Xu Hướng 2/2023 # Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Quản Lý Tài Nguyên Khoáng Sản # Top 4 View | Phauthuatthankinh.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Quản Lý Tài Nguyên Khoáng Sản # Top 4 View

Bạn đang xem bài viết Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Quản Lý Tài Nguyên Khoáng Sản được cập nhật mới nhất trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Nâng cao hiệu quả công tác quản lý tài nguyên khoáng sản

Thời gian qua, công tác quản lý nguồn tài nguyên khoáng sản trên địa bàn tỉnh có nhiều chuyển biến tích cực, từng bước đi vào nền nếp và chặt chẽ hơn. Việc sử dụng nguồn tài nguyên khoáng sản ngày càng hợp lý, hiệu quả đã góp phần tích cực trong thu hút đầu tư, phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh. Nhiều chủ trương, chính sách về quản lý, sử dụng tài nguyên khoáng sản được ban hành và tổ chức thực hiện tốt. Các biện pháp quản lý, sử dụng được siết chặt hơn với phương châm kiên quyết xử lý nghiêm mọi trường hợp vi phạm…

Hoạt động khai thác cát tại mỏ cát thuộc thị trấn Lang Chánh, huyện Lang Chánh. Ảnh: Phong Sắc

Nhằm đẩy mạnh công tác quản lý Nhà nước về tài nguyên khoáng sản, Chủ tịch UBND tỉnh đã có công văn chỉ đạo Sở Tài nguyên và Môi trường chủ trì phối hợp với UBND các huyện, thị xã, thành phố kiểm tra, rà soát, đánh giá tình hình cấp phép thăm dò, khai thác đối với các khu vực khoáng sản đã khoanh định, công bố các khu vực khoáng sản phân tán, nhỏ lẻ. Sau đó, báo cáo UBND tỉnh dừng khai thác, đóng cửa mỏ, cải tạo phục hồi môi trường những khu vực khai thác không hiệu quả, gây ô nhiễm môi trường; yêu cầu UBND các huyện, thị xã, thành phố tăng cường công tác kiểm tra, giám sát đối với công tác bảo vệ môi trường trong khai thác, chế biến khoáng sản; rà soát, kiểm tra công tác đóng cửa mỏ đối với các giấy phép khai thác khoáng sản đã hết hiệu lực; các tổ chức, cá nhân được cấp phép phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính, kiểm kê trữ lượng khoáng sản trước khi thực hiện công tác đóng cửa mỏ. Bên cạnh đó, Sở Tài nguyên và Môi trường phối hợp với các ban, ngành tham mưu cho UBND tỉnh đẩy mạnh công tác đấu giá quyền khai thác khoáng sản theo Nghị quyết số 01/NQ-CP của Chính phủ. Nâng cao chất lượng thẩm tra, thẩm định báo cáo thăm dò khoáng sản thuộc thẩm quyền cấp phép của UBND tỉnh… Ngoài ra, Chủ tịch UBND tỉnh chỉ đạo các cơ quan chức năng yêu cầu các tổ chức, cá nhân được giao quản lý, sử dụng đất ký cam kết chấp hành nghiêm túc quy định của pháp luật về đất đai; ban hành quy định gắn trách nhiệm của người đứng đầu các địa phương, trường hợp địa phương nào để xảy ra tình trạng vi phạm về đất đai mới mà không phát hiện, ngăn chặn, xử lý kịp thời, gây phức tạp về an ninh trật tự thì sẽ xem xét, xử lý trách nhiệm của chủ tịch UBND cấp huyện, xã; phân công cán bộ theo dõi từng địa bàn để nắm bắt chặt chẽ diễn biến quá trình quản lý, sử dụng đất, việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất trong quá trình sử dụng đất, xây dựng công trình để sớm phát hiện, ngăn chặn kịp thời các sai phạm; chỉ đạo các cấp, các ngành tăng cường tuyên truyền, vận động Nhân dân chấp hành tốt các quy định của pháp luật về đất đai…

Trong công tác quản lý Nhà nước về khoáng sản, tỉnh đã chỉ đạo các cơ quan chuyên môn thường xuyên rà soát, tham mưu cấp có thẩm quyền ban hành các văn bản lãnh, chỉ đạo và tổ chức thực hiện cho phù hợp với quy định của Luật Khoáng sản và phù hợp với tình hình thực tế của địa phương. Các quy hoạch đã được ban hành theo thẩm quyền làm căn cứ cho quản lý và tổ chức thực hiện khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh, phục vụ phát triển kinh tế – xã hội của địa phương như: Quy hoạch phát triển vật liệu xây dựng, quy hoạch thăm dò, khai thác và sử dụng tài nguyên cát sỏi; quy hoạch thăm dò, khai thác và sử dụng khoáng sản nhóm quý hiếm và nhóm vật liệu thông thường…

Công tác thanh tra, kiểm tra về hoạt động khai thác khoáng sản được triển khai mạnh mẽ. Từ năm 2016 đến nay, Sở Tài nguyên và Môi trường đã tập trung chỉ đạo quyết liệt, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát hoạt động khai thác khoáng sản trái phép, tình trạng khai thác cát trái phép cơ bản đã được ngăn chặn, các doanh nghiệp đã nâng cao hiệu quả khai thác, chế biến, sử dụng khoáng sản, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh. Tham mưu ban hành quy chế phối hợp giữa UBND tỉnh với Ủy ban MTTQ và các đoàn thể cấp tỉnh trong công tác giám sát, kiểm tra các hoạt động khai thác cát, sỏi trái phép; khoanh định vùng cấm hoạt động khoáng sản; khu vực không đấu giá quyền khai thác khoáng sản. Quy chế phối hợp với các tỉnh giáp ranh trong công tác quản lý tài nguyên khoáng sản. Tổ chức 95 cuộc kiểm tra, thanh tra hoạt động khai thác khoáng sản trên địa bàn các huyện, thị xã, thành phố; kiểm tra theo kế hoạch 286 mỏ đá, cát trên địa bàn, yêu cầu dừng khai thác 28 đơn vị; đóng cửa 96 mỏ do khai thác không hiệu quả, ảnh hưởng đến môi trường… Sau kiểm tra đã chỉ đạo các địa phương xử lý, ngăn chặn kịp thời, báo cáo UBND tỉnh chỉ đạo UBND các huyện kiểm điểm tập thể, cá nhân, làm rõ trách nhiệm trong việc buông lỏng quản lý, để xảy ra tình trạng khai thác khoáng sản trái phép trên địa bàn. Tham mưu cho UBND tỉnh cấp 390 giấy phép thăm dò, khai thác khoáng sản. Thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản 468,8 tỷ; thuế tài nguyên 578,8 tỷ.

Để nâng cao hiệu quả khai thác khoáng sản gắn với công tác bảo vệ môi trường trên địa bàn trong thời gian tới, các cơ quan chức năng cần tiếp tục tuyên truyền, phổ biến sâu rộng các quy định pháp luật về tài nguyên khoáng sản nhằm hạn chế các vi phạm về khai thác khoáng sản, nâng cao ý thức, trách nhiệm bảo vệ nguồn tài nguyên khoáng sản trên địa bàn; gắn trách nhiệm người đứng đầu trong việc quản lý khai thác khoáng sản tại địa phương; tăng cường phối hợp kiểm tra, xử lý nghiêm những vi phạm về khai thác tài nguyên khoáng sản theo quy định của pháp luật…

Trần Hằng

Giải Pháp Quản Lý Hiệu Quả Tài Sản Công

Theo quan niệm chung, nguồn lực là tổng thể vị trí địa lý, các nguồn tài nguyên thiên nhiên, hệ thống tài sản quốc gia, nguồn nhân lực, đường lối chính sách, vốn và thị trường… Tại Điều 53 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Đất đai, tài nguyên nước, khoáng sản và tài nguyên thiên nhiên khác, nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục địa, vùng trời và các tài sản khác do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý theo quy định của pháp luật”. Đây là lần đầu tiên chế định về “tài sản công” được hiến định, xác định cụ thể phạm vi tài sản công của quốc gia, chế độ sở hữu và trách nhiệm trong việc quản lý đối với tài sản công.

Đối tượng được giao quản lý, sử dụng tài sản công phải sử dụng tài sản đúng mục đích, công năng. Các bộ, ngành, địa phương phải rà soát, sắp xếp, bố trí việc quản lý, sử dụng tài sản công hợp lý, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được Nhà nước giao, tiêu chuẩn, định mức do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định và quy hoạch được duyệt; số tài sản dôi dư sau sắp xếp hoặc không còn phù hợp với quy hoạch, nhu cầu sử dụng được điều chuyển cho các cơ quan, đơn vị khác sử dụng hoặc bán, chuyển nhượng, chuyển mục đích sử dụng để tạo nguồn vốn đầu tư xây dựng, nâng cấp, cải tạo trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp.

Đối với các đơn vị sự nghiệp công lập đủ điều kiện theo quy định của Chính phủ được Nhà nước xác định giá trị tài sản để giao cho đơn vị quản lý theo cơ chế giao vốn cho doanh nghiệp. Đơn vị được phép sử dụng tài sản Nhà nước giao vào mục đích sản xuất, kinh doanh dịch vụ, cho thuê, liên doanh, liên kết nhằm phát huy công suất, hiệu quả sử dụng nguồn tài sản sẵn có, gắn với việc huy động các nguồn lực từ bên ngoài để cùng đầu tư phát triển, quản lý, khai thác tài sản, từ đó vừa thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị được giao, vừa nâng cao chất lượng dịch vụ sự nghiệp công, tăng thu nhập cho người lao động, tăng khả năng tự chủ về mặt tài chính và đóng góp một phần vào ngân sách nhà nước.

Đối với tài sản kết cấu hạ tầng, Nhà nước cho phép đầu tư theo hình thức đối tác công – tư. Ảnh: CAO THĂNG

Đối với tài sản kết cấu hạ tầng, Nhà nước cho phép áp dụng đầu tư theo hình thức đối tác công – tư để thực hiện dự án đầu tư, quản lý, vận hành công trình kết cấu hạ tầng; chuyển đổi phương thức khai thác tài sản kết cấu hạ tầng từ các cơ quan, đơn vị, tổ chức được giao quản lý tự tổ chức khai thác sang hình thức chuyển nhượng quyền thu phí, cho thuê quyền khai thác, chuyển nhượng có thời hạn quyền khai thác công trình kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ cho các tổ chức, đơn vị, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế. Tổ chức, đơn vị, cá nhân có quyền khai thác, đồng thời chịu trách nhiệm bảo trì kết cấu hạ tầng giao thông theo hợp đồng ký kết và quy định của pháp luật.

Đối với tài sản tịch thu sung quỹ nhà nước, tài sản được xác lập quyền sở hữu của nhà nước, tài sản của các dự án, chương trình sử dụng vốn nhà nước, Chính phủ, Bộ Tài chính đã ban hành các văn bản quy định thống nhất cơ chế quản lý, xử lý theo hướng xác định rõ chủ thể chịu trách nhiệm quản lý, xử lý; quy trình xử lý được đơn giản hóa để đẩy nhanh tiến độ xử lý, tránh hư hỏng, bị xuống cấp đối với tài sản.

Những bước tiến về chính sách nêu trên đã đem lại những kết quả bước đầu quan trọng. Trong giai đoạn từ 2011-2015, thu từ đất đai bình quân đạt khoảng 60.000 tỷ đồng/năm, chiếm khoảng 10% thu ngân sách nhà nước; thu từ sắp xếp lại, xử lý nhà đất thuộc sở hữu nhà nước: khoảng 6.000 tỷ đồng/năm; thu từ xử lý tài sản tịch thu sung quỹ nhà nước, tài sản xác lập sở hữu nhà nước bình quân 1.000 tỷ đồng/năm; thu từ tiền cấp quyền khai thác khoáng sản (chưa bao gồm cấp quyền thông qua hình thức đấu giá) khoảng 4.500 tỷ đồng/năm…

Nhà đất: tài sản lớn cần khai thác hiệu quả

Cho đến nay chưa có một cơ sở dữ liệu thống nhất, đầy đủ và cập nhật về tài sản công, với tư cách là một nguồn lực quan trọng. Việc thiếu cơ chế và dữ liệu thống nhất sẽ làm cho việc quyết định, chỉ đạo, điều hành và thực hiện khai thác nguồn lực thiếu chủ động, thiếu chiến lược và kế hoạch tổng thể, dẫn tới hiệu quả chưa cao.

Theo cơ sở dữ liệu quốc gia về tài sản nhà nước, tổng giá trị nhà, đất thuộc trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp, phương tiện đi lại, tài sản có giá trị từ 500 triệu đồng trở lên tính đến ngày 31-12-2015 là 1.031.313 tỷ đồng (khoảng 47 tỷ USD). Trong đó, giá trị quyền sử dụng đất là 700.230 tỷ đồng (khoảng 31,8 tỷ USD) trên tổng số 131.431 cơ sở nhà đất với tổng diện tích đất là 2.565.511.489m2. Các cơ sở này thường ở các vị trí có giá trị thương mại cao nhưng việc sử dụng còn phân tán, lãng phí, hiệu suất thấp và chưa được khai thác một cách có hiệu quả. Nhiều cơ sở nhà, đất mặc dù đã có quyết định bán, chuyển nhượng, chuyển mục đích sử dụng đất nhưng không thực hiện được do thiếu quy hoạch chi tiết, thị trường bất động sản chưa ổn định, trách nhiệm tổ chức thực hiện không cao.

Việc xác định giá trị tài sản để giao cho đơn vị quản lý theo cơ chế giao vốn cho doanh nghiệp để đơn vị được phép sử dụng tài sản vào mục đích kinh doanh dịch vụ, cho thuê, liên doanh, liên kết còn chậm (mới giao tài sản cho 723 đơn vị, với tổng giá trị 21.000 tỷ đồng). Việc thực hiện chính sách khuyến khích xã hội hóa giáo dục, đào tạo, y tế, văn hóa xã hội chưa được quan tâm đúng mức. Từ đó, vừa hạn chế việc khai thác nguồn lực hiện có từ tài sản, vừa hạn chế việc thu hút các nguồn lực của xã hội đầu tư cho các lĩnh vực này để mở rộng độ bao phủ và nâng cao chất lượng dịch vụ sự nghiệp công.

Thực tế rất khó khăn do thiếu nguồn lực để làm công tác giải phóng mặt bằng, tạo quỹ đất sạch để đấu giá. Chính sách bồi thường, giải phóng mặt bằng chưa cân đối với chính sách thu và nguồn lực của ngân sách khi thực hiện dự án phục vụ lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, dự án xã hội hóa. Ngoài ra, các nông, lâm trường đang quản lý diện tích đất khoảng 7.916.366ha nhưng phần lớn để hoang hóa, sử dụng lãng phí, không hiệu quả; trong khi người thực sự cần đất sản xuất thì phải đi thuê lại. Do vậy, giải pháp khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công là vấn đề rất quan trọng cần phải được nghiên cứu sâu để khai thác hiệu quả, góp phần cho sự phát triển kinh tế – xã hội.

Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Hoạt Động Quản Lý Tài Chính Công

Kho bạc Nhà nước Tuyên Quang phối hợp thực hiện tốt việc chi trả theo dự toán, công khai, minh bạch đúng quy định góp phần nâng cao hiệu quả quản lý tài chính công.

Đề tài được thực hiện từ tháng 11-2016 đến tháng 11-2018. Theo đánh giá của đơn vị nghiên cứu về hiệu quả hoạt động quản lý tài chính công trên địa bàn tỉnh đạt những kết quả là: Tài liệu ngân sách được trình bày đúng quy định về phân loại ngân sách theo mẫu biểu quy định, phân bổ ngân sách chi thường xuyên và chi đầu tư đảm bảo công khai, minh bạch. HĐND tỉnh đã ban hành định mức, tiêu chí phân bổ đầu tư và định mức phân bổ chi thường xuyên làm căn cứ cho các cơ quan, đơn vị lập dự toán ngân sách hàng năm; các cơ quan tài chính và Kho bạc Nhà nước (KBNN) đã phối hợp thực hiện tốt việc chi trả theo dự toán giao đầu năm; KBNN đã tuân thủ các quy định về quản lý tồn quỹ, các số liệu về số dư quỹ ngân sách; mua sắm đầu tư công tại tỉnh ta cơ bản tuân thủ theo các quy định của Luật Đấu thầu, không có khiếu nại về mua sắm/đấu thầu công; công tác thanh tra luôn được coi trọng… Tuy nhiên, vẫn còn những hạn chế là mức chênh lệch thực hiện ngân sách so với dự toán ngân sách gốc được HĐND tỉnh quyết định cả về tổng số và cơ cấu thu, chi ngân sách còn lớn; nợ đọng đầu tư xây dựng cơ bản vẫn còn kéo dài ở một số dự án đầu tư chưa được xử lý…

Trước thực trạng trên, đơn vị nghiên cứu đã đưa ra 5 giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý tài chính công như: Giải pháp nâng cao chất lượng các kế hoạch tài chính – ngân sách trung hạn và hàng năm, giải pháp này đòi hỏi UBND tỉnh cần thành lập Tổ công tác xây dựng kế hoạch tài chính – ngân sách trung hạn bao gồm đại diện các cơ quan: Cục Thuế tỉnh, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính, Cục Thống kê tỉnh, Phòng Tài chính kế hoạch huyện. Tổ giữ vai trò nòng cốt xây dựng kế hoạch tài chính 5 năm, kế hoạch tài chính – ngân sách 3 năm ở địa phương cũng như hướng dẫn, hỗ trợ đơn vị dự toán cấp 1 trong quá trình xây dưng kế hoạch tài chính – ngân sách 3 năm của đơn vị. Kế hoạch cần có tính chiến lược, phát triển kinh tế – xã hội, thể hiện rõ chương trình hành động, dự án trọng điểm cần được ưu tiên gắn với nguồn lực tài chính và theo dõi kết quả thực hiện; tăng cường vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của UBND tỉnh, giám sát của HĐND tỉnh cùng với nâng cao nhận thức, năng lực của các cấp, các ngành trong đổi mới phương pháp lập kế hoạch nói chung…

Giải pháp tăng cường mức độ toàn diện và minh bạch của ngân sách địa phương cần bổ sung các quy định mới về công khai các cấp ngân sách và các đơn vị dự toán; Sở Tài chính và Sở Kế hoạch và Đầu tư cần hướng dẫn các sở, ngành và cấp huyện, xã triển khai thực hiện tốt công tác báo cáo đúng quy định, có chế độ xử lý thỏa đáng nếu không thực hiện đầy đủ các chế độ báo cáo và cập nhật thông tin; đối với chi nguồn ngân sách sang năm sau mặc dù Luật Ngân sách Nhà nước không quy định chi tiết theo 13 lĩnh vực, song để đảm bảo tính minh bạch, tỉnh ta có thể đưa thêm thông tin chi tiết chi chuyển nguồn ngân sách và so sánh chi chuyển nguồn 3 năm gần nhất giữa các lĩnh vực; Sở Tài chính cần cập nhật tình hình vay và trả nợ vay chi tiết theo nguồn và theo dự án, trên cơ sở đó tham mưu với UBND tỉnh phương án tối ưu trong vay và trả nợ… Các giải pháp còn lại là giải pháp tăng cường quản lý hiệu quả hoạt động và trách nhiệm giải trình; tăng cường kiểm tra, nâng cao năng lực của các đơn vị chịu trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ mua sắm tập trung; mở rộng phạm vi, chất lượng kiểm toán nhà nước, tăng cường năng lực giám sát của HĐND các cấp.

Theo đánh giá của Hội đồng Khoa học và Công nghệ tỉnh, đề tài có cơ sở lý luận và thực tiễn, giúp cán bộ ở các cấp, ngành nâng cao nhận thức về tài chính công trong công tác nghiên cứu, học tập cũng như hoạt động thực tiễn. Các giải pháp đưa ra trong đề tài được áp dụng góp phần nâng cao hiệu quả quản lý ngân sách nói riêng và tài chính công nói chung giai đoạn 2017-2020 của tỉnh Tuyên Quang.

Giải Pháp Quản Lý, Sử Dụng Tài Sản Công Tiết Kiệm, Hiệu Quả

Thực trạng quản lý, sử dụng tài sản công

Cơ sở dữ liệu quốc gia về tài sản nhà nước (TSNN) do Bộ Tài chính xây dựng, vận hành hiện đang quản lý thông tin của 3 loại TSNN với tổng nguyên giá: 2.892 nghìn tỷ đồng; giá trị còn lại: 2.645 nghìn tỷ đồng.

Trong đó: (i) TSNN khu vực hành chính sự nghiệp (chưa bao gồm các đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân, cơ quan Việt Nam ở nước ngoài) có nguyên giá: 1.040 nghìn tỷ đồng (Quyền sử dụng đất: 699 nghìn tỷ đồng, nhà: 256 nghìn tỷ đồng, ô tô: 23 nghìn tỷ đồng, tài sản khác: 62 nghìn tỷ đồng); (ii) Tài sản hạ tầng giao thông đường bộ có nguyên giá: 1.831 nghìn tỷ đồng; (iii) Công trình cấp nước sạch nông thôn tập trung có nguyên giá: 19 nghìn tỷ đồng.

Xét về việc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công, Chính phủ đã ban hành 6 Nghị định; Thủ tướng Chính phủ ban hành 7 Quyết định; Bộ Tài chính, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an ban hành 30 Thông tư quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Quản lý, sử dụng TSNN. Chính phủ, Bộ Tài chính cũng đã ban hành các văn bản quy định chế độ quản lý, sử dụng tài sản hạ tầng giao thông đường bộ, tài sản tịch thu, tài sản được xác lập quyền sở hữu của Nhà nước, tài sản của các dự án sử dụng vốn nhà nước, chính sách tài chính đất đai, tài nguyên thiên nhiên…

Thủ tướng Chính phủ đã ban hành tiêu chuẩn, định mức sử dụng đối với các tài sản có giá trị lớn, sử dụng phổ biến tại các cơ quan, tổ chức, đơn vị, ban quản lý dự án gồm: trụ sở làm việc, xe ô tô, máy móc, thiết bị, điện thoại. Các bộ, ngành, địa phương ban hành định mức sử dụng tài sản chuyên dùng cho các đơn vị thuộc phạm vi quản lý. Hệ thống các văn bản trên đã tạo lập hành lang pháp lý tương đối đầy đủ để quản lý đối với các loại tài sản công.

Từ năm 2009 đến nay, công tác quản lý, sử dụng tài sản công đã dần đi vào nề nếp; tình trạng thất thoát, lãng phí tài sản từng bước được khắc phục; ý thức, trách nhiệm của các cấp, các ngành, các cơ quan, tổ chức, đơn vị được nâng lên một bước; hiệu quả sử dụng, khai thác tài sản được chú trọng. Một số kết quả cụ thể như sau:

Một là, việc thực hiện đầu tư xây dựng, mua sắm TSNN được gắn với tiêu chuẩn, định mức. Năng lực tài sản công khu vực hành chính sự nghiệp đã tăng đáng kể, đáp ứng yêu cầu của công tác quản lý nhà nước, cung cấp dịch vụ công cho xã hội. Các tài sản dôi dư, không còn nhu cầu sử dụng được xử lý theo quy định của pháp luật. Các đơn vị sự nghiệp công lập bước đầu khai thác được nguồn tài sản hiện có gắn với việc huy động các nguồn lực của xã hội để phát triển hoạt động sự nghiệp công.

Đã tổ chức triển khai việc sắp xếp lại, xử lý các cơ sở nhà, đất thuộc sở hữu nhà nước trên phạm vi cả nước nhằm xử lý các tồn tại, bố trí sử dụng hợp lý, đúng quy định; đồng thời, chuyển quỹ đất dôi dư để sử dụng vào mục đích khác, tạo lập nguồn thu để đầu tư trở lại nâng cấp, cải tạo, xây dựng mới trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp.

Hai là, đổi mới phương thức quản lý tài sản hạ tầng giao thông đường bộ, xác định rõ chủ thể chịu trách nhiệm quản lý; tổ chức hạch toán và cập nhật thông tin về tài vào cơ sở dữ liệu; khuyến khích sự tham gia của khu vực tư nhân vào đầu tư, bảo trì, khai thác tài sản.

Ba là, chính sách tài chính đất đai đã được từng bước hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính, thu hút đầu tư, phù hợp với cơ chế thị trường.

Bốn là, tăng cường công tác quản lý, xử lý hàng hóa tịch thu, tài sản của các dự án sử dụng vốn nhà nước; tổ chức kiểm đếm, phân loại để tổ chức bảo quản an toàn tài sản quý, hiếm do các cơ quan chức năng chuyển giao; xử lý, tháo gỡ những khó khăn vướng mắc trong xử lý hàng hóa tồn đọng tại các cảng biển;

Năm là, từng bước xây dựng và hoàn thiện cơ sở dữ liệu quốc gia về TSNN làm cơ sở hoạch định chính sách, chỉ đạo, điều hành về tài sản công.

Bên cạnh những chuyển biến trên, thực tiễn vẫn còn một số tồn tại, hạn chế trong công tác quản lý, sử dụng tài sản công. Cụ thể: Chưa có một văn bản luật quy định thống nhất về nguyên tắc chung trong quản lý, sử dụng, khai thác tài sản công; chế độ quản lý, sử dụng, khai thác tài sản công đang được điều chỉnh phân tán ở nhiều văn bản khác nhau và do nhiều đầu mối quản lý.

Một số văn bản hiện hành đã bộc lộ những hạn chế, không đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới về khai thác nguồn lực, thực hành tiết kiệm, chống thất thoát, lãng phí, tham nhũng. Hệ thống tiêu chuẩn, định mức còn bất cập, chưa bao quát được đặc thù về nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, địa bàn hoạt động.

Việc kiểm soát tiêu chuẩn, định mức trong đầu tư, xây dựng, mua sắm, xử lý tài sản còn chưa được chặt chẽ, thường xuyên, một số trường hợp trang bị, bố trí sử dụng không đúng định mức; một số Bộ chưa ban hành định mức xe ô tô chuyên dùng. Phương thức trang bị tài sản cho các đơn vị chủ yếu bằng hiện vật, phương thức thuê, khoán còn ít áp dụng, đầu tư mua sắm chủ yếu từ ngân sách nhà nước.

Việc sử dụng nhà, đất thuộc sở hữu nhà nước còn phân tán, lãng phí, hiệu suất thấp và chưa được khai thác một cách có hiệu quả. Việc tổ chức thực hiện phương án sắp xếp lại, xử lý nhà, đất sau khi được phê duyệt còn chậm, đặc biệt là việc di dời các hộ gia đình đã bố trí trong khuôn viên, bán nhà, chuyển nhượng quyền sử dụng đất và xử lý các tồn tại.

Hiệu quả khai thác kết cấu hạ tầng chưa tương xứng với quy mô tài sản hiện có. Công tác đấu giá quyền sử dụng đất rất khó thực hiện do thiếu nguồn lực để làm công tác giải phóng mặt bằng, tạo quỹ đất sạch; thời gian xác định và phê duyệt giá đất theo thị trường kéo dài dẫn đến chậm trễ trong thông báo, thu nộp nghĩa vụ tài chính; thu hồi đất theo quy hoạch nhưng không cân đối với nguồn lực thực hiện dẫn đến tình trạng quy hoạch treo, lãng phí tài nguyên đất đai, tạo áp lực lớn cho ngân sách nhà nước…

Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trên là:

(i) Tài sản công có phạm vi rất rộng, được giao cho nhiều đối tượng quản lý, sử dụng. Nhiều nội dung thuộc chế độ quản lý, sử dụng tài sản chưa có luật điều chỉnh để thực hiện đã làm hạn chế hiệu quả, hiệu lực trong quản lý, sử dụng công; hệ thống thông tin về tài sản công còn thiếu, không đồng bộ;

(ii) Tư tưởng ỷ lại vào sự bao cấp của Nhà nước còn lớn, tính chủ động, tự chịu trách nhiệm trong việc sử dụng nguồn kinh phí, khai thác tài sản còn hạn chế;

(iii) Công tác quản lý tài sản công từ khâu mua sắm đến xử lý còn phân tán do nhiều cơ quan, đơn vị cùng làm, tính chuyên nghiệp chưa cao; khả năng điều tiết và vai trò của cơ quan quản lý tài sản công hạn chế; công tác thanh tra, kiểm tra chưa được thực hiện thường xuyên;

(iv) Cơ chế trang bị tài sản công (bằng hiện vật) gắn với một số ưu đãi đã được thực hiện trong một thời gian dài, đã trở thành thói quen nên quá trình chuyển đổi phương thức quản lý cần có thời gian;

(v) Hệ thống bộ máy tổ chức và cán bộ thực hiện nhiệm vụ quản lý tài sản công còn mỏng, chưa đủ mạnh để triển khai đầy đủ công tác quản lý.

Giải pháp quản lý, sử dụng tài sản công tiết kiệm, hiệu quả

Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về quản lý, sử dụng tài sản công; trong đó, tập trung nghiên cứu, xây dựng Luật Quản lý, sử dụng tài sản công nhằm thể chế hóa chế độ quản lý, sử dụng các loại tài sản công theo quy định tại Điều 53 Hiến pháp năm 2013, đặc biệt là quản lý tài chính tài sản, bảo đảm tất cả các loại tài sản công đều được kế toán, thống kê, giám sát, quản lý chặt chẽ, hiệu quả bằng pháp luật; xây dựng các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật để trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành, bảo đảm có hiệu lực cùng với thời điểm luật có hiệu lực.

Hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản công theo hướng chặt chẽ, hạn chế việc trang bị bằng hiện vật; đồng thời, bảo đảm xử lý các vấn đề đặc thù về chức năng, nhiệm vụ, bộ máy tổ chức và địa bàn hoạt động và tạo sự chủ động cho các bộ, ngành, địa phương.

Các đơn vị sự nghiệp công lập chưa đủ điều kiện được Nhà nước xác định giá trị tài sản để giao cho đơn vị sự nghiệp công lập quản lý theo cơ chế giao vốn cho doanh nghiệp và các đơn vị sự nghiệp công lập đủ điều kiện nhưng không làm thủ tục để được Nhà nước giao tài sản theo thời hạn quy định phải chấm dứt ngay việc sử dụng tài sản vào mục đích sản xuất, kinh doanh dịch vụ, cho thuê, liên doanh, liên kết. Các bộ, ngành, địa phương thực hiện kiểm tra, rà soát, xử lý các trường hợp vi phạm theo đúng quy định của pháp luật; thu toàn bộ các khoản thu được từ việc sử dụng TSNN không đúng quy định nộp vào ngân sách nhà nước, xử lý nghiêm trách nhiệm của người đứng đầu đơn vị để xảy ra vi phạm.

Thứ ba, các bộ, ngành, địa phương, cơ quan, tổ chức, đơn vị thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 27/CT-TTg ngày 25/8/2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường quản lý trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp. Kiểm soát chặt chẽ tiêu chuẩn, định mức sử dụng trụ sở làm việc bao gồm cả diện tích làm việc và diện tích các bộ phận công cộng, phụ trợ, kỹ thuật ngay từ khâu lập, phê duyệt thiết kế đầu tư xây dựng mới, nâng cấp, cải tạo trụ sở làm việc.

Bộ Tài chính, cơ quan chuyên môn về tài chính thuộc UBND cấp tỉnh, cấp huyện chịu trách nhiệm kiểm tra, có ý kiến về định mức diện tích trụ sở làm việc trước khi cấp có thẩm quyền phê duyệt thiết kế đầu tư xây dựng mới, nâng cấp, cải tạo trụ sở làm việc của các cơ quan, tổ chức, đơn vị. Các cơ quan, tổ chức, đơn vị được đầu tư xây dựng trụ sở mới, khi hoàn thành việc đầu tư xây dựng và chuyển sang trụ sở mới phải bàn giao lại trụ sở cũ cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xử lý.

Đẩy mạnh áp dụng đầu tư theo hình thức đối tác công – tư trong xây dựng, quản lý vận hành trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp, đặc biệt là tại các đô thị; việc lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án đảm bảo đúng quy định của pháp luật về đấu thầu, không để xảy ra thất thoát.

Khẩn trương hoàn thành việc phê duyệt phương án sắp xếp lại nhà, đất, phương án di dời theo quy định của Thủ tướng Chính phủ; xử lý dứt điểm các vi phạm, tồn tại phát hiện qua sắp xếp, xử lý trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân để xảy ra vi phạm; đẩy nhanh tiến độ thực hiện phương án sắp xếp lại, phương án di dời đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, bảo đảm công khai, chống thất thoát, lãng phí.

Thứ tư, thắt chặt việc mua sắm, trang bị xe ô tô công. Các bộ, ngành, địa phương chỉ đạo các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc phạm vi quản lý thực hiện việc mua sắm, sử dụng xe ô tô theo đúng tiêu chuẩn, định mức, chế độ. Khẩn trương hoàn thành việc xây dựng phương án khoán kinh phí sử dụng xe ô tô cho một số chức danh có tiêu chuẩn sử dụng xe ô tô của cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc phạm vi quản lý để triển khai và tổ chức thực hiện.

Xét về việc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công, Chính phủ đã ban hành 6 Nghị định; Thủ tướng Chính phủ ban hành 7 Quyết định; Bộ Tài chính, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an ban hành 30 Thông tư quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước.

Phát hiện kịp thời những trường hợp sai phạm, xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật; nghiêm túc triển khai những kiến nghị của Bộ Tài chính về kết quả rà soát, xử lý xe ô tô theo Quyết định 32/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; kiên quyết thu hồi để xử lý đối với xe ô tô trang bị không đúng đối tượng hoặc vượt định mức sử dụng; việc bán, thanh lý xe ô tô phải bảo đảm công khai, đúng quy định của pháp luật.

Thứ sáu, thực hiện quyết liệt các giải pháp thu hút vốn đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng theo hướng đẩy mạnh thực hiện xã hội hóa, mở rộng các phương thức đầu tư; tăng cường khai thác nguồn lực tài chính từ kết cấu hạ tầng thông qua một số phương thức cho thuê quyền khai thác hoặc chuyển nhượng có thời hạn tài sản kết cấu hạ tầng theo quy định của pháp luật; tổ chức thực hiện đầu tư, bảo trì, khai thác tài sản kết cấu hạ tầng bảo đảm công khai, minh bạch theo quy định của pháp luật về đấu thầu, đấu giá; giám sát chặt chẽ việc xây dựng phương án thu phí và tổ chức thực hiện thu phí của các dự án BOT.

Thứ bảy, thực hiện nghiêm túc việc đấu giá công khai, minh bạch khi giao đất, cho thuê đất, cấp quyền khai thác tài nguyên; việc khai thác đất đai, tài nguyên cần phải đánh giá tác động môi trường một cách đầy đủ, nghiêm túc và xác định rõ chi phí môi trường (chỉ khai thác khi tổng lợi ích xã hội thu được lớn hơn tổng chi phí phát sinh, kể cả chi phí về môi trường, xã hội); rà soát, nghiên cứu chính sách thu tiền thuê đất theo hướng khuyến khích thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm, đơn giản hóa việc xác định mức thu và tổ chức thu nộp nhằm hỗ trợ doanh nghiệp phát triển sản xuất, kinh doanh; mở rộng phạm vi áp dụng hệ số điều chỉnh giá đất theo hướng áp dụng đối với tất cả các trường hợp thuê đất trả tiền hàng năm.

Bên cạnh đó, cần sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy định về góp vốn bằng đất thuê của Nhà nước và tài sản gắn liền với đất thuê theo hướng xác định đầy đủ giá trị quyền thuê đất, tài sản theo thị trường, nếu thành lập pháp nhân mới thì pháp nhân mới chỉ được Nhà nước cho thuê đất trong thời gian góp vốn; thực hiện đấu thầu lựa chọn đối tác để góp vốn liên doanh, liên kết đối với doanh nghiệp nhà nước khi thực hiện dự án đầu tư xây dựng kinh doanh thương mại, dịch vụ, bất động sản;

Tổ chức thực hiện tốt Nghị quyết 112/2015/NQ-QH13 ngày 27/11/2015 của Quốc hội về tăng cường quản lý đất đai có nguồn gốc từ nông trường, lâm trường quốc doanh do các công ty nông nghiệp, công ty lâm nghiệp, ban quản lý rừng và các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân khác sử dụng; tăng cường công tác kiểm tra, đôn đốc đảm bảo thu đúng, thu đủ, thu kịp thời nghĩa vụ tài chính đất đai, tài nguyên của tổ chức, cá nhân khi được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, tránh thất thoát.

Thực hiện tính giá trị lợi thế vị trí địa lý của đất thuê đối với các khu đất tại các đô thị, trung tâm kinh tế, gần các trục giao thông quan trọng khi thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, đồng thời coi giá trị lợi thế vị trí địa lý là quyền tài sản, được tham gia các giao dịch dân sự (chuyển nhượng, thế chấp, góp vốn…), được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất để vừa bảo đảm không thất thoát TSNN, vừa bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp, nhà đầu tư.

Thứ tám, thực hiện xử lý tập trung đối với một số loại tài sản công như: Tài sản tại các cơ quan, đơn vị hành chính sự nghiệp, tài sản của các dự án sử dụng vốn nhà nước, tài sản được xác lập quyền sở hữu của Nhà nước. Cơ quan được giao nhiệm vụ xử lý tài sản tập trung có trách nhiệm tiếp nhận tài sản từ các cơ quan, tổ chức, đơn vị, thực hiện công tác bảo quản, lập phương án xử lý tập trung theo định kỳ và tổ chức xử lý theo lô lớn nhằm nâng cao hiệu quả xử lý.

Việc xử lý bán, thanh lý tập trung chỉ được áp dụng theo hình thức đấu giá công khai theo quy định của pháp luật. Cơ quan được giao xử lý tài sản có trách nhiệm giám sát toàn bộ quá trình xử lý tài sản, kể cả trường hợp thuê các đơn vị chuyên nghiệp thực hiện.

Thứ chín, tiếp tục thực hiện hiện đại hóa công tác quản lý tài sản công: Xây dựng Đề án nâng cấp Cơ sở dữ liệu quốc gia về tài sản công, bảo đảm từng bước Cơ sở dữ liệu quốc gia có đầy đủ thông tin về tài sản công, tạo lập kênh cung cấp thông tin tổng hợp quan trọng về tài sản công. Đặc biệt là tổng nguồn lực tài sản công, làm cơ sở để các cơ quan nhà nước trong quá trình điều hành vĩ mô, điều hành ngân sách nhà nước và phục vụ Chính phủ điện tử.

Các bộ, ngành, địa phương được giao quản lý, sử dụng tài sản công có trách nhiệm kê khai, đăng nhập thông tin về tài sản công đầy đủ, kịp thời vào cơ sở dữ liệu quốc gia. Các bộ, ngành, địa phương được giao xây dựng cơ sở dữ liệu về tài sản công chuyên ngành có trách nhiệm bảo đảm kết nối được với thông tin về tài sản công. Nghiên cứu, thí điểm xây dựng hệ thống giao dịch điện tử về tài sản công để thực hiện các giao dịch về tài sản công trực tuyến, bảo đảm cải cách hành chính, công khai, minh bạch.

1. Nghị định số 04/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 52/2009/NĐ-CP ngày 03 tháng 6 năm 2009 của Chính phủ; 2. Nghị quyết 112/2015/QH13 về tăng cường quản lý đất đai có nguồn gốc từ nông trường, lâm trường quốc doanh do các công ty nông nghiệp, công ty lâm nghiệp, ban quản lý rừng và các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân khác sử dụng; 3. Một số website: chúng tôi chúng tôi tapchitaichinh.vn…

Cập nhật thông tin chi tiết về Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Quản Lý Tài Nguyên Khoáng Sản trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!