Xu Hướng 2/2024 # Phân Tích Vẻ Đẹp Bài Thơ Hạt Gạo Làng Ta Của Trần Đăng Khoa # Top 10 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Phân Tích Vẻ Đẹp Bài Thơ Hạt Gạo Làng Ta Của Trần Đăng Khoa được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Sơ nét về tác giả và tác phẩm

Để tìm hiểu về nội dung và ý nghĩa của tác phẩm cũng như phân tích bài thơ Hạt gạo làng ta, trước hết bạn cần nắm được những nét cơ bản về tác giả cùng tác phẩm.

Trần Đăng Khoa sinh năm 1958, quê của ông là làng Trực Trì, xã Quốc Tuấn, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương. Từ thuở còn nhỏ, ông đã được nhiều người biết đến với tài năng sáng tác thơ thiên bẩm. Khi chỉ là một cậu bé 8 tuổi, Trần Đăng Khoa đã có tác phẩm được đăng báo và 2 năm sau đó, tập thơ “Góc sân và khoảng trời” của ông đã được xuất bản bởi Nhà xuất bản Kim Đồng.

Trần Đăng Khoa từng có một khoảng thời gian phục vụ trong quân ngũ và sau khi đất nước được thống nhất, ông có điều kiện tập trung cho việc học tập. Ông từng theo học tại Trường Viết văn Nguyễn Du và với sự nhạy bén trong tiếp thu kiến thức, ông đã được cử sang Nga du học và khi trở về, ông đầu quân cho Tạp chí Văn nghệ quân đội.

Trần Đăng Khoa là tác giả đảm nhiệm khá nhiều những chức vụ quan trọng trong các tổ chức về văn chương, truyền thông, báo chí, chẳng hạn như: Trưởng ban Văn học Nghệ thuật, Phó Bí thư thường trực Đảng ủy Đài Tiếng nói Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam và gần đây còn được mời làm giám khảo, có quyền cầm cân nảy mực cho cuộc thi Viết thư quốc tế UPU. Những năm sau này, nhà thơ đang giữ chức vụ Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam.

Nhà thơ đã cho ra đời những tác phẩm nổi bật như: “Từ góc sân nhà em” ; “Góc sân và khoảng trời” ; “Trường ca Trừng phạt” ; “Trường ca Giông bão” hay … Với rất nhiều những sáng tác kể trên, nhà thơ đã vinh dự nhận được giải thưởng của báo Thiếu niên Tiền phong, báo Văn nghệ và đặc biệt là vào năm 2001, nhà thơ được vinh danh với Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật.

Phân tích bài thơ Hạt gạo làng ta, ta thấy tác phẩm này được trích từ tập thơ “Góc sân và khoảng trời” và được viết vào năm 1969 khi đất nước ta đang diễn ra cuộc kháng chiến chống Mĩ khốc liệt. Ở thời điểm này, nhà thơ mới chỉ là một cậu bé 11 tuổi nhưng lại có những suy nghĩ rất trưởng thành và chu đáo.

Phân tích bài thơ Hạt gạo làng ta của Trần Đăng Khoa

Tìm hiểu nguồn gốc của “hạt vàng”, những gian khổ đắng cay để tạo ra hạt gạo, hạt gạo trong những năm tháng kháng chiến gian lao cùng với ý nghĩa và giá trị của hạt gạo là những nội dung chính cần tìm hiểu khi phân tích bài thơ Hạt gạo làng ta.

Mở đầu bài thơ, nhà thơ đã thể hiện giá trị của gạo để thể hiện giá trị của hạt gạo:

Việt Nam ta vốn là đất nước nông nghiệp với hình ảnh quen thuộc của ruộng đồng, thôn xóm, hạt gạo … Hạt gạo trắng sữa đã được xem như là hạt ngọc quý giá trời cho với vị phù sa nồng nàn của con sông Kinh Thầy thân thuộc, hương thơm thanh mát của hồ sen và xuất hiện trong cả những lời mẹ hát ru con với sự “ngọt bùi đắng cay” da diết.

Chính những hạt lúa nhỏ bé, trắng tinh khôi ấy chính là thứ mang lại nguồn lương thực và cả giá trị tinh thần vô cùng lớn lao dành cho mọi người. Dường như, nhà thơ Trần Đăng Khoa đã miêu tả vẻ đẹp của những hạt gạo bằng những hình ảnh thân thuộc, gắn bó với nhân dân nhưng lại là những gì đẹp đẽ nhất và tinh túy nhất.

Phân tích bài thơ Hạt gạo làng ta, người đọc nhận thấy trước khi thành hình và có thể xuất hiện với những vẻ đẹp tinh túy như cách mà Trần Đăng Khoa miêu tả, có được hạt gạo là cả một quá trình con người phải trải qua rất nhiều những khó khăn và gian khổ:

Qua những dòng viết của nhà thơ, ta thấy hiện lên biết bao nhiêu những trở ngại làm ảnh hưởng đến việc canh tác, cấy cày. Trở ngại ấy phần lớn đến từ sự khắc nghiệt của thiên nhiên, khí hậu.

Chắc hẳn ta vẫn nhớ một bài ca dao rất đỗi quen thuộc của ông cha: “Ai ơi bưng bát cơm đầy” – “Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần” . Cái phải chăng chính là nỗi cực nhọc của người nông dân khi phải đối mặt với những trở ngại của thiên nhiên. Đó là bão giông khi tháng bảy về, là mưa tuôn khi tháng ba đến và trời nắng như cháy da bỏng thịt của những trưa tháng sáu. Những biến động đó của thời tiết là những thách thức rất lớn đối với cây lúa vốn là loại thân mềm lại rỗng ở phía bên trong. Thế nhưng những thử thách ấy dù có lớn đến như thế nào thì cũng không thể làm khó được con người.

Không đổ mồ hôi rơi nước mắt, mà người mẹ trong bài thơ cũng như rất nhiều những người nông dân khác đều phải trải qua rất nhiều những khó nhọc chỉ mong có thể lấy công sức ấy đổi lấy những hạt lúa căng tròn và chén cơm mát ngọt. Điều đó khiến cho ta có thể cảm nhận được những phẩm chất lao động đáng quý của người nông dân Việt Nam. Dù cho bão táp, mưa dầm, nắng rọi khiến cho “nước như ai nấu” , họ vẫn không quản khó nhọc, vẫn cần cù, siêng năng làm lụng chỉ để mong có một mùa thu hoạch thuận lợi, để cuộc sống được đủ đầy hơn, ấm no hơn…

Phân tích bài thơ Hạt gạo làng ta sẽ thấy việc bảo vệ hạt gạo trong chiến tranh với ý chí kiên cường của nhân dân đã cho thấy vai trò và ý nghĩa lớn lao của “hạt ngọc” làng ta. Gian khó mà người nông dân đối mặt trong sản xuất nông nghiệp không chỉ đơn thuần là sự khắc nghiệt của thiên nhiên mà có những thứ còn khủng khiếp, nguy hiểm hơn nữa, đó chính là bom đạn trong chiến tranh:

Những câu thơ trên đã tái hiện ra khung cảnh đất nước trong những năm cuộc kháng chiến chống Mĩ diễn ra vô cùng khốc liệt. Để tàn phá đất nước ta, chúng không ngại đổ xuống đất ta vô vàn những trận mưa bom, bão đạn với sức hủy diệt ghê gớm. Trước hoàn cảnh đó, bao lớp thanh niên đã đi theo tiếng gọi của tình yêu tổ quốc để xung phong vào trận mạc làm nhiệm vụ chống lại quân thù, bảo vệ nền hòa bình cho đất nước. Đó là nhiệm vụ rất đỗi lớn lao.

Lúc này, những người ở lại đảm nhiệm một vai trò cũng lớn lao không kém, là một hậu phương vững chắc bằng cách tăng gia sản xuất để có thể làm ra lúa gạo cung ứng cho bộ đội ta. Phân tích bài thơ Hạt gạo làng ta, người đọc cũng thấy quá trình làm ra hạt gạo đã không hề dễ dàng vì sự xuất hiện của những hiện tượng thời tiết khắc nghiệt như đã nói, nhưng những người nông dân đã vượt qua rất xuất sắc.

Ấy vậy mà bao nhiêu thành quả lao động sắp được gặt hái thì lại đứng trước nguy cơ bị hủy hoại không thương tiếc của bom đạn kẻ thù. Hình ảnh băng đạn của giặc “vàng như lúa đồng” đã cho thấy sức tàn phá vô cùng của chiến tranh. Vậy là người nông dân phải ra sức bảo vệ lấy chúng để rồi vẫn dành cho đời, nhất là những anh bộ đội chiến sĩ những thành quả ngọt ngào:

Hoàn cảnh của chiến tranh tuy có nghiệt ngã, khốc liệt nhưng lại là dịp để làm nổi bật lên ở người nông dân ý chí, lòng quyết tâm, sự can trường và tinh thần sẵn sàng đương đầu với mọi khó khăn, thử thách. Dù có khi sự nguy hiểm đe dọa đến sinh mạng con người nhưng họ vẫn không hề lùi bước để có được “bát cơm mùa gặt” – “thơm hào giao thông” .

Như vậy, họ thật sự đã trở thành tấm gương, là hậu phương vững vàng và đồng thời cũng là động lực để cho những người chiến sĩ nơi chiến trường có thêm lí do để quyết tâm chiến đấu và mang về thắng lợi. Và quả thật, cuộc kháng chiến chống Mĩ của ta đã đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác để rồi cuối cùng cả hai miền Nam – Bắc được vui niềm vui thống nhất… Phân tích bài thơ Hạt gạo làng ta sẽ nhận ra thành quả đó dĩ nhiên được tạo nên không chỉ từ một cá thể, một tổ chức mà là sự hợp sức và đồng lòng của cả đất nước, dân tộc.

Như đã nói, để làm nên sự thắng lợi thì cần đến sự hợp lực của đông đảo mọi người, với công tác sản xuất cấy cày ở địa phương, không chỉ có người lớn mà trẻ em cũng có thể tham gia như một sự đóng góp cho công tác chung của đất nước:

Hình ảnh những bạn nhỏ xuất hiện tạo nên một không khí mới cho đoạn thơ dù ở đoạn thơ trước đó tác giả thể hiện sự căng thẳng, hiểm nguy của chiến trận. Phân tích bài thơ Hạt gạo làng ta, người đọc nhận thấy dù còn ở tuổi nhỏ nhưng những đứa trẻ đã biết phụ giúp cho gia đình những công việc tuy nhỏ nhưng không kém phần quan trọng. Điều này đã giúp những cánh đồng có thể phát triển tốt nhất: nào là tưới nước để lúa không bị khô cằn vì nắng hạn, nào là bắt sâu ban trưa để chúng không thể phá hoại cây và cả gánh phân chăm bón để cây lúa có chất dinh dưỡng và phát triển được tốt nhất.

Những bạn nhỏ ấy đã làm việc với tinh thần hăng say không khác gì người lớn. Điều đó khiến ta như cũng thấy thêm hân hoan, tự hào vì công cuộc xây dựng đất nước có cả sự góp sức của sức trẻ. Như vậy, có thể thấy lứa tuổi nào cũng có thể đóng góp một phần công sức của mình vào sự nghiệp chung của dân tộc, dù nhỏ thôi nhưng đã thể hiện tấm lòng chân thành dành cho quê hương xứ sở. Riêng những bạn nhỏ trong bài thơ, chính nhờ vào bàn tay góp sức mà hạt gạo trắng thơm được gửi đi đến khắp muôn nơi và mang đến biết bao nhiêu niềm vui cho cả người cho và nhận:

Phân tích bài thơ Hạt gạo làng ta dễ dàng nhận ra tác giả nhắc nhiều đến từ , thế nhưng trong đoạn thơ này, tác giả đã gọi hạt gạo là “hạt vàng”. Nhà thơ dường như muốn thể hiện sự trân trọng đối với giá trị vô cùng quý giá của hạt gạo ấy. Nó không chỉ quý vì có thể giúp con người ấm lòng no bụng mà còn quý vì chứa đựng biết bao nhiêu mồ hôi, nước mắt và sự cố gắng của những người làm ra…

Đánh giá về tác phẩm khi phân tích bài thơ Hạt gạo làng ta

Phân tích bài thơ Hạt gạo làng ta, người đọc dễ dàng nhận thấy tác phẩm được viết theo thể thơ bốn chữ ngắn gọn, nhịp thơ uyển chuyển và cùng các hình ảnh đặc sắc của làng quê Việt Nam, nhất là hình ảnh của hạt gạo trắng ngần, thơm mát. Như vậy, bài thơ đã toát lên những nội dung giàu giá trị. Đó là tình cảm trân trọng của nhà thơ đối với hạt gạo được vun trồng bởi bàn tay khéo léo, chăm chỉ của người nông dân. Bên cạnh đó, nhà thơ còn bày tỏ sự mến phục với những người lao động miệt mài quanh năm bán mặt cho đất bán lưng cho trời để dâng tặng đời món quà quý báu của đồng nội.

Có thể thấy bài thơ “Hạt gạo làng ta” dù được sáng tác bởi một Trần Đăng Khoa nhỏ tuổi nhưng lại thể hiện những suy nghĩ của một người chín chắn, trưởng thành. Sau những vần thơ ngắn gọn ấy, ta cảm nhận được sự quý giá của hạt gạo nói riêng và thành quả của người lao động nói chung. Từ sự cảm nhận đó, ắt hẳn nhà thơ cũng mong muốn mỗi người hãy biết góp sức xây dựng và đồng thời phải biết trân trọng những thành quả ngọt ngào được làm ra.

Giới thiệu nét chính về tác giả Trần Đăng Khoa.

Hoàn cảnh ra đời của bài thơ Hạt gạo làng ta.

Dẫn dắt vấn đề: phân tích bài thơ Hạt gạo làng ta.

Nguồn gốc dân dã và giá trị của hạt gạo làng ta.

Những gian khổ khó khăn để có được hạt gạo làng ta.

Ý chí vượt khó vươn lên trong chiến tranh gian khổ của nhân dân để có được hạt gạo.

Sự đóng góp của thiếu nhi cùng với niềm vui của con người trong vụ mùa bội thu.

Tóm tắt giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm.

Bày tỏ những cảm nhận riêng của bản thân trong quá trình phân tích bài thơ Hạt gạo làng ta.

Dàn ý phân tích bài thơ Hạt gạo làng ta của Trần Đăng Khoa

Ý thơ Hạt gạo làng ta đọng lại trong trái tim người đọc bởi sự trân quý hạt gạo – hạt ngọc của quê hương xứ sở. Từ đó, nhà thơ Trần Đăng Khoa cũng gửi gắm sự biết ơn đến những dân lao động hai sương một nắng để giúp chúng ta biết trân trọng hơn ý nghĩa của sự vất vả chân lấm tay bùn để tạo ra hạt vàng. Hạt gạo làng ta không những là sản phẩm vật chất mà còn là sản phẩm tinh thần vô giá. Đến nay, tứ thơ của Trần Đăng Khoa đã được phổ nhạc thành những tiếng hát ngân nga đầy sâu sắc…

Tác giả: Việt Phương

Bài Thơ: Hạt Gạo Làng Ta (Trần Đăng Khoa)

Khi làm bài thơ này, Trần Đăng Khoa đang học cấp I nhưng bằng sự hiểu biết đời sống nông thôn và nhờ tài năng đặc biệt, bài thơ được viết ra một cách sâu sắc, rung động, giàu ý nghĩa nhưng lại rất trẻ con.

Hạt gạo làng ta.Có vị phù sa,Của sông Kinh Thầy.Có hương sen thơm,Trong hồ nước đầy…

Ở lứa tuổi ấy mà biết nghĩ như thế là sâu sắc lắm. Từ một thực tế có tính khoa học là cây lúa hút chất dinh dưỡng dưới bùn, đất ra hoa trổ bông, kết hạt ( như ai cũng biết) thì nhà thơ bằng sự tinh tế của tâm hồn còn nghe được, cảm nhận được “vị phù sa”, “hương sen thơm” trong hạt gạo. Và hơn thế nữa có cả tình người, lòng người ấp ủ:

Có lời mẹ hát,Ngọt ngào hôm nay.

Làm ra hạt gạo gian khổ biết chừng nào. Ca dao cổ có câu thấm thía:

Ai ơi bưng bát cơm đầyDẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần.

Đó là cách phát biểu trực tiếp, có tính chất luân lí, hơi nghiêng về lí trí. Còn trong bài thơ này, Trần Đăng khoa để thực tế nói lên:

Hạt gạo làng taCó bão tháng bảyCó mưa tháng baGiọt mồ hôi saNhững trưa tháng sáu

Bão dập, nắng lửa, mưa dầm, thiên nhiên của đất nước Việt Nam đới khắc nghiệt này đã đổ vào đầu bà con nông dân bao nhiêu nhọc nhằn để làm ra hạt gạo, mà cụ thể nhất là bà mẹ của mình:

Nước như ai nấu,Chết cả cá cờ.Cua ngoi lên bờ,Mẹ em xuống cấy.

Bốn câu thơ có sức chứa lớn về nội dung, về hình thức biểu hiện. Nghĩ bằng cách nghĩ của trẻ con, tác giả mới so sánh cái nước do mặt trời hun nóng lên ở ruộng với nước nóng mà ta đun nấu lên; nước nóng đến mức “chết cả cá cờ” thì phải là dưới con mắt và suy nghĩ của trẻ con mới nhìn thấy được. Vì sao vậy? Cá cờ là loài cá còn gọi là cá thia lia, thân đuôi nhiều màu sắc sặc sỡ, các cậu bé ở nông thôn mà bắt được là thường đem về nuôi ở chai, lọ thuỷ tinh như ở thành phố người ta nuôi cá vàng.

Nước nóng chết cả cá, như chết mất con cá cờ thì quả là tiếc đứt ruột. Phải có con mắt trẻ con, tâm lí trẻ con mới viết được hai câu thơ:

Nước như ai nấu,Chết cả cá cờ.

“Cua ngoi lên bờ” không sống ở nông thôn không có thực tế ruộng đồng thì không có câu thơ đó. Nóng quá, cua phải ngoi lên bờ, nhưng bất ngờ đến sửng sốt:

Cua ngoi lên bờ,Mẹ em xuống cấy…

Hai câu thơ, hai hình ảnh đối nghịch nhau gây một chấn động tình cảm mạnh trong lòng người đọc. Có phải nói gì nhiều về những vất vả của người mẹ để làm ra hạt gạo? Hai câu thơ đó đã nói lên quá nhiều.

Kể ra bài thơ dừng ở đây là được rồi, là đúng với lứa tuổi của người viết. Nhưng trong thời điểm cả nước dồn sức đánh Mĩ, trẻ con cũng già đi trước tuổi. Các em không được sống cái hồn nhiên cái tuổi bắt dế, nuôi chim của mình. Trần Đăng Khoa cũng vậy mà còn hơn thế nữa. Vì thông minh hơn người, em tiếp cận không khí chính trị, không khí xã hội một cách nhạy bén:

Những năm bom MỹTrút trên mái nhàNhững năm cây súngTheo người đi xaNhững năm băng đạn,Vàng hơn lúa đồng.Bát cơm mùa gặt,Thơm hào giao thông…

Băng đạn vàng như lúa đồng, có lẽ đó là ý thơ hay nhất trong cả bài và cũng là câu thơ hay nhất trong tất cả những bài thơ viết về người nông dân miền Bắc trong những năm đánh Mĩ. Câu thơ này hay về sự điển hình, hay về sự so sánh độc đáo, mới lạ và chính xác. Phải sống trong những năm tháng ấy mới có sự liên tưởng về bông lúa vàng trĩu hạt với những băng đạn vàng rực, cũng nặng trĩu trong tay người đánh giặc.

Trần Đăng Khoa vừa miêu tả hạt gạo nghìn đời, vừa nói đến hạt gạo những năm đánh Mĩ: gian khổ và nghĩa tình. Tác giả biết chọn lọc những hình ảnh có sức rung động. Câu thơ:

Bát cơm mùa gặt,Thơm hào giao thông…

Vừa nói lên được hoàn cảnh vừa nêu được khí thế đất nước của ngày ấy.

Phân Tích Bài Thơ Hạt Gạo Làng Ta (Lớp 5)

Phân tích bài thơ hạt gạo làng ta hay được tìm và tập hợp từ nhiều nguồn khác nhau với nội dung và hướng viết đa dạng và phong phú

Phân tích bài thơ hạt gạo làng ta (lớp 5)

Khi làm bài thơ này, Trần Đăng Khoa đang học cấp 1 nhưng bằng sự hiểu biết đời sống nông thôn và nhờ tài năng đặc biệt, bài thơ được viết ra một cách sâu sắc, rung động, giàu ý nghĩa nhưng lại rất trẻ con.

Ở lứa tuổi ấy mà biết nghĩ như thế là sâu sắc lắm. Từ một thực tế có tính khoa học là cây lúa hút chất dinh dưỡng dưới bùn, đất ra hoa trổ bông, kết hạt ( như ai cũng biết) thì nhà thơ bằng sự tinh tế của tâm hồn còn nghe được, cảm nhận được ” vị phù sa”. ” hương sen thơm” trong hạt gạo. Và hơn thế nữa có cả tình người, lòng người ấp ủ:

Làm ra hạt gạo gian khổ biết chừng nào. Ca dao cổ có câu thấm thía:

Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần.”

Đó là cách phát biểu trực tiếp, có tính chất luân lí, hơi nghiêng về lí trí. Còn trong bài thơ này , Trần Đăng khoa để thực tế nói lên:

Bão dập, nắng lửa, mưa dầm, thiên nhiên của đất nước Việt Nam đới khắc nghiệt này đã đổ vào đầu bà con nông dân bao nhiêu nhọc nhằn để làm ra hạt gạo , mà cụ thể nhất là bà mẹ của mình:

Bốn câu thơ có sức chứa lớn về nội dung, về hình thức biểu hiện. Nghĩ bằng cách nghĩ của trẻ con, tác giả mới so sánh cái nước do mặt trời hun nóng lên ở ruộng với nước nóng mà ta đun nấu lên; nước nóng đến mức “chết cả cá cờ” thì phải là dưới con mắt và suy nghĩ của trẻ con mới nhìn thấy được. Vì sao vậy? Cá cờ là loài cá còn gọi là cá thia lia, thân đuôi nhiều màu sắc sặc sỡ, các cậu bé ở nông thôn mà bắt được là thường đem về nuôi ở chai, lọ thủy tinh như ở thành phố người ta nuôi cá vàng.

Nước óng chết cả cá, như chết mất con cá cờ thì quả là tiếc đứt ruột. Phải có con mắt trẻ con, tâm lí trẻ con mới viết được hai câu thơ:

” Cua ngoi lên bờ” không sống ở nông thôn không có thực tế ruộng đồng thì không có câu thơ đó. Nóng quá, cua phải ngoi lên bờ, nhưng bất ngờ đến sửng sốt:

Hai câu thơ, hai hình ảnh đối nghịch nhau gây một chấn động tình cảm mạnh trong lòng người đọc. Có phải nói gì nhiều về những vất vả của người mẹ để làm ra hạt gạo? Hai câu thơ đó đã nói lên quá nhiều.

Kể ra bài thơ dừng ở đây là được rồi, là đúng với lứa tuổi của người viết. Nhưng trong thời điểm cả nước dồn sức đánh Mĩ, trẻ con cũng già đi trước tuổi. Các em không được sống cái hồn nhiên cái tuổi bắt dế, nuôi chim của mình. Trần Đăng Khoa cũng vậy mà còn hơn thế nữa. Vì thông minh hơn người, em tiếp cận không khí chính trị, không khí xã hội một cách nhạy bén:

Băng đạn vàng như lúa đồng, có lẽ đó là ý thơ hay nhất trong cả bài và cũng là câu thơ hay nhất trong tất cả những bài thơ viết về người nông dân miền Bắc trong những năm đánh Mĩ. Câu thơ này hay về sự điển hình, hay về sự so sánh độc đáo, mới lạ và chính xác. Phải sống trong những năm tháng ấy mới có sự liên tưởng về bông lúa vàng trĩu hạt với những băng đạn vàng rực, cũng nặng trĩu trong tay người đánh giặc.

Trần Đăng Khoa vừa miêu tả hạt gạo nghìn đời, vừa nói đến hạt gạo những năm đánh Mĩ: gian khổ và nghĩa tình. Tác giả biết chọn lọc những hình ảnh có sức rung động. Câu thơ:’

Vừa nói lên được hoàn cảnh vừa nêu được khí thế đất nước của ngày ấy.

Năm gần hết, tết sắp đến, nhiều người đang xốn sang chạy ngược chạy xuôi để mua cho được tấm vé tàu, vé xe hầu kịp về quê sau một năm xa cách. Họ háo hức về quê đón một cái tết, một mùa xuân, một năm mới với bao ước mơ tươi đẹp cùng gia đình, bên người thân. Các cháu thiếu nhi còn nôn nóng mong tết biết bao! Mong đến nỗi các cháu thường đếm ngược thời gian, hay hỏi người lớn còn bao nhiêu nữa sẽ đến tết.

Ông bà ta rất quí trọng hạt gạo, coi hạt gạo, hạt cơm là “hạt ngọc” trời cho để nuôi sống con người. Chính vì thế, mà những hạt cơm, con cháu sơ lý làm vương vãi xuống đát, ông bà ta phải nhặt lên, nếu không thì “phí của trời”. Mà quả thật, trong dân giang biết bao câu truyện về người coi thường : Hạt ngọc” của trời đã nhận lãnh hậu quả thuê thảm, đau thương, từ đang giàu có biến thành tán gia bại sản. Hạt gạo tuy được trời cho, nhưng phải qua công sức của con người một nắng hai sương mới có. Trong bài thơ: ” Hạt gạo làng ta” của Trần đăng khoa viết năm 1968 khi nhà thơ vừa tròn 10 tuổi đã nói lên được một phần ý nghĩa đó.

Ấy thế mà ” Mẹ em xuống cấy” mẹ đâu quản nắng mưa, đầu tắt, mặt tối để kiếm bát cơm đầy cho con, cho gia đình ấm bụng.

Vì thế, ca dao Việt Nam như đã đồng cảm với bao vất vả cực nhọc thấm đẩm mồi hôi của người nông dân chân lấm tay bùn và lên tiếng nhắc nhỡ mọi người:

Dảo thơm một hạt, đắng cay muôn phần”

Hạt gạo được con người chế biến ra nhiều loại lương thực, bao thứ bánh trái, với hương vị đậm đà, ngọt ngào khác nhau, và thật phong phú theo từng vùng miền của quê hương đất nước. Ta chỉ có thể cảm nhận một cách đầy đủ khi đã được đôi lần đi qua và thưởng thức. Thật thú vị khi được ngòi quanh bếp lưa hồng, với cái lanh se se vào cuối đông để canh chừng một nồi bánh chưng chờ cho bánh chín rền trong những ngày đón xuân sắp đến.

Ngày xưa thì bão tháng 7 nhưng vừa rồi chả có cơn bão tháng 5 to đùng là gì ai chả biết, trước kia những trưa tháng 6 nóng quá cá, cua nổi hết lên chỉ cần đi một lúc buổi chưa là cũng có thể mang về một ủng tay, ủng chân hay một giỏ rồi. Nhưng bây giờ những thứ đó đã trở thành đặc sản rồi nên nắng nóng chỉ thấy có người chết thôi còn cua cá chẳng thấy đâu cả. Hạt gạo ngày xưa thì mang hương vị của phù xa còn bây giờ toàn phân lân, phân đạm và các chất hóa học độc hại thôi. Ngày xưa toàn mùi thơm của lúa thời con gái, của thóc chín bây giờ đi trên đường nhiều chỉ hít bụi nên chết lúc nào không hay, bây giờ hết chiến tranh rồi hạt gạo làng ta đã đi xuất khẩu lao động sang châu phi châu mỹ cả rồi mỗi năm trung bình có khoảng 60-70tr tấn chư kể vượt biên sang các nước liền kề

Hạt gạo làng ta Có vị phù sa Của sông Kinh Thầy Có hương sen thơm Trong hồ nước đầy Có lời mẹ hát Ngọt bùi đắng cay… Hạt gạo làng ta Có bão tháng bảy Có mưa tháng ba Giọt mồ hôi sa Những trưa tháng sáu Nước như ai nấu Chết cả cá cờ Cua ngoi lên bờ Mẹ em xuống cấy… Hạt gạo làng ta Những năm bom Mỹ Trút trên mái nhà Những năm cây súng Theo người đi xa Những năm băng đạn Vàng như lúa đồng Bát cơm mùa gặt Thơm hào giao thông… Hạt gạo làng ta Có công các bạn Sớm nào chống hạn Vục mẻ miệng gàu Trưa nào bắt sâu Lúa cao rát mặt Chiều nào gánh phân Quang trành quết đất Hạt gạo làng ta Gửi ra tiền tuyến Gửi về phương xa Em vui em hát Hạt vàng làng ta… Bài thơ này đã được nhạc sĩ Nguyễn Viết Bính phổ nhạc thành nhạc phẩm cùng tên.

Sau khi đọc bài thơ “Hạt gạo làng ta” của nhà thơ Trần Đăng Khoa, em có cảm nhận rằng:

Muốn làm ra được hạt gạo thì đâu phải dễ dàng gì, người nông dân phải vất vã rất nhiều. Trong hạt gạo có bao nhiêu mồ hôi nước nước mắt, vị phù sa của con sông thuần khiết, hương sen và cả những câu hát vui khi chăm sóc cánh đồng, khoảnh ruộng của mẹ. Người nông dân muốn cho cây lúa tốt tươi thì còn phải cực nhọc khi những cơn bão lớn đi qua, mưa to, gió lốc lớn, những trưa hè oi ả lại phải ra đồng cày cấy, nước ruộng nóng cứ như là được ai đun sôi. Đến các con vật như cá, cua cũng không chịu nổi: “cá chết-cua ngoi lên bờ”. Trong hoàn cảnh khắc nghiệt của thiên nhiên như vậy mà người nông dân, cụ thể ở đây là người mẹ của tác giả vẫn không quản khó khăn, chịu nắng nóng khắc nghiệt để xuống đồng gieo mạ. Bài thơ đã cho mọi người hiểu cảnh khổ cực của nông dân thời bao cấp, để mọi người luôn nhớ ơn người nông dân đã làm ra những hạt gạo trắng trong chắt lọc tinh hoa của đất trời nghìn năm muôn thuỡ.

Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần”.

Phân Tích Vẻ Đẹp Của Bài Thơ Đồng Chí (Chính Hữu)

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc ta đã chứng kiến bao kì tích của những người nông dân. Họ đã làm nên lịch sử từ đôi bàn tay cày cuốc, đôi bàn chân lấm lem bùn lầy. Họ là những chàng ” Thạch Sanh của thế kỉ XX“. Đã có biết bao tiếng hát, lời thơ ca ngợi những anh hùng ” chân đất ” ấy. Là một chiến sĩ, đồng thời cũng là một nghệ sĩ, với bài thơ Đồng chí, Chính Hữu đã góp một bản hùng ca hoà vào bản đàn chung về những người lính anh dũng của một thời kháng chiến gian khổ mà hào hùng.

Năm hai mươi tuổi, Chính Hữu viết về người lính trong Ngày về nhưng ở bài thơ này hình ảnh người chiến sĩ hiện lên với nhiều nét ước lệ, với những thanh gươm, áo bào, đôi giày vạn dặm, khác xa lắm người lính trong cuộc chiến thực tại :

Rách tả tơi rồi đôi giày vạn dặm

Bụi trường chinh phui bạc áo hào hoa

(Chính Hữu – Ngày vê)

Ba năm sau (1948), khi tham gia vào hàng ngũ cách mạng, được trực tiếp trải nghiệm đời lính, được chứng kiến những mất mát, hi sinh, những khó khăn gian khổ, được sống trong tình đồng chí, đồng đội gắn bó keo sơn, Chính Hữu đã có cái nhìn, cách cảm nhận khác về người lính. Điều đó được thể hiện rõ trong bài thơ Đổng chí. Ngay từ khi mới ra đời, Đồng chí đã được đón nhận nồng nhiệt. Có thể coi đó là một trong những áng thơ đẹp nhất về người lính, vẻ đẹp của bài thơ chính là vẻ đẹp của tình đồng chí, đồng đội được hiện lên qua những ” chi tiết và hình ảnh tự nhiên, bình dị mà cô đọng, giàu sức biểu cảm ” (SGK Ngữ văn 9, tập 1).

Mở đầu bài thơ là sự khái quát về cảnh ngộ của những người lính :

Quê hương anh nước mặn, đồng chua

Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá.

Ngôn ngữ thơ giản dị như lời ăn tiếng nói thường ngày của người dân quê. Ta bắt gặp ở đây những thành ngữ quen thuộc ” nước mặn đồng chua“, ” đất cày lên sỏi đá“, thể hiện rõ nhất nguồn gốc xuất thân của những người lính. Họ đến từ mọi miển Tổ quốc, từ những vùng đồng bằng châu thổ quanh năm ngập lụt đến vùng đồi núi trung du khô cằn. Những con người xa lạ, cách nhau cả một phương trời nhưng giống nhau ở cái nghèo, sự lam lũ khó nhọc của người dân quê Việt Nam. Chính sự đồng cảnh ấy đã khiến họ xích lại gần nhau, để từ những ” người xa lạ “, họ tập hợp lại trong hàng ngũ cách mạng và trở thành quen biết, thân thiết với nhau :

Súng bên súng, đầu sát bên đầu,

Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ.

Những hình ảnh thơ rất thực nhưng cũng đầy sức gợi. Điệp từ “bên” cùng cấu trúc song hành có tác dụng khẳng định sự gắn bó khăng khít giữa những người lính. Họ cùng chung nhiệm vụ chiến đấu, bảo vệ Tổ quốc “súng bên súng” (cùng chung lí tưởng, suy nghĩ – “đầu sát bên đầu”). “Cái hay của nhà thơ là đã biết đem cái ấm áp của “đêm rét chung chăn” vào bài thơ, sưởi nóng mối tình đồng chí lên thành mức độ tri kỉ”. Những người lính đến với nhau nhẹ nhàng bình dị, vừa có cái chung của lí tưởng lớn, vừa có cái riêng của một đôi bạn ỷ hợp tâm đầu. Và cứ giản dị như thế, những con người cùng chung gian khó ấy trở thành đồng chí của nhau : Đồng chí!

Hai tiếng ” đồng chí ” vang lên, như một tiếng gọi thiết tha. Nhịp thơ đang dàn trải, như những lời thủ thỉ, tâm tình, đến đây chợt lắng lại, ngắt ra thành một câu thơ riêng, chỉ với hai từ và dấu chấm than, tựa như một nốt nhấn ngân vang. Nó vừa là một định nghĩa giản dị về tình đồng chí, vừa có ý nghĩa bản lề đóng lại những dòng cảm xúc bên trên và mở ra những nguồn mạch biểu hiện mới của tình đồng đội. Chính Hữu đã từng có những định nghĩa giản dị như vậy về tình đồng đội thiêng liêng :

56 ngày đêm bom gầm, pháo giội

Ta mới hiểu thế nào là đồng đội Đồng đội ta

Là chia nhau một trưa nắng, một chiều mưa

Chia nhau cuộc đời, chia nhau cái chết.

(Chính Hữu – Giá từng thước đất)

Đồng chí là thế. Là sự gắn bó tha thiết tự trong tim, là sự sẻ chia những tâm tư, những gian khó cuộc đời, là sự thấu hiểu những tình cảm, nghĩ suy :

Ruộng nương anh gửi bạn thân cày

Gian nhà không, mặc kệ gió lung lay

Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính.

Đối với những người nông dân, thiết thân nhất là ruộng vườn cả đời cày sâu cuốc bẫm, là ngôi nhà nhỏ có gia đình thân yêu. Vậy nhưng họ vẫn quyết tâm gạt bỏ lại sau lung, lên đường theo tiếng gọi của quê hương, đất nước. Từ ” mặc kệ ” mộc mạc như cách nói quen thuộc của người dân quê vang lên, ẩn chứa cả ý chí kiên định. Đó không phải là thái độ buông xuôi, vô trách nhiệm mà là biểu hiện của lòng quyết tâm sắt đá. Họ vẫn gắn bó lắm, vẫn yêu nhớ lắm cái mảnh đất quê hương nghèo khó, nên mới có thể cảm nhận được nỗi lòng của người thân nơi hậu phương : Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính,

Đã bao lần ta bắt gặp hình ảnh cây đa, bến nước, sân đình trong ca dao xưa, nhưng vẫn thật mới mẻ trong thơ Chính Hữu. Biện pháp nghệ thuật hoán dụ ” giếng nước“, ” gốc đa ” gợi ta nhớ tới nơi hò hẹn của những người dân quê, nhắc đến những kỉ niệm một thời gắn bó trên mảnh đất quê hương. Chúng cũng biết “nhớ” khi cách xa những người con thân yêu của làng quê. Nghệ thuật nhân hoá được sử dụng thật đắc địa. Bao tình cảm nặng sâu như đều dồn tụ trong tiếng giản dị ấy. Câu thơ gợi ta nhớ đến những tiếng thơ của Hồng Nguyên :

Mòn chân bên cối gao canh khuya.

(Hồng Nguyên – Nhớ)

Giữa người đi xa và người ở lại luôn có một sợi dây vô hình gắn kết. Những người lính cùng nhau san sẻ mọi buồn vui, khó khăn của cuộc sống kháng chiến. Không chỉ thế, tình đồng chí còn tiếp thêm cho họ sức mạnh để họ vượt qua khó khăn, gian khổ của đời lính :

Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh

Sốt run người vừng trán ướt mồ hôi.

Câu thơ khắc hoạ hoàn cảnh thực của người lính : thường xuyên phải chống chọi với những cơn sốt rét rừng triền miên. Hình ảnh thơ chân thực, cụ thể, nhịp thơ 3/5 đều đều như những lời kể chuyện nhẹ nhàng mang lại cho ta cảm giác se xót trước những gian khó mà người lính phải trải qua trong cuộc đời chiến đấu.

Những hiện thực trần trụi tưởng như không phải là thơ, nhưng lại gieo vào lòng người đọc bao cảm xúc :

Nhịp thơ nhanh, câu thơ ngắn, kết hợp cùng cấu trúc song hành có tác dụng đặc tả sự thiếu thốn của đời lính trong kháng chiến chống thực dân Pháp. Ta cũng từng bắt gặp những câu thơ đậm chất hiện thực như thế trong thơ Chính Hữu :

(Chính Hữu – Tháng năm ra trận)

Nhưng bất chấp gian khổ, người lính vẫn cười – tiếng cười ngạo nghễ của những con người coi thường khó khăn, tiếng cười được sưởi ấm bằng đôi bàn tay nắm chặt:

Thương nhau tay nắm lấy bàn tay.

Câu thơ giản dị, nhẹ nhàng, đậm chất lính. Hai tiếng ” thương nhau” được đặt lên đầu câu khiến cho nhịp thơ như lắng lại. “Thương” chứ không phải là “yêu”. Trong “thương” không chỉ có tình yêu mà còn có sự cảm thông, sự xót xa cho nhau. Chính trong tâm thế đó, người lính tìm đến nhau trong cái nắm tay tình nghĩa. Đó là cái nắm tay truyền hơi ấm để giúp đồng đội vượt qua cái giá lạnh nơi núi rừng, cũng là cái nắm tay truyền ý chí chiến đấu, truyền ngọn lửa nhiệt tình cách mạng. Đây là ngọn nguồn tạo nên sức mạnh bất diệt của người lính Việt Nam trong kháng chiến. Những người nông dân vốn chỉ lo ” côi cút lùm ăn ” (Nguyễn Đình Chiểu), quanh năm gắn bó với ruộng đồng, con trâu, cái cày. Nhưng tình yêu quê hương lên tiếng giục giã họ cất bước lên đường. Những gian khổ là nhiều, những hi sinh là không ít, nhưng tình yêu Tổ quốc và tình đồng chí thiêng liêng đã tiếp thêm sức mạnh để người lính vượt qua những khó khăn thử thách đó, để họ vững tay súng, hoàn thành nhiệm vụ mà Tổ quốc và nhân dân giao phó :

Đêm nay rừng hoang sương muối

Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới

Ba câu thơ ngắn là sự kết tinh tình đồng chí. Giữa nơi chiến trường khốc liệt, thiên nhiên khắc nghiệt : (rừng hoang, sương muối) hình ảnh những người lính kề vai nhau ngời sáng lên đẹp biết bao ! Nó là sự đối chọi với thiên nhiên khắc nghiệt và sự khốc liệt của hiện thực chiến tranh. Từ ” bên” ở đây tương thích với từ ” bên” trong câu thơ: ” Súng bên súng, đầu sát bên đầu “. Nhưng nếu như ở trên, hai cá thể vẫn tách biệt (súng – súng ; đầu – đầu) thì đến đây, từ “bên nhau” cho ta thấy một sự gắn kết trọn vẹn giữa những người lính. Họ kề vai sát cánh cùng nhau, truyền cho nhau hơi ấm, sức mạnh và niềm tin để thực hiện nhiệm vụ giữ gìn, bảo vệ Tổ quốc. Có thể nói, chính hoàn cảnh khắc nghiệt của núi rừng hoang lạnh, hiểm nguy lại là nơi thử thách tình đồng đội thiêng liêng cao cả của những người lính. Hình ảnh họ toả sáng trong câu thơ kết bất ngờ, độc đáo :

Đây là hình ảnh độc đáo, kết tinh giá trị nghệ thuật của cả bài thơ. Chính Hữu từng tâm sự : “Trong chiến dịch, nhiều đêm có trăng. Phục kích giặc trong đêm trước mắt tôi chỉ có ba nhân vật : khẩu súng, vầng trăng và người bạn chiến đấu. Ba nhân vật quyện lại với nhau thành hình ảnh ” Đầu súng trăng treo“. Tưởng như không hề có sự dụng công nghệ thuật trong hình ảnh đó, vậy mà nó đưa lại cho người đọc khoái cảm thẩm mĩ thật đặc biệt. Nhịp thơ 2/2 ” như nhịp lắc của một cái gì lơ lửng, chông chênh trong sự bát ngát ” (Chính Hữu). Súng và trăng như cũng tạo thành một cặp đồng chí, góp phần soi rọi, tô sáng hơn vẻ đẹp của cặp đồng chí kia, mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc. Súng tượng trưng cho khói lửa chiến tranh, trăng tượng trưng cho cuộc sống thanh bình. Súng và trăng vừa đối lập lại vừa hài hoà, một bên là hiện thực, một bên là ước mơ. Ta nhận ra trong câu thơ sự kết hợp hài hoà giữa tâm hồn chiến sĩ và thi sĩ, giữa chất ện thihực đằm sâu và chất lãng mạn bay bổng. Đó chính là yếu tố làm nên giá trị độc đáo của câu thơ này.

” Trong bài Đồng chí, tôi muốn nhấn mạnh đến tình đồng đội. Suốt cả cuộc chiến đấu, chỉ có một chỗ dựa dường như là duy nhất để tồn tại, để chiến đấu, là tình đồng chí, đồng đội ” (Chính Hữu). Cả bài thơ là khúc ca về tình cảm chân thành, thiêng liêng của những người lính nông dân. Từ những miền quê nghèo khác nhau trên dải đất hình chữ S, cùng chung sự khốn khó, chung lí tưởng chiến đấu, họ đến với nhau, giản dị mà chân thành. Bài thơ sẽ còn ngân vang mãi trong trái tim, tâm hồn mỗi người dân Việt Nam như một biểu tượng đẹp về tình đồng chí bất tử !

– Phạm vi yêu cầu của đề bài khá rộng, đòi hỏi người viết phải biết chắt lọc những gì tiêu biểu nhất để phân tích nếu không sẽ rơi vào tản mạn. Bài viết của Minh Huệ đã biết đi sâu vào những nét chính, đặc sắc của thi phẩm Đồng chí đó là hình ảnh người lính và tình đồng đội.

– Văn phong trong sáng, giàu sắc thái biểu cảm :” “Thương nhau tay nắm lấy bàn tay”. Câu thơ qiản dị, nhẹ nhàng, đậm chất lính. Hai tiếng “thương nhau” được đặt lên đầu câu khiến cho nhịp thơ như lắng lụi. “Thương” chứ không phủi là “yêu”. Trong “thương” không chỉ có tình yêu mà còn có sự cảm thông, sự xót xa cho nhau. Chính trong tâm thế đó, người lính tìm đến nhau trong cái nắm tay tình nghĩa “.

Người viết đã có ý thức so sảnh, đối chiếu, song cần liên hệ sâu hơn với một số bài thơ khác viết về người lính như Tây Tiến của Quang Dũng ; Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật để thấy sự giống và khác nhau trong cách nhìn và cách thể hiện hình ảnh người lính.

Phân Tích Bài Thơ Mây Và Sóng Của Ta

R. Ta-go ( Rabindranath Tagore ) được biết đến là nhà thơ nổi tiếng tiêu biểu cho nền thơ ca hiện đại của thế kỷ XX ở Ấn Độ

Nhà thơ sinh ra ở Ấn Độ năm 1861 và mất năm 1941 tại Can-cút-ta, thuộc bang Ben-gan, trong một gia đình quý tộc. Thơ ông tượng trưng cho cái hồn của đất nước này.

Những tác phẩm của Ta-go mang đến những xúc cảm mãnh liệt, thiết tha và sâu lắng bởi những chiêm nghiệm được đút kết qua chính cuộc đời của ông. Ông được biết đến với rất nhiều tác phẩm tiêu biểu. Khi phân tích bài thơ Mây và sóng ta sẽ thấy đây là một tác phẩm điển hình cho hồn thơ của ông.

Với sức sáng tạo phi thường của mình, Ta-go đã để lại cho đời một kho tàng đồ sộ với nhiều thể loại khác nhau. Những tư tưởng trong tác phẩm của ông có tầm ảnh hưởng lớn đối với thời đại.

Phân tích bài thơ Mây và sóng cũng như khi tìm hiểu về tác phẩm này, ta thấy nó được in trong tập Thơ non – Đây được xem như một kiệt tác điển hình cho những bài ca về tình yêu thương gia đình, tình mẫu tử thiêng liêng cao quý cũng như hạnh phúc và ước mơ tự do của con người.

Mây và sóng được Ta-go tạo nên giống như một khúc ca, một bài hát nhẹ nhàng với giọng điệu du dương da diết và sâu lắng. Từ đó, tình cảm mẹ con được thể hiện một cách rất tự nhiên và ngọt ngào.

Giới thiệu tác giả Ta-go và bài thơ Mây và sóng

Trước khi đi vào cảm nhận và phân tích bài thơ Mây và sóng, chúng ta cần nắm được các ý chính về tác giả cũng như tác phẩm, cụ thể như sau:

Hai bàn tay con ôm lấy mẹ, và mái nhà ta sẽ là bầu trời xanh thẳm. Con là sóng và mẹ sẽ là bến bờ kì lạ, Con lăn, lăn, lăn mãi rồi sẽ cười vang vỡ tan vào lòng mẹ”

Phân tích bài thơ Mây và sóng của Ta-go

Tác phẩm chính là những lời kể chân thành và tự nhiên của em nhỏ với người mẹ của mình qua những cuộc đối thoại tưởng tượng của em với các nhân vật sống trên mây và dưới nước. Khi phân tích bài thơ Mây và sóng ta nhận thấy rằng, dù người mẹ không xuất hiện, không trực tiếp đối thoại nhưng ở đây đối tượng để bày tỏ tình cảm của em bé chính là mẹ.

Mở đầu bài thơ là những tưởng tượng của em bé về hình ảnh mây. Em bé đã từ chối lời rủ của mây để ở nhà và bày trò chơi cùng mẹ. Em cũng từ chối những rủ rê của sóng để ở nhà chơi cùng mẹ.

“Mẹ ơi, trên mây có người gọi con Bọn tớ chơi từ khi thức dậy cho đến lúc chiều tà. Bọn tớ chơi với bình minh vàng, bọn tớ chơi với vầng trăng bạc”…..

Qua biện pháp nhân hóa khiến mây và sóng trở nên có linh hồn đồng thời cũng thể hiện tư tưởng của tác giả: đó là sự gắn bó và hòa hợp của hai mẹ con với thiện nhiên và đất trời. Phân tích bài thơ Mây và sóng cũng chính là cảm nhận về những tưởng tưởng của em bé cũng như về tình mẫu tử thiêng liêng.

Tiếp theo là hai cảnh cũng chính là hai lời thoại. Những tưởng tượng phong phú và xúc cảm dâng trào trong lòng đứa trẻ ấy, lần sau cứ cao hơn lần trước. Sự thử thách tình cảm vượt qua bao nhiêu khó khăn trong trí tưởng tượng của em bé đã thể hiện tình mẫu tử trọn vẹn giữa hai mẹ con. Như vậy, phân tích bài thơ Mây và sóng sẽ cho chúng ta thấy được điều này.

“Trong sóng có người gọi con Bọn tớ ca hát từ sáng sớm cho đến hoàng hôn Bọn tớ ngao du từ nơi này nơi nọ mà không biết từng đến nơi nào…”

Giọng thơ nhẹ nhàng, truyền cảm, ý thơ dạt dào cảm xúc, tứ thơ dung dị và đơn giản nhưng hình ảnh thơ lại rất đa dạng và phong phú. Phân tích bài thơ Mây và sóng, chúng ta cùng theo dõi cuộc trò chuyện này:

Cậu bé nhỏ tâm tình thủ thỉ cùng mẹ rồi để cho trí tưởng tượng của mình bay bổng. Những hình dung sáng tạo như tưởng tượng trên mây có người gọi, rủ cậu bé với những trò chơi thú vị với trăng bạc và bình minh vàng… Sự reo vui thích thú của chú bé thể hiện những ước mơ của tuổi thơ thật đẹp biết bao. Phân tích bài thơ Mây và sóng còn cho thấy chú bé lưỡng lự khi có mẹ đang đợi ở nhà. Để rồi tự khước từ những lời mời mọc ngọt ngào ấy để trở về chơi cùng mẹ, bởi vắng mình mẹ sẽ buồn biết bao.

Phân tích bài thơ Mây và sóng trong khung cảnh tiếp theo này, ta thấy chú bé hồn nhiên kể tiếp:

Cuộc rủ rê này thiệt thú vị và thích thú biết bao. Chú bé tưởng tượng và vui mừng với những tưởng tượng ấy. Tuy vậy, những lời dặn dò của mẹ trong tưởng tượng khiến chú bé lưỡng lự “Buổi chiều mẹ luôn muốn mình ở nhà…” Và chú bé nghĩa đến một trò chơi khác để thay thế. Em sẽ là sóng còn mẹ sẽ là mây – Một trò chơi giàu trí tưởng tượng và đầy sự sáng tạo.

Phân tích bài thơ Mây và sóng qua khung cảnh thứ 2 này, ta thấy chú bé ấy vô cùng yêu thương mẹ của mình. Tình yêu ấy thật thắm thiết và nồng nàn.

Câu cuối bài thơ là lời khẳng định sự tồn tại của mẹ sẽ còn ở khắp mọi nơi.Với những rủ rê nhất thời ấy, cuối cùng, chú bé đã có thể chối từ để một mực nghĩ về mẹ, với trí tưởng tượng các trò chơi có sự tham gia của mẹ.

Người đọc có thể nhận ra một cách dễ dàng khi phân tích bài thơ Mây và sóng, đó là hai hình ảnh tượng trưng dẫu được miêu tả chân thực và sinh động. Những trò chơi trên mây trong sóng ấy, phải chăng biểu trưng cho những cám dỗ quyến rũ của cuộc đời này?. Bãi biển trong tác phẩm là hình ảnh tượng trưng cho lòng mẹ, bao la, rộng lớn và cũng đầy ấm áp.

Nhận xét về nội dung và nghệ thuật của bài thơ

Bài thơ có giá trị nghệ thuật lớn lao bởi Ta-go đã sử dụng nhiều hình ảnh thiên nhiên tuyệt đẹp đồng thời cũng thổi hồn vào đó những ý nghĩa tượng trưng sâu sắc. Ngoài ra, trong tác phẩm ta cũng thấy cách sử dụng biện pháp so sánh tài tình, những liên tưởng và tưởng tượng đầy thú vị.

Có thể nói, hai hình tượng mây và sóng đã chắp cánh cho những tưởng tượng tuổi thơ. Đồng thời, khi phân tích bài thơ Mây và sóng, ta cũng nhận thấy rằng, nhà thơ Ta-go đã khéo léo nhắc nhở chúng ta rằng hạnh phúc không phải nơi xa xôi, không phải khó kiếm tìm mà nó ở ngay trước mặt, hiện hữu chân thực như chính tình mẫu tử sâu nặng.

Tác giả: Việt Phương

Phân Tích Bài Thơ Hịch Tướng Sĩ Của Trần Quốc Tuấn

Đề bài: Phân tích nghệ thuật khích lệ tinh thần yêu nước, lòng căm thù giặc ở các tướng sĩ trong phần hai của bài Hịch.

Trong phần hai, sau khi đã nêu những tấm gương trung nghĩa của các tướng sĩ trong sử sách và thực tế (ở phần mở đầu), tác giả hướng người tiếp nhận bài hịch vào hiện tình đất nước để khơi dậy tinh thần yêu nước, lòng căm thù giặc ở mỗi người. Nghệ thuật khích lệ ở đoạn này như sau:

– Nêu tội ác và sự ngang ngược của kẻ thù vừa bằng những sự việc cụ thể, vừa bằng những hình ảnh ẩn dụ, với lời lẽ rất mạnh mẽ, biểu lộ lòng căm thù, sự khinh bỉ tột độ quân giặc của tác giả (đi lại nghênh ngang ngoài đường, uốn lưỡi cú diều mà sỉ mắng triều đình, đem thân dê chó mà bắt nạt tể phụ, đòi ngọc lụa, thu bạc vàng, để vét của kho có hạn. Thật khác nào như đem thịt mà nuôi hổ đói).

– Tác giả tự bộc bạch nỗi lòng của mình để khích lệ các tướng sĩ. Lòng yêu nước, chí căm thù giặc của Trần Quốc Tuấn thật mãnh liệt, thiết tha, sôi sục, khiến lời văn như có máu chảy ở đầu ngọn bút, gây xúc động cao độ cho người nghe.

Tác giả dùng cách trò chuyện với giọng chân tình, tha thiết, thể hiện mối quan hệ không chỉ là chủ soái với tì tướng, mà còn là của những người cùng chung cảnh ngộ, cùng một vận mệnh trước hoàn cảnh đất nước.

Đề bài: Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn – Áng hùng văn bất hủ. Em hãy viết bài văn phân tích chứng minh ý kiến trên.

Hơn bảy thế kỉ đã trôi qua, kể từ ngày Hịch tưởng sĩ được công bố, âm hưởng hào hùng của nổ như vẫn còn âm vang trong lòng mỗi người dân đất Việt, gieo vào lòng họ những cảm xúc mãnh liệt và niềm tự hào sâu sắc.

Hịch tướng sĩ là một áng văn nghị luận cổ của văn học trung đại Việt Nam, được viết vào giữa thế kỷ XIII, trước cuộc kháng chiến chống Mông Nguyên lần thứ hai. Tác giả bài Hịch là một danh tướng kiệt xuất của triều Trần, vị chủ tướng của cuộc kháng chiến lúc bấy giờ. Với trọng trách mà dân tộc giao phó đè nặng trên đôi vai, với nhiệt tình yêu nước cháy bỏng, Trần Quốc Tuấn nung nấu một khát vọng cao cả: chiến thắng giặc thù, giữ yên giang sơn bờ cõi. Để khơi dậy ngọn lửa yêu nước và động viên ý chí chiến đấu trong ba quân tướng sĩ, Trần Quốc Tuấn đã ra lời kêu gọi tướng sĩ bằng một bài Hịch bất hủ: Dụ Chư tỳ tưởng hịch vân – còn gọi là Hịch tướng sĩ văn, áng hùng văn của mọi thời đại.

Chất hùng văn của Hịch tưởng sĩ được tạo nên từ nghệ thuật trữ tình hùng biện và tình cảm mãnh liệt, nồng cháy trong tim người anh hùng dân tộc.

Tình cảm sục sôi và nhiệt tình yêu nước cháy bỏng, ý chí quyết chiến quyết thắng giặc thù làm nên chất nhân văn cao đẹp của bài hịch.

Tình cảm ấy trước hết là lòng căm thù giặc sâu sắc, nỗi đau xót chân thành và mãnh liệt khi thấy đất nước bị giày xéo, tàn phá. Trần Quốc Tuấn đã lột tả bản chất tham lam, hống hách, tàn bạo của bọn giặc: Đi lại nghênh ngang ngoài đường, uốn lưỡi cú diều mà sỉ mắng triều đình, đem thân dê chó mà bắt nạt tể phụ, đòi ngọc lụa thu bạc vàng. Thái độ của Trần Quốc Tuấn vừa căm giận vừa khinh bỉ. Để tỏ lòng căm giận và khinh bỉ của mình, tác giả đã sử dụng các hình ảnh ẩn dụ để chỉ bọn giặc, coi chúng như những loài cầm thú: cú diều, dê chó, hổ đói.

Trần Quốc Tuấn đã thấu suốt dã tâm của giặc, nhận thức rõ hiểm hoạ của Tổ quốc, nguy cơ của sự bại vong. Đoạn văn không những tiêu biểu cho lòng căm thù giặc, mà còn tiêu biểu cho tinh thần cảnh giác của dân tộc. Sau khi vạch trần bản chất của bọn giặc, Trần Quốc Tuấn trực tiếp bày tỏ nỗi lòng của mình: “Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối; ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa chỉ căm tức chưa xả thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù. Dẫu cho trâm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa ta cũng vui lòng”.

Nếu như cả bài hịch là hình tượng cái tôi trữ tình yêu nước vĩ đại của Trần Quốc Tuấn thì đoạn văn này lại tiêu biểu nhất cho tình cảm cao đẹp ấy. Với bút pháp khoa trương ít nhiều có tính chất ước lệ nhưng thống thiết, hào sảng, phù hợp với ngôn ngữ hùng biện của thể hịch văn, vì thế có sức ngân vang lớn. Đoạn văn đã thể hiện đậm nét trạng thái sục sôi, hận thù bỏng rát của một trái tim vĩ đại, chất chứa cảm xúc lớn với vận mệnh đất nước, sự tồn vong của dân tộc, số phận của nhân dân. Tất cả các trạng thái cảm xúc ấy đều được đẩy tới cực điểm. Căm giận thì sục sôi, đau xót thì mãnh liệt: Quên ăn; mất ngủ; ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa.

Từ trái tim vĩ đại sục sôi nhiệt huyết đến ý chí quả quyết muốn hành động, hi sinh cứu nước, là sự phát triển phù hợp với chuyển biến tâm tư tình cảm của người anh hùng. Sự phát triển của cái tôi trữ tình yêu nước gói gọn trong những ngôn từ: Chỉ căm tức chưa xả thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù. Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gối trong da ngựa ta cũng vui lòng. Chưa bao giờ trong văn học Việt Nam lòng căm thù giặc và nỗi đau xót trước vận mệnh dân tộc lại được biểu hiện sâu sắc, mãnh liệt và xúc động lòng người đến thế! Trực tiếp bày tỏ nỗi lòng, Trần Quốc Tuấn đã là một tấm gương sáng về lòng trung quân ái quốc.

Từ căm thù cháy bỏng đến hành dộng giết giặc cứu nước là tất yếu và phải được đặt lên hàng đầu, thà chết chứ không chịu lùi bước. Đó là khí phách của một dân tộc anh hùng. Hơn ai hết, Trần Quốc Tuấn hiểu rõ rằng ý chí quyết chiến quyết thắng, sẵn sàng xả thân vì nước của vị thống soái toàn quân là yếu tố rất quan trọng, nhưng chưa đủ để làm nên chiến thắng, cần có một sức mạnh tổng hợp. Sức mạnh ấy phải được tạo nên từ sự đồng lòng nhất chí, từ ý chí quyết chiến, quyết thắng giặc thù của cả dân tộc.

Đe động viên tới mức cao nhất tinh thần của tướng sĩ, bên cạnh việc nêu gương sáng của các trung thần nghĩa sĩ bỏ mình vì nước trong sử sách, bày tỏ nỗi lòng của mình, Trần Quốc Tuấn còn khéo khích lệ tướng sĩ. Đầu tiên ông nhắc lại mối ân tình của mình với tướng sĩ: không có mặc thì ta cho áo, không có ăn thì ta cho cơm, quan nhỏ thì ta thăng chức, lương ít thì ta cấp bổng; đi thủy thì ta cho thuyền, đi bộ thì ta cho ngựa. Thật hiếm có vị chủ tướng nào lại chăm sóc tướng sĩ ân cần chu dáo đến thế! Điều cảm kích hơn là tình cảm chan hòa hiếm có giữa ông với tướng sĩ lúc trận mạc xông pha thì cùng nhau sống chết, lúc ở nhà nhàn hạ thì cùng nhau vui cười.

Nhắc lại ân tình ấy, ông như muốn nhắc nhở họ: ta đôi với các ngươi như vậy sao các ngươi lại thờ ơ, bàng quang đến vô ơn bội nghĩa: thấy chủ nhục mà không biết lo, thấy nước nhục mà không biết thẹn… nghe nhạc thái thường để đãi yến mà không biết căm. Đồng thời ông còn chỉ ra cho họ thấy nỗi nhục của chính bản thân họ: làm tướng triều đình mà phải hầu quân giặc mà không biết tức. Trần Quốc Tuấn đã thẳng thắn và nghiêm khắc phê phán thái độ bàng quan thờ ơ, sự ham chơi hưởng lạc của các tướng sĩ, từ những thú vui tầm thường vô bổ: đánh bạc, chọi gà, thích rượu ngon…, đến sự vun vén cá nhân ích kỉ: làm giàu, quyến luyến vợ con. Tác giả đã đối lập từng quan điểm sống với khả năng đánh đuổi kẻ thù để vạch ra trước mắt tướng sĩ nguy cơ thất bại đáng sợ với những hậu quả ghê gớm khôn lường, gắn với quyền lợi của tướng sĩ và của dân tộc.

Tóm lại chỉ có phát huy ý thức trách nhiệm, danh dự của người làm tướng, từ bỏ lối sống cầu an hưởng lạc, chuẩn bị hành động đánh giặc giữ nước mới mong báo đáp ân tình với chủ tướng mới bảo vệ được nền độc lập tự chủ của dân tộc. Không làm được như thế chỉ là một kết cục bi thảm: Nước mất, nhà tan, thanh danh mai một, tiếng xấu để đời. Tình cảm của người anh hùng trào dâng đến đỉnh điểm!

Bên cạnh tình cảm sục sôi mãnh liệt là nghệ thuật giàu sức biểu cảm. Nghệ thuật ấy được thể hiện ở cách lập luận, giọng điệu, lời văn. Cách lập luận của bài hịch hết sức chặt chẽ với sự kết hợp cả lí trí và tình cảm để thuyết phục tướng sĩ. Trần Quốc Tuấn đã nói đến ân tình sâu nặng của ông với tướng sĩ, kêu gọi tướng sĩ vì quan hệ tốt đẹp đó mà nâng cao trách nhiệm và danh dự của kẻ làm tướng, chung lòng chung sức với ông trong cuộc chiến. Trần Quốc Tuấn cũng nói tới tình cảm nhân bản thân thiết, sâu xa, cao quý, thiêng liêng nhất của mỗi con người (gia quyến, vợ con, mồ mả cha ông, tông niếu xã tắc) sẽ có kết cục bi thảm như thế nào nếu không chống nổi giặc ngoại xâm.

Giọng điệu của bài Hịch rất phong phú và linh hoạt: khi thì ôn tồn, thống thiết nghĩa nặng tình sâu, khi thì chì chiết chua cay, trách mắng nghiêm khắc, khi thì mỉa mai châm chọc. Cùng với giọng điệu là lời văn giàu cảm xúc, giàu sắc thái biểu cảm, vừa hùng hồn, vừa khúc chiết. Thêm vào đó là sự xuất hiện cái tôi trữ tình yêu nước vĩ đại Trần Quốc Tuấn. Như vậy nghệ thuật trong Hịch tướng sĩ là nghệ thuật trữ tình hùng biện rất giàu cảm xúc, hình tượng và đầy sức thuyết phục, xứng đáng là một kiệt tác văn chương yêu nước bất hủ của thời đại chống Mông Nguyên nói riêng và mọi thời đại nói chung.

Hịch tướng sĩ đi vào lịch sử văn học như một trong những áng hùng văn tiêu biểu nhất, một bản anh hùng ca yêu nước bất diệt.

Lòng yêu nước của Trần Quốc Tuấn qua văn bản Hịch tướng sĩ

Chứng minh bài Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn đã bộc lộ sâu sắc nhiệt tình yêu nước và tinh thần trách nhiệm của ông trước hoạ ngoại xâm

Em hiểu bài Hịch tướng sĩ như thế nào về hình thức và nội dung, hãy tóm tắt nêu một số ý lớn

Cập nhật thông tin chi tiết về Phân Tích Vẻ Đẹp Bài Thơ Hạt Gạo Làng Ta Của Trần Đăng Khoa trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!