Xu Hướng 2/2023 # Nhiệm Vụ Và Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Bảo Vệ Môi Trường, Xây Dựng Cảnh Quan Nông Thôn Mới Giai Đoạn Sau Năm 2022 # Top 6 View | Phauthuatthankinh.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Nhiệm Vụ Và Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Bảo Vệ Môi Trường, Xây Dựng Cảnh Quan Nông Thôn Mới Giai Đoạn Sau Năm 2022 # Top 6 View

Bạn đang xem bài viết Nhiệm Vụ Và Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Bảo Vệ Môi Trường, Xây Dựng Cảnh Quan Nông Thôn Mới Giai Đoạn Sau Năm 2022 được cập nhật mới nhất trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Ngày đăng: 05/11/2019 04:36

Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc chủ trì Hội nghị. Ảnh: mattran.org.vn

Hạn chế, vướng mắc

Thứ nhất, do nhận thức và ý thức trách nhiệm dẫn đến sự vào cuộc của cấp uỷ, chính quyền, người dân trong công tác bảo vệ môi trường tại nhiều nơi còn hạn chế. Bên cạnh nhiều địa phương rất nỗ lực (như các tỉnh Nam Định, Thái Bình, Hà Nam, Nghệ An, Hà Tĩnh, Phú Yên, Vĩnh Long, Hậu Giang…) thì còn nhiều địa phương lơ là, thiếu quan tâm (như thành phố Hải Phòng là địa phương có nguồn lực và điều kiện thuận lợi, song đến nay là địa phương duy nhất của vùng Đồng bằng sông Hồng chưa có đơn vị cấp huyện được công nhận đạt chuẩn/hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới, mới có 64,03% số xã đạt chuẩn).

Thứ hai, một số địa phương còn lúng túng trong phương thức triển khai thực hiện, chưa xác định được xây dựng cảnh quan môi trường, giữ gìn vệ sinh nông thôn phải do chủ thể là người dân, lấy dân làm nòng cốt, công tác bảo vệ môi trường phải xuất phát từ cộng đồng dân cư, chính quyền chỉ tạo động lực và chỉ ra cách làm, hỗ trợ người dân thực hiện..

Thứ ba, thiếu nguồn vốn, đặc biệt là nguồn vốn đầu tư cho hạ tầng cơ bản về bảo vệ môi trường (như hoàn thiện hệ thống thoát nước, đầu tư hệ thống xử lý nước thải cụm dân cư nông thôn, đầu tư hạ tầng bảo vệ môi trường cho các làng nghề, cụm công nghiệp, công trình xử lý chất thải rắn tập trung….).

Thứ tư, lúng túng về công nghệ (công nghệ xử lý chất thải rắn sinh hoạt nông thôn; xử lý nước thải cụm dân cư, hộ gia đình; xử lý nước thải làng nghề và cụm công nghiệp…) dẫn đến lãng phí về đầu tư nguồn lực. Chẳng hạn, trạm xử lý nước thải tại cụm công nghiệp làng nghề xã Tân Triều, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội xây dựng xong từ năm 2008 nhưng chưa một lần được vận hành; công trình xử lý nước thải công suất 400m3/ngày, đêm đã xây dựng từ năm 2010 tại làng nghề bún Khắc Niệm, tỉnh Bắc Ninh hoạt động nhưng gần như không có hiệu quả…).

Thứ năm, thực tế chứng minh là các công trình bảo vệ môi trường do Nhà nước đầu tư và vận hành đã bộc lộ nhiều điểm yếu, dẫn đến hiệu quả sau đầu tư thấp, lãng phí nguồn lực. Bên cạnh đó, cơ chế Nhà nước đầu tư, doanh nghiệp vận hành còn rất nhiều hạn chế, vướng mắc, bất cập.

Thứ sáu, việc thực hiện nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải có nghĩa vụ và trách nhiệm đối với việc xử lý ô nhiễm” áp dụng cho công tác bảo vệ môi trường nông thôn còn rất hạn chế; người dân, hộ sản xuất – kinh doanh dịch vụ, các hoạt động phát triển kinh tế – xã hội khu vực nông thôn vẫn chủ yếu dựa vào ngân sách Nhà nước để xử lý ô nhiễm, xử lý các chất thải do các đối tượng này phát sinh ra, điều đó gây mất cần bằng thu – chi cho hoạt động bảo vệ môi trường nông thôn.

Nhiệm vụ, giải pháp giai đoạn sau năm 2020 Về nhiệm vụ trọng tâm

Thứ nhất, không ngừng cải thiện và nâng cao chất lượng môi trường nông thôn, giữ gìn cảnh quan nông thôn truyền thống cùng với việc hình thành các “miền quê đáng sống”, cân bằng giữa phát triển sản xuất với duy trì chất lượng và giữ gìn giá trị cảnh quan của môi trường.

Thứ hai, hạn chế việc hình thành và lan rộng các khu vực ô nhiễm; kiểm soát sự phát sinh chất thải theo hướng hạn chế sử dụng ngay từ đầu vào của các quy trình sản xuất; tìm kiếm các mô hình sản xuất sạch, thân thiện môi trường, cải thiện sinh kế và thu hút hoạt động du lịch để tạo giá trị thặng dư cho vùng nông nghiệp, nông thôn; quay vòng tái đầu tư cho cảnh quan và môi trường.

Thứ ba, hình thành thị trường thu gom, trao đổi, thu hồi, tái sử dụng, tái chế chất thải từ hoạt động sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và công nghiệp trên địa bàn nông thôn, hình thành các khu vực áp dụng triệt để nguyên lý của nền kinh tế tuần hoàn trong sản xuất nông nghiệp.

Thứ tư, cải thiện điều kiện vệ sinh, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân nông thôn.

Về nhiệm vụ cụ thể

Một là, đẩy mạnh công tác quản lý chất thải rắn: tổ chức mạng lưới phân loại và thu gom hợp lý, tăng tần suất và biện pháp để thu gom triệt để lượng rác thải các loại phát sinh trên địa bàn; quản lý chặt chẽ các điểm tập kết, trung chuyển, khu xử lý chất thải tập trung; tăng cường các biện pháp tuyên truyền, giáo dục và tiến tới áp dụng các chế tài đủ mạnh để hình thành ý thức giữ gìn vệ sinh môi trường cho cộng đồng dân cư.

Hai là, quản lý chặt chẽ về môi trường đối với các cơ sở sản xuất, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, chế biến nông, lâm, thuỷ sản; khu, cụm công nghiệp, làng nghề; khu vực canh tác nông nghiệp, chăn nuôi tập trung… nhằm duy trì sự cân bằng bền vững của hệ sinh thái nông thôn.

Ba là, xây dựng các khu, cụm dân cư nông thôn sinh thái (sáng – xanh – sạch – đẹp – văn minh), tăng tỷ lệ cây xanh trên một đơn vị diện tích khu dân cư nông thôn; tăng mật độ và đa dạng hoá các mô hình trồng cây xanh ven đường (duy trì tác dụng làm mát, hành lang an toàn giao thông, ngăn bụi và tiếng ồn, hạn chế ô nhiễm không khí…), tăng cường trồng hoa tại các khu vực công cộng (nhất là các khoảng đất trống có nguy cơ hình thành các điểm tập kết rác thải).

Bốn là, hoàn thiện hệ thống thoát nước, xây dựng kế hoạch và lộ trình đầu tư hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt (tập trung và phân tán); lập kế hoạch và triển khai thực hiện công tác cải tạo môi trường và xây dựng cảnh quan tại các khu vực ao, hồ, kênh, mương… phục vụ mục tiêu xây dựng cảnh quan nông thôn đa mục đích (điều hoà tiểu khí hậu, tiêu thoát nước, sinh hoạt văn hoá cộng đồng, khu vui chơi trẻ em…).

Năm là, nâng cao tỷ lệ cấp nước sinh hoạt đối với các xã, các huyện chưa đảm bảo yêu cầu của tiêu chí; tiếp tục cải thiện điều kiện vệ sinh hộ gia đình (nhà tiêu, nhà tắm, bể chứa nước, vệ sinh khu vực sinh hoạt và sản xuất, xây dựng văn hoá ứng xử của người dân đối với môi trường…).

Giải pháp sau năm 2020

Thứ nhất, kiên định với các mục tiêu và tiêu chí đã đạt được của giai đoạn trước, duy trì và nâng cao chất lượng các tiêu chí. Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho cán bộ và người dân nông thôn, nâng cao chất lượng các phong trào thi đua xây dựng nông thôn mới. Thường xuyên cập nhật, phổ biến các mô hình, các điển hình tiên tiến, sáng kiến và kinh nghiệm hay về xây dựng nông thôn mới để nhân ra diện rộng. Tìm tòi, vận dụng những bài học tốt, cách làm hay, vận dụng sáng tạo và điều chỉnh cho phù hợp với đặc điểm văn hóa, kinh tế – xã hội của từng vùng miền, địa phương; phát huy và nhân rộng các mô hình khu dân cư nông thôn mới kiểu mẫu.

Thứ hai, tiếp tục không ngừng hoàn thiện khung thế chế, chính sách quy định, hướng dẫn, hỗ trợ cho việc triển khai các nội dung của tiêu chí môi trường cho phù hợp với thực tiễn theo hướng lượng hóa các chỉ tiêu/tiêu chí có tính đến yếu tố vùng miền. Bên cạnh việc tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện các tiêu chí và hướng dẫn thực hiện tiêu chí nâng cao, tiêu chí kiểu mẫu, cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý điều chỉnh các hành vi, đối tượng trong mối tương quan giữa nông nghiệp, nông dân và nông thôn. Cần tách biệt các nhóm đối tượng trên địa bàn đô thị và nông thôn để có những phương cách ứng xử phù hợp; đặc biệt chú trọng các chính sách ưu đãi, hỗ trợ, thu hút đầu tư cho công tác bảo vệ môi trường nông thôn; xác định từng nhóm chủ thể riêng biệt trên cùng một địa bàn nông thôn (nhóm gây ô nhiễm và nhóm bị ảnh hưởng, tác động do ô nhiễm; nhóm cần được ưu đãi hỗ trợ và nhóm cần áp dụng các biện pháp, chế tài có tính răn đe cao…).

Thứ ba, xác định các nguồn lực và quản lý quá trình thực hiện, có nghĩa là không chỉ trông chờ vào nguồn lực từ ngân sách nhà nước, mà phải vận dụng tối đa các cơ chế chính sách để huy động các nguồn lực trong xã hội, thu hút và kêu gọi đầu tư; bên cạnh có, từ việc phân định rõ trách nhiệm của “người gây ô nhiễm phải trả tiền” để tìm ra những phương thức đầu tư, vay vốn tín dụng, ưu đãi cho xây dựng cảnh quan, xử lý chất thải… nông nghiệp và khu vực nông thôn. Bài học thực tiễn từ hoạt động cấp nước sinh hoạt, phong trào trồng cây, trồng hoa, cải tạo các khu vực ô nhiễm thời gian qua đã cho thấy, nếu có cơ chế phù hợp, hoàn toàn có thể huy động được cộng đồng và khối doanh nghiệp tư nhân tham gia vào các hoạt động bảo vệ môi trường nông thôn.

Thứ tư, ứng dụng các thành tựu khoa học và công nghệ trong xử lý chất thải, bảo vệ môi trường nông thôn, nhất là công nghệ xử lý chất thải rắn và nước thải (chăn nuôi, sản xuất, sinh hoạt…); công nghệ canh tác nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản…) an toàn và bền vững về môi trường; ứng dụng khoa học và công nghệ trong xây dựng một nền kinh tế nông nghiệp xanh, bền vững, thân thiện với môi trường và không phát sinh chất thải.

Thứ năm, áp dụng các biện pháp đủ mạnh, có tính răn đe trong giải quyết những xung đột về môi trường. Bên cạnh việc áp dụng các biện pháp thuyết phục và hỗ trợ, cần thiết phải áp dụng biện pháp cưỡng chế. Tuy nhiên, để đảm bảo tính răn đe nhưng không làm ảnh hưởng đến tư tưởng, đời sống của người dân, cần bóc tách những nhóm đối tượng cụ thể để áp dụng các chế tài phù hợp./.

Trí Đức

Nam Định: Nhiệm Vụ Và Giải Pháp Thực Hiện Các Tiêu Chí Xây Dựng Nông Thôn Mới Giai Đoạn Sau Năm 2022

Đến năm 2030, có 100% số xã duy trì đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao (trong đó có 60% số xã, thị trấn đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu); 9 huyện duy trì đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao (trong đó có 5 huyện đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu). Các chỉ tiêu chủ yếu: thu nhập bình quân đầu người năm 2030: ≥ 100 triệu đồng/người; tỷ lệ hộ nghèo không thuộc đối tượng bảo trợ xã hội ≤ 1%; tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế ≥ 95%; tỷ lệ hộ dân được sử dụng nước sạch: 100%.

Ngoài ra, khi triển khai thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Nam Định, tỉnh đã rút ra một số bài học kinh nghiệm như sau:

Thứ nhất, phải có sự thống nhất, quyết tâm chính trị cao trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện. Phân công rõ trách nhiệm của tập thể, cá nhân, nhất là người đứng đầu các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể, vai trò gương mẫu của cán bộ, đảng viên, ảnh hưởng của những người có uy tín trong cộng đồng. Phải thường xuyên kiểm tra, giám sát thực hiện Chương trình để kịp thời phát hiện, tìm giải pháp tháo gỡ các khó khăn vướng mắc ở cơ sở.

Thứ hai, làm tốt công tác tuyên truyền, vận động để cán bộ, đảng viên và nhân dân nhận thức rõ: Xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, lâu dài, không có điểm kết thúc; người dân nông thôn là chủ thể trong xây dựng nông thôn mới; xây dựng nông thôn mới theo phương châm “Nhân dân làm, Nhà nước hỗ trợ”, từ đó tạo được sự đồng thuận cao và tích cực tham gia của mọi tầng lớp Nhân dân.

Thứ ba, xác định, lựa chọn bước đi, cách làm phù hợp với điều kiện thực tế của tỉnh Nam Định: Xây dựng nông thôn mới từ hộ gia đình ra thôn/xóm, từ thôn/xóm lên xã, từ xã lên huyện. Lấy thôn, xóm làm đơn vị cơ sở và hộ gia đình là hạt nhân trong xây dựng nông thôn mới. Huyện chủ trì xây dựng các công trình của huyện, xã xây dựng các công trình chính của xã, các thôn/xóm vận động Nhân dân đóng góp xây dựng các công trình của thôn/xóm; các hộ dân lo cải tạo ao, vườn, sân, ngõ, 3 công trình vệ sinh của hộ gia đình.

Đề án và kế hoạch triển khai xây dựng nông thôn mới phải cụ thể, chi tiết, xác định rõ nguồn lực, đảm bảo tính khả thi. Lựa chọn các nội dung, tiêu chí thuận lợi, cần ít vốn đầu tư triển khai trước; chọn dồn điền đổi thửa là khâu đột phá trong phát triển sản xuất nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới. Kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng hạ tầng với phát triển kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội và an ninh trật tự ở nông thôn để phát triển bền vững.

Tạo điều kiện thuận lợi nhất để thu hút đầu tư, phát triển công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp, ngành nghề nông thôn và phát triển sản phẩm OCOP; chọn những sản phẩm, những nghề là thế mạnh của địa phương để khuyến khích phát triển, coi trọng việc đưa công nghiệp, nhất là công nghiệp may về nông thôn tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân nông thôn theo phương châm “Ly nông bất ly hương”.

Trong xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội nông thôn, trước hết phải ưu tiên đầu tư làm trước các công trình phục vụ phát triển kinh tế. Phải kế thừa tối đa các công trình hiện có, kết hợp với bổ sung nâng cấp và xây dựng mới phù hợp với điều kiện của từng địa phương.

Có cơ chế hỗ trợ và thưởng để tạo động lực cho phong trào thi đua và huy động mọi nguồn lực xã hội xây dựng nông thôn mới. Đồng thời, phải huy động được sự tham gia, đóng góp nguồn lực của người dân, doanh nghiệp và các tổ chức, cá nhân.

Làm tốt công tác phân cấp quản lý, tạo sự chủ động, nâng cao vai trò, trách nhiệm của các xã và cộng đồng dân cư trong quản lý, tổ chức thi công các công trình hạ tầng với quy mô phù hợp.

Không nóng vội chạy theo thành tích, không huy động quá sức dân, nhưng không trông chờ ỷ lại vào sự hỗ trợ của cấp trên.

Thứ tư, thực hiện tốt Pháp lệnh Dân chủ cơ sở, công khai, minh bạch theo phương châm ”Dân biết, dân bàn, dân làm, dân giám sát, dân hưởng thụ”. Từ công tác lập quy hoạch và đề án xây dựng nông thôn mới đến việc tổ chức thực hiện và đánh giá kết quả thực hiện Chương trình phải hết sức dân chủ và công khai, lấy ý kiến tham gia và đóng góp rộng rãi của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Phát huy vai trò, trách nhiệm và hiệu quả hoạt động của Ban giám sát cộng đồng.

Thứ năm, kịp thời biểu dương, khen thưởng các tập thể, cá nhân có nhiều thành tích trong xây dựng nông thôn mới. Thường xuyên tuyên truyền, biểu dương khen thưởng những tập thể, cá nhân có nhiều đóng góp trên các phương tiện thông tin đại chúng, nhất là trên hệ thống phát thanh của xã để tạo phong trào thi đua thường xuyên, liên tục, hiệu quả.

10 nhiệm vụ, giải pháp thực hiện trong thời gian tới

Một là, tiếp tục quán triệt các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của Trung ương, của tỉnh về xây dựng nông thôn mới. Tập trung cao sựlãnh đạo, chỉ đạo toàn diện của cấp ủy, chính quyền đối với Chương trình xây dựng nông thôn mới; xác định rõ xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu, thường xuyên, lâu dài, không có điểm kết thúc; tăng cường kiểm tra, đôn đốc, giám sát thực hiện; gắn với trách nhiệm của các tập thể, cá nhân trong xây dựng nông thôn mới.

Hai là, tổ chức thực hiện tốt phong trào thi đua “Chung sức xây dựng nông thôn mới nâng cao, nông thôn mới kiểu mẫu”, cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh” và phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”. Mỗi địa phương, mỗi ngành, đoàn thể, cơ quan, đơn vị có hoạt động cụ thể để hưởng ứng các phong trào thi đua.

Ba là, đổi mới nội dung, hình thức để tăng cường hiệu quả công tác tuyên truyền, vận động xây dựng nông thôn mới và phát huy vai trò chủ thể của người dân nông thôn trong xây dựng nông thôn mới theo phương châm “Nhân dân làm, Nhà nước hỗ trợ”.

Bốn là, tích cực huy động tổng hợp các nguồn lực phục vụ xây dựng nông thôn mới nâng cao, nông thôn mới kiểu mẫu, nhất là nguồn lực xã hội hóa. Tạo cơ chế để các địa phương có nguồn lực xây dựng nông thôn mới, nhất là cơ chế cho thuê đất và đấu giá quyền sử dụng đất từ các thửa đất xen kẹp và các khu dân cư tập trung.

Huy động sự tham gia của doanh nghiệp, hợp tác xã đầu tư phát triển sản xuất nông nghiệp, công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp, ngành nghề nông thôn và dịch vụ; nhất là lĩnh vực chế biến nông sản, thực phẩm để thực hiện hiệu quả Đề án tái cơ cấu nông nghiệp, chương trình OCOP góp phần thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới.

Năm là, tiếp tục phân cấp, tạo điều kiện để các cơ sở và người dân chủ động trong việc nâng cao chất lượng các tiêu chí nông thôn mới. Khuyến khích các mô hình người dân tự làm, tự chịu trách nhiệm trong xây dựng, quản lý, khai thác, vận hành, duy tu, bảo dưỡng các công trình kết cấu hạ tầng nông thôn mới ở cơ sở.

Sáu là, đẩy mạnh thực hiện đồng bộ các giải pháp phát triển toàn diện giáo dục, y tế, văn hóa, xã hội. Phát huy hiệu quả hoạt động của các mô hình và các thiết chế văn hóa thể thao cơ sở.

Bảy là, thực hiện đồng bộ các giải pháp bảo vệ môi trường nông thôn xanh, sạch, đẹp. Cải tạo, nâng cấp các khu xử lý rác sinh hoạt tập trung ở các xã, thị trấn trở thành khu xử lý rác thân thiện môi trường. Huy động doanh nghiệp đầu tư xây dựng các khu xử lý rác thải tập trung cấp huyện theo quy hoạch. Đẩy nhanh tiến độ xây dựng công trình sạch tập trung trên địa bàn nông thôn. Tập trung xử lý rác thải, nước thải sinh hoạt, chất thải của các làng nghề, trang trại, gia trại chăn nuôi. Giảm thiểu chăn nuôi trong các khu dân cư, từng bước đưa các cơ sở chăn nuôi và tiểu thủ công nghiệp vào các khu sản xuất tập trung.

Tám là, không ngừng củng cố hệ thống chính trị, thường xuyên đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác xây dựng nông thôn mới. Nâng cao chất lượng công tác tham mưu và hiệu quả hoạt động của cơ quan giúp việc Ban chỉ đạo các cấp. Phân công nhiệm vụ cụ thể gắn với trách nhiệm của tổ chức và người đứng đầu. Bổ sung biên chế cho Văn phòng Điều phối nông thôn mới tỉnh để thực hiện tốt hơn công tác tham mưu cho Ban chỉ đạo tỉnh chỉ đạo, điều hành, quản lý Chương trình OCOP.

Chín là, thường xuyên đảm bảo tốt công tác an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. Tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật; làm tốt công tác tiếp công dân, phân loại xử lý và giải quyết dứt điểm các vụ việc, không để xảy ra tình trạng khiếu kiện đông người, vượt cấp.

Mười là, tăng cường sự phối hợp, tham gia của Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội trong xây dựng nông thôn mới. Thực hiện tốt Pháp lệnh dân chủ ở cơ sở và tăng cường sự giám sát của cộng đồng dân cư trong xây dựng nông thôn mới.

Tuệ Mẫn

Mục Tiêu, Giải Pháp Xây Dựng Nông Thôn Mới Của Tỉnh Đồng Tháp Đến Năm 2022 Và Giai Đoạn Sau Năm 2022

Ngày đăng: 25/09/2019 05:33

Trên cơ sở đánh giá những kết quả đạt được và phân tích những hạn chế trong quá trình triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, tỉnh Đồng Tháp đã rút ra một số bài học kinh nghiệm, thống nhất quan điểm chỉ đạo và đưa ra mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp nhằm tiếp tục triển khai có hiệu quả Chương trình đến năm 2020 và giai đoạn sau năm 2020.

Bài học kinh nghiệm

Một là, ở đâu có sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, đặc biệt cùng sự quyết tâm, sâu sát và tính gương mẫu của người đứng đầu trong chỉ đạo thực hiện Chương trình thì nơi đó đạt kết quả tốt trong xây dựng nông thôn mới gắn với tái cơ cấu nông nghiệp.

Hai là, thực hiện tốt công tác tuyên truyền, tạo nhận thức đúng đắn về nội dung, mục đích ý nghĩa, giải pháp thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, tạo sự đồng thuận trong cộng đồng, đặc biệt sự đồng thuận, chia sẻ về lợi ích, trách nhiệm của người dân để họ tự nguyện tích cực tham gia thực hiện. Khơi dậy sức mạnh cộng đồng (doanh nghiệp, hợp tác xã, người dân) và vai trò chủ thể của người dân là yếu tố then chốt để thực hiện hiệu quả, bền vững Chương trình gắn với tái cơ cấu nông nghiệp. Xây dựng nông thôn mới cần khởi đầu từ từng con người đến gia đình, thôn xóm, tạo nền tảng vững chắc để tiến lên xây dựng xã, huyện nông thôn mới. Phải tạo phong trào thi đua, tạo sự cạnh tranh thực sự, thường xuyên, liên tục trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội vùng nông thôn, nuôi dưỡng ngọn lửa nông thôn mới (nông thôn mới có điểm bắt đầu, nhưng không có điểm kết thúc).

Ba là, sự hỗ trợ của Nhà nước là yếu tố đầu vào, tạo nền tảng (xây dựng cơ sở hạ tầng, hỗ trợ xây dựng mô hình thí điểm, xây dựng thương hiệu, xúc tiến thị trường,…), tạo động lực cho người dân tham gia xây dựng nông thôn mới, tái cơ cấu nông nghiệp, từ đó khơi dậy tinh thần cộng đồng, sự chung tay góp sức của người dân; phát huy hiệu quả hoạt động của các tổ nhân dân tự quản, Hội quán trong xây dựng nông thôn mới, tái cơ cấu nông nghiệp.

Bốn là, nông thôn mới, tái cơ cấu nông nghiệp, giảm nghèo bền vững có mối quan hệ tác động qua lại sâu rộng với nhau, cùng phát triển, trong đó giải quyết 3 vấn đề mấu chốt ở nông thôn là nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp, tạo việc làm, ổn định an ninh trật tự xã hội.

Quan điểm chỉ đạo

Xây dựng nông thôn mới bền vững trên cơ sở phát huy vai trò tự quản của cộng đồng dân cư trên tinh thần tự lực, chăm chỉ và hợp tác; nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân là then chốt; tạo lập hình ảnh nông thôn mới kiểu mẫu, đặc trưng và duy trì những nét truyền thống, văn hóa của người dân; hướng tới xây dựng một nền nông nghiệp thịnh vượng, nông dân giàu có, nông thôn văn minh.

Mục tiêu đến năm 2020

Tiếp tục thực hiện Chương trình theo hướng nâng cao vai trò tự quản của cộng đồng dân cư trên tinh thần tự lực, chăm chỉ và hợp tác; phấn đấu có thêm 23 xã đạt chuẩn nông thôn mới; từng bước xây dựng huyện nông thôn mới đạt chuẩn theo Bộ tiêu chí quốc gia. Số tiêu chí bình quân đạt chuẩn/xã là 17,32 tiêu chí; xây dựng huyện Tháp Mười đạt chuẩn huyện nông thôn mới; tỷ lệ hộ nghèo giảm 1,5%/năm; tỷ lệ hộ dân sử dụng nước hợp vệ sinh đạt 99,5%, tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế đạt 90%.

Mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp xây dựng nông thôn mới giai đoạn sau năm 2020 Mục tiêu cụ thể

Giai đoạn 2021-2025: đến năm 2025, có khoảng 90% số xã đạt chuẩn nông thôn mới, trong đó có 30% số xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao, 5 đơn vị cấp huyện đạt chuẩn nông thôn mới. Thu nhập bình quân của người dân nông thôn cao gấp 1,6 lần so năm 2020. Giảm tỷ lệ hộ nghèo bình quân hàng năm (ứng với tiêu chuẩn nghèo mới) là 1,5%. Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 78,6%. Tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế đạt 95%. Tỷ lệ hộ dân khu vực nông thôn được sử dụng nước sạch hợp vệ sinh đạt 100%.

Giai đoạn 2025-2030: đến năm 2030, có trên 90% số xã đạt chuẩn nông thôn mới, có 50% số xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao, 10 đơn vị cấp huyện đạt chuẩn nông thôn mới. Thu nhập bình quân của người dân nông thôn cao gấp 1,6 lần so năm 2025. Giảm tỷ lệ hộ nghèo bình quân hàng năm (ứng với tiêu chuẩn nghèo mới) là 1,5%. Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 87,4%. Tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế đạt trên 95%. Duy trì tỷ lệ hộ dân khu vực nông thôn được sử dụng nước sạch hợp vệ sinh đạt 100%.

Nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu

Thứ nhất, triển khai có hiệu qủa Kế hoạch mô hình cộng đồng dân cư quản lý xây dựng nông thôn mới. Trong đó, phát triển tinh thần cộng đồng, tự lực, chăm chỉ, hợp tác của chính người dân tự vươn lên với khát vọng khỏi nghiệp, làm giàu, xây dựng nông thôn mới tại địa phương trên cơ sở đổi mới phương thức vận hành Chương trình xây dựng nông thôn mới; tiếp tục nhân rộng mô hình “Hộ gia đình thi đua chung sức xây dựng nông thôn mới”; lấy sự phát triển sản xuất, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần và mức độ hài lòng của người dân, cộng đồng làm cơ sở để đánh giá hiệu quả của mô hình.

Thứ hai, phát huy hiệu quả hoạt động của các Hội quán, tạo sự gắn kết giữa các hộ gia đình với nhau, giữa người dân với chính quyền địa phương nhằm chủ động phát huy, nhân rộng những mô hình hay, cách làm hiệu quả trong phát triển sản xuất giúp nâng cao thu nhập, tạo việc làm và giảm nghèo bền vừng; tạo mọi điều kiện thuận lợi để phát huy vai trò người dân trong thực hiện mô hình cộng đồng dân cư tham gia quản lý xây dựng nông thôn mới và cơ cấu lại sản xuất nông nghiệp.

Thứ ba, đẩy mạnh công tác chuyển giao, ứng dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến, công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp cho người dân nông thôn.

Thứ tư, rà soát, bổ sung các cơ chế, chính sách về khuyến khích chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp để người dân vay vốn phát triển sản xuất cây giống, con giống, theo hướng an toàn, vệ sinh thực phẩm, đáp ứng nhu cầu thị trường.

Thứ năm, đầu tư các công trình cơ sở hạ tầng đã được phê duyệt trong đề án nông thôn mới của các xã. Xây dựng và phát triển các xã nông thôn mới nâng cao, kiểu mẫu. Tiếp tục thực hiện Chương trình “mỗi xã một sản phẩm” giai đoạn 2017 – 2020, định hướng đến năm 2030./.

Ghi chú:

(1) UBND tỉnh Đồng Tháp, số 190/BC-UBND ngày 02/7/2019, Báo cáo đánh giá kết quả xây dựng nông thôn mới vùng miền núi và đồng bào dân tộc thiểu số. (2) Chuẩn bị tổng kết 10 năm chương trình xây dựng nông thôn mới, Cổng thông tin điện tử tỉnh Đồng Tháp, ngày 12/9/2019.

Nhật Nam

Giải Pháp Xây Dựng Nông Thôn Mới Hiệu Quả

Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách quan trọng để phát triển đồng bộ nông nghiệp, nông thôn, từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nông dân.

Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở và nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế – xã hội (KTXH) bền vững, giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm an ninh, quốc phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước.

Vì vậy, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách quan trọng để phát triển đồng bộ nông nghiệp, nông thôn, từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nông dân.

Phát triển nông thôn còn thiếu bền vững

Trong 10 năm (2008-2018) thực hiện Nghị quyết Hội nghị T.Ư 7 (khóa X), tám năm (2010-2018) thực hiện Chương trình Mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới (NTM), 5 năm thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp đã tạo nên một khu vực nông thôn (KVNT) với nhiều đổi thay rõ nét, kết cấu hạ tầng phát triển mạnh mẽ, hơn 20.000 mô hình phát triển sản xuất đã tạo nên động lực mới cho phát triển kinh tế KVNT, sản xuất nông nghiệp hàng hóa được coi trọng và chuyển biến, đời sống của đại đa số nông dân được nâng cao.

Tính đến nay, cả nước có 3.420 xã (38,32%) được công nhận đạt chuẩn NTM, đã có 53 đơn vị cấp huyện thuộc 27 tỉnh, thành phố được Thủ tướng Chính phủ công nhận đạt chuẩn/hoàn thành nhiệm vụ xây dựng NTM. Nhiều địa phương đã bước vào giai đoạn xây dựng NTM nâng cao, NTM kiểu mẫu. Chính phủ cũng đã có chỉ đạo về giải pháp xây dựng NTM cấp thôn, bản cho những vùng đặc thù, khó khăn. Đây là những nỗ lực rất lớn của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội trong xây dựng NTM, phát triển KTXH KVNT.

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được thì kết quả xây dựng NTM và giảm nghèo bền vững giữa các vùng còn có sự chênh lệch lớn; kinh tế tư nhân và kinh tế tập thể chưa được thúc đẩy tích cực, lợi thế địa phương về sản vật, cảnh quan, văn hóa… chưa được khai thác hết tiềm năng, sự chuyển biến phát triển kinh tế KVNT nhìn chung còn chậm, một trong những nguyên nhân cơ bản là do các địa phương chưa xác định được các dòng sản phẩm chủ lực, có lợi thế cạnh tranh trên thị trường (trong từng lĩnh vực lâm nghiệp, thủy sản, trồng trọt, chăn nuôi, và dịch vụ); công tác xúc tiến thương mại còn hạn chế, mô hình sản xuất kinh tế hộ còn chiếm tỷ lệ rất cao, mô hình tổ chức sản xuất tiên tiến (doanh nghiệp – DN, HTX) còn thiếu cả số lượng và chất lượng; tỷ lệ lao động nông thôn qua đào tạo (theo đúng chuyên môn sản xuất sản phẩm lợi thế) và năng suất lao động KVNT đạt thấp; công tác quản lý chất lượng sản phẩm chưa được quan tâm đúng mức, quản lý nhà nước còn yếu và bất cập về định hướng quy hoạch sản xuất, cơ chế, chính sách huy động nguồn lực, kết nối thị trường.

Kinh tế nông thôn phá triển không đồng đều, cùng các vấn đề về ô nhiễm môi trường, sự dịch chuyển lao động trẻ có trình độ từ nông thôn ra thành thị, làm ảnh hưởng chung phát triển KTXH KVNT, cũng như tiến trình và chất lượng xây dựng NTM hiện nay. Phát triển sản xuất, tăng thu nhập cho nông dân là nhiệm vụ cốt lõi của xây dựng NTM nhưng vẫn đang là vấn đề khó nhất của Chương trình xây dựng NTM.

Vận dụng sáng tạo kinh nghiệm quốc tế

Để có thể giải quyết được căn bản những yếu kém, hạn chế nêu trên, Việt Nam có thể nghiên cứu, vận dụng bài học kinh nghiệm quốc tế về phong trào Mỗi làng một sản phẩm (One village one product – OVOP) được thực hiện thành công tại Nhật Bản từ năm 1979 trong quá trình xây dựng, triển khai chiến lược phát triển kinh tế đất nước nói chung, đã đặc biệt chú ý phát triển KTXH KVNT theo hướng phát triển nội sinh và gia tăng giá trị, chú trọng các nguồn lực tại chỗ sẵn có làm động lực phát triển (đất đai, tài nguyên, điều kiện địa lý, công nghệ, lòng tự hào, khả năng sáng tạo, văn hoá…) thông qua phong trào OVOP (hiện nay, phong trào OVOP đã lan tỏa được triển khai thực hiện hơn 40 nước trong khu vực châu Á, châu Phi, Mỹ La-tinh,.. đóng góp tích cực vào sự phát triển KTXH KVNT ở các quốc gia, điển hình là Chương trình Mỗi cộng đồng một sản phẩm – OTOP của Chính phủ Thái Lan, sau hơn 10 năm triển khai (từ 2001 – 2012), đã tạo ra hơn 72.000 sản phẩm hàng hóa và dịch vụ ở vùng nông thôn trên phạm vi toàn quốc).

Qua kinh nghiệm thành công của một số nước trong khu vực về phong trào OVOP, vận dụng linh hoạt chính sách phát triển ngành nghề nông thôn theo Nghị định số 66/2006/NĐ-CP của Chính phủ, trong quá trình thực hiện xây dựng NTM, nhiều địa phương đã có nhiều sáng kiến, sáng tạo các mô hình phát triển kinh tế nông thôn.

Từ năm 2013, UBND tỉnh Quảng Ninh đã phê duyệt và triển khai Chương trình “Tỉnh Quảng Ninh – Mỗi xã, phường một sản phẩm” (One commune one product – OCOP), đưa Quảng Ninh trở thành tỉnh đầu tiên của cả nước triển khai thực hiện chương trình này một cách bài bản, có hệ thống, từ việc bố trí bộ máy chỉ đạo, tổ chức thực hiện, ban hành các cơ chế, chính sách, huy động nguồn lực từ nội lực cộng đồng, đến hướng dẫn qui trình triển khai, xúc tiến thương mại…

Kết quả đạt được sau hơn ba năm triển khai đã khẳng định, chương trình “Mỗi xã, phường một sản phẩm – OCPO” là hướng đi đúng, sáng tạo của tỉnh Quảng Ninh trong phát triển sản phẩm hàng hóa theo chuỗi giá trị, gắn các tổ chức sản xuất với sản phẩm, phát huy những lợi thế, thế mạnh của địa phương, đưa nông dân chủ động hội nhập và tiếp cận kinh tế thị trường, góp phần nâng cao chất lượng Chương trình MTQG xây dựng NTM của tỉnh.

Đến nay, đã có hơn 30 tỉnh, thành phố trong cả nước học tập và triển khai OCOP theo các quy mô khác nhau, trong một thời gian ngắn đã tạo ra hàng nghìn sản phẩm hàng hóa đa dạng, cho thấy sự sáng tạo của người dân là vô hạn; cả nước đã dấy lên một phong trào mạnh mẽ về phát triển kinh tế nông thôn theo mô hình OCOP.

Hiện cả nước có 6.010 DN, HTX, tổ hợp tác, hộ gia đình (có đăng ký kinh doanh), trong đó có 3.126 DN (chiếm 76,6% số DN sản xuất nông nghiệp trong cả nước), tổ chức sản xuất 4.823 sản phẩm lợi thế thuộc sáu nhóm sản phẩm, trong đó, nhóm thực phẩm có 2.584 sản phẩm; nhóm đồ uống có 1.041 sản phẩm; nhóm thảo dược có 231 sản phẩm; nhóm vải và may mặc có 186 sản phẩm; nhóm lưu niệm – nội thất – trang trí có 580 sản phẩm; nhóm dịch vụ du lịch nông thôn có 201 sản phẩm.

Tuy nhiên, mới có 1.086 sản phẩm có đăng ký/công bố tiêu chuẩn chất lượng (chiếm 22,52%); 695 sản phẩm có đăng ký bảo hộ sở hữu trí tuệ (chiếm 14,4%). Với kết quả này cho thấy, các sản phẩm, dịch vụ trên đều có khả năng, dư địa để phát triển, đa dạng hóa sản phẩm và thương mại hóa nếu được chú trọng đầu tư, được chỉ đạo tổ chức thực hiện cụ thể một cách bài bản, thống nhất, đồng bộ.

Từ thực tiễn tại Việt Nam và trên cơ sở đề xuất của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chính phủ đã phê duyệt Chương trình Mỗi xã một sản phẩm (Chương trình OCOP) – là chương trình được xác định là một giải pháp cụ thể, hiệu quả, giúp thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn thông qua phát triển nhóm sản phẩm hàng hóa, dịch vụ có lợi thế ở khu vực này.

Chương trình Mỗi xã một sản phẩm là chương trình phát triển kinh tế KVNT theo hướng phát triển nội sinh và gia tăng giá trị, triển khai thực hiện chương trình phải bảo đảm phù hợp và thích ứng các yếu tố, quy luật kinh tế thị trường, bảo đảm các nguyên tắc: Sản phẩm hướng tới tiêu chuẩn chất lượng quốc tế; Tự lực, tự tin và sáng tạo; Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

Trọng tâm của Chương trình OCOP là phát triển sản phẩm hàng hóa nông nghiệp, phi nông nghiệp, dịch vụ có lợi thế ở mỗi địa phương theo chuỗi giá trị, trong đó, chủ thể thực hiện là các thành phần kinh tế tư nhân, kinh tế HTX. Để khuyến khích phát triển sản phẩm, cả từ ý tưởng và xuất phát từ nhu cầu, khả năng thực tế của mỗi cơ sở sản xuất, chương trình đề ra một “sân chơi”, đó là Chu trình OCOP được thực hiện theo sáu bước, theo nguyên tắc dân biết – dân bàn – dân làm và dân thụ hưởng.

Nhà nước đóng vai trò kiến tạo, ban hành khung pháp lý và chính sách để hỗ trợ các khâu đào tạo, tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật, ứng dụng khoa học công nghệ, xây dựng thương hiệu, xúc tiến thương mại, quảng bá sản phẩm và định hướng qui hoạch các vùng sản xuất hàng hoá, dịch vụ, không áp đặt ý chí chủ quan, mệnh lệnh hành chính trong sản xuất các sản phẩm OCOP, khuyến khích, hỗ trợ cho các tổ chức kinh tế phát triển sản xuất sản phẩm theo chuỗi giá trị hoàn chỉnh.

Hiện nay, ngành nông nghiệp Việt Nam đang đối mặt với ba thách thức lớn: Quy mô sản xuất nhỏ lẻ, phải cạnh tranh ngày càng gay gắt trong thị trường lớn; Những tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu ngày càng khốc liệt, bất thường; Hội nhập kinh tế quốc tế đang tạo áp lực ngày càng lớn cho các sản phẩm trong nước.

Trước những thách lớn này, Chính phủ đang tích cực chỉ đạo ngành nông nghiệp tập trung phối hợp với các bộ, ngành, địa phương để giải quyết. Trong đó, xây dựng NTM và cơ cấu lại sản xuất nông nghiệp với định hướng phát triển các nhóm sản phẩm ở ba cấp độ, đặc biệt là các sản phẩm cấp huyện, cấp xã (mà Chương trình OCOP hướng vào) nhằm thực hiện mục tiêu trong giai đoạn 2018-2020 của Chương trình là tiêu chuẩn hóa gần 2.400 sản phẩm, củng cố 3.920 tổ chức kinh tế tham gia OCOP góp phần thực hiện hiệu quả nhóm tiêu chí “Kinh tế và tổ chức sản xuất” trong Bộ Tiêu chí quốc gia về xã NTM.

Sáu nhóm giải pháp, nhiệm vụ trọng tâm

Để sớm phát huy những ưu thế rõ nét của Chương trình OCOP đối với phát triển kinh tế ở nông thôn trong điều kiện đất nước đang hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, biến đổi khí hậu diễn biến ngày càng bất thường, ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất, khắc phục hạn chế về quy mô sản xuất hàng hóa, dịch vụ ở khu vực nông thôn còn nhỏ lẻ, các giải pháp nhằm thúc đẩy nhanh Chương trình OCOP đạt hiệu quả, các bộ ngành và địa phương cần thực hiện tốt các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm sau:

Thứ nhất, cần làm tốt công tác truyển thông thông tin, phát triển nhận thức cho cả xã hội, thị trường tiêu thụ hiểu được mục đích, ý nghĩa tốt đẹp của Chương trình OCOP, từ đó kích thích tiêu thụ, thúc đẩy sản xuất, tạo điều kiện và động lực cho người sản xuất manh dạn đầu tư, phát triển các sản phẩm lợi thế của mỗi địa phương.

Thứ hai, phát triển sản phẩm hàng hóa, dịch vụ phải đa dạng. Sản phẩm phải từng bước nâng cao chất lượng, quy chuẩn, đáp ứng tiêu chuẩn ở các thị trường khác nhau. Việc phát triển sản phẩm, dịch vụ phải đi liền với phát triển các hình thức tổ chức sản xuất phù hợp (như hộ sản xuất có đăng ký kinh doanh, DN hoặc HTX.

Ở phạm vi quốc gia, sớm thành lập Trung tâm sáng tạo OCOP quốc gia (như bài học thiết kế sáng tạo của nhiều nước, trong đó có Thái-lan), từ đó có các tư vấn, hỗ trợ kịp thời cho công tác thiết kế, sáng tạo sản phẩm OCOP. Việc phát triển sản phẩm phải gắn chặt với công tác đánh giá xếp hạng sản phẩm của Chương trình OCOP. Sản phẩm OCOP được đánh giá, xếp hạng và gắn sao có thứ hạng cao phải được lòng dân “gắn sao” về uy tín và chất lượng.

Thứ ba, tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả Chương trình khoa học công nghệ phục vụ xây dựng NTM giai đoạn 2018-2020 bằng những đề tài, mô hình đóng góp thiết thực cho Chương trình mục tiêu tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp và phòng chống giảm nhẹ thiên tai, ổn định đời sống dân cư; Đề án phát triển 1.500 HTX, liên hiệp HTX nông nghiệp hoạt động có hiệu quả đến năm 2020; Chương trình mỗi xã một sản phẩm giai đoạn 2018-2020, cũng như cho các chương trình xóa đói giảm nghèo bền vững, đề án phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong CNH, HĐH đất nước đã được đề ra. Nghiên cứu, đề xuất các giải pháp mới nhất là các giải pháp tăng cường năng lực tiếp cận của nông nghiệp với cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, nhận diện rõ “Nông nghiệp 4.0”, “Nông nghiệp bền vững, công nghệ cao”, “Nông nghiệp hữu cơ” và bước đi, giải pháp khoa học thực hiện trong bối cảnh mới.

Thứ tư, các tổ chức tài chính, tín dụng cần nghiên cứu để sớm có chương trình tín dụng hỗ trợ trực tiếp cho Chương trình OCOP. Các tập đoàn, công ty lữ hành lớn, hãng hàng không, các cơ quan báo chí, truyền thông… cần tăng cường thông tin về các sản phẩm đặc sản các vùng, miền vào chương trình quảng bá du lịch, không chỉ trong nước mà cả quốc tế nhằm tăng cường hơn nữa liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị, thực hiện công tác marketing tổng thể chương trình trên phương diện quốc gia.

Thứ năm, UBND các tỉnh, thành phố cần chỉ đạo quyết liệt, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm trong thực hiện xây dựng NTM và cơ cấu lại sản xuất nông nghiệp ở địa phương; giao nhiệm vụ cụ thể cho các sở, ngành chuyên môn để xây dựng, thực hiện Đề án, Kế hoạch triển khai Chương trình OCOP. Lưu ý cần lựa chọn bước đi, lộ trình thích hợp, lựa chọn các sản phẩm lợi thế của địa phương để đầu tư phát triển, nâng cấp thành sản phẩm xã, huyện, cấp tỉnh, cấp quốc gia và tiến tới xuất khẩu tạo chuỗi giá trị. Công tác tổ chức chỉ đạo thực hiện Chương trình OCOP được gắn kết chặt chẽ với các chương trình phát triển kinh tế trọng tâm của mỗi địa phương, gắn với thực hiện Đề án phát triển 15.000 HTX.

Các thủ tục hành chính hỗ trợ người sản xuất phải thực hiện nhanh gọn, đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước cần nhiệt tình, tâm huyết và có hiểu biết để chỉ đạo thúc đẩy đề xuất, sáng kiến về sản phẩm từ dưới lên (từ các DN, HTX, hộ sản xuất). Các địa phương cần linh hoạt trong triển khai thực hiện các cơ chế chính sách chung của T.Ư và ban hành các chính sách phù hợp điều kiện của địa phương.

Trong chỉ đạo, cần tập trung phát triển các dự án mang tính chất trọng điểm, dự án liên kết vùng huyện, xã. Việc tổ chức các sự kiện vinh danh về sản phẩm, về dịch vụ du lịch (hội chợ, festival) cần được thực hiện thường xuyên. Các địa phương tùy điều kiện, đặc điểm cụ thể, cần chọn bước đi, lộ trình thích hợp, phù hợp điều kiện thực tế địa phương để lựa chọn sản phẩm lợi thế, đầu tư phát triển, nâng cấp sản phẩm từ cấp xã, huyện lên cấp tỉnh, quốc gia; chỉ đạo xây dựng Đề án, phê duyệt kế hoạch và giao nhiệm vụ cụ thể cho các sở, ngành chuyên môn theo hướng có trọng tâm, trọng điểm.

Sớm lựa chọn và triển khai chỉ đạo điểm của T.Ư tại một số tỉnh, thành phố là trung tâm kinh tế của cả nước, các tỉnh có tiềm năng trong phát triển sản xuất, chế biến, chế biến sâu sản phẩm nông nghiệp, tích cực chỉ đạo thực hiện xây dựng NTM; sớm ban hành các quy định, quy trình và hệ thống tiêu chuẩn đánh giá sản phẩm OCOP; thực hiện tốt công tác tổ chức đào tạo, đào tạo chuyên sâu cho đội ngũ cán bộ quản lý Chương trình OCOP, cho các chủ DN, HTX, tổ hợp tác, các chủ thể tham gia Chương trình để có kiến thức về quản trị sản xuất, kiến thức marketing; duy trì và thực hiện tốt khâu xúc tiến thương mại, giao lưu thương mại giữa các tỉnh, thành trong cả nước, từng bước đưa nông dân hội nhập thị trường; phối hợp thực hiện hiệu quả công tác tư vấn và hỗ trợ ngân sách, đưa tín dụng thương mại sâu rộng vào Chương trình OCOP.

Chương trình Mỗi xã một sản phẩm OCOP là một chương trình phát triển kinh tế cho KVNT, khuyến khích thực hiện ở cả khu vực đô thị, chương trình sẽ hỗ trợ tích cực để thực hiện hiệu quả chương trình MTQG xây dựng NTM, kết thúc giai đoạn 2018-2020 sẽ tổ chức đánh giá và xây dựng kế hoạch lộ trình thực hiện Chương trình OCOP cho giai đoạn tiếp theo.

Để thực hiện thành công mục tiêu xây dựng NTM giai đoạn 2016-2020, các bộ, ngành T.Ư, các địa phương cần phải có quyết tâm chính trị cao để triển khai thực hiện hiệu quả Chương trình OCOP, góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất, phát triển các HTX, các DN nhỏ và vừa, thúc đẩy khởi nghiệp DN, nhất là đối với DN, doanh nhân trẻ KVNT.

Cập nhật thông tin chi tiết về Nhiệm Vụ Và Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Bảo Vệ Môi Trường, Xây Dựng Cảnh Quan Nông Thôn Mới Giai Đoạn Sau Năm 2022 trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!