Xu Hướng 2/2023 # Phát Huy Nhân Tố Con Người Theo Tư Tưởng Hồ Chí Minh # Top 3 View | Phauthuatthankinh.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Phát Huy Nhân Tố Con Người Theo Tư Tưởng Hồ Chí Minh # Top 3 View

Bạn đang xem bài viết Phát Huy Nhân Tố Con Người Theo Tư Tưởng Hồ Chí Minh được cập nhật mới nhất trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

 Sức mạnh của cả dân tộc được khơi dậy và tập hợp nhờ quan điểm “hết sức chăm nom đến đời sống nhân dân” của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ảnh tư liệu

1. Quan điểm Hồ Chí Minh về vai trò của con người và phát huy nhân tố con người trong sự nghiệp cách mạng

Theo Hồ Chí Minh, con người là một chỉnh thể thống nhất giữa mặt sinh học và mặt xã hội; con người là chủ thể của các mối quan hệ xã hội – lịch sử, là chủ thể sáng tạo và hưởng thụ các giá trị vật chất và tinh thần của xã hội.

Theo Hồ Chí Minh, con người có sức mạnh rất to lớn. Trong con người có sẵn các nguồn lực, bao gồm: Nguồn lực của cải, tài chính; Nguồn lực sức lao động; Nguồn lực trí tuệ:

Không dừng ở việc xác định vai trò của con người đối với sự nghiệp cách mạng và các nguồn lực có trong con người, Hồ Chí Minh còn chỉ rõ phải làm gì và làm như thế nào để phát huy được nhân tố con người trong sự nghiệp cách mạng. Người đề cập tới nhiều khía cạnh, có thể khái quát ở mấy điểm chính sau: 

Thứ nhất, muốn phát huy sức mạnh của con người, Đảng, chính quyền, mỗi cá nhân phải có lòng thương yêu vô hạn, sự cảm thông, sự tin tưởng tuyệt đối vào con người, vào nhân dân. Theo Hồ Chí Minh, mỗi cán bộ, đảng viên “trước hết phải tin tưởng lực lượng và trí tuệ của nhân dân là vô cùng vô tận”(1). “Việc gì có lợi cho dân thì làm, việc gì có hại cho dân thì phải tránh”(2). Người cũng nhấn mạnh: nếu không tin dân thì dân cũng không tin Đảng, Chính phủ. Nếu dân chúng không tin Đảng, Chính phủ thì “biết, họ cũng không nói. Nói, họ cũng không nói hết lời”. Vì vậy, “đảng viên nào không được dân tin, dân phục, dân yêu thì chưa xứng đáng là một người đảng viên”(3). Như vậy, thương yêu vô hạn, sự cảm thông, tin tưởng tuyệt đối vào con người, quyết tâm phấn đấu giải phóng con người trở thành tiền đề đầu tiên để có thể phát huy sức mạnh vốn có trong con người.

Thứ hai, để phát huy sức mạnh của con người, Đảng, Chính phủ phải hoạch định, xác lập một hệ thống chính sách hoàn chỉnh, phù hợp với thực tiễn, phục vụ cho lợi ích của dân tộc tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân, bao quát các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhất là những vấn đề an sinh xã hội. Trước hết là chính sách phát triển sản xuất và tiền lương phải hợp lý. Tiền lương của người lao động phải luôn gắn chặt với hiệu quả công việc, bởi lương là một trong những thước đo công sức, trình độ, thái độ, ý thức, tinh thần lao động. Nâng lương là một trong những biểu hiện nâng cao mức sống, mức thu nhập của người lao động. Nếu đồng lương không tương xứng với giá trị sức lao động thì những tư liệu sinh hoạt cần thiết của người lao động cũng không được đáp ứng, điều này sẽ đánh mất động lực của quá trình sản xuất và nền kinhh tế tất yếu sẽ bị ngưng trệ.

Theo Hồ Chí Minh, cần thi hành một hệ thống chính sách xã hội hướng tới con người như: thi hành một nền chính trị liêm khiết, cải thiện đời sống nhân dân, cứu tế thất nghiệp, sửa đổi chế độ xã hội, phát triển kinh tế, văn hóa…Nội dung chính sách phải phong phú, đa dạng. Mọi chủ trương, chính sách của Đảng, Chính phủ phải lấy dân làm gốc, quan tâm chăm lo đến mọi tầng lớp người trong xã hội. Chính sách xã hội đúng đắn là một chính sách lấy việc phát huy sức mạnh của nhân dân, xây dựng từng bước con người mới là trung tâm.  Cần chú ý đến việc giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể, giữa lợi ích riêng và lợi ích chung. Nếu lợi ích cá nhân không trái với lợi ích tập thể thì không phải là xấu. Đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không phải là “giày xéo lên lợi ích cá nhân”(4). Hồ Chí Minh còn thấy được vai trò động lực cực kỳ quan trọng của lợi ích cá nhân. “Quần chúng rất nhiều sáng kiến, họ hiểu biết rất mau, nhất là những cái thuộc về quyền lợi của họ”(5). Điểm mấu chốt để có thể giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa cái riêng và cái chung đó là phải tìm ra điểm tương đồng, lợi ích chung giữa những cá nhân, giai cấp. Mẫu số chung đó chính là lợi ích dân tộc.

Thứ ba, muốn phát huy được sức mạnh của con người thì phải quan tâm đến đời sống vật chất và tinh thần của con người, các quyền lợi của con người phải được bảo vệ và ghi nhận trong Hiến pháp và pháp luật. Ý thức về tính cấp thiết phải xây dựng, ban hành và thực hiện những chính sách về thể chế, pháp chế đảm bảo cho hoạt động của Nhà nước dân chủ, Hồ Chí Minh đã nhanh chóng cùng tập thể Trung ương Đảng, Chính phủ ban hành Hiến pháp 1946. Bản Hiến pháp đã phản ánh và quy định chặt chẽ quyền và nghĩa vụ của con người. Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên nhấn mạnh: Dân chủ, sáng kiến, hăng hái, ba điều đó có quan hệ rất chặt với nhau. Có dân chủ mới làm cho cán bộ, quần chúng đề ra sáng kiến. Vì thế Người luôn luôn nhắc nhở: Phải thật sự tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân, tuyệt đối không được lên mặt “quan cách mạng” ra lệnh, ra oai với nhân dân. Theo Người, dân chủ là “chìa khóa” vạn năng có thể giải quyết được mọi khó khăn. Phát huy dân chủ của nhân dân phải kết hợp chặt chẽ với tăng cường pháp chế, thực hiện quản lý xã hội bằng pháp luật. Nhà nước phải tiếp tục thể chế hóa bằng pháp luật các quyền dân chủ của người dân trên các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Thứ tư, Hồ Chí Minh đã dạy: “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”(6). Có thể thấy, vai trò của giáo dục, đào tạo là rất quan trọng để từ đó tạo tiền đề cho việc phát huy sức mạnh của con người. Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa. Con người xã hội chủ nghĩa có thể được hoàn thiện trước một bước so với hoàn cảnh kinh tế – xã hội, nhưng phải có điều kiện. Một trong những điều kiện đó là việc coi trọng vai trò của giáo dục và đào tạo. Giáo dục, đào tạo có vai trò to lớn để có một đội ngũ lao động giỏi, nâng cao dân trí, đào tạo người lao động trẻ có trình độ khoa học – kỹ thuật và công nghệ ngày càng cao, có phẩm chất cần thiết của người lao động mới, có tri thức văn hóa chính trị, văn hóa pháp luật, có ý thức về quyền và nghĩa vụ công dân, có phong cách và phương pháp làm việc khoa học.

Về mục tiêu của chiến lược giáo dục và đào tạo là nhằm đào tạo ra những công dân tốt và cán bộ tốt cho nước nhà. Muốn đạt được mục tiêu chiến lược thì nội dung, phương pháp giáo dục phải toàn diện. Hồ Chí Minh yêu cầu: “Trong việc giáo dục và học tập, phải chú trọng đủ các mặt: đạo đức cách mạng, giác ngộ xã hội chủ nghĩa, văn hóa, kỹ thuật, lao động và sản xuất”(7). Nó thể hiện sự kết hợp giữa nội dung toàn diện và phương pháp toàn diện, giữa nhận thức và hành động, lời nói và việc làm, giữa tư tưởng và sự nêu gương thực hành, giữa tư tưởng và lối sống, nếp sống. Theo Hồ Chí Minh, mục đích của việc học là để sửa chữa tư tưởng, để tu dưỡng đạo đức cách mạng, để tin tưởng, học để hành. Do đó, phải học ở trường, ở sách vở, học lẫn nhau và học nhân dân. “Học để làm việc, làm người, làm cán bộ. Học để phụng sự Đoàn thể, “giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại. Muốn đạt mục đích, thì phải: cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”(8).

Vấn đề phát huy nhân tố con người được Hồ Chí Minh đề cập với nội dung sâu sắc và toàn diện, đầy tính cách mạng và khoa học. Không chỉ đánh giá cao vị trí, vai trò của con người, thấy được tính tất yếu của vấn đề phát huy nhân tố con người, Hồ Chí Minh còn xây dựng được một hệ thống các giải pháp toàn diện, coi việc thực hiện đúng đắn các giải pháp đó là khâu then chốt, quyết định thành công.

2. Vận dụng quan điểm Hồ Chí Minh vào việc phát huy nhân tố con người để phát triển kinh tế – xã hội của đất nước trong giai đoạn hiện nay

Qua hơn 30 năm đổi mới, trên cơ sở đánh giá thực tiễn và tổng kết lý luận, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: con người và các nguồn lực của con người đóng vai trò quyết định sự phát triển của đất nước. Nhân tố con người được đặt vào vị trí trung tâm của sự phát triển, con người vừa là động lực, vừa là mục tiêu của sự phát triển. Vốn, cơ sở vật chất kỹ thuật rất quan trọng nhưng quan trọng nhất vẫn là nhân tố con người. Trong Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2011-2020, Đảng ta xác định mục tiêu: Tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững…Nâng cao rõ rệt hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế…Tạo chuyển biến mạnh về giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, phát huy nhân tố con người. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã đặt ra một trong sáu nhiệm vụ trọng tâm là: “Phát huy nhân tố con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; tập trung xây dựng con người về đạo đức, về nhân cách, lối sống, trí tuệ và năng lực làm việc; xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh”(9). Như vậy, đến Đại hội lần thứ XII, vấn đề “phát triển con người toàn diện” được Đảng ta xác định là một trong những nhiệm vụ tổng quát phát triển đất nước 5 năm 2016 – 2020 và “Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện phải trở thành một mục tiêu của chiến lược phát triển”. Đây là bước tiến trong nhận thức của Đảng sau 35 năm đổi mới, khẳng định và nhấn mạnh vai trò đặc biệt quan trọng của việc phát huy nhân tố con người, phát triển con người toàn diện, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc thời kì hội nhập quốc tế.

Trong giai đoạn hiện nay, phát huy nhân tố con người luôn gắn liền với xây dựng con người về đạo đức, nhân cách, lối sống, trí tuệ và năng lực làm việc. Trong điều kiện khoa học và công nghệ hiện đại, kinh tế tri thức phát triển, hội nhập gia tăng thì mối quan hệ biện chứng này càng trở nên quan trọng. Đối với nước ta, để phát huy nguồn lực con người một cách hợp lý, hiệu quả cần phải có một hệ thống các biện pháp đồng bộ, trong đó, cần tập trung vào một số biện pháp chủ yếu sau:

Thứ nhất, phát triển mạnh mẽ giáo dục – đào tạo và khoa học – công nghệ

Phát triển mạnh mẽ giáo dục – đào tạo và khoa học – công nghệ, một mặt, phục vụ trực tiếp sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; mặt khác, xây dựng tiềm lực trí tuệ – cốt lõi của nguồn nhân lực chất lượng cao. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: một dân tộc dốt là một dân tộc yếu. Trí tuệ là một trong những chỉ số quan trọng nhất của chất lượng nhân tố con người, nhất là trong thời đại cách mạng khoa học và công nghệ có những bước phát triển nhảy vọt, khoa học đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp và sự xuất hiện của kinh tế tri thức hiện nay. Bên cạnh đó, cần phải chú trọng công tác giáo dục đạo đức, lối sống cho con người, trước hết là với các thế hệ trẻ – những chủ nhân tương lai của đất nước. Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện phải có sức khoẻ, năng lực, trình độ, có ý thức, trách nhiệm cao đối với bản thân, gia đình, xã hội và Tổ quốc. Đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao. Chú trọng phát triển đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành; đội ngũ nhân lực kỹ thuật, nhân lực số, nhân lực quản trị công nghệ, nhân lực quản lý, quản trị doanh nghiệp; nhân lực quản lý xã hội và tổ chức cuộc sống, chăm sóc con người. Đào tạo con người theo hướng có đạo đức, kỷ luật, kỷ cương, ý thức trách nhiệm công dân, xã hội; có kỹ năng sống, kỹ năng làm việc, ngoại ngữ, công nghệ thông tin, công nghệ số, tư duy sáng tạo và hội nhập quốc tế (công dân toàn cầu)(10).

Mặt khác, để phát huy vai trò của giáo dục – đào tạo con người trong sự nghiệp đổi mới, cần giải quyết tốt mối quan hệ giữa đào tạo và sử dụng hợp lý, hiệu quả lực lượng lao động. Đồng thời, cần kết hợp giữa nâng cao trình độ dân trí và phát triển nguồn nhân lực đồng đều ở các vùng miền, các cộng đồng xã hội; gắn chiến lược phát triển khoa học công nghệ với nâng cao hàm lượng trí tuệ trong nhân tố con người. Từ chỗ có nguồn lực con người bảo đảm về chất lượng, cần xây dựng và thực hiện những phương thức, cơ chế phát huy nguồn lực đó. 

Thứ hai, quan tâm giải quyết hài hoà các quan hệ lợi ích theo phương châm bảo đảm công bằng xã hội trong từng chính sách, từng bước phát triển.

Thứ ba, xây dựng và thực hiện một cơ chế dân chủ trong mọi mặt của đời sống xã hội nhằm tạo môi trường, điều kiện thiết yếu để phát huy vai trò của nguồn lực con người trong các lĩnh vực.

Nhân tố con người chỉ được khai thác và phát huy tối đa khi con người thực sự làm chủ tự nhiên, làm chủ xã hội và làm chủ chính mình. Để phát huy tính tích cực, tự giác, sáng tạo của con người trong mọi hoạt động thì nhất thiết phải xây dựng và thực hiện một cơ chế dân chủ, trong đó ngày càng quan tâm đến dân chủ trực tiếp nhằm hiện thực hoá những giá trị dân chủ xã hội chủ nghĩa trong đời sống xã hội. Việc phát huy dân chủ không chỉ tạo cơ hội thuận lợi cho tất cả mọi người có thể cống hiến năng lực của mình cho xã hội, mà còn có ý nghĩa tạo điều kiện cho việc thực hiện cơ chế phản biện xã hội với tinh thần lành mạnh, xây dựng và phát huy trách nhiệm công dân. Nói cách khác, thông qua quá trình dân chủ hoá, trí tuệ của toàn dân được huy động và đóng góp vào sự phát triển chung của xã hội. Đó cũng là lý do tại sao Hồ Chí Minh coi dân chủ là chìa khoá vạn năng để giải quyết mọi vấn đề mà thực tiễn cách mạng đặt ra. Tuy nhiên, thực hiện dân chủ phải đi đôi với tăng cường kỷ cương pháp luật, pháp chế xã hội chủ nghĩa; khắc phục mọi biểu hiện dân chủ cực đoan hoặc lợi dụng “dân chủ” để chia rẽ khối đại đoàn kết, làm rạn nứt sự đồng thuận xã hội. Lấy dân chủ trong Đảng, trong bộ máy Nhà nước làm nòng cốt để thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, tăng cường dân chủ nhằm giải phóng mọi năng lực sáng tạo của quần chúng nhân dân, góp phần ổn định chính trị – xã hội, tạo điều kiện cho sự nghiệp đổi mới thắng lợi.

Trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế, việc luôn nhận thức sâu sắc vai trò to lớn của nhân tố con người và lấy đó làm điểm tựa vững chắc là điều kiện để chúng ta đưa sự nghiệp đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đến thắng lợi. Phát huy nhân tố con người để phát triển kinh tế – xã hội, đó là một vấn đề có tính quy luật. Trong giai đoạn hiện nay, phải phát huy nhân tố con người, coi con người là trung tâm, chủ thể, nguồn lực chủ yếu và mục tiêu của sự phát triển; lấy giá trị văn hoá, con người Việt Nam là nền tảng, sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững. Phải có cơ chế, chính sách phát huy tinh thần cống hiến vì đất nước; mọi chính sách của Đảng, Nhà nước đều phải hướng vào nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và hạnh phúc của nhân dân.      

(1), Sđd, t.12, tr.283

(2), Sđd, t.4, tr.21

(3), Sđd, t.7, tr.55

(4), Sđd, t.11, tr.610

(5), Sđd, t.8, tr.48

(6), Sđd, t.11, tr.528

(7), Sđd, t.12, tr.647

(8), Sđd, t.6, tr.208

(9), Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2016, tr.219

(10), (14), Dự thảo Báo cáo Tổng kết thực hiện chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 10 năm 2011 – 2020, xây dựng chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 10 năm 2021 – 2030, tr.49, tr.62.

TS. Vũ Hồng HuyBan Tuyên giáo Trung ương

Xây Dựng Phong Cách Lãnh Đạo Của Người Đứng Đầu Theo Tư Tưởng Hồ Chí Minh

Xây dựng phong cách người đứng đầu là vấn đề đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm ngay từ những ngày đầu thành lập Đảng, nhất là khi Đảng ta trở thành Đảng cầm quyền. Nội dung này được Người đề cập rõ trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, ra đời cách đây hơn 70 năm; trong đó nhấn mạnh: “Phải sửa đổi lối làm việc của Đảng”(1). Đây chính là cách thức tốt nhất để phòng, chống nguy cơ suy thoái của Đảng khi trở thành Đảng cầm quyền. Bởi lẽ, những khuyết điểm, sai lầm, trong đó có sai lầm về phong cách lãnh đạo của người đứng đầu chính là kẻ địch bên trong, còn nguy hiểm hơn kẻ địch bên ngoài. Mặt khác, nếu các tổ chức Đảng, cán bộ, đảng viên nhất là người đứng đầu không kiên quyết sửa chữa khuyết điểm, thì cũng như người “giấu giếm tật bệnh trong mình, không dám uống thuốc, để bệnh ngày càng nặng thêm, nguy đến tính mệnh”(2).

Xây dựng phong cách lãnh đạo của người đứng đầu theo tư tưởng Hồ Chí Minh là toàn diện, trong đó cần tập trung vào những nội dung cơ bản sau:

Một là, xây dựng phong cách kết hợp giữa nhiệt tình cách mạng với tính khách quan, khoa học. Theo Hồ Chí Minh, lãnh đạo, quản lý trước hết phải có nhiệt tình cách mạng, bởi đây là yếu tố cơ bản, động lực cho mọi hành động. Tuy nhiên, nhiệt tình cách mạng chỉ phát huy hiệu quả khi nó tuân theo các quy luật khách quan và kết hợp chặt chẽ với tri thức khoa học. Không khách quan, khoa học thì nhiệt tình cách mạng sẽ trở thành duy tâm, duy ý chí, dẫn tới thực hiện sai đường lối, chính sách, hành động trái quy luật, làm cản trở bước tiến của cách mạng. Nhiệt tình cách mạng của người cán bộ lãnh đạo, quản lý chỉ có hiệu quả khi họ thực sự am hiểu và có vốn kiến thức phong phú, sâu rộng về công việc, lĩnh vực mà mình phụ trách. Tri thức khoa học được hình thành trong quá trình học tập, nghiên cứu, lăn lộn với thực tế, đời sống để không ngừng thu thập kiến thức, kỹ năng, nâng cao trình độ về chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ cũng như bồi dưỡng nhạy cảm chính trị trước những diễn biến mới của cách mạng và tình hình thế giới. Do vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Bất kỳ ở hoàn cảnh nào, đảng viên và cán bộ cần phải luôn luôn ra sức phấn đấu, ra sức làm việc, cố gắng học tập để nâng cao trình độ văn hóa, tri thức và chính trị của mình”(3).

Tác phong khoa học là yếu tố đầu tiên, tiền đề căn bản để xây dựng phong cách, tác phong công tác của người đứng đầu. Phong cách, tác phong khoa học của người đứng đầu cũng như của cán bộ, đảng viên có vai trò quan trọng, tạo nền tảng để hình thành cách lãnh đạo đúng đắn, khoa học và sáng tạo, không rập khuôn, máy móc. Từ đó, có sự chỉ đạo đúng đắn trong công việc, cách nhìn nhận và đánh giá đúng con người, sử dụng đúng người, đúng việc, trọng dụng người tài. Phong cách khoa học gồm các tiêu chí: Phải có thói quen điều tra, nghiên cứu, khảo sát, thâm nhập vào đời sống thực tiễn; xác định rõ mục tiêu công tác, lộ trình, bước đi, biện pháp thích hợp; kiên định về nguyên tắc, mục tiêu nhưng linh hoạt về phương pháp; tích cực kiểm tra, giám sát, kiểm soát, tổng kết, rút kinh nghiệm.

Hai là, xây dựng tác phong dân chủ nhưng quyết đoán. Hồ Chí Minh khẳng định: Chế độ ta là chế độ dân chủ, vì “dân là chủ”, nên cách lãnh đạo cũng phải dân chủ. Dân chủ trong Đảng là tất cả đảng viên đều được tự do bày tỏ chính kiến trong sinh hoạt đảng để thống nhất về quan điểm, chủ trương lãnh đạo, chỉ đạo, xây dựng nghị quyết. Phong cách dân chủ thể hiện ở việc người đứng đầu cần lưu ý bàn bạc, trao đổi, lắng nghe ý kiến trong triển khai thực hiện nhiệm vụ, nhất là ý kiến phản biện trái chiều. Dân chủ nhưng phải tập trung và luôn luôn phòng tránh căn bệnh dân chủ hình thức; dân chủ tập trung để không dẫn đến độc đoán, chuyên quyền. Cán bộ lãnh đạo, nhất là những người đứng đầu, người có trọng trách trong một tập thể, vừa phải thực hành dân chủ, lắng nghe ý kiến của tập thể; đồng thời, phải quyết đoán, nhận thức đầy đủ trách nhiệm và dám ra quyết định, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Chủ tịch Hồ Chí Minh phê bình cách lãnh đạo của một số cán bộ không dân chủ, dẫn đến tình trạng người có ý kiến không dám nói, người muốn phê bình không dám phê bình, làm cho cấp trên, cấp dưới cách biệt nhau, quần chúng với Đảng xa rời nhau, không còn sáng kiến, không còn hăng hái trong khi làm việc. Trong quá trình làm việc, người lãnh đạo, quản lý có ý thức tập thể cao, tạo ra bầu không khí làm việc dân chủ, tôn trọng và lắng nghe ý kiến tập thể, phát huy trí tuệ tập thể, nhưng không có tính quyết đoán, không dám chịu trách nhiệm cá nhân trước tập thể, thì không thể có những quyết định kịp thời, đáp ứng yêu cầu và công việc cũng không thể tiến triển được. Đồng thời, lưu ý các cán bộ lãnh đạo, quản lý là những việc bình thường, một người có thể giải quyết đúng, thì người phụ trách cứ cẩn thận giải quyết. Những việc quan trọng mới cần tập thể quyết định. Người cho rằng, trách nhiệm và tính quyết đoán của người đứng đầu phải luôn được đề cao, đôi khi mang tính quyết định đến hiệu quả công việc. Người lãnh đạo giỏi cần có cách làm việc dân chủ, tập thể, dám làm, dám chịu trách nhiệm trước tập thể; đồng thời, phải quyết đoán đưa ra những quyết sách đúng trong những thời điểm quyết định.

Ba là, xây dựng phong cách lãnh đạo luôn sâu sát cơ sở, gần gũi với quần chúng. Làm việc sâu sát, đi vào thực tế, hòa mình với quần chúng để thực hiện vai trò lãnh đạo, quản lý là vấn đề có tính nguyên tắc xuất phát từ nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của Đảng. Đối với Hồ Chí Minh, người cán bộ lãnh đạo biết lắng nghe, thấu hiểu và phát huy được tính tích cực, tự giác, sáng tạo của quần chúng sẽ đoàn kết, quy tụ được nhân dân, tạo nên động lực và sức mạnh to lớn để thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ. Hồ Chí Minh là điển hình về phong cách lãnh đạo sâu sát, gần gũi với quần chúng nhân dân. Trong 10 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc (1955 – 1965), theo thống kê của Bảo tàng Hồ Chí Minh, Người đã thực hiện hơn 700 lượt đi thăm hỏi chiến sĩ và đồng bào, xem xét tình hình, kiểm tra công việc. Trung bình mỗi năm có hơn 60 lượt Người đi xuống cơ sở, mỗi tháng có khoảng 6 lần lãnh tụ gặp gỡ quần chúng. Ngoài ra, hằng ngày qua đọc báo, đọc thư của nhân dân gửi lên, thấy có những ý kiến hay, cần tiếp thu, những việc gấp cần giải quyết, Người đều dùng bút đỏ đóng khung lại, chuyển tới các cơ quan có trách nhiệm, yêu cầu nghiên cứu và giải quyết.

Người lãnh đạo, người đứng đầu phải có phong cách quần chúng, phải luôn hòa đồng với quần chúng, học hỏi quần chúng nhưng không theo đuôi quần chúng. Chỉ trên cơ sở sâu sát quần chúng, người cán bộ lãnh đạo mới biết đời sống thực, khả năng thực của quần chúng, biết được những mong muốn, băn khoăn trăn trở của nhân dân để kịp thời uốn nắn và tháo gỡ cùng nhân dân. Lãnh đạo sâu sát quần chúng sẽ nâng cao được tính khách quan, minh bạch, tăng cường được công tác kiểm tra, giám sát, từ đó kiểm soát tốt hơn đối với việc thực thi quyền lực, kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc sử dụng tài sản của Nhà nước, của nhân dân, góp phần phòng, chống tham nhũng có hiệu quả.

Bốn là, xây dựng phong cách nêu gương, nói đi đôi với làm. Gương mẫu, nêu gương, nói đi đôi với làm là một nội dung không thể thiếu đối với người đứng đầu. Người lãnh đạo, người đứng đầu phải tiên phong trong mọi công việc; dám nói, dám làm và dám chịu trách nhiệm, đồng thời giữ được cốt cách tốt, không tha hóa. Nêu gương không chỉ hô khẩu hiệu, không chỉ là lời nói suông mà chủ yếu là hành động, nói ít, làm nhiều. Muốn tiến hành tốt các nội dung nêu gương, người lãnh đạo, người đứng đầu phải luôn thực hiện nói đi đôi với làm. Ðây là nguyên tắc trước hết, cực kỳ quan trọng của việc nêu gương. Thực tế cho thấy, người cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu nói nhiều làm ít, hoặc nói một đằng làm một nẻo, hay nói mà không làm thì không ai tin, sẽ mất uy tín trước quần chúng, trước cấp dưới. Chỉ có nhất quán giữa lời nói và việc làm thì người cán bộ, đảng viên, người đứng đầu mới có được sự tin yêu của tập thể, quần chúng, của cấp dưới.

Người đứng đầu làm gương là phải biết hy sinh lợi ích, quyền lợi cá nhân, hy sinh phần thưởng. Trong điều hành, làm gương là dám nói, dám làm và dám chịu trách nhiệm, đặc biệt là dám trình bày những ý tưởng mới, những đột phá và dám chịu trách nhiệm về những ý tưởng mới của mình. Làm gương trong sinh hoạt là lời nói phải chuẩn mực, rõ ràng, dứt khoát, không nửa vời, nước đôi, tạo ra những chuẩn giá trị của người lãnh đạo.

Năm là, xây dựng phong cách khéo dùng người, trọng dụng người tài. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến việc đánh giá, bố trí, sử dụng cán bộ và chính cách sử dụng cán bộ của Người là mẫu mực của việc “khéo dùng người, trọng dụng nhân tài”. Người nhấn mạnh đến việc phải chủ động phát hiện và bồi dưỡng nhân tài. Trọng dụng nhân tài là công việc thường xuyên, liên tục; phải tùy tài mà dùng người: “Tài to ta dùng làm việc to, tài nhỏ ta cắt làm việc nhỏ, ai có năng lực về việc gì, ta đặt ngay vào việc ấy. Biết dùng người như vậy, ta sẽ không lo gì thiếu cán bộ”(4). Việc dùng người phải đúng năng lực và sở trường, bởi lẽ: “Chúng ta phải nhớ rằng: người đời ai cũng có chỗ hay chỗ dở. Ta phải dùng chỗ hay của người và giúp người chữa chỗ dở. Dùng người cũng như dùng gỗ. Người thợ khéo thì gỗ to, nhỏ, thẳng, cong đều tùy chỗ mà dùng được”(5). Dùng người mà không đúng, công việc sẽ không chạy, không được việc, làm thui chột nhân tài, có hại cho Đảng và cũng thể hiện sự yếu kém trong công tác cán bộ của Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu người lãnh đạo, quản lý phải biết trọng dụng nhân tài, nếu không sẽ làm “thui chột” nhân tài. Đồng thời, phải có gan cất nhắc cán bộ, cất nhắc những người có tài, có đức để họ được cống hiến cho Đảng, cho cách mạng và nhân dân. Người cho rằng, một quốc gia, một đất nước không biết sử dụng nhân tài là một khuyết điểm to, làm lãng phí một vốn quý của Đảng và Nhà nước trong xây dựng và kiến thiết.

Xây dựng phong cách lãnh đạo của người đứng đầu theo tư tưởng Hồ Chí Minh không nằm ngoài những quy định chung trong phong cách làm việc của cán bộ, đảng viên; đồng thời, có yêu cầu cao hơn, thể hiện vị trí, vai trò, trách nhiệm của người cán bộ, đảng viên trên cương vị lãnh đạo, quản lý. Phong cách lãnh đạo Hồ Chí Minh là bài học quý để mỗi cán bộ, đảng viên nghiên cứu, học tập, nhằm không ngừng hoàn thiện mình, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới.

1. Hồ Chí Minh – Toàn tập, Tập 5, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 272.

2, 3. Sđd, Tập 5, tr. 273, 293.

4. Sđd, Tập 4, tr. 43.

5. Sđd, Tập 5, tr. 88.

Đại tá, ThS. Đinh Xuân Thủy, Học viện Lục quân Theo Tạp chí Quốc phòng toàn dân điện tử

Giáo Dục, Rèn Luyện Đội Ngũ Đảng Viên Theo Tư Tưởng Hồ Chí Minh

Là ngư­ời sáng lập và rèn luyện Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm tới việc giáo dục, rèn luyện, nâng cao chất l­ượng đội ngũ đảng viên. Trong tình hình hiện nay như Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) đã nêu: “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc…”, thì yêu cầu giáo dục, rèn luyện, nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên càng trở nên cấp thiết.

 

Về mục đích, giáo dục, rèn luyện đảng viên nhằm nâng cao giác ngộ cách mạng, nhận thức sâu sắc lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin, đ­ường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Chính phủ, hình thành thế giới quan, niềm tin cộng sản, nâng cao ý chí chiến đấu, sẵn sàng hy sinh vì mục tiêu, lý t­ưởng của Đảng cho đội ngũ đảng viên. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Vì sao phải học tập đ­ường lối của Đảng? Vì có nắm vững đư­ờng lối cách mạng mới thấy rõ phư­ơng h­ướng tiến lên của cách mạng, mới hiểu rõ mình phải làm gì và đi theo phư­ơng hư­ớng nào để thực hiện mục đích của Đảng trong giai đoạn cách mạng hiện nay”[1]. Tính nhất quán trong mục đích giáo dục, rèn luyện đảng viên thể hiện ở chỗ: vừa xây dựng ý chí quyết tâm cho đảng viên, vừa giúp đảng viên biến quyết tâm thành hành động trên thực tế, nói đi đôi với làm, lý luận gắn liền với thực tiễn. Kết quả hoàn thành nhiệm vụ của mỗi đảng viên là thư­ớc đo trình độ giác ngộ cách mạng, phẩm chất chính trị và năng lực công tác của họ, đồng thời là tiêu chí cơ bản để đánh giá kết quả giáo dục, rèn luyện đảng viên.

Về nội dung, giáo dục, rèn luyện đảng viên tr­ước hết là bồi d­ưỡng chính trị, tư tư­ởng, quan điểm lập trường, bản lĩnh chính trị của ngư­ời đảng viên cộng sản trên cơ sở tăng cư­ờng giáo dục lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin, đư­ờng lối, chủ tr­ương, chính sách của Đảng và Nhà n­ước: “Mọi đảng viên đều phải ra sức học tập chủ nghĩa Mác-Lênin củng cố lập trư­ờng giai cấp vô sản, cố gắng nắm vững những quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam; phải luôn luôn nâng cao đạo đức cách mạng, kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, bồi dưỡng chủ nghĩa tập thể của giai cấp vô sản, cần kiệm xây dựng n­ước nhà, liên hệ chặt chẽ với quần chúng lao động, một lòng, một dạ phấn đấu vì lợi ích tối cao của cách mạng và Tổ quốc”[2].  

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh thư­ờng xuyên chăm lo bồi dưỡng, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, bởi vì: “Ngư­ời cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo đư­ợc nhân dân”[3]. Cùng với việc chăm lo bồi dưỡng, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng, Ngư­ời rất quan tâm bồi dưỡng rèn luyện, nâng cao năng lực công tác cho đội ngũ đảng viên. Đội ngũ đảng viên phải vừa “hồng” vừa “chuyên” mới hoàn thành đ­ược nhiệm vụ của mình tr­ước Đảng, trư­ớc nhân dân. Ngư­ời nhấn mạnh: “Tất cả cán bộ, đảng viên của Đảng phải vì Đảng, vì dân mà hăng hái phấn đấu. Phải chịu khó học tập chính trị, kinh tế, khoa học, kỹ thuật để nâng cao năng lực, làm cho kinh tế phát triển, chiến đấu thắng lợi, đời sống của nhân dân ngày càng no ấm, tư­ơi vui”[4].

Về phư­ơng châm, giáo dục và rèn luyện đảng viên cần tuân theo các vấn đề có tính nguyên tắc như­: lý luận gắn liền với thực tiễn; học đi đôi với hành; nâng cao kiến thức gắn liền với củng cố, phát triển bản lĩnh, quyết tâm. Đồng thời, cần quán triệt sâu sắc phư­ơng châm kết hợp giữa xây và chống trong giáo dục, rèn luyện đảng viên. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, trong mỗi con người hay một tập thể đều tồn tại cả mặt tốt và xấu, cái thiện và cái ác, tính lành và tính dữ. Vì vậy, phải dựa chắc vào những mặt tốt, những nhân tố tích cực để từng bước đấu tranh, khắc phục những mặt ch­ưa tốt trong mỗi tổ chức, mỗi con người: “Mỗi con ngư­ời đều có thiện và ác ở trong lòng. Ta phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con ng­ười nảy nở như­ hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi, đó là thái độ của ngư­ời cách mạng. Đối với những ng­ười có thói hư­ tật xấu, trừ hạng ngư­ời phản lại Tổ quốc và nhân dân, ta cũng phải giúp họ tiến bộ, bằng cách làm cho cái phần thiện trong con ngư­ời nảy nở để đẩy lùi phần ác, chứ không phải đập cho tơi bời”[5]. Giáo dục, rèn luyện đảng viên phải đi đôi với kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, bởi chủ nghĩa cá nhân là kẻ thù của chủ nghĩa xã hội, là nguồn gốc, nguyên nhân sinh ra quan liêu, cửa quyền công thần, kiêu ngạo, tham ô, lãng phí và bao điều xấu xa khác.    

Về ph­ương pháp, cần phải sử dụng tổng hợp các cách thức, biện pháp  khoa học và hiệu quả trong giáo dục, rèn luyện đảng viên. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Phư­ơng pháp giáo dục thì theo nguyên tắc tự nguyện tự giác, giải thích, bàn bạc, thuyết phục, chứ không gò bó”[6]. Ng­ười rất chú trọng phư­ơng pháp nêu gư­ơng điển hình tiên tiến, bởi “một tấm gư­ơng sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”[7]. Ng­ười luôn yêu cầu các cơ quan, đoàn thể phải làm tốt công tác tuyên truyền gư­ơng ngư­ời tốt, việc tốt. Theo Người, “Lấy gương người tốt, việc tốt để hằng ngày giáo dục lẫn nhau là một trong những cách tốt nhất để xây dựng Đảng, xây dựng các tổ chức cách mạng, xây dựng con người mới, cuộc sống mới”[8]. Tích cực tự phê bình và phê bình trong Đảng, th­ường xuyên xây dựng và chỉnh đốn Đảng cũng là một trong những biện pháp quan trọng để giáo dục, rèn luyện đảng viên, xây dựng đội ngũ đảng viên đủ “đức” và “tài” đáp ứng yêu cầu sự nghiệp cách mạng.

Về lực l­ượng giáo dục, rèn luyện đảng viên, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, phải phát huy tốt vai trò hệ thống tổ chức, đề cao trách nhiệm các cấp ủy, chi bộ. Ngư­ời nhắc nhở: “Các cấp ủy phải quan tâm hơn nữa đến việc giáo dục đảng viên. Từ nay trở đi công tác giáo dục đảng viên phải là một điều quan trọng trong chư­ơng trình công tác của cấp ủy”[9]. Mọi đảng viên ở bất cứ c­ương vị nào đều nằm trong một tổ chức nhất định, đều phải chịu sự quản lý, giáo dục của cấp ủy, chi bộ nơi đảng viên đó sinh hoạt. Với t­ư cách là chủ thể, các cấp ủy, chi bộ phải chủ động trong việc đề ra kế hoạch, nội dung, ch­ương trình giáo dục, rèn luyện đảng viên; có các hình thức, biện pháp giáo dục, quản lý chặt chẽ, toàn diện đội ngũ đảng viên, chú trọng các mối quan hệ xã hội và điều kiện thực tế nơi đảng viên công tác, chiến đấu, lao động và học tập. Mặt khác, đảng viên đồng thời là chủ thể tham gia xây dựng củng cố tổ chức đảng, cho nên phải phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của mỗi đảng viên trong rèn luyện, phấn đấu. Cuộc đấu tranh khắc phục những mặt xấu, xây dựng những mặt tốt của mỗi cán bộ, đảng viên không tách rời sự giáo dục của Đảng, của tổ chức, của đoàn thể, nh­ưng trực tiếp quyết định vẫn là nhân tố chủ quan của từng con ngư­ời cụ thể. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Phải tự nguyện, tự giác, xem công tác học tập cũng là một nhiệm vụ mà ng­ười cán bộ cách mạng phải hoàn thành cho đư­ợc”[10]. Do đó, mọi cán bộ, đảng viên phải tích cực, chủ động, nghiêm khắc đối với chính mình, nhận thức rõ những điểm hạn chế bất cập để tự học tập, rèn luyện, tu d­ưỡng và phấn đấu v­ươn lên.            

Quán triệt, vận dụng tư­ tư­ởng Hồ Chí Minh về giáo dục, rèn luyện đảng viên trong giai đoạn hiện nay, trước hết, các cấp ủy, chi bộ phải nhận thức đúng đắn vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác giáo dục, rèn luyện đảng viên, trên cơ sở đó tăng c­ường sự lãnh đạo, chỉ đạo, thư­ờng xuyên chú trọng đổi mới nội dung, hình thức, ph­ương pháp giáo dục, rèn luyện đảng viên. Cần nâng cao chất lư­ợng sinh hoạt chi bộ, đ­ể các chế độ sinh hoạt Đảng vào nền nếp được quản lý chặt chẽ, toàn diện đội ngũ đảng viên. Hai là, kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục, rèn luyện đảng viên với quản lý, bồi dư­ỡng cán bộ, đảng viên. Việc cụ thể hoá tiêu chuẩn đảng viên cần gắn chặt với tiêu chuẩn cán bộ; phối hợp chặt chẽ trên tất cả các khâu, các bư­ớc của công tác đảng viên với công tác cán bộ từ xây dựng kế hoạch, nội dung và biện pháp đến việc tổ chức triển khai thực hiện trên thực tế. Ba là, phát huy tính tích cực chủ động của đội ngũ đảng viên trong tự học, tự rèn luyện. Các cấp ủy, chi bộ phải th­ường xuyên quán triệt, bồi dư­ỡng nâng cao nhận thức, bồi dư­ỡng động cơ phấn đấu, đồng thời phải quan tâm giúp đỡ, động viên đảng viên tự rèn luyện, tạo điều kiện để mỗi ngư­ời xây dựng kế hoạch tự phấn đấu vươn lên, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Cần thực hiện đúng quan điểm của Đảng: “Việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là nhiệm vụ quan trọng thường xuyên, lâu dài của cán bộ, đảng viên, của các chi bộ, tổ chức đảng và các tầng lớp nhân dân. Mỗi cán bộ, đảng viên không ngừng tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, thực sự là tấm gương về phẩm chất đạo đức, lối sống. Cán bộ cấp trên phải gương mẫu trước cán bộ cấp dưới, đảng viên và nhân dân”[11].

 

Thấm Nhuần Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Báo Chí Cách Mạng

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành những tình cảm đặc biệt đối với báo chí. Là người sáng lập nền báo chí cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến công việc viết báo và làm báo. Người am hiểu sâu sâu sắc hoạt động báo chí, coi báo chí là một thứ vũ khí cách mạng sắc bén và đã sử dụng báo chí một cách tài tình để tuyên truyền cách mạng

Bác Hồ nói chuyện với các nhà báo tháng 9/1960 (Nguồn: tuanbaovannghetphcm.vn).

 Dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 21 tháng 6 năm 1925 tờ báo Thanh niên do Hồ Chí Minh sáng lập, ra số đầu tiên đánh dấu sự ra đời của báo chí cách mạng Việt Nam. Trải qua 94 năm đồng hành cùng dân tộc, báo chí cách mạng Việt Nam đã có những đóng góp to lớn, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết và đăng trên 2000 bài báo bằng nhiều thứ tiếng khác nhau, gần 300 bài thơ, 500 trang truyện và ký, sử dụng trên 174 bút danh khác nhau. Hồ Chí Minh đã đề cập đến toàn bộ các vấn đề rộng lớn của cách mạng, của đời sống xã hội. Hồ Chí Minh đã để lại cho chúng ta một di sản tư tưởng đặc biệt có giá trị, tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí cách mạng. Đó là tư tưởng, lý luận và kinh nghiệm thực tiễn rất phong phú, sâu sắc và toàn diện, độc đáo và sáng tạo về những vấn đề cơ bản của báo chí cách mạng. Bao gồm các quan điểm về vai trò, chức năng, nhiệm vụ và tính chất của báo chí cách mạng, về tính đảng, tính chiến đấu, tính nhân văn, về vai trò, nghĩa vụ, đạo đức, phong cách của người làm báo, về nghệ thuật để làm nên một tờ báo có giá trị.

Nhận thức sâu sắc về báo chí với sự nghiệp cách mạng tại Đại hội lần thứ II Hội nhà báo Việt Nam tháng 4 năm 1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: Báo chí của ta không để cho một số người xem, mà để phục vụ nhân dân, để tuyên truyền, giải thích đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ. Báo chí cách mạng không có lợi ích gì khác, không có mục đích gì khác là phụng sự lợi ích của Đảng, của Tổ quốc, của nhân dân và đông đảo quần chúng nhân dân lao động. Do đó, báo chí của ta thì cần phải phục vụ cho nhân dân lao động, phục vụ chủ nghĩa xã hội, phục vụ cho đấu tranh thống nhất nước nhà, cho hòa bình thế giới.

Về tính tư tưởng và tính chiến đấu của báo chí cách mạng, theo Hồ Chí Minh, tờ báo mà không có tính chiến đấu là tờ báo không có linh hồn. Một tờ báo chỉ nói những điều vô thưởng, vô phạt, những điều ngoài lề cuộc sống, những điều chẳng những không cổ vũ được mà còn làm bải hoải tinh thần chiến đấu của các chiến sĩ cách mạng thì tuyệt nhiên không phải là tờ báo cách mạng. Theo Hồ Chí Minh, báo chí không phải là người tuyên truyền tập thể, cổ động tập thể, tổ chức tập thể mà còn là vũ khí sắc bén chống lại mọi biểu hiện phản động, tiêu cực, đi ngược lại quyền lợi của nhân dân, của đất nước; báo chí là công cụ đấu tranh xã hội, đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp. Báo chí cách mạng thể hiện tính chiến đấu ở các khía cạnh: tập trung lên án mạng mẽ kẻ thù, bóc trần cái xấu xa, thâm độc của kẻ thù và thức tỉnh toàn dân tộc đứng lên làm cách mạng, đứng lên kháng chiến kiến quốc. Tính chiến đấu của báo chí cách mạng còn thể hiện ở việc đề cao chính nghĩa cách mạng, đường lối, chủ trương và chính sách của Đảng và Nhà nước nhằm động viên quần chúng tự giác, tự nguyện tham gia cách mạng, đấu tranh chống kẻ thù xâm lược. Tính chiến đấu của báo chí cách mạng còn thể hiện ở việc tuyên truyền, giác ngộ quần chúng; biểu dương những cái hay, cái tốt; ngăn chặn, đấu tranh và đẩy lùi cái xấu, cái tiêu cực, cái lạc hậu. Tính chiến đấu còn thể hiện lập trường, tư tưởng, bản lĩnh, khí chất của người làm báo. Vì thế, Hồ Chí Minh coi nhà báo là một chiến sỹ trên mặt trận chính trị, tư tưởng. Tại Đại hội lần thứ III Hội Nhà báo Việt Nam (năm 1962), Người chỉ rõ: ‘‘đối với những người viết báo chúng ta, báo chí là một mặt trận, cây bút là vũ khí sắc bén, bài báo là tờ hịch cách mạng để động viên quần chúng’’. Do vậy, cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng. Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén của họ. Người yêu cầu đội ngũ những người làm báo phải có lập trường chính trị vững chắc. Chính trị phải làm chủ. Đường lối chính trị đúng thì những việc khác mới đúng. Cho nên, báo chí của chúng ta phải có đường lối chính trị đúng. Người thường xuyên nhấn mạnh mục đích viết báo phải bảo đảm tính nhân dân, tính phổ thông, tính đại chúng… người làm báo phải học cách nói của quần chúng, chớ nói như giảng sách; luôn dùng lời nói, ví dụ đơn giản, cụ thể, dễ hiểu; khi viết, khi nói phải làm thế nào cho ai cũng hiểu được, làm sao cho quần chúng đều hiểu, đều tin, đều quan tâm đến lời kêu gọi của mình. Người thường nhắc nhở những người làm báo phải viết ngắn gọn, rõ ràng phù hợp với đông đảo quần chúng lao động, không nên viết dài dòng, lan man khó hiểu. Người căn dặn: ta làm cách mạng, ta nói và viết cho quần chúng nhân dân mà mọi người không hiểu ta nói cái gì, sao có thể gọi là cán bộ cách mạng được.

Việc bảo đảm tính chân thực và tính đa dạng trong báo chí, Người căn dặn người làm báo phải bảo đảm nguyên tắc trung thực. Khi nêu gương người tốt, việc tốt phải viết giản dị và đúng sự thật, không nói sai sự thật, không được bịa ra,  không chỉ phản ánh một chiều, chỉ tuyên truyền cái tốt mà dấu diếm cái xấu. Nêu cái hay, cái tốt phải có chừng mực, chớ phóng đại, có thế nào nói thế ấy. Bộ đội và nhân dân ta cũng đủ nhiều cái hay để nêu lên, không cần phải bịa đặt ra. Phê bình thì phải phê bình một cách thật thà, chân thành, đúng đắn, chớ không nên để địch lợi dụng để nó đả kích, tuyên tuyền, Tính đa dạng của báo chí là sự phản ánh cuộc sống một cách toàn diện, sâu sắc, nhiều mặt, không hời hợt, phiến diện. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói ‘‘Cần làm cho món ăn tinh thần được phong phú, không nên bắt mọi người chỉ được ăn một món thôi’’, cho nên báo chí phải đưa ra những thôn tin bổ ích, phản ánh khách quan, chân thực cuộc sống, xã hội. Những tính chất trên có mối quan hệ đan xen, tác động qua lại với nhau tạo nên một nét riêng sâu sắc của nền báo chí cách mạng Việt Nam.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí cách mạng còn được thể hiện ở đạo đức người làm báo và phong cách viết báo. Hồ Chí Minh tự hào khi nhận ra mình là nhà báo. Người đặt nhà báo ngang với nhà cách mạng chuyên nghiệp. Bởi vì, nhà báo có các phẩm chất của nhà cách mạng và nhà cách mạng chuyên nghiệp đã hòa làm một với nhà báo – chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng. Do vậy, đạo đức báo chí Hồ Chí Minh còn thể hiện ở sự cầu thị khiêm nhường. Người yêu cầu các nhà báo phải có lập trường, tư tưởng vững chắc, không ngừng học tập, nâng cao trình độ mọi mặt đặc biệt là trình độ chính trị; đồng thời phải hòa vào đời sống của quần chúng nhân dân để viết cho đúng với tâm trạng, nhu cầu và nguyện vọng của họ. Hồ Chí Minh khuyên các nhà báo: Nếu các bạn viết báo mà quần chúng, nhân dân hiểu, ham đọc, quần chúng nhân dân khen hay, thế là tiến bộ. Ngược lại quần chúng nhân dân chê là các bạn viết chưa thành công.

Về kỹ năng viết báo, Hồ Chí Minh căn dặn các nhà báo, trước khi cầm bút phải đặt câu hỏi: ‘‘Vì ai mà mình viết? Mục đích viết để làm gì? Viết cho ai? Viết cho đại đa số Công – Nông – Binh. Viết để làm gì? Để giáo dục, giải thích, cổ động, phê bình, để phục vụ quần chúng, thế thì viết cái gì trong vấn đề này cũng phải có lập trường vững vàng, ta, bạn, thù thì mới viết đúng. Viết để nêu những cái hay, cái tốt của dân ta. Đồng thời phê bình những khuyết điểm của chúng ta, của cán bộ, của nhân dân, của bộ đội. Về vấn đề này, ta có thể thấy rõ sự biến hóa và uyển chuyển của Hồ Chí Minh trước từng đối tượng, trong từng tình huống.

Về hình thức diễn đạt, phương pháp thể hiện, cách trình bầy, kết cấu tác phẩm báo chí phải trong sáng, dễ hiểu và tránh cầu kỳ. Hồ Chí Minh căn dặn “Muốn cho người xem hiểu được, nhớ được, làm được, thì phải viết cho đúng trình độ người xem; viết rõ ràng, gọn gàng, chớ dùng chữ nhiều’’. Phải viết gọn gàng, rõ ràng, vắn tắt, nhưng vắn tắt không phải là cụt đầu, cụt đuôi, mà phải có đầu, có đuôi. Phải học tiếng nói của quần chúng, viết phải thiết thực. Hồ Chí Minh dạy các nhà báo cách viết rất cụ thể, tỉ mỉ, thiết thực. Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Viết nên cẩn trọng, phải kiên trì và công phu ‘‘Viết xong rồi phải thế nào’’, ‘Viết rồi thì phải đọc đi, đọc lại, thấy cái gì thừa, câu nào, chữ nào thừa thì bỏ bớt đi, đọc đi, đọc lại 4,5 lần đã đủ chưa? Đọc đi đọc lại, sửa đi sửa lại. Phải nhờ một số đồng chí công, nông, binh đọc lại. Chỗ nào ngúc ngắc, chữ nào khó hiểu, họ nói ra cho thì phải chữa lại’’. Hồ Chí Minh còn lưu ý chúng ta chớ có tự ái cá nhân, cho rằng bài viết của mình là ‘‘tuyệt’’ rồi, tự ái, tự kiêu nó ngăn chặn con đường tiến bộ của chúng ta. Không chỉ với người viết báo Hồ Chí Minh còn nhắc nhở những người tham gia làm báo, ở các khâu, các bước đều phải có trách nhiệm với công việc của mình.

Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí cách mạng, hiện nay cả nước ta đã có trên 800 cơ quan báo chí. Bắt đầu từ năm 1997, báo điện tử chính thức hòa mạng internet. Hơn 20 năm qua, báo điện tử đã phát triển mạnh mẽ, trở thành công cụ có hiệu quả trong việc thông tin tuyên truyền các hoạt động chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước tới nhân dân trong nước và quốc tế. Những con số này nói lên sự lớn mạnh của báo chí cách mạng sau 94 năm kể từ khi báo Thanh niên tời báo cách mạng đầu tiên ra đời. Báo chí không chỉ là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân mà còn phản ánh kịp thời, phân tích, đánh giá đúng mức, góp phần nâng cao nhận thức của người dân và định hướng dư luận xã hội về các sự kiện, các vấn đề thời sự trong nước và trên thế giới. Báo chí còn có trách nhiệm phản ánh các nhân tố mới, các điển hình tiên tiến, các mô hình tốt đạt hiệu quả trong việc thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước; kịp thời đưa ra ánh sáng những vụ việc tham nhũng, lãng phí; đấu tranh không khoan nhượng với những hiện tượng tiêu cực trong xã hội, những âm mưu, thủ đoạn và luận điệu sai trái của các thế lực thù địch… Tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí cách mạng luôn là cẩm nang thần kỳ cho đội ngũ những người làm báo, những người lính trên mặt trận tư tưởng, văn hóa trực tiếp tham gia thúc đẩy sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tiến trình hội nhập, quốc tế.

Theo Dangcongsan.vn

Cập nhật thông tin chi tiết về Phát Huy Nhân Tố Con Người Theo Tư Tưởng Hồ Chí Minh trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!