Xu Hướng 2/2023 # Phát Triển Du Lịch Biển Cần Gắn Với Tạo Sinh Kế Bền Vững Cho Cư Dân Vùng Dự Án # Top 11 View | Phauthuatthankinh.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Phát Triển Du Lịch Biển Cần Gắn Với Tạo Sinh Kế Bền Vững Cho Cư Dân Vùng Dự Án # Top 11 View

Bạn đang xem bài viết Phát Triển Du Lịch Biển Cần Gắn Với Tạo Sinh Kế Bền Vững Cho Cư Dân Vùng Dự Án được cập nhật mới nhất trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Diện tích đất ven biển của tỉnh có số lượng dự án đầu tư các resort, khách sạn, khu vui chơi giải trí, nghỉ dưỡng ngày càng gia tăng. Cơ sở hạ tầng phục vụ cho ngành du lịch đang được triển khai với nhiều công trình, dự án; các tuyến đường giao thông tạo sự kết nối với trung tâm du lịch trong khu vực đang được đầu tư; các chính sách thu hút đầu tư đang được tỉnh quan tâm thực hiện; tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển ngành Du lịch, mà đặc biệt là du lịch biển tại tỉnh nhà.

Thắng cảnh vịnh Vĩnh Hy. Ảnh: Duy Anh

Mặc dù vậy, xét trong bối cảnh cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong khu vực; so với các tỉnh khác thì cơ cấu du lịch biển của tỉnh được chi phối bởi các doanh nghiệp nhỏ và cơ cấu chất lượng thấp, cạnh tranh chủ yếu trên cơ sở giá cả. Quy mô, thương hiệu ngành du lịch biển của tỉnh còn thấp kém, thua xa các khu vực lân cận như Khánh Hòa, Bình Thuận, Lâm Đồng. Cả tỉnh cho đến nay mới chỉ có 1 khách sạn tiêu chuẩn 4 sao, còn lại là từ 3 sao trở xuống; các khu du lịch, khách sạn quy mô nhỏ, phân tán, chất lượng dịch vụ còn nhiều hạn chế. Để khắc phục tình trạng này, trong giai đoạn 2011-2020, tầm nhìn đến năm 2030, tỉnh đã có nhiều biện pháp thu hút đầu tư, tăng cường hợp tác phát triển các khu du lịch biển có chất lượng cao, tăng tính cạnh tranh, đẩy nhanh tốc độ phát triển ngành Du lịch, khai thác hiệu quả tiềm năng của tỉnh. Để thỏa mãn yêu cầu nâng cao chất lượng các khu du lịch, dịch vụ ven biển đáp ứng tiêu chuẩn ngang tầm quốc tế đòi hỏi phải tăng diện tích đất và mặt nước biển cho mỗi dự án. Từ đó, đã có một số vấn đề nảy sinh trong quá trình triển khai các dự án, cần phải được xem xét để giải quyết một cách căn cơ, đề ra các giải pháp mang tính bền vững, tạo sự đồng thuận cao. Đó là cần phải có biện pháp quản lý nhà nước nhằm giải quyết các mâu thuẫn về lợi ích trong sử dụng tài nguyên biển và tài nguyên đất ven biển; đảm bảo sử dụng hiệu quả đồng thời bảo vệ bền vững tài nguyên – môi trường biển.

Thực tế đã xảy ra mâu thuẫn về lợi ích giữa cư dân vùng dự án và chủ đầu tư trong việc khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên như: tranh chấp trong việc sử dụng mặt nước biển để tổ chức các hoạt động thể thao, giải trí với nuôi tôm hùm lồng trên biển, kinh doanh, khai thác thủy sản… tranh chấp trong việc sử dụng bờ biển, bãi tắm để kinh doanh, buôn bán…Thậm chí có dự án phải cần đến sự can thiệp, hòa giải của chính quyền cấp xã, cấp huyện.

Biển Cà Ná – điểm đến của du khách trong các dịp lễ tết. Ảnh: Lê Pháp

Có nhiều nguyên nhân để xem xét tình trạng mâu thuẫn trên, có thể là yếu tố lịch sử, truyền thống về sử dụng tài nguyên của cư dân vùng dự án; cũng có thể là yếu tố lợi ích kinh tế; cũng có thể do chưa có quy định rõ ràng về phân định ranh giới trên biển; sự quản lý sử dụng mặt nước biển còn chưa được quan tâm đúng mức…. Nhưng có thể nói, nguyên nhân sâu xa của tình trạng trên là do giá trị sử dụng bờ biển và mặt nước biển ngày càng tăng cao, trong khi đó đa phần cư dân vùng ven biển là ngư dân và các sinh kế chủ yếu gắn liền với các bãi biển, vùng biển gần bờ… khi triển khai các dự án du lịch đã đụng chạm trực tiếp đến lợi ích và vùng sinh kế của họ.

Mặc dù khi lập và phê duyệt phương án đầu tư của mỗi dự án, việc giải quyết sinh kế, đền bù thiệt hại cho cư dân vùng dự án luôn được Nhà nước và nhà đầu tư đề cập đến, thậm chí có dự án còn tính đến các phương án giải quyết việc làm cho lao động trong vùng dự án, tạo điều kiện cho các gia đình chịu thiệt hại do việc thực hiện dự án được tham gia vào hoạt động của dự án, tạo thu nhập ổn định cùng dự án. Tuy vậy, dường như trong quá trình thực hiện các phương án giải quyết việc làm, đền bù các thiệt hại do quá trình thực hiện dự án chưa thực sự làm hài lòng, chưa tạo được sự yên tâm cho cư dân vùng dự án. Từ đó, các hoạt động sản xuất, kinh doanh tự phát, sai quy định vẫn tiếp tục xảy trên các bờ biển, mặt nước biển, nơi đã được đầu tư các dự án. Những hành động đó làm cản trở hoạt động của các dự án; làm giảm sức hút, nản lòng các nhà đầu tư; làm căng thẳng tình hình tại vùng dự án và các hệ lụy kinh tế – xã hội khác; đòi hỏi cần phải có biện pháp can thiệp từ phía Nhà nước, giải quyết hài hòa lợi ích giữa nhà đầu tư và cư dân vùng dự án. Một giải pháp được đề xuất ở đây là: phát triển du lịch biển gắn với tạo sinh kế bền vững cho cư dân vùng dự án.

Phát triển du lịch biển gắn liền với tạo sinh kế bền vững cho cư dân vùng dự án có thể được hiểu là: khi triển khai một dự án nào đó cần phải tính đến việc triển khai các hoạt động, chương trình gắn kết giữa hoạt động của các dự án đầu tư và các hoạt động làm ăn, sinh sống cho cư dân ven biển thuộc vùng dự án; thu hút sự tham gia của người dân vào hoạt động kinh doanh của dự án; tạo ra sự hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, nhà doanh nghiệp và người dân. Một số biện pháp cụ thể như: đào tạo nghề thủ công mỹ nghệ; hỗ trợ nuôi trồng thủy sản bền vững, xây dựng chương trình du lịch sinh thái gắn với các khu bảo tồn biển, đào tạo nghề hướng dẫn viên du lịch; phát triển mô hình du lịch cộng đồng, du lịch giao lưu trao đổi văn hóa … cho cộng đồng dân cư, tạo điều kiện cho người dân “cộng sinh” cùng dự án, gia tăng thu nhập từ các dự án đầu tư, hạn chế được tình trạng khai thác tận diệt các nguồn lợi thủy sản, gây tác động xấu đến môi trường do tập quán cũ, do mất các nguồn lợi hiện có khi thực hiện dự án có thể gây ra.

Hy vọng, với sự gắn kết chặt chẽ giữa Nhà nước, nhà đầu tư và người dân vùng dự án, các dự án du lịch ven biển của tỉnh sẽ sớm phát huy hiệu quả, khai thác tốt tiềm năng sẵn có của tỉnh, thúc đẩy tăng trưởng cho địa phương, đồng thời đảm bảo nâng cao thu nhập, tạo sinh kế bền vững cho người dân sống trong vùng ven biển tỉnh Ninh Thuận.

 Đỗ Phước Vinh

Tìm Hướng Phát Triển Bền Vững Cho Du Lịch Việt

Lâu nay ngành du lịch chưa quan tâm đúng mức thị trường khách du lịch trong nước, nên dù khách nội địa trong nước chiếm hơn 82,5% tổng lượng khách, nhưng doanh thu du lịch từ khách trong nước chỉ chiếm chưa đến 45% tổng doanh thu du lịch. Lý do được nhiều chuyên gia du lịch chỉ ra là sản phẩm du lịch phục vụ khách trong nước chưa đa dạng, còn mang tính mùa vụ, thiếu sản phẩm hấp dẫn để thu hút và kích thích chi tiêu của đối tượng khách này. Việc khai thác thị trường du lịch trong nước với tiềm năng 100 triệu dân, trong đó số người có thu nhập khá ngày càng tăng nhanh, mang đến nguồn thu ổn định, bền vững là hướng tập trung hiện nay của ngành.

Đơn cử như chúng tôi mặc dù du lịch được xem là ngành kinh tế mũi nhọn đi đầu trong cả nước, nhưng chủ yếu tập trung vào khách du lịch quốc tế. Bởi thế nên khi đại dịch Covid-19 bùng phát đã khiến lượng khách quốc tế đến chúng tôi sụt giảm tới 84,8% so với năm trước, chỉ đạt 1,3 triệu lượt và chủ yếu là trong 3 tháng đầu năm. Khách du lịch nội địa đến chúng tôi cũng giảm 54,2% so với năm trước, chỉ đạt 15 triệu lượt. Hệ quả là tổng thu từ du lịch năm 2020 của chúng tôi cũng chỉ ước đạt 84.000 tỷ đồng, giảm tới 40% so với năm 2019.

Nhằm khôi phục lại ngành du lịch trong bối cảnh trong và sau Covid-19, trong năm 2020, ngành du lịch Việt đã nhiều lần ngồi lại để đánh giá, tư duy lại về cách làm du lịch trong thời gian qua. Theo các chuyên gia và cơ quan quản lý du lịch, việc cơ cấu lại thị trường, để du lịch trong nước trở thành thị trường quan trọng, đóng góp từ 55% đến 75% tổng thu của ngành du lịch trong hai đến ba năm tới, là điều rất cần thiết.

Sản phẩm du lịch phục vụ khách vẫn chưa đa dạng

Khách nội địa trải nghiệm khách sạn 5 sao với giá rẻ

Để thu hút khách du lịch nội địa, sau khi ông Nguyễn Thành Phong – Chủ tịch UBND chúng tôi nêu lên ý tưởng các khạch sạn 5 sao trên địa bàn chúng tôi nên giảm giá rẻ để khách du lịch nội địa có dịp trải nghiệm vừa có thể có được doanh thu nhất định khi chưa có khách quốc tế. Hàng loạt khách sạn trong hệ thống Saigon Tourist như khách sạn Rex, Grand, Park Hyatt… đã áp dụng giảm giá có nơi chưa được 100USD/phòng/đêm.

“Thời gian qua mặc dù một số địa phương đã hình thành được các liên minh, liên kết nhưng mới chủ yếu tập trung ở hoạt động xúc tiến du lịch, trong khi liên kết phát triển sản phẩm, phát triển nguồn nhân lực, liên kết trong các hoạt động quản lý, đầu tư phát triển du lịch… chưa được quan tâm. Hơn nữa, chuyển đổi số trong phát triển du lịch là vấn đề quan trọng không chỉ đối với ngành du lịch mà đối với tất cả các ngành kinh tế khác. Đề nghị Bộ VH-TT&DL cùng các địa phương cần xây dựng phương án giải quyết cụ thể trong chuyển đổi số. Nếu không giải quyết được vấn đề này, ngành du lịch Việt Nam sẽ lạc hậu, đi sau và không thể cạnh tranh với các nước khác trong khu vực”, Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Đức Đam chỉ rõ những giải pháp mà ngành du lịch cần làm trong thời gian tới.

Để phát huy tối đa tiềm năng, thế mạnh du lịch trong thời điểm mới, lãnh đạo UBND chúng tôi đã tập trung chỉ đạo ngành du lịch tăng cường mở rộng quan hệ, hợp tác phát triển du lịch với các địa phương trong cả nước. Trong bối cảnh chưa mở cửa thị trường khách quốc tế, lãnh đạo chúng tôi cho rằng cần khai thác tốt thị trường du lịch nội địa đáp ứng nhu cầu du lịch của nhân dân vừa đạt mục tiêu kinh tế vừa góp phần nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân. Các địa phương cần phát triển du lịch bền vững, gắn chặt với việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc, giữ gìn cảnh quan, bảo vệ môi trường, bảo đảm an ninh quốc phòng và trật tự an toàn xã hội; giảm thiểu tác động tiêu cực của hoạt động du lịch tới môi trường và văn hóa bản địa.

Nhìn về năm mới, hiện nhiều địa phương đều tỏ ra lạc quan là du lịch sẽ phục hồi mạnh trở lại khi đại dịch được kiểm soát. Đơn cử chúng tôi dự báo, năm 2021 phục hồi ngành du lịch bằng năm 2019. Bà Nguyễn Thị Ánh Hoa – Giám đốc Sở Du lịch chúng tôi cho rằng, với kịch bản tình hình lạc quan nhất, ngành du lịch chúng tôi năm 2021 sẽ phục hồi được nguồn thu bằng với năm 2019 (tổng thu ngành du lịch chúng tôi năm 2019 là 140.000 tỷ đồng). Từ tình hình thực tế cũng như áp dụng những giải pháp cụ thể cùng với các dự báo về khách quốc tế, khách nội địa cũng như những kế hoạch phát triển ngành du lịch hợp lý, ngành du lịch chúng tôi đưa ra những kịch bản với dự báo tổng thu từ du lịch của thành phố dự kiến đạt từ 35.600 tỷ đồng đến 144.000 tỷ đồng. Ngành du lịch chúng tôi dự kiến tạo điểm nhấn trong năm 2021 là sẽ tổ chức quảng bá thương hiệu du lịch “Vibrant Ho Chi Minh city” đến thị trường khách nội địa và khách quốc tế, phù hợp với Chiến lược phát triển du lịch thành phố đến năm 2030…

Liên kết để xúc tiến, quảng bá du lịch

TP.HCM đã tổ chức liên kết với 13 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, liên kết với 5 tỉnh vùng Đông Nam bộ; với các tỉnh Tây Bắc mở rộng; các tỉnh Đông Bắc; với Hà Nội và vùng kinh tế trọng điểm miền Trung. Việc liên kết nhằm hợp tác tạo động lực thúc đẩy phát triển du lịch liên vùng, góp phần khôi phục du lịch cả nước sau dịch Covid-19.

Giải Pháp Để Du Lịch Phát Triển Bền Vững

Theo báo cáo của Ban chỉ đạo phát triển du lịch tỉnh, năm 2018, du lịch Khánh Hòa tiếp tục tăng trưởng, đạt và vượt các chỉ tiêu cơ bản đề ra. Công tác quản lý nhà nước được các cấp, ngành phối hợp triển khai chặt chẽ; hoạt động thanh, kiểm tra, xử lý vi phạm hành chính trên lĩnh vực du lịch được tăng cường. Công tác xúc tiến, quảng bá được quan tâm, bước đầu đã mang lại hiệu quả trong việc đa dạng thị trường khách quốc tế. Một số thị trường khách du lịch quốc tế truyền thống như: Canada, Anh, Úc, Pháp có dấu hiệu tăng trưởng trở lại; đặc biệt, thị trường khách Hàn Quốc, Malaysia có sự tăng trưởng đột biến… Trong năm 2018, ước tính Khánh Hòa đã đón 6,3 triệu lượt khách lưu trú, tăng 15,6% so với năm 2017; trong đó có 2,8 triệu lượt khách quốc tế, tăng hơn 37,9%. Tổng doanh thu từ các cơ sở lưu trú du lịch ước đạt 22.000 tỷ đồng, tăng 27,2%.

Tuy nhiên, hoạt động du lịch của tỉnh vẫn còn một số hạn chế. Báo cáo tại cuộc họp, ông Trần Việt Trung – Giám đốc Sở Du lịch cho biết: Thị trường khách Trung Quốc và Nga vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu khách quốc tế đến Khánh Hòa. Hoạt động kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tế, đặc biệt là phục vụ khách Trung Quốc vẫn còn nhiều sai phạm, phát sinh nhiều vấn đề khó khăn cần được các cơ quan, ban, ngành phối hợp chặt chẽ để xử lý. Tình trạng thất thu thuế trong hoạt động kinh doanh du lịch vẫn còn tồn tại, đặc biệt là kinh doanh du lịch phục vụ khách Trung Quốc. Nhiều cửa hàng vẫn chấp nhận thanh toán bằng nhân dân tệ, thanh toán bằng máy POS không qua hệ thống ngân hàng Việt Nam, hàng hóa không rõ nguồn gốc. Bên cạnh đó, nhiều cơ sở lưu trú thiếu phương tiện và phương án phòng cháy chữa cháy, an ninh trật tự, chưa thực hiện thủ tục nghiệm thu công trình nhưng vẫn đi vào khai thác; tình trạng mạo danh hạng sao cơ sở lưu trú. Đặc biệt, lượng khách tăng cao đã khiến cơ sở hạ tầng giao thông bị quá tải, các trục đường chính như: Trần Phú, Nguyễn Thiện Thuật, Hùng Vương, Nguyễn Thị Minh Khai thường xuyên xảy ra ùn tắc, kẹt xe…

Tăng cường quản lý, chú trọng quy hoạch

Năm 2019, du lịch Khánh Hòa đặt chỉ tiêu đón trên 6,8 triệu lượt khách, tăng 7% so với năm 2018, trong đó khách quốc tế đạt 3,3 triệu lượt, tăng 18%; phấn đấu đạt 18,5 triệu ngày khách lưu trú; doanh thu du lịch đạt 22.500 tỷ đồng…

Tại cuộc họp, ông Nguyễn Sỹ Khánh – Phó Chủ tịch UBND TP. Nha Trang đề nghị cần quan tâm hơn đến công tác quy hoạch du lịch. Thời gian qua, việc xây dựng khách sạn, nhà hàng trên địa bàn tỉnh chưa được quản lý chặt đã dẫn đến những áp lực về hạ tầng đô thị, khó khăn trong quản lý. Trong khi đó, ông Cao Tấn Lợi – Phó Giám đốc Sở Giao thông vận tải đề nghị các địa phương và ngành Du lịch cần quan tâm hơn nữa việc quản lý hoạt động của bè nổi du lịch, tuyên truyền để các công ty lữ hành không đưa khách đến các bè du lịch hoạt động trái phép; vận động các doanh nghiệp khai thác du lịch biển đảo hỗ trợ người lao động hoàn thiện bằng cấp về vận tải đường thủy theo quy định mới.

Theo Báo Khánh Hòa

Giải Pháp Phát Triển Bền Vững Du Lịch Sinh Thái Tại Vĩnh Phúc

Ngành du lịch ngày càng đóng vai trò quan trọng, trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của nhiều quốc gia. “Trước sự phát triển nhanh chóng như vậy ngành du lịch đã để lại những hậu quả không nhỏ tới môi trường, cảnh quan thiên nhiên và đa dạnh sinh học. Vấn đề đặt ra là làm sao để du lịch “phát triển bền vững”, một mặt đem lại lợi ích kinh tế cho cộng đồng địa phương, cho xã hội, đồng thời phải bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường. Trước những bất cập đó, loại hình “du lịch sinh thái” ra đời và là giải pháp bền vững” [Bùi Thị Minh Nguyệt (2012)]. Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hoá bản địa gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương [Trần Văn Chi (2012)].

Trong những năm qua lượng du khách đến du lịch tại Vĩnh Phúc đã tăng lên đáng kể (tốc độ tăng trưởng bình quân 12%-15%). Sự tăng trưởng này đã đem lại hiệu quả về việc tăng nguồn thu cho ngân sách, mở rộng quan hệ giao lưu, tăng thu nhập cho người lao động trong ngành và góp phần nâng cao mức sống cho người dân địa phương ở những khu, điểm du lịch.

Du lịch trở thành thế mạnh trong phát triển kinh tế của tỉnh, Vĩnh Phúc trở thành một trong những trung tâm dịch vụ, du lịch của vùng và của cả nước. Phát triển đa dạng các loại hình du lịch: Du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng gắn với vui chơi, giải trí đáp ứng nhu cầu khách du lịch các mùa trong năm và du lịch cuối tuần; quan tâm phát triển và khai thác tiềm năng du lịch văn hoá, tâm linh; mở rộng thêm các lĩnh vực du lịch, dịch vụ phục vụ hội thảo, phát triển mô hình du lịch kết hợp với thăm quan, học tập kinh nghiệm; tạo ra những sản phẩm du lịch có thương hiệu, mang nét đặc trưng riêng của du lịch Vĩnh Phúc.

Mặc dù, với tiềm năng to lớn về phát triển du lịch sinh thái, nhưng trên thực tế hoạt động du lịch sinh thái lại đang diễn ra kém hiệu quả, chưa khai thác triệt để tiềm năng của mình. Bài nghiên cứu này tập trung đánh giá thực trạng phát triển du lịch sinh thái để từ đó đưa ra một số giải pháp phát triển bền vững du lịch sinh thái tại tỉnh Vĩnh Phúc.

1. Quan điểm và nguyên tắc về phát triển du lịch bền vững 1.1. Quan điểm về phát triển du lịch bền vững

Hiện nay, trên thế giới vẫn chưa thống nhất về quan niệm phát triển du lịch bền vững. Du lịch bền vững được định nghĩa theo một số quan điểm như sau: Machado 2003 đã định nghĩa du lịch bền vững là: “Các hình thức du lịch đáp ứng nhu cầu hiện tại của khách du lịch, ngành du lịch và cộng đồng địa phương nhưng không ảnh hưởng tới khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau. Du lịch khả thi về kinh tế nhưng không phá hủy tài nguyên mà tương lai của du lịch phụ thuộc vào đó, đặc biệt là môi trường tự nhiên và kết cấu xã hội của cộng đồng địa phương” [Bùi Thị Minh Nguyệt (2012)].

Còn theo Hội đồng khoa học, Tổng Cục Du lịch, 12 mục tiêu trong chương trình của du lịch bền vững bao gồm: Hiệu quả kinh tế; Sự phồn thịnh cho địa phương; Chất lượng việc làm; Công bằng xã hội; Sự thỏa mãn của khách du lịch; Khả năng kiểm soát của địa phương; An sinh cộng đồng; Đa dạng văn hóa; Thống nhất về tự nhiên; Đa dạng sinh học; Hiệu quả của các nguồn lực; Môi trường trong lành.

2. Thực trạng phát triển du lịch và tiềm năng phát triển du lịch sinh thái tại Vĩnh Phúc 2.1. Thực trạng phát triển du lịch tại Vĩnh Phúc

Tổng doanh thu du lịch đã tăng mạnh trong những năm gần đây, năm 2010 số lượng khách du lịch đến Vĩnh Phúc đạt 1,89 triệu lượt khách, doanh thu từ du lịch là 756,6 tỷ đồng thì đến năm 2015, lượng khách du lịch đến Vĩnh Phúc đạt 3,32 triệu lượt khách, doanh thu là 1170 tỷ đồng và trong năm 2016 lượng khách du lịch đã đạt tới 3.078 tỷ, tăng 9,61%.

Hoạt động du lịch, khách sạn nhà hàng nhìn chung đã dần ổn định trong các năm gần đây. Hệ thống nhà hàng, khách sạn được đầu tư, được nâng cấp để đáp ứng nhu cầu của khách trong và ngoài nước. Tính đến cuối năm 2016, trên địa bàn tỉnh có 294 cơ sở lưu trú du lịch với 4.542 phòng. Trong đó có: 01 khách sạn 4 sao; 02 khách sạn 3 sao; 26 khách sạn 2 sao; 20 khách sạn 1 sao và 245 cơ sở lưu trú đạt tiêu chuẩn kinh doanh lưu trú du lịch. Quy mô đầu tư cho dịch vụ lưu trú, ăn uống cũng có nhiều biến động.

Trong giai đoạn 2011 – 2015, tổng số vốn ngân sách Nhà nước đầu tư cho kết cấu hạ tầng du lịch là 107,9 tỷ đồng, trong đó: Ngân sách Trung ương là 31 tỷ đồng, ngân sách địa phương là 76,9 tỷ đồng. Các dự án tập trung chủ yếu vào các hạng mục công trình như đường giao thông, điện chiếu sáng, cấp, thoát nước. Bên cạnh nguồn ngân sách Nhà nước, chú trọng tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tham gia đầu tư phát triển du lịch; cải thiện môi trường đầu tư; chủ động dành quỹ đất cho các dự án đầu tư du lịch. Đến nay, đã có tổng số 15 dự án lớn của các nhà đầu tư và một số công trình đầu tư xã hội vào lĩnh vực du lịch đã được cấp phép đầu tư với tổng số vốn đăng ký trên 2.631,4 tỷ đồng.

Mức độ đầu tư cho dịch vụ lưu trú và ăn uống có xu hướng giảm, năm 2011 là 567162 triệu đồng thì năm 2015 giảm xuống chỉ còn 89503 triệu đồng, do đó muốn đảm bảo chất lượng dịch vụ, các cơ sở lưu trú cần quan tâm tới việc nâng cao các nghiệp vụ phục vụ để dần cải thiện và nâng cao chất lượng phục vụ du khách.

Số lượng khách du lịch đến Vĩnh Phúc giai đoạn 2011 – 2015 đã có sự tăng trưởng, tỷ trọng của khách du lịch chiếm đa số, trong đó năm 2015 tốc độ tăng trưởng khách nội địa là cao nhất (13.20%), khách quốc tế là 13.09%. Điều đó cho thấy tiềm năng của ngành du lịch tại Vĩnh Phúc dự báo còn tăng trong giai đoạn tới.

Bảng 1: Thống kê lượt khách trong nước và quốc tế tới Vĩnh Phúc (Nguồn: Niên giám thống kê 2015) 2.2. Tiềm năng phát triển du lịch sinh thái tại Vĩnh Phúc 2.2.1. Thực trạng tài nguyên du lịch sinh thái

Vĩnh Phúc là vùng có truyền thống cách mạng, lịch sử anh hùng trong quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước. Hiện nay trên địa bàn toàn tỉnh có gần 1000 di tích văn hoá-lịch sử, trong đó hàng trăm di tích được xếp hạng cấp quốc gia và cấp tỉnh.

“Vĩnh Phúc có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch tự nhiên và du lịch nhân văn. Có Tam Đảo là dãy núi hình cánh cung dài 50 km, rộng 10 km với phong cảnh thiên nhiên đẹp, khí hậu trong lành, mát mẻ. Đặc biệt có Vườn Quốc gia Tam Đảo và các vùng phụ cận thuộc loại rừng nguyên sinh có nhiều loài động thực vật được bảo tồn tương đối nguyên vẹn. Bên cạnh đó Vĩnh Phúc còn có hệ thống sông ngòi, đầm hồ tương đối phong phú, địa thế đẹp có thể vừa phục vụ sản xuất vừa có giá trị cho phát triển du lịch như: Đại Lải, Dị Nậu, Vân Trục, Đầm Vạc, đầm Dưng, Thanh Lanh…” [7].

Vĩnh Phúc có dãy núi Tam Đảo chạy dài 50km theo hướng Tây Bắc-Đông Nam, trên địa giới 3 tỉnh Vĩnh Phúc, Thái Nguyên và Tuyên Quang với 3 đỉnh cao là Thiên Thị, Thạch Bàn, Phù Nghĩa. Vườn quốc gia Tam đảo có hệ động thực vật rừng phong phú với 490 loài bậc cao, thuộc 334 chi và 130 họ, trong đó có nhiều loại quý hiếm có giá trị kinh tế cao, vừa phục vụ cho nghiên cứu khoa học vừa có điều kiện để phát triển du lịch sinh thái nghỉ dưỡng.

Tỉnh Vĩnh Phúc có hệ thống ao, hồ, sông, suối hết sức đa dạng và phong phú với nhiều cảnh quan thiên nhiên đẹp có giá trị khai thác để phục vụ du lịch như Hồ Đại Lải (thị xã Phúc Yên) có diện tích rộng khoảng 500ha.

Vĩnh Phúc có lợi thế để phát triển loại hình du lịch sinh thái, vui chơi giải trí, thể thao. Tuy nhiên, thời gian qua việc khai thác các tiềm năng này còn hạn chế, một phần do chưa tạo ra được sản phẩm du lịch hấp dẫn; còn mang nặng tính tự nhiên sẵn có.

2.2.2. Thực trạng cơ sở hạ tầng du lịch sinh thái

Những năm gần đây, tỉnh Vĩnh Phúc đã quy hoạch và triển khai nhiều dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng du lịch bằng nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý, tập trung chủ yếu vào các hạng mục công trình như đường giao thông, điện chiếu sáng, cấp, thoát nước; lập quy hoạch chi tiết từng khu du lịch. Trước mắt tập trung vào những khu du lịch trọng điểm của tỉnh như Khu Du lịch Tam Đảo – khu Tam Đảo I, Tam Đảo II, Khu Di tích Danh thắng Tây Thiên (tiếp tục triển khai để hoàn thành Dự án Khu Trung tâm lễ hội Tây Thiên, trước đó Dự án xây dựng hệ thống cáp treo dài 2,5 km tại Trung tâm văn hóa lễ hội Tây Thiên do Công ty Cổ phần Đầu tư Lạc Hồng làm chủ đầu tư đã khánh thành ngày 7/3/2012 góp phần làm tăng lượng khách đến với danh thắng này), Đại Lải (hiện Dự án Flamingo Đại Lải Resort vẫn tiếp tục phát triển nhiều hạng mục, Dự án Paradise Đại Lải Resort đang được triển khai), Đầm Vạc (Dự án Khu đô thị sinh thái Nam Đầm Vạc), núi Sáng Sơn – hồ Bò Lạc, hồ Thanh Lanh – Thác Bản Long….

Đặc biệt, một số dự án lớn của các nhà đầu tư trong và ngoài nước đã và đang triển khai trên địa bàn tỉnh. Đó là điều kiện thuận lợi để phát triển đa dạng các loại hình du lịch, là điều kiện cần thiết để phát triển nhanh, mạnh, hiệu quả và vững chắc cho ngành du lịch Vĩnh Phúc.

Các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng: đường giao thông, cấp điện, hệ thống thoát nước, nhà làm việc phục vụ cho quản lý, nhà nghỉ,… đã và đang dần hoàn thiện. Công việc đầu tư được thực hiện liên tục, nhưng quy mô nhỏ lẻ, chưa được quy hoạch toàn diện nên chưa đủ để khai thác hết tiềm năng của Vĩnh Phúc.

Hiện tại, sản phẩm du lịch của Vĩnh Phúc còn nghèo, do vậy du khách đến Vĩnh Phúc chủ yếu để tham quan, nghỉ dưỡng, nhất là vào mùa hè. Trong những năm tới, Vĩnh Phúc tập trung đầu tư xây dựng hạ tầng cơ sở, đồng thời nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch để khai thác có hiệu quả những tiềm năng du lịch của tỉnh, đáp ứng nhu cầu của du khách.

2.2.3. Thực trạng chất lượng dịch vụ du lịch sinh thái

Tuy nhiên dịch vụ du lịch của tỉnh phát triển chưa tương xứng với tiềm năng thế mạnh của địa phương cũng như vai trò của một ngành kinh tế động lực và còn thấp so với một số địa phương được xem là đô thị du lịch trong nước; tuy lượng khách du lịch đến Vĩnh Phúc tăng cao qua các năm và một số sản phẩm du lịch chất lượng cao có bước phát triển, song so với các địa phương như Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh… thì lượng khách đến Vĩnh Phúc còn thấp, khách quốc tế chỉ chiếm chỉ chiếm 3,22% lượng khách du lịch của tỉnh và 0,8% lượng khách du lịch quốc tế của Vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, các sản phẩm lưu trú, dịch vụ du lịch chất lượng cao còn ít, hạ tầng du lịch bất cập, chưa có sức hấp dẫn mạnh đối với các nhà đầu tư, nguồn nhân lực về du lịch thiếu và tỷ lệ qua đào tạo còn thấp. Bên cạnh đó, Vĩnh Phúc lại nằm kề Thủ đô Hà Nội nên chịu sự cạnh tranh mạnh mẽ, đòi hỏi sản phẩm du lịch của Vĩnh Phúc phải đạt được tính độc đáo và hấp dẫn hơn.

Để ngành Du lịch “cất cánh” và có được những sản phẩm du lịch độc đáo, hấp dẫn du khách, hướng đi đúng cho du lịch Vĩnh Phúc thời gian tới là: Tập trung phát triển đồng bộ các loại hình du lịch nghỉ dưỡng cuối tuần, du lịch MICE, du lịch sinh thái, du lịch nghiên cứu tìm hiểu văn hóa – tâm linh – lịch sử, du lịch làng nghề truyền thống.

3. Một số giải phát phát triển bền vững du lịch sinh thái tại Vĩnh Phúc 3.1. Giải pháp phát triển bền vững về kinh tế

Để có thể phát huy hết tiềm năng du lịch thì tìm ra giải pháp phát triển bền vững về kinh tế là vấn đề đầu tiên. Trong đó cần quan tâm tới việc thực hiện các nội dung:

– Sát sao quản lý thực hiện quy hoạch, chuẩn bị tốt hệ thống nhà nghỉ dưỡng và cơ sở hạ tầng: Cần có các khu nhà nghỉ dưỡng cũng với các công trình khác đi kèm và các dịch vụ đời sống tốt. Các khu nghỉ dưỡng phải bố trí hài hòa và cảnh quan đẹp. Tại mỗi khu nghỉ dưỡng, các khu vui chơi giải trí, các khu cắm trại cần có các tuyến đường đi dạo trong rừng. Bố trí các hình ảnh hấp dẫn du khách trên mỗi đoạn đường đi, gây sự chú ý cho du khách;

– Đa dạng hóa các sản phẩm du lịch: Đa dạng hoá và nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch nhằm đáp ứng được nhu cầu của du khách, đồng thời tăng cường được sức cạnh tranh của sản phẩm du lịch Vĩnh Phúc trên thị trường. Dựa trên các đặc trưng văn hoá, các thế mạnh về sinh thái cảnh quan và các yêu cầu đòi hỏi của thị trường mà tạo ra các sản phẩm du lịch mang tính đặc thù của vùng và của Vĩnh Phúc. Xây dựng các tour du lịch sinh thái, du lịch văn hoá tâm linh gắn với các di tích lịch sử, lễ hội truyền thống. Đa dạng hoá và nâng cao chất lượng sản phẩm lưu niệm của du lịch Vĩnh Phúc, sớm khắc phục tính thời vụ trong du lịch như hiện nay;

– Tích cực nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch bằng cách đào tạo phát triển nguồn nhân lực du lịch về nghiệp vụ và nâng cao năng lực quản lý: Nhiệm vụ trọng tâm của những năm tới là phải tập trung đào tạo, bồi dưỡng và đào tạo lại đội ngũ cán bộ là công tác quản lý nhà nước về du lịch, cán bộ quản lý và nhân viên của các khách sạn, nhà hàng trên địa bàn tỉnh. Phấn đấu cơ bản cán bộ, nhân viên làm trong lĩnh vực du lịch được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ, ngoại ngữ và tin học, đáp ứng yêu cầu phát triển của thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế;

– Xây dựng thương hiệu, bảo tồn và phát triển thương hiệu du lịch sinh thái: Tăng cường công tác xúc tiến, quảng bá du lịch bằng nhiều hình thức có tính hiệu quả, thiết thực như xây dựng Website chuyên ngành, tuyên truyền qua phương tiện thông tin đại chúng, tham gia hội chợ du lịch trong và ngoài nước, các ấn phẩm du lịch khác.

3.2. Giải pháp phát triển bền vững về văn hóa – xã hội

– Nâng cao nhận thức của cộng đồng về phát triển du lịch và phát triển du lịch sinh thái bền vững. Phối hợp với các phương tiện thông tin đại chúng đẩy mạnh công tác giáo dục pháp luật, nâng cao dân trí, nâng cao hiểu biết về phát triển du lịch bền vững cho cư dân địa phương;

– Khuyến khích cộng đồng địa phương tham gia tích cực vào hoạt động du lịch, nỗ lực bảo vệ, tôn tạo và phát triển tài nguyên du lịch.

3.3. Giải pháp phát triển bền vững về tài nguyên, môi trường

– Thường xuyên báo các đánh giá tác động tới môi trường của các dự án;

– Giám sát, kiểm tra định kỳ và kiểm tra bất thường nhằm xác định các nguồn gây tác động đến môi trường để kịp thời ngăn chặn;

– Thường xuyên kiểm tra hệ thống nước thải và thu gom xử lý rác thải tại các địa điểm du lịch để có biện pháp xử lý kịp thời khi có vi phạm.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trần Văn Chi – 2012 – Phát triển du lịch sinh thái Vườn quốc gia Tam Đảo trong bảo tồng đa dạng sinh học – Luận văn thạc sỹ ngành Môi trường trong phát triển bền vững – Trung tâm nghiên cứu tài nguyên và môi trường.

Phạm Xuân Hậu, Trương Thị Thanh Tuyền – 2015 – Phát triển du lịch sinh thái bền vững tại khu Ramsar Bàu Sấu vườn quốc gia Cát Tiên – Tạp chí Nghiên cứu khoa học trường Đại học Văn Hiến – số 09 – 30,37.

Lê Thu Hoa – 2014 – Gắn kết tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường, tài nguyên và ứng phó với biến đổi khí hậu trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa ở Việt Nam – Tạp chí Kinh tế & phát triển – số 201 – 22,29.

Văn Mai Nam, Võ Hồng Phượng – 2009 – Phát triển du lịch sinh thái tại thành phố Cần Thơ – Tạp chí hoa học trường Đại học Cần Thơ – số 12 – 112,122

Bùi Thị Minh Nguyệt – 2012 – Giải pháp phát triển du lịch sinh thái bền vững tại vường quốc gia Ba Vì – Tạp chí khoa học và công nghệ lâm nghiệp – số 1 – 148,160.

Báo cáo tổng kết đề án phát triển kinh tế – xã hội tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2016-2020.

Niên giám thống kê tỉnh Vĩnh Phúc năm 2015.

http://sovhttdl.vinhphuc.gov.vn/

Cập nhật thông tin chi tiết về Phát Triển Du Lịch Biển Cần Gắn Với Tạo Sinh Kế Bền Vững Cho Cư Dân Vùng Dự Án trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!