Xu Hướng 2/2023 # Pháp Luật Về Trách Nhiệm Pháp Lý Trong Lĩnh Vực Bảo Vệ Môi Trường # Top 8 View | Phauthuatthankinh.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Pháp Luật Về Trách Nhiệm Pháp Lý Trong Lĩnh Vực Bảo Vệ Môi Trường # Top 8 View

Bạn đang xem bài viết Pháp Luật Về Trách Nhiệm Pháp Lý Trong Lĩnh Vực Bảo Vệ Môi Trường được cập nhật mới nhất trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài : Môi trƣờng có tầm quan trọng đặc biệt đối với đời sống con ngƣời, sinh vật và sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của một đất nƣớc. Chính vì vậy, bảo vệ môi trƣờng đã trở thành một vấn đề trọng yếu của toàn cầu và đang đƣợc nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm đặt thành quốc sách. Tuy nhiên trong những thập kỷ gần đây môi trƣờng thế giới đang có những thay đổi theo chiều hƣớng xấu đi, nhƣ sự thay đổi của khí hậu toàn cầu, sự suy giảm tầng ôzôn đang làm cho trái đất ngày càng nóng lên. Sự suy giảm của nhiều giống, loài động vật, thực vật, sự diệt vong của nhiều loài động vật quý hiếm, vấn đề cháy rừng, vấn đề chất thải, ô nhiễm v.v… Ở nƣớc ta từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trƣờng cùng với sự phát triển của xã hội, đã làm nảy sinh nhiều vấn đề môi trƣờng. Môi trƣờng đất, nƣớc, không khí ở một số thành phố lớn, khu công nghiệp trung tâm và các khu đông dân cƣ đã và đang bị suy thoái, nguyên nhân chính là do nƣớc thải sinh hoạt và nƣớc thải của các khu công nghiệp chƣa qua xử lý; tài nguyên thiên nhiên đa dạng, sinh học bị cạn kiệt với diện tích rừng ngày càng giảm; môi trƣờng biển, ven bờ và hải đảo có dấu hiệu xuống cấp do việc khai thác quá mức và sử dụng các biện pháp đánh bắt mang tính huỷ diệt làm cho các nguồn thuỷ sản bị giảm nghiêm trọng; bên cạnh đó sự cố môi trƣờng ngày một ra tăng, điển hình nhất là sự cố tràn dầu ở vùng ven biển . Để giải quyết hài hoà mối quan hệ giữa phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trƣờng theo hƣớng phát triển bền vững, nhà nƣớc đã ban hành hệ thống văn bản pháp luật về bảo vệ môi trƣờng nhƣ: Luật Bảo vệ môi trƣờng năm 1993 và năm 2005, Luật khoáng sản1996, Luật tài nguyên nƣớc1998, 6. 2 luật thuỷ sản 2003, Luật xây dựng 2003, Luật đất đai 2003, Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004…; cùng các Nghị định của Chính phủ về hƣớng dẫn thi hành luật bảo vệ môi trƣờng nhƣ : Nghị định 117/2009/NĐ-CP ngày 31/12/2009 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trƣờng, Nghị định 113/2010/ NĐ-CP quy định về xác định thiệt hại đối với môi trƣờng ban hành ngày 13/12/2010, Nghị định số 67/2003/NĐ-CP ngày 13/6/2003 của Chính phủ về phí bảo vệ môi trƣờng đối với nƣớc thải, Nghị định số 26/2003/NĐ-CP ngày 19/3/2003 của Chính phủ về xử phạt hành chính trong lĩnh vực bảo vệ và kiểm dịch thực vật, Nghị định số 50/2002/NĐ- CP ngày 25/4/2002 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực du lịch, Nghị định số 19/2001/NĐ-CP ngày 11/5/2001 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an toàn và kiểm soát bức xạ v.v…; bên cạnh các quy định về biện pháp trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trƣờng thì nhà nƣớc ta còn ban hành các quy định về tổ chức và hoạt động của các cơ quan quản lý về môi trƣờng nhƣ Nghị định số 65/2006/NĐ – CP ngày 23/6/2006 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Thanh tra Tài nguyên và Môi trƣờng…. Tuy nhiên việc vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trƣờng ở nƣớc ta vẫn diễn ra nghiêm trọng. Theo đánh giá của Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng thì trong giai đoạn 2003 đến nay toàn ngành quản lý Nhà nƣớc về bảo vệ môi trƣờng đã tiến hành thanh tra thực hiện luật bảo vệ môi trƣờng, kết quả: trong 439 cơ sở bị xử phạt và yêu cầu phải xử lý ô nhiễm triệt để đã có 156 cơ sở xử lý đạt yêu cầu ( chiếm 36%), 218 cơ sở đã và đang triển khai các biện pháp xử lý (chiếm 49%) và còn 65 cơ sở chƣa có biện pháp xử lý đáng kể nào (chiếm 15%). Số cơ sở gây ô nhiễm môi trƣờng nghiêm trọng thuộc thẩm quyền quản lý của các bộ, ngành đã hoàn thành việc xử lý triệt để đạt kết quả thấp (trung bình 40%). 17 tỉnh trong tổng số 29 tỉnh có hơn 50% số cơ sở thuộc diện phải 7. 3 xử lý trong gia đoạn 2003 – 2005 đã hoàn thành việc xử lý ô nhiễm triệt để, 20 tỉnh trong số 63 tỉnh có hơn 50% số cơ sở đã hoàn thành việc xử lý ô nhiễm triệt để giai đoạn 2003 – 2007. Cũng theo thống kê từ các Sở tài nguyên môi trƣờng thì 100% cơ sở có phát sinh nƣớc thải ” bỏ qua” việc xin cấp giấy phép xả nƣớc thải vào nguồn nƣớc, 100% doanh nghiệp phát thải khí không có thiết bị xử lý chất nguy hại. Số doanh nghiệp không chấp hành quy định về báo cáo đánh giá tác động môi trƣờng hoặc cam kết bảo vệ môi trƣờng chiếm tỷ lệ khá cao từ 55%-70%. Một trong những nguyên nhân chính của tình trạng vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trƣờng chính là hệ thống pháp luật về môi trƣờng ở nƣớc ta còn nhiều bất cập, chung chung thiếu rõ ràng, nên khó có thể xác định hành vi nào là thực hiện đúng các quy định pháp luật, đồng thời pháp luật về môi trƣờng trong một số lĩnh vực còn thiếu, VD: các quy định pháp luật trong lĩnh vực môi trƣờng biển vừa phân tán, chồng chéo vừa có nhiều khoảng trống lại thiếu quy hoạch tổng thể; các quy định về xác định mức độ thiệt hại mới chỉ dừng ở các thiệt hại cụ thể đo đếm đƣợc, chứ chƣa có các quy định để xác định mức độ thiệt hại lâu dài; các quy định về sử dụng nguồn kinh phí để khắc phục ô nhiễm môi trƣờng và bồi thƣờng thiệt hại ô nhiễm môi trƣờng gây ra còn chƣa rõ ràng, thiếu thống nhất; các quy định về trách nhiệm khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trƣờng là loại trách nhiệm nào? trách nhiệm hành chính hay trách nhiệm dân sự vẫn đang là vấn đề tranh cãi v.v… Bên cạnh đó hệ thống cơ quan áp dụng các biện pháp trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trƣờng còn chồng chéo về chức năng nhiệm vụ, mức xử phạt hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trƣờng chƣa đủ mạnh để răn đe các chủ thể vi phạm. Từ những thực trạng trên, việc hoàn thiện hệ thống các văn bản pháp luật về bảo vệ môi trƣờng cũng nhƣ nâng cao hoạt động áp dụng trách nhiệm

MÃ TÀI LIỆU: 9438

PHÍ TÀI LIỆU: 50.000

ĐỊNH DẠNG: WORD+PDF

THANH TOÁN QUA MOMO, CHUYỂN KHOẢN, THẺ CÀO ĐIỆN THOẠI (X2)

NỘI DUNG: MÃ TÀI LIỆU – EMAIL NHẬN ( VÍ DỤ: 0324 – trinhnam34gmailcom) có thể bỏ chữ @ mới gửi được)

CHECK EMAIL (1-15 PHÚT)

NẾU CHỜ QUÁ 15 PHÚT CHƯA THẤY MAIL VUI LÒNG NHẮN ZALO: 0932091562

NHẬP TÀI LIỆU BẠN CẦN TÌM VÀO ĐÂY

Nhiệm Vụ, Giải Pháp Về Bảo Vệ Môi Trường

Nhiệm Vụ, Giải Pháp Về Bảo Vệ Môi Trường, Phương Hướng Nhiệm Vụ Giải Pháp Công Tác Xây Dựng Đảng Nhiệm Kỳ Đại Hội Xiii, Hiểu Biết Của Đồng Chí Về Vi Phạm Pháp Luật, Kỷ Luật Và Trách Nhiệm Pháp Lý? Các Giải Pháp Phòng, Ch, Hiểu Biết Của Đồng Chí Về Vi Phạm Pháp Luật, Kỷ Luật Và Trách Nhiệm Pháp Lý? Các Giải Pháp Phòng, Ch, Hiểu Biết Của Đồng Chí Về Vi Phạm Pháp Luật, Kỷ Luật Và Trách Nhiệm Pháp Lý? Các Giải Pháp Phòng, Ch, Nhiệm Vụ Và Giải Pháp Xây Dựng Đảng Ta Trong Giai Đoạn Hiện Nay. , Phân Tích Những Nhiệm Vụ Và Giải Pháp Xây Dựng Đảng Trong Giai Đoạn Hiện Nay, Các Đồng Chí Hẫy Trình Bày Nhiệm Vụ Và Giải Pháp Xây Dựng Đảng Tron Sạch Vững Mạnh Trong Giai Đoạn H, Giải Pháp Nâng Cao Nhận Thức, Trách Nhiệm Của Quân Nhân Về Nhiệm Vụ Bảo Vên An Toàn, An Ninh Mạng, Những Yêu Cầu, Giải Pháp Nâng Cao Nhân Thức, Trách Nhiệm Của Quân Nhân Về Nhiệm Vụ Bảo Vệ An Toàn…, Những Yêu Cầu, Giải Pháp Nâng Cao Nhận Thức, Trách Nhiệm Của Quân Nhân Về Nhiệm Vụ Bảo Vệ An Toàn, A, Những Yêu Cầu, Giải Pháp Nâng Cao Nhận Thức, Trách Nhiệm Của Quân Nhân Về Nhiệm Vụ Bảo Vệ An Toàn, A, Yeu Cau, Giai Pháp Nâng Cao Nhận Thức, Trách Nhiệm Của Quân Nhân Về Nhiệm Vụ Bảo Vệ An Toàn Mạng, Liên Hệ Giải Pháp Xây Dựng Giai Cấp Công Nhân Trong Các Trường Học, Các Đồng Chí Hãy Trình Bày Các Nhiệm Vụ Và Giải Pháp Xây Dựng Đảng Trong Sạch, Vững Mạnh Trong Giai, Nhiệm Vụ Và Giải Pháp Xây Dựng Đảng Trong Sạch Vững Mạnh Trong Giai Đoạn Hiện Nay, Các Đồng Chí Hãy Trình Bày Các Nhiệm Vụ Và Giải Pháp Xây Dựng Đảng Trong Sạch, Vững Mạnh Trong Giai , Nhiệm Vụ Và Giai Pháp Xây Dựng Đẳn Trong Sạch Vững Mạnh Trong Giai Đoạn Hiện Nay, Mau Don Mien Nhiem Truong Ban Phap Che, Đơn Xin Miễn Nhiệm Trưởng Ban Pháp Chế, Phân Tích Nhiệm Vụ Và Giải Pháp Xây Dựng Đảng Trong Sạch Vững Mạnh Trong Giai Đoạn Hiện Nay, Nhiệm Vụ Giải Pháp Bảo Vệ An Ninh Quốc Gia, Mẫu Đơn Miễn Nhiệm Trưởng Ban Phap Chế HĐnd, Quyết Định Bổ Nhiệm Vụ Trưởng Vụ Pháp Chế, Quyết Định Bổ Nhiệm Bộ Trưởng Bộ Tư Pháp, Bổ Nhiệm Trưởng Phòng Tư Pháp Huyện, Đơn Xin Miễn Nhiệm Trưởng Ban Pháp Chế HĐnd Xã, Nhiẹm Vu Giải Pháp Xây Dụng Đảng Hiên Nay, Bài Tham Luận Nhiệm Vụ Giải Pháp Về Bảo Đảm Antt, Quyết Định Bổ Nhiệm Trưởng Phòng Tư Pháp, Bổ Nhiệm Hoàng Thị Xuyên Trưởng Phòng Tư Pháp, Giáo Trình ô Nhiễm Môi Trường Đất Và Biện Pháp Xử Lý, Tờ Trình Miễn Nhiệm Trưởng Ban Pháp Chế HĐnd, Bài Tham Luận Hay Về Nhiệm Vụ Giải Pháp Đảm Bảo Anct-atxh, Giải Bài Tập ô Nhiễm Môi Trường Sinh 9, Quyết Định Bổ Nhiệm Trưởng Phòng Tư Pháp Huyện, Quyết Định Bổ Nhiệm Trưởng Phòng Thanh Tra Pháp Chế, Trình Bày Những Nhiệm Vụ Giải Pháp Củ Yếu Trong Lĩnh Vực Quốc Gia, Cong Tac Phat Trien Đoan Vien , Nhiem Vu ,giai Phap, Phương án Giải Quyết ô Nhiễm Môi Trường, Đơn Đề Nghị Giải Quyết ô Nhiễm Môi Trường, Bài Thuyết Trình Về Sự ô Nhiễm Môi Trường Và Các Biện Pháp Khắc Phục , Don Xin Mien Niem Nhiem Chuc Danh Truong Ban Phap Che HĐnd, Tinh Bay Nhiem Vu Giai Phap Chu Yeu Trong Linh Vuc Quoc Phong An Ninh, Nhiệm Vụ Giải Pháp Đấu Tranh Với Các Quan Điểm Sai Trái Thù Địch Hiện Nay, Nhiệm Vụ Giải Pháp Tăng Cường Quốc Phòng An Ninh Đối Ngoại, Giải Pháp Quản Lý Môi Trường, Tiểu Luận Thực Trạng Nhiệm Vụ Giải Pháp Xây Dựng Đội Ngũ Đảng Viên, Bài Thu Hoạch Nhiệm Vụ Giải Pháp Đấu Tranh Với Các Quan Điểm Sai Trái Thù Địch Hiện Nay, Phan Tich Nhiem Vu Va Giai Phap Xay Dung Dang Trong Sach Hien Nay, Nhiệm Vụ Giải Pháp Chủ Yếu Trong Lĩnh Vực Quốc Phòng An Ninh Của Đảng Ta 2019, Những Vấn Đề Môi Trường Đô Thị Nổi Cộm Và Đề Xuất Giải Pháp, Trình Bày Nhiệm Vụ, Giải Pháp Chủ Yếu Trong Lĩnh Vực Quốc Phòng An Ninh ? Liên Hệ Thực Tế?, Nghị Quyết Số 84/nq-cp Về Các Nhiệm Vụ, Giải Pháp Tiếp Tục Tháo Gỡ Khó Khăn Cho Sản Xuất Kinh Doanh, Trinh Bày Nhiệm Vụ Giải Pháp Chủ Yếu Trong Lĩnh Vực An Ninh Quốc Phòng? Liên Hệ Thực Tế, Giải Pháp Vi Mô Phát Triển Thị Trường Lao Động, Bai Thu Hoạch Những Nhiệm Vụ Giải Pháp Để Thực Hiện Tốt Chủ Đề 2020 Về Tăng Cường Khối Đại Đoàn Kế, Tiểu Luận Nhiệm Vụ Giải Pháp Xây Dựng Đảng Trong Sạch Vững Mạnh Hiện Nay, Bai Thu Hoạch Những Nhiệm Vụ Giải Pháp Để Thực Hiện Tốt Chủ Đề 2020 Về Tăng Cường Khối Đại Đoàn Kế, Giải Pháp Đẩy Mạnh Xuất Khẩu Sang Thị Trường Eu, Giải Pháp Vi Mô Phát Triển Thị Trường Lao Động Việt Nam, Giải Pháp Xây Dựng Môi Trường Xanh Sạch Đẹp An Toàn, Thảo Luận, Nhấn Mạnh, Làm Rõ Về Định Hướng Nhiệm Vụ, Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế; Tập Trung Nội Dun, Thảo Luận, Nhấn Mạnh, Làm Rõ Về Định Hướng Nhiệm Vụ, Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế; Tập Trung Nội Dun, Giải Pháp Tạo Môi Trường Sử Dụng Tiếng Anh Hiệu Quả Cho Học Sinh Thpt, Giải Pháp Hoàn Thiện Kỹ Năng Mềm Cho Sinh Viên Trường Đại Học Thương Mại, Giải Pháp Đẩy Mạnh Xuất Khẩu Sang Thị Trường Eu, Luận Văn Đại Học Thương Mại, Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Thực Hiện Chủ Trương Đường Lối Thoát, Chủ Trương Và Giải Pháp Về Công Tác Đào Tạo Bồi Dưỡng Cán Bộ Theo Tinh Thần Nghị Quyết 769 Của Quân, Chủ Trương Và Giải Pháp Về Công Tác Đào Tạo Bồi Dưỡng Cán Bộ Theo Tinh Thần Nghị Quyết 769 Của Quân , Yêu Cầu Giải Pháp Nâng Cao Nhận Thức Trách Nhiệm Của Quân Nhân, Yêu Cầu Giải Pháp Nâng Cao Nhận Thức Trách Nhiệm Của Quân Nhân Về Bảo Vệ An Toàn An Ninh Mạng, Giải Pháp Hoàn Thiện The Chế Gan Ket Tang Truong Kinh Kinh Tế, Đề Xuất Kiến Nghị Các Giải Pháp Tổ Chức Thực Hiện Nghị Tư 5 Khóa 12 Tại Cơ Quan Trường Thcs Quyết Tr, Bài Phát Biểu Chỉ Đạo Tổng Kết Nhiệm Kỳ Và Bầu Trưởng Thôn Nhiệm Kỳ 2020_2022, Phát Biểu Của Lãnh Đạo Xã Tại Hội Nghị Tổng Kết Nhiệm Kỳ Và Bầu Trưởng Thôn Nhiệm Kỳ 2017 – 2019, Báo Cáo Thực Tập Tốt Nhiệm Về ô Nhiễm Môi Trường Trong Chăn Nuôi, Pháp Luật Về Tuyển Dụng Viên Chức ở Vn Hiện Nay Trạg Và Giải Pháp, Giải Thích Câu Tục Ngiải Pháp Chủ Yêu Đường Lối, Chính Sách, Pháp Luật Của Đẩng, Nhà Nươc…, Quyết Định Bổ Nhiệm Hiệu Trưởng Trường Đại Học Luật Hà Nội, Quyết Định Miễn Nhiệm Kế Toán Trưởng Trường Học, Quyết Định Bổ Nhiệm Hiệu Trưởng Trường Thcs, Quyết Định Bổ Nhiệm Hiệu Trưởng Trường Thpt, Quyết Định Bổ Nhiệm Hiệu Trưởng Trường Tiểu Học, Quyết Định Bãi Nhiệm Tổ Trưởng Tổ Chuyên Môn Trong Trường Mầm Non, Quyết Định Bổ Nhiệm Phó Hiệu Trưởng Trường Tiểu Học, Quyết Định Bổ Nhiệm Hiệu Trưởng Trường Mầm Non Tư Thục, Một Số Giải Pháp Hoàn Thiện Pháp Luật Về Hoạt Động Thu Thập Chứng Cứ Của Người Bào Chữa Trong Tố Tụn, Một Số Giải Pháp Hoàn Thiện Pháp Luật Về Hoạt Động Thu Thập Chứng Cứ Của Người Bào Chữa Trong Tố Tụn, Ngữ Pháp Và Giải Thích Ngữ Pháp Tiếng Anh Cơ Bản Và Nâng Cao 20/80 (tập 1) Pdf, Ngữ Pháp Và Giải Thích Ngữ Pháp Tiếng Anh Cơ Bản Và Nâng Cao 20/80, Ngữ Pháp Và Giải Thích Ngữ Pháp Tiếng Anh Vũ Mai Phương, Ngữ Pháp Và Giải Thích Ngữ Pháp Tiếng Anh Cơ Bản Và Nâng Cao 20/80 (tập 1), Ngữ Pháp Và Giải Thích Ngữ Pháp Tiếng Anh Cơ Bản Và Nâng Cao, Ngữ Pháp Và Giải Thích Ngữ Pháp Tiếng Anh Cơ Bản Và Nâng Cao 20/80 (tập 2) Pdf, Quyết Định Bổ Nhiệm Hiệu Trưởng Trường Đại Học, Quyết Định Bổ Nhiệm Hiệu Trưởng Trường Mầm Non, Mẫu Quyết Định Bổ Nhiệm Chỉ Huy Trưởng Công Trường, Đề Cương Bao Cáotong Ket Nhiem Ky Truong Thon To Truong To Dan Pho, Biện Pháp Giáo Dục Trẻ 5 – 6 Tuổi Biết Bảo Vệ Môi Trường Trong Trường Mầm Non,

Nhiệm Vụ, Giải Pháp Về Bảo Vệ Môi Trường, Phương Hướng Nhiệm Vụ Giải Pháp Công Tác Xây Dựng Đảng Nhiệm Kỳ Đại Hội Xiii, Hiểu Biết Của Đồng Chí Về Vi Phạm Pháp Luật, Kỷ Luật Và Trách Nhiệm Pháp Lý? Các Giải Pháp Phòng, Ch, Hiểu Biết Của Đồng Chí Về Vi Phạm Pháp Luật, Kỷ Luật Và Trách Nhiệm Pháp Lý? Các Giải Pháp Phòng, Ch, Hiểu Biết Của Đồng Chí Về Vi Phạm Pháp Luật, Kỷ Luật Và Trách Nhiệm Pháp Lý? Các Giải Pháp Phòng, Ch, Nhiệm Vụ Và Giải Pháp Xây Dựng Đảng Ta Trong Giai Đoạn Hiện Nay. , Phân Tích Những Nhiệm Vụ Và Giải Pháp Xây Dựng Đảng Trong Giai Đoạn Hiện Nay, Các Đồng Chí Hẫy Trình Bày Nhiệm Vụ Và Giải Pháp Xây Dựng Đảng Tron Sạch Vững Mạnh Trong Giai Đoạn H, Giải Pháp Nâng Cao Nhận Thức, Trách Nhiệm Của Quân Nhân Về Nhiệm Vụ Bảo Vên An Toàn, An Ninh Mạng, Những Yêu Cầu, Giải Pháp Nâng Cao Nhân Thức, Trách Nhiệm Của Quân Nhân Về Nhiệm Vụ Bảo Vệ An Toàn…, Những Yêu Cầu, Giải Pháp Nâng Cao Nhận Thức, Trách Nhiệm Của Quân Nhân Về Nhiệm Vụ Bảo Vệ An Toàn, A, Những Yêu Cầu, Giải Pháp Nâng Cao Nhận Thức, Trách Nhiệm Của Quân Nhân Về Nhiệm Vụ Bảo Vệ An Toàn, A, Yeu Cau, Giai Pháp Nâng Cao Nhận Thức, Trách Nhiệm Của Quân Nhân Về Nhiệm Vụ Bảo Vệ An Toàn Mạng, Liên Hệ Giải Pháp Xây Dựng Giai Cấp Công Nhân Trong Các Trường Học, Các Đồng Chí Hãy Trình Bày Các Nhiệm Vụ Và Giải Pháp Xây Dựng Đảng Trong Sạch, Vững Mạnh Trong Giai, Nhiệm Vụ Và Giải Pháp Xây Dựng Đảng Trong Sạch Vững Mạnh Trong Giai Đoạn Hiện Nay, Các Đồng Chí Hãy Trình Bày Các Nhiệm Vụ Và Giải Pháp Xây Dựng Đảng Trong Sạch, Vững Mạnh Trong Giai , Nhiệm Vụ Và Giai Pháp Xây Dựng Đẳn Trong Sạch Vững Mạnh Trong Giai Đoạn Hiện Nay, Mau Don Mien Nhiem Truong Ban Phap Che, Đơn Xin Miễn Nhiệm Trưởng Ban Pháp Chế, Phân Tích Nhiệm Vụ Và Giải Pháp Xây Dựng Đảng Trong Sạch Vững Mạnh Trong Giai Đoạn Hiện Nay, Nhiệm Vụ Giải Pháp Bảo Vệ An Ninh Quốc Gia, Mẫu Đơn Miễn Nhiệm Trưởng Ban Phap Chế HĐnd, Quyết Định Bổ Nhiệm Vụ Trưởng Vụ Pháp Chế, Quyết Định Bổ Nhiệm Bộ Trưởng Bộ Tư Pháp, Bổ Nhiệm Trưởng Phòng Tư Pháp Huyện, Đơn Xin Miễn Nhiệm Trưởng Ban Pháp Chế HĐnd Xã, Nhiẹm Vu Giải Pháp Xây Dụng Đảng Hiên Nay, Bài Tham Luận Nhiệm Vụ Giải Pháp Về Bảo Đảm Antt, Quyết Định Bổ Nhiệm Trưởng Phòng Tư Pháp, Bổ Nhiệm Hoàng Thị Xuyên Trưởng Phòng Tư Pháp, Giáo Trình ô Nhiễm Môi Trường Đất Và Biện Pháp Xử Lý, Tờ Trình Miễn Nhiệm Trưởng Ban Pháp Chế HĐnd, Bài Tham Luận Hay Về Nhiệm Vụ Giải Pháp Đảm Bảo Anct-atxh, Giải Bài Tập ô Nhiễm Môi Trường Sinh 9, Quyết Định Bổ Nhiệm Trưởng Phòng Tư Pháp Huyện, Quyết Định Bổ Nhiệm Trưởng Phòng Thanh Tra Pháp Chế, Trình Bày Những Nhiệm Vụ Giải Pháp Củ Yếu Trong Lĩnh Vực Quốc Gia, Cong Tac Phat Trien Đoan Vien , Nhiem Vu ,giai Phap, Phương án Giải Quyết ô Nhiễm Môi Trường, Đơn Đề Nghị Giải Quyết ô Nhiễm Môi Trường, Bài Thuyết Trình Về Sự ô Nhiễm Môi Trường Và Các Biện Pháp Khắc Phục , Don Xin Mien Niem Nhiem Chuc Danh Truong Ban Phap Che HĐnd, Tinh Bay Nhiem Vu Giai Phap Chu Yeu Trong Linh Vuc Quoc Phong An Ninh, Nhiệm Vụ Giải Pháp Đấu Tranh Với Các Quan Điểm Sai Trái Thù Địch Hiện Nay, Nhiệm Vụ Giải Pháp Tăng Cường Quốc Phòng An Ninh Đối Ngoại, Giải Pháp Quản Lý Môi Trường, Tiểu Luận Thực Trạng Nhiệm Vụ Giải Pháp Xây Dựng Đội Ngũ Đảng Viên, Bài Thu Hoạch Nhiệm Vụ Giải Pháp Đấu Tranh Với Các Quan Điểm Sai Trái Thù Địch Hiện Nay, Phan Tich Nhiem Vu Va Giai Phap Xay Dung Dang Trong Sach Hien Nay,

Đề Tài: Pháp Luật Về Bảo Vệ Môi Trường Trong Khai Thác Khoáng Sản

Published on

Download luận văn thạc sĩ ngành luật với đề tài: Pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản ở Việt Nam, cho các bạn tham khảo

1. ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT ĐẶNG VĂN CƯƠNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC, CHẾ BIẾN KHOÁNG SẢN Ở VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI – 2014

2. ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT ĐẶNG VĂN CƯƠNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC, CHẾ BIẾN KHOÁNG SẢN Ở VIỆT NAM Chuyên ngành : Luật kinh tế Mã số : 60 38 01 07 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Người hướng dẫn khoa học: TS. Doãn Hồng Nhung HÀ NỘI – 2014

3. Lêi cam ®oan T”i xin cam ®oan ®©y lµ c”ng tr×nh nghiªn cøu khoa häc cña riªng t”i. C¸c sè liÖu, vÝ dô vµ trÝch dÉn trong luËn v¨n ®¶m b¶o ®é tin cËy, chÝnh x¸c vµ trung thùc. Nh÷ng kÕt luËn khoa häc cña luËn v¨n ch­a tõng ®­îc ai c”ng bè trong bÊt kú c”ng tr×nh nµo kh¸c. T¸c gi¶ luËn v¨n §Æng V¨n C­¬ng

5. 1.4.5. Hệ thống các quy định về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản 30 Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC VÀ CHẾ BIẾN KHOÁNG SẢN 33 2.1. Nội dung các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản 29 2.1.1. Quy định của pháp luật về quản lý nhà nước trong hoạt động khoáng sản 33 2.1.2. Thẩm quyền quản lý nhà nước về hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản 34 2.1.3. Cấp phép trong hoạt động khái thác và chế biến khoáng sản 38 2.2. Thực tiễn thi hành pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản ở Việt Nam 51 2.2.1. Chủ thể thể trong hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản 51 2.2.2. Quyền của chủ thể khai thác và chế biến khoáng sản 53 2.2.3. Nghĩa vụ của chủ thể khai thác và chế biến khoáng sản 56 2.2.4. Đánh giá tác động môi trường của hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản 59 2.3. Đánh giá thực tiễn thi hành pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản ở Việt Nam 64 2.3.1. Thực trạng áp dụng pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản 64 2.3.2. Những ví dụ thực tế trong hoạt động khai thác chế biến khoáng sản gây ảnh hưởng tới môi trường 69 2.3.3. Những mặt tích cực của pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản 73 2.3.4. Những mặt tồn tại của pháp luật về bảo về môi trường trong hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản 74

6. 2.3.5. Nguyên nhân của những khó khăn, tồn tại của pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản 76 2.3.6. Các biện pháp khuyến khích bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản 78 Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC VÀ CHẾ BIẾN KHOÁNG SẢN 82 3.1. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản 82 3.1.1. Mục đích phải nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản 82 3.1.2. Chiến lược quy hoạch và phát triển hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản 83 3.2. Giải pháp nâng cao các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản 89 3.2.1. Giải pháp nâng cao pháp luật 89 3.2.2. Giải pháp nâng cao tổ chức thực hiện 90 3.2.3. Giải pháp phối hợp 91 KẾT LUẬN 95 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 96

7. MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Ngày nay, khi thế giới đang bước vào kỷ nguyên của các tiến bộ khoa học và công nghệ hiện đại thì đồng thời nhân loại cũng phải đối mặt với những thách thức lớn lao cho sự tồn tại. Đó là những nguy cơ suy giảm nghiêm trọng các nguồn tài nguyên thiên nhiên và sự suy thoái các yếu tố quan trọng, căn bản của môi trường sống. Tình hình đó đã đặt ra cho toàn nhân loại nhiệm vụ cấp thiết phải có những hành động kịp thời để bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường. Bảo vệ môi trường nói chung và bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản nói riêng đã và đang trở thành vấn đề toàn cầu, là mối quan tâm của hầu hết các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là những nước có nền công nghiệp mỏ phát triển. Việt Nam cũng như các nước đang phát triển khác có nhu cầu rất lớn về tài nguyên khoáng sản để phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Mặt khác, hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản hiện nay đang được xã hội hóa với tốc độ cao. Sự ra đời của Luật khoáng sản năm 2010 đã tạo khung pháp lý vững chắc, môi trường đầu tư an toàn trong hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản, cũng như về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản. Ngành công nghiệp mỏ ở Việt Nam đã và đang trên đà phát triển, nhu cầu sử dụng tài nguyên khoáng sản ngày càng tăng cao. Tuy nhiên, tài nguyên khoáng sản là một tài nguyên đặc biệt, không tái tạo được và cũng không phải vô tận. Do tài nguyên khoáng sản trong lòng đất bị con người khai thác liên tục nên trữ lượng của chúng ngày càng cạn kiệt. Mặt khác, hoạt động khai thác, chế biến khoáng làm cho cơ cấu hoặc trạng thái môi trường bị biến đổi và biến dạng rất lớn. Hầu hết các mỏ ở nước ta hiện nay đều áp dụng công nghệ khai thác và chế biến lạc hậu. Đặc biệt là

8. công nghệ khai thác lộ thiên đã phá hoại cảnh quan môi trường, phá hủy bề mặt của đất và là nguồn gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng nhất. Tình trạng ô nhiễm môi trường không khí và ô nhiễm nguồn nước ở các vùng mỏ nước ta hiện nay đang ở mức báo động. Nó đã và đang gây ra những ảnh hưởng không nhỏ đến con người, kinh tế, văn hóa, xã hội của vùng mỏ nói riêng và toàn xã hội nói chung. Trong tình hình hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản ngày càng gia tăng ở Việt Nam, những tác động xấu của hoạt động này đến môi trường ngày càng đa dạng và phức tạp đòi hỏi sự quan tâm của Nhà nước, cũng như sự điều chỉnh của pháp luật. Hiện nay, một số văn bản pháp luật quy định về hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản tạo ra cơ sở pháp lý nhất định để hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản phát triển, bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, vẫn còn thiếu sót trong những quy định đó chưa đáp ứng được nhu cầu điều chỉnh hoạt động này trên thực tế để bảo vệ môi trường. Đặc biệt, việc thực thi những quy định này còn yếu kém, nhiều bất cập, cần bổ sung kịp thời. Với những lý do trên, em đã mạnh dạn lựa chọn đề tài “Pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản ở Việt Nam” để làm luận văn tốt nghiệp. 2. Tình hình nghiên cứu của đề tài Hiện nay ở nước ta, ngoài một số bài báo, công trình nghiên cứu như: chúng tôi Nguyễn Đức Khiển, Luật và các tiêu chuẩn chất lượng môi trường, Nxb Hà Nội, 2002; ThS. Bùi Đức Hiển, Về quyền được sống trong môi trường trong lành ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Luật học, số 11/2011; TS. Doãn Hồng Nhung, Chính sách pháp luật về quản lý, khai thác khoáng sản gắn với bảo vệ môi trường, Tạp chí Tài nguyên và Môi trường. Tạp chí Lý luận và bảo vệ khoa học và nghiệp vụ của Bộ Tài nguyễn và Môi trường. Số 05 (163). Kỳ 1 tháng 3-201337, Quang Thọ (2011), “Phòng chống nạn khai thác than trái phép ở Quảng Ninh”, chúng tôi ngày 28/09/2011, Nguyễn Cảnh Nam, Nguyễn Quang Tuyết (2010), “Kiến nghị hoàn thiện một số vấn đề về

13. Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC VÀ CHẾ BIẾN KHOÁNG SẢN 1.1. TỔNG QUAN VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC, CHẾ BIẾN KHOÁNG SẢN VÀ VAI TRÒ CỦA KHOÁNG SẢN ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ QUỐC DÂN 1.1.1. Khái niệm tài nguyên khoáng sản Tài nguyên là tất cả các dạng vật chất có ích cho con người và sinh vật. Tài nguyên là các tác nhân cơ bản tạo nên môi trường sống của con người. Không có tài nguyên thì không có môi trường. Khoáng sản là những dạng vật chất rất gần gũi và đóng vai trò to lớn trong đời sống con người như sắt, than đá, kẽm, vàng, dầu khí, nước khoáng thiên nhiên… Khoáng sản có thể tồn tại ở trạng thái rắn, lỏng hoặc khí. Khoáng sản hầu hết là tài nguyên không tái tạo được, là tài sản quan trọng của quốc gia, phải quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả nhằm đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển bền vững kinh tế-xã hội trước mắt và lâu dài, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Có rất nhiều cách để phân loại các tài nguyên: – Theo tính chất, các tài nguyên được phân thành: Tài nguyên đất, nước, khí hậu, sinh vật… – Theo khả năng tái tạo, các tài nguyên được phân chia thành: Tài nguyên tái tạo và tài nguyên không tái tạo được. Tài nguyên tái tạo được gọi là những nguồn tài nguyên có thể tự duy trì hoặc bổ sung một cách liên tục khi được sử dụng một cách hợp lý, bao gồm: Năng lượng mặt trời, nước, gió, động vật, thực vật, vi sinh vật…

14. Tài nguyên không tái tạo được là những nguồn tài nguyên có mức độ giới hạn nhất định trên trái đất, chúng ta chỉ có thể khai thác ở dạng nguyên khai một lần, bao gồm: Khoáng sản, dầu mỏ… Hiện nay có nhiều định nghĩa khác nhau về tài nguyên khoáng sản. Định nghĩa được nhiều người chấp nhận như sau: Tài nguyên khoáng sản là tích tụ tự nhiên của các khoáng chất ở thể rắn, lỏng, khí ở trên hoặc ở trong vỏ trái đất, có hình thái, số lượng, chất lượng đáp ứng những yêu cầu tối thiểu cho phép khai thác, sử dụng, có khả năng đem lại giá trị kinh tế ở thời điểm hiện tại hoặc tương lai. Môi trường địa chất của lãnh thổ Việt Nam là loại môi trường có lịch sử phát sinh, phát triển và hình thành đặc biệt phức tạp và rất đa dạng. Nhờ đó Việt Nam có nguồn tài nguyên khoáng sản rất phong phú và đa dạng về chủng loại. Theo thống kê chưa đầy đủ thì đến nay đã phát hiện và ghi nhận trên lãnh thổ Việt Nam có không ít hơn 60 trong số 66 loại khoáng sản phổ biến nhất trong vỏ trái đất. Có trên 80 trong số 200 dạng nguyên liệu khoáng được khai thác, chế biến và sử dụng trong nhiều lĩnh vực kinh tế biên giới. Bao gồm: Nhóm khoáng sản năng lượng – nhiên liệu(dầu mỏ, khí đốt thiên nhiên, than đá, đá dầu…); nhóm sắt và hợp kim sắt (Fe, Mn, Cr…); nhóm kim loại phóng xạ (U, Th); nhóm kim loại đất hiếm (La, Ce, Pr, Nd, Gd, Yb…) và hiếm (Ta, Nb, Cd, Ge…); nhóm kim loại quý (Au, Ag, Fe); nhóm hóa chất và phân bón (apatit, photphoric, berit, pyrit); nhóm nguyên liệu trẻ (sét chịu lửa, quarit, magnerete…); nhóm vật liệu xây dựng (sét gạch ngói, đá xây dựng, đá ốp lát trang trí, đá vôi, đá phiến lớp…); nhóm nguyên liệu kỹ thuật và khoáng chất công nghiệp khác (giophit, thạch anh áp điệu…); nhóm đá quý và bán quý (rubi, saphia…);nhóm nước khoáng nóng. Những khoáng sản đã phát hiện được kể trên đã được điều tra, thăm dò địa chất với những mức độ rất khác nhau. Bước đầu có thể đưa ra những nhận định như sau:

15. – Trên lãnh thổ Việt Nam có những loại khoáng sản có tiềm năng lớn đạt tầm cỡ thế giới như: Bauxit, đất hiếm, khí đốt thiên nhiên, đá vôi, các thạch anh, than nâu, đá ốp lát trang trí mỹ nghệ. – Có nhiều loại khoáng sản có tiềm năng trung bình đến lớn, đáp ứng được phần nào nhu cầu sử dụng để phát triển kinh tế-xã hội trong nước và góp phần tham gia vào thị trường nguyên liệu khoáng sản khu vực và thế giới như Apatit, sa khoáng tổng hợp ven biển, cromit và một số loại khoáng chất công nghiệp. – Có nhiều loại khoáng sản đã được phát hiện có thể có triển vọng về tiềm năng lớn. Song chưa được làm sáng tỏ đến mức cần thiết để có thể khẳng định về quy mô và chất lượng của chúng như: đá quý và đồng, chì, kẽm, vàng… Dưới góc độ pháp luật, khoáng sản được hiểu là các tài nguyên trong lòng đất, trên mặt đất dưới dạng tích tụ tự nhiên khoáng vật, khoáng chất có ích ở thể rắn, thể rắn, thể lỏng, thể khí hiện tại hoặc sau này có thể khai thác, khoáng vật, khoáng chất ở bãi thải của mỏ mà sau này có thể khai thác lại, cũng là khoáng sản. Điều 2, khoản 1 Luật khoáng sản năm 2010 có quy định: “Khoáng sản là khoáng vật, khoáng chất có ích được tích tụ tự nhiên ở thể rắn, thể lỏng, thể khí tồn tại trong lòng đất, trên mặt bao gồm cả khoáng vật, khoáng chất ở bãi thải mỏ” [25]. Tóm lại, khoáng sản là khoáng vật, khoáng vật có ích được tích tụ tự nhiên hàng nghìn năm ở thể rắn, thể lỏng, thể khí tồn tại trong lòng và trên mặt đất. Khoáng sản là tài nguyên hầu hết không tái tạo được, là tài sản quan trọng của quốc gia. Giá trị to lớn của khoáng sản cũng như tính phức tạp của của vấn đề môi trường phát sinh trong quá trình khai thác và chế biến khoáng sản tất yếu dẫn tới nhà nước quản lý khoáng sản bằng pháp luật. 1.1.2. Phân loại tài nguyên khoáng sản Có nhiều căn cứ phân loại khoáng sản: Thứ nhất, theo chức năng sử dụng, khoáng sản được phân ra làm ba nhóm lớn:

16. – Khoáng sản kim loại: + Nhóm khoáng sản sắt và kim loại sắt: Sắt, mangan, crom, niken, coban… + Nhóm kim loại cơ bản: Thiếc, đồng, chì, kẽm… + Nhóm kim loại nhẹ: Nhôm, titan, berylly… + Nhóm Kim loại quý hiếm: Vàng, bạc, bạch kim + Nhóm kim loại phóng xạ, nhóm kim loại hiếm và kim loại đất hiếm. – Khoáng sản phi kim loại: + Nhóm khoáng sản hóa chất và phân bón: Apatit, photphorit, muối mỏ thạch cao… + Nhóm nguyên liệu: Sứ, gốm, thủy tinh chịu lửa… + Nhóm nguyên liệu kỹ thuật: Kim cương, thạch anh, atbet… + Nhóm vật liệu xây dựng: Đá macma, đá vôi, đá hoa, cát sỏi… – Khoáng sản cháy: Than (than đá, than nâu, than bùn), dầu khí (dầu mỏ, khí đốt)… Thứ hai, theo mục đích và công dụng có thể phân thành: – Khoáng sản nhiên liệu hay nhiên liệu hóa thạch: Dầu mỏ, hơi đốt, than bùn, than… – Khoáng sản phi kim: Các dạng vật liệu xây dựng như đá vôi, cát, đất sét…, đá xây dựng như đá hoa cương… và các khoáng sản phi kim khác. – Khoáng sản kim loại: Các loại quặng kim loại đen, kim loại màu và kim loại đá quý. – Nhiên liệu đá màu: Ngọc thạch anh, đá mã não… và các loại đá quý như kim cương… – Thủy khoáng: Nước khoáng và nước ngọt ngầm dưới đất. – Nhiên liệu khoáng-hóa: Apatit và các muối khoáng khác như phophat… Thứ ba, theo trạng thái vật lý có thể phân thành: – Khoáng sản rắn: Quặng kim loại đen, kim loại màu, đá… – Khoáng sản lỏng: Dầu mỏ, nước khoáng… – Khoáng sản khí: Khí đốt, khí trơ…

17. 1.1.3. Vai trò của tài nguyên khoáng sản đối với nền kinh tế quốc dân Tuy không có vai trò quyết định sự tồn tại và phát triển của loài người như các thành phần môi trường nước, đất, không khí… nhưng tài nguyên khoáng sản cũng là những yếu tố hết sức quan trọng trong việc bảo đảm sự duy trì và phát triển xã hội. Xét từ phương diện cá nhân, con người có thể sống mà không cần đến tài nguyên khoáng sản nhưng trên bình diện chung thì một xã hội không thể phát triển bền vững và toàn diện nếu không có bất kỳ nguồn tài nguyên khoáng sản nào. Vai trò và tầm quan trọng của tài nguyên khoáng sản được thể hiện ở những khía cạnh sau: – Khoáng sản là nguyên liệu chính cho nhiều ngành công nghiệp then chốt. Ví dụ: đá vôi dùng trong sản xuất xi măng, sản xuất vật liệu xây dựng, quặng sắt được dùng trong ngành luyện kim, cơ khí… – Thực tiễn những năm gần đây nhắc ta nhớ đến tầm quan trọng của các nguồn năng lượng từ hóa thạch như than đá, dầu mỏ, khí thiên nhiên. Đây là nguồn cung cấp năng lượng chủ yếu cho nhiều ngành kinh tế quan trọng cũng như phục vụ sinh hoạt hàng ngày của con người. Nền công nghiệp hóa dầu đồ sộ cũng đã được tạo dựng nhờ những tài nguyên này. – Xuất khẩu khoáng sản thường đem lại nguồn thu lớn cho các quốc gia. Đây cũng là xu hướng chung của các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam nhằm đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước cũng như phục vụ cho việc trả các món nợ nước ngoài. – Bản thân ngành công nghiệp khoáng sản cũng là ngành chiếm tỷ trọng cao trong ngành kinh tế của nhiều nước. Nhiều nước có nguồn thu ngân sách chủ yếu là từ khai thác khoáng sản mà ví dụ điển hình là Côoet, Brunei… Việt Nam có lợi thế rất lớn đó là có nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú. Kết quả điều tra địa chất đã phát hiện trên 5.000 mỏ và điểm quặng với trên 60 loại khoáng sản khác nhau với các quy mô lớn, vừa và nhỏ. Trong đó, chủ yếu là quy mô vừa và nhỏ. Các khoáng sản tuy có quy mô trữ

18. lượng lớn như than Quảng Ninh, sắt (Thạch Khê – Hà Tĩnh), apatit (Lào Cai), boxit (Nam Việt Nam), đất hiếm (Lai Châu) nhưng lại có mặt hạn chế là điều kiện địa chất phức tạp (than, sắt), giá trị trên thị trường thế giới thấp, khó tiêu thụ và thường phân bố ở vùng có điều kiện tự nhiên không thuận lợi, cơ sở hạ tầng kém phát triển. Các khoáng sản có quy mô trữ lượng vừa và nhỏ bao gồm khá nhiều loại khoáng sản thường phân bố không tập trung mà trải trên diện rộng với những đặc điểm địa chất mỏ rất khác nhau. Điều này gây khó khăn cho việc đầu tư quy mô lớn và khó áp dụng trong công nghệ thăm dò, khai thác đồng loạt cho nhiều mỏ. Đây cũng chính là những lý do khiến cho ngành công nghiệp mỏ Việt Nam tụt hậu khá xa so với các nước phát triển trong khu vực và thế giới. Mức đóng góp của ngành công nghiệp mỏ vào nền kinh tế quốc dân còn thấp và chưa tương xứng với tiềm năng hiện có [36]. Trong những năm gần đây, nhận được sự quan tâm đặc biệt của Đảng và nhà nước, ngành công nghiệp mỏ của nước ta đã có những bước phát triển đáng kể. Đặc biệt, việc ban hành Luật khoáng sản năm 2010 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã tạo ta khung pháp lý tương đối hoàn chỉnh về lĩnh vực tài nguyên khoáng sản. Số dự án đầu tư vào hoạt động khoáng sản tăng nhanh. Công nghiệp mỏ của Việt Nam từng bước hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới. Khung pháp lý của Luật khoáng sản năm 2010 bước đầu tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư trong nước và ngoài nước từ nhiều thành phần kinh tế khác nhau tham gia hoạt động khoáng sản. Nguồn đầu tư vào lĩnh vực này có mức tăng đáng kể và phần lớn là từ ngoài nguồn ngân sách nhà nước. Mức thu ngân sách từ các hoạt động khoáng sản tăng đáng kể. Rõ ràng lượng dự án đầu tư vào lĩnh vực khoáng sản tăng mạnh thì nguồn thu vào ngân sách nhà nước từ lĩnh vực này cũng tăng theo tương ứng. Đối với nhiều địa phương, nhất là các tỉnh miền núi, biên giới, nguồn thu từ thuế tài nguyên khoáng sản và các loại thuế, lệ phí khác từ hoạt động khoáng sản vào ngân sách

20. chuyển nhượng để lại thừa kế quyền khai thác, khai thác khoáng sản đi kèm. Bên cạnh đó tổ chức cá nhân trong quá trình khai thác khoáng sản phải đáp ứng điều kiện được đặt ra như nộp lệ phí giấy phép, tiền sử dụng số liệu, thông tin về tài nguyên khoáng sản của Nhà nước, thuế tài nguyên khoáng sản và nghĩa vụ tài chính khác, tận thu khoáng sản, bảo vệ tài nguyên khoáng sản, bảo đảm an toàn lao động và vệ sinh lao động; thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường phù hợp với báo cáo đánh giá tác động môi trường đã được chấp thuận; bảo đảm tiến độ xây dựng cơ bản mỏ và hoạt động sản xuất phù hợp với báo cáo nghiên cứu khả thi về khai thác khoáng sản và thiết kế mỏ đã được chấp thuận… Để được cấp giấy phép khai thác khoáng sản, tổ chức, cá nhân phải có đủ các điều kiện sau đây theo quy định tại khoản 2 Điều 53 Luật khoáng sản 2010: a) Có dự án đầu tư khai thác khoáng sản ở khu vực đã thăm dò, phê duyệt trữ lượng phù hợp với quy hoạch quy định tạ các điểm b, c và d điều 10 của Luật này. Dự án đầu tư khai thác khoáng sản phải có phải có phương án sử dụng nhân lực chuyên ngành, thiết bị, công nghệ tiên tiến phù hợp; đối với khoáng sản độc hại còn phải được Thủ tướng cho phép bằng văn bản. b) Có báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc bảng cam kết bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường. c) Có vốn chủ sở hữu ít nhất bằng 30% tổng vốn đầu tư của dự án đầu tư khai thác khoáng sản [25]. Sau 12 tháng kể từ ngày giấy phép có hiệu lực tổ chức, cá nhân được phép khai thác khoáng sản chưa bắt đầu việc xây dựng cơ bản mỏ mà không có lý do chính đáng thì tổ chức sẽ bị thu hồi giấy phép khai thác khoáng sản, kèm theo đó là giấy phép khai thác khoáng sản cũng chấm dứt hiệu lực (khoản 1 Điều 58 Luật khoáng sản năm 2010). Diện tích khu vực khai thác của một giấy phép khai thác khoáng sản được xem xét trên cơ sở của dự án

22. 1.3. SỰ CẦN THIẾT PHẢI BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC VÀ CHẾ BIẾN KHOÁNG SẢN Trong quá trình hội nhập Quốc tế của đất nước do Đảng ta lãnh đạo, ngày nay hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản gây ảnh hưởng tới môi trường nước ta, có lúc đã đến mức báo động; đất đai bị xói mòn, thoái hóa; chất lượng các nguồn nước bị suy giảm mạnh; không khí ở nhiều đô thị, khu dân cư bị ô nhiễm nặng nề; khối lượng phát sinh và mức độ độc hại của chất thải ngày càng tăng; tài nguyên thiên nhiên trong nhiều trường hợp bị khai thác quá mức, không có qui hoạch; đa dạng sinh học bị đe dọa nghiêm trọng, điều kiện vệ sinh môi trường, cung cấp nước sạch ở nhiều nơi không đảm bảo. Việc đẩy mạnh phát triển công nghiệp, dịch vụ; quá trình đô thị hóa, sự gia tăng dân số quá cao, tình trạng đói nghèo chưa khắc phục được tại một số vùng nông thôn, miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; các thảm họa do thiên tai và những diễn biến xấu về khí hậu toàn cầu đang tăng, gây áp lực lớn lên tài nguyên và môi trường. Từ những lý do sau đây chúng ta nhận thấy rõ vẫn đề bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản là cần thiết. Tác động của hoạt động khai thác khoáng sản tới môi trường Hoạt động khai thác khoáng sản tác động một cách trực tiếp được các yếu tố môi trường tự nhiên khu vực mỏ như: – Làm trôi đất, nước và làm thay đổi môi trường sống của các loài động, thực vật hoang dã: Khi thi công các công trình thăm dò, khai thác khoáng sản đòi hỏi phải gạt bỏ lớp đất mặt thảm thực vật với diện tích lớn dẫn đến làm thay đổi môi trường sống của động thực vật hoang dã. Phá hoại nơi cư trú và đường di chuyển của các loài vật, địa hình bị biến dạng, đất, nước bị trôi mất. Khai thác hầm lò làm mặt đất bị sụt lở dẫn đến gây ra những sự thay đổi hệ thống sinh thái – Ô nhiễm thổ nhưỡng và đất: Quá trình khai thác mỏ đặc biệt là khai thác bằng phương pháp lộ thiên làm cho đất bị phá hoại với diện tích lớn. Bãi

23. thải đất bóc và bãi thải quặng chiếm diện tích đất lớn đồng thời gây ra xâm thực làm ô nhiễm đất dẫn đến năng suất giảm trở đi xấu hơn – Ô nhiễm tiếng ồn: Âm thanh các vụ nổ mìn, khoan tiếng ồn của các phương tiện giao thông gây xáo trộn các hoạt động của con người và các động vật hoang dã dẫn đến việc nhiều loài vật phải di chuyển chỗ ở do ảnh hưởng của tiếng ồn. – Gây ô nhiễm môi trường nước: Các hoạt động khai thác và tuyển khoáng làm cho nước mặt và nước ngầm bị nhiễm axit, kim loại nặng và các nguyên tố độc hại khác, gây ra ảnh hưởng nghiêm trọng đến nước sinh hoạt va nước công nghiệp. Những mỏ áp dụng phương pháp khai thác bằng sức nước gây ra thay đổi dòng chảy và biến đổi cơ cấu, khoáng sàng, quặng trôi chảy gây ra lắng động bùn cát ở các cửa sông, cảng biển làm cho chất lượng nước thay đổi theo chiều hướng xấu. Môi trường dưới nước cũng bị biến đổi gây ra ảnh hưởng xấu đến quá trình sinh sản và phát triển của các loài vật dẫn đến giảm số lượng quần thể và có nguy cơ bị tuyệt chủng. Các khu có hoạt động khai thác mỏ thường xuyên thải ra các nguồn nước bẩn có khả năng gây ra ô nhiễm môi trường cao [21]. Tác động của các hoạt chế biến khoáng sản tới môi trường Hoạt động chế biến khoáng sản có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao đặc biệt là môi trường nước và không khí. Khi chế biến khoáng sản cũng gây ra sự ô nhiễm môi trường do trình độ công nghệ kỹ thuật yếu kém, hiện nay hai trung tâm luyện kim đen lớn nhất trong toàn quốc là Thái nguyên và Biên hòa qua điều tra cho thấy sự ô nhiễm môi trường vượt chỉ số cho phép từ 2 đến 10 lần. Các bãi chứa bãi thải, nước thì bụi khói đang ảnh hưởng đến môi trường cả vung dân cư rộng lớn và các sông Đồng nai, sông Cầu. Nhà máy supe phốt phát và hóa chất Lâm Thao và các nhà máy phân lân An Tấn hàng năm xử lý vài trăm ngàn tấn quặng pirit và thường thải ra sông Hồng trên 2000 tấn axit suphuaric, hàng trăm ngàn tấn xỉ, hàng ngàn tấn flo, chúng ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi sinh vào mùa khô.

24. Hiện nay, phương pháp chủ yếu chế biến khoáng sản là đập, nghiền, sàng, tuyển rửa, tuyển trọng lực, tuyển nổi, tuyển từ và tuyển điện… ít sử dụng các phương pháp tuyển hóa học, tuyển vi sinh, tuyển nhiệt hoặc sơ đồ tuyển hỗn hợp… Tại hàng nghìn cơ sở quy mô nhỏ hầu như chỉ khai thác, chọn tay theo kiểu “đào bới thu gom” hoặc “dễ làm khó bỏ” và “giàu đào khó bỏ”. Với công nghệ và thiết bị như vậy nên không thu hồi được các khoáng vật và nguyên tố cộng sinh, chất lượng quặng tinh thấp và ổn định. Đồng thời dẫn đến hiệu quả khai thác khoáng sản thấp, lãng phí tài nguyên và suy thoái môi trường [21]. 1.4. PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC VÀ CHẾ BIẾN KHOÁNG SẢN 1.4.1. Khái niệm và đặc điểm pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản Pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản là lĩnh vực pháp luật tương đối mới không chỉ đối với hệ thống pháp luật Việt Nam mà còn đối với hệ thống pháp luật của nhiều nước đang phát triển. Để đưa ra định nghĩa về pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản và xác định phạm vi của pháp luật khoáng sản là không dễ. Tài nguyên khoáng sản vốn là tài sản của quốc gia nên sự can thiệp trực tiếp của cơ quan nhà nước vào việc quản lý bảo vệ tài nguyên khoáng sản và hoạt động khoáng sản là rất lớn… Theo nội dung của điều 1 Luật khoáng sản năm 2010, Luật này quy định việc điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản; bảo vệ khoáng sản chưa khai thác; thăm dò, khai thác khoáng sản; quản lý nhà nước về khoáng sản trong phạm vi đất liền, hải đảo, nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Khoáng sản là dầu khí; khoáng sản là nước thiên nhiên không phải là nước khoáng, nước nóng

27. – Khuyến khích đầu tư lâu dài trong khai thác mỏ bằng cách đưa ra những tiêu chuẩn rõ ràng về môi trường với mức chuẩn và thủ tục tiến hành ổn định và có thể dự đoán được. 1.4.3. Bảo vệ môi trường ở Việt Nam Ở Việt Nam, bảo vệ môi trường khoáng sản nói chung và trong hoạt động khai thác nói riêng là vấn đề đặc biệt “nóng”. Là quốc gia đang phát triển Việt Nam có nhu cầu khai thác và sử dụng lượng tài nguyên khoáng sản rất lớn. Hiện nay trên nước ta có trên 30 loại khoáng sản đang được khai thác. Có 559 khu vực được đăng kí khai thác mỏ (265 khu vực không kim loại, 108 khu vực kim loại mầu và đen, 45 khu vực khai thác vàng, 16 khu vực khai thác đá quý, 125 khu vực khai thác than). Ngoài ra còn có rất nhiều khu vực trái phép do địa phương quản lý. Phổ biến nhất là các khu vực có kim loại màu, kim loại quý, nhất là vàng, bạc, thiếc, chì, kẽm, đồng. Điều này đã làm ô nhiễm môi trường và thất thoát tài nguyên khoáng sản rất nghiêm trọng. Hàng năm chúng ta khai thác trên 10 triệu tấn than, 3000 – 4000 tấn thiết, trên 70.000 tấn quặng ilemenit, 10 triệu m3 đá xây dựng, trên 50000 tấn kẽm… Với trình độ công nghệ, kĩ thuật còn lạc hậu đã thải ra chục triệu chất thải và chục triệu tấn gây ô nhiễm môi trường, làm biến dạng môi trường sinh quyển [39]. Ví dụ: để khai thác được 1 tấn thiếc phải xử lý khoảng 5000 tấn đất đá, hàng vạn m3 nước; để khai thác được 1 tấn vàng phải xử lý khoảng 600 nghìn quặng, hàng ngàn kg sianua hay thủy ngân. Lượng nước thải này ảnh hưởng nghiêm trọng tới nguồn nước mặt, nước ngầm. Việc khai thác với trình độ công nghệ kĩ thuật còn yếu kém làm cho đất nông nghiệp, rừng bị phá hủy nghiêm trọng, nhất là vào mùa lũ quét đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến kinh tế, văn hóa xã hội đất nước. Bảo vệ môi trường trong hoạt động khoáng sản đã trở thành đòi hỏi mang tính cấp thiết. Tuy nhiên đây là vấn đề mang tính tổng hợp và phức tạp. Do vậy, để giải quyết tốt nhất vấn đề môi trường trong hoạt động khoáng sản

28. cần phải áp dụng một cách đồng bộ các biện pháp kĩ thuật, giáo dục, khoa học công nghệ. Cụ thể: Biện pháp kinh tế: Đây được đánh giá là biện pháp mang lại hiệu quả cao trong công tác bảo vệ môi trường nhờ tính linh hoạt và mềm dẻo. Thực chất của các biện pháp kinh tế là sử dụng lợi ích vật chất để kích thích các chủ thể tiến hành các hạt động có lợi và hạn chế hành vi có hại cho môi trường. Áp dụng biện pháp này sẽ gắn kết được lợi ích kinh tế với nghĩa vụ bảo vệ môi trường của các chủ thể tiến hành hoạt động khoáng sản. Các công cụ tài chính được sử dụng để bảo vệ môi trường trong hoạt động khoáng sản gồm: – Thuế tài nguyên: Điều 3 Luật thuế tài nguyên năm 2009 quy định: Người nộp thuế tài nguyên là tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên thuộc đối tượng chịu thuế tài nguyên. Tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên nhỏ, lẻ bán cho tổ chức, cá nhân làm đầu mối thu mua và tổ chức, cá nhân làm đầu mối thu mua cam kết chấp thuận bằng văn bản về việc kê khai, nộp thuế thay cho tổ chức, cá nhân khai thác thì tổ chức, cá nhân làm đầu mối thu mua là người nộp thuế. Mục đích của việc thu thuế tài nguyên là nhằm bảo vệ, khai thác và sử dụng tài nguyên được tiết kiệm, hợp lý và có hiệu quả, góp phần bảo vệ môi trường và bảo đảm nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Nộp thuế tài nguyên cũng chính là nghĩa vụ của các tổ chức cá nhân được phép khai thác khoáng sản – Thuế môi trường: Mục đích của việc thu thuế môi trường là nhằm bảo vệ, khai thác và sử dụng tài nguyên được tiết kiệm, hợp lý và có hiệu quả, góp phần bảo vệ môi trường và bảo đảm nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Từ đó, một phần của ngân sách nhà nước sẽ được sử dụng quay trở lại cho bảo vệ môi trường. Đây là việc làm có ý nghĩa to lớn, trực tiếp góp phần ngăn chặn giảm thiểu ô nhiễm và tiết kiệm nguồn lực cho tương lai, không để xảy ra tình trạng ưu tiên phát triển còn hậu quả môi trường thì xử lý sau. Tuy nhiên, chi tiêu cho bảo

29. vệ môi trường ở nước ta vốn là vấn đề khó khăn do chúng ta chưa đánh giá được chính xác mức độ chi tiêu cho bảo vệ môi trường bởi lẽ còn nhiều khoản được chi tiêu lồng ghép cho các chương trình khác, chưa có các chương trình nghiên cứu hoặc bóc tách khoản chi đó ra hay là nói trong điều khoản nói chung đó, tỷ lệ chi tiêu cho khoa học, công nghệ và môi trường còn thấp so với GDP trong so sánh với nước ngoài. – Phí bảo vệ môi trường: Phí nói chung, phí bảo vệ môi trường nói riêng được hiểu là khoản nghĩa vụ tài chính mà các tổ chức, cá nhân phải chi trả khi được hưởng dịch vụ nào đó. Để đảm bảo môi trường sống cho các đối tượng xã hội, Nhà nước phải đầu tư khoản tài chính rất lớn cho công tác bảo vệ môi trường, do vậy trách nhiệm của mọi tổ chức, cá nhân là đóng góp một phần chi phí nói trên cho Nhà nước. Điều 148 Luật bảo vệ môi trường năm 2014 quy định: 1. Tổ chức, cá nhân xả thải ra môi trường hoặc có hoạt động làm phát sinh nguồn tác động xấu đối với môi trường phải nộp phí bảo vệ môi trường. 2. Mức phí bảo vệ môi trường được quy định trên cơ sở sau đây: a) Khối lượng chất thải ra môi trường, quy mô ảnh hưởng tác động xấu đối với môi trường; b) Mức độ độc hại của chất thải, mức độ gây hại đối với môi trường; c) Sức chịu tải của môi trường tiếp nhận chất thải. 3. Mức phí bảo vệ môi trường được điều chỉnh theo lộ trình phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội và yêu cầu bảo vệ môi trường của từng giai đoạn phát triển của đất nước. 4. Nguồn thu từ phí bảo vệ môi trường được sử dụng đầu tư trực tiếp cho việc bảo vệ môi trường [26].

30. Thông qua một loạt các công cụ tài chính nêu trên, việc sử dụng các thành phần môi trường đã trở thành một phần trong chi phí sản xuất nhờ đó mà cộng đồng doanh nghiệp nâng cao được ý thức của mình về trách nhiệm làm giảm sự hủy hoại môi sinh. Chỉ có như vậy thì công tác bảo vệ môi trường mới có thể thực sự trở thành sự nghiệp của toàn dân. Việc sử dụng các biện pháp kinh tế để kích thích phát triển và đổi mới công nghệ hứa hẹn viễn cảnh môi trường trở nên tốt đẹp hơn bởi các công nghệ gây ô nhiễm sẽ được thay thế bằng những công nghệ không gây hại cho môi trường. Các biện pháp kỹ thuật – công nghệ: Đây là biện pháp cơ bản và quan trọng để bảo vệ môi trường trong hoạt động khoáng sản. Nội dung chính của nhóm biện pháp này là: Hoàn thiện công nghệ sản xuất, sử dụng công nghệ tiên tiến hiện đại, công nghệ nổ mìn bom ít bụi, ít khí độc ở mỏ lộ thiên với các phương tiện chống bụi hiện đại. Mặt khác, cần tăng năng suất lao động, đảm bảo chất lượng sản phẩm, đảm bảo an toàn lao động và vệ sinh môi trường. Đồng thời cũng bao gồm cả việc thay thế các chất độc hại dùng ở các nhà máy sàn tuyển bằng các chất không hoặc ít độc hại… Các biện pháp kỹ thuật – công nghệ chính cần áp dụng ở các xí nghiệp nhà máy, dây chuyền công nghệ như sau: Một là, ở mỏ hầm lò: – Đảm bảo tốt chế độ thông gió ở đường lò khi đào và thông gió chung cho mỏ. – Áp dụng khoan ướt cho đá và khoan khô với máy hút và lọc bụi khi đào lò. – Áp dụng các biện pháp chống bụi và chống khí nổ mìn như tạo màn sương, treo các túi nước ở gần gương lò… khi đào lò. Hai là, ở mỏ lộ thiên: – Sử dụng các thiết bị hút và lọc bụi tại các máy khoan khi làm việc. – Sử dụng công nghệ nổ mìn ít gây bụi, nổ mìn với các bua nước chèn lỗ mìn, sử dụng thuốc nổ ít gây khí độc.

31. – Làm ẩm đất đá trước khi xúc bốc nhờ phun tưới nước. – Phun tưới nước, dung dịch muối hoặc một số chất keo để chống bụi trên các đường ô tô vận tải. – Phun tưới nước ở các điểm chuyển tải, các điểm thải đất đá để chống bụi. Ba là, ở các khu vực sàn tuyển, nhà máy tuyển. – Cần bao che các khu vực, các bộ phận thiết bị làm phát sinh bụi đồng thời kết hợp hút và lọc bụi bằng phương pháp khô hoặc ướt. – Thay thế các thiết bị sàng tuyển gây bụi bằng thiết bị ít gây bụi. – Thay thế các phương pháp khô bằng phương pháp tuyển ướt. – Thay thế các thuốc tuyển gây độc hại bằng các thuốc tuyển ít độc hại hơn. – Trung hòa các chất độc hại như khử sunphua, khử axit hoặc kiềm dư. Như chúng ta đã biết việc áp dụng công nghệ cũ và lạc hậu là nguyên nhân chủ yếu gây ra những tác động xấu đối với môi trường trong hoạt động khoáng sản. Để giảm nhẹ những ảnh hưởng đó thì việc nghiên cứu, ứng dụng công nghệ mới phải được coi là ưu tiên hàng đầu. Đổi mới công nghệ là điều kiện tất yếu để duy trì và phát triển sản xuất đồng thời cũng là động lực quan trong thúc đẩy tăng năng suất, tăng sản lượng và đặc biệt tăng mức độ an toàn và cải thiện môi trường. Biện pháp giáo dục: Môi trường bị suy thoái là do thái độ và hành vi ứng xử của con người. Vì vậy, để bảo vệ tốt môi trường cần phải không ngừng nâng cao nhận thức về môi trường, thường xuyên giáo dục đạo đức môi trường cho toàn thể cộng đồng. Đây cũng chính là mối quan tâm hàng đầu của bất cứ một xã hội văn minh nào. Thông qua hoạt động tuyên truyền và giáo dục, mọi người nhận thức được tác hại của sự ô nhiễm, suy thoái môi trường và nâng cao ý thức bảo vệ môi trường. Các hoạt động giáo dục cộng đồng càng mở rộng thì hiệu quả của công tác bảo vệ môi trường ngày càng cao. Giáo dục có vai trò đặc biệt quan trọng. Khi con người vì sự vô ý thức đã tàn phá môi trường trong đó chính họ đang sống thì việc thức tỉnh họ là

32. điều cần thiết và phải được thực hiện trước sự trừng phạt và răn đe. Khi con người đã có ý thức tự giác thì việc bảo vệ môi trường sẽ được thực hiện một cách dễ dàng và đem lại hiệu quả cao. Đây cũng chính là thực chất và ý nghĩa của biện pháp giáo dục. Các biện pháp giáo dục ý thức bảo vệ môi trường có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau: – Đưa giáo dục ý thức bảo vệ môi trường vào chương trình học tập chính thức của các trường phổ thông, dạy nghề, cao đẳng và đại học. – Sử dụng các phương tiện truyền thông để giáo dục cộng đồng. – Tổ chức các hoạt động cụ thể: ngày môi trường, tuần lễ môi trường. – Tổ chức các diễn đàn. Biện pháp pháp lý: Trong số những biện pháp được sử dụng để bảo vệ môi trường thì biện pháp pháp lý giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Pháp luật với tư cách là hệ thống các quy định điều chỉnh hành vi xử sự của con người sẽ có tác dụng rất lớn trong việc bảo vệ môi trường. Ý nghĩa của các biện pháp pháp lý thể hiện rõ những khía cạnh sau: Một là, pháp luật quy định quy tắc xử sự mà con người buộc phải thực hiện khi khai thác, sử dụng các yếu tố của môi trường. Pháp luật với tư cách là công cụ điều tiết vĩ mô các hành vi của các thành viên trong xã hội có tác dụng rất lớn trong việc định hướng quá trình khai thác và sử dụng môi trường. Con người sử dụng và khai thác môi trường theo những tiêu chuẩn nhất định sẽ hạn chế những tác hại, ngăn chặn được sự suy thoái. Hai là, pháp luật quy định những chế tài hình sự, kinh tế, hành chính buộc các cá nhân, tổ chức phải thực hiện đầy đủ các đòi hỏi của pháp luật trong việc khai thác, sử dụng các yếu tố của môi trường. Bằng những chế tài kinh tế, hình sự, dân sự, hành chính, pháp luật đã tác động tới những hành vi vi phạm vừa có tác dụng ngăn chặn vi phạm pháp luật môi trường vừa có tác dụng giáo dục công dân tôn trọng luật bảo vệ môi trường [36].

33. Vai trò to lớn của pháp luật trong bảo vệ môi trường còn thể hiện ở việc ban hành các tiêu chuẩn môi trường. Các tiêu chuẩn này thực chất là những tiêu chuẩn kĩ thuật. Tuy nhiên, do được ban hành bằng các văn bản pháp luật nên chúng trở thành tiêu chuẩn pháp lý tức là những tiêu chuẩn mà các cá nhân, tổ chức trong xã hội phải tuân thủ nghiêm ngặt khi khai thác, sử dụng các yếu tố của môi trường. 1.4.4. Nguyên tắc cơ bản về bảo về môi trường trong hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản 1.4.4.1. Nguyên tắc coi trọng tính phòng ngừa bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản Khoáng sản là tài nguyên quan trọng của quốc gia tác động trực tiếp đến quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, ảnh hưởng đến sự bền vững của kinh tế – xã hội trước mắt và lâu dài, bảo đảm quốc phòng và an ninh. Chính vì vậy, chúng ta phải bảo vệ, khai thác, sử dụng hợp lý tiết kiệm, hợp lý nguồn tài nguyên khoáng sản… Thực tế hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản ở nước ta mang lại những lợi ích kinh tế rất lớn. Song hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản lại có khả năng gây ảnh hưởng rất xấu đến môi trường và đời sống con người. Hầu hết các vùng khai thác khoáng sản không có kế hoạch hoàn nguyên môi trường đất gây hậu quả là phá hoại môi trường đất, làm tăng diện tích đất trống đồi núi trọc, giảm diện tích rừng, gây hiện tượng xói lở. Bên cạnh đó, ô nhiễm không khí và ô nhiễm nguồn nước ở các vùng khai thác và chế biến khoáng sản là rất nghiêm trọng. Khoáng sản hầu hết là các tài nguyên không tái tạo được. Trong khi nhu cầu sử dụng khoáng sản của con người ngày càng lớn khiến cho nguồn tài nguyên khoáng sản suy giảm đáng kể. Trữ lượng khoáng sản cạn kiệt gây mất cân bằng sinh thái, ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sống của con người. Nếu hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản tác động sống đến môi trường hay nói cách khác là phá hoại môi trường thì con người muốn cải tạo

34. lại môi trường cũng cần nhiều sức lực, nguồn kinh phí lớn và nhất định là phải trong thời gian dài mới có khả năng khôi phục lại được hiện trạng. Tuy nhiên trong nhiều trường hợp con người chỉ có thể cải tạo mà không khôi phục được lại hiện trạng ban đầu của môi trường. Chính vì những lý do trên, Luật khoáng sản năm 2010 đã xác định nguyên tắc coi trọng tính phòng ngừa là một trong những nguyên tắc căn bản. Luật khoáng sản thể hiện rất rõ nguyên tắc này. Theo đó, hoạt động khoáng sản phải phù hợp với chiến lược, quy hoạch khoáng sản, gắn với bảo vệ môi trường, cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử-văn hóa, danh lam thắng cảnh và các tài nguyên thiên khắc, bảo đảm quốc phòng, an ninh trật tự an, toàn xã hội (khoản 1 Điều 4). Nguyên tắc này hướng tới việc ban hành và áp dụng các quy định của pháp luật về khoáng sản vào sự ngăn chặn chủ thể thực hiện các hành vi có khả năng gây nguy hại tới môi trường [25]. Các biện pháp ngăn chặn để bảo vệ môi trường rất đa dạng. Tuy nhiên, bản chất chính của các biện pháp phòng ngừa có thể là khuyến khích các lợi ích, hoặc triệt tiêu các lợi ích vốn là động lực của việc vi phạm pháp luật ảnh hưởng đến môi trường, nâng cao ý thức tự giác của con người trong việc thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản. Tuân thủ các nguyên tắc này thì một dự án khai thác và chế biến khoáng sản phải tính đến hiệu quả về tổng thể về kinh tế – xã hội. Trước khi cấp phép cho dự án khai thác và chế biến khoáng sản phải tính đến hết các tác động của dự án đối với kinh tế-xã hội và tác động đến môi trường… Các dự án muốn được cấp phép để khai thác và chế biến khoáng sản thực hiện theo quy trình hết sức chặt chẽ, nằm trong quy hoặc, phải có dự án khả thi… Khai thác khoáng sản luôn áp dụng những công nghệ tiên tiến, hướng vào chế biến sâu. Đảm bảo được tính phòng ngừa về môi trường sẽ đem lại nhiều lợi ích cho con người.

35. 1.4.4.2. Nguyên tắc đảm bảo sự phát triển bền vững trong hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản Phát triển bền vững là phát triển nhằm đáp ứng các như cầu tồn tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai. Tại Hội nghị thượng đỉnh thế giới năm 1992 ở Rio de Janerio (Brazil), các nhà hoạt động kinh tế, xã hội, môi trường cùng với các nhà chính trị thống nhất về quan điểm phát triển bền vững, coi đó là trách nhiệm chung của các quốc gia, của toàn nhân loại. Ở Việt Nam, quan điểm phát triển bền vững đã được khẳng định trong Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX là: phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đối với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế – xã hội gắn chặt với bảo vệ, cải thiện môi trường, bảo đảm sự hài hòa giữa môi trường nhân tạo với môi trường thiên nhiên, giữ gìn đa dạng sinh học. Hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản cần được điều chỉnh trên nguyên tắc phát triển bền vững vì: Thứ nhất, khoáng sản là tài nguyên không tái tạo được và tiềm năng khoáng sản ở nước ta có hạn: Thứ hai, hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản là một trong những hoạt động có tác hại rất lớn tới môi trường. Thực chất của hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản chính là mối quan hệ giữa bảo vệ, tiết kiệm tài nguyên khoáng sản với phát triển khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản. Bởi mục tiêu cuối cùng của hoạt động khoáng sản không dừng lại ở việc phát hiện và bảo vệ tài nguyên khoáng sản. Trong hệ thống các quy định pháp lý về hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản thì Luật khoáng sản có vai trò cơ bản, Luật này là nền tảng pháp lý cho việc thực hiện các biện pháp giữa khai thác khoáng sản và các giải pháp bảo vệ môi trường. Luật khoáng sản năm 2010 là có vai trò là nền tảng pháp lý bảo đảm cho sự phát triển bền vững trong hoạt động khai thác và

36. chế biến khoáng sản. Luật khoáng sản năm 2010 đã được xây dựng trên nguyên tắc phát triển bền vững. Luật khoáng sản năm 2010 chỉ ra biện pháp bảo vệ môi trường là một chiến lược, chính sách của hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản. Điều này được cụ thế hóa tại khoản 1 Điều 3 Luật khoáng sản năm 2010: “Nhà nước có chiến lược, quy hoạch khoáng sản để phát triển bền vững kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh trong từng thời kỳ” [25]. Luật khoáng sản năm 2010 coi đánh giá tác động môi trường là một điều kiện để được thực hiện hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản. Luật thuế tài nguyên môi trường (được Quốc hội ban hành cuối năm 2010 có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2012) quy định thuế bảo vệ tài nguyên môi trường đối với một số đối tượng chịu thuế, trong đó quy định một số khoáng sản phải chịu thuế như là than đá…(Điều 3). 1.4.5. Hệ thống các quy định về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản Bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản là lĩnh vực còn rất mới mẻ ở Việt Nam. Tuy nhiên, trong những năm gần đây nhận được sự quan tâm đặc biệt của Đảng Nhà Nước, lĩnh vực này đã có những bước phát triển đáng kể. Hệ thống các quy định về bảo vệ môi trường trong hoạt động khoáng sản đã tương đối đầy đủ. Trước hết, phải kể đến Luật khoáng sản năm 2010. Với tư cách là luật chung, Luật bảo vệ môi trường năm 2014 quy định nghĩa vụ bảo vệ môi trường của mọi tổ chức, cá nhân trong xã hội. Trong lĩnh vực hoạt động khoáng sản, Luật bảo vệ môi trường năm 2014 quy định các tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ “áp dụng công nghệ phù hợp, thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường, đảm bảo tiêu chuẩn bảo vệ môi trường”. Tiếp đến là Luật khoáng sản năm 2010 và Luật bảo vệ môi trường năm 2014… Để đảm bảo cho sự thống nhất giữa luật chung và luật chuyên ngành cũng như tạo ra những điều kiện cần thiết để luật bảo vệ môi trường được thực hiện, Luật khoáng sản năm 2010

37. quy định: “Tổ chức, cá nhân được phép hoạt động khoáng sản phải sử dụng công nghệ, thiết bị, vật liệu và thực hiện các quy định khác của luật bảo vệ môi trường để hạn chế tối đa tác động xấu đến các thành phần môi trường” [25]. Ngoài ra còn có các quy định về việc bảo vệ quyền lợi của nhân dân địa phương nơi có khoáng sản được khai thác, chế biến. Theo đó “các tổ chức, cá nhân được phép khai thác, chế biến khoáng sản có trách nhiệm kết hợp yêu cầu của hoạt động khai thác, chế biến với việc xây dựng cơ sở, bảo vệ, phục hồi môi trường, môi sinh và đất đai của địa phương” [25]. Thứ nhất, khoáng sản là tài nguyên không tái tạo được và cũng không phải là vô tận. Thứ hai, hoạt động khoáng sản thường gây ra ảnh hưởng lớn, nghiêm trọng đến môi trường xung quanh. Nguyên nhân là do hoạt động khoáng sản thường được tiến hành trên quy mô rộng, số lượng khai thác nhiều, thời gian hoạt động kéo dài và sử dụng nhiều phương tiện, hóa chất trợ giúp. Mặt khác, khoáng sản luôn là loại tài nguyên có giá trị hàng đầu của mỗi quốc gia. Khai thác khoáng sản là quốc sách phục vụ các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội. Vì vậy, vừa để đảm bảo mục tiêu phát triển kinh tế vừa tránh cho môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng, Nhà nước vẫn cho phép các cá nhân, tổ chức sử dụng, khai thác tài nguyên khoáng sản nhưng đồng thời gắn trách nhiệm phải bảo vệ môi trường đối với các cá nhân, tổ chức đó. Muốn thu được lợi ích từ quá trình khai thác, sử dụng tài nguyên khoáng sản hơn ai hết chính các chủ thể tiến hành các hoạt động khoáng sản phải có ý thức bảo vệ môi trường, có phương án bảo vệ môi trường có hiệu quả, khả thi. KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 Khoáng sản là khoáng vật, khoáng chất có ích được tích tụ tự nhiên hàng ngàn năm, ở thể rắn, thể lỏng, thể khí, tồn tại trong lòng đất, trên mặt đất. Khoáng sản hầu hết là tài nguyên không tái tạo được, là tài sản quan

38. trọng của quốc gia. Giá trị to lớn của khoáng sản cũng như tính phức tạp của các quan hệ xã hội và ảnh tới môi trường của hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản tất yếu dẫn tới Nhà nước quản lý khoáng sản bằng pháp luật. Pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản là một lĩnh vực pháp luật tương đối mới. Pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản có thể hiểu là lĩnh vực pháp luật chuyên ngành bao gồm các quy phạm pháp luật, các nguyên tắc pháp lý điều chỉnh quan hệ phát sinh giữa các chủ thể trong quá trình quản lý, khai thác, chế biến các nguồn tài nguyên khoáng sản. Pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khái thác và chế biến khoáng sản có những đặc điểm riêng: Pháp luật khoáng sản là sự giao thoa giữa pháp luật kinh tế và pháp luật bảo vệ môi trường; Pháp luật khoáng sản có phạm vi điều chỉnh rộng; Pháp luật khoáng sản thể hiện rõ tính chất quản lý nhà nước; Và pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản cũng có những nguyên tắc đặc thù của nó; nguyên tắc coi trọng tính phòng ngừa để bảo vệ môi trường; nguyên tác bảo đảm sự phát triển bền vững.

39. Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC VÀ CHẾ BIẾN KHOÁNG SẢN 2.1. NỘI DUNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC VÀ CHẾ BIẾN KHOÁNG SẢN 2.1.1. Quy định của pháp luật về quản lý nhà nước trong hoạt động khoáng sản Quản lý nhà nước về hoạt động khoáng sản là hoạt động thường xuyên của cả hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên khoáng sản từ Trung ương đến địa phương. Quản lý nhà nước nói chung và quản lý nhà nước về tài nguyên khoáng sản nói riêng được thực hiện bằng nhiều biện pháp như: kinh tế, hành chính, giáo dục tuyên truyền và các hình hình thức giáo dục như: lãnh đạo, chỉ huy, khen thưởng, xử phạt, kiểm tra, thanh tra, giám sát, tổng kết rút kinh nghiệm, phổ biến nhân rộng các mô hình, cách làm có hiệu quả, bổ sung, sửa đổi, bãi bỏ những quy định không phù hợp. Nội dung quản lý nhà nước về khoáng sản được quy định tại Điều 3 Luật khoáng sản năm 2010. Bao gồm: 1. Nhà nước có chiến lược, quy hoạch khoáng sản để phát triển bền vững kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh trong từng thời kỳ. 2. Nhà nước bảo đảm khoáng sản được bảo vệ, khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả. 3. Nhà nước đầu tư và tổ chức thực hiện điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản theo chiến lược, quy hoạch khoáng sản; đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, nghiên cứu khoa học, ứng dụng, phát triển công nghệ trong công tác điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản và hoạt động khoáng sản.

40. 4. Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia đầu tư, hợp tác với các tổ chức chuyên ngành địa chất của Nhà nước để điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản. 5. Nhà nước đầu tư thăm dò, khai thác một số loại khoáng sản quan trọng để phục vụ phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh. 6. Nhà nước khuyến khích dự án đầu tư khai thác khoáng sản gắn với chế biến, sử dụng khoáng sản để làm ra sản phẩm kim loại, hợp kim hoặc các sản phẩm khác có giá trị và hiệu quả kinh tế – xã hội. 7. Nhà nước có chính sách xuất khẩu khoáng sản trong từng thời kỳ phù hợp với mục tiêu phát triển bền vững kinh tế – xã hội trên nguyên tắc ưu tiên bảo đảm nguồn nguyên liệu cho sản xuất trong nước [25]. Việc tổ chức thực hiện toàn bộ các nội dung quản lý nhà nước về khoáng sản như trên sẽ góp phần thúc đẩy công nghiệp mỏ phát triển ổn định và bền vững hạn chế tình trạng ô nhiễm môi trường, hướng các tổ chức, cá nhân được phép hoạt động khoáng sản đi đúng hành lang pháp luật quy định. Công tác quản lý nhà nước về khoáng sản chỉ đạt được hiệu quả cao khi tiến hành đồng bộ các biện pháp, cách thức, trong đó vai trò của cán bộ quản lý nhà nước có ý nghĩa quyết định [25]. 2.1.2. Thẩm quyền quản lý nhà nước về hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản Theo một định nghĩa chung nhất, thẩm quyền là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ hành động, quyết định của các cơ quan, tổ chức thuộc hệ thống bộ máy nhà nước do pháp luật quy định. Như vậy, có thể nói thẩm quyền quản lý nhà nước về khoáng sản chính là nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan hành chính nhà nước các cấp từ Trung ương đến địa phương. Sự quản lý nhà nước đối với hoạt động khoáng sản được quy định như sau.

41. Theo quy định tại Điều 80 và Điều 81 Luật khoáng sản năm 2010 thì thẩm quyền về quản lý nhà nước về khoáng sản quy định như sau: Điều 80. Trách nhiệm quản lý nhà nước về khoáng sản của Chính phủ, bộ, cơ quan ngang bộ 1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về khoáng sản. 2. Bộ Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về khoáng sản trong phạm vi cả nước, có trách nhiệm: a) Ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về khoáng sản; ban hành quy chuẩn kỹ thuật, định mức, đơn giá trong điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản, thăm dò khoáng sản; b) Lập, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chiến lược khoáng sản; lập, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch khoáng sản theo phân công của Chính phủ; c) Khoanh định và công bố các khu vực khoáng sản theo thẩm quyền; khoanh định và trình Thủ tướng Chính phủ quyết định khu vực không đấu giá quyền khai thác khoáng sản theo thẩm quyền; d) Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về khoáng sản; đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho công tác điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản và hoạt động khoáng sản; đ) Cấp, gia hạn, thu hồi Giấy phép thăm dò khoáng sản, Giấy phép khai thác khoáng sản; chấp thuận trả lại Giấy phép thăm dò khoáng sản, Giấy phép khai thác khoáng sản, trả lại một phần diện tích khu vực thăm dò, khai thác khoáng sản; tổ chức đấu giá quyền khai thác khoáng sản thuộc thẩm quyền;

44. quan cho tổ chức, cá nhân được phép hoạt động khoáng sản tại địa phương theo quy định của pháp luật; b) Thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường, khoáng sản chưa khai thác, tài nguyên thiên nhiên khác theo quy định của pháp luật; bảo đảm an ninh, trật tự an toàn xã hội tại khu vực có khoáng sản; c) Báo cáo Ủy ban nhân dân cấp trên trực tiếp tình hình hoạt động khoáng sản trên địa bàn; d) Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về khoáng sản; đ) Thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật về khoáng sản theo thẩm quyền [25]. Việc phân công, phân cấp trong quản lý nhà nước về khoáng sản luôn là yếu tố quyết định đến hiệu quả công tác quản lý. 2.1.3. Cấp phép trong hoạt động khái thác và chế biến khoáng sản 2.1.3.1. Phân cấp thẩm quyền cấp phép trong hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản Điều 56 Luật khoáng sản 2010 đã được sửa đổi, bổ sung quy định thẩm quyền cấp phép khai thác khoáng sản thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cấp giấy phép khai thác tận thu khoáng sản theo quy định tại Điều 49 và Điều 50 của Luật Khoáng sản năm 2010, giấy phép khảo sát, giấy phép thăm dò, giấy phép khai thác, giấy phép chế biến khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường và than bùn, giấy phép khai thác, giấy phép chế biến khoáng sản đối với khu vực đã được điều tra, đánh giá hoặc thăm dò, phê duyệt trữ lượng khoáng sản mà không nằm trong quy hoạch khai thác, chế biến khoáng sản của cả nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt hoặc không thuộc diện dự trữ tài nguyên khoáng sản quốc gia. Bộ Tài nguyên và Môi trường có thẩm quyền cấp giấy phép những trường hợp còn lại. Với quy định này, thực

45. trạng cấp giấy phép trong hoạt động khai thác khoáng sản thời gian qua đã diễn ra rất phức tạp, thiếu sự quản lý và giấy phép chủ yếu do Ủy ban nhân dân tỉnh cấp. Báo cáo của Viện Tư vấn phát triển – CODE (thuộc Liên hiệp Các hội khoa học kỹ thuật Việt Nam) cho thấy: Giai đoạn 2005 – 2008, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố đã cấp tới 4.213 giấy phép hoạt động khoáng sản, riêng khâu khai thác chiếm 3.882 giấy phép. Trong số đó có 82% giấy phép khai thác là vật liệu xây dựng thông thường, than bùn và 16% giấy phép khai thác loại khoáng sản khác, còn lại là giấy phép khai thác tận thu. So với giai đoạn trước, giai đoạn 1996 – 2008 (việc cấp phép phụ thuộc các bộ, ngành chức năng) chỉ mới cấp tổng cộng 928 giấy phép hoạt động khoáng sản với 353 giấy phép khai thác. Cũng theo số liệu từ báo cáo của 51 tỉnh thành (đã nộp), mà Tổng cục Địa chất – Khoáng sản, Bộ Tài nguyên và Môi trường đưa ra. Đến ngày 30 tháng 8 năm 2011, số giấy phép khai thác khoáng sản do Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố cấp còn hiệu lực là 3.899 giấy phép. Nếu tính tổng số 63 tỉnh thành, ước tính có khoảng 4.200 giấy phép khai khoáng đã được cấp (các dự án khai khoáng do Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp, tính đến ngày 30 tháng 6 năm 2011, gồm 659 giấy phép [23]. Như vậy, chỉ trong vòng 3 năm số lượng giấy phép khai thác khoáng sản mà các địa phương cấp đã cao gấp 10 lần so với số lượng giấy phép mà các bộ, ngành chức năng cấp trong 12 năm. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về lãnh thổ, họ là đại diện quyền sở hữu tài nguyên của nhân dân trong tỉnh thì họ nên có quyền quyết định đối với việc sử dụng tài nguyên trên địa bàn do Bộ, Ngành Trung ương cấp quyền khai thác đã vi phạm quyền đại diện sở hữu của Ủy ban nhân dân tỉnh. Trên thực tế Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cũng gặp nhiều trở ngại trong việc quản lý các đơn vị do Trung ương cấp quyền khai thác, đặc biệt là đối với các Tập đoàn và Công ty lớn. Tuy nhiên, do trình độ quản lý còn yếu kém của Ủy ban nhân

Thực Hiện Pháp Luật Về Bảo Vệ Môi Trường Ở Việt Nam

Vấn đề bảo vệ môi trường (BVMT) đang được các quốc gia trên thế giới hết sức quan tâm và đặt ưu tiên hàng đầu trong hoạch định chính sách phát triển kinh tế, xã hội của mình. Bởi lẽ, môi trường là một điều kiện cốt tử bảo đảm cho sự phát triển bền vững của tất cả các quốc gia. Ngày nay sự quan tâm của các quốc gia trên thế giới không phải là khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên để tạo ra năng suất và sản lượng bằng mọi giá mà phải bảo đảm sự cân đối với việc duy trì, bảo vệ và nuôi dưỡng nguồn tài nguyên thiên nhiên cho các thế hệ mai sau. Trong xu thế ấy, Việt Nam cũng đang tiến hành hoàn thiện hệ thống pháp luật về môi trường, cùng với việc nỗ lực tham gia các công ước quốc tế, cũng như tích cực nội luật hoá các cam kết quốc tế về BVMT nhằm BVMT hiệu quả hơn trước yêu cầu của phát triển bền vững.

1. Thực trạng thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường

Pháp luật nước ta quy định, có hai hình thức xử phạt hành vi vi phạm trong lĩnh vực BVMT là cảnh cáo và phạt tiền, trong đó mức quy định phạt tiền tối đa đối với một hành vi vi phạm là 70 triệu đồng. Ngoài ra, cá nhân, tổ chức vi phạm có thể bị áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khắc phục hậu quả: buộc thực hiện có thời hạn các biện pháp BVMT do cơ quan quản lý nhà nước về BVMT yêu cầu; buộc thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường do hành vi vi phạm gây ra; buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc buộc tái xuất hàng hóa, vật phẩm gây ô nhiễm môi trường; buộc tiêu hủy hàng hóa, vật phẩm gây ô nhiễm môi trường.

Trong những năm gần đây, tình hình vi phạm pháp luật về môi trường diễn ra phổ biến trên nhiều lĩnh vực. Tội phạm môi trường đã làm suy giảm nguồn tài nguyên thiên nhiên, suy thoái môi trường sinh thái, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe cộng đồng và sự phát triển bền vững của đất nước. Một số lĩnh vực điển hình thường xuất hiện những vi phạm pháp luật về BVMT là:

– Lĩnh vực sản xuất, nhất là tại các khu công nghiệp, khu chế xuất: Lợi dụng chủ trương mở cửa, chính sách thu hút vốn đầu tư của Nhà nước và chính quyền các địa phương cùng với những sơ hở về pháp luật trong lĩnh vực BVMT của Việt Nam, nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước đã đầu tư các dự án sản xuất kinh doanh, nhưng không chú trọng việc xây dựng các hệ thống xử lý chất thải, coi đây là giải pháp giảm chi phí, tăng lợi nhuận. Cả nước có gần 200 khu công nghiệp, trong đó có đến 70% chưa xây dựng hệ thống xử lý chất thải (rắn và lỏng), nhất là các nhà máy, cơ sở sản xuất trong các khu công nghiệp đang trong giai đoạn hoàn thiện và các cơ sở nằm trên lưu vực sông. Đáng lo ngại là các doanh nghiệp tuy có hệ thống xử lý chất thải, nhưng luôn cố tình vi phạm, thủ đoạn tinh vi, lén lút để xả thải ra môi trường như xây dựng hệ thống bí mật, phức tạp, được ngụy trang bằng hệ thống đạt tiêu chuẩn nên rất khó phát hiện, như vụ Công ty Vedan Việt Nam, Công ty trách nhiệm hữu hạn Miwon, Công ty thuộc da Hào Dương, Công ty giấy Việt Trì…

– Lĩnh vực sản xuất làng nghề, nông nghiệp:Hiện cả nước có khoảng trên 2.790 làng nghề thuộc 7 nhóm ngành nghề[1] như: chế biến lương thực, thực phẩm, dược liệu; ươm tơ, dệt vải, đồ da; thủ công mỹ nghệ, thêu ren; sản xuất vật liệu xây dựng và các ngành nghề khác. Các làng nghề này cơ bản đã mang lại lợi ích kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân. Bên cạnh đó, sự phát triển các làng nghề cũng đặt môi trường trong tình trạng báo động. Chất thải từ hoạt động sản xuất của các làng nghề nhìn chung không được xử lý mà xả trực tiếp ra mương, rãnh, ao, ruộng lúa. Nhiên liệu sử dụng phổ biến là than, củi làm sản sinh các loại khí nhà kính như SO 2, CO 2, CO,, H 2S, NH 3, CH 4. Các chất thải độc hại khó phân hủy tại các làng nghề, đặc biệt là các làng nghề thuộc da, dệt nhuộm và tái chế kim loại, đã làm cho các chỉ tiêu BOD, COD, SS đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép nhiều lần, ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường và sức khỏe của nhân dân. Nguyên nhân là do hầu hết làng nghề đều có quy mô sản xuất nhỏ lẻ ở hộ gia đình, trình độ sản xuất thủ công theo kinh nghiệm, công nghệ sản xuất thô sơ, nên thường không quan tâm đến vấn đề xử lý chất thải. Trong khi đó, công tác quản lý môi trường ở nông thôn nói chung còn ít được quan tâm, chưa có giải pháp đồng bộ của chính quyền các cấp về quy hoạch và cải thiện môi trường làng nghề.

Đối với hoạt động sản xuất nông nghiệp, những vi phạm phổ biến là trong quá trình nuôi trồng sử dụng tùy tiện, tràn lan các loại thuốc kháng sinh, thức ăn chăn nuôi, thuốc bảo vệ thực vật đã gây nguy cơ tồn dư thuốc kháng sinh, thuốc bảo vệ thực vật trong thực phẩm. Việc xử lý chuồng trại, chất thải trong chăn nuôi chưa được chú ý, thường thải ra cống rãnh tự nhiên.

– Lĩnh vực nhập khẩu: Có tình trạng nhập khẩu trái phép chất thải vào nước ta dưới hình thức phế liệu làm nguyên liệu sản xuất, kể cả thiết bị công nghệ lạc hậu dẫn đến nguy cơ biến nước ta thành bãi rác thải công nghiệp, với thủ đoạn rất tinh vi như “tạm nhập, tái xuất”, khi bị phát hiện thì khai là “gửi nhầm hàng” và xin được chuyển trả lại… Một số doanh nghiệp lợi dụng cơ chế kiểm hóa bằng xác suất (10% khối lượng hàng nhập), thậm chí móc nối với nhân viên hải quan, kiểm định, lấy mẫu trong các lô hàng đảm bảo yêu cầu chất lượng đã được chuẩn bị sẵn, từ đó dễ dàng được thông quan nhập rác vào nước ta. Nhiều doanh nghiệp biết có vi phạm nhưng vẫn cố tình đưa phế liệu rác về cảng, xin nộp phạt để thông quan, coi như “đã lỡ”. Đây là một trong những hoạt động kinh doanh thu lợi nhuận cao vì doanh nghiệp “ăn hai mang”, vừa được tiền do các chủ nguồn chất thải chi trả để thu gom, vận chuyển, vừa được các cơ sở sản xuất trong nước mua lại để tái chế sử dụng. Hơn nữa, đây lại là một nguồn nguyên liệu sản xuất dồi dào, giá rẻ nên các doanh nghiệp, từ công ty vận tải, nhập khẩu cho đến các cơ sở tái chế bất chấp quy định của pháp luật, liên tục phạm pháp với quy mô và số lượng lớn. Trong 5 năm gần đây, đã có khoảng 4.000 container chứa ắc quy chì đã qua sử dụng, nhập vào Việt Nam qua các cửa khẩu quốc tế, vi phạm nghiêm trọng Công ước Basel, Luật BVMT và Quyết định số 155/1999/QĐ-TT ngày 16/4/1999 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành quy chế quản lý chất thải nguy hại.

Hoạt động nhập, phá dỡ tàu cũ ở Hải Phòng và một số tỉnh cũng đặt môi trường khu vực vào tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng. Các chất thải độc hại như: dầu mỡ, bụi xỉ chứa kim loại nặng, nước thải khó có thể khắc phục, nguy cơ gây ô nhiễm môi trường trên diện rộng. Điển hình như Công ty Huyndai Vinashin (Khánh Hòa) thải ra hàng trăm nghìn tấn hại xỉ (hạt NIX) và các loại chất thải độc hại khác. Kết quả phân tích mẫu đất tại khu vực có hạt xỉ đồng và nước thải cho thấy hàm lượng Asen vượt 23,5 lần giới hạn cho phép, hàm lượng chì gấp 21 lần so với mẫu đối chứng, thành phần kim loại nặng khác như đồng, cadimi cũng vượt tiêu chuẩn cho phép hàng chục lần.

– Lĩnh vực khai thác lâm sản, khoáng sản, nước ngầm, bảo vệ đa dạng sinh học: Thời gian qua, nạn chặt phá rừng ở nước ta vẫn đang diễn ra rất bức xúc, đặc biệt là tình trạng chặt phá các khu rừng nguyên sinh, khu bảo tồn thiên nhiên, rừng phòng hộ. Điển hình là vụ phá rừng Quốc gia Konkakinh, vụ chặt hạ 5.000 ha rừng phòng hộ huyện Phú Ninh (Quảng Nam). Ngay tại Hà Nội cũng diễn ra tình trạng xâm hại hệ thống cây xanh với việc chặt hạ hàng chục cây gỗ trắc, gỗ sưa gây bức xúc trong dư luận. Năm 2007, cả nước phát hiện 5.922 vụ vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, đặc biệt là lợi dụng chính sách chuyển đổi “rừng nghèo”, xây dựng thủy điện, phát quang biên giới để khai thác rừng bừa bãi. Năm 2008 và những tháng đầu năm 2009 số vụ vi phạm pháp luật về bảo vệ rừng tuy giảm nhưng tính chất, mức độ ngày càng nghiêm trọng, nạn phá rừng kèm theo tình trạng chống người thi hành công vụ gây phức tạp tình hình an ninh trật tự ở nhiều địa phương như Bình Định, Quảng Ngãi, Quảng Bình… Tại các khu vực khai thác khoáng sản, do sử dụng hóa chất như thủy ngân, kim loại nặng, nên nguồn nước sinh hoạt, tưới tiêu bị ô nhiễm. Khai thác cát, sỏi bừa bãi cũng làm cho nhiều dòng sông bị xói lở, biến đổi dòng chảy. Các hiện tượng trên làm ảnh hưởng hệ sinh thái, gây phong hóa, rửa trôi, biến rừng thành đất trống đồi núi trọc, tiềm ẩn nguy cơ lũ quét cao. Nguồn nước ngầm bị khai thác bừa bãi, tràn lan. Hầu hết các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, nhất là các cơ sở không thuộc diện phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường (các cơ sở sản xuất vừa và nhỏ) đều tự ý khoan giếng để khai thác và sử dụng nước mà không có giấy phép của cơ quan có thẩm quyền.

Tình trạng săn bắn, buôn bán, vận chuyển động vật hoang dã, quý hiếm diễn ra công khai ở nhiều nơi. Qua một số vụ việc do lực lượng cảnh sát môi trường điều tra, khám phá cho thấy vi phạm pháp luật trong lĩnh vực này tiếp diễn phức tạp, nhất là buôn bán các loài động vật quý hiếm có lợi nhuận cao như hổ, tê tê. Các đường dây mua bán, vận chuyển động vật hoang dã qua biên giới thủ đoạn tinh vi, che giấu bằng nhiều hình thức, nhất là lợi dụng chính sách “tạm nhập, tái xuất”, như vụ Công ty cổ phần xuất nhập khẩu Talu nhập trên 23 tấn tê tê che phủ bằng cá đông lạnh qua cảng Hải Phòng, vụ nhập khẩu 2800 kg rùa, rắn qua cửa khẩu Cầu Treo… Việc nuôi nhốt động vật hoang dã (có hoặc không có giấy phép) diễn ra tràn lan, công khai, khó kiểm soát.

Hoạt động khai thác có tính chất hủy hoại nguồn lợi thủy hải sản có biểu hiện phức tạp. Đã phát hiện tình trạng lợi dụng hoạt động đánh bắt thủy hải sản để khai thác trái phép các loài quý hiếm như rùa biển, san hô đen… Ở khu vực nông thôn hiện vẫn còn tình trạng sử dụng kích điện, chất nổ để đánh bắt cá trên các sông ngòi, kênh rạch nhỏ, dẫn đến tình trạng hủy diệt hàng loạt nhiều loài thủy sinh và gây ô nhiễm nguồn nước. Bên cạnh đó, môi trường sinh thái biển cũng đang có nguy cơ bị ô nhiễm do các hoạt động nuôi trồng thủy sản trên cát hoặc khu vực cửa sông, vận tải hàng hải, thăm dò dầu khí, thậm chí đã xảy ra việc một số doanh nghiệp hoạt động nạo vét luồng lạch, các tàu thuyền đưa hàng trăm tấn chất thải đổ ra biển (như vụ tàu Merci của Hoa Kỳ đổ 500 tấn chất thải ra biển Đà Nẵng).

– Lĩnh vực quản lý và xử lý chất thải:Tại các bệnh viện, lượng chất thải hàng ngày ra môi trường rất lớn, nhưng đến nay mới có khoảng trên 20% bệnh viện, cơ sở y tế có hệ thống xử lý chất thải đạt tiêu chuẩn, hầu hết rác thải chưa được quản lý và xử lý chặt chẽ theo quy chế xử lý chất thải y tế. Nhiều loại rác thải y tế nguy hại như bệnh phẩm, vỏ chai, dây chuyền dịch, bơm kim tiêm đã qua sử dụng để lẫn lộn với rác thải thông thường. Nhân viên bệnh viện không nắm rõ quy trình thu gom, xử lý, thậm chí một số bệnh viện còn cho phép thu gom để bán cho cơ sở tái chế để “tận thu”. Điển hình, năm 2007 lực lượng Cảnh sát môi trường đã kiểm tra và phát hiện một số bệnh viện lớn ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh (như Bệnh viện K, Bạch Mai, Chợ Rẫy, Chấn thương chỉnh hình thành phố Hồ Chí Minh) đã vi phạm các quy định về quản lý, xử lý chất thải y tế, trong đó đã phát hiện hàng nghìn kg chất thải y tế nguy hại được các bệnh viện trên bán cho tư nhân bên ngoài, gồm dây chuyền dịch, bơm kim tiêm…(trong đó có nhiều loại còn dính máu và dịch truyền).

– Đối với rác thải công nghiệp, rất nhiều cơ sở sản xuất, kinh doanh nhằm giảm chi, đã xử lý rác thải tại chỗ bằng phương pháp đốt hoặc chôn lấp thông thường, hoặc thuê xe vận chuyển rác đi nơi khác đổ trái phép. Tập đoàn Điện lực còn lỏng lẻo trong việc quản lý dầu thải chứa chất đặc biệt nguy hại (PCB), dẫn đến tình trạng thu mua, tái chế trái phép chất thải nguy hại diễn ra tại nhiều địa phương. Nhiều tổ chức, cá nhân hành nghề thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải không thực hiện đúng quy định như sử dụng phương tiện không chuyên dụng, không phân loại chất thải sau khi thu gom, chôn lẫn rác thải nguy hại với rác thải thông thường… như vụ Công ty trách nhiệm hữu hạn Tân Đức Thảo (thành phố Hồ Chí Minh), Công ty trách nhiệm hữu hạn Song Tinh (Vĩnh Phúc), Công ty trách nhiệm hữu hạn Sông Xanh (Bà Rịa Vũng Tàu) chôn lấp hơn 4.600m 3 chất thải và cát nhiễm dầu. Hoạt động thu mua, vận chuyển và tái chế trái phép ắc quy chì vẫn diễn ra ở nhiều nơi, có vụ diễn ra với quy mô lớn như vụ doanh nghiệp tư nhân Hưng Nhung (Hưng Yên) vận chuyển trái phép 100 tấn ắc quy chì từ Nam ra Bắc…

– Rác sinh hoạt, phế thải xây dựng không tập kết đúng chỗ, đổ bừa bãi ở hai bên đường. Các bãi rác Phước Hiệp (thành phố Hồ Chí Minh), Như Quỳnh (Hưng Yên), Phù Chẩn (Bắc Ninh)… quá tải gây ô nhiễm nghiêm trọng. Thậm chí tại các bãi rác tập trung, rác thải sinh hoạt đổ lẫn với rác thải công nghiệp có chứa thành phần nguy hại, không được xử lý đúng quy trình, chủ yếu được chôn lấp hoặc thiêu đốt thông thường (không có lò thiêu chuyên dụng), nước thải rò rỉ từ các bãi rác, ngấm vào đất, nguồn nước ngầm, chảy ra đồng ruộng.

– Trong lĩnh vực an toàn vệ sinh thực phẩm, dịch bệnh: Liên tục phát hiện các vụ việc thực phẩm có chứa chất có hại cho sức khỏe con người như nước tương chứa chất 3-MCPD gây ung thư, bánh phở chứa phormol, thực phẩm chứa hàn the, sữa có chứa melamine, kẹo bột đá… Nhiều cơ sở sản xuất hoặc không chấp hành quy trình xử lý chế biến thực phẩm, nước uống, hoặc cố tình thêm các loại hóa chất và phụ gia bảo quản, đe dọa nghiêm trọng đến sức khỏe cộng đồng, như vụ sản xuất kẹo có chứa bột đá tại Hoài Đức (Hà Nội), vụ công ty Hanosa (Hà Nội) sản xuất rượu giả, rượu kém chất lượng… Tại các chợ đầu mối có tình trạng dùng hóa chất ngâm tẩm, tẩy rửa thực phẩm kém chất lượng, như vụ tẩy trắng mực quá hạn tại chợ đầu mối Long Biên, bán thịt lợn bệnh tại Đồng Nai… Hoạt động giết mổ gia súc, gia cầm tùy tiện, không rõ nguồn gốc, không được kiểm dịch thú y, các cơ sở giết mổ không đảm bảo vệ sinh theo quy định; gia súc, gia cầm bị bệnh chết không được chôn lấp hợp vệ sinh; thường xuyên có biểu hiện che giấu thông tin về dịch bệnh để tránh bị tịch thu tiêu hủy mà lén lút mang đi tiêu thụ. Phần lớn nhà hàng, quán ăn sử dụng nguyên liệu thực phẩm không rõ nguồn gốc hoặc không có kiểm định về chất lượng, thậm chí tận dụng các loại thực phẩm hỏng, quá hạn sử dụng; thêm các chất phụ gia, hóa chất nhằm kích thích khẩu vị; không có biện pháp bảo quản, che đậy hợp vệ sinh; người chế biến không có đầy đủ kiến thức về y khoa; chất thải không được xử lý đúng quy định. Những vi phạm trên là nguyên nhân dẫn đến hiện tượng lây lan dịch bệnh và ngộ độc thực phẩm hàng loạt tại nhiều địa phương.

Tình trạng nhập lậu vào tiêu thụ trong nội địa các loại gia súc, gia cầm chưa được kiểm dịch từ Trung Quốc, Campuchia… diễn ra hết sức nhức nhối. Tính riêng trong năm 2008, Công an tỉnh Lạng Sơn bắt giữ 154 vụ buôn bán, vận chuyển trên 111 tấn gia cầm, 54.840 quả trứng. Ngoài ra, mỗi năm còn có hàng trăm tấn nội tạng động vật, chân gà… ngâm tẩm mầu, hóa chất được đưa trái phép vào nước ta, bán tại các chợ đầu mối và cung cấp chủ yếu cho các quán ăn, nhà hàng, là nguồn gây bệnh rất nguy hiểm cho một bộ phận lớn người tiêu dùng.

– Tình trạng trốn hoặc gian lận trong việc nộp phí BVMT diễn ra khá phổ biến ở các doanh nghiệp, các tổ chức, các cơ sở sản xuất kinh doanh và các bệnh viện. Nguyên nhân của tình trạng này là do cơ quan quản lý nhà nước chưa tuyên truyền rộng rãi, chưa có cơ chế thu, nộp phí BVMT rõ ràng, mặt khác đối với những trường hợp vi phạm chưa có chế tài xử phạt đủ mạnh để răn đe, phòng ngừa (vụ công ty Vedan truy thu trên 127 tỷ đồng, công ty cổ phần giấy Việt Trì truy thu trên 1 tỷ đồng…).

Việc BVMT không những được quy định trong Luật BVMT, mà còn được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật khác điều chỉnh các hoạt động của con người khi tác động vào thiên nhiên, ảnh hưởng đến môi trường sống.

Nhìn chung, cho đến nay hệ thống pháp luật về môi trường ở nước ta đã phát triển cả nội dung và hình thức, điều chỉnh tương đối đầy đủ các thành tố tạo nên môi trường. Hệ thống các tiêu chuẩn của môi trường cũng đã được ban hành làm cơ sở cho việc kiểm soát, đánh giá tác động môi trường. Các văn bản pháp luật được ban hành bước đầu đã tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động quản lý nhà nước về BVMT, nâng cao nhận thức của cơ quan nhà nước, tổ chức, công dân đối với vấn đề môi trường. Với tư cách là thành viên của Liên hợp quốc và Chương trình môi trường Liên hợp quốc, Việt Nam đã rất quan tâm đến việc hội nhập quốc tế trong lĩnh vực BVMT. Tính đến nay, nước ta đã tham gia 14 công ước, hiệp định quốc tế về môi trường; đẩy mạnh hợp tác song phương và đa phương với các nước trong và ngoài khu vực về BVMT.

Tuy nhiên, nhìn vào tổng thể hệ thống pháp luật của nước ta hiện nay, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy các quy định của pháp luật về BVMT còn rất nhiều bất cập và hạn chế trước yêu cầu của phát triển bền vững:

Một là, chưa có sự gắn kết chặt chẽ, hữu cơ giữa các quy định về phát triển kinh tế với các quy định về BVMT. Yếu tố môi trường chưa thực sự được coi trọng và tính đến nhiều trong quá trình xây dựng và ban hành luật như các vấn đề về thương mại, đầu tư và phát triển kinh tế bởi những đòi hỏi bức xúc về phát triển kinh tế. Hầu hết các văn bản quy phạm pháp luật về kinh tế còn chưa tính đến chi phí môi trường trong sản xuất kinh doanh. Còn thiếu vắng những công cụ kinh tế nhằm BVMT như lệ phí môi trường, thuế môi trường, người gây ô nhiễm phải trả tiền… làm cho công tác BVMT không phát huy được sự kích thích từ góc độ kinh tế đối với những chủ thể sử dụng các thành phần môi trường cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, gây ảnh hưởng đến môi trường, sinh thái. Vì thế, có thể nói rằng hiện tại các chính sách, pháp luật về kinh tế chưa thực sự “thân môi trường”.

Hai là, các quy định của pháp luật về BVMT tương đối đầy đủ cả ở luật nội dung và hình thức nhưng chưa có một cơ chế pháp lý hữu hiệu trong việc kiểm soát các hoạt động tác động vào tự nhiên, ảnh hưởng đến môi trường, sinh thái, Các chế tài chưa thích hợp và chưa đủ mạnh để trừng trị và răn đe những hành vi vi phạm. Vì vậy, nghĩa vụ đánh giá tác động môi trường của các chủ thể tham gia vào hoạt động sản xuất, kinh doanh hầu như còn hình thức. Các hoạt động gây ảnh hưởng đến môi trường, sinh thái như gây ô nhiễm nguồn nước, không khí, chặt phá rừng… vẫn tiếp tục diễn ra, không được ngăn chặn triệt để.

Ba là, những quy định về biện pháp xử lý vi phạm giữa các văn bản pháp luật về môi trường còn có những khoảng trống nên không có biện pháp xử lý thích hợp đối với chủ thể vi phạm. Cụ thể như, Điều 27 Luật Tài nguyên nước quy định cấm tổ chức, cá nhân gây nhiễm mặn nguồn nước. Nếu coi đây là hành vi gây ô nhiễm nguồn nước thì phải được xử phạt hành chính về hành vi gây ô nhiễm nguồn nước nói chung nhưng rất tiếc là Nghị định số 26/CP ngày 26/4/1996 của Chính phủ về xử phạt hành chính trong lĩnh vực BVMT lại không quy định về vấn đề này. Vì vậy, mặc dù Điều 183 Bộ luật Hình sự năm 1999 có quy định về tội gây ô nhiễm nguồn nước nhưng khó có thể thực hiện trong thực tiễn được vì chưa bị xử lý vi phạm hành chính… Vì thế, hiệu quả của việc xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về môi trường còn thấp.

Bốn là, pháp luật về trách nhiệm dân sự trong lĩnh vực BVMT còn quá chung chung, khó áp dụng. Mặc dù, các quy định về bồi thường thiệt hại của người có hành vi gây ô nhiễm môi trường đã được đề cập nhưng các quy định này chỉ dừng lại ở mức độ chung chung. Trách nhiệm chấm dứt hành vi vi phạm, khôi phục lại môi trường và bồi thường thiệt hại chỉ được quy định trong văn bản pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính. Còn đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường mới chỉ dừng lại ở quy định chung chung, mang tính nguyên tắc trong Luật BVMT, Bộ luật Dân sự, đến nay vẫn chưa được quy định cụ thể, hướng dẫn thực hiện. Ngay trong các quy định pháp luật về bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường, đến nay cũng chưa có quy định nào hướng dẫn về các phương pháp xác định thiệt hại, xác định mức bồi thường.

Trước yêu cầu thực tế và thực hiện Chỉ thị số 29-CT/TW về việc đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết 41-NQ/TW của Bộ Chính trị (khoá IX) “Về BVMT trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” việc thực hiện pháp luật BVMT phải đáp ứng các yêu cầu sau:

Hai là, xã hội hóa các hoạt động thực hiện pháp luật về BVMT bằng cách tăng cường sự tham gia của các tổ chức chính trị – xã hội, đoàn thể và cộng đồng dân cư trong việc tham gia quản lý, tổ chức thực hiện và giám sát công tác BVMT. Chính quyền các cấp cần phối hợp và hỗ trợ về mọi mặt để phát huy tối đa vai trò công tác xã hội, đa dạng hoá các hoạt động BVMT, có cơ chế khuyến khích mọi thành phần kinh tế thực hiện dịch vụ BVMT. Xây dựng mối quan hệ cộng tác giữa các tổ chức đảng – Nhà nước – Mặt trận, đoàn thể – doanh nghiệp. Nội dung của việc xã hội hóa công tác BVMT là huy động ở mức cao nhất sự tham gia của xã hội vào công tác BVMT; xác lập các cơ chế khuyến khích, các chế tài hành chính, hình sự và thực hiện một cách công bằng, hợp lý đối với tất cả các cơ sở nhà nước và tư nhân khi tham gia hoạt động BVMT; nâng cao vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân, tổ chức xã hội trong công tác BVMT; đưa BVMT vào nội dung hoạt động của các khu dân cư và phát huy vai trò của các tổ chức này trong công tác BVMT;

Ba là, tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực môi trường, đặc biệt là hợp tác quốc tế về pháp luật. Cần tìm cơ chế thích hợp để đẩy mạnh hơn nữa việc nội luật hoá các cam kết quốc tế về BVMT mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia và xác định rõ hiệu lực pháp lý của cam kết quốc tế đó. Đồng thời, cần phải xây dựng cơ chế bảo đảm thực thi hiệu quả các cam kết quốc tế đó tại Việt Nam. Mở rộng hợp tác quốc tế về môi trường trên tinh thần tôn trọng và thực hiện nghiêm túc các công ước quốc tế mà nước ta ký kết tham gia. Ưu tiên mở rộng quan hệ quốc tế về BVMT trong phạm vi khu vực dưới hình thức thiết lập các chương trình, dự án đa phương và song phương. Chú ý mở rộng mối quan hệ hợp tác đôi bên cùng có lợi;

Bốn là, tăng nguồn chi cho sự nghiệp BVMT. Từ năm 2006, ngân sách cho BVMT đã được bố trí thành một nguồn riêng (chi sự nghiệp môi trường) với quy mô không thấp hơn 1% tổng chi ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, trong bối cảnh mới, nhằm giải quyết những vấn đề môi trường cấp thiết, cần phải tăng chi ngân sách. Tăng mức chi cho sự nghiệp BVMT cần phải cải thiện được chất lượng môi trường hướng đến một nền kinh tế phát triển nhanh, bền vững, tăng thụ hưởng cho người dân./

Cập nhật thông tin chi tiết về Pháp Luật Về Trách Nhiệm Pháp Lý Trong Lĩnh Vực Bảo Vệ Môi Trường trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!