viết còn chưa được đẹp xem, học tập . 3- Đối với việc rèn chữ đẹp: - Ngay từ đầu năm học tôi đã hướng dẫn các em cách cầm bút, để vở và tư thế ngồi viết . + Khi ngồi viết, học sinh phải ngồi ngay ngắn, lưng thẳng, không tì ngực vào cạnh bàn, đầu hơi cúi, hai mắt cách vở từ 25 - 30 cm. Cánh tay trái đặt trên mặt bàn bên trái vở, bàn tay trái tì vào vở giữ vở không bị xê dịch khi viết. Cánh tay phải cùng ở trên mặt bàn. Với cách để tay như vậy, khi viết bàn tay và cánh tay phải có thể dịch chuyển thuận lợi từ trái sang phải một cách dễ dàng . + Cách cầm bút: Khi viết học sinh cầm bút và điều khiển bút viết bằng cả ba ngón tay (ngón trỏ, ngón cái và ngón giữa) của bàn tay phải. Đầu ngón tay trỏ đặt ở phía trên, đầu ngón cái giữ bên trái, phía bên phải của đầu bút tựa cạnh đốt đầu ngón tay giữa. Ba điểm tựa này giữ bút và điều khiển ngòi bút dịch chuyển linh hoạt. Ngoài ra, động tác viết cần có sự phối hợp cử động của cổ tay, khuỷu tay và cả cánh tay . + Vị trí đặt vở khi viết chữ : Vở viết cần đặt nghiêng so với mép bàn một góc 300 Sở dĩ phải đặt như vậy vì chiều thuận của vận động tay khi viết chữ Việt là vận động từ trái sang phải . - Trong quá trình học sinh viết, chúng tôi luôn quan sát để phát hiện những học sinh ngồi, cầm bút hoặc để vở sai để sửa triệt để cho các em. - Trong quá trình rèn luyện chữ cho học sinh, tôi đặt kế hoạch rèn chữ cụ thể ở bốn thời điểm : Trong giờ tập viết, trong giờ chính tả, trong các giờ học ôn luyện và khi rèn chữ ở nhà. a. Trong giờ rèn chữ viết buổi chiều Trước hết tôi cho học sinh nhắc lại, hiểu rõ đặc điểm vầ cách sử dụng vở tập viết để các em biết dùng vở tập viết đúng yêu cầu. Xác định đường kẻ ngang, kẻ dọc. Các chữ cái có độ cao một đơn vị được xác định bằng đường kẻ ngang trên và đường kẻ ngang dưới. Các chữ cái có độ cao 2,5 đơn vị được xác định bằng đường kẻ ngang trên và giữa. * Ô vuông trên khung chữ mẫu: Các ô vuông này do các đường kẻ ngang, dọc tạo thành, khoảng cách giữa 2 ô vuông nhỏ theo chiều dọc là một đơn vị chữ. * Điểm đặt bút: là điểm bắt đầu khi viết một nét trong một chữ cái. * Viết liền mạch: là thao tác đưa ngòi bút liên tục từ điểm kết thúc của nét viết trước tới điểm bắt đầu của nét tiếp theo. * Kĩ thuật lia bút: là thao tác đưa ngòi bút trên không. * Kĩ thuật rê bút: đó là trường hợp viết đè lên theo hướng ngược lại với nét chữ vừa viết, ở đây xảy ra hai trường hợp dụng cụ viết (Đầu ngòi bút) " Chạy nhẹ" từ điểm kết thúc của nét viết trước đến điểm bắt đầu của nét viết sau. Sau khi đã cho học sinh nắm chắc các kí hiệu, kỹ thuật viết chữ rồi tôi tiến hành dạy cho các em luyện chữ. Học sinh phải hiểu thì mới có thể làm theo. * Song song với việc rèn tỉ mỉ học sinh ở tiết rèn chữ tôi con rèn luyện thêm cho các em một tiết tập viết ở vở luyện chữ đẹp cho các em trong tiết hướng dẫn tự học. b- Trong giờ chính tả: - Đây là giờ học rèn luyện cho học sinh kỹ năng nghe viết để viết chuẩn xác theo luật chính tả. Học sinh nắm chắc để phân biệt được những phụ âm dễ lẫn. - Đối với chính tả, tôi chú trọng rèn cho các em cách nghe chuẩn xác để viết đúng, cách phân biệt các phụ âm dễ nhầm để viết cho chuẩn xác thông qua việc phát âm, ghép tiếng tạo từ. Ngoài ra còn rèn luyện cho học sinh kỹ năng viết đúng, viết đẹp. - Trong cả tiết tập viết, tiết chính tả tôi đều rất chú ý tới việc đánh giá bài viết của học sinh để đảm bảo 2 yếu tố: vừa nghiêm khắc, vừa thể hiện sự động viên khích lệ kịp thời. Nhờ đó sẽ đánh giá được thực chất bài viết của học sinh và động viên các em cố gắng phấn đấu hơn. c- Trong các giờ còn lại: Trong các giờ còn lại tôi nhắc nhở đồng nghiệp nên chú trọng đến tiết tập đọc. Trong tiết học này tôi luyện kỹ cho các em cách đọc và nếu các em biết phát âm chuẩn xác thì các em sẽ đọc đúng, đọc nhanh. Nếu học sinh đã đọc đúng, đọc nhanh thì việc viết chữ của các em sẽ thuận lợi hơn rất nhiều . Ngoài ra, tôi còn chú trọng rèn chữ cho học sinh khi các em viết bài của các môn học khác như : Toán, Tiếng Việt, Đạo đức để các em hiểu được rèn chữ đẹp cần rèn ở mọi lúc mọi nơi. Từ đó hình thành cho các em thói quen tốt giữ vở sạch sẽ, viết chữ cẩn thận đúng và đẹp . d- Đôí với việc rèn chữ ở nhà : Tôi thường dặn dò các em luyện viết ở nhà. Các em tùy chọn một bài chính tả mình thích để luyện. Điều này tăng sự hứng thú với việc rèn chữ của các em. Hàng tháng, nhận xét vở sạch, chữ đẹp cho các em và lấy kết quả việc nhận xét vở sạch, chữ đẹp hàng tháng là một tiêu chí quan trọng trong việc đánh giá thi đua cho các em. Đây cũng là một biện pháp quan trọng thúc đẩy các em nỗ lực phấn đấu viết chữ đẹp . 4. Hiệu quả sáng kiến kinh nghiệm: Qua gần 1 năm học thực hiện miệt mài và phối hợp khéo léo các biện pháp đã nêu ở trên, tôi thấy việc giữ vở sạch, viết chữ đẹp của học sinh ở lớp tôi chủ nhiệm - lớp 5A2 đã có sự tiến bộ rõ rệt và thu được kết quả khả quan. - Trong kì thi viết chữ đẹp cấp trường, lớp 5A2 có 5 học sinh tham gia đều đạt giải. Trong đó, có 3 em được lựa chọn tham gia giao lưu Toán, Tiếng Việt và chữ đẹp cấp huyện và 01 em đạt giải ba cấp huyện trong kì thi này. - Sự tiến bộ rõ rệt về chữ viết của các em học sinh còn giúp cho kết quả kiểm tra định kỳ của lớp được nâng lên. So với đầu năm kết quả tăng lên rõ rệt. Bảng so sánh cụ thể như sau: Số học sinh Số học sinh được xếp loại A về giữ gìn vở sạch, chữ đẹp Số học sinh được xếp loại B, C về giữ gìn vở sạch, chữ đẹp Số học sinh đạt giải viết chữ đẹp cấp trường Số học sinh đạt giải viết chữ đẹp cấp huyện Lớp thực nghiệm (5A2) 22 10 12 5 1 Lớp đối chứng (5A1) 22 6 16 4 0 Từ so sánh trên cho thấy việc tác động trước và sau khi dạy thực nghiệm đã có hiệu quả nhất định. 5. Khả năng phổ biến: Đề tài sáng kiến này đã được Hội đồng xét duyệt sáng kiến của trường tiểu học Hồ Thầu nghiệm thu đồng ý cho bổ sung hoàn chỉnh triển khai trong phạm vi lớp dạy của tôi. Đồng thời, tôi cũng góp ý, chia sẻ để cùng thực hiện trong các khối lớp của các giáo viên trong trường đặc biệt là giáo viên khối 5. Người viết báo cáo Vương Thị Mùi

Sáng Kiến Kinh Nghiệm: Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Bảo Vệ Môi Trường Xanh

1. Lý do chọn đề tài

Nhạc sĩ Trương Quang Lục từng viết:

“Trái đất này là của chúng mình

Quả bóng xanh bay giữa trời xanh ”

Đúng vậy, trái đất này không chỉ của riêng ai mà của toàn nhân loại. Bầu

trời xanh ấy chính là điểm tựa cùng chắp cánh cho những ước mơ của tâm hồn

trẻ thơ bay cao bay xa hơn. Bởi vậy mà, việc bảo vệ cho bầu trời xanh ấy là một

việc làm có ý nghĩa thiết thực không thể thiếu trong mỗi chúng ta. Hiện nay, trái

đất đang nóng dần lên, vấn đề ô nhiễm môi trường đang diễn ra liên tục ở tất cả

các nước trên thế giới, ô nhiễm môi trường ảnh hưởng tới toàn cầu như tình

trạng ô nhiễm không khí, nguồn nước, hạn hán lũ lụt . xảy ra liên tục. Nhân tố

con người là yếu tố chính làm cho tình trạng ô nhiễm càng gia tăng trầm trọng

nhưng chính con người cũng là nhân tố bảo vệ môi trường và cải thiện môi

trường sống. Môi trường sống của con người là vũ trụ bao la, trong đó hệ mặt

trời và trái đất là bộ phận có ảnh hưởng trực tiếp rõ nét nhất. Môi trường thiên

nhiên bao gồm các nhân tố thiên nhiên; đất, nước, không khí, ánh sáng . tồn tại

khách quan ngoài ý muốn của con người. Môi trường nhân tạo gồm những nhân

tố vật lý, sinh học, xã hội do con người tạo nên, chịu sự chi phối của con người.

Môi trường xã hội bao gồm mối quan hệ giữa người với người. Những vấn đề

môi trường này nó cùng nhau tồn tại, xen lẫn và tương tác chặt chẽ vào nhau.

Đặc biệt hơn hiện nay sự bùng nổ dân số cùng với quá trình đô thị hóa nhà máy,

xí nghiệp đã tạo ra nhiều khí thải . đang xâm nhập và làm ảnh hưởng đến sức

khỏe và cuộc sống của con người

hóa. chăn thả các loại gia súc bừa bãi, không chặt phá rừng, không chặt cây cối phát nương nơi rừng cấm ... Cùng các thầy cô giáo dục con em mình thực hiện tốt nội dung thứ nhất. b6." Xây dựng trường lớp xanh, sạch, đẹp, an toàn " - Nhà trường đã chú trọng tới công tác xây dựng cảnh quan trường lớp, dựng trồng cây cảnh đẹp có giá trị. - Bản thân tôi và các giáo viên trong trường, luôn nỗ lực tìm tòi tài liệu thể gắn nội dung tích hợp môi trường. Như là tích hợp toàn phần, tích hợp bộ phận, tích hợp liên hệ ở mỗi nội dung có trong chương trình. - Trong các tiết hoạt động ngoài giờ lên lớp có thể tìm kiếm mượn một số tài liệu của cơ quan Kiểm lâm, Phòng Tài nguyên - Môi trường truyền đạt nội dung sát với bài học để giáo dục các em. - Kết hợp với TPT Đội bản thân tôi đã xây dựng kịch bản cho các em đóng kịch về bảo vệ môi trường nhân Giờ Trái Đất ngày 29/3/2014. Tập trung chủ đạo vào những ngày này mang tính tuyên truyền sâu rộng tới các bậc phụ huynh để một phần học sinh được cha mẹ nhắc nhở, giáo dục ngay ở nhà, một phần là để đem tới sự am hiểu về kiến thức bảo vệ môi trường tới mọi người dân. - Kết hợp với BGH nhà trường làm và treo băng rôn tuyên truyền nơi tập trung đông người một số khẩu hiệu về môi trường như: "Vì tương lai quê hương Sáng kiến kinh nghiệm: Một số biện pháp giúp học sinh bảo vệ môi trường Xanh - Sạch - Đẹp Người thực hiện: Lê Hoài Vân 15 đất nước, hãy giữ lấy màu xanh và làm sạch môi trường" hoặc "Hãy chung tay vì môi trường Xanh - Sạch - Đẹp"... - Từ thực tế trên, tôi từng bước đưa vào nội dung mang tính chất chia nhỏ đề phù hợp với lứa tuổi của các em. - Thân thiện với môi trường là tạo mối quan hệ hài hòa giữa môi trường và con người, không làm ô nhiễm môi trường. Thân thiện với môi trường chính là thân thiện giữa con người và con người, con người với thế giới xung quanh nói chung. Kết quả: Học sinh trường tôi đã có một số kiến thức, hành vi, thái độ của mình về bảo vệ môi trường ( biết nhắc nhở ba, mẹ người đến trường không được hút thuốc và biết tránh xa người hút thuốc, biết thu gom rác thải ...) b7. Nhiệm vụ của học sinh - Chú ý nghe giảng trong từng tiết học. - Có thái độ tốt trong công việc giữ gìn và bảo vệ môi trường - Biết cùng mọi người trong gia đình, thôn xóm trao đổi và làm việc có lợi cho môi trường. - Biết làm những việc đơn giản, phù hợp với lứa tuổi góp phần bảo vệ môi trường. môi trường do thầy cô giáo tổ chức. - Học sinh hiểu: + Môi trường sạch được thể hiện: Các phòng ở, nhà vệ sinh, chuồng gia súc, sân vườn, nguồn nước, các đồ dùng được sắp xếp gọn gàng, ngăn nắp, không bụi, không khói và không có tiếng ồn. + Môi trường bẩn được thể hiện: Nhà ở, sân vườn không được quét dọn, đồ dùng đồ chơi không được lau chùi và sắp xếp gọn gàng, bụi bẩn. - Sau khi học sinh phân biệt được môi trường sạch, môi trường bẩn các em sẽ hiểu được ích lợi khi sống trong môi trường sạch, tác hại sẽ ra sao khi sống trong môi trường bẩn. Sáng kiến kinh nghiệm: Một số biện pháp giúp học sinh bảo vệ môi trường Xanh - Sạch - Đẹp Người thực hiện: Lê Hoài Vân 16 - Giáo viên giáo dục học sinh biết giúp đỡ bố mẹ sắp xếp dọn dẹp nhà cửa, lớp học, biết chăm sóc cây cảnh, cây hoa có trong nhà mình và khuôn viên trường học (tưới nước, nhặt lá vàng, bắt sâu...) Kết quả : Học sinh đã biết có hành vi đúng sai khi chăm sóc bản thân và môi trường, tự làm một số công việc đơn giản hằng ngày: vệ sinh cá nhân, trực nhật. Học sinh có ý thức giữ gìn nhà cửa sạch sẽ, có ý thức về những điều nên làm như: Tắt điện khi ra khỏi phòng, cất đồ dùng học tập, đồ chơi đúng nơi quy định, khoá nước khi rửa tay xong. b8. Tuyên truyền và phối hợp với phụ huynh - Phụ huynh là nguồn động viên khích lệ và luôn sát cánh bên tôi bởi vì không những phụ huynh r n nề nếp cho con em của mình mà còn tuyên truyền cho các bậc phụ huynh khác cùng ý thức để bảo vệ môi trường và nhiệt tình ủng hộ các phong trào của trường lớp. Vì vậy, việc tuyên truyền và phối hợp với phụ huynh trong công tác giáo dục ý thức bảo vệ môi trường là một biện pháp không thể thiếu khi giáo dục cho học sinh. Và tôi đã sử dụng một số biện pháp sau: - Tôi luôn tìm và tải trên mạng các bài báo, phóng sự nêu cao ý thức bảo vệ môi trường của người dân rồi dán vào bảng tin của lớp. - Tôi cùng phụ huynh trao đổi về phân loại rác thải, sau đó hướng dẫn cho học sinh biết được cần phân loại rác thải, vì một số loại rác có thể dùng để tái chế ra một số loại phân bón cho cây trồng. - Cùng giáo viên chủ nhiệm tuyên truyền, vận động phụ huynh về tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường trong cuộc sống hàng ngày và nhắc nhở phụ huynh cùng tham gia thực hiện bằng khẩu hiệu "Mỗi người hãy trồng thêm một cây xanh là thêm một hành động bảo vệ môi trường". Qua đó tôi thường cùng các em trò chuyện về ích lợi của cây xanh: Cây xanh đóng góp rất lớn trong việc bảo vệ bầu khí quyển, làm cho không khí trong lành, làm giảm ô nhiễm môi trường, giảm bụi, giảm tiếng ồn, cây xanh trồng ở rừng còn giúp ngăn chặn lũ lụt ngoài ra cây xanh còn cung cấp nhiều hoa thơm quả ngọt, thuốc chữa bệnh Sáng kiến kinh nghiệm: Một số biện pháp giúp học sinh bảo vệ môi trường Xanh - Sạch - Đẹp Người thực hiện: Lê Hoài Vân 17 - Làm tốt công tác vận động hỗ trợ của phụ huynh về nguồn nguyên vật liệu thải bỏ để giáo viên tận dụng, hướng dẫn học sinh, làm đồ dùng học tập đơn giản cho mình và làm đồ chơi để tặng người thân. Thông qua công tác tuyên truyền, vận động này phụ huynh sẽ hiểu rõ hơn tầm quan trọng của việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho con em không phải chỉ ở phía nhà trường mà còn ở gia đình nữa. c. Điều kiện để thực hiện giải pháp, biện pháp - Giáo viên phải nhận thức đầy đủ đúng đắn về nội dung giáo dục bảo vệ môi trường và môi trường đối với sự phát triển của học sinh. Vì thế đòi hỏi giáo viên phải nghiên cứu và hiểu đặc điểm tâm sinh lý của học sinh để từ đó có những biện pháp tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường, mọi lúc mọi nơi không ngại khó, khổ, ngại bẩn... - Tích cực tìm tòi, sáng tạo áp dụng linh hoạt các phương pháp giảng dạy để áp dụng nội dung chuyên đề một cách phù hợp với khả năng của học sinh và tình hình thực tế ở trường, lớp. - Luôn phối kết hợp chặt chẽ cùng phụ huynh học sinh gia đình và nhà trường để giáo dục bảo vệ môi trường cho hoc sinh. - Tích cực sưu tầm tranh đẹp, hấp dẫn đảm bảo tính thẩm mỹ có nội dung giáo dục bảo vệ môi trường. - Tích cực ứng dụng công nghệ thông tin, bài giảng điện tử sưu tầm băng hình chất lượng cao để lưu giữ và sử dụng trên tiết học và các hoạt động. - Lập kế hoạch tham mưu với ban giám hiệu, tổ chuyên môn dự giờ đóng góp xây dựng ý kiến. d. Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp - Để đạt được hiệu quả cao trong công tác giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh, tôi luôn kết hợp hài hòa giữa các biện pháp và giải pháp trên. Dựa trên kết quả khảo sát tình hình thực tế của các lớp từ đó tôi đã kết hợp lồng ghép nội dung bảo vệ môi trường vào trong các tiết dạy. Không chỉ dừng lại ở đó mà tôi cũng không ngừng kết hợp với phụ huynh và lồng ghép vào những hoạt động ngoài giờ học. Chính điều đó mà kết quả đạt được trong quá Sáng kiến kinh nghiệm: Một số biện pháp giúp học sinh bảo vệ môi trường Xanh - Sạch - Đẹp Người thực hiện: Lê Hoài Vân 18 trình áp dụng các biện pháp trên rất cao. Tôi thấy học sinh hứng thú hơn nhiều so với các tiết học trước, các em năng động và có ý thức hơn về vấn đề bảo vệ môi trường. - Bên cạnh đó, công tác này sẽ đạt được hiệu qủa cao hơn khi có sự tham mưu của Ban Giám hiệu nhà trường, sự phối hợp của các giáo viên trong trường về ý nghĩa của việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh tiểu học. e. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu - Qua một thời gian kiên trì thực hiện một số biện pháp giáo dục cho học sinh có ý thức bảo vệ môi trường, đến nay tôi thấy đã đạt được kết quả đáng mừng. là kết quả so sánh về việc thực hiện một số biện pháp để học sinh có ý thức bảo vệ môi trường. Bảng so sánh kết quả TRƯỚC SAU - Chưa biết nhặc rác bỏ vào thùng rác. - Bẻ cành, nghịch phá cây cảnh trong trường. - Phụ huynh đưa đón con đi học con chạy xe vào sân trường. - Chưa trả lời được các câu hỏi áp dụng trong giảng dạy và tuyên truyền như: 1.Gia đình các em dùng nguồn nước nào để sinh hoạt hàng ngày? 2. Các em cần làm gì góp phần xây dựng và bảo vệ môi trường? - Đã biết nhặc rác bỏ vào nơi quy định. - Đã biết bảo vệ và chăm sóc cây xanh. - Đã biết nhặc phụ huynh dững xe ở cổng trường và tự đi vào lớp. - Học sinh đa số trả lời được các câu hỏi giáo viên đưa ra 1. Có thể trả lời: Nguồn nước sạch, nguồn nước giếng 2. Tắt điện các thiết bị khi không thật sự cần thiết . - Tiết kiệm nguồn nước. - Không chặt phá rừng đầu nguồn. - Không chăn thả gia súc nơi đầu nguồn nước .. Sáng kiến kinh nghiệm: Một số biện pháp giúp học sinh bảo vệ môi trường Xanh - Sạch - Đẹp Người thực hiện: Lê Hoài Vân 19 3. Qua tuyên truyền và học tập trên lớp cũng như ở nhà, vậy em cho biết gia đình mình đã làm gì để bảo vệ môi trường ? - Quét dọn vệ sinh nơi ở nơi học tập , vui chơi .. 3. Ba mẹ em cùng các cô bác trong thôn làm chuồng trại gia súc, gia cầm xa nơi ở, thường xuyên khơi thông cống rãnh tại khu tái định cư. Khảo sát lần 1 : Tháng 10 năm 2014 - Việc làm của các em cũng như hộ gia đình chưa thường xuyên, chưa biết kết hợp hài hòa trong công việc sự dụng nguồn ngước. Còn xảy ra tình trạng bẻ cành ngắt hoa bừa bãi, còn nhổ cây trồng xung quanh trường tại hai phân hiệu, Khảo sát lần 2: Thời điểm cuối tháng 1 năm 2015. - Kết quả có sự biến chuyển rõ rệt, học sinh ở tất cả các lớp trong 2 phân hiệu của Trường Nguyễn văn Trỗi có ý thức giữ gìn vệ sinh tốt trong tất cả các lớp cũng như khu vực sân trường, quanh trường. Chăm sóc và bảo vệ cây trồng trong lớp, xung quanh trường thường xuyên. - Về phía gia đình học sinh: Nhiều gia đình nâng cao được việc bảo vệ môi trường thông qua công việc cụ thể như: Trồng cây tạo môi trường trong lành, bảo vệ và sử dụng nguồn nước, khai thác cây hợp lý, làm chuồng trại gia súc, gia cầm xa nhà ở, cùng nhau vệ sinh chung khu dân cư ... - Nhìn vào bảng khảo sát tôi thấy rất phấn khởi, đây là niềm động viên khích lệ tôi cố gắng hơn nữa trong các năm học tiếp theo. 4. Kết quả Dựa trên những nghiên cứu và các biện pháp tôi đã thu lại được kết quả: - Đa số học sinh có ý thức cá nhân, ý thức tập thể bảo vệ môi trường. Không vứt rác bừa bãi ở nơi công cộng, khi có nhu cầu vứt rác mang rác tới thùng vứt hoặc vứt rác vào nơi quy định, khi nhìn thấy rác ở nơi công cộng các em đã biết nhặt cho vào thùng rác Sáng kiến kinh nghiệm: Một số biện pháp giúp học sinh bảo vệ môi trường Xanh - Sạch - Đẹp Người thực hiện: Lê Hoài Vân 20 - Ngoài ra học sinh còn biết nhắc nhở khi nhìn thấy người khác xả rác bừa bãi, biết nhắc nhở người lớn không hút thuốc ở nơi công cộng và hiểu được hút thuốc lá có hại cho sức khỏe và ảnh hưởng tới môi trường. - Học sinh trường tôi đã biết động viên bố mẹ cùng tham gia như: Nhắc bố mẹ không đi xe máy, xe đạp vào sân trường làm bụi bẩn sân trường, nhắc bố mẹ thu gom phế liệu, đóng góp tranh ảnh để làm đồ dùng, đồ chơi trang trí góc tuyên truyền. Học sinh tự phát triển ngôn ngữ mạch lạc, rõ ràng lưu loát đủ câu trong khi giao tiếp, khi đàm thoại. Tự có hành vi thái độ mong muốn được bảo vệ môi trường một cách rõ rệt. - Phụ huynh rất phấn khởi yên tâm khi thấy con em mình có ý thức bảo vệ môi trường, không những ở trường mà còn cả ở trong gia đình cho nên đã đóng góp tranh ảnh có nội dung về môi trường, tranh ảnh, hình ảnh các hoạt động của con người về môi trường rồi đến các học liệu, vật liệu như: Hạt rau, củ giống, rau, củ quả, bóng bay, nến, cát, sỏi... để cho giáo viên và học sinh trải nghiệm trồng, chăm sóc cây. Bản thân các bậc phụ huynh cũng ý thức cao và trách nhiệm cao hơn rất nhiều về việc bảo vệ môi trường trong và ngoài trường tiểu học. Cụ thể: Ủng hộ cây xanh, tham gia lao động dọn cỏ, dọn vệ sinh trường, vệ sinh đường làng khu dân cư, đó cũng là một trong những tiêu chí để cùng chung tay góp phần xây dựng nông thôn mới xã nhà. - Như vậy, những vấn đề được nghiên cứu giáo dục bảo vệ môi trường đã được thực hiện đến với học sinh một cách gần gũi và thuận lợi. Từ đề tài này tôi mong rằng có thể tiếp tục nghiên cứu và giáo dục học sinh thêm về những vấn đề tiếp theo như: Vấn đề giáo dục bảo vệ môi trường học sinh ở tại khu dân cư vì có rất nhiều tình trạng rác thải bừa bãi... Vấn đề lồng ghép môi trường biển hải đảo vì hiện nay môi trường biển cũng đang là vấn đề nóng bỏng và cấp thiết cần tập trung nghiên cứu và áp dụng giáo dục học sinh. Từ đó học sinh có tình yêu, tự hào và ý thức bảo vệ, giữ gìn biển đảo quê hương Việt Nam. III. PHẦN KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 1. Kết luận Sáng kiến kinh nghiệm: Một số biện pháp giúp học sinh bảo vệ môi trường Xanh - Sạch - Đẹp Người thực hiện: Lê Hoài Vân 21 - Giáo dục tiểu học giữ một vị trí quan trọng trong sự phát triển của xã hội, trong quá trình hình thành nhân cách con người. Do vậy công tác giáo dục tiểu học phải được tiến hành một cách khoa học có mục đích có hệ thống nhằm tạo dựng những nền tảng ban đầu vững chắc đúng đắn cho quá trình phát triển sau này của mỗi cá nhân hoc sinh - là chủ nhân tương lai của xã hội. Để giúp học sinh có những kiến thức và kỹ năng thực hành bảo vệ môi trường phù hợp với khả năng của các em, điều quan trọng là giáo viên phải luôn gương mẫu cho các em làm theo, luôn có ý thức hướng dẫn các em kiên trì không được đốt cháy giai đoạn. Trên cơ sở đó giáo dục các em biết yêu quý, gần gũi môi trường và đánh giá các hành vi tốt, xấu của con người trong việc chăm sóc bảo vệ môi trường. Từ đó biết cách sống tích cực với môi trường nhằm đảm bảo sự phát triển lành mạnh của cơ thể và trí tuệ. Đặc biệt qua giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh còn để nhắc nhở người lớn và đánh thức ở họ biết bảo vệ môi trường sống cho trẻ em cũng như bảo vệ cho một môi trường sống an toàn, sạch sẽ, lành mạnh và phong phú. Vì vậy giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh tiểu học là vấn đề quan trọng và vô cùng cần thiết. - Đề tài này đã mang lại hiệu quả nhất định, qua những tiết học có nội dung tích hợp bảo vệ môi trường, biển đảo. Giáo viên đã lồng ghép trong các môn học, học sinh tiếp thu bài một cách dễ dàng và có hệ thống. - Bước đầu đã tạo được cho các em thói quen, hành vi đúng về ý thức bảo vệ môi trường ở lớp, ở trường, ở nhà và khu vực nơi sinh sống. - Gắn trách nhiệm của mình với việc bảo vệ môi trường mọi lúc mọi nơi, trong phong trào xây dựng "Trường học thân thiện học sinh tích cực" trong đó có việc bảo vệ môi trường là một việc làm rất mới đòi hỏi phải có cả tinh thần và trách nhiệm cao, làm tốt công tác dân vận và tuyên truyền sao cho hiệu quả nhất. - Để thực hiện được đề tài này có hiệu quả người giáo viên cần phải có thời gian, đặc biệt là công tác nghiên cứu, tuyên truyền, do bậc Tiểu học các em nắm lượng kiến thức sơ giản, phù hợp với khả năng của các em trong việc bảo Sáng kiến kinh nghiệm: Một số biện pháp giúp học sinh bảo vệ môi trường Xanh - Sạch - Đẹp Người thực hiện: Lê Hoài Vân 22 vệ môi trường đem lại hiệu quả rất lớn, và đây cũng là bước đẩy cho các em học tập và ứng dụng ở bậc học trên cũng như cuộc sống của mình trong thực tiễn. 2. Kiến nghị a. Đối với giáo viên: - Nghiên cứu tham khảo tài liệu, không ngừng bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn. Giáo viên phải là tấm gương sáng về giữ gìn và bảo vệ môi trường để học sinh noi theo. - Luôn kết hợp với nhà trường và phụ huynh r n cho học sinh có ý thức bảo vệ môi trường ở mọi lúc mọi nơi. - Để thực hiện được đề tài này có hiệu quả người giáo viên cần phải có thời gian, đặc biệt là công tác nghiên cứu, tuyên truyền, và đây cũng là bước đẩy cho các em học tập và ứng dụng ở bậc học trên cũng như cuộc sống của mình trong thực tiễn. b. Đối với nhà trường: - Để phục vụ tốt cho việc giáo dục bảo vệ môi trường trong trường tiểu học thì nhà trường nên có những hình thức tuyên truyền với phụ huynh một cách có hiệu quả như: Tổ chức các buổi lao động tập thể, dùng các bảng tin, thông báo để cung cấp kiến thức cho họ. - Xây dựng thêm công trình thanh niên để làm vườn hoa cây cảnh, tạo khung cảnh xanh- sạch- đẹp cho trường. - Cần thường xuyên tổ chức trao đổi phương pháp giảng dạy ở tất cả các môn học để giáo viên đúc kết kinh nghiệm sau mỗi giờ lên lớp sao cho thu được nhiều kết quả qua việc tích hợp nội dung tuyên truyền. về bảo vệ môi trường giúp giáo viên nghiên cứu soạn giảng đạt kết quả cao hơn. tiểu học mà thực tế tôi đã thực hiện tại đơn vị tôi đang công tác. Nhưng không thể tránh khỏi những thiếu xót nên rất mong sự đóng góp ý kiến của hội đồng Sáng kiến kinh nghiệm: Một số biện pháp giúp học sinh bảo vệ môi trường Xanh - Sạch - Đẹp Người thực hiện: Lê Hoài Vân 23 khoa học, các bạn b đồng nghiệp để đề tài của tôi hoàn thiện và đạt kết quả cao hơn. Góp phần xây dựng trường Nguyễn Văn Trỗi xanh - sạch - đẹp. Tôi xin chân thành cảm ơn! Krông Ana, ngày 15 tháng 03 năm 2015 Người thực hiện Lê Hoài Vân Sáng kiến kinh nghiệm: Một số biện pháp giúp học sinh bảo vệ môi trường Xanh - Sạch - Đẹp Người thực hiện: Lê Hoài Vân 24 NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG CHẤM SÁNG KIẾN CẤP TRƯỜNG ............................................................................................................................... ............................................................................................................................... ............................................................................................................................... ............................................................................................................................... ............................................................................................................................... CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN ( Ký tên, đóng dấu) NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG CHẤM SÁNG KIẾN CẤP HUYỆN ............................................................................................................................... ............................................................................................................................... ............................................................................................................................... ............................................................................................................................... ............................................................................................................................... CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN ( Ký tên, đóng dấu) Sáng kiến kinh nghiệm: Một số biện pháp giúp học sinh bảo vệ môi trường Xanh - Sạch - Đẹp Người thực hiện: Lê Hoài Vân 25 TÀI LIỆU THAM KHẢO STT Tên tài liệu Tác giả 1 2 3 4 5 Các báo khoa học và đời sống về vấn đề môi trường Các sách về môi trường Luật bảo vệ môi trường Bảo vệ môi trường xanh Môi trường và Giáo dục bảo vệ môi trường NXB Kim Đồng NXB Lao động và Xã hội NXB Văn hóa thông tin NXB Giáo dục

Cập nhật thông tin chi tiết về Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Dạy Học Toán 5 Giúp Học Sinh Tự Tìm Tòi, Khám Phá Kiến Thức trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!