Xu Hướng 2/2023 # Phát Triển Dịch Vụ Phụ Trợ Bảo Hiểm Việt Nam Phù Hợp Với Các Hiệp Định Chung # Top 2 View | Phauthuatthankinh.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Phát Triển Dịch Vụ Phụ Trợ Bảo Hiểm Việt Nam Phù Hợp Với Các Hiệp Định Chung # Top 2 View

Bạn đang xem bài viết Phát Triển Dịch Vụ Phụ Trợ Bảo Hiểm Việt Nam Phù Hợp Với Các Hiệp Định Chung được cập nhật mới nhất trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Các chuyên gia tham dự tại hội thảo. Ảnh: T.H

Tại hội thảo, giới thiệu các cam kết về dịch vụ phụ trợ bảo hiểm của Việt Nam tại Hiệp định CPTPP và các hiệp định thương mại tự do, ông Phạm Tuấn Anh, Phó Vụ trưởng Vụ hợp tác quốc tế- Bộ Tài chính cho biết, đối với dịch vụ phụ trợ bảo hiểm, trong quá trình đàm phán và gia nhập các khung khổ hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đã cam kết nhiều nội dung.

Trong đó, cho phép cung cấp qua biên giới; cho phép tiêu dùng tại nước ngoài; cho phép thành lập doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm và không cam kết về di chuyển thể nhân, trừ các cám kết chung. Các cam kết này được thể hiện rõ nhất tại biểu cam kết cụ thể về dịch vụ của Việt Nam với WTO.

Về bản chất, mức độ tự do hóa của dịch vụ phụ trợ bảo hiểm trong CPTPP không có sự chênh lệch với GATT và FTA khác. Một số hiệp định khác mà Việt Nam đã ký kết và có hiệu lực như Hiệp định Thương mại tự do ASEAN – Trung Quốc; Hiệp định Thương mại Việt Nam- Cu Ba, Hiệp định Thương mại tự do ASEAN – Ấn Độ … không cam kết lĩnh vực dịch vụ, vì vậy không cam kết mở cửa đối với dịch vụ phụ trợ bảo hiểm.

Tuy nhiên, các nước đối tác trong các FTA này đều là thành viên của WTO nên các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài từ các nước đó cũng có quyền tiếp cận thị trường bảo hiểm giống như các nhà đầu tư nước ngoài khác.

Theo Bộ Tài chính, hiện nay hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo hiểm chưa có quy định chung điều chỉnh dịch vụ phụ trợ bảo hiểm, một số dịch vụ thuộc hoạt động phụ trợ bảo hiểm đã được quy định rải rác tại pháp luật bảo hiểm.

Việt Nam mở cửa ở mức độ cao dịch vụ phụ trợ bảo hiểm cho các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài tham gia cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm tại Việt Nam. Tuy nhiên, dịch vụ phụ trợ bảo hiểm chưa được điều chỉnh cụ thể tại Luật Kinh doanh bảo hiểm và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Tại hội thảo, một số chuyên gia cũng cho rằng, hệ thống pháp luật về kinh doanh bảo hiểm chưa có các quy định cụ thể, chi tiết về các dịch vụ phụ trợ bảo hiểm như dịch vụ tư vấn bảo hiểm, đánh giá rủi ro bảo hiểm, tính toán bảo hiểm, giám định tổn thất bảo hiểm…

Từ thực tế trên, Bộ Tài chính kiến nghị, cần nghiên cứu đưa vào Luật Kinh doanh Bảo hiểm sửa đổi, bổ dung về dịch vụ phụ trợ cho bảo hiểm, như: Điều kiện kinh doanh cung cấp một số dịch vụ phụ trợ bảo hiểm; đảm bảo quyền thực thi các dịch vụ phụ trợ; mở rộng các dịch vụ… đảm bảo quản lý chặt chẽ, hiệu quả hoạt động này.

Ở góc độ doanh nghiệp cung cấp dịch vụ tư vấn bảo hiểm, bà Nguyễn Hoàng Quyên, Tổng Giám đốc Công ty TNHH Aon cho rằng, câu chuyện về rủi ro và quản lý rủi ro được Aon quản lý và chia sẻ thường xuyên với khách hàng.

Đưa ra 55 rủi ro lớn nhất đối với các công ty có phạm vi hoạt động toàn cầu mà các công ty đang phải đối diện, bà Nguyễn Hoàng Quyên cho rằng, chỉ có 25% rủi ro được bảo hiểm, số còn lại có thể bảo hiểm được một phần hoặc không thể bảo hiểm.

Theo đại diện một số công ty cung cấp dịch vụ bảo hiểm, cần bổ sung thêm quy định về dịch vụ phụ trợ bảo hiểm, bao gồm dịch vụ đánh giá rủi ro bảo hiểm cho môi giới bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm. Trong đó, môi giới bảo hiểm được thu thêm phí dịch vụ ngoài hoa hồng môi giới và không bị giới hạn tỷ lệ % trên tổng phí bảo hiểm thu xếp đối với các dịch vụ không phải là cả hợp đồng bảo hiểm.

Cùng với đó, lĩnh vực và nội dung hoạt động của các doanh nghiệp môi giới bảo hiểm được mở rộng, không chỉ đơn thuần dừng lại ở việc tư vấn, đàm phán hợp đồng bảo hiểm…

Phát Triển Bền Vững Thị Trường Bảo Hiểm Việt Nam

Tốc độ tăng trưởng doanh thu phí toàn thị trường năm 2017 duy trì trên 20%

Kết thúc giai đoạn 2011-2015, thị trường bảo hiểm Việt Nam đã đạt vượt mức hầu hết các chỉ tiêu trung hạn đề ra tại Chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm giai đoạn 2011-2020. Cụ thể, tổng doanh thu của toàn thị trường trong giai đoạn 2011 – 2015 đạt mức tăng trưởng bình quân 16,8%/năm.

Trong đó, doanh thu phí bảo hiểm tăng bình quân 17,94%/năm; Doanh thu hoạt động đầu tư tăng bình quân 12,19%/năm; Tổng tài sản tăng bình quân 15,57%/năm; tổng các quỹ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm nhằm sẵn sàng đáp ứng nghĩa vụ chi trả bồi thường cho khách hàng của các doanh nghiệp bảo hiểm tăng bình quân 16,78%/năm.

Năm 2016, tốc độ tăng trưởng doanh thu phí của toàn thị trường bảo hiểm đạt 24,46% so với năm 2015; Tổng tài sản toàn thị trường ước đạt 240.507 tỷ đồng, tăng 18,72% so với năm 2015; Tổng đầu tư trở lại nền kinh tế ước đạt 192.896 tỷ đồng, tăng 20,14% so với năm 2015.

Các sản phẩm bảo hiểm được tăng cường cả về số lượng và chất lượng. Các doanh nghiệp bảo hiểm cung cấp hơn 1.187 sản phẩm bảo hiểm, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu đa dạng của khách hàng. Nhiều loại hình sản phẩm mới, bảo hiểm vì mục tiêu an sinh xã hội đã được các doanh nghiệp bảo hiểm nghiên cứu, triển khai như: Bảo hiểm liên kết đầu tư, bảo hiểm vi mô, bảo hiểm tín dụng xuất khẩu, bảo hiểm bảo lãnh, bảo hiểm hưu trí…

Bên cạnh các kênh phân phối truyền thống, các kênh phân phối mới như bảo hiểm qua ngân hàng, bán bảo hiểm qua các đối tác kinh doanh, bán hàng trực tuyến, điện thoại…. cũng được các doanh nghiệp triển khai, giúp khách hàng tiếp cận dễ dàng hơn với các sản phẩm bảo hiểm.

Năng lực tài chính, hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam được nâng cao, hầu hết các doanh nghiệp bảo hiểm đã xây dựng đầy đủ các quy trình nghiệp vụ theo quy định của pháp luật, từng bước chuẩn hoá các khâu trong hoạt động kinh doanh. Nhiều doanh nghiệp bảo hiểm đã tổ chức được hệ thống kiểm soát nội bộ hiệu quả, đầu tư phát triển hệ thống công nghệ thông tin hiện đại phục vụ cho hoạt động kinh doanh và công tác quản trị, điều hành.

Năm 2017, tình hình kinh tế thế giới khởi sắc hơn đã có tác động tích cực đến nền kinh tế trong nước. Đồng thời, Việt Nam đã thực hiện nhiều giải pháp phát triển kinh tế – xã hội, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Trong bối cảnh chung đó, thị trường bảo hiểm Việt Nam tiếp tục đạt được nhiều kết quả tích cực.

Dự báo cả năm 2017, tốc độ tăng trưởng doanh thu phí của toàn thị trường sẽ được duy trì ở mức trên 20%; Tổng tài sản toàn thị trường được dự báo đạt 301.346 tỷ đồng, tăng 21,96% so với năm 2016; Tổng số tiền đầu tư trở lại nền kinh tế ước đạt 246.173 tỷ đồng, tăng 26,66% so với năm 2016.

Hoàn thiện chính sách, hỗ trợ doanh nghiệp phát triển

Thị trường bảo hiểm phát triển ổn định trong những năm qua là nhờ khung khổ pháp lý trong lĩnh vực này ngày càng được hoàn thiện, góp phần tạo môi trường kinh doanh minh bạch, bình đẳng, tạo thuận lợi cho sự phát triển của thị trường bảo hiểm, đảm bảo thực hiện các cam kết quốc tế. Trong giai đoạn 2011-2015, có 31 văn bản quy phạm pháp luật được ban hành gồm các Nghị định, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Thông tư của Bộ Tài chính.

Những văn bản này đã được rà soát, sửa đổi, bổ sung và ban hành mới tập trung vào các mục tiêu tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ doanh nghiệp bảo hiểm tăng trưởng hiệu quả, tăng cường quản trị doanh nghiệp, cạnh tranh lành mạnh, đảm bảo an toàn tài chính và quyền lợi của người tham gia bảo hiểm.

Năm 2016, Chính phủ đã ban hành Nghị định 73/2016/NĐ-CP thay thế 4 Nghị định về kinh doanh bảo hiểm, kịp thời tháo gỡ những vướng mắc của doanh nghiệp, tạo hành làng pháp lý đầy đủ, minh bạch, bình đẳng và đồng bộ, đơn giản hóa các điều kiện kinh doanh, thủ tục hành chính, khơi thông nguồn vốn trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, tạo thuận lợi cho sự phát triển của thị trường.

Nhằm thúc đẩy hơn nữa sự phát triển của thị trường bảo hiểm, Bộ Tài chính sẽ trình Chính phủ ban hành các Nghị định về bảo hiểm nông nghiệp, bảo hiểm vi mô, bảo hiểm cháy nổ bắt buộc và Nghị định sửa đổi bổ sung Nghị định số 98/2012/NĐ-CP nhằm tạo hành lang pháp lý hỗ trợ doanh nghiệp bảo hiểm triển khai các sản phẩm mới.

Khẳng định vai trò quan trọng trong nền kinh tế

Thị trường bảo hiểm Việt Nam ngày càng thể hiện được vai trò, vị trí trong nền kinh tế – xã hội, góp phần thực hiện thành công các giải pháp chủ yếu về chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế của đất nước. Thể hiện cụ thể như:

Một là, thị trường bảo hiểm là công cụ hữu ích bảo vệ tài chính cho các nhà đầu tư. Đến nay, bảo hiểm đã và đang bảo vệ cho hầu hết tất cả các loại hình tài sản của mọi thành phần và ngành nghề kinh tế với nhiều loại hình bảo hiểm đa dạng như bảo hiểm tài sản thiệt hại, bảo hiểm hàng không, bảo hiểm hàng hải, bảo hiểm tín dụng, bảo hiểm nông nghiệp, bảo hiểm thủy sản….

Theo thống kê của các doanh nghiệp bảo hiểm, có khoảng 80% các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng, công trình kinh tế lớn của Nhà nước đã và đang được các doanh nghiệp bảo vệ về mặt tài chính trong trường hợp xảy ra sự kiện bảo hiểm mà không cần phải sử dụng đến nguồn kinh phí hỗ trợ thiệt hại từ ngân sách nhà nước, góp phần thực hiện chính sách tài khóa.

Hai là, bảo hiểm đã và đang góp phần bổ trợ cho các chính sách an sinh xã hội. Hiện nay có gần 10 triệu người tham gia bảo hiểm y tế, sức khỏe (trong đó có 6 triệu người tham gia bảo hiểm nhân thọ, 4 triệu người tham gia bảo hiểm phi nhân thọ); 12 triệu học sinh được bảo hiểm sức khỏe, tai nạn; 18 triệu lượt khách được bảo hiểm hàng không; trên 12 triệu lượt khách được bảo hiểm tai nạn đường sắt; 1.620 triệu lượt khách được bảo hiểm tai nạn hành khách vận chuyển đường bộ.

Những người được bảo hiểm nói trên đã có thể tự thu xếp, bảo vệ về mặt tài chính, được bảo hiểm chi trả bồi thường khi không may xảy ra tai nạn, ốm đau, mà không cần tới sự hỗ trợ tài chính từ ngân sách nhà nước. Bên cạnh đó, một số doanh nghiệp bảo hiểm và tổ chức xã hội đã triển khai bảo hiểm vi mô dành cho người có thu nhập thấp với doanh thu phí đạt 25,58 tỷ đồng, tổng số quyền lợi bảo hiểm chi trả là 3,9 tỷ đồng.

Ba là, bảo hiểm góp phần thực hiện các chương trình mục tiêu, nhiệm vụ cấp bách của Chính phủ. Việc thực hiện thí điểm bảo hiểm nông nghiệp đã được triển khai ở 20 tỉnh, thành phố và thu hút 304.017 hộ nông dân tham gia, được sự hưởng ứng cao của cả người dân và các địa phương, góp phần vào việc thực hiện chính sách tam nông của Đảng và Nhà nước. Tổng giá trị bảo hiểm của cả chương trình thí điểm là 7.747,9 tỷ đồng, tổng số tiền bồi thường bảo hiểm là 712,9 tỷ đồng.

Bốn là, bảo hiểm là kênh huy động vốn hữu hiệu cho nền kinh tế. Tính đến hết năm 2016, tổng nguồn vốn đầu tư trở lại nền kinh tế của các doanh nghiệp bảo hiểm ước đạt 194.374 tỷ đồng, góp phần bổ sung nguồn vốn đầu tư dài hạn ổn định cho nền kinh tế.

Trong đó, tổng số tiền đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm vào trái phiếu chính phủ ước đạt gần 97.900 tỷ đồng, với 90% là trái phiếu chính phủ dài hạn, góp phần thực hiện thành công các kế hoạch phát hành trái phiếu chính phủ, ổn định kinh tế vĩ mô.

Năm là, thị trường bảo hiểm phát triển đã thúc đẩy hội nhập, hợp tác kinh tế quốc tế. Trong các hiệp định tự do hoá thương mại song phương và đa phương, lĩnh vực bảo hiểm luôn cam kết với lộ trình và mức độ mở cửa thị trường cao, tạo điều kiện thúc đẩy hàng hoá Việt Nam thâm nhập vào các thị trường lớn có mức độ bảo hộ cao như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản…

Đảm bảo thị trường bảo hiểm phát triển bền vững 

Sự tăng trưởng kinh tế và các chính sách hỗ trợ phát triển thị trường dịch vụ của Chính phủ trong thời gian sắp tới sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển và hoàn thiện của thị trường bảo hiểm. Mức độ thâm nhập của bảo hiểm hiện nay mới chỉ đạt 2,44% so với GDP thấp hơn so với mức trung bình của khối ASEAN (3,55%), châu Á (5,37%) và mức trung bình thế giới (6,3%). Đặc biệt, một số lĩnh vực như bảo hiểm thiên tai, bảo hiểm tài sản công, bảo hiểm xuất nhập khẩu, bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe… tiềm năng của thị trường vẫn chưa được khai thác hết.

Bên cạnh những cơ hội, thị trường bảo hiểm cũng phải đối mặt với nhiều thách thức như: Nền kinh tế Việt Nam chưa thực sự ổn định; thảm họa, thiên tai xảy ra với tần suất ngày càng lớn; rủi ro bảo hiểm diễn ra nhiều, khó lường, số lượng ngày càng tăng… gây ra những ảnh hưởng bất lợi cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Những thay đổi của cuộc Cách mạng 4.0 và xu thế hội nhập sâu rộng của kinh tế toàn cầu đòi hỏi các doanh nghiệp phải nâng cao hơn nữa năng lực quản trị, hiệu quả kinh doanh và khả năng tài chính.

Phát huy kết quả đạt được của thị trường bảo hiểm Việt Nam trong những năm qua, để đảm bảo sự phát triển bền vững của thị trường bảo hiểm, thời gian tới cần triển khai đồng bộ các giải pháp sau:

Thứ nhất, hoàn thiện hệ thống pháp luật: Cần nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung Luật Kinh doanh bảo hiểm một cách tổng thể theo hướng hệ thống pháp luật mới sẽ có phạm vi điều chỉnh rộng hơn và đồng bộ hơn hoạt động kinh doanh bảo hiểm trong mối liên kết với các mảng thị trường dịch vụ tài chính, đảm bảo thực hiện có hiệu quả các cam kết quốc tế về dịch vụ bảo hiểm.

Thứ hai, nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp bảo hiểm. Xây dựng bộ tiêu chuẩn về đánh giá, xếp loại doanh nghiệp; ban hành các quy định về quản trị rủi ro doanh nghiệp, tiêu chuẩn, vị trí chức danh quản trị điều hành, các yêu cầu đối với hệ thống công nghệ thông tin làm cơ sở để các doanh nghiệp bảo hiểm chuẩn hóa hoạt động, nâng cao khả năng quản trị, điều hành, năng lực tài chính, chất lượng dịch vụ, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

Thứ ba, đa dạng và chuyên nghiệp hóa các kênh phân phối bảo hiểm, tăng cường chất lượng và tính chuyên nghiệp của đội ngũ đại lý bảo hiểm, đồng thời phát huy việc áp dụng công nghệ, kỹ thuật số vào việc giới thiệu và bán các sản phẩm bảo hiểm, tăng cường sự minh bạch và khả năng tiếp cận các sản phẩm bảo hiểm của khách hàng.

Thứ tư, đổi mới phương thức quản lý giám sát, tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước về kinh doanh bảo hiểm. Công tác quản lý, giám sát cần được đổi mới theo hướng kết hợp linh hoạt giữa quản lý, giám sát từ xa và kiểm tra tại chỗ, tăng cường đối thoại với doanh nghiệp.

Hoạt động quản lý giám sát chuyển dần mô hình sang quản lý giám sát dựa trên cơ sở rủi ro, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, chuyển các hoạt động quản lý, giám sát từ kiểm tra trước sang kiểm tra sau (hậu kiểm), tăng cường tính chủ động, trách nhiệm của doanh nghiệp trong hoạt động quản trị điều hành, sử dụng và quản lý nguồn vốn, phù hợp với quy mô, phạm vi và đặc thù kinh doanh của từng doanh nghiệp.

Nguồn: tapchitaichinh.vn

6 Nhóm Giải Pháp Phát Triển Thị Trường Bảo Hiểm Việt Nam

Hiện trên thị trường bảo hiểm có 57 doanh nghiệp, trong đó gồm 29 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, 14 doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ, 12 doanh nghiệp môi giới bảo hiểm và 2 doanh nghiệp tái bảo hiểm. Riêng tổng doanh thu phí bảo hiểm 6 tháng đầu năm 2012 ước đạt 20.459 tỷ đồng, tăng 17,84% so với cùng kỳ năm 2011.

Nhằm phát triển thị trường bảo hiểm và thực hiện có hiệu quả mục tiêu phát triển thị trường bảo hiểm, ngày 18/9/2012, Bộ trưởng Bộ Tài chính đã ban hành Quyết định 2330/QĐ-BTC phê duyệt 6 nhóm giải pháp chủ đạo làm căn cứ triển khai thực hiện cho giai đoạn 2011-2015 gồm:

Hoàn thiện hệ thống pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm

– Tổ chức nghiên cứu sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật nhằm đảm bảo tính đầy đủ, đồng bộ, nhất quán giữa các quy định; hướng dẫn kịp thời các quy định mới tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm (có hiệu lực từ 1/7/2012); tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm trong quá trình triển khai và phù hợp hơn với thực tiễn; đảm bảo thực hiện hiệu quả các cam kết quốc tế trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm mà Việt Nam là thành viên; từng bước phù hợp với chuẩn mực và thông lệ quản lý, giám sát bảo hiểm quốc tế.

Nâng cao tính an toàn hệ thống, hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp bảo hiểm

– Trên cơ sở định hướng của Đảng, Nhà nước và Chính phủ về tái cấu trúc thị trường tài chính, tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả việc tái cơ cấu các doanh nghiệp bảo hiểm theo hướng kiện toàn mô hình tổ chức hoạt động của các doanh nghiệp hoạt động yếu kém, không hiệu quả; từng bước nâng cao năng lực tài chính, chất lượng dịch vụ, khả năng quản trị điều hành và năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp bảo hiểm theo chuẩn mực và thông lệ quốc tế.

– Xoá bỏ hiện tượng khép kín, chia cắt thị trường bảo hiểm thông qua việc hoàn thiện cơ chế, chính sách về cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp bảo hiểm có vốn góp của Tập đoàn, Tổng công ty nhà nước và các doanh nghiệp bảo hiểm khác; tăng cường quản lý, giám sát, xử lý nghiêm các biểu hiện vi phạm cơ chế cạnh tranh bình đẳng. Phối hợp rà soát, đánh giá hiệu quả phần vốn góp của các Tập đoàn, Tổng Công ty nhà nước tại các doanh nghiệp bảo hiểm nhằm tiếp tục giảm tỷ lệ góp vốn của các Tập đoàn, Tổng Công ty nhà nước theo đúng mục tiêu, giải pháp đã được xác định tại Đề án tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, trọng tâm là tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước giai đoạn 2011-2015 và Chương trình hành động để thực hiện các nội dung của Đề án này (đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 929/QĐ-TTg ngày 17/7/2012).

– Tổ chức đánh giá, phân loại chất lượng nguồn nhân lực của thị trường bảo hiểm; hoàn thiện các quy định về tiêu chuẩn, điều kiện của từng vị trí. Xây dựng cơ chế kiểm soát hiệu quả công tác tổ chức đào tạo và chất lượng cán bộ được đào tạo đáp ứng tiêu chuẩn đặt ra.

Khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp phát triển và đa dạng hóa sản phẩm bảo hiểm

– Rà soát sửa đổi, bổ sung và ban hành mới các quy định về phê chuẩn sản phẩm bảo hiểm theo hướng đơn giản hoá thủ tục hành chính, cho phép các doanh nghiệp bảo hiểm tận dụng kịp thời cơ hội triển khai, bảo đảm mặt bằng chung tối thiểu giữa doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ khi triển khai cùng một loại hình bảo hiểm sức khoẻ và tăng tính hấp dẫn, khả năng cạnh tranh của các sản phẩm bảo hiểm so với các sản phẩm tài chính thay thế khác (đặc biệt là các sản phẩm bảo hiểm liên kết đầu tư).

– Rà soát, sửa đổi, bổ sung các chế độ bảo hiểm bắt buộc về trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới và cháy, nổ cho phù hợp hơn với điều kiện và thực tiễn phát triển kinh tế. Xây dựng và ban hành quy tắc, điều khoản, biểu phí về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm nghề nghiệp môi giới bảo hiểm theo quy định tại Luật Kinh doanh bảo hiểm và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Đa dạng và chuyên nghiệp hóa các kênh phân phối bảo hiểm

– Nghiên cứu ban hành các quy định mới nhằm chuẩn hóa chất lượng nguồn nhân lực của doanh nghiệp môi giới bảo hiểm; chuẩn hoá chương trình đào tạo và chứng chỉ môi giới phù hợp với đặc thù của loại hình sản phẩm bảo hiểm được thu xếp qua môi giới.

– Hoàn thiện các quy định về chuẩn hoá chương trình đào tạo đại lý bảo hiểm và điều kiện, tiêu chuẩn của các tổ chức đào tạo đại lý bảo hiểm. Tổ chức kiểm soát chặt chẽ công tác đào tạo, thi và cấp chứng chỉ đại lý bảo hiểm. Tăng cường kiểm tra, giám sát việc sử dụng đại lý của các doanh nghiệp bảo hiểm.

Tăng cường hiệu quả quản lý của nhà nước về kinh doanh bảo hiểm

– Xây dựng hệ thống quản lý, giám sát từ xa hiệu quả; tăng cường thực hiện quản lý, giám sát các doanh nghiệp bảo hiểm trên cơ sở hệ thống chỉ tiêu giám sát và việc thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm theo pháp luật.

– Chuẩn hoá trình độ đội ngũ cán bộ của cơ quan quản lý nhà nước về kinh doanh bảo hiểm, bố trí số lượng cán bộ đủ để đáp ứng sự phát triển của thị trường bảo hiểm. Xây dựng cơ chế thu hút và đãi ngộ cán bộ hợp lý, đặc biệt là các cán bộ làm việc trong các lĩnh vực đặc thù như tính toán bảo hiểm.

Đẩy mạnh hợp tác quốc tế và hội nhập trong lĩnh vực bảo hiểm

– Xây dựng lộ trình và phương án đàm phán trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm đối với từng Hiệp định thương mại song phương hoặc đa phương nhằm đảm bảo lợi ích của Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, đảm bảo nguyên tắc cam kết ngang bằng (không vượt quá) các cam kết đã có của Việt Nam trong WTO

– Tăng cường theo dõi, giám sát thực hiện quá trình hội nhập quốc tế, đánh giá tác động của việc hội nhập và kịp thời điều chỉnh cơ chế, chính sách hợp lý, hạn chế tối đa các tác động tiêu cực của quá trình này.

– Chủ động, tích cực tham gia Diễn đàn các cơ quan quản lý bảo hiểm Đông Nam Á và Hiệp hội quốc tế của các cơ quan quản lý bảo hiểm; rà soát, đánh giá việc tuân thủ các nguyên tắc về quản lý, giám sát do Hiệp hội quốc tế của các cơ quan quản lý bảo hiểm đề ra, trên cơ sở đó xây dựng và hoàn thiện cơ chế chính sách về kinh doanh bảo hiểm nhằm tuân thủ hoàn toàn 50% số lượng các nguyên tắc này.

– Đa dạng hoá nội dung, hình thức và các đối tác hợp tác quốc tế, gắn hợp tác quốc tế với yêu cầu công tác quản lý, giám sát thị trường bảo hiểm; nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn hỗ trợ tài chính và kỹ thuật trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm từ các đối tác quốc tế.

Nguồn: chúng tôi

{flike}

Các Mô Hình Ngân Hàng Trung Ương Và Lựa Chọn Phù Hợp Với Việt Nam

– Ngân hàng Nhà nước thực thi nhiệm vụ quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối và ngân hàng; thực thi nhiệm vụ của một và là ngân hàng của các ngân hàng. Ngân hàng Nhà nước là cơ quan tổ chức việc điều hành chính sách tiền tệ, lấy nhiệm vụ giữ ổn định giá trị đồng tiền làm mục tiêu chủ yếu và chi phối căn bản các chính sách điều hành cụ thể đối với hệ thống các ngân hàng cấp 2.Ngân hàng Trung ương – là ngân hàng duy nhất được phát hành tiền

– Các hoạt động kinh doanh thuộc lĩnh vực lưu thông tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối và dịch vụ ngân hàng trong toàn nền kinh tế quốc dân do các định chế tài chính, ngân hàng và phi ngân hàng thực hiện.

Tháng 12/1997, Luật Ngân hàng Trung ương của Việt Nam ra đời và có hiệu lực thi hành từ 1/1/1998. Theo đó Ngân hàng Nhà nước là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng; là ngân hàng phát hành tiền, ngân hàng của các tổ chức tín dụng và ngân hàng làm dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ. Kể từ đó đến nay, ngành Ngân hàng nói chung và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam nói riêng đã có những bước tiến khá dài trên con đường phát triển. Tuy nhiên, trong bối cảnh kinh tế thế giới cũng như trong nước có nhiều biến động khó lường, những hạn chế của ngành Ngân hàng nói chung và Ngân hàng Nhà nước nói riêng là điều khó tránh khỏi và cần có sự cải cách như Đảng và Nhà nước đã chỉ ra ở trên.

Trước tình hình đó, một vấn đề lớn được đặt ra: Thế nào là một Ngân hàng Trung ương hiện đại? Câu hỏi tưởng chừng như rất đơn giản này cho đến nay vẫn chưa có câu trả lời thỏa đáng. Không chỉ ở Việt Nam, ngay cả ở các nước trên thế giới cũng chưa có một định nghĩa chính thống nào về Ngân hàng Trung ương hiện đại.

Đến nay, trên thế giới đã biết đến 3 mô hình Ngân hàng Trung ương: (1) Ngân hàng Trung ương độc lập với Chính phủ; (2) Ngân hàng Trung ương là một cơ quan thuộc Chính phủ; và (3) Ngân hàng Trung ương thuộc Bộ Tài chính.

Điều đó có nghĩa rằng mỗi một quốc gia có thể vận dụng một mô hình Ngân hàng Trung ương khác nhau phù hợp với điều kiện thực tiễn của mình. Ở nước ta, Ngân hàng Nhà nước là cơ quan của Chính phủ và Thống đốc Ngân hàng Nhà nước là thành viên Chính phủ. Thời gian qua, khi bàn đến vấn đề cải cách Ngân hàng Nhà nước, một số ý kiến cho rằng chúng ta nên lựa chọn mô hình Ngân hàng Trung ương độc lập với lý do cơ bản được đưa ra là Ngân hàng Trung ương càng độc lập thì mục tiêu duy trì tỷ lệ lạm phát thấp càng dễ thực hiện.

Về mặt lý thuyết, điều này là đúng, tuy nhiên, tác giả cho rằng trong thời điểm hiện nay và có thể trong nhiều năm tới, mô hình Ngân hàng Nhà nước là một cơ quan của Chính phủ như hiện nay vẫn phù hợp với thể chế chính trị, đặc thù kinh tế – xã hội và hệ thống luật pháp của nước ta. Tuy nhiên, để tăng cường hiệu quả hoạt động của Ngân hàng Nhà nước với tư cách là một Ngân hàng Trung ương trong nền kinh tế thị trường, việc nâng cao tính độc lập của Ngân hàng Nhà nước là hết sức cần thiết. Nâng cao tính độc lập không có nghĩa là phải tách Ngân hàng Nhà nước ra khỏi bộ máy Chính phủ mà cần phải trao thêm quyền cho Thống đốc – người đứng đầu Ngân hàng Nhà nước – trong việc chủ động lựa chọn và điều hành các công cụ chính sách tiền tệ. Như vậy, trong bối cảnh nước ta hiện nay, vấn đề đặt ra không phải là thay đổi mô hình mà là lựa chọn cấp độ độc lập tự chủ nào cho phù hợp với Ngân hàng Nhà nước?

Theo một nghiên cứu được Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), về cơ bản, các Ngân hàng Trung ương trên thế giới được phân thành 4 cấp độ độc lập tự chủ gồm:

Độc lập tự chủ trong thiết lập mục tiêu hoạt động;

Độc lập tự chủ trong thiết lập chỉ tiêu hoạt động;

Độc lập tự chủ trong lựa chọn công cụ điều hành;

Độc lập tự chủ hạn chế.

– Thứ nhất, độc lập tự chủ trong thiết lập mục tiêu hoạt động: Với mô hình này, Ngân hàng Trung ương có trách nhiệm quyết định chính sách tiền tệ, chế độ tỷ giá (nếu không theo chế độ thả nổi tỷ giá) và có quyền quyết định mục tiêu hoạt động chủ yếu trong số các mục tiêu đã được pháp luật quy định. Đây là cấp độ độc lập tự chủ cao nhất mà một Ngân hàng Trung ương có thể đạt được mà ví dụ điển hình là Hệ thống Dự trữ Liên bang Mỹ (FED). Tuy nhiên, đây cũng chính là cấp độ độc lập tự chủ khó vận dụng nhất, vì nó đòi hỏi Ngân hàng Trung ương phải có uy tín cao và năng lực thực thi rất tốt thì mới có thể biến mục tiêu hành hiện thực, nhất là trong giai đoạn thực thi chính sách tiền tệ thắt chặt. Bên cạnh đó, cấp độ độc lập tự chủ này cũng đòi hỏi Ngân hàng Trung ương có khả năng dự báo chuẩn xác trên cơ sở các thống kê kinh tế- tài chính, vì chỉ có như vậy thì Ngân hàng Trung ương mới có thể thực hiện được mục tiêu đề ra.

Ngoài các lý do về trình độ phát kinh tế, tính đặc thù về thể chế chính trị và hệ thống pháp luật, trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam nói chung và hệ thống tài chính nói riêng đang trong quá trình chuyển đổi mạnh mẽ, việc dự báo dựa trên các biến số kinh tế – tài chính là rất khó khăn. Bên cạnh đó, năng lực thống kê và dự báo của chúng ta hiện vẫn còn rất hạn chế. Vì vậy, mức độ tự chủ này là không phù hợp với Ngân hàng Nhà nước ít nhất là trong thời gian trung hạn.

– Thứ hai, độc lập tự chủ trong thiết lập chỉ tiêu hoạt động: Ở cấp độ này này, Ngân hàng Trung ương cũng được trao trách nhiệm quyết định chính sách tiền tệ và chế độ tỷ giá nhưng khác với cấp độ độc lập tự chủ trong thiết lập mục tiêu hoạt động ở chỗ một mục tiêu hoạt động chủ yếu của Ngân hàng Trung ương được quy định cụ thể trong Luật, ví dụ như mục tiêu hoạt động hàng đầu của Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB) là “duy trì sự ổn định giá cả”. Với cấp độ độc lập tự chủ này, việc thay đổi mục tiêu duy nhất đòi hỏi phải sửa đổi Luật Ngân hàng Trung ương. Hơn nữa, tương tự như lý do vừa nêu ở trên, cấp độ độc lập tự chủ này cũng tỏ ra không phù hợp với Ngân hàng Nhà nước trong giai đoạn trước mắt. Tuy nhiên, trong tương lai, cấp độ độc lập này có thể được cân nhắc, xem xét khi điều kiện cho phép (các biến số kinh tế – tài chính đã trở nên ổn định hơn; năng lực thống kê, dự báo được cải thiện;…);

– Thứ tư, độc lập tự chủ hạn chế: Là cấp độ độc lập tự chủ thấp nhất, theo đó Chính phủ là nơi quyết định chính sách (cả về mục tiêu lẫn chỉ tiêu hoạt động) cũng như can thiệp vào quá trình triển khai thực thi chính sách tiền tệ. Đây là một trong những nguyên nhân làm hạn chế hiệu quả hoạt động của Ngân hàng Trung ương, nhất là trong việc thực hiện mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền. Đây chính là trường hợp của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hiện nay và trên thực tế thì mức độ độc lập tự chủ này đã bộc lộ nhiều mặt hạn chế, bất cập.

Như vậy, theo quan điểm của tác giả, cấp độ ” Độc lập tự chủ trong lựa chọn công cụ điều hành ” tỏ ra phù hợp nhất với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong giai đoạn hiện nay cũng như trong nhiều năm tới, đặc biệt là trong bối cảnh việc điều hành chính sách tiền tệ ở nước ta đã từng bước được đổi mới theo nguyên tắc thị trường, dần loại bỏ các công cụ trực tiếp và sử dụng các cụng cụ gián tiếp. Hơn nữa, mức độ độc lập tự chủ này cho phép dung hoà giữa mục tiêu của chính sách tiền tệ với các mục tiêu của chính sách kinh tế trong một giai đoạn nhất định.

Tác giả: Doãn Hữu Tuệ

( Viện Chiến lược Ngân hàng)

Cập nhật thông tin chi tiết về Phát Triển Dịch Vụ Phụ Trợ Bảo Hiểm Việt Nam Phù Hợp Với Các Hiệp Định Chung trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!