Xu Hướng 2/2023 # Phát Triển Bền Vững Kinh Tế Tư Nhân Ở Việt Nam: Một Số Vấn Đề Đặt Ra Và Giải Pháp # Top 2 View | Phauthuatthankinh.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Phát Triển Bền Vững Kinh Tế Tư Nhân Ở Việt Nam: Một Số Vấn Đề Đặt Ra Và Giải Pháp # Top 2 View

Bạn đang xem bài viết Phát Triển Bền Vững Kinh Tế Tư Nhân Ở Việt Nam: Một Số Vấn Đề Đặt Ra Và Giải Pháp được cập nhật mới nhất trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Thứ hai, 22 Tháng 6 2020 15:27

1189 Lượt xem

(LLCT) - Trong những năm qua, với chủ trương, chính sách phát triển kinh tế tư nhân (KTTN) theo hướng cởi mở, thông thoáng, nhất là từ khi có Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 3-6-2017 “Về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, KTTN đã phát triển mạnh mẽ và đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, vẫn còn nhiều vấn đề đặt ra cần phải giải quyết để kinh tế tư nhân phát triển bền vững và thực sự trở thành “động lực quan trọng” của nền kinh tế. 

Từ khóa: kinh tế tư nhân, phát triển bền vững kinh tế tư nhân.

1. Thành tựu và một số vấn đề đặt ra trong phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam hiện nay

Kinh tế tư nhân ở nước ta được xác định là loại hình kinh tế nằm ngoài kinh tế nhà nước (không tính kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài), gồm “kinh tế cá thể, tiểu chủ và các loại hình doanh nghiệp của tư nhân”(1) dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Đến nay, loại hình KTTN ở Việt Nam khá đa dạng, từ doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần tư nhân hoặc công ty cổ phần có vốn nhà nước dưới 50% (gọi chung là doanh nghiệp tư nhân – DNTN) và các hộ kinh doanh cá thể (phi nông nghiệp và nông, lâm, thủy sản).

Thứ nhất, số lượng doanh nghiệp tư nhân tăng nhanh nhưng tỷ lệ ngừng hoạt động, giải thể nhiều

Mặc dù số lượng DNTN tăng nhanh qua các năm, chiếm tỷ trọng lớn (gần 97% tổng số doanh nghiệp của nền kinh tế) nhưng tỷ lệ phá sản và ngừng hoạt động cũng rất cao. Năm 2019, số DNTN đăng ký thành lập mới cao nhất trong 9 năm qua (138,1 nghìn doanh nghiệp), đồng thời số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh và giải thể, phá sản cũng khá cao: 28.700 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn (tăng 5,9% so với năm 2018); 43.700 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể (tăng 41,7%). Trong số 16.800 doanh nghiệp chính thức giải thể năm 2019 (tăng 3,2% so với năm 2018), có 15.200 doanh nghiệp có quy mô vốn dưới 10 tỷ đồng, chiếm trên 90%; 212 doanh nghiệp có quy mô vốn trên 100 tỷ đồng, chiếm trên 1%(5). Như vậy, số doanh nghiệp giải thể, ngừng kinh doanh chiếm 64,59% tổng số doanh nghiệp thành lập mới. Thực tế này khiến các hộ kinh doanh cá thể thiếu động lực phát triển trở thành doanh nghiệp và mục tiêu một triệu doanh nghiệp năm 2020 và xa hơn là 2 triệu doanh nghiệp vào năm 2030 khó thành hiện thực.

 Thứ hai, thiếu “đầu tàu” dẫn dắt kinh tế tư nhân tham gia chuỗi sản xuất, chuỗi giá trị trong nước và quốc tế

Báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết, DNTN chỉ có khoảng 1,7% có quy mô lớn, còn lại hơn 98% có quy mô vừa, nhỏ và siêu nhỏ, trong đó các doanh nghiệp siêu nhỏ chiếm 78,2%. Hầu hết các DNTN được hình thành sau thời gian tích lũy ngắn, dựa vào vốn tự có, ít được Nhà nước hỗ trợ và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực bất động sản, dịch vụ nên kinh nghiệm quản trị, mô hình phát triển, khả năng liên kết… còn nhiều hạn chế. Một số tập đoàn KTTN đã được hình thành, có quy mô khá lớn nhưng chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực tài chính, kinh doanh bất động sản, sản xuất hàng tiêu dùng. Đối với các hộ kinh doanh cá thể phi nông nghiệp, quy mô vốn và lao động của các hộ này cũng rất thấp: 150,61 triệu đồng và 1,69 người(6). Vì vậy, KTTN nói chung, đặc biệt là DNTN Việt Nam thiếu vắng doanh nghiệp “đầu tàu” đủ mạnh dẫn dắt các doanh nghiệp tham gia chuỗi sản xuất, chuỗi giá trị trong nước và quốc tế. Báo cáo triển vọng phát triển châu Á của Ngân hàng phát triển châu Á cho biết, mới có 21% DNTN của Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu, thấp hơn so với Thái Lan (30%) và Malaysia (46%).

Thứ ba, hiệu quả hoạt động của kinh tế tư nhân chưa cao, năng suất lao động thấp nhất trong các khu vực kinh tế

Giai đoạn 2011-2017, bình quân năng suất lao động xã hội của DNTN chỉ bằng 28,59% doanh nghiệp nhà nước và 58,62% doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Năm 2017, năng suất lao động của DNTN tăng lên và đạt 228,4 triệu đồng/lao động, bằng 33,68% doanh nghiệp nhà nước và 69% doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài(7). Năng suất lao động của DNTN thấp đã ảnh hưởng đến năng suất lao động chung của toàn bộ khu vực doanh nghiệp. Tính cả hộ kinh doanh, năng suất lao động của khu vực KTTN còn thấp hơn nhiều, chỉ bằng 17% khu vực kinh tế nhà nước và bằng 14,42% khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Hiệu suất sinh lời của KTTN khá thấp. Bình quân giai đoạn 2011-2017, tỷ suất lợi nhuận trên tài sản của DNTN chỉ đạt gần 3,8%, thấp hơn mức chung của toàn bộ doanh nghiệp (gần 6%). Tương tự đối với tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (1,7% so với 3,8%) và tỷ suất lợi nhuận trên vốn (1,23% so với 2,63%)(8). Tỷ suất sinh lời thấp ảnh hưởng đến khả năng tự tích lũy và mở rộng quy mô của khu vực KTTN.

Thứ tư, năng lực công nghệ, trình độ đội ngũ chủ doanh nghiệp và lao động của KTTN thấp

DNTN là loại hình tiên tiến nhất trong KTTN, song phần lớn các DNTN sử dụng công nghệ thấp, trong đó có 52% DNTN sử dụng thiết bị lạc hậu, 38% sử dụng thiết bị trung bình, chỉ có 10% sử dụng thiết bị tương đối hiện đại. Quy mô nhỏ, vốn ít nên hầu hết các DNTN chưa đầu tư ứng dụng khoa học công nghệ, nhất là công nghệ lõi, công nghệ tiên phong, chưa quan tâm đến đổi mới sáng tạo. Đến nay, các DNTN Việt Nam chỉ dành từ 0,2%-0,3% doanh thu vào đổi mới công nghệ, trong khi đó các doanh nghiệp ở Ấn Độ dành 5%, Hàn Quốc 10%. Bên cạnh đó, trình độ đội ngũ chủ doanh nghiệp và lao động cũng rất thấp: trên 55% tổng số đội ngũ chủ doanh nghiệp nhỏ và vừa có trình độ trung cấp trở xuống, trong đó, 43,3% trình độ học vấn từ sơ cấp và phổ thông. Do đó, việc nắm bắt cơ hội cũng như thực hiện các cải cách đưa ra tầm nhìn đúng cho sự phát triển của DNTN còn hạn chế. Đội ngũ lao động trong khu vực KTTN có 75% chưa qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật(9). Đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể, lao động chủ yếu có trình độ phổ thông. Với những hạn chế này, mục tiêu thu hẹp khoảng cách công nghệ, nâng cao năng suất, chất lượng nhân lực và năng lực cạnh tranh của DNTN so với các nước ASEAN-4 khó thực hiện được.

Thứ năm, đóng góp của kinh tế tư nhân vào tăng trưởng kinh tế có xu hướng giảm và chủ yếu do khu vực phi chính thức

Mặc dù hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển KTTN từng bước được hoàn thiện; môi trường đầu tư, kinh doanh từng bước được cải thiện theo hướng thông thoáng, thuận lợi hơn, song đóng góp của KTTN vào tăng trưởng kinh tế của nước ta những năm gần đây có xu hướng giảm. Giai đoạn 2011-2018, tỷ trọng đóng góp của KTTN vào tăng trưởng kinh tế nước ta giảm, từ 39,89% năm 2011 xuống 38,25% năm 2018, giảm 1,64%. Bình quân cả giai đoạn này, KTTN đóng góp gần 39% vào tăng trưởng GDP, giảm trên 4% so với giai đoạn 2006-2010 (43% với 39%)(10). Trong đó, các DNTN chỉ đóng góp trên 8%, còn thành phần kinh tế nhỏ lẻ, phi chính thức (kinh tế cá thể) đóng góp trên 30% GDP. Điều này cho thấy, thể chế phát triển KTTN vẫn còn nhiều nút thắt, chưa tạo ra đột phá để khu vực kinh tế này phát triển, đồng thời, bản thân KTTN cũng còn nhiều hạn chế, yếu kém nên chưa đóng góp tương xứng với tiềm năng, vị trí cũng như vai trò là động lực quan trọng của nền kinh tế.

Thứ sáu, việc vi phạm pháp luật và cạnh tranh không lành mạnh còn phổ biến, đại đa số DNTN chưa có thương hiệu. Tình trạng các cơ sở KTTN sản xuất, kinh doanh gây ô nhiễm môi trường diễn ra phổ biến. Theo số liệu của Cục Cảnh sát Môi trường, số vụ vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường của các cơ sở sản xuất kinh doanh, trong đó chủ yếu là KTTN ngày càng gia tăng. Các năm 2011-2014 có 44.991 vụ, bình quân 11.247 vụ/năm, riêng năm 2018, có 13.929 vụ(11). Ngoài ra, tình trạng nhiều DNTN vì lợi nhuận bất chấp đạo đức kinh doanh, làm ăn chộp giật, gian lận thương mại, trốn tránh nghĩa vụ nộp thuế, vi phạm Luật Cạnh tranh còn phổ biến, ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh, cuộc sống người dân. Bên cạnh đó, vẫn còn nhiều DNTN không đảm bảo lợi ích của người lao động, có tới 50% doanh nghiệp chưa tham gia bảo hiểm xã hội cho người lao động và có rất nhiều doanh nghiệp nợ bảo hiểm với hàng nghìn tỷ đồng(12). Nhiều DNTN báo cáo tài chính không trung thực, nợ quá hạn ngân hàng, trốn và nợ thuế kéo dài, gây hậu quả xấu về kinh tế – xã hội và làm suy giảm lòng tin của người dân cũng như các cơ quan chức năng đối với KTTN.

 2. Giải pháp phát triển bền vững kinh tế tư nhân trong thời gian tới

2.1. Nhóm giải pháp thuộc về khu vực kinh tế tư nhân

 Một là, nâng cao năng lực quản trị của khu vực KTTN. Chủ DNTN, nhất là chủ các doanh nghiệp vừa, nhỏ và siêu nhỏ, các nhân sự cấp cao; chủ cơ sở kinh tế cá thể phải chủ động và tích cực trau dồi các kiến thức về kinh tế thị trường, quản trị doanh nghiệp, pháp luật trong kinh doanh, kiến thức về hội nhập; bám sát các định hướng của Đảng và Nhà nước, chủ động, nhạy bén nắm bắt cơ hội để xây dựng chiến lược kinh doanh và quản trị phù hợp với yêu cầu thị trường và nguồn lực hiện có, phòng tránh rủi ro pháp lý, liên kết sản xuất… Có như vậy, các loại hình KTTN mới có thể tồn tại, thích ứng và phát triển bền vững.

Hai là, chú trọng đầu tư đổi mới, nâng cao trình độ công nghệ, nâng cao trình độ lao động. Đầu tư đổi mới, nâng cao trình độ công nghệ, qua đó, nâng cao chất lượng và đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh doanh, năng lực cạnh tranh cho khu vực KTTN… Tuy nhiên, do đặc thù nên mỗi loại hình KTTN cần thực hiện những giải pháp khác nhau cho phù hợp:

Đối với các DNTN quy mô lớn và vừa: Đẩy mạnh nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ công nghệ, nhất là công nghệ lõi, công nghệ cao vào sản xuất, kinh doanh. Vì vậy, các doanh nghiệp phải tăng tỷ lệ đầu tư vào nghiên cứu và triển khai. Một mặt, các doanh nghiệp phải nghiên cứu kỹ và có lộ trình thích hợp thực hiện nghiên cứu và triển khai (có thể tự chủ hoặc liên doanh, liên kết với doanh nghiệp khác, tranh thủ cơ hội từ phía Nhà nước). Mặt khác, đẩy mạnh đổi mới công nghệ, hiện đại hóa trang thiết bị. Đồng thời, cần tập trung nâng cao trình độ đội ngũ lao động, nhất là đội ngũ lao động trực tiếp. Các doanh nghiệp cần đặt ra yêu cầu hay áp lực để người lao động tự học hoặc tham gia các khóa bồi dưỡng nâng cao trình độ; có cơ chế khuyến khích, thu hút cũng như tạo động lực để họ vươn lên học tập nâng cao trình độ tay nghề thông qua chế độ lương, thưởng, hoặc mời chuyên gia về đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ cho người lao động trong doanh nghiệp.  

Đối với các DNTN quy mô nhỏ, siêu nhỏ: các doanh nghiệp này năng lực tài chính hạn chế, khó tiếp cận với các nguồn lực bên ngoài nên cần tập trung nâng cao năng lực chủ động tiếp nhận chuyển giao, đổi mới công nghệ như: nâng cao trình độ lao động, chủ động tiếp nhận công nghệ mới, công nghệ cao vào sản xuất.

Đối với các hộ kinh doanh: Nguồn lực tự có hạn chế và khó tiếp cận với các nguồn lực bên ngoài nên cần chú trọng ứng dụng tiến bộ công nghệ, hợp lý hóa quy trình sản xuất, kinh doanh.  

Ba là, xây dựng văn hóa kinh doanh, xây dựng thương hiệu, coi trọng chữ tín với khách hàng. Khu vực KTTN, đại diện là DNTN, các hộ kinh doanh cá thể phải có ý thức xây dựng và thực hiện văn hóa kinh doanh, xây dựng thương hiệu thể hiện qua các hành động: kinh doanh trung thực, thực hiện trách nhiệm xã hội, bảo đảm lợi ích cho người lao động, người tiêu dùng; chú trọng nâng cao chất lượng sản phẩm, đa dạng hóa sản phẩm… Thực hiện nhất quán và tốt các biện pháp này sẽ giữ vững chữ tín đối với Nhà nước, cộng đồng, khách hàng, cổ đông và người lao động; tạo niềm tin cho đối tác…

2.2. Nhóm giải pháp thuộc về Nhà nước

-  Quyết liệt triển khai thực hiện đầy đủ và có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp đã đề ra trong Nghị quyết 10-NQ/TW Hội nghị Trung ương 5 khóa XII.

Tập trung xóa bỏ những rào cản, tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi cho KTTN phát triển. Các bộ, ngành, địa phương đẩy mạnh thực hiện chính phủ điện tử, tiếp tục rà soát, bãi bỏ các điều kiện kinh doanh không còn phù hợp. Hỗ trợ giáo dục và đào tạo để nâng cao trình độ văn hóa, kiến thức kinh doanh cũng như năng lực quản lý của chủ doanh nghiệp, người lao động trong khu vực KTTN.

Nhà nước cần có cơ chế, chính sách khuyến khích thành lập DNTN như: thu hẹp các lĩnh vực kinh doanh có điều kiện, giảm và đi đến xóa bỏ các giấy phép con. Khuyến khích, tạo điều kiện cho các hộ kinh doanh mở rộng quy mô, nâng cao hiệu quả hoạt động, tự nguyện chuyển đổi sang hoạt động kinh doanh theo mô hình doanh nghiệp.

Bảo đảm thực thi các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, phong trào khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo. Tạo môi trường, điều kiện cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa này “lớn” nhanh. Đồng thời, tạo tiền đề hình thành các DNTN quy mô lớn, các tập đoàn kinh tế KTTN sở hữu hỗn hợp có tiềm lực vững mạnh, đủ sức cạnh tranh, tham gia mạng sản xuất, chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu trong lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp chế biến, chế tạo, điện tử.

– Tạo cơ hội và điều kiện cho KTTN khai thác, sử dụng nguồn lực quốc gia vào phát triển kinh tế.

Thực hiện quyết liệt chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế từ chiều rộng sang chiều sâu, cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng dịch chuyển từ phát triển các lĩnh vực khai thác tài nguyên, bất động sản,… sang các lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ mà Việt Nam có thế mạnh. Cần tạo điều kiện cho KTTN tham gia vào quá trình cơ cấu lại nền kinh tế, quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, được hưởng các ưu đãi về lãi suất, vay vốn, đào tạo, thuê mặt bằng, thủ tục hành chính khi tham gia vào những lĩnh vực sản xuất kinh doanh mới.

Đẩy mạnh cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước đang thực hiện chức năng “kinh doanh”. Việc cổ phần hóa, thoái vốn sẽ tạo cơ hội để KTTN khai thác, sử dụng các nguồn lực thoái lui từ khu vực kinh tế nhà nước (ngành, lĩnh vực kinh doanh, vốn, tài nguyên, nhân lực, thị trường, v.v.), từ đó, thay thế doanh nghiệp nhà nước đầu tư vào những ngành, lĩnh vực mà pháp luật không cấm.

Phát triển kết cấu hạ tầng và nguồn nhân lực để nâng cao tính sẵn sàng về công nghệ cho khu vực KTTN. Phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng xương sống phục vụ phát triển kinh tế, như: mạng thông tin, internet, giao thông; xây dựng các trung tâm kiểm dịch, hệ thống hỗ trợ xây dựng thương hiệu và cấp chứng chỉ sản phẩm cho KTTN. Bên cạnh đó, đổi mới căn bản hệ thống giáo dục và đào tạo, gắn giáo dục – đào tạo với nhu cầu thị trường, đặc biệt chú trọng đào tạo nghề và đào tạo nhân tài.

– Công khai, minh bạch, công bằng về cơ hội, điều kiện đối với KTTN trong tiếp cận các nguồn lực (ngành, lĩnh vực kinh doanh, vốn, đất đai, tài nguyên, thị trường, các dự án, nhân lực, v.v..). Tăng tính liêm chính trong quản lý nhà nước và trong thực thi chính sách. Tăng cường giám sát và có chế tài nghiêm khắc để bảo đảm cơ hội, điều kiện đối với KTTN trong tiếp cận, sử dụng các nguồn lực và trong thực thi chính sách để phát triển bền vững KTTN và để KTTN trở thành động lực quan trọng của nền kinh tế.

 - Tăng cường hiệu quả công tác quản lý, kiểm tra, giám sát của Nhà nước đối với việc thực thi chủ trương, chính sách phát triển KTTN cũng như đối với các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Qua đó, kịp thời phát hiện những cơ chế, chính sách, giải pháp phục vụ phát triển khu vực KTTN chưa phù hợp để điều chỉnh, nhân rộng những cơ chế, chính sách hợp lý. Kịp thời xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật, ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của KTTN.

 

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 3-2020

(1) Nghị quyết số: 14-NQ/TW ngày 18-3-2002 của Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách khuyến khích và tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân.

(2) Tính toán từ số liệu của Cục Đăng ký kinh doanh, các năm 2017-2019.

(3) Tổng cục Thống kê các năm 2011-2017; Cục Đăng ký kinh doanh 2019.

(4) Ban Kinh tế Trung ương (2019): Diễn đàn kinh tế tư nhân Việt Nam.

(5) Tổng cục Thống kê: Tình hình kinh tế – xã hội quý IV và năm 2019.

(6) Tổng cục Thống kê: Kết quả tổng điều tra kinh tế năm 2017, Nxb Thống kê 2018, tr.29.

(7) Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2019): Hội nghị “Cải thiện năng suất lao động quốc gia”.

(8) Tổng cục Thống kê.

(9) Vinh Chi: Doanh nghiệp lớn của Việt Nam chỉ ngang bằng doanh nghiệp nhỏ của Philippines, https://vietnamfinance.vn, ngày 23-12-2019.

(10) Tính toán từ số liệu Tổng cục Thống kê các năm.

(11) Kinh tế 2018-2019 Việt Nam và Thế giới, tr.118.

(12) Doanh nghiệp nợ bảo hiểm xã hội: Khó xử lý – vì sao?, http: chúng tôi ngày 21-11-2019.

TS Nguyễn Thị Miền

Viện Kinh tế,

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Một Số Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế Biển Bền Vững

Kinh tế biển phát triển chưa xứng tầm

Việt Nam là một trong những nước có lợi thế về biển, có vị trí địa lý thuận lợi nằm trên đường hàng hải quốc tế, có cảng biển sâu, có điều kiện để phát triển hàng hải, hàng không, du lịch biển, đánh bắt, nuôi trồng thủy hải sản…Với chiều dài bờ biển 3.260 km, 1 triệu km2 vùng biển kinh tế đặc quyền rộng gấp 3 lần diện tích đất liền, có vị trí địa chính trị hết sức quan trọng với hơn 3.000 hòn đảo. Cả nước có 28 tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương có biển (trong đó có 10 tỉnh và thành phố có hải đảo, quần đảo) với tổng diện tích 208.560 km2 chiếm 41% diện tích cả nước và 41,2 triệu dân chiếm gần một nửa dân số Việt Nam.

Xuất phát từ những tiềm năng, lợi thế của biển đảo và yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội, bảo vệ chủ quyền an ninh và môi trường biển, Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) đã ban hành Nghị quyết về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 với mục tiêu Việt Nam trở thành quốc gia mạnh từ biển, giàu lên từ biển theo hướng phát triển bền vững, phấn đấu đóng góp khoảng 53-55% tổng GDP; 55-60% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước; giải quyết tốt các vấn đề xã hội, cải thiện thêm một bước đáng kể đời sống cho nhân dân vùng biển và ven biển.

Để thực hiện Chiến lược biển Việt Nam, từ năm 2008 Chính phủ đã ban hành và phê duyệt nhiều nghị quyết và quyết định trong chiến lược khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên và bảo vệ môi trường biển. Các ngành, các cấp, các doanh nghiệp đã xây dựng chiến lược, quy hoạch, chương trình hành động cho từng lĩnh vực và ở trên địa bàn của mình bước đầu triển khai có những kết quả đáng khích lệ. Các đảo lớn như: Côn Đảo, Phú Quốc, Trường Sa, Phú Quý, Lý Sơn, Cồn Cỏ, Cát Bà, Bạch Long Vĩ, Vân Đồn… đã được đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, hệ thống giao thông, mạng lưới điện, thông tin liên lạc, cung cấp nước ngọt, trường học, bệnh xá, bố trí lại dân cư, tham gia vào phát triển kinh tế, nông nghiệp, du lịch, công nghiệp dầu khí có bước phát triển nhanh; đồng thời, đảm bảo tốt công tác quốc phòng an ninh, hình thành hệ thống các khu công nghiệp, các cảng biển, cảng cá, khu du lịch từ Quảng Ninh cho đến Cà Mau…

Tuy nhiên, có thể đánh giá một cách tổng thể, sự phát triển của kinh tế biển, đảo ở nước ta chưa xứng tầm với các điều kiện và lợi thế sẵn có. Quy mô kinh tế biển của Việt Nam chỉ đạt khoảng hơn 10 tỷ USD, trong khi sản lượng kinh tế biển của thế giới ước 1.300 tỷ USD. Theo ước tính, quy mô kinh tế (GDP) biển và vùng ven biển Việt Nam bình quân đạt khoảng 47- 48% GDP cả nước, trong đó GDP của kinh tế “thuần biển” mới đạt khoảng 20-22% tổng GDP cả nước. Cơ sở hạ tầng các vùng biển, ven biển và hải đảo tuy đã được quan tâm đầu tư mới nhưng còn yếu kém. Hệ thống cảng biển nhỏ bé, manh mún, mạng lưới tàu thuyền còn lạc hậu…

Các cảng biển, mạng lưới vận tải đường không ở các vùng ven biển và trên một số đảo còn nhỏ bé, chưa đáp ứng được nhu cầu. Hệ thống các cơ sở nghiên cứu khoa học – công nghệ biển, đào tạo nhân lực cho kinh tế biển, các cơ sở quan trắc, dự báo, cảnh báo thời thiết, thiên tai, các trung tâm tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn… còn nhỏ bé, trang bị thô sơ. Ngành Du lịch biển vẫn thiếu những sản phẩm dịch vụ biển, đảo đặc sắc có tính cạnh tranh cao so với khu vực và quốc tế, chưa có các khu du lịch biển tổng hợp đạt trình độ quốc tế. Trình độ và hoạt động khai thác tài nguyên, các lợi thế của biển và hải đảo vẫn đang ở tình trạng lạc hậu so với khu vực. Nói cách khác, Việt Nam tuy là một quốc gia biển, song đến nay, chúng ta vẫn chưa thực sự phát huy được nhiều thế mạnh, tiềm năng của biển, đảo và vẫn chưa phải là quốc gia mạnh về biển.

Giải pháp phát triển kinh tế biển bền vững

Chiến lược biển Việt Nam chỉ rõ, đến năm 2020 kinh tế biển đóng góp khoảng 53-55% GDP, 55-60% kim ngạch xuất khẩu của cả nước, giải quyết tốt các vấn đề xã hội, cải thiện một bước đáng kể đời sống nhân dân vùng biển và ven biển. Trong tương lai gần, ngành Kinh tế biển sẽ giữ vai trò chủ yếu để đảm bảo cho nhu cầu đời sống của nhân dân, đảm bảo cho dân tộc ta giàu mạnh và phát triển. Do đó, cần nhìn nhận kinh tế biển, đảo một cách toàn diện, phát triển kinh tế biển, đảo theo hướng bền vững, bảo đảm quyền lợi lâu dài của đất nước theo hướng phấn đấu đưa nước ta trở thành quốc gia giàu mạnh về biển, đảo, bảo đảm vững chắc chủ quyền quốc gia trên biển.

Để phát triển kinh tế biển bền vững, nhiều chuyên gia cho rằng cần tập trung vào một số nhóm giải pháp sau:

Một là, nâng cao nhận thức cho toàn xã hội về chiến lược phát triển kinh tế biển gắn với phòng ngừa, thích ứng với biến đổi khí hậu và bảo vệ chủ quyền biển, đảo, xem đây là ba mặt của một vấn đề có quan hệ mật thiết với nhau.

Hai là, khẩn trương xây dựng đề án tái cơ cấu ngành kinh tế biển, các cơ chế, chính sách nhằm phát huy quyền chủ động của các ngành, các cấp, các địa phương và vùng lãnh thổ, có sự quản lý, tập trung của Trung ương, tạo nên bước đột phá về tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu theo hướng hiện đại, theo chiều rộng và chiều sâu. Bổ sung và hoàn chỉnh quy hoạch phát triển ngành theo nội dung mới gắn phát triển kinh tế biển với phòng ngừa thích ứng với biến đổi khí hậu và bảo vệ chủ quyền biển đảo trên tất cả các lĩnh vực đầu tư cơ sở hạ tầng, xây dựng tuyến đảo, hệ thống cảng biển, đô thị ven biển, các ngành dầu khí, đóng tàu, giao thông, du lịch, khai thác nuôi trồng thủy hải sản… Đồng thời, thúc đẩy liên kết hợp tác giữa các ngành, các địa phương và vùng lãnh thổ, hiện đại hóa các doanh nghiệp, các hợp tác xã, xây dựng các thương hiệu biển quốc gia, thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài và đầu tư tư nhân vào phát triển kinh tế biển…

Ba là, khẩn trương xây dựng chiến lược thích ứng cho sinh kế ven biển, bảo vệ môi trường sinh thái, xác định và tiếp cận cho từng lĩnh vực như: Vận tải biển, đánh bắt cá, nuôi trồng thủy sản, trồng trọt, chăn nuôi… có sự tham gia của đại diện các cơ quan ở địa phương, các chuyên gia kỹ thuật, các tổ chức quần chúng, các hộ gia đình, lập bản đồ về các mối hiểm nguy, kế hoạch lưu giữ nước ngọt, áp dụng cách tiếp cận vùng để quản lý tài nguyên thiên nhiên ven biển dựa trên cộng đồng. Huy động cộng đồng tham gia vào việc kiên cố hóa đê điều, khôi phục và phát triển rừng phòng hộ ven biển tạo hành lang bảo vệ đê biển, ngăn ngừa nước biển dâng và nước mặn lấn sâu vào đồng ruộng. Tổ chức các tổ đoàn kết, hợp tác xã vận tải trên biển, đánh bắt cá, nuôi trồng thủy hải sản… để có điều kiện hỗ trợ nhau trong sản xuất ứng phó với bão tố, sóng thần…

Bốn là, tăng cường đầu tư xây dựng mới và củng cố hệ thống đê biển vững chắc, kiện toàn hệ thống thông tin truyền thông, hệ thống cảnh báo sớm sóng thần và dự báo thời tiết, phát triển hệ thống rừng và rừng ngập mặn, trước mắt triển khai sớm hệ thống đê biển ở vùng thấp và vùng ngập nước. Ưu tiên giải quyết di dời cơ sở hạ tầng, dân cư ở những vùng có nguy cơ ngập nước, bổ sung lực lượng lao động có chất lượng cho huyện đảo và quần đảo.

Năm là, khẩn trương triển khai các đề tài nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực: Tuyển chọn, lai tạo giống cây lương thực, cây công nghiệp, giống nuôi thủy, hải sản… Đổi mới cơ cấu nghề nghiệp, phát triển các nghề mới thích ứng với các vùng mặn hóa, hạn hán, ngập nước; áp dụng công nghệ mới hiện đại vào các lĩnh vực khai thác khoáng sản, dầu khí, băng cháy, đóng tàu và chế biến các sản phẩm của biển… Tăng cường mở rộng hợp tác quốc tế trong các hoạt động nghiên cứu khoa học, đào tạo và chuyển giao công nghệ, thu hút các nguồn vốn ODA, nguồn vốn đầu tư trực tiếp của các nước…

Sáu là, gấp rút đào tạo và bồi dưỡng cán bộ nghiên cứu quản lý các ngành Kinh tế biển và cộng đồng cư dân ven biển không những có trình độ chuyên môn mà còn có kỹ năng ứng phó với biến đổi khí hậu và bảo vệ chủ quyền biển đảo, phấn đấu đến năm 2020 tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt trên 80%. Đồng thời, Chính phủ nên giao cho các ngành chức năng đưa nội dung giáo dục về kinh tế biển, biến đổi khí hậu, bảo vệ chủ quyền biển, đảo và chương trình giảng dạy ở các cấp học phổ thông, trung cấp, cao đẳng, đại học thuộc hệ chính quy về không chính quy.

Đề Tài Kinh Tế Tư Nhân Ở Việt Nam Hiện Nay: Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển

LỜI NÓI ĐẦU Với những cải cách từ năm 1990 cho phép sở hữu tư nhân và tư nhân hoạt động, kinh tế tư nhân ở Việt Nam đã tăng trưởng nhanh chóng, chủ yếu thông qua thành lập các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Đảng và Nhà nước ta đã có các chính sách để khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân rộng rãi trong những lĩnh vực pháp luật không cấm và tạo môi trường thuận lợi để kinh tế tư nhân phát triển trên những định hướng ưu tiên của Nhà nước như Luật Doanh nghiệp năm 1990, Nghị định 221/HBĐT ngày 23/7/1991, Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX, Nghị quyết Trung ương 9 khóa IX…. Vì vậy mà kinh tế tư nhân đã phát triển rộng khắp cả nước, đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế, huy động các nguồn lực xã hội vào sản xuất kinh doanh, tạo thêm việc làm, cải thiện đời sống của nhân dân, tăng thu ngân sách Nhà nước, góp phần ổn định chính trị xã hội của đất nước.Cùng với các thành phần kinh tế khác sự phát triển của kinh tế tư nhân đã góp phần giải phóng lực lượng lao động, thúc đẩy phân công lao động xã hội, chuyển dịch cơ cấu theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị trường định hướng Xã hội Chủ nghĩa, tăng thêm số lượng công nhân, lao động và doanh nhân Việt Nam, thực hiện các chủ trương xã hội hóa y tế, văn hóa, giáo dục… Tuy đã có những cải thiện nhưng trong quá trình phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam vẫn bộc lộ nhiều hạn chế như ít có khả năng tiếp cận với tín dụng và quyền sử dụng đất, trong việc tham gia và tiếp cận với thông tin và dịch vụ, ngoài ra còn chưa có sân chơi bình đẳng cho các loại hình kinh tế. Chính vì vậy mà chúng ta cần xem xét lại thực trạng của kinh tế tư nhân, cùng đề ra một số giải pháp để tạo điều kiện phát triển khu vực kinh tế tư nhân nói riêng và góp phần tăng trưởng nền kinh tế nhiều thành phần kinh tế ở Việt Nam nói chung. CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ KINH TẾ TƯ NHÂN. Khái niệm: Kinh tế tư nhân là thành phần kinh tế dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và có sử dụng lao động làm thêm. Khu vực kinh tế tư nhân ở nước ta bao gồm: kinh tế tư nhân trong nông nghiệp, trong công nghiệp, dịch vụ ở thành thị và nông thôn với hình thức cá thể tiểu chủ và tư bản tư nhân, hoạt động theo các loại hình hộ kinh doanh và doanh nghiệp tư nhân. Được đặt trong tổng thể phát triển nền kinh tế thị trường nhiều thành phần dưới sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước. Sự hình thành và tồn tại khách quan của kinh tế tư nhân: Trước đây cả nền kinh tế chỉ có hai thành phần kinh tế duy nhất là kinh tế duy nhất là kinh tế tập thể là hợp tác xã và kinh tế Nhà nước là các doanh nghiệp Nhà nước. Đến thời kỳ đổi mới, kinh tế tập thể đã bộc lộ những yếu kém của thời kỳ “hợp tác là nhà, xã viên là chủ” nhưng trên thực tế thì không ai là chủ, nhiều hợp tác xã đã phải giải thể và để lại những tồn đọng về công nợ xã viên và nghĩa vụ với Nhà nước. Doanh nghiệp Nhà nước cũng có nhiều đơn vị nằm trong tình trạng tương tự, sản xuất kinh doanh thì lãi giả, lỗ thật, nhiều đơn vị tồn tại bằng việc cho thuê mặt bằng nhà xưởng để hưởng địa tô chênh lệch. Những yếu kém đó đã làm triệt tiêu sức cạnh tranh của sản phẩm Việt Nam trên sân nhà. Để chấn chỉnh và nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp quốc doanh, Nhà nước đang thực hiện chủ trương cổ phần hóa, sắp xếp lại doanh nghiệp Nhà nước, số doanh nghiệp Nhà nước giảm dần chỉ còn lại những ngành nghề chủ đạo như: khai thác dầu khí, khai thác tài nguyên khoáng sản… những khu vực khó khăn mà các thành phần kinh tế tư nhân không đủ năng lực quản lý, không đủ vốn… Kinh tế tư nhân đóng vai trò rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế lịch sử phát triển của các nước CNTB hay XHCN trên thế giới đã chứng minh. Trong công cuộc đổi mới kinh tế vừa qua ở Việt Nam trong khi chủ trương xây dựng nền kinh tế định hướng xã hội chủ nghĩa đã coi trọng sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhânvà điều đó mang lại thành công ngoạn mục. Vai trò của kinh tế tư nhân: Đầu tư phát triển: Trong những năm đổi mới, vốn đầu tư của khu vực kinh tế tư nhân đã không ngừng tăng lên và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng đầu tư của toàn xã hội. Năm 2004, vốn đầu tư các doanh nghiệp dân doanh và hộ kinh doanh cá thể đang trở thành nguồn vốn đầu tư chủ yếu đối với sự phát triển kinh tế ở nhiều địa phương. Số vốn huy động được qua đăng ký thành lập mới và mở rộng quy mô kinh doanh tiếp tục tăng. Về đóng góp trong tổng sản phẩm trong nước: Kinh tế tư nhân có tốc độ phát triển nhanh hơn các thảnh phần kinh tế khác. Tốc độ tăng trưởng GDP trung bình của cả nước trong giai đoạn 1995-2000 là 6,9%, của khu vực tư nhân là 7,2%. Sau khi có Luật doanh nghiệp ra đời, kinnh tế tư nhân đạt tốc độ tăng trưởng GDP 8,6% năm 2000 (cả nước đạt 6,8%), các năm 2001 và 2002 đạt gần như ở tốc độ tăng gấp đôi so với tốc độ tăng trưởng bình quân cả nước, 13,2% năm 2001 so với cả nước 6,9% và 13,8% năm 2002 so với cả nước là 7%. Đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân vào tăng trưởng GDP tăng từ 36,6% năm 2000 lên 41,7% năm 2003 và khoảng 42%năm 2004. Năm 2004, kinh tế tư nhân đóng góp khoảng 49% GDP cả nước, chiếm khoảng 27% trong các ngành công nghiệp chế biến. Tạo việc làm: Năm 2004, số lao động làm việc trực tiếp trong các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân đã gần bằng tổng số lao động trong các doanh nghiệp Nhà nước. Doanh nghiệp ngoài quốc doanh góp phần giải quyết khoảng 1,6 – 2 triệu làm việc, trong đó doanh nghiệp vừa và nhỏ (chiếm 96% tổng số doanh nghiệp ngoài quốc doanh) đã thu hút 49% việc làm phi nông việc ở nông thôn, khoảng 25 -26% lực lượng lao động cả nước. Đóng góp vào ngân sách Nhà nước: Khu vực kinh tế tư nhân đang thu hút một khối lượng vốn ngày càng lớn của toàn xã hội, góp phần nâng cao nội lực, đẩy mạnh sự phát triển của sức sản xuất và có những đóng góp không nhỏ vào ngân sách nhà nước. Năm 1996 khu vực kinh tế tư nhân đóng góp cho ngân sách nhà nước 5242 tỷ đồng, năm 2000 là 5900 tỷ đồng và năm 2001 là 6370 tỷ đồng. Ngoài việc đóng góptrực tiếp vào ngân sách nhà nước, các thành phần kinh tế tư nhân, thông qua các tổ chức Hiệp hội, các tổ chức từ thiện đã đóng góp vào các công trình văn hoá, trường học, đường giao thông, nhà tình nghĩa… CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CỦA KINH TẾ TƯ NHÂN VIỆT NAM. Số doanh nghiệp ra đời và hình thành từ khi có chính sách mới: Từ 1991-1999 có 45000 doanh nghiệp đăng ký. Đặc biệt từ 1/1/2000 đến 9/2003 đã có 72601 doanh nghiệp đăng ký, đưa tổng số doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam đến tháng 9/2003 có khoảng 120000 doanh nghiệp đăng ký hoạt động. Số doanh nghiệp đăng ký trung bình hàng năm hiện nay bằng 3,75 lần so với trung bình của thời kỳ 1991-1999. Số doanh nghiệp mới đăng ký trong 4 năm (2000-2003) ước cao gấp 2 lần so với 9 năm trước đây (1991-1999). Ngoài các loại hình đăng ký kinh doanh theo Luật doanh nghiệp, trong 2 năm 2000-2001 còn có 300000 hộ kinh doanh cá thể đăng ký kinh doanh theo Nghị định 66, đến nay số hộ kinh doanh cá thể trên cả nước có đến hàng triệu hộ cùng với 2971 làng nghề trong cả nước. Theo ước tính của Bộ kế hoạch và đầu tư trong 5 năm 2001-2005 có 151004 doanh nghiệp của tư nhân đăng ký kinh doanh đưa tổng số doanh nghiệp ở nước ta cuối 2005 lên khoảng 20 vạn. Số lượng doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân thời kỳ 1992-2004: Năm 1992 1994 1995 1996 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 DN 5198 10881 15276 18894 26001 28700 41700 66780 88303 120000 150000 [3: trang 124] Về vốn đầu tư: Vốn đầu tư phát triển của khu vực kinh tế tư nhân năm 1996 chỉ đạt mức tăng 3,8% (trong khi mức tăng của cả nước là 14,9%), năm 2003 đã đạt mức tăng 25% cao hơn nhiều so với mức tăng cả nước là 18,4% và cao nhất trong số các thành phần kinh tế. Từ năm 2001 đến cuối 2004 tổng số vốn đăng ký mới và đăng ký bổ sung của các Doanh nghiệp kinh tế tư nhân đạt khoảng 197122 tỷ đồng, các trang trại đã thu hút được 11500 tỷ đồng, nhờ đó làm tăng tỷ trọng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội từ 23,5% năm 2001 lên 27,4% năm 2004. Mức vốn đăng ký trung bình 1 doanh nghiệp tăng nhanh, từ 570 triệu đồng/DN thời kỳ 1991-1999 lên 2015 tỷ đồng năm 2004. Doanh nghiệp có mức vốn đăng ký thấp nhất là 5 triệu đồng và cao nhất là khoàng 200 tỷ đồng. Số vốn đăng ký hàng năm của các doanh nghiệp tư nhân thời kỳ 1998-2004: Đơn vị tính: tỷ đồng Năm 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 Số vốn 8520 9790 13780 35575 51284 54212 71788 [3:trang 128] Về khoa học công nghệ, chuyển dịch cơ cấu: Cơ cấu kinh doanh của các doanh nghiệp tư nhân có những thay đổi theo hướng ngày càng mở rộng hoạt động kinh doanh trong những lĩnh vực thương mại dịch vụ. Theo điều tra của Viện nghiên cứu Qủan lý kinh tế trung ương, năm 1996 doanh nghiệp tư nhân hoạt động trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp chiếm 27%, lĩnh vực vận tải, kho bãi, thông tin liên lạc chiếm 9%, thương mại dịch vụ chiếm 38,8%, và các lĩnh vực khác chiếm 26%. Năm 2002, cơ cấu ngành nghề của khu vực tư nhân là: sản xuất công nghiệp 20,8%; nông lâm ngư nghiệp 12,4%; vận tải 8,3%; và thương mại dịch vụ 51,9%. Cơ cấu này cho thấy, phần lớn doanh nghiệp tư nhân hoạt động trong lĩnh vực thương mại dịch vụ, và tỷ lệ doanh nghiệp đầu tư trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp có xu hướng giảm. Giải quyết việc làm: Kinh tế tư nhân góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động. tính đến cuối năm 2000, khu vực kinh tế tư nhân đã thu hút trên 4,6 triệu người lao động, chiếm 70% tổng lao động xã hội trong khu vực sản xuất ngoài nông nghiệp. Nếu so với khu vực kinh tế nhà nước, thì số việc làm trong khu vực kinh tế tư nhân bằng 1,36 lần. Trong những năm gần đây, lao động trong khu vực tư nhân tăng rất nhanh. So với năm 1996, năm 2000 lao động của tòan khu vực của kinh tế tư nhân tăng 20,1%, trong đó lao động làm việc ở các doanh nghiệp tư nhân tăng 137,6%, ở các hộ cá thể tăng 8,3%. Trong hai năm 2000 và 2001, khu vực kinh tế tư nhân đã giải quyết khoản 650000 đến 750000 việc làm, chiếm khoảng 1/3 số lao động mới tăng thêm hàng năm trong nền kinh tế. Trong tương lai, số lao động trong khu vực kinh tế tư nhân sẽ tăng lên rất nhanh do Luật doanh nghiệp phát huy hiệu quả và do quy mô nhỏ, chi phí đào tạo lao động thấp và tốc độ tăng đột biến của các doanh nghiệp tư nhân. Hạn chế: Khu vực kinh tế tư nhân có quy mô nhỏ, tốc độ đầu tư cầm chừng và có xu hướng giảm tỷ trọng trong nền kinh tế. Có 95% tổng số doanh nghiệp tư nhân là các doanh nghiệp vừa và nhỏ; số doanh nghiệp dưới 100 triệu đồng chiếm khoảng gần 1/3. 80% doanh nghiệp tư nhân có số lao động dưới 50 người và doanh nghiệp nhà nước quy mô lao động hơn 200 người chiếm hơn 50% tổng số doanh nghiệp. Trong cơ cấu vốn đầu tư toàn xã hội, khu vực kinh tế tư nhân có xu hướng giảm từ 46,7% năm 1990 xuống 26,3% năm 2003 khi Luật doanh nghiệp ra đời.Cơ cấu kinh tế của Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào khu vực kinh tế Nhà nước vốn có hiệu quả đầu tư ngày càng thấp, trong khi những khu vực kinh tế có hiệu quả vốn cao nhất như khu vực kinh tế tư nhân lại chưa được chú trọng. Mức độ trang bị vốn, lao động của khu vực kinh tế tư nhân nhìn chung còn rất nhỏ. Trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp, các hộ cá thể chỉ có mức vốn là 11,4 triệu đồng/lao động, và các doanh nghiệp tư nhân là 63,2 triệu đồng/lao động. Đa phần vốn tư nhân bỏ ra là để thuê mặt bằng sản xuất, máy móc, các công cụ lao động và đựoc huy động chủ yếu nhờ các nguồn vốn phi chính thức như vay mượn bạn bè, thân thích. Do vậy 90% doanh nghiệp tư nhân là sử dụng công nghệ lạc hậu, hoạt động trên những lĩnh vực cần rút vốn về ngay để quay vòng vốn nhanh. Tại TP. Hồ Chí Minh 37,7% doanh nghiệp tư nhân đang sản xuấtthủ công, 43,2 % bán cơ khí, bán tự động. Tỷ lệ đầu tư thấp nên đóng góp vào ngân sách nhà nước chưa cao. Nhiều doanh nghiệp tư nhân chưa thực hiện tốt những quy định của pháp luật về lao động, hợp đồng lao động, chế độ bảo hiểm, giờ làm việc… đối với người lao động. Tình trạng trốn thuế, buôn lậu, kinh doanh trái phép vẫn diễn ra tràn lan. Trình độ quản lý của chủ doanh nghiệp, đa số chưa qua các hình thức đào tạo. Khảo sát ở thành phố Hồ Chí Minh cho thấy 42,1% giám đốc doanh nghiệp tư nhân không có bằng cấp kinh doanh. Nguyên nhân: Cơ chế và bộ máy hành chính quan liêu, cơ cấu quản lý phức tạp làm cho việc ra đời và phát triển các doanh nghiệp tư nhân còn gặp nhiều khó khăn. Hệ thống các văn bản pháp luật quá phức tạp và phân biệt đối xử giữa doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân, giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài. Thủ tục hành chính rườm rà và quá nhiều quy định cũng là một trở ngại, không những tạo ra khẽ hở cho nạn tham nhũng, mà còn cản trở đầu tư tư nhân. Việc phân định các thành phần kinh tế của Việt Nam trong các văn kiện đại hội Đảng cũng cho thấy sự phân biệt giữa kinh tế tư nhân và kinh tế nhà nước. Kể từ Đại hội Đảng lần thứ VIII đến nay, thuật ngữ kinh tế tư nhân không được nhắc đến khi phân chia các thành phần kinh tế. Điều này đang gây ra tâm lý e ngại của đông đảo quần chúng nhân dân về sự phát triển của thành phần kinh tế tư nhân, làm nản ý chí đầu tư lớn và lâu dài. Người lao động trong các doanh nghiệp tư nhâncòn mặc cảm, chưa thục sự cống hiến hết khả năng của mình cho sự phát triển chung của doanh nghiệp. Các cơ chế chính sách phát triển thành phần kinh tế tư nhân chưa đồng bộ, chưa nhất quán, gây những khó khăn, vướng mắc nhất định cho các doanh nghiệp tư nhân. Chẳng hạn, những quy định về việc vay vốn của các doanh nghiệp không có tài sản thế chấp là phải bảo đảm có lãi trong hai năm liền là không phù hợp với những doanh nghiệp mới thành lập. Những thay đổi thường xuyên về chính sách thuế nhập khẩu cũng gây bị động và thiệt hại cho các doanh nghiệp tư nhân. Khung giá nhà đất để định giá tài sản thế chấp chưa phù hợp và chưa được thị trường hoá. Những quy định về thuế thu nhập doanh nghiệp đang gặp nhiều vướng mắc về xác định chi phí hợp lý để tính thuế dẫn đến xác định lợi nhuận không thực tế. Thuế giá trị gia tăng còn tạo nhiều sơ hở cho việc trốn, lậu thuế. Chế độ kế toán, kiểm toán còn nhiều phức tạp, không phù hợp và thiếu linh hoạt khi áp dụng cho các loại hình doanh nghiệp nhỏ. Các doanh nghiệp tư nhân còn gặp rất nhiều khó khăn trong việc vay tín dụng ưu đãi vì không hiểu biết về thủ tục và hoàn htiện hồ sơ vay… Tất cả những khó khăn đó đang là lực cản đối với các doanh nghiệp tư nhân khi tham gia hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh ở Việt Nam. CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN: Chuyển đổi chức năng của Nhà nước: Trả lại quyền quản lý sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp, bảo đảm cho doanh nghiệp thực sự trở thành đơn vị sản xuất hàng hóa kinh doanh tự chủ, tự hoạch toán lãi lỗ, bảo đảm cho doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đều bình đẳng trong thị trường, tăng cường quản lý vĩ mô của Nhà nước để đưa hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phù hợp yêu cầu của kinh tế vĩ mô. Chuyển quản lý trực tiếp sang quản lý gián tiếp, tách bạch giữa Nhà nước với doanh nghiệp. Nhà nước chỉ cần định hướng phục vụ, giám sát kiểm tra, khuyến khích cạnh tranh lành mạnh và kiểm soát độc quyền kinh doanh. Quản lý theo ngành nghề, xóa bỏ phân biệt doanh nghiệp trung ương hay doanh nghiệp địa phương. Thiết kế chức năng, nhiệm vụ của cán bộ,công chức, thực hiện nghiêm chế độ công vụ, kỷ luật nghiêm minh những cán bộ, công chức thoái hóa nhũng nhiễu gây khó cho doanh nghiệp. Tiếp tục đổi mới thể chế kinh tế: Thể chế kinh tế phải đảm bảo thúc đẩy sự hình thành, phát triển và từng bước hoàn thiện của các loại thị trường. Phải có những quy phạm pháp lý áp dụng chung cho các thành phần kinh tế, tạo sân chơi bình đẳng, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật thống nhất cho các loại hình tổ chức kinh doanh. Tiếp tục xóa bỏ thể chế kế hoạch tập trung quan liêu bao cấp, giảm bớt và đi đến xóa bỏ sự can thiệp trực tiếp của cơ quan chức năng vào hoạt động sản xuất của doanh nghiệp. Thực hện hoạt động quản lý theo phương thức gián tiếp, chủ yếu là hệ thống quy phạm pháp luật, xóa bỏ cơ chế xin – cho. Hết sức chú trọng nội dung bảo hộ quyền tự do kinh doanh của người dân và doanh nghiệp trong các văn bản quy phạm pháp luật và khuyến khích cạch tranh lành mạnh. Chỉ có Quốc hội và Chính phủ (khi được Quốc hội giao) mới được ban hành các giấy phép kinh doanh và điều kiện kinh doanh. Cụ thể như: Cải cách thuế và hải quan: sửa đổi, bổ sung các chính sách thuế theo hướng giảm bớt chồng chéo trong các luật thuế, giảm bớt các sắc thuế. Cơ quan thuế và hải quan phải đồng hành cùng doanh nghiệp, giúp daonh nghiệp tháo gỡ khó khăn trong sản xuất kinh doanh… Cải cách tiền lương và giá cả nâng cao sức mua của đồng tiền Việt Nam: tiền lương trả phải đúng số lượng, chất lượng và theo cấp bậc của người lao động, tốc độ tăng tiền lương luôn cao hơn tốc độ tăng giá các sản phẩm hàng hoá, dịch vụ, giảm giá các mặt hàng thiết yếu và dịch vụ công cộng. Cấp sổ lao động cho người lao động: ghi về bản thân người lao động, những nhận xét về phẩm chất đạo đức, năng lực của người lao động do người sử dụng lao động ghi. Điều này làm cho người lao động tự ý thức việc nâng cao tay nghề, năng lực công tác và quyền lợi được đảm bảo hơn. Tuy nhiên thủ tục không nên ròm rà để không sinh ra tiêu cực. Xoá bỏ cơ quan chủ quản Nhà nước: để cho doanh nghiệp tự thân vận động theo các quy luật kinh tế khách quan, giảm sự can thiệp của Nhà nước. Cài cách công tác thanh tra, kiểm tra và hậu kiểm tra doanh nghiệp. Tạo sân chơi bình đẳng giữa các thành phần kinh tế: mở rộng điều kiện cho phép mọi thành phần kinh tế tham gia, cải tiến những quy định về thủ tục xuất cảnh. Nâng cao chất lượng công tác cho quy hoạch: Quy hoạch phải bảo đảm cụ thể hóa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới toàn diện công tác kế hoạch hóa và thực hiện thành công chiến lược phát triển kinh tế – xã hội. Quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội, quy hoạch xây dựng và quy hoạch sử dụng đất phải thống nhất và liên thông, trong đó lấy quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội làm cơ sở và đặt trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ và thị trường; đồng thời phải căn cứ vào lợi thế kinh tế, khả năng cạnh tranh của từng sản phẩm, từng lĩnh vực và của từng vùng. Quy hoạch phải dân chủ và công khai, coi trọng chỉ đạo xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch; coi quy hoạch là cơ sở xuất phát để xây dựng các kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của ngành, của địa phương. Cần thể chế hoá công tác quy hoạch, bằng việc xây dựng một văn bản quy phạm pháp luật, tạo hành lang pháp lý cho việc xây dựng và quản lý thống nhất các quy hoạch tổng thể cũng như các quy hoạch chi tiết ở các cấp. Tăng cường công tác kiểm tra thực hiện quy hoạch; khắc phục tình trạng “quy hoạch treo”, có khi kéo dài nhiều năm, ảnh hưởng đến đời sống của nhân dân. Phát triển kết cấu hạ tầng theo quy hoạch là điều kiện quan trọng hàng đầu phục vụ cho đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá va sự phát triển sản xuất, kinh doanh của các thành phần kinh tế. Nhiệm vụ này đòi hỏi vốn đầu tư lớn, phải huy động mọi nguồn lực, trong đó quan trọng nhất phải dựa vào nguồn vốn đầu tư của Nhà nước. Hỗ trợ phát triển: Nhà nước khuyến khích phát triển doanh nghiệp tư nhân bằng các chính sách hỗ trợ: giúp đỡ việc tạo mặt bằng sản xuất kinh doanh bằng chính sách đất đai và các đều kiện về kết cấu hạ tầng; vốn tín dụng bằng các chính sách và hình thức thích hợp cho doanh nghiệp tư nhân có thể vay vốn phát triển; ứng dụng khoa học và công nghệ: Nhà nước đầu tư công nghệ mới, áp dụng hình thức khuyến công, ứng dụng công nghệ mới, hỗ trợ việc đào tạo cán bộ, chuyên gia vận hành…;hỗ trợ thông tin, tiếp thị bằng cách tạo điều kiện thuận lợi cho nối mạng thông tin, phát triển dịch vụ thông tin, hỗ trợ các hoạt động xúc tiến thương, nâng cao năng lực thông tin, tiếp thịcủa doanh nghiệp và Hiệp hội nhưng không làm thay. Áp dụng các chính sách ưu đãi đối với các lĩnh vực, ngành nghề cần khuyến khích bằng chính sách thuế, tín dụng và các hình thức khen thưởn

Vai Trò Và Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế Tư Nhân Ở Việt Nam Hiện Nay

MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 2 I. BẢN CHẤT VÀ VAI TRề CỦA KINH TẾ TƯ NHÂN 3 1. Bản chất của kinh tế tư nhõn 3 2. Tớnh tất yếu tồn tại kinh tế tư nhõn ở Việt Nam 4 3. Vai trũ của kinh tế tư nhõn 8 II. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN 13 1. Thực trạng phỏt triển 13 2. Nguyờn nhõn 18 III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN 19 1. Những thuận lợi và khú khăn trong phỏt triển kinh tế tư nhõn 19 2. Một số giải phỏp phỏt triển kinh tế tư nhõn 22 2.a Cỏc vấn đề kinh tế vĩ mụ 22 2.b Cỏc vấn đề kinh tế vi mụ 27 IV. KẾT LUẬN 29 LỜI MỞ ĐẦU Trong xu thế toàn cầu húa hiện nay,đặc biệt là vấn đề hội nhập nền kinh tế thế giới đó và đang đặt ra những cơ hội cũng như những thỏch thức đối với nền kinh tế Việt Nam.Việt Nam đó và đang cú những bước tiến vững chắc trong việc phỏt triển nền kinh tế thị trường địng hướng xó hội chủ nghĩa,hội nhập cựng thế giới bằng việc phỏt huy nội lực đồng thời tranh thủ cỏc nguồn lực bờn ngoài thụng qua việc phỏt huy sức mạnh của cỏc thành phần kinh tế.Trong đú phải kể đến sự đúng gúp quan trọng của thành phần kinh tế tư nhõn trong việc phỏt triển nền kinh tế. Hội nghị lần thứ 5 ban chấp hành trung ương khúa IX khẳng định: “kinh tế tư nhõn là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dõn.Phỏt triển kinh tế tư nhõn là vấn đề chiến lược lõu dài trong phỏt triển kinh tế nhiều thành phần định hướng xó hội chủ nghĩa”. Vậy trong việc phỏt triển kinh tế Việt Nam thành phần kinh tế tư nhõn đó cú vai trũ như thế nào? Hay tại sao Việt Nam lại phải phỏt triển kinh tế tư nhõn trong khi chỳng ta muụn hướng tới một xó hội xó hội chủ nghĩa nơi sở hữu tư liệu sản xuất là của tập thể.Việc xỏc định đỳng vai trũ của kinh tế tư nhõn và con đường đỳng đắn cho sự phỏt triển của thành phần kinh tế này là việc làm cấp thiết hiện nay, bởi vỡ hiện nay toàn cầu húa là một xu thế phỏt triển tất yếu trong tiến trỡnh phỏt triển của nhõn loại, chỳng ta khụng muốn bị cuốn vào vũng xoỏy dú một cỏch thụ động thỡ chỳng ta phải biết phỏt huy sức mạnh của cỏc thành phần kinh tế trong đú cú thành phần kinh tế tư nhõn, nú là một mắt xớch quan trọng trong việc nối kết nền kinh tế thị trường Việt Nam với nền kinh tế thị trường thế giới. Vỡ vậy em xin làm rừ về vai trũ của kinh tế tư nhõn ở Việt Nam và thực trạng phỏt triển của thành phần kinh tế này trong thời gian qua cũng như xin đưa ra một số ý kiến về giải phỏp phỏt triển thành phần kinh tế này. vai trò và giải pháp phát triển kinh tế tư nhân ở việt nam hiện nay I. BẢN CHẤT VÀ VAI TRề CỦA KINH TẾ TƯ NHÂN 1. BẢN CHẤT CỦA KINH TẾ TƯ NHÂN: Việt Nam đang trong giai đoạn quỏ độ lờn chủ mghĩa xó hội, việc đổi mới đường lối phỏt triển kinh tế xó hội trong thời gian qua đó đem lại cho chỳng ta những bước tiến vượt bậc. Chỳng ta chấp nhận mở cửa hội nhập với thế giới, xõy dựng đường lối phỏt triển kinh tế thị trường định hướng xó hội chủ nghĩa, phỏt huy nội lực đồng thời tranh thủ cỏc nguồn lực bờn ngoài để xõy dựng và phỏt triển kinh tế đất nước. Việc xõy dựng đường lối phỏt triển kinh tế như vậy là sự phự hợp với thực tế khỏch quan hiện nay ( phự hợp với điều kiện thực tế của kinh tế Việt Nam hiện nay và quỏ trỡnh toàn cầu húa đang diễn ra như một điều tất yếu trong quỏ trỡnh phỏt triển của lịch sử) vỡ vậy đó mang lại cho chỳng ta những thành tựu đỏng kể. Trong kết quả chỳng ta cú hụm nay phải kể đến sự đúng gúp ngày càng quan trọng vào sự phỏt triển kinh tế xó hội Việt Nam của khu vực kinh tế tư nhõn nhất là sau khi cú sự đổi mới đường lối phỏt triển kinh tế của Đảng và Nhà nước. Kinh tế tư nhõn là một loại hỡnh Kinh tế dựa trờn sở hữu tư nhõn về tư liệu sản xuất, gắn liền với lao động cỏ nhõn người chủ sở hữu và lao động làm thuờ. Kinh tế tư nhõn ra đời, tồn tại và phỏt triển trong những điều kiện kinh tế xó hội nhất định, do trỡnh độ phỏt triển của lực lượng sản xuất quyết định. Như vậy bản chất của lọai hỡnh kinh tế này đú là dựa trờn sở hữu tư nhõn về tư liệu sản xuất. Người sở hữu tư liệu sản xuất là người chủ và họ luụn cú xu hướng tối đa húa lợi ớch mà mỡnh thu được vỡ vậy họ phải búc lột sức lao động của cụng nhõn làm thuờ. Mỗi phương thức sản xuất cú một quy luật kinh tế tuyệt đối, quy luật phản ỏnh mối quan hệ kinh tế bản chất nhất của phương thức sản xuất đú. Trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa thỡ chế tạo ra giỏ trị thặng dư là quy luật tuyệt đối của nú. Thật vậy giỏ trị thặng dư, phần giỏ trị mới dụi ra ngoài giỏ trị sức lao động của cụng nhõn làm thuờ tạo ra và bị nhà tư bản chiếm đoạt phản ỏnh mối quan hệ kinh tế bản chất nhất của chủ nghĩa tư bản – quan hệ búc lột lao động làm thuờ. Mục đớch của sản xuất tư bản chủ nghĩa khụng phải là giỏ trị sử dụng mà là sản xuất ra giỏ trị thặng dư, là nhõn giỏ trị lờn. Theo đuổi giỏ trị thặng dư tối đa là mục đớch và động cơ thỳc đẩy sự hoạt động mỗi nhà tư bản, cũng như toàn bộ xó hội tư bản. Cỏc nhà tư bản luụn được bộ mỏy chớnh quyền tư bản bảo vệ lợi ớch nờn họ đó tỡm đủ mọi cỏch để búc lột giỏ trị thặng dư như tăng cường độ lao động, kộo dài thời gian lao động, tăng năng suất lao động… Chủ nghĩa tư bản ngày nay tuy cú những điều chỉnh nhất định về hỡnh thức sỏ hữu,quản lớ, phõn phối để thớch nghi với điều kiện mới nhưng về bản chất thỡ khụng thay đổi. Nhà nước tư bản hiện nay tuy cú tăng cường can thiệp vào đời sống kinh tế xó hội nhưng về cơ bản nú vẫn là bộ mỏy thống trị của giai cấp tư sản. Xột trong điều kiện quỏ độ lờn chủ nghĩa xó hội ở Việt Nam hiện nay thỡ kinh tế tư nhõn chịu sự kiểm soỏt quản lý của nhà nước xó hội chủ nghĩa nờn khụng cũn hoàn toàn giống như kinh tế tư nhõn trong xó hội tư bản chủ nghĩa. Khỏi niệm kinh tế tư bản tư nhõn chỉ xuất hiện gắn liền với sự hỡnh thành và phỏt triển phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Quỏ trỡnh đổi mới ở nước ta với sự xuất hiện và phỏt triển cỏc loại hỡnh doanh nghiệp của tư nhõn khụng đồng nghĩa với sự xuất hiện trở lại của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa và giai cấp tư sản. Cỏc loại hỡnh doanh nghiệp tư nhõn hoạt động theo luật doanh nghiệp ở nước ta, được hỡnh thành và phỏt triển trong điều kiện cú sự lónh đạo của Đảng cộng sản, chịu sự quản lý của Nhà nước xó hội chủ nghĩa, phục vụ cho sự nghiệp đổi mới, được nhà nứơc khuyến khớch và bảo vệ khụng hoàn toàn do quy luật giỏ trị thặng dư chi phối. Hơn nữa cỏc loại hỡnh doanh nghiệp của tư nhõn và đội ngũ doanh nhõn ở nước ta được hỡnh thành và phỏt triển trong điều kiện mới, khụng hàm chứa tớnh chất giai cấp hay bản chất tư bản như dưới xó hội tư bản điều này được chứng minh là đó cú rất nhiều doanh nhõn là đảng viờn. Cỏc doanh nghiệp của tư nhõn nước ta đại diện cho một lực lựơng sản xuất mới, là một trong những động lực thỳc đẩy tăng trưởng kinh tế, phỏt triển nền kinh tế thị trường định hướng xó hội chủ nghĩa. Kinh tế tư nhõn bao gồm kinh tế cỏ thể, tiểu chủ, tư bản tư nhõn… 2.TÍNH TẤT YẾU TỒN TẠI KINH TẾ TƯ NHÂN Ở VIỆT NAM: * Quan điểm về kinh tế tư nhõn của Đảng trước khi đổi mới (1986) Kinh tế tư nhõn là đối tượng chớnh phải cải tạo, xúa bỏ. Vỡ kinh tế tư nhõn luụn đồng nghĩa với làm ăn cỏ thể búc lột, tự phỏt lờn con đường chủ nghĩa tư bản, vỡ thế kinh tế tư nhõn khụng thể là một chủ thể kinh tế để xõy dựng chr nghĩa xó hội. Sau cỏch mạng dõn tộc dõn chủ ở nước ta thỡ Đảng và Nhà nước đứng trước hai hỡnh thức sở hữu tư nhõn về tư liệu sản xuất là sở hữu tư nhõn của những người sản xuất nhỏ(cỏ thể, thợ thủ cụng, tiểu thương…) và sở hữu tư nhõn của giai cấp tư sản dõn tộc Việt Nam. Đối với sở hữu tư nhõn của những ngừơi sản xuất nhỏ thỡ Nhà nước cải tạo bằng con đường vận động thuyết phục để đưa họ vào làm ăn tập thể. Cũn đối với sở hữu tư nhõn của giai cấp tư sản dõn tộc thỡ Nhà nước phõn làm hai đối tựơng, một đối tượng đú là cỏc nhà tư sản dõn tộc nhưng cú cụng với cỏch mạng và khỏng chiến thỡ Nhà nước cải tạo hũa bỡnh bằng cỏch chuộc lại hay chưng mua rồi sau đú chuyển thành sở hữu Nhà nước (sau đú vận động họ kết hợp với nhà nước để kinh doanh hỡnh thành cỏc xớ nghiệp cụng tư hợp doanh) Đối với nhà tư sản làm tay sai cho đế quốc phong kiến thỡ Nhà nước cải tạo bằng cỏch quốc hữu húa hay tịch thu toàn bộ tài sản biến thành sở hữu Nhà nước. Tuy nhiờn trong giai đoạn này ngay cả ở trong nghiệp là nơi diễn ra quỏ trỡnh xúa bỏ tư nhõn mạnh nhất nhưng sở hữu tư nhõn vẩn cũn tồn tại,trong thời gian này những ngừơi khụng vào tập thể hợp tỏc xó, làm ăn cỏ thể, tiểu thương… thường khụng được coi trọng, bị phõn biệt trong nhiều việc. * Từ sau đại hội VI kinh tế tư nhõn được thừa nhận tồn tại khỏch quan lõu dài cú lợi cho quốc kế dõn sinh trong thời kỳ quỏ độ lờn chủ nghĩa xó hội. Hội nghị lần thứ 5 BCH trung ương khúa IX khẳng định: ” Kinh tế tư nhõn là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dõn. Phỏt triển kinh tế tư nhõn là vấn đề chiến lược lõu dài trong phỏt triển kinh tế nhiều thành phần định hướng xó hội chủ nghĩa”. Tuy nhiờn trong thời kỳ hiện nay về mặt tõm lý vẫn cũn nhiều người nghi ngờ về tầm quan trọng của khu vực kinh tế tư nhõn, họ vẫn giữ quan niệm cũ trước đổi mới cho rằng khụng nờn phỏt triển kinh tế tư nhõn, kinh tế tư nhõn đi liền với sự búc lột của tư bản, kinh tế tư nhõn là một rào cản trong con đường đi lờn chủ nghĩa xó hội của chỳng ta. Điều này đó tạo nờn tõm lý lo ngại cho một bộ phận khụng nhỏ trong xó hội và tạo thành một rào cản về mặt tõm lý trong việc xõy dựng phỏt triển kinh tế tư nhõn theo đường lối chủ trương của Đảng và Nhà nước. Việc Đảng và Nhà nước ta chủ trương xõy dựng phỏt triển nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xó hội chủ nghĩa là một việc làm đỳng đắn, thể hiện tầm nhỡn sõu, rộng, xuyờn suốt của Đảng. Việc xõy dựng đường lối chủ trương của Đảng đó gắn với thực tế, xuất phỏt từ thực tế phự hợp với điều kiện và tỡnh hỡnh phỏt triển của Việt Nam. Xuất phỏt từ thực tế thỡ nhà nước ta đó khuyến khớch phỏt triển kinh tế tư nhõn trong gần 20 trở lại đõy vỡ sự tồn tại phỏt triển của kinh tế tư nhõn hay phỏt triển nền kinh tế thị trường trong thời kỳ quỏ độ đi lờn chủ nghĩa xó hội ở Việt Nam hiện nay là một sự tất yếu khỏch quan xuất phỏt từ những lý do sau: Thứ nhất: phự hợp với thực trạng của lực lượng sản xuất phỏt triển chưa đồng đều ở Việt Nam. Đặc điểm to lớn nhất của thời kỳ quỏ độ lờn chủ nghĩa xó hội ở Việt Nam là điểm xuất phỏt rất thấp, sản xuất nhỏ là phổ biến, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Điều đú cú nghĩa là trỡnh độ của lực lượng sản xuất ở nước ta cũn rất thấp kộm và do đú sở hữu tư nhõn về tư liệu sản xuất vẫn cũn phự hợp với trỡnh độ của lực lượng sản xuất, là nhõn tố thỳc đẩy sự phỏt triển của lực lượng sản xuất. Bởi vậy trong giai đoạn đầu của thời kỳ quỏ độ lờn chủ nghĩa xó hội ở Việt Nam, sở hữu tư nhõn về tư liệu sản xuất chẳng những khụng cần phải xúa bỏ mà cũn cần được tạo mọi điều kiện để phỏt triển. Trỡnh độ lực lượng sản xuất của chỳng ta khụng những cũn rất thấp kộm mà cũn phỏt triển khụng đồng đều cú nhiều trỡnh độ khỏc nhau do đú trong nền kinh tế tồn tại nhiều loại hỡnh sở hữu khỏc nhau về tư liệu sản xuất dẫn đến tồn tại nhiều thành phần kinh tế. Trong lịch sử mỗi phương thức sản xuất cú một loại hỡnh sở hữu tư liệu sản xuất đặc trưng nhưng điều đú khụng cú nghĩa là mỗi phương thức sản xuất chỉ cú một hỡnh thức sở hữu tư liệu sản xuất mà cú thể cú nhiều loại hỡnh sở hữu tư liệu sản xuất khỏc nhau cựng tồn tại. Sự xuất hiện của cỏc hỡnh thức sở hữu tư liệu sản xuất do tớnh chất và trỡnh độ phỏt triển của cỏc lực lượng sản xuất quy định, lực lượng sản xuất khụng ngừng vận động biến đổi làm cho quan hệ sản xuất cũng khụng ngừng vận động biến đổi, tương ứng với mỗi trỡnh độ phỏt triển của lực lượng sản xuất sẽ cú một kiểu quan hệ sản xuất. Do vậy sự chủ quan núng vội duy ý chớ trong việc xúa bỏ sở hữu tư nhõn, xỏc lập sở hữu cụng cộng về tư liệu sản xuất đều trỏi với yờu cầu của quy luật quan hệ sản xuất phải phự hợp với tớnh chất trỡnh độ phỏt triển của lực lượng sản xuất và phải trả giỏ. Điều này đó được thực tế ở Việt Nam trong những năm sau khi giành độc lập đến 1986 chứng minh. việc xúa bỏ vội vàng sở hũu tư nhõn, phỏt triển kinh tế kế hoạch húa tập trung đó làm cho kinh tế Việt Nam trỡ trệ, lõm vào khủng hoảng, lạm phỏt tăng cao…Vỡ vậy từ một nền sản xuất nhỏ với nhiều loại hỡnh sở hữu khụng thể tiến thẳng lờn chủ nghĩa xó hội thụng qua việc xúa bỏ chế độ tư hưu ngay. Thứ hai: trong quỏ trỡnh phỏt triển do điều kiện lịch sử đó để lại nhiều thành phần kinh tế như thành phần kinh tế tư nhõn, thành phần kinh tế cỏ thể tiểu chủ, thành phần kinh tế tự nhiờn của đồng bào dõn tộc ở dẻo cao phớa bắc và tõy nguyờn… mà chỳng ta khụng thể cải biến nhanh được. Hơn nữa sau nhiều năm cải tạo và xõy dựng quan hệ sản xuất mới mới đó xuất hiện thờm một số thành phần kinh tế mới: thàh phần kinh tế Nhà nước,thành phần kinh tế tập thể, thành phần kinh tế tư bản nhà nước… cỏc thành phần kinh tế này tồn tại khỏch quan và cú quan hệ với nhau. Thứ ba: phỏt triển kinh tế nhiều thành phần là phự hợp với xu thế phỏt triển kinh tế khỏch quan của thời đại ngày nay, thời đại cỏc nước hướng về phỏt triển kinh tế thị trường cú sự quản lý vĩ mụ của Nhà nước. Quỏ trỡnh toàn cầu húa kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ trờn toàn thế giới, đõy là quỏ trỡnh phỏt triển tất yếu của lịch sử nhõn loại, nú tỏc động đến tất cả cỏc quốc gia trờn thế giới. Việc phỏt triển kinh tế thị trường sẽ giỳp Việt Nam cú những cơ hội to lớn để thỳc đẩy phỏt triển kinh tế trong quỏ trỡnh hội nhập với thế giới. Chỳng ta đang đàm phỏn để được gia nhập tổ chức WTO vỡ vậy nếu chỳng ta khụng phỏt triển thị trường thỡ chỳng ta sẽ khụng thể cạnh tranh được với cỏc nước trờn thế giới, dẫn tới việc lạc hậu, bị cuốn theo vũng xoỏy của toàn cầu húa. Thứ tư: phỏt triển kinh tế nhiều thành phần phự hợp với lũng mong muốn thiết tha của người dõn Việt Nam là được đem hết tài năng, sức lực để lao động làm giàu cho đất nước và cho cả bản thõn mỡnh, làm cho cuộc sống ngày càng ấm no hạnh phỳc. Thứ năm: phỏt triển kinh tế nhiều thành phần cho phộp khai thỏc cú hiệu quả nhất cỏc tiềm năng hiện cú và đang cũn tiềm ẩn trong nước, cú thể tranh thủ tốt nhất sự giỳp đỡ từ bờn ngoài nhằm phỏt triển kinh tế hướng vào mục tiờu tăng trưởng nhanh và hiện đại húa. Chỉ cú phỏt triển nhiều thành phần kinh tế chỳng ta mới cú khả năng huy động mọi tiềm năng về vốn, kỹ thuật, tiềm năng về con người, mới cú thể ỏp dụng nhanh chúng cỏc thành tựu khoa học kỹ thuật để phỏt triển kinh tế và xõy dựng đất nước. Thứ sỏu: phỏt triển kinh tế nhiều thành phần mới cú khả năng giải quyết được vấn đề việc làm của chỳng ta. Nước ta cũn cú lực lượng lao động dồi dào (hơn 40 triệu lao động) cần cự thụng minh, song số người chưa cú việc làm hay thiếu việc làm cũn nhiều, vừa lóng phớ sức lao động, vừa gõy ra những khú khăn lớn về kinh tế xó hội ( thất nghiệp, tệ nạn…) Trong khi khả năng thu hỳt lao động của khu vực kinh tế nhà nước khụng nhiều thỡ việc khai thỏc, tận dụng tiềm năng của cỏc thành phần kinh tế khỏc là một trong những giải phỏp quan trọng để tạo thờm nhiều cụng ăn việc làm cho người lao động. Từ những lý do phõn tớch như trờn chỳng ta cú thể thấy việc Đảng và Nhà nước chủ trương phỏt triển kinh tế nhiều thành phần cú sự quản lý của Nhà nước là việc làm hết sức đỳng đắn phự hợp với thực tế, mong muốn của người dõn và lựa chọn đỳng con đường phỏt triển giữ vững định hướng xó hội chủ nghĩa. 3. VAI TRề CỦA KINH TẾ TƯ NHÂN: Hội nghị lần thứ 5 BCH trung ương khúa IX đó khẳng định: “Kinh tế tư nhõn là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dõn. Phỏt triển kinh tế tư nhõn là vấn đề chiến lược lõu dài trong phỏt triển kinh tế nhiều thành phần định hướng xó hội chủ nghĩa…” Điều này chứng tỏ tầm quan trọng của kinh tế tư nhõn đó được Đảng khẳng định và trờn thực tế khu vực kinh tế tư nhõn cũng đó và đang thể hiện được vai trũ của mỡnh trong nền kinh tế, và ngày càng cú những đúng gúp quan trọng trong nền kinh tế, khu vực kinh tế tư nhõn đang thực sự trở thành một động lực mạnh mẽ cho sự phỏt triển kinh tế xó hội ở nước ta. * Khu vực kinh tế tư nhõn đúng gúp vào tăng trưởng của tổng sản phẩm trong nước GDP và thỳc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tổng sản phẩm của khu vực kinh tế tư nhõn nhỡn chung tăng ổn định trong những năm gần đõy. Nhịp độ tăng trưởng năm 1997 là 12,89%; năm 1998 là 12,74%; năm 1999: 7,5%; năm 2000: 12,55% và chiếm tỷ trọng tương đối ổn định trong GDP, tuy năm 2000 cú giảm chỳt ớt so với năm 1996 (từ28,45% năm 1996 cũn 26,87% năm 2000). Tỷ trọng GDP của khu vực kinh tế tư nhõn trong tổng GDP giảm đi chỳt ớt do sự tham gia và đúng gúp của khu vực cú vốn đầu tư nước ngũai. Bảng đúng gúp GDP của khu vực kinh tế tư nhõn: Chỉ tiờu Đơn vị Năm 1996 Năm 1997 Năm 1998 Năm 1999 Năm 2000 Tổng GDP toàn quốc Tỷ đ 272.036 313.623 361.017 399.943 444.140 chúng tôi vưc tư nhõn – 77.481 87.475 98.625 106.029 119.337 % trong GDP toàn quốc % 28.48 27.89 27.32 26.51 26.87 2. hộ kinh doanh cỏ thể Tỷ đ 57.879 65.555 73.321 78.054 87.604 Tỷ trọng hộ trong GDP % 21.28 20.9 20.31 19.52 19.72 Tỷ trọng hộ trong khu Vực kinh tế tư nhõn – 74.7 74.94 74.34 73.62 73.41 3. Doanh nghiệp tư nhõn Tỷ đ 19.602 21.920 25.304 27.975 31.733 Tỷ trọng trong GDP % 7.21 6.99 7.01 6.99 7.14 Tỷ trọng trong khu vực Tư nhõn % 25.3 25.06 25.66 26.38 26.59 Nguồn:Bỏo cỏo tổng hợp tỡnh hỡnh và phương hướng,giải phỏp phỏt triển kinh tế tư nhõn. Ban kinh tế trung ương ngày 26-11-2001 Trong 4 năm (2000-2003) tốc độ tăng trưởng của kinh tế tư nhõn trong cụng nghiệp đạt mức 20% năm. Trong nụng nghiệp kinh tế tư nhõn đó cú đúng gúp đỏng kể trong trồng trọt chăn nuụi và đặc biệt là trong cỏc ngành chế biến và xuất khẩu. Nhờ sự phỏt triển của kinh tế tư nhõn, cơ cấu kinh tế nụng nghiệp đó cú sự chuyển dịch quan trọng theo hướng sản xuất hàng húa, đẩy nhanh quỏ trỡnh CNH-HĐH khu vực nụng nghiệp nụng thụn. * Đúng gúp về xuất khẩu và tăng nguồn thu ngõn sỏch: Theo số liệu thống kờ của bộ thương mại, đến năm 2002 khu vực kinh tế tư nhõn trong nước đúng gúp khoảng 48% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam, kinh tế tư nhõn là nguồn lực chủ yếu phỏt triển cỏc mặt hàng mới, số lượng hàng húa tham gia xuất khẩu ngày càng tăng, mở rộng thị trường xuất khẩu. Xuất khẩu trực tiếp của khu vực kinh tế tư nhõn đến nay đó tăng khỏ, 9 thỏng đầu năm 2001 đạt 2.189.330.000 USD, trong đú cỏc cụng ty cổ phần đạt 361.759.900 USD, cụng ty trỏch nhiệm hữu hạn đạt 1.606.489.900 USD, cụng ty tư nhõn đạt 211.900.000 USD(số liệu của tổng cục hải quan) Cỏc doanh nghiệp tư nhõn đó tham gia tớch cực vào xuất nhập khẩu trực tiếp, đến năm 2000 số doanh nghiệp tư nhõn tham gia xuất khẩu trực tiếp tăng lờn 16.200 doanh nghiệp. Một số doanh nghiệp đó vươn lờn chiếm lĩnh thị trường xuất khẩu về một số mặt hàng quan trọng( sản phẩm thủ cụng mỹ nghệ, thực phẩm chế biến…), đó cú một số doanh nghiệp cú kim ngạch xuất khẩu trờn 100 triệu USD / năm, ở một số địa phương kinh tế tư nhõn là khu vực đúng gúp chủ yếu về xuất khẩu ( Hà Giang: 60%,Bỡnh Thuận 45%, Quảng Ngói 34% ).Vỡ thế khu vực ngũai quốc doanhtrong nước từ chổ chỉ chiếm 11% giỏ trị xuất khẩu vào năm 1997 thỡ đến quý I-2002 dó tăng lờn khoảng 31% ( Thời bỏo kinh tế Việt Nam số 66 ngày 3-6-2002 ). Đúng gúp của khu vực kinh tế tư nhõn đó trở thành nguồn thu quan trọng cho ngõn sỏch Nhà nước và cú xu hướng ngày càng tăng, từ khoảng 6,4% năm 2001 lờn hơn 7% năm 2002.Nhiều địa phương mức đúng gúp của doanh nghiệp dõn doanh chiếm trờn 20% nguồn thu ngõn sỏch địa phương ( Bỡnh Định 33% Tiền Giang 24%…). Thu từ thuế cụng thương nghiệp và dịch vụ ngoài quốc doanh năm 2002 đạt 103,6% kế hoạch và tăng 13% so với năm 2001. * Kinh tế tư nhõn cú đúng gúp rất lớn trong việc thu hỳt cỏc nguồn vốn đầu tư xó hội phục vụ cho nhu cầu phỏt triển kinh tế xó hội. Trong 10 năm gần đõy vốn đầu tư cho khu vực tư nhõn tăng nhanh, chiếm tỷ lệ cao trong tổng vốn đầu tư toàn xó hội. Năm 1999 tổng vốn đầu tư khu vực kinh tế tư nhõn đạt 31.542 tỷ đồng chiếm 24.05% , năm 2000 đạt 55.894 tỷ đồng tăng 13.8% so với năm 1999,chiếm 24.31% tổng số vốn đầu tư toàn xó hội,và trong gần 4 năm thực hện luật doanh nghiệp số vốn cỏc doanh nghiệp đầu tư là hơn 145.000 tỷ đồng. Đặc biệt số vốn đăng kớ

Cập nhật thông tin chi tiết về Phát Triển Bền Vững Kinh Tế Tư Nhân Ở Việt Nam: Một Số Vấn Đề Đặt Ra Và Giải Pháp trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!