Xu Hướng 6/2023 # Quản Lý Nhà Nước Về Nợ Xấu # Top 14 View | Phauthuatthankinh.edu.vn

Xu Hướng 6/2023 # Quản Lý Nhà Nước Về Nợ Xấu # Top 14 View

Bạn đang xem bài viết Quản Lý Nhà Nước Về Nợ Xấu được cập nhật mới nhất trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Bài viết tập trung nghiên cứu kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với nợ xấu của hệ thống ngân hàng thương mại của một số quốc gia trên thế giới. Cụ thể về bốn nội dung quản lý nhà nước, gồm: xác lập môi trường pháp lý cho hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại; ban hành chuẩn mực nợ xấu trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại; tổ chức kiểm tra, giám sát hoạt động tín dụng và nợ xấu của các ngân hàng thương mại; và xử lý các ngân hàng thương mại khi có nợ xấu vượt ngưỡng trong hoạt động tín dụng. Trên cơ sở phân tích, tổng hợp kinh nghiệm ba quốc gia điển hình, bài viết đề xuất một số bài học cho hoạt động quản lý nhà nước đối với nợ xấu của hệ thống ngân hàng thương mại tại Việt Nam.

 

Mở đầu  

Trong những năm gần đây, nhiều quốc gia trên thế giới đã áp dụng các biện pháp vĩ mô để bảo vệ sự ổn định tài chính quốc gia. Tại Việt Nam, hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại được đặt dưới sự quản lý của Ngân hàng Nhà nước. Vai trò điều tiết và quản lý của Ngân hàng Nhà nước nhằm ổn định giá trị đồng tiền, đảm bảo an toàn hoạt động ngân hàng và hệ thống ngân hàng thương mại, đảm bảo an toàn hiệu quả thanh toán quốc gia. Vì vậy, đối với các ngân hàng thương mại, khi mức dư nợ xấu tín dụng càng cao thì Ngân hàng Nhà nước thường đóng vai trò “người cứu cánh cuối cùng”. Bởi khi rủi ro tín dụng xảy ra, nợ xấu của một ngân hàng thương mại bất kỳ trong hệ thống tăng cao báo động sẽ gây ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động, khả năng cạnh tranh của ngân hàng và cả uy tín ngân hàng, niềm tin của người gửi tiền đối với hệ thống ngân hàng trong nước. Do tính chất lây lan của hiệu ứng đám đông, rủi ro tín dụng vượt kiểm soát sẽ trở thành một trong những nguyên nhân hình thành nên cuộc khủng hoảng tài chính cho nền kinh tế của quốc gia. Vì vậy, Ngân hàng Nhà nước luôn chú trọng quan tâm đến quản lý hoạt động của các ngân hàng thương mại, cụ thể là, trong kiểm soát chất lượng tín dụng, đặc biệt là kiểm soát nợ xấu của các ngân hàng thương mại.   

Cần xây dựng và phát triển hệ thống NHTM có cấu trúc đa dạng về sở hữu, quy mô đủ lớn và minh bạch, đồng thời đáp ứng đầy đủ các chuẩn mực quốc tế về hoạt động ngân hàng   

Trong bối cảnh hội nhập khu vực và thế giới hiện nay, có sự tiềm ẩn rủi ro khủng hoảng tài chính và hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam, tác giả quyết định lựa chọn nghiên cứu kinh nghiệm của một số quốc gia điển hình trên thế giới về quản lý nhà nước đối với nợ xấu của hệ thống ngân hàng thương mại, từ đó rút ra các bài học cho Việt Nam.  

1. Quản lý nhà nước đối với nợ xấu của ngân hàng thương mại  

Quản lý nhà nước đối với nợ xấu tại các ngân hàng thương mại chính là sự tác động có tổ chức, mang tính quyền lực công của Ngân hàng Trung ương, thông qua hệ thống pháp luật và chính sách để điều chỉnh các hành vi và quy trình tín dụng của ngân hàng thương mại, nhằm mục tiêu đảm bảo an toàn, hiệu quả và phát triển bền vững của hệ thống ngân hàng. Trong đó, nhà nước thực thi các biện pháp nhằm phòng ngừa và hạn chế sự phát sinh của nợ xấu cũng như các biện pháp xử lý nợ xấu để các ngân hàng thương mại tăng doanh thu, giảm chi phí và nâng cao hiệu quả hoạt động của mình (Trịnh Thị Thủy, 2015).   

Hoạt động quản lý nợ xấu của nhà nước bao gồm nhận diện nợ xấu, đưa ra các biện pháp phòng ngừa nợ xấu và xử lý nợ xấu, trong đó bao gồm các biện pháp thu hồi nợ xấu phát sinh để các ngân hàng thương mại hoạt động an toàn, hiệu quả và bền vững. Vấn đề quan trọng nhất trong hoạt động quản lý nợ xấu là tiến hành các biện pháp hạn chế nợ xấu phát sinh bởi khi nợ xấu gia tăng, sự phát triển của nền kinh tế, của cả hệ thống tài chính sẽ bị ảnh hưởng. Tùy vào đặc điểm ngân hàng ở mỗi quốc gia mà có những mô hình quản lý nợ xấu khác nhau nhưng theo Ghosh (2015), quản lý nợ xấu là một quá trình cần phải được thực hiện liên tục thì hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại mới có thể đảm bảo được sự an toàn, hiệu quả và phát triển bền vững.  

 

– Phương pháp quản lý nhà nước đối với nợ xấu   

 

Hiện nay, có một số phương pháp được áp dụng phổ biến trong quản lý nhà nước đối với hoạt động tín dụng và nợ xấu của ngân hàng thương mại, đó là: phương pháp thuyết phục, phương pháp cưỡng chế nhà nước, phương pháp hành chính, phương pháp kinh tế, phương pháp quản lý có mục tiêu, phương pháp quản lý tác nghiệp, phương pháp kiểm tra… (Phan Trung Hiền, 2009).  

Các phương pháp quản lý nhà nước đối với hoạt động tín dụng và nợ xấu của ngân hàng thương mại phải đảm bảo tính khoa học và nghệ thuật. Về tính khoa học, các phương pháp quản lý nhà nước đối với hoạt động tín dụng và nợ xấu của ngân hàng thương mại đòi hỏi phải nắm vững đối tượng ngân hàng thương mại với những đặc điểm vốn có của nó, để tác động trên cơ sở nhận thức và vận dụng các quy luật khách quan phù hợp với đối tượng này. Về tính nghệ thuật, các phương pháp quản lý nhà nước cần được lựa chọn và kết hợp các phương pháp trong thực tiễn để sử dụng tốt tiềm năng và cơ hội của đất nước, đạt mục tiêu quản lý đề ra (Ghosh, 2015).  

– Công cụ quản lý nhà nước đối với nợ xấu  

Công cụ quản lý nhà nước đối với hoạt động tín dụng và nợ xấu của các ngân hàng thương mại là tập hợp những phương tiện sử dụng để thực hiện các chức năng quản lý về hoạt động tín dụng và nợ xấu của ngân hàng thương mại nhằm đạt được những mục tiêu nhất định. Ngân hàng Trung ương thông qua các công cụ quản lý này chuyển tải ý định và ý chí của mình đến các ngân hàng thương mại hoạt động trong nền kinh tế (Phan Trung Hiền, 2009).  

Hiện nay, có năm nhóm công cụ chính để quản lý nhà nước đối với hoạt động tín dụng và nợ xấu của các ngân hàng thương mại, bao gồm: (i) Nhóm công cụ thể hiện mục tiêu quản lý, (ii) Nhóm công cụ thể hiện chuẩn mực xử sự hành vi của các ngân hàng thương mại, (iii) Nhóm công cụ thể hiện tư tưởng, quan điểm của nhà nước trong việc điều chỉnh các hoạt động tín dụng và nợ xấu của ngân hàng thương mại, (iv) Nhóm công cụ vật chất làm động lực tác động vào các ngân hàng thương mại, và (v) Nhóm công cụ để sử dụng các công cụ trên (Phan Trung Hiền, 2009).   

– Mục tiêu quản lý nhà nước đối với nợ xấu  

Quản lý nhà nước đối với hoạt động tín dụng và nợ xấu của ngân hàng là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của nhà nước và cũng là hoạt động chủ đạo của các ngân hàng thương mại. Theo Ghosh (2015), quản lý nợ xấu của nhà nước cần hướng đến mục tiêu đảm bảo tính hiệu quả của hoạt động tín dụng tại các ngân hàng thương mại để ngày càng nâng cao chất lượng của hoạt động này. Đồng thời, quản lý nhà nước đối với nợ xấu phải hướng đến mục tiêu tìm giải pháp xử lý nợ xấu có hiệu quả nhất để giảm tối đa tổn thất và rủi ro cho ngân hàng thương mại. Nói cách khác, thông qua các chính sách, cơ chế, đạo luật, nhà nước thông qua việc Ngân hàng Trung ương thực thi các biện pháp quản lý, giám sát hoạt động tín dụng và nợ xấu của ngân hàng thương mại một cách khoa học và có hiệu quả.  

Cụ thể hơn, có bốn mục tiêu cụ thể quản lý nhà nước đối với hoạt động tín dụng và nợ xấu của ngân hàng thương mại: Thứ nhất, duy trì sự an toàn và lành mạnh và phát triển bền vững của hệ thống ngân hàng: ngân hàng là đối tượng chịu nhiều rủi ro trong quá trình hoạt động và đóng vai trò vô cùng quan trọng trong nền kinh tế bởi đây là nguồn thanh khoản dự phòng cho tất cả các tổ chức khác trong xã hội và là công cụ truyền tải chính sách tiền tệ của nhà nước (Corrigan, 1982). Thứ hai, khuyến khích, hỗ trợ hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại: mục tiêu của quản lý nhà nước đối với hoạt động tín dụng và nợ xấu của các ngân hàng thương mại thông qua vai trò của ngân hàng nhà nước là sẽ tạo động lực và khuyến khích hoạt động tín dụng phát triển, ngăn ngừa nợ xấu. Thứ ba, tạo môi trường thuận lợi để các ngân hàng thương mại phát triển: trong nền kinh tế thị trường, tác động của mỗi chủ thể đều có ảnh hưởng qua lại với nhau, đặc biệt là trong lĩnh vực nhạy cảm như ngân hàng. Thứ tư, định hướng, dẫn dắt và điều tiết hoạt động của hệ thống ngân hàng, tạo lập sự cân đối vĩ mô trong nền kinh tế và ngăn ngừa nợ xấu: nền kinh tế thị trường hiện nay hoạt động theo các quy luật vốn có của nó (Rosenstein-Rodan, 1961).

 

2. Kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với nợ xấu của một số quốc gia trên thế giới  

2.1. Kinh nghiệm của Ngân hàng Trung ương châu Âu  

Ngân hàng Trung ương châu Âu (ESCB) điều hành chính sách tiền tệ đồng Euro của Liên minh châu Âu hay khu vực đồng Euro hiện nay sau khi Anh rời khối này. Do tính chất đặc thù của một khối các quốc gia, Ngân hàng Trung ương châu Âu có ban giám đốc đứng đầu là Chủ tịch và hội đồng các thống đốc gồm lãnh đạo và đại diện các ngân hàng trung ương của các quốc gia trong liên minh. Hoạt động quản lý nợ xấu đối với hệ thống ngân hàng thương mại của của Ngân hàng Trung ương châu Âu trong thời gian qua được triển khai gồm các nội dung sau:  

– Xác lập môi trường pháp lý cho hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại  

 

Văn bản có vai trò quan trọng hỗ trợ việc thiết lập một khuôn khổ chung trên các hệ thống ngân hàng EU để nhận biết, phân loại và đánh giá nợ xấu đó là dự thảo hướng dẫn của Cơ quan Ngân hàng Châu Âu (European Banking Authority) từ năm 2014 (European Banking Authority, 2014, 2016a, 2016b). Các tiêu chuẩn này cung cấp các tiêu chí hài hòa để xác định các khoản nợ xấu, tăng cường tính minh bạch của rủi ro tín dụng được thực hiện bởi các ngân hàng châu Âu.   

 

– Ban hành chuẩn mực nợ xấu trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại  

Ủy ban châu Âu tập trung đề xuất các phương án để đưa ra mức dự phòng tối thiểu cho các khoản nợ xấu trong tương lai. Ngày 14/03/2018, Ủy ban châu Âu đã đưa ra các biện pháp để giải quyết tỷ lệ nợ xấu cao tại hệ thống các ngân hàng thương mại. Trong đó đặc biệt đề xuất quy định về dự phòng tổn thất tối thiểu đối với các khoản vay mới không hiệu quả. Sự hỗ trợ này bao gồm hai yếu tố chính: (i) yêu cầu các ngân hàng phải chi trả đến mức tối thiểu chung cho các khoản lỗ phát sinh và dự kiến đối với các khoản vay mới không hiệu quả (yêu cầu dự phòng tối thiểu) và (ii ) khi yêu cầu dự phòng tối thiểu không được đáp ứng, một khoản khấu trừ chênh lệch giữa dự phòng thực tế và dự phòng tối thiểu sẽ được 

thực hiện.   

– Tổ chức kiểm tra, giám sát hoạt động tín dụng và nợ xấu của các ngân hàng thương mại  

 

Các cơ quan giám sát ngân hàng thiết lập Cơ chế giám sát đơn (Single Supervisory Mechanism – SSM) trên cơ sở các hoạt động của Trụ cột 2 (SREP). Điều này cho thấy, việc nhận thức được tầm quan trọng của đánh giá và kiểm soát chất lượng tài sản của khoản vay một cách công bằng. Bên cạnh đó, việc đánh giá toàn diện được thực hiện bởi Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) và Cơ quan có thẩm quyền quốc gia (NCA), bao gồm một số hoạt động quan trọng, đặc biệt là đánh giá chất lượng tài sản (AQR). Hoạt động này tập trung vào việc đánh giá giá trị chính xác của tài sản đảm bảo của các ngân hàng dựa trên một phương pháp thống nhất và hài hòa.  

Trên cơ sở kết quả kiểm tra, giám sát hoạt động tín dụng và nợ xấu của các ngân hàng thương mại, các chiến lược nợ xấu được đưa ra, về cơ bản, ECB xác định bốn thành phần cơ bản, đó là: (1) Đánh giá môi trường hoạt động, (2) Phát triển chiến lược, (3) Thực hiện kế hoạch hành động, và (4) Đưa chiến lược vào quy trình quản lý ở các cấp độ. Trong tương lai, Ủy ban châu Âu sẽ cho phép những nhà giám sát ngân hàng nhiều quyền hạn hơn để họ có thể tích cực thúc đẩy các ngân hàng giải quyết vấn đề nợ xấu nhiều năm qua.  

– Xử lý các ngân hàng thương mại khi có nợ xấu vượt ngưỡng trong hoạt động tín dụng  

Liên minh châu Âu trong những năm gần đây đã rất chú trọng đến việc xử lý các ngân hàng thương mại khi có nợ xấu vượt ngưỡng trong hoạt động tín dụng. Cụ thể, Ngân hàng Trung ương châu Âu có thể buộc các ngân hàng tăng “vùng đệm” đối với các khoản nợ xấu hiện tại. Các ngân hàng cũng có thể buộc phải tự động trích thêm vốn cho các khoản vay mới khi thấy mức nợ xấu vượt quá mức chấp nhận được. Tuy nhiên, một cách khách quan, các biện pháp này có thể làm chi phí tăng quá mức, ảnh hưởng đến hiệu suất của các ngân hàng.   

2.2. Kinh nghiệm của Ngân hàng Trung ương Trung Quốc  

Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc nắm quyền kiểm soát chính sách tiền tệ và quản lý các định chế tài chính của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Đối với hoạt động quản lý nợ xấu của hệ thống các ngân hàng thương mại trong nước, trong thời gian qua, Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc triển khai một số nội dung sau:  

– Xác lập môi trường pháp lý cho hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại  

Chính phủ Trung Quốc đặt mục tiêu giải quyết nợ xấu là một trong những ưu tiên hàng đầu trong các chính sách kinh tế. Trung Quốc đã ban hành chính sách chứng khoán hóa các khoản nợ xấu của các ngân hàng thương mại. Ngân hàng Trung ương Trung Quốc (PBC) đã thành lập 4 công ty quản lý tài sản dưới sự quản lý và chỉ đạo của Bộ Tài chính, chịu trách nhiệm xử lý nợ xấu cho một số ngân hàng thương mại quốc doanh. Các công ty này đã mạnh dạn cho chứng khoán hóa các khoản nợ của ngân hàng thương mại và mua lại chúng nhằm thổi vốn vào tình trạng cạn kiệt của các ngân hàng tại Trung Quốc.   

 

– Ban hành chuẩn mực nợ xấu trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại  

Để quản lý tốt nợ xấu trong thời kỳ mới, Chính phủ Trung Quốc yêu cầu ngành Ngân hàng của quốc gia này phải tuân thủ 4 nguyên tắc sau: (i) Đáp ứng các yêu cầu quản lý nợ xấu trong khuôn khổ tối ưu hoá hiệu suất ngân hàng; (ii) Thúc đẩy cải cách ngân hàng, cạnh tranh thị trường công bằng và nâng cao khả năng cạnh tranh của hệ thống ngân hàng Trung Quốc; (iii) Tuân thủ các cam kết WTO và tiếp tục mở cửa khu vực ngân hàng nội địa; (iv) Triển khai các hoạt động cho vay phải thận trọng để có thể duy trì sự ổn định của hệ thống ngân hàng và đảm bảo an ninh tài chính.   

Đồng thời, Ngân hàng Trung ương Trung Quốc thực hiện các nguyên tắc cơ bản về thanh tra ngân hàng hiệu quả do Ủy ban Basel về thanh tra ngân hàng đề ra để tăng cường tính hiệu quả và minh bạch của các khoản cho vay. Việc ban hành chuẩn mực nợ xấu trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại Trung Quốc nhằm mục tiêu nâng cao khả năng cạnh tranh, xây dựng một hệ thống ngân hàng lành mạnh, phát triển bền vững, huy động được cả các nguồn vốn trong và ngoài nước để phát triển kinh tế.  

– Tổ chức kiểm tra, giám sát hoạt động tín dụng và nợ xấu của các ngân hàng thương mại  

Việc nâng cao năng lực kiểm tra, giám sát hoạt động tín dụng và nợ xấu của các ngân hàng thương mại được đẩy mạnh tại Trung Quốc. Quốc gia này tích cực sử dụng các phương pháp kiểm tra, giám sát hệ thống để đảm bảo sự an toàn, lành mạnh của hệ thống ngân hàng. Quá trình tổ chức kiểm tra, giám sát hoạt động tín dụng và nợ xấu tại Trung Quốc đi kèm với thanh tra phòng ngừa nghiêm ngặt theo các chuẩn mực và thông lệ quốc tế. Nguyên tắc kiểm tra và giám sát hoạt động tín dụng và nợ xấu cơ bản là thực hành tổng hợp, quản lý rủi ro, tăng cường kiểm soát nội bộ và nâng cao tính minh bạch của các khoản nợ xấu. Mục đích của phương pháp tiếp cận này là củng cố hệ thống quản lý rủi ro và kiểm soát nợ xấu của các ngân hàng thương mại, yêu cầu có một mức độ minh bạch cao hơn để có thể áp dụng kỷ luật thị trường đối với các ngân hàng.  

Các cơ quan giám sát ngân hàng và bảo hiểm của Trung Quốc đã được sáp nhập để có thể giải quyết tốt hơn vấn đề nợ xấu cũng như nhiều thách thức trong hoạt động tín dụng. Trong năm 2017, các nhà quản lý ngành Ngân hàng Trung Quốc đẩy cao áp lực dọn sạch bảng cân đối kế toán cũng như đẩy mạnh phát triển kinh tế. Trung Quốc cũng tăng cường công tác kiểm tra và giám sát trên cơ sở rủi ro. Ủy ban Giám sát Ngân hàng đã tăng cường năng lực giám sát và phân tích từ xa, từ đó, cải thiện hoạt động lập kế hoạch và giám sát nợ xấu tại chỗ. Nhờ đó, chất lượng kiểm tra, giám sát hoạt động tín dụng và nợ xấu của các ngân hàng thương mại được tăng cường đáng kể, góp phần lành mạnh các hệ thống ngân hàng tại Trung Quốc.  

– Xử lý các ngân hàng thương mại khi có nợ xấu vượt ngưỡng trong hoạt động tín dụng  

Chính phủ Trung Quốc áp dụng biện pháp mua lại nợ xấu cho các ngân hàng thương mại. Các khoản nợ xấu sẽ được phân loại và được các công ty nợ xấu hoặc các tổ chức tương tự mua lại. Hoạt động này góp phần tạo vốn cho các ngân hàng thương mại, đồng thời khiến các nhà đầu tư lạc quan hơn, kích thích kênh đầu tư tạo cơ hội cho nền kinh tế tái hoạt động. Giải pháp này còn giúp những ngân hàng thương mại yếu kém giải quyết các vấn đề thanh khoản tạm thời nhằm tạo động lực cho việc tái cấu trúc hệ thống.  

Công tác quản lý nhà nước về nợ xấu tại Trung Quốc chú trọng vào việc xử lý các ngân hàng thương mại khi có nợ xấu vượt ngưỡng trong hoạt động tín dụng. Hoạt động này góp phần hạn chế sự xuất hiện của nợ xấu trong tương lai. Các công ty AMC của Trung Quốc là nhân tố quan trọng trong việc xử lý nợ xấu tại quốc gia này. Đây là các doanh nghiệp tài chính độc lập nhà nước do Bộ Tài chính bỏ vốn thành lập. Khác với các công ty AMC nước ngoài, AMC tại Trung Quốc có đặc điểm là đa mục tiêu, vừa xử lý nợ xấu, vừa phải duy trì nền tài chính ổn định, và thúc đẩy cải cách hệ thống ngân hàng. Phương pháp xử lý nợ xấu của AMC tại Trung Quốc chủ yếu là tái cơ cấu, sắp xếp lại nợ, hoặc chuyển nhượng nợ thành cổ phần. Việc chuyển nợ thành cổ phần thường được Trung Quốc thực hiện. Phương pháp đốc thúc hoàn nợ bao gồm thúc đẩy thu mua, ra tòa, bồi thường… dù được áp dụng nhiều nhưng hiệu quả rất kém tại Trung Quốc.  

2.3. Kinh nghiệm của Ngân hàng Trung ương Nhật Bản  

Các hoạt động quản lý nợ xấu đối với hệ thống ngân hàng thương mại của Ngân hàng Trung ương Nhật Bản trong thời gian:  

– Xác lập môi trường pháp lý cho hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại  

 

Nhìn chung, việc xác lập môi trường pháp lý cho hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại Nhật Bản chú trọng vào xây dựng hệ thống pháp lý đầy đủ, đồng bộ và kiện toàn. Trong quá trình xử lý nợ xấu của Nhật Bản qua nhiều giai đoạn vẫn tồn tại một vài hạn chế, nhưng đều được Chính phủ Nhật Bản thực hiện sửa đổi hoặc ban hành Luật mới rất nhanh chóng và kịp thời.  

– Ban hành chuẩn mực nợ xấu trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại  

Tại Nhật Bản, BOJ yêu cầu các ngân hàng thương mại phải áp dụng những tiêu chuẩn quy định quốc tế như Basel II, III trong hoạt động tín dụng và quản lý nợ xấu. Các ngân hàng tại Nhật Bản thực hiện việc phân loại nợ khắt khe và thường xuyên. Bên cạnh đó, các ngân hàng của quốc gia này cũng rất tích cực trong việc công khai số liệu nợ xấu thực tế của mình và quyết liệt xử lý để giảm tỷ lệ nợ xấu, góp phần đảm bảo tính bền vững của thị trường tài chính trong nước.  

Để quản lý nợ xấu có hiệu quả, BOJ ứng dụng một số nguyên tắc quản lý nợ xấu theo Hiệp ước Basel nhằm đảm bảo an toàn trong hoạt động cấp tín dụng cho khách hàng vay vốn, từ đó giảm thiểu tối đa nợ xấu của hệ thống ngân hàng. Một số biện pháp quan trọng được sử dụng trên cơ sở các nguyên tắc quản lý nợ xấu có thể kể đến như điều chỉnh kỳ hạn nợ, giảm hoặc miễn một phần lãi vay, chứng khoán hóa các khoản nợ xấu, gia hạn nợ, phát mại tài sản đảm bảo, bù đắp bằng quỹ dự phòng rủi ro tín dụng…   

Đáng chú ý, các chuẩn mực nợ xấu trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại Nhật Bản được ban hành và tuyên truyền rộng rãi. Vì vậy, nhận thức và sự hiểu biết của toàn xã hội về tầm quan trọng của việc xử lý nợ xấu tại Nhật Bản rất cao. Nhờ đó, việc tuân thủ và thực hiện theo pháp luật trong khi xử lý tài sản đảm bảo trả nợ được người dân gần như chấp hành tuyệt đối.  

– Tổ chức kiểm tra, giám sát hoạt động tín dụng và nợ xấu của các ngân hàng thương mại  

Ngân hàng Trung ương Nhật Bản coi công tác kiểm tra, giám sát hoạt động tín dụng và nợ xấu nhằm giúp kịp thời phát hiện, ngăn chặn và chấn chỉnh những sai sót trong quá trình cấp tín dụng và quản lý thu hồi nợ của các ngân hàng thương mại trong nước. Chính vì vậy, hoạt động thanh tra, giám sát được coi là nhiệm vụ trọng yếu trong quản lý nợ xấu tại quốc gia này. Tổ chức kiểm tra, giám sát hoạt động tín dụng và nợ xấu còn nhằm phát hiện và ngăn chặn những sai phạm về đạo đức, sự lạm dụng quyền lực và tư lợi cá nhân có thể xảy ra ở các cán bộ tín dụng của ngân hàng thương mại, từ đó, ngăn chặn những thiệt hại có nguy cơ xảy ra đối với nền kinh tế và hệ thống ngân hàng.   

Về cơ bản, công tác kiểm tra, giám sát hoạt động tín dụng và nợ xấu của các ngân hàng thương mại tại Nhật Bản chú trọng vào một số vấn đề chính như: việc thực hiện cấp tín dụng, quản lý tiền vay và chính sách dự phòng rủi ro; mức độ tuân thủ các chuẩn mực nợ xấu; phân loại nợ, trích lập dự phòng và sử dụng dự phòng vào việc xử lý rủi ro tín dụng…  

– Xử lý các ngân hàng thương mại khi có nợ xấu vượt ngưỡng trong hoạt động tín dụng  

Nhật Bản thành lập Công ty chuyên thu hồi nợ (RCC) để mua nợ và Cơ quan tái thiết công nghiệp Nhật Bản (IRCJ) chuyên làm nhiệm vụ tái cơ cấu lại những doanh nghiệp quan trọng. Chính phủ Nhật Bản cho rằng, xử lý nợ và tái cơ cấu doanh nghiệp yếu kém là hai việc không thể tách rời trong quá trình xử lý nợ xấu. RCC thực hiện chức năng thu hồi nợ xấu của nền kinh tế, hay còn gọi là một doanh nghiệp dịch vụ công. Đối với Nhật Bản, họ tập trung nhiều hơn vào việc tái cơ cấu hệ thống ngân hàng. Toàn bộ số tiền thành lập IRCJ là của các ngân hàng đóng góp chứ không phải từ Nhà nước.   

Đặc biệt, Chính phủ Nhật Bản cho thực hiện việc phá sản đối với các ngân hàng thực sự yếu kém và không quản lý tốt nợ xấu. Đồng thời, Chính phủ triển khai song song những biện pháp hỗ trợ thanh khoản, đảm bảo thanh toán tiền gửi tiết kiệm tại những ngân hàng đó. Ngoài ra, Nhật Bản đã tiến hành nhiều vụ hợp nhất và sáp nhập ngân hàng, nhằm hoàn thành sớm và đầy đủ việc giải quyết nợ khó đòi ở các ngân hàng lớn, đồng thời, giới hạn và thay đổi cơ chế hỗ trợ của ngân hàng. Cụ thể, đối với các ngân hàng lớn, bắt buộc xóa nợ khó đòi khỏi Bảng cân đối kế toán trong 2 đến 3 năm, đưa ra mục tiêu định lượng áp dụng với các ngân hàng lớn. Như vậy, chính những biện pháp xử lý quyết liệt của Chính phủ Nhật Bản với các ngân hàng có nợ xấu vượt ngưỡng trong hoạt động tín dụng đã góp phần quan trọng giúp tình hình nợ xấu của các ngân hàng tại quốc gia này bớt căng thẳng đi rất nhiều. 

 

3. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam  

Trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với nợ xấu của hệ thống ngân hàng thương mại một số quốc gia trên thế giới, xét trong điều kiện thực tế tại Việt Nam, tác giả rút ra được một số bài học sau:  

Thứ nhất, Nhà nước và các cơ quan hữu quan cần đẩy mạnh xây dựng và tăng cường khung pháp lý một cách đồng bộ nhằm giám sát chặt chẽ ngành Ngân hàng, từ đó quản lý tốt và hạn chế sự xuất hiện của nợ xấu. Để làm được điều này, Việt Nam cần chủ động hình thành đồng bộ khuôn khổ pháp lý, áp dụng đầy đủ hơn các thiết chế và chuẩn mực quốc tế về an toàn tín dụng ngân hàng. Trên cơ sở đó, Việt Nam có thể tạo lập được môi trường pháp lý thuận lợi cho hoạt động của các ngân hàng thương mại đạt hiệu quả, an toàn và phát triển bền vững.   

Thứ hai, cần chú trọng đến việc ban hành chuẩn mực nợ xấu trong hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại. Việc ban hành chuẩn mực nợ xấu trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại cần hướng đến mục tiêu nâng cao khả năng cạnh tranh, xây dựng hệ thống ngân hàng lành mạnh, bền vững, từ đó có thể huy động được cả các nguồn vốn trong và ngoài nước để phát triển.   

Thứ ba, cần chú trọng hơn nữa đến việc đảm bảo tính độc lập và tự quyết của Ngân hàng Nhà nước trong vấn đề quản lý nợ xấu của hệ thống ngân hàng thương mại. Nếu Ngân hàng Nhà nước không có thẩm quyền độc lập trong việc quyết định về tín dụng và quản lý nợ xấu sẽ làm giảm hiệu quả quản lý hoạt động này.   

Thứ tư, cần có đánh giá chính xác tình hình nợ xấu của các ngân hàng thương mại để có thể nhanh chóng đưa ra các ứng phó ngay từ đầu nhằm giảm thiểu thiệt hại. Đặc biệt, cần phải giám sát chặt chẽ việc phân loại nợ tại các ngân hàng thương mại để đánh giá đúng đắn tác động tới hệ thống tài chính, từ đó đưa ra những phương án phù hợp với tình hình tín dụng và nợ xấu của các ngân hàng trong nước. Bên cạnh đó, việc xử lý nhanh chóng tình trạng thiếu vốn của các ngân hàng thương mại (tăng vốn kịp thời trong quá trình xử lý nợ xấu bằng mọi nguồn: công và tư), xem xét việc sử dụng vốn nhà nước để xử lý kịp thời, tránh làm sụp đổ hệ thống.  

Thứ năm, cần xây dựng và phát triển hệ thống ngân hàng thương mại có cấu trúc đa dạng về sở hữu, có quy mô hoạt động đủ lớn và minh bạch, đồng thời đáp ứng đầy đủ các chuẩn mực quốc tế về hoạt động ngân hàng. Chỉ như vậy hệ thống ngân hàng Việt Nam mới có khả năng quản lý và xử lý hiệu quả nợ xấu. Bên cạnh đó, cần nhanh chóng áp dụng các chuẩn mực quốc tế về hoạt động ngân hàng và nợ xấu. Các ngân hàng thương mại nhà nước và ngân hàng thương mại cổ phần do nhà nước chi phối phải đóng vai trò chủ lực trong phát triển hệ thống.   

Thứ sáu, cần tăng cường quy chế quản lý, giám sát các hoạt động kinh doanh tín dụng và xử lý nợ xấu của từng ngân hàng thương mại, đồng thời, củng cố sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước trong việc giám sát hoạt động của hệ thống tài chính; cần chú trọng xây dựng hệ thống giám sát ngân hàng hiện đại nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn của quá trình phát triển ngân hàng nhằm đảm bảo hiệu quả công tác kiểm tra và giám sát ngân hàng.   

Thứ bảy, cần mở rộng kênh xử lý nợ xấu. Đây là một bài học cần được nghiên cứu kỹ, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay khi ngân sách đầu tư cho công ty mua nợ xấu còn thiếu hụt. Bên cạnh đó, theo kinh nghiệm của các quốc gia nêu trên, việc thành lập cơ quan xử lý nợ xấu chuyên biệt trực thuộc Chính phủ (có thể ủy quyền cho Ngân hàng Nhà nước quản lý) là biện pháp cần thiết. Tuy nhiên, cơ quan này sẽ chịu trách nhiệm xử lý một phần nợ xấu của các ngân hàng thương mại. Việc xử lý có thể thực hiện thông qua một số phương thức như chứng khoán hóa các khoản nợ xấu, mua lại nợ xấu …  

Thứ tám, cần nghiên cứu kinh nghiệm các quốc gia trên trong việc xử lý các ngân hàng thương mại khi có nợ xấu vượt ngưỡng trong hoạt động tín dụng. Các biện pháp xử lý quyết liệt của Chính phủ đối với các ngân hàng có nợ xấu vượt ngưỡng trong hoạt động tín dụng sẽ góp phần giúp tình hình nợ xấu của các ngân hàng thương mại bớt căng thẳng. 

 

1. Corrigan G. (1982). “Are Banks Special?” 1982 Annual Report Essay. Minneapolis, United States: Federal Reserve Board. http://minneapolisfed.org/pubs/ar/ar1982a.cfm

2. European Banking Authority (2014), Final Draft Implementing Technical Standards on Supervisory reporting on forbearance and non-performing exposures under article 99 (4) of Regulation (EU) No 575/2013. 

3. Ghosh Amit (2015), “Banking-industry specific and regional economic determinants of non-performing loans: Evidence from US states”, Journal of Financial Stability, Volume 20, Pages 93-104. 

4. IMF (2006), Financial Soundness Indicators: Compilation Guide, International Monetary Fund.

5. Nkusu Mwanza (2011), “Nonperforming Loans and Macrofinancial Vulnerabilities in Advanced Economies”, IMF Working Papers 11/161, International Monetary Fund.

6. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2010 – 2018), Báo cáo thường niên của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam giai đoạn 2010-2018, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

7. Ozge Akinci, Jane Olmstead-Rumsey (2018), “How effective are macroprudential policies? An empirical investigation”, Journal of Financial Intermediation, Volume 33, January 2018, Pages 33-57.

8. Phan Trung Hiền (2009), Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam, Trường Đại học Cần Thơ. 

9. Rose Peter S. (2004), Quản trị Ngân hàng thương mại (sách dịch), NXB Tài chính, Hà Nội. 

10. Rosenstein-Rodan P.N. (1961), “Notes on the Theory of the ‘Big Push.’” In: H.S. Ellis and H.C. Wallich, editors. Economic Development for Latin America. New York, United States: St. Martin’s.

11. Trịnh Thị Thủy (2015), Quản lý nhà nước đối với các ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, Luận án Tiến sĩ, Học viện Hành chính Quốc gia. ThS. Phạm Phú Thái Theo TCNH số 10/2020

Quản Lý Nhà Nước Về Văn Hóa

Huỳnh Văn Tới*QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VĂN HÓAHUỲNH VĂN TỚI(Theo giáo trình về “QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC” do HVHC QG ban hành)Huỳnh Văn Tới*I. VH & VAI TRÒ CỦA VH TRONG PHÁT TRIỂN2. VAI TRÒ CỦA VHTRONG PHÁT TRIỂN1. KHÁI NIỆM3. TƯ TƯỞNG CHỈ ĐẠONỘI DUNG CHÍNHHuỳnh Văn Tới*II. NỘI DUNG QLNN VỀVĂN HÓA2. YÊU CẦU CỦA QLNỘI DUNG CHÍNH1. ĐỐI TƯỢNG QL4. TỔ CHỨC BỘ MÁY 3. NỘI DUNG QL5.KIỂM TRA,GIÁM SÁTHuỳnh Văn Tới*1. KHÁI NIỆMI.CULTUS(gieo trồng)AGRICULTURE(Nông nghiệp)CULTURE(Văn hóa)Vì lợi ích mười năm: Trồng cây!Vì lợi ích trăm năm: Trồng người!文化THEO CÁI ĐẸPHuỳnh Văn Tới*Sự sáng tạo và các giá trị tích lũyCủa con ngườiVì sự phát triển của con ngườiGắn với cộng đồng người.1. KHÁI NIỆMI.TỪ CÁC ĐỊNH NGHĨA VỀ VĂN HÓA: Huỳnh Văn Tới*TỰ ĐIỂN TIẾNG VIỆT(NXB KHXH, Hà Nội – 1997, trang 1154)1. Toàn thể những thành tựu của loài người trong sản xuất, xã hội và tinh thần.2. Sự hiểu biết về sự vật hay về cách xử thế tích luỹ bằng việc học tập có hệ thống hoặc thấm nhuần đạo đức và các phép tắc lịch sự.3. Văn minh.Huỳnh Văn Tới*(HỒ CHÍ MINH TOÀN TẬP, NXB CTQG, 2000, tập 3, trang 431) “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những dụng cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”.Huỳnh Văn Tới*ĐỊNH NGHĨA CỦA UNESCO(Tổ chức văn hóa, giáo dục, khoa học của Liên hiệp quốc) “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo (của cá nhân và cộng đồng) trong quá khứ và trong hiện tại. Qua các thế kỷ hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên hệ thống giá trị, truyền thống, thị hiếu – những đặc tính riêng của dân tộc”.Huỳnh Văn Tới* Internet ? Tính hiện đại?Tính văn hóa?THẢO LUẬNInternet là phương tiện kỹ thuật hiện đại của con người: Thế giới gần nhau lại, con người dễ xa nhau ra!Huỳnh Văn Tới*2. VAI TRÒ CỦA VHTRONG PHÁT TRIỂNI.PHÁTTRIỂNGIÁ TRỊVẬT CHẤTGIÁ TRỊTINH THẦNCONNGƯỜIMỤC TIÊUVĂN HÓAVĂN HÓAKINH TẾĐỘNG LỰCHuỳnh Văn Tới*2. VAI TRÒ CỦA VHTRONG PHÁT TRIỂNI.VĂN HÓA- Mục tiêu của phát triển, đồng thời là nền tảng và động lực của phát triển.- Phát triển tiềm năng “con người” và tiềm năng trí tuệ của con người.- Là nội lực trong giao lưu, đối ngoại, tự vệ.- Nguồn lực của sáng tạo và nâng cao năng suất lao động.- Định hướng con người đến Chân – Thiện – Mỹ.- Tham gia vào việc lựa chọn con đường phát triển của cộng đồng.Huỳnh Văn Tới*3. TƯ TƯỞNG CHỈ ĐẠOXÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓAI.ĐƯỜNG LỐI VĂN HOÁ CỦA ĐẢNGTHỐNG NHẤTPHÁT TRIỂNPHÙ HỌPSÁNG TỎHuỳnh Văn Tới*ĐƯỜNG LỐIQUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNGĐề cương văn hóa 1943: Văn hóa lấy khoa học, dân tộc, đại chúng làm cốt lõi.Đại hội văn nghệ 1957: XD nền VH mới với nội dung XHCN và tính chất dân tộc.Đại hội Đảng VI (1986): XD nền văn hóa văn nghệ XHCN đậm đà bản sắc dân tộc.Huỳnh Văn Tới*ĐƯỜNG LỐIQUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNGCương lĩnh xây dựng đất nước (1991): Kế thừa và phát huy những truyền thống tốt đẹp của các dân tộc trong nước, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh, vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người.Đại hội Đảng VII (1991): Nền VH tiên tiến, đậm đà BSDT là nền tảng tinh thần của XH, là động lực thúc đẩy phát triển KT-XH, đồng thời là mục tiêu của CNXH.Huỳnh Văn Tới*ĐƯỜNG LỐIQUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNGĐH VIII (1996): XD và PT nền văn hóa tiên tiến, đậm đà BSDT, XD con người VN về tư tưởng, đạo đức, tâm hồn, tình cảm, lối sống, XD môi trường VH lành mạnh.NQ TW5 (khóa VIII): Làm cho văn hóa thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội, vào từng người, từng gia đình, từng tập thể và cộng đồng, từng địa bàn dân cư, vào mọi lĩnh vực sinh hoạt và quan hệ con người, tạo ra trên đất nước ta đười sống tinh thần cao đẹp, trình độ dân trí cao, khoa học phát triển, phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh, tiến bước vững chắc lên CNXH.Huỳnh Văn Tới*ĐƯỜNG LỐIQUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNGĐại hội IX (2001): Hướng mọi hoạt động văn hóa vào việc xây dựng con người VN phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng, trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo, có ý thức cộng đồng, lòng nhân ái, khoan dung, tôn trọng nghĩa tình, lối sống có văn hóa, quan hệ hài hoà trong gia đình, cộng đồng và xã hội.Đại hội X (2006): Tiếp tục phát triển sâu rộng và nâng cao chất lượng nền văn hóa VN tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn với phát triển kinh tế xã hội, làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.Huỳnh Văn Tới*VH CÁCH MẠNGCONNGƯỜICÁ NHÂNGIA ĐÌNHCỘNG ĐỒNGLĨNH VỰCĐỊA BÀNQUAN HỆTHẤM SÂUMỤC TIÊUCNXHTINH THẦNCAO ĐẸPDÂN TRÍCAOKHOA HỌCPHÁT TRIỂNDG – NM -CB – DC – VMTRUYỀN THỐNGDÂN TỘCTINH HOANHÂN LOẠIĐẢNGHuỳnh Văn Tới*3. TƯ TƯỞNG CHỈ ĐẠOXÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓAI.QUAN ĐIỂM &TƯ TƯỞNG 1. CT – KT – VH dưới sự lãnh đạo của Đảng.4. Kế thừa phát huy giá trị VH dân tộc – giao lưu, tiếp thu tinh hoa VH nhân loại.5. Nâng cao tính chiến đấu: Bảo vệ giá trị cao đẹp, chống phi văn hóa.6. Xã hội hóa (chống thương mại hóa hoạt động văn hóa).2. Đảm bảo dân chủ, tự do cho sáng tạo và hoạt động VH.3. Văn hóa mới – bảo tồn, phát huy truyền thống. Đa dạng trong thống nhất.Huỳnh Văn Tới*Tình huống “In sang băng lậu”Quản lý nhà nước thế nào?Tư tưởng văn hóaHành vi văn hóa?THẢO LUẬNHuỳnh Văn Tới*1. ĐỐI TƯỢNG QUẢN LÝII.LỄHỘIBẢO TỒN,BẢO TÀNGVĂN HÓANGHỆ THUẬTTHÔNG TIN, CỔ ĐỘNG,BÁO CHÍ, TUYÊN TRUYỀN, QUẢNG CÁOĐẠO ĐỨC, LÝ TƯỞNG, LỐI SỐNG,TẬP QUÁNLÒNG YÊU NƯỚC, NHÂN ÁI, PHÁP LUẬT HOẠT ĐỘNG VĂN HÓA:- Hành vi- Định lượng- Nhận thấy- Kết quả cụ thể- Dự đoán đượcTƯ TƯỞNGVĂN HÓAHuỳnh Văn Tới*Quản lý nhà nước về văn hóa là quản lý các hoạt động văn hóa bằng chính sách và pháp luật.Gắn chặt với công tác giáo dục tư tưởng và vận động, tuyên truyền.Kết hợp quản lý nhà nước về kinh tế.1. ĐỐI TƯỢNG QUẢN LÝII.Huỳnh Văn Tới*2. YÊU CẦUII.1. Thực hiện quyền lực Nhà nước gắn liền với công tác tư tưởng.2. Trách nhiệm của Nhà nước:Minh bạch, công bằng, Chức năng quản lý gắn với phục vụ, trách nhiệm nhà nước gắn với trách nhiệm cộng đồng.3. Phát huy dân chủ, bảo đảm quyền, lợi ích, trách nhiệm và sự tham gia của dân.4. Đảm bảo tính đa dạng trong thống nhất của nền văn hóa đa dân tộc.5. Kết hợp hài hòa hiệu quả kinh tế, chính trị, văn hóa trong quản lý.Huỳnh Văn Tới*3. NỘI DUNG QUẢN LÝII.A. XÂY DỰNG HỆ THỐNG PHÁP LUẬTQUẢN LÝ THỐNG NHẤT BẰNG PHÁP LUẬTCÔNG ƯỚC & LUẬT QUỐC TẾLUẬT CHO CÁC LĨNH VỰCNHỮNG ĐIỀU CẤM5 ĐIỀU CẤM12 LĨNH VỰC CỤ THỂHỘI NHẬP WTOHuỳnh Văn Tới*3. NỘI DUNG QUẢN LÝII.B. BAN HÀNH VÀ THỰC THI HỆ THỐNG CHÍNH SÁCH1. Sáng tạo giá trị văn hóa.2. Bảo tồn, phát huy tài sản văn hoá.3. Phát triển văn hóa cơ sở.4. Giao lưu văn hóa quốc tế.Huỳnh Văn Tới*3. NỘI DUNG QUẢN LÝII.B. BAN HÀNH VÀ THỰC THI HỆ THỐNG CHÍNH SÁCH5. Hiện đại hóa kỹ thuật và phương pháp sản xuất, phân phối sản phẩm văn hoá.6. Đào tạo, phát triển đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ.7. Đảm bảo ngân sách, điều kiện pháp lý cho phát triển văn hóa.8. Nâng cao tính tự quản và phân cấp quản lý văn hóa.Huỳnh Văn Tới*3. NỘI DUNG QUẢN LÝII.C. ĐẦU TƯ VÀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNHPHÂN BỔ NGÂN SÁCHLĨNH VỰC ƯU TIÊNNGUỒN NGÂN SÁCHCƠ CHẾ QUẢN LÝ- Giáo dục- Khoa học- Văn hóa – nghệ thuật- Hoat động nghệ thuật- Nghiên cứu, sưu tầm, bảo tồn, bảo tàng.- Thư viện, xuất bản,- Ngân sách Nhà nước- Phi Chính phủ.- Của dân.- Theo phân cấp quản lý.- CT mục tiêu: Bộ VHTT và Sở VHTT.Huỳnh Văn Tới*4. TỔ CHỨC BỘ MÁY II.BỘ VHTTĐÀI TIẾNG NÓI VNSỞ VHTTPHÒNG VHTTBAN VHTTUBND TỈNH(TP)UBND HUYỆN(TP,TX)UBND XÃ(P,TT)ĐÀI TH VNSÓNG, MẠNG?Huỳnh Văn Tới*5. KIỂM TRA, GIÁM SÁTII.HOẠT ĐỘNGVĂN HOÁPHÒNG NGỪAGIÁM SÁTKIỂM TRATƯ TƯỞNG VĂN HÓAHuỳnh Văn Tới*CÂU HỎI:Trình bày suy nghĩ của mình về quản lý Nhà nước đối với hoạt động Internet hiện nay!Trình bày suy nghĩ của mình về quản lý nhà nước đối với văn hóa trong hội nhập WTO?.

Quản Lý Nhà Nước Về Quốc Phòng

Quản lý nhà nước về quốc phòng – an ninh – nhiệm vụ trọng yếu của quản lý nhà nước Chất lượng, hiệu quả quản lý nhà nước về quốc phòng – an ninh đóng vai trò hết sức quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững mạnh, bảo đảm công cuộc bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Quốc phòng là công cuộc giữ nước của một quốc gia, gồm tổng thể các hoạt động đối nội và đối ngoại về quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học… của nhà nước và nhân dân để phòng thủ đất nước, tạo nên sức mạnh toàn diện, cân đối, trong đó sức mạnh quân sự làm nòng cốt, nhằm giữ vững hòa bình, đẩy lùi, ngăn chặn các hoạt động gây chiến của kẻ thù và sẵn sàng đánh thắng chiến tranh xâm lược dưới mọi hình thức, mọi quy mô. Quốc phòng bao gồm các hoạt động của cả nước, trong đó lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt. Kẻ thù xâm lược từ bên ngoài thường cấu kết với các lực lượng phản động bên trong, do đó quốc phòng phải kết hợp chặt chẽ với an ninh để bảo vệ đất nước, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa. Tổ chức quốc phòng phụ thuộc trực tiếp vào chế độ xã hội, truyền thống dân tộc, điều kiện khách quan, chủ quan cụ thể của mỗi nước. Nhiều nước quan niệm quốc phòng là một bộ phận của an ninh quốc gia. An ninh được hiểu theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp tùy từng trường hợp. Theo nghĩa rộng, an ninh bao gồm an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. An ninh quốc gia được biểu hiện ở sự ổn định trong quan hệ chính trị giữa các giai cấp, khẳng định vị trí lãnh đạo của giai cấp cầm quyền đối với các giai cấp khác và vị trí độc lập, tự chủ của chính quyền nhà nước đối với các nhà nước khác trên thế giới. An ninh quốc gia bao gồm sự ổn định của hai mặt, hai nội dung đối nội, đối ngoại và mối quan hệ giữa đối nội và đối ngoại; an ninh quốc gia phản ánh quan hệ chính trị trong phạm vi một nước và quan hệ chính trị quốc tế. Bảo vệ an ninh quốc gia là bảo vệ độc lập, chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ cơ sở kinh tế và hệ thống chính trị của chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quan hệ đối nội và đối ngoại của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Do đó, an ninh phải gắn bó chặt chẽ với quốc phòng. Quản lý nhà nước về quốc phòng – an ninh là quá trình nắm và điều hành bằng pháp luật, chính sách, kế hoạch và các công cụ khác của Quốc hội và Nhà nước trong mọi lĩnh vực, mọi hoạt động xã hội, có quan hệ đến việc giữ gìn, bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia, do hệ thống các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp của bộ máy nhà nước từ trung ương đến cơ sở tiến hành theo chức năng nhiệm vụ, phạm vi quyền hạn của mỗi cơ quan. Chủ thể quản lý nhà nước về quốc phòng – an ninh bao gồm tổng thể các cơ quan nhà nước, từ trung ương đến cơ sở. Trong đó, nòng cốt là các cơ quan quản lý nhà nước. Khách thể quản lý nhà nước về quốc phòng – an ninh bao gồm tổng thể các lĩnh vực, các hoạt động xây dựng nền an ninh và đấu tranh an ninh, tất cả các hoạt động xã hội có quan hệ đến việc giữ gìn, bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia của các cơ quan nhà nước, của toàn dân. Toàn dân và các đoàn thể quần chúng tích cực tham gia các hoạt động quản lý nhà nước về quốc phòng – an ninh dưới nhiều hình thức khác nhau theo cơ chế chung: Đảng lãnh đạo, Nhà nước điều hành, nhân dân làm chủ. Lĩnh vực quốc phòng – an ninh có những nét đặc thù riêng như: tính nghiêm túc, khẩn trương, tính thống nhất, tập trung, tính bí mật cao, tính biến động, phức tạp lớn, tính đối kháng quyết liệt, tính pháp lệnh cao. Các đặc điểm trên đòi hỏi việc quản lý nhà nước phải hết sức khoa học, đồng bộ, cụ thể, chặt chẽ, nghiêm túc. Quốc phòng – an ninh được thể hiện ở đây có rất nhiều nội dung, nhiều công việc. Đây là lĩnh vực trực tiếp diễn ra cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc hết sức quyết liệt, phức tạp. Bản thân quốc phòng – an ninh mang bản chất chính trị, giai cấp sâu sắc. Chính vì vậy, quản lý nhà nước về quốc phòng – an ninh cũng mang bản chất giai cấp sâu sắc. Đó là bản chất của giai cấp công nhân, do các cơ quan nhà nước của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, bản chất đó được biểu hiện ở mục tiêu, nhiệm vụ của quốc phòng – an ninh là: “bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, giữ vững hòa bình, ổn định chính trị, bảo đảm an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội; chủ động ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta”(1). Đây là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước và toàn dân, trong đó: “Xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, có số lượng hợp lý, với chất lượng tổng hợp và sức chiến đấu cao…”(2). Như vậy, quản lý nhà nước về quốc phòng – an ninh là vấn đề rất quan trọng của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và của toàn Đảng, toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân có vai trò đặc biệt quan trọng. Căn cứ vào nhiệm vụ quản lý nhà nước về quốc phòng – an ninh, công tác tuyên truyền, giáo dục cần được triển khai, tiến hành sâu, rộng trong toàn xã hội, nhằm tạo ra sự thống nhất nhận thức, thấy rõ mục tiêu và nhiệm vụ chung của việc quản lý nhà nước về quốc phòng – an ninh là yêu cầu khách quan có ý nghĩa to lớn trong sự nghiệp cách mạng nước ta hiện nay; cũng như tuyên truyền giáo dục tinh thần yêu nước, ý thức dân tộc, trách nhiệm và nghĩa vụ bảo vệ chủ quyền lợi ích quốc gia và kiến thức quốc phòng – an ninh. Đồng thời, làm cho mọi người hiểu rõ những thách thức lớn tác động trực tiếp đến nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới như: chiến tranh bằng vũ khí công nghệ cao, tranh chấp chủ quyền biển, đảo, vùng trời, “diễn biến hòa bình”, bạo loạn chính trị, khủng bố, tội phạm công nghệ cao, tội phạm xuyên quốc gia. Sức mạnh bảo vệ Tổ quốc là sức mạnh tổng hợp toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh của lực lượng và thế trận quốc phòng toàn dân với sức mạnh của lực lượng và thế trận an ninh nhân dân. Tăng cường sức mạnh quốc phòng, an ninh cả về tiềm lực và thế trận; xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố vững chắc trong thực hiện chiến lược bảo vệ Tổ quốc. Kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng, an ninh; quốc phòng và an ninh với kinh tế trong từng chiến lược quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội; chú trọng vùng sâu, vùng xa, biên giới, biển đảo (3). Phối hợp chặt chẽ hoạt động “đối ngoại với quốc phòng, an ninh”(4). Đặt quản lý nhà nước về quốc phòng – an ninh dưới sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về quốc phòng – an ninh, phải luôn quán triệt, các quan điểm, đường lối của Đảng trong toàn bộ quá trình quản lý nhà nước về quốc phòng – an ninh, đó là cơ sở của mọi hoạt động quốc phòng – an ninh. Đường lối quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, hai nhiệm vụ chiến lược và kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, đường lối xây dựng nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân, kết hợp kinh tế, quốc phòng – an ninh với đối ngoại,… luôn cần được quán triệt, cụ thể hóa, thể chế hóa trong mọi hoạt động quản lý nhà nước về quốc phòng – an ninh. Đồng thời, phải được kết hợp một cách chặt chẽ với tổ chức, quản lý cũng như các mặt, các lĩnh vực khác trong xã hội. Từ mối quan hệ biện chứng giữa hai nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; mối liên hệ mật thiết giữa quốc phòng – an ninh với kinh tế, chính trị, văn hóa, với đối ngoại và với tất cả các ngành, các lĩnh vực hoạt động khác của xã hội; từ quan điểm về sức mạnh tổng hợp của đất nước là cơ sở của nền quốc phòng – an ninh, là sản phẩm tổng hợp của sự kết hợp các tiềm lực của đất nước… dẫn đến yêu cầu khách quan đòi hỏi quản lý nhà nước về quốc phòng – an ninh phải được thường xuyên kết hợp một cách chặt chẽ với tổ chức, quản lý nhà nước trên các lĩnh vực khác của xã hội (kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội…). Sự kết hợp đó thể hiện tính đồng bộ của quản lý nhà nước nói chung, biểu hiện trong chỉ đạo chiến lược, trong hệ thống pháp luật, trong từng chủ trương, chính sách cụ thể ở mỗi lĩnh vực, trong mối quan hệ giữa các ngành, các cấp, các địa phương trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân trên cơ sở quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách chung của Đảng Cộng sản Việt Nam. Quản lý nhà nước về quốc phòng – an ninh phải nhằm bảo đảm cho đất nước hòa bình, ổn định trên mọi lĩnh vực, “không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống”, sẵn sàng đánh bại mọi âm mưu phá hoại của kẻ địch, mọi cuộc chiến tranh xâm lược của các thế lực phản động đối với nước ta. Các thế lực thù địch hiện nay đang thực hiện nhiều âm mưu, nhiều thủ đoạn nhằm kìm hãm sự phát triển của đất nước, phá hoại sự ổn định về chính trị, kinh tế, văn hóa,… Chúng tiến hành chiến lược “diễn biến hòa bình”, lợi dụng mọi sơ hở của ta hòng làm suy yếu nội bộ để “tự diễn biến”, tạo nên các tình huống phức tạp, bất ngờ, sử dụng các chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” làm mất ổn định chính trị, gây bạo loạn lật đổ hoặc bất ngờ tiến hành chiến tranh xâm lược. Hòa bình, ổn định, không bị bất ngờ trong mọi tình huống, có đủ sức chống lại mọi âm mưu thủ đoạn phá hoại của kẻ địch, đủ sức đánh thắng mọi cuộc chiến tranh của các thế lực phản động gây ra với đất nước ta luôn là điều kiện, là yêu cầu đối với toàn Đảng, toàn dân, các lực lượng vũ trang. Đây cũng là yêu cầu trực tiếp, thường xuyên của quản lý nhà nước về quốc phòng – an ninh trong tình hình mới. Quản lý nhà nước về quốc phòng – an ninh phải được thực hiện trên cơ sở luật pháp, kế hoạch, chính sách thống nhất, có sự phân công, phân nhiệm rõ ràng ở từng cấp, từng ngành, từng địa phương. Nhiệm vụ quốc phòng – an ninh luôn rất nặng nề, rất phức tạp; các lực lượng tham gia công cuộc xây dựng nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân, đấu tranh quốc phòng, đấu tranh an ninh rất đa dạng, các hoạt động của toàn xã hội trong lĩnh vực này hết sức phong phú. Điều đó đòi hỏi quản lý nhà nước về quốc phòng – an ninh phải có tính khoa học, tính đồng bộ, tính pháp lệnh rất cao. Tính khoa học, tính đồng bộ, tính pháp lệnh cao của quản lý nhà nước về quốc phòng – an ninh trước hết thể hiện ở kế hoạch tổng thể, phải được xác định trong kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của cả nước, của từng ngành, từng địa phương trên cơ sở quan điểm, đường lối của Đảng, pháp luật, chính sách thống nhất của nhà nước; đồng thời phải có sự phân công, phân cấp quản lý đúng đắn, phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ từng cấp, từng ngành, từng vùng lãnh thổ. Do tính đặc thù nghiêm ngặt của nhiệm vụ quốc phòng – an ninh, cần phải xác định rõ ràng, cụ thể thẩm quyền, trách nhiệm lãnh đạo, quản lý của từng cấp, từng ngành, từng vùng; mối quan hệ giữa các cấp, các ngành; cơ chế lãnh đạo, điều hành, chỉ huy trong các tình huống, trong từng nhiệm vụ;… Để góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về quốc phòng – an ninh, cần nắm vững những nội dung cơ bản sau: Hai là, hoàn thiện cơ chế, luật pháp tổ chức quản lý nhà nước về quốc phòng – an ninh. Thường xuyên tiến hành thanh tra, kiểm tra hoặc sơ kết, tổng kết công tác quản lý nhà nước về quốc phòng – an ninh theo định kỳ ở các cấp, các, bộ, ngành cũng như ở trung ương và địa phương. Quản lý nhà nước về quốc phòng – an ninh có vai trò hết sức quan trọng trong nâng cao chất lượng, hiệu quả sự nghiệp xây dựng nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân cũng như đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới. Mỗi cán bộ của Đảng, Nhà nước, Quân đội, Công an, các ban, ngành, đoàn thể cần nắm vững mục tiêu, yêu cầu, nội dung, cơ chế tổ chức quản lý nhà nước về quốc phòng – an ninh; nắm vững các phương pháp quản lý theo ngành, địa phương, kết hợp chặt chẽ giữa quản lý ngành với địa phương; nắm vững các biện pháp giáo dục quốc phòng – an ninh; từng bước hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước, hoàn chỉnh hệ thống chính sách, pháp luật; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, hoàn thiện cơ chế quản lý nhà nước về quốc phòng – an ninh trong thời kỳ mới nhằm không ngừng nâng cao chất lượng hiệu quả quản lý nhà nước về quốc phòng – an ninh và góp phần tích cực vào xây dựng nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân vững mạnh, toàn diện, để thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./. ——————————————————– Chú thích (1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2011, tr. 81-82. (2) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2011, tr. 234. (3) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2011, tr. 234. (3) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2011, tr. 238. Chu Văn Lộc, Lê Thanh Hải Viện Lịch sử quân sự Việt Nam (Nguồn: TCCS)

Khuyến Nghị 4 Giải Pháp Xử Lý Nợ Xấu

Nhóm chuyên gia ngân hàng này cho rằng, lý do dẫn đến sự chênh lệch về số liệu là do các chuẩn mực kế toán được áp dụng để thống kê nợ xấu là khác nhau. Ngay tại những thị trường minh bạch, các chuyên gia cũng khẳng định, con số thực của nợ xấu thường gấp đôi so với số liệu công bố, ở những thị trường không minh bạch, con số này thường gấp 4 lần do sự sụt giá của các tài sản thế chấp chủ yếu là bất động sản.

Việc Ngân hàng Nhà nước ban hành Thông tư về việc phân loại nợ và trích lập dự phòng nợ xấu được đánh giá là những bước đi tích cực. Trong ảnh: Giao dịch tại Chi nhánh của Techcombank.Ảnh: Trần Việt

Trước đó, hãng xếp hạng tín nhiệm Fitch cũng lưu ý rằng, nợ xấu của các ngân hàng nước ta sẽ thấp khi áp dụng chuẩn mực kế toán của Việt Nam. Ngoài ra, việc nắm giữ cổ phiếu chéo như những ngân hàng lớn đều sỡ hữu cổ phần tại các ngân hàng nhỏ… đang diễn ra phổ biến tại Việt Nam khiến việc nhận diện và giải quyết nợ xấu trở nên khó khăn hơn.

Theo báo cáo, vấn đề nợ xấu tại Việt Nam đã thực sự bộc lộ rõ khi NHNN đột ngột thắt chặt chính sách tiền tệ trong năm 2011. Một lượng lớn khách hàng gặp khó khăn trong việc trả nợ, đặc biệt là trong lĩnh vực bất động sản. Quản trị rủi ro yếu trong hệ thống ngân hàng (những quyết định cho vay dựa trên các yếu tố phi kinh tế) cũng làm trầm trọng hơn sự suy giảm này. Tuy nhiên, điều may mắn là do lĩnh vực ngân hàng thiếu kết nối với hệ thống tài chính toàn cầu và chỉ có những sản phẩm khá đơn giản nên vấn đề khắc phục nợ xấu trở nên dễ dàng hơn dù vẫn thiếu minh bạch.

Từ những nhận định trên, Standard Chartered đưa ra 4 giải pháp để giải quyết nợ xấu của hệ thống ngân hàng Việt Nam. Thứ nhất, việc tính toán nợ xấu cần phải được thực hiện cẩn thận vì các giải pháp không thể phát huy hiệu quả nếu nợ xấu không được nhận thức và phân bổ một cách đúng đắn. Ngoài ra, cần phải nghiên cứu kỹ khi nào cần ghi nhận nợ xấu và ai sẽ là người chịu thiệt hại cuối cùng. Việc NHNN ban hành Thông tư về việc phân loại nợ và trích lập dự phòng nợ xấu được nhóm chuyên gia của Standard Chartered đánh giá là một bước đi tích cực trong việc giúp các ngân hàng tuân thủ các tiêu chí khắt khe về phân loại nợ xấu.

Thứ hai, các ngân hàng cần trích lập dự phòng đầy đủ theo đúng thông tư mới ban hành của NHNN về việc yêu cầu các ngân hàng phải chi nhiều hơn vào trích lập dự phòng từ tháng 6/2013. Thứ ba, NHNN nên thực hiện tái cấp vốn để giúp các ngân hàng có nguồn vốn cần thiết để tái tạo tình hình kinh doanh. Thứ tư, đại diện Ngân hàng Standard Chartered cũng kiến nghị ngành ngân hàng cần phải nâng cấp cơ chế quản lý và kiểm soát rủi ro.

Cập nhật thông tin chi tiết về Quản Lý Nhà Nước Về Nợ Xấu trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!