Xu Hướng 2/2023 # Một Số Giải Pháp Thúc Đẩy Phát Triển Nền Kinh Tế Tuần Hoàn Tại Việt Nam # Top 4 View | Phauthuatthankinh.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Một Số Giải Pháp Thúc Đẩy Phát Triển Nền Kinh Tế Tuần Hoàn Tại Việt Nam # Top 4 View

Bạn đang xem bài viết Một Số Giải Pháp Thúc Đẩy Phát Triển Nền Kinh Tế Tuần Hoàn Tại Việt Nam được cập nhật mới nhất trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Đây là xu thế tất yếu và là nội dung đang được Việt Nam đặc biệt quan tâm, định hướng phát triển. Bài viết này khái quát về vai trò, thực trạng phát triển của kinh tế tuần hoàn đối với phát triển kinh tế xã hội, qua đó gợi mở một số đề xuất phát triển mô hình này.

Khái quát về kinh tế tuần hoàn

Kinh tế tuần hoàn là mô hình kinh tế trong đó các hoạt động thiết kế, sản xuất, dịch vụ đặt ra mục tiêu kéo dài tuổi thọ của vật chất và loại bỏ tác động tiêu cực đến môi trường. Nếu như mô hình kinh tế tuyến tính chỉ quan tâm đến khai thác tài nguyên, sản xuất và vất bỏ sau tiêu thụ, dẫn đến việc tạo ra một lượng phế thải khổng lồ thì kinh tế tuần hoàn chú trọng vấn đề quản lý và tái tạo tài nguyên theo một vòng khép kín, nhằm tránh tạo ra phế thải. Việc tận dụng tài nguyên được thực hiện bằng nhiều hình thức như: sửa chữa, tái sử dụng, tái chế và thay vì sở hữu vật chất thì hướng đến chia sẻ hoặc cho thuê.

Định nghĩa về kinh tế tuần hoàn được nhiều quốc gia và các tổ chức quốc tế thừa nhận rộng rãi hiện nay là “một hệ thống có tính khôi phục và tái tạo thông qua các kế hoạch và thiết kế chủ động. Nó thay thế khái niệm “kết thúc vòng đời” của vật liệu bằng khái niệm khôi phục, chuyển dịch theo hướng sử dụng năng lượng tái tạo, không dùng các hóa chất độc hại gây tổn hại tới việc tái sử dụng và hướng tới giảm thiểu chất thải thông qua việc thiết kế vật liệu, sản phẩm, hệ thống kỹ thuật và cả các mô hình kinh doanh trong phạm vi của hệ thống đó” (Ellen MacArthur Foundation, 2012).

Như vậy, có thể thấy, kinh tế tuần hoàn là một hệ thống, trong đó các tài nguyên được tận dụng lại hoặc tái sử dụng, các dòng phế liệu được biến thành đầu vào để tiếp tục sản xuất. Hoạt động này đã được thúc đẩy bởi quá trình đô thị hóa nhanh chóng, biến đổi khí hậu, tiến bộ công nghệ và nhu cầu ngày càng tăng đối với các nguồn tài nguyên thiên nhiên có hạn.

Nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng, nền kinh tế tuần hoàn giống như một “chiếc hồ”, trong đó việc tái xử lý hàng hóa và nguyên vật liệu tạo ra công ăn việc làm và tiết kiệm năng lượng, đồng thời làm giảm mức tiêu thụ nguồn lực và lượng rác thải.

Như vậy, nền kinh tế tuần hoàn là một khái niệm được hiểu thông qua một chu trình sản xuất khép kín, các chất thải được quay trở lại, trở thành nguyên liệu cho sản xuất, từ đó giảm mọi tác động tiêu cực đến môi trường, bảo vệ hệ sinh thái và sức khỏe con người.

Nền kinh tế tuần hoàn vận hành như một chu trình khép kín, trong đó tận dụng tất cả những gì phát sinh trong quá trình sản xuất thông qua phân loại, tái sử dụng, tái chế… Đây là một mô hình ưu việt, loại bỏ việc tạo ra rác thải, do đó mục tiêu xa hơn là phát triển kinh tế đi đôi với bảo vệ môi trường, hướng tới phát triển bền vững.

Phát triển kinh tế tuần hoàn tại Việt Nam

Trên thế giới, kinh tế tuần hoàn hiện được coi là mô hình kinh tế đáp ứng yêu cầu về giải quyết ô nhiễm môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, phục vụ mục tiêu phát triển bền vững. Việt Nam đang nỗ lực phát triền kinh tế theo hướng bền vững, giảm thiểu những tác động xấu đến môi trường và nền kinh tế tuần hoàn là mô hình được quan tâm, định hướng phát triển. Trong quá trình phát triển nền kinh tế tuần hoàn, Việt Nam cũng phải đối mặt với nhiều cơ hội và thách thức.

Cơ hội phát triển kinh tế tuần hoàn tại Việt Nam

Việt Nam đang là một quốc gia có tốc độ hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế cao, đặt biệt là tham gia vào các hiệp định thương mại tự do song phương, đa phương, các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới. Hầu hết các hiệp định này đều có các quy định, thỏa thuận về phát triển bền vững, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu và phải tuân thủ các tiêu chuẩn phát thải chất thải, khí thải. Đây là tiền đề để thúc đẩy Việt Nam tăng tốc chuyển đổi sang mô hình kinh tế tuần hoàn.

Áp dụng mô hình kinh tế tuần hoàn, Việt Nam có thuận lợi trong việc học tập kinh nghiệm thực tiễn về phát triển mô hình kinh tế của các quốc gia phát triển trên thế giới, tận dụng các cơ hội hợp tác về tiếp nhận chuyển giao các công nghệ về thiết kế, chế tạo, công nghệ thông tin hiện đại. Hiện nay, Việt Nam đã có một số mô hình tiếp cận của kinh tế tuần hoàn như mô hình thu gom tái chế sắt vụn, thu gom tái chế giấy…; mô hình sản xuất sạch hơn trong sản xuất công nghiệp quy mô vừa, nhỏ và siêu nhỏ.

Kinh tế tuần hoàn là một hệ thống, trong đó các tài nguyên được tận dụng lại hoặc tái sử dụng, các dòng phế liệu được biến thành đầu vào để tiếp tục sản xuất. Hoạt động này đã được thúc đẩy bởi quá trình đô thị hóa nhanh chóng, biến đổi khí hậu, tiến bộ công nghệ và nhu cầu ngày càng tăng đối với các nguồn tài nguyên thiên nhiên có hạn.

Cùng với lợi thế này, trong những năm qua, Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương chính sách về chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng bền vững; tăng cường quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường ứng phó với biến đổi khí hậu; tăng cường tái chế, tái sử dụng. Việt Nam đang trong quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm mục tiêu phát triển nền kinh tế nhanh và bền vững.

Trong khi đó, mô hình kinh tế tuần hoàn có thể đáp ứng được mục tiêu trên trong chủ trương chính sách của Nhà nước. Cùng với đó, các chính sách khuyến khích và tạo cơ chế cho kinh tế tư nhân phát triển trong bối cảnh thị trường cạnh tranh sẽ có nhiều cơ hội cho đầu tư của khu vực tư nhân vào thực hiện phát triển kinh tế tuần hoàn trong thời gian tới.

Trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra mạnh mẽ, tác động đến mọi lĩnh vực đời sống xã hội, việc nghiên cứu đẩy mạnh đổi mới công nghệ, chuyển từ thế giới thực sang thế giới số sẽ là cơ hội lớn để thực hiện phát triển kinh tế tuần hoàn, mang lại hiệu quả tăng trưởng cao hơn so với cách thức tăng trưởng trước đây. Đây là động lực và là cơ hội để Việt Nam đẩy nhanh phát triển nền kinh tế tuần hoàn.

Là một nước có nền kinh tế lạc hậu, việc chuyển đổi sang nền kinh tế tuần hoàn đã và đang đặt ra không ít thách thức đối Việt Nam, tiêu biểu như:

Một là, khung chính sách về phát triển mô hình kinh tế tuần hoàn chưa được hoàn thiện. Hiện nay, Việt Nam còn thiếu các cơ chế chính sách thúc đẩy kinh tế tuần hoàn phát triển như: Quy định trách nhiệm của DN về thu hồi, phục hồi tài nguyên từ các sản phẩm đã qua sử dụng; các công cụ, chính sách kinh tế như thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường…

Hai là, nhận thức về kinh tế tuần hoàn và sự cần thiết chuyển đổi sang phát triển mô hình kinh tế tuần hoàn còn hạn chế. Nhận thức đúng về kinh tế tuần hoàn cần được thực hiện từ việc thiết kế tới triển khai đối với từng ngành, từng lĩnh vực và cần được đồng thuận, thống nhất từ lãnh đạo, các cấp quản lý tới từng DN và người dân.

Ba là, nguồn lực cho việc thực hiện chuyển đối sang phát triển kinh tế tuần hoàn còn yếu. Kinh tế tuần hoàn phải gắn với đổi mới khoa học, tiếp cận công nghệ tiên tiến. Bên cạnh đó, để phát triển kinh tế tuần hoàn đòi hỏi phải có đội ngũ chuyên gia giỏi, để giải quyết tốt các vấn đề, từ khâu đầu đến khâu cuối của cả quá trình.

Bốn là, Việt Nam còn thiếu các DN đủ năng lực về công nghệ về tái chế, tái sử dụng các sản phẩm đã qua sử dụng; khó thay đổi ngay thói quen sản xuất và tiêu dùng của toàn xã hội hiện nay đối với nhiều sản phẩm dễ sử dụng như túi nilon, sản phẩm nhựa dùng một lần sang chỉ sử dụng những vật liệu, sản phẩm có thể tái chế, tái sử dụng hoàn toàn; các DN Việt Nam có quy mô vừa và nhỏ khó khăn trong việc đầu tư đổi mới công nghệ.

Giải pháp thúc đẩy kinh tế tuần hoàn ở Việt Nam

Để thúc đẩy phát triển nền kinh tế tuần hoàn ở Việt Nam, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:

Thứ nhất, hoàn thiện hành lang pháp lý phục vụ cho phát triển nền kinh tế tuần hoàn. Theo đó, cần sửa đổi, bổ sung Luật Bảo vệ môi trường; quy định trách nhiệm cụ thể của nhà sản xuất, nhà phân phối trong việc thu hồi, phân loại và tái chế hoặc chi trả chi phí xử lý các sản phẩm thải bỏ dựa trên số lượng sản phẩm bán ra trên thị trường; quản lý dự án theo vòng đời, thiết lập lộ trình xây dựng và áp dụng quy chuẩn, tiêu chuẩn về môi trường tương đương với nhóm các nước tiên tiến trong khu vực.

DN là động lực trung tâm, Nhà nước đóng vai trò kiến tạo, các tổ chức và từng người dân tham gia thực hiện. Vai trò kiến tạo của Nhà nước thể hiện trong việc tạo ra một môi trường để kinh tế tuần hoàn phát triển. Do vậy, Việt Nam nên cân nhắc đưa cả hai cách tiếp cận thực hiện kinh tế tuần hoàn của quốc tế vào lộ trình phát triển các mô hình kinh tế tuần hoàn.

Thứ hai, xây dựng mô hình tăng trưởng kinh tế chiều sâu, sử dụng hiệu quả các nguồn lực đầu vào, áp dụng khoa học công nghệ vào các ngành, đặc biệt là xử lý rác thải để tái tạo nguyên liệu mới. Quy định lộ trình thay thế các nhiên liệu, sản phẩm sử dụng nguyên liệu nguy hại, sản phẩm sử dụng một lần bằng các nhiên liệu, nguyên liệu thân thiện với môi trường, sản phẩm sử dụng nhiều lần, kéo dài thời gian sử dụng hữu ích của sản phẩm.

Thứ ba, điều chỉnh quy hoạch năng lượng, giảm dần sự phụ thuộc vào các dạng năng lượng từ nhiên liệu hóa thạch, thủy điện; kiểm soát, thu hút có chọn lọc dự án đầu tư trên cơ sở xem xét các yếu tố về quy mô sản xuất, công nghệ sản xuất, kỹ thuật môi trường và vị trí thực hiện dự án. Xây dựng lộ trình chuyển đổi công nghệ dựa trên các tiêu chí tiết kiệm và hiệu quả năng lượng, giảm thiểu chất thải.

Thứ tư, thực hiện kinh tế tuần hoàn cần gắn liền với phát triển công nghệ, kinh tế số và Cách mạng công nghiệp 4.0. Công nghệ mới sẽ giúp việc thực hiện mô hình kinh tế tuần hoàn hiệu quả, giảm thải ô nhiễm, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học, tránh khai thác quá mức tài nguyên; đồng thời, tạo được cơ hội việc làm mới… đảm bảo mục tiêu của mô hình này.

Thứ năm, để mở rộng nền kinh tế tuần hoàn, các nhà sản xuất cần phải xác định rõ đâu là ưu tiên hàng đầu của DN. Thay vì sản xuất sản phẩm càng nhanh, càng rẻ càng tốt, thì độ bền của sản phẩm và quy trình sản xuất bền vững mới là yếu tố then chốt. Sản phẩm cần được thiết kế sao cho dễ dàng tái chế nếu muốn chúng không phải kết thúc số phận ở các bãi chôn rác.

Thứ sáu, xây dựng Chiến lược truyền thông về kinh tế tuần hoàn nhằm nâng cao nhận thức của các nhà sản xuất và công chúng về trách nhiệm của họ đối với các sản phẩm trong suốt vòng đời của chúng. Cần tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức của người dân về việc phân loại rác thải tại nguồn, tạo điều kiện cho công tác thu gom, vận chuyển đưa vào tái sử dụng, tái chế được thuận lợi và dễ dàng hơn.

1. Chính phủ (2015), Nghị định số 38/2015/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý chất thải rắn; 2. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2018), Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia năm 2017: chuyên đề quản lý chất thải rắn. NXB Tài nguyên và Môi trường; 3. Viện Chiến lược, Chính sách tài nguyên và môi trường (2020), Nghiên cứu, đánh giá, đề xuất các mô hình phát triển nền kinh tế tuần hoàn phù hợp với Việt Nam trong bối cảnh thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững và ứng phó với biến đổi khí hậu”; 4. Viện Chiến lược Chính sách Tài nguyên và Môi trường, UNDP Việt Nam (2020), Hội thảo tham vấn “Kết quả nghiên cứu về kinh tế tuần hoàn và một số đề xuất chính sách”.

Giải Pháp Chính Sách Phát Triển Kinh Tế Tuần Hoàn Ở Việt Nam

Hình ảnh tại buổi Hội thảo

Mô hình phát triển kinh tế tuần hoàn (KTTH) đang trở thành xu hướng của nhiều quốc gia. Nếu như mô hình kinh tế truyền thống chỉ quan tâm tới việc khai thác tài nguyên trong sản xuất thì mô hình KTTH chú trọng vào việc quản lý và tái tạo tài nguyên theo một vòng tròn khép kín nhằm tránh tạo ra phế thải. Việc tận dụng tài nguyên được thực hiện bằng nhiều hình thức như sửa chữa (repair), tái sử dụng (reuse), tái chế (recycle) và thay vì sở hữu vật chất thì hướng đến chia sẻ (sharing) hoặc cho thuê (leasing).

Việt Nam đã triển khai một số mô hình KTTH và mang lại những lợi ích cả về kinh tế và xã hội. Điển hình trong ngành nông nghiệp, mô hình vườn – ao – chuồng, mô hình nuôi tuần hoàn hữu cơ không chỉ giúp giảm phát thải mà còn đem lại thu nhập tốt cho người dân. Đặc biệt, các mô hình thu hồi năng lượng từ chất thải như biogas ở Huế, phân bón sinh học ở Đà Nẵng là giải xử lý an toàn chất thải động vật, tạo năng lượng tái sinh tạo nguồn chất đốt phục vụ sinh hoạt chống ô nhiễm môi trường và góp phần giảm phát thải, giảm hiệu ứng nhà kính gây biến đổi khí hậu.

Theo các chuyên gia, để thúc đẩy phát triển nền KTTH ở Việt Nam cần thực hiện đồng bộ các giải pháp từ nâng cao nhận thức đến hoàn thiện thể chế và tổ chức thực hiện, như: Khuyến khích đầu tư áp dụng các mô hình KTTH thông qua chính sách ưu đãi thuế, phí, lãi suất và đất đai cho các dự án, doanh nghiệp đầu tư vào các hoạt động thúc đẩy KTTH; khuyến khích sản xuất và thúc đẩy tiêu thụ các sản phẩm, cung ứng từ các hoạt động sản xuất – kinh doanh đáp ứng tiêu chí của mô hình KTTH; thực hiện các hoạt động đổi mới công nghệ; thúc đẩy hình thành cơ chế liên kết trên nền tảng của IOT; phát triển các mô hình khu công nghiệp sinh thái, khu đô thị sinh thái; thay đổi thói quen người tiêu dùng, thực hiện lối sống bền vững; thúc đẩy tiêu dùng trung gian đối với thị trường nguyên liệu thứ cấp.

Kinh tế tuần hoàn đem lại 4 lợi ích cơ bản thông qua tận dụng tối đa các nguồn lực, bao gồm: tiết kiệm tài nguyên, bảo vệ môi trường, thúc đẩy phát triển kinh tế, lợi ích xã hội.

Giải Pháp Thúc Đẩy Phát Triển Kinh Tế Trang Trại

Trong những năm qua, kinh tế trang trại đã góp phần tích cực vào việc đẩy mạnh phát triển sản xuất nông nghiệp của tỉnh; chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi; chuyển đổi phương thức sản xuất từ quy mô nhỏ, tự cấp, tự túc sang sản xuất hàng hóa tập trung với quy mô lớn gắn với thị trường… Trên cơ sở đó mở ra hướng làm giàu cho nông dân, tạo thêm việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống người lao động.

Theo thống kê của Chi cục Phát triển nông thôn (Sở NN và PTNT), đến nay, toàn tỉnh có trên 4.000 trang trại, gia trại; trong đó có 674 trang trại đạt tiêu chí của Bộ NN và PTNT, còn lại là gia trại. Phân theo lĩnh vực sản xuất có 325 trang trại chăn nuôi, 274 trang trại thủy sản, 66 trang trại tổng hợp, 9 trang trại trồng trọt. Các địa phương: Giao Thủy, Hải Hậu, Xuân Trường, Nghĩa Hưng… là những nơi có số trang trại nhiều. Có thể nói, kinh tế trang trại có bước phát triển nhanh, chuyển dịch tích cực theo hướng hàng hóa.

Trang trại gà đẻ trứng của một hộ chăn nuôi ở xã Nam Thanh (Nam Trực).

Thông qua kinh tế trang trại, nhiều tiến bộ kỹ thuật và công nghệ mới được áp dụng thành công và nhân rộng, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng, tạo ra những nông sản hàng hóa có sức cạnh tranh cao hơn trên thị trường. Nhiều trang trại chăn nuôi mạnh dạn ứng dụng công nghệ chuồng kín, lắp đặt máng uống tự động, máng ăn bán tự động, xử lý chất thải bằng hầm khí sinh học bi-ô-ga… nên hiệu quả cao hơn hẳn chăn nuôi nông hộ. Một số trang trại hợp tác, liên kết sản xuất – tiêu thụ sản phẩm với doanh nghiệp có vốn lớn, trình độ công nghệ hiện đại. Các trang trại nuôi trồng thủy sản (NTTS) chuyển dịch nhanh từ nuôi quảng canh sang nuôi thâm canh, tập trung chuyển đổi mạnh các đối tượng nuôi; xử lý ao đầm và môi trường nuôi bằng chế phẩm sinh học thay cho hóa chất. Đặc biệt một số trang trại đã từng bước làm chủ công nghệ sản xuất giống nhân tạo một số loài hải sản có giá trị cao như: cá song, cá chim biển, cá bống bớp, tôm sú… Do mạnh dạn áp dụng tiến bộ kỹ thuật và công nghệ mới nên phần lớn các trang trại đã khai thác và sử dụng khá hiệu quả tài nguyên đất đai, mặt nước và lao động. Giá trị sản xuất bình quân 1ha đất trang trại đạt 407 triệu đồng/năm. Mỗi năm, tổng lợi nhuận của các trang trại đạt trên 205 tỷ đồng, bình quân 305 triệu đồng/trang trại. Không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế cao, các trang trại còn tạo việc làm ổn định cho trên 3.300 lao động, qua đó góp phần tích cực chuyển dịch cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới; đồng thời góp phần thay đổi tư duy làm kinh tế của các hộ nông dân trong tỉnh.

Tuy nhiên, hiện nay kinh tế trang trại phát triển không đồng đều giữa các địa phương và giữa các lĩnh vực sản xuất. Trong số 674 trang trại, chủ yếu là trang trại chăn nuôi và thủy sản, trang trại tổng hợp chỉ chiếm 9,8% và trang trại trồng trọt chỉ có 1,3%. Các trang trại trên địa bàn tỉnh vẫn chủ yếu phát triển theo tính tự phát, nhiều trang trại vệ sinh môi trường chưa đảm bảo. Trình độ năng lực quản lý, tiếp cận thông tin về thị trường của chủ trang trại còn hạn chế, chất lượng lao động thấp, thiếu mối liên kết trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Tiến độ cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại theo tiêu chí mới chậm, hiện toàn tỉnh vẫn còn khoảng 75% số trang trại chưa được cấp giấy chứng nhận, do đó các chủ trang trại khó tiếp cận được với nguồn vốn tín dụng để đầu tư phát triển sản xuất. Các huyện, thành phố mặc dù đã có quy hoạch vùng kinh tế trang trại, gia trại tập trung nhưng chưa bố trí được nguồn vốn đầu tư xây dựng hạ tầng nên sản xuất còn gặp nhiều khó khăn, dịch bệnh vẫn có điều kiện phát sinh. Công tác quản lý đất đai ở các vùng kinh tế trang trại, gia trại chưa thật sự chặt chẽ, còn xảy ra tình trạng sử dụng đất sai mục đích. Hệ thống cơ chế, chính sách của Nhà nước chưa đồng bộ, chưa có chính sách riêng hỗ trợ phát triển kinh tế trang trại. Các quy định về bảo vệ nghiêm ngặt quỹ đất trồng lúa (theo Nghị định 42/2011/NĐ-CP) gây khó khăn cho các địa phương bố trí quỹ đất để phát triển vùng trang trại tập trung. Vẫn còn nhiều địa phương chưa có kế hoạch và giải pháp cụ thể để phát triển kinh tế trang trại, còn lúng túng khi giải quyết những vấn đề phát sinh trong thực tiễn. Sự phối hợp giữa các ngành với các địa phương chưa tốt trong việc giải quyết, tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc về thủ tục đất đai, chính sách tín dụng… để phát triển kinh tế trang trại. Tâm lý giữ ruộng mặc dù không có nhu cầu sử dụng ruộng đất canh tác của một bộ phận nông dân gây cản trở quá trình tích tụ ruộng đất, phát triển kinh tế trang trại. Đây là những trở lực không nhỏ đến mục tiêu thúc đẩy phát triển kinh tế trang trại.

Để khuyến khích, hỗ trợ và định hướng cho các thành phần kinh tế tham gia xây dựng và phát triển kinh tế trang trại, các cấp, các ngành và các địa phương cần phải tập trung vào các giải pháp: Lựa chọn mô hình phát triển kinh tế trang trại phù hợp với từng vùng. Về đất đai, tiếp tục rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp; hình thành các vùng trang trại tập trung với quy mô phù hợp gắn với bảo vệ môi trường. Đẩy nhanh việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và giấy chứng nhận kinh tế trang trại cho các chủ trang trại, hộ gia đình nhằm tạo điều kiện cho các chủ trang trại yên tâm đầu tư vào sản xuất cũng như vay vốn để sản xuất. Khuyến khích các hộ dân chuyển nhượng, dồn đổi tạo điều kiện cho tích tụ ruộng đất, chuyển đổi từ đất khác sang trang trại chuyên canh hoặc kết hợp. Tích cực huy động các nguồn lực của địa phương, doanh nghiệp, chủ trang trại để đầu tư phát triển hạ tầng kỹ thuật thiết yếu ở vùng quy hoạch như: hệ thống giao thông – thủy lợi, điện, nước…; từng bước chuyển trang trại đang nằm trong khu dân cư vào vùng quy hoạch kinh tế trang trại. Tạo điều kiện cho các chủ trang trại được tiếp cận nhiều nguồn vốn tín dụng, nhất là đối với vốn tín dụng ưu đãi với thủ tục vay đơn giản, hợp lý, có sự ưu tiên và có thể tín chấp bằng công trình đầu tư trong trang trại. Về khoa học kỹ thuật, cần chú trọng đầu tư cho công tác khuyến nông, khuyến ngư; chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ tiên tiến cho chủ trang trại như: đưa các giống cây, con có phẩm chất tốt, chất lượng cao, năng suất khá vào sản xuất; áp dụng công nghệ mới trong chế biến, bảo quản nông sản… Hướng dẫn các chủ trang trại thực hiện quản lý chất lượng nông sản theo chuỗi đạt các tiêu chuẩn của Việt Nam và quốc tế như: VietGAP, HACCP, GMP, SSOP… Hằng năm, có kế hoạch đào tạo, tập huấn cho đội ngũ chủ trang trại về kỹ năng quản trị kinh doanh nhằm tìm hướng phát triển phù hợp trong cơ chế thị trường; đào tạo nghề phù hợp cho lao động làm việc ở trang trại, nhất là những lao động kỹ thuật của trang trại. Khuyến khích và đẩy mạnh mối liên kết giữa cơ sở sản xuất, chế biến, tiêu thụ nông sản bằng việc cung cấp thông tin thị trường, tư vấn định hướng cho các trang trại sản xuất những sản phẩm thị trường cần và tăng cường quảng bá, giới thiệu sản phẩm của các trang trại. Bên cạnh đó, tỉnh cũng cần xây dựng và ban hành cơ chế chính sách đặc thù về khuyến khích, hỗ trợ phát triển kinh tế trang trại, gia trại; trong đó tập trung ưu tiên hỗ trợ giao đất ổn định lâu dài cho các trang trại đạt tiêu chí mới, hỗ trợ đầu tư hạ tầng, hỗ trợ vay vốn, hỗ trợ chế biến và xây dựng thương hiệu nông sản, thủy sản./.

Kinh Tế Tuần Hoàn: Cánh Cửa Thần Kỳ Để Việt Nam Phát Triển Bền Vững

Phát biểu tại Hội nghị toàn quốc về phát triển bền vững ngày 12/9, Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam Vũ Tiến Lộc cho hay, Việt Nam là một trong những quốc gia có nhiều nỗ lực và đã đạt được nhiều thành quả trên hành trình phát triển bền vững.

Năm 2018, theo World Bank, Việt Nam xếp thứ 69/190 về môi trường kinh doanh; còn theo Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF), Việt Nam xếp thứ 77/140 về năng lực cạnh tranh. Nhưng cũng trong năm 2018, Việt Nam đã xếp hạng 54/162 quốc gia lọt vào top 30% quốc gia dẫn đầu về phát triển bền vững và chỉ thua Thái Lan trong ASEAN.

Như vậy, so với các nước có cùng trình độ phát triển, thì Việt Nam đang vượt lên trong cuộc “đua xanh”.

Nhưng, một con số đáng chú ý được Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Trần Hồng Hà chỉ ra tại hội nghị: Việt Nam là một quốc gia nhỏ xếp thứ 68 thế giới về diện tích, thứ 15 thế giới về dân số, nhưng chúng ta hiện đứng thứ 4 thế giới về rác thải nhựa, với 1,83 triệu tấn/năm.

Theo World Bank, chỉ riêng ô nhiễm không khí đã khiến Việt Nam mất đi 5,18% GDP của năm 2013. Ô nhiễm nước cũng có thể gây thiệt hại cho Việt Nam tới 3,5% GDP. Cùng với đó, tình trạng suy giảm tài nguyên, tiêu thụ năng lượng tăng nhanh, ô nhiễm và suy thoái đất, đặc biệt là biến đổi khí hậu đang ảnh hưởng nghiêm trọng tới phát triển kinh tế của Việt Nam.

Kinh tế tuần hoàn là gì?

Để giải quyết nguy cơ cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm và suy thoái môi trường, Bộ trưởng Trần Hồng Hà cho rằng, chúng ta cần phải thay đổi cách tiếp cận chuyển đổi từ các mô hình “kinh tế truyền thống” sang “kinh tế tuần hoàn”. “Đây được xem là một ưu tiên trong giai đoạnt tiếp theo của phát triển đất nước”, Bộ trưởng nhấn mạnh.

Kinh tế tuần hoàn là một xu hướng phát triển bền vững đạt được cả 2 mục tiêu, ứng phó với sự cạn kiệt của tài nguyên đầu vào và tình trạng ô nhiễm môi trường trong phát triển ở đầu ra.

Ở cấp độ thấp, kinh tế tuần hoàn tập trung vào quá trình sản xuất của các doanh nghiệp và các mặt hàng nông sản, các nhà sản xuất được khuyến khích và yêu cầu áp dụng các phương pháp sản xuất sạch hơn và thiết kế sinh thái.

Ở cấp độ cao, cấp độ doanh nghiệp, toàn bộ các công đoạn của quá trình sản xuất đều được thiết kế và không có chất thải đưa ra môi trường. Chất thải đều được giảm thiểu tối đa, tái sử dụng và tái chế.

Theo ước tính thực tế tại Châu Âu, kinh tuần hoàn có thể tạo ra lợi ích 600 tỷ Euro mỗi năm, 580.000 việc làm mới và giúp giảm phát thải khí nhà kính.

Hiện nay, Việt Nam chưa có mô hình kinh tế tuần hoàn. Chúng ta mới dừng lại ở tái sử dụng, tái chế chất thải mang lại lợi ích về tài chính cho cơ sở sản xuất và tiêu dùng, chưa mang lại lợi ích kinh tế nên chính hoạt động của các mô hình đó đã gây ra ô nhiễm và suy thoái môi trường.

Để thúc đẩy kinh tế tuần hoàn, theo Bộ Tài nguyên và Môi trường, cần phải có một hành lang pháp lý rõ ràng cho hình thành, phát triển các mô hình kinh tế tuần hoàn. Doanh nghiệp là động lực trung tâm, nhà nước đóng vai trò kiến tạo, các tổ chức và từng người dân tham gia thực hiện. Vai trò kiến tạo của nhà nước thể hiện trong việc tạo ra một môi trường để kinh tế tuần hoàn phát triển.

Việt Nam có thể cân nhắc đưa cả hai cách tiếp cận thực hiện kinh tế tuần hoàn của quốc tế vào lộ trình của mình. Đó là: Cách tiếp cận theo nhóm ngành, sản phẩm, nguyên liệu hoặc vật liệu và cách tiếp cận theo quy mô kinh tế, thành lập các không gian địa lý.

Bên cạnh đó, lộ trình cũng cần tiếp tục thực hiện các nội dung khác của kinh tế tuần hoàn, như khuyến khích năng lượng tái tạo, thúc đẩy sử dụng các sản phẩm thân thiện với môi trường, hoàn thiện và phát triển các mô hình kinh tế tuần hoàn đã có tại Việt Nam.

Về vấn đề này, đại diện HDBank cho rằng, thời gian tới, Bộ Công Thương và EVN cần tiếp tục đẩy nhanh việc xây dựng, hoàn thiện cơ sở hạ tầng truyền tải điện để tối ưu hóa các nguồn phát của các dự án năng lượng tái tạo đã và đang được đầu tư.

Đồng thời, sớm ban hành giá điện Mặt trời sau ngày 30/6 để tạo niềm tin và động lực rót vốn cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước vào dự án năng lượng tái tạo, đưa Việt Nam thành trung tâm năng lượng của khu vực.

Còn ông Vũ Tiến Lộc đề nghị đưa chủ trương thúc đẩy kinh tế toàn hoàn vào nghị quyết của Đảng và đề nghị Quốc hội ban hành “Luật về thúc đẩy phát triển kinh tế tuần hoàn”.

“Quốc hội và Chính phủ có chính sách để khuyến khích phát triển các mô hình kinh tế tuần hoàn trong cộng đồng dân cư và doanh nghiệp. Xác định rõ trong việc thực hiện phát triển kinh tế tuần hoàn thì doanh nghiệp đóng vai trò trung tâm”, ông Lộc nói.

Cập nhật thông tin chi tiết về Một Số Giải Pháp Thúc Đẩy Phát Triển Nền Kinh Tế Tuần Hoàn Tại Việt Nam trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!