Xu Hướng 12/2023 # Một Số Giải Pháp Phát Triển Làng Nghề Truyền Thống Ở Tỉnh Quảng Ninh Hiện Nay * Tóm Tắt: – Trường Đại Học Hạ Long # Top 16 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Một Số Giải Pháp Phát Triển Làng Nghề Truyền Thống Ở Tỉnh Quảng Ninh Hiện Nay * Tóm Tắt: – Trường Đại Học Hạ Long được cập nhật mới nhất tháng 12 năm 2023 trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Hiện nay, làng nghề truyền thống tại Quảng Ninh đang góp phần tạo ra công việc, thu nhập cho nhiều hộ gia đình trong tỉnh. Tuy nhiên, làng nghề cũng đang gặp phải những khó khăn, thách thức về nguồn vốn, quy mô sản xuất, thị trường hay vấn đề ô nhiễm môi trường, đầu tư công nghệ… Vì vậy, việc đưa ra một số giải pháp cụ thể sẽ giúp làng nghề truyền thống xây dựng được hướng đi hiệu quả và phát triển được trong xu hướng hội nhập quốc tế.

Th.s Lê Thanh Hoa, GV khoa Văn hóa

 1.Đặt vấn đề

 Quảng Ninh được đánh giá là một tỉnh có nhiều đột phá mạnh mẽ về các chính sách phát triển kinh tế trong cả nước. Bên cạnh đó, khi nói tới mảnh đất này, chúng ta không quên nhắc tới Quảng Ninh với nhiều giá trị văn hóa truyền thống lịch sử, danh lam thắng cảnh và những lễ hội đậm đà bản sắc dân tộc. Hiện nay, với chính sách phát triển kinh tế “chuyển từ nâu sang xanh”, tỉnh đang tập trung nghiên cứu, đầu tư các nguồn lực cho việc gìn giữ, bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của địa phương. Trong đó, việc khai thác, phát triển làng nghề truyền thống đang trở thành một hướng đi hiệu quả. Tuy nhiên, thực tế cho thấy một số làng nghề truyền thống tại Quảng Ninh hiện nay đang gặp nhiều khó khăn trong việc duy trì hoạt động, định hướng thị trường, khả năng cạnh tranh và giải pháp cho phát triển lâu dài. Đứng trước nhiều khó khăn và thách thức trên, việc đưa ra những giải pháp cụ thể sẽ giúp bảo tồn, phát huy, phát triển làng nghề truyền thống được hiệu quả hơn.

    Nội dung

    Một số khái niệm và tiêu chí công nhận làng nghề truyền thống

    Theo nghị định số 52/2023/NĐ-CP, ban hành ngày 12 tháng 4 năm 2023 về “phát triển ngành nghề nông thôn” thì nghề truyền thống và làng nghề truyền thống được hiểu như sau:

    – Nghề truyền thống là nghề đã được hình thành từ lâu đời, tạo ra những sản phẩm độc đáo, có tính riêng biệt, được lưu truyền và phát triển đến ngày nay hoặc có nguy cơ bị mai một, thất truyền.

    – Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự tham gia hoạt động ngành nghề nông thôn.

    – Làng nghề truyền thống là làng nghề có nghề truyền thống được hình thành từ lâu đời.

    Vậy từ đây, ta có thể hiểu làng nghề là 1 thiết chế kinh tế – xã hội ở nông thôn, được tạo bởi hai yếu tố “làng và nghề”, tồn tại trong một không gian địa lý nhất định. Trong đó, bao gồm nhiều hộ gia đình sinh sống từ nguồn thu chủ yếu từ nghề thủ công, giữa họ có mối liên kết về kinh tế, xã hội và văn hóa. Đa số những người hoạt động tại làng nghề thường là thủ công, tiểu thủ công nghiệp, vì thế những sản phẩm làm ra thường mang đậm dấu ấn tay nghề, óc sáng tạo của con người trong từng sản phẩm.

    Cũng căn cứ theo điều 5 của nghị định số 52/2023/NĐ-CP, các nghề truyền thống, làng nghề, làng nghề truyền thống muốn được công nhận thì phải đạt các tiêu chí sau:

    * Tiêu chí công nhận nghề truyền thống:

    a) Nghề đã xuất hiện tại địa phương từ trên 50 năm và hiện đang tiếp tục phát triển tính đến thời điểm đề nghị công nhận.

    b) Nghề tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hóa dân tộc.

    c) Nghề gắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của làng nghề.

    * Tiêu chí công nhận làng nghề:

    a) Có tối thiểu 20% tổng số hộ trên địa bàn tham gia một trong các hoạt động hoặc các hoạt động ngành nghề nông thôn quy định tại Điều 4 Nghị định này.

    b) Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 02 năm liên tục tính đến thời điểm đề nghị công nhận.

    c) Đáp ứng các điều kiện bảo vệ môi trường làng nghề theo quy định của pháp luật hiện hành.

    * Tiêu chí công nhận làng nghề truyền thống:

    Làng nghề truyền thống phải đạt tiêu chí làng nghề quy định tại khoản 3 Điều này và có ít nhất một nghề truyền thống theo quy định tại khoản 2 Điều này.

    Làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh hiện nay

    Hiện nay, tính đến cuối năm 2023, cả nước có 5.407 làng nghề đang hoạt động, trong đó số làng nghề được công nhận theo tiêu chí làng nghề hiện nay của Chính phủ là 1.748, thu hút hơn 10 triệu lao động và mang lại giá trị kim ngạch xuất khẩu khoảng 1,7 tỉ USD/năm.

    Những năm qua, sản phẩm từ các làng nghề truyền thống đã mang lại nhiều lợi nhuận, góp phần vào sự nghiệp xây dựng đất nước, nâng cao đời sống cho người dân. Không chỉ vậy, sản phẩm từ các làng nghề truyền thống còn thể hiện việc giữ gìn, bảo tồn những nét văn hóa đặc sắc của vùng miền, dân tộc. Đặc biệt, nhiều làng nghề bị thất truyền trong lịch sử thì nay đã được khôi phục, phát triển trở lại.

    Nói tới Quảng Ninh, hiện tỉnh đang có khoảng 20 làng nghề lớn nhỏ, trong đó nổi bật lên hoạt động của một số làng nghề truyền thống như: làng nghề đan ngư cụ Hưng Học tại phường Nam Hoà; đóng tàu, thuyền vỏ gỗ Cống Mương, phường Phong Hải của TX Quảng Yên; làng nghề nuôi cấy ngọc trai, đánh bắt thuỷ hải sản huyện Vân Đồn; làng nghề gốm sứ Đông Triều… Với quy mô phát triển của những làng nghề đã giúp đem lại công việc cho khoảng 15.000 lao động địa phương, chiếm khoảng 5% tổng số lao động nông thôn. Giá trị sản xuất của những làng nghề đạt bình quân trên 250 tỷ đồng/năm, chiếm tỷ trọng khoảng 29% giá trị sản xuất công nghiệp bình quân của các địa phương. Có thể nhận thấy, việc khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống đã giúp khôi phục lại không gian văn hóa làng, tạo công ăn việc làm, thu nhập ổn định cho nhiều hộ dân trong vùng.

    Bên cạnh những thành công về phát triển làng nghề thì hiện nay, các làng nghề truyền thống cũng không tránh khỏi câu chuyện gặp rất nhiều khó khăn trong cơ chế thị trường, phải cạnh tranh với nhiều sản phẩm, thương hiệu hàng hóa công nghiệp. Một số vấn đề chung mà các làng nghề truyền thống ở Quảng Ninh đang gặp như:

    – Quy mô sản xuất còn nhỏ lẻ, manh mún: Thực trạng này đang tồn tại không chỉ ở Quảng Ninh nói riêng mà các làng nghề cả nước cũng đang mắc phải. Đa số, nguồn tài chính đầu tư cho quy mô vốn chưa nhiều, chỉ mới dừng lại ở con số khiêm tốn là vài chục triệu, vài trăm triệu hoặc trên dưới vài tỉ đồng. Quy mô vốn nhỏ, làng nghề lại xuất phát phổ biến từ hộ gia đình nên quy hoạch mặt bằng sản xuất cũng không thể đầu tư lớn, mặt bằng sản xuất chật hẹp, không trang sắm được thiết bị sản xuất mới, hiện đại. Ví dụ như làng nghề đan ngư cụ Hưng Học, làng nghề đóng tàu thuyền vỏ gỗ ở Quảng Yên, làng nghề gốm sứ Đông Triều…

    Tuy nhiên, đối với làng nghề truyền thống thì việc chưa hình thành được quy mô sản xuất lớn lại đến từ một lý do khác mang yếu tố tâm lý cá nhân, đó là tâm lý sợ bị ăn cắp mẫu mã, bí quyết sản xuất khi nhân rộng việc truyền nghề cho người lao động. Vì vậy, việc truyền nghề truyền thống đôi khi chỉ dừng lại trong mối quan hệ họ hàng, huyết thống. Đây là câu chuyện cũng đòi hỏi các tổ chức quản lý và đơn vị sản xuất luôn luôn quan tâm, hiểu biết hơn về việc xây dựng và bảo hộ thương hiệu đối với sản phẩm.

    – Công nghệ sản xuất chưa hiện đại: Hiện nay, các làng nghề truyền thống ở Quảng Ninh chủ yếu sản xuất thủ công bằng tay, các thiết bị máy móc đơn giản và hầu như cập nhật chậm chạp yếu tố công nghệ vào sản xuất. Ví dụ như làng nghề gốm sứ Đông Triều, với đặc thù là các sản phẩm đôn, chậu, lục bình… to, lớn nên phải nung ở nhiệt độ cao tuy nhiên, đến nay các hộ gia đình, doanh nghiệp vẫn sử dụng công nghệ sản xuất cũ là đốt bằng lò bầu, dùng chất đốt than, củi. Trên địa bàn hiện chỉ có Công ty TNHH Quang Vinh nổi bật nhất khi đã nghiên cứu và được Bộ Khoa học và Công nghệ phê duyệt Dự án “Hoàn thiện quy trình công nghệ và dây chuyền thiết bị sản xuất gốm sứ mĩ nghệ cao cấp ở quy mô công nghiệp”.

    – Doanh nghiệp, cơ sở sản xuất chưa được hưởng chế độ, chính sách ưu đãi trong việc tiếp cận nguồn vốn, mở rộng quy hoạch sản xuất. Đây là vấn đề đang tồn tại ở các làng nghề truyền thống như đóng tàu thuyền ở Quảng Yên, gốm sứ Đông Triều và nhiều làng nghề khác.

    – Sản phẩm chưa đa dạng về mẫu mã, kiểu dáng; hoạt động marketing còn hạn chế. Có thể thấy, các sản phẩm của làng nghề truyền thống chủ yếu được sản xuất thủ công, khá đơn điệu và lặp đi lặp lại kiểu những kiểu dáng mẫu mã truyền thống, chưa tạo nên sự sáng tạo, mới lạ. Ví dụ như mặt hàng gốm sứ Đông Triều chủ yếu vẫn là đôn, chậu cảnh, bình, lư..; làng nghề ngư cụ Hưng Học là lờ, đó, dậm hoặc thuyền nan; đến như làng nghề ngọc trai ở Vân Đồn với cơ sở sản xuất hiện đại cũng đang xuất khẩu thô sản phẩm vớí giá trị kinh tế chưa cao. Và hiện nay, một thực tế để có thể tăng nhanh đầu ra cho sản phẩm chính là hoạt động marketing thì các làng nghề truyền thống cũng ít quan tâm hoặc làm chưa tới. Hầu hết, việc sản xuất gói gọn trong nhu cầu sinh hoạt sử dụng, doanh nghiệp chưa đầu tư cho việc nghiên cứu thị trường, cải tiến mẫu mã, đa dạng sản phẩm, giá cả và xây dựng kế hoạch marketing phù hợp.

    – Môi trường sản xuất ô nhiễm: Môi trường là vấn đề nhức nhối hiện nay ở tất cả các cơ sở sản xuất làng nghề. Câu chuyện chưa quy hoạch được địa bàn sản xuất và ý thức kém của mỗi hộ dân lao động đều ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường. Có thể kể đến làng nghề đóng tàu thuyền gỗ ở Quảng Yên, làng nghề gốm sứ ở Đông Triều hiện nay vẫn sử dụng phương thức sản xuất truyền thống nên ảnh hưởng lớn đến môi trường xung quanh. Nếu người dân hoặc khách tham quan đi đến gần nơi sản xuất của làng nghề sẽ thấy rất nhiều hình ảnh của khói bụi, rác sản xuất, nguồn nước ô nhiễm. Quảng Ninh là một tỉnh có nguồn tài chính đầu tư mạnh về yếu tố công nghệ cho việc bảo vệ môi trường tuy nhiên, hoạt động của các làng nghề truyền thống hiện nay cũng đang ảnh hưởng chung đến hình ảnh du lịch của tỉnh. Vì vậy, các cấp quản lý và hộ sản xuất cũng phải nghiên cứu, tìm giải pháp bảo vệ môi trường làng nghề truyền thống khẩn trương để không gặp câu chuyện đau lòng như ở Nghệ An, 67 làng nghề được liệt kê trong danh sách những làng nghề không khuyến khích tiếp tục phát triển trong thời gian tới.

    Giải pháp cho phát triển làng nghề truyền thống của tỉnh trong giai đoạn hiện nay

    Quảng Ninh là địa phương có số lượng làng nghề truyền thống ít so với các tỉnh, thành phố trong cả nước. Tuy nhiên, số lượng ít nhiều không quan trọng mà trên hết là cần tạo hướng đi, phát triển bền vững cho các làng nghề truyền thống để đem lại công việc, thu nhập, phát triển kinh tế chung cho toàn tỉnh. Đứng trước những thực trạng của làng nghề truyền thống hiện nay, chúng ta nên tập trung vào một số hướng giải pháp sau:

    – Tuyên truyền, giáo dục để người dân hiểu được vai trò của việc kế thừa, phát triển nghề truyền thống là nhiệm vụ, trách nhiệm các cá nhân, cộng đồng trong việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc. Đặc biệt là đối tượng thanh thiếu niên, khi các em không còn sự yêu thích, đam mê với các công việc tay chân truyền thống thì càng cần phải tuyên truyền cho các em hiểu được ý nghĩa, mục đích tốt đẹp của hoạt động truyền nghề. Điều này không chỉ góp phần tạo nên sự đa dạng, phong phú cho các giá trị văn hóa địa phương mà còn tạo công việc, thu nhập, phát triển kinh tế cho cộng đồng nhân dân.

    – Mở các lớp dạy nghề, các lớp đào tạo về kĩ năng, công nghệ của người lao động tiếp cận, học hỏi, chia sẻ kinh nghiệm sản xuất. Hiện nay, hầu hết lao động ở các làng nghề là lao động phổ thông, được truyền nghề từ các nghệ nhân lớn tuổi nên đôi khi tính hội nhập chưa được phát huy. Vì vậy, việc mở các lớp đào tạo về thiết kế, marketing doanh nghiệp, kĩ năng bán hàng, ứng dụng công nghệ… là điều vô cùng cần thiết trong thời kì công nghiệp 4.0.

    – Đa dạng mẫu mã, sản phẩm, chất lượng làng nghề để kích thích, thu hút khách hàng mua sản phẩm. Để có thể làm được việc này thì các làng nghề truyền thống phải thường xuyên học hỏi, tích lũy kinh nghiệm, kiến thức, kĩ năng để sáng tạo ra nhiều hàng hóa bền đẹp, đa dạng kiểu cách. Hiện nay, hầu hết các sản phẩm tại làng nghề Quảng Ninh chưa được đầu tư thiết kế, làm mới sản phẩm hay tạo ra những sản phẩm khác biệt, hấp dẫn người mua mà chủ yếu là cách sản xuất truyền thống, mẫu mã truyền thống, hay xuất khẩu thô với giá trị chưa cao. Vì vậy, việc kết hợp giữa truyền thống và hiện đại trong 1 sản phẩm để đáp ứng được nhu cầu khách hàng là điều rất cần thiết.

    – Nâng cao hiểu biết và ứng dụng marketing vào việc tiêu thụ sản phẩm. Giải pháp này có lẽ không mới đối với các làng nghề truyền thống nhưng việc hiểu và ứng dụng, làm tốt các bước trong hoạt động marketing thì các doanh nghiệp truyền thống đang rất vụng về. Và có thể, một số doanh nghiệp, hộ dân cũng chưa quan tâm tới hoạt động này vì hiện tại, sản phẩm vẫn đang tiêu thụ được hoặc tiêu thụ chậm và đầu tư nguồn tài chính cho marketing cũng tốn kém nên họ không làm để bảo toàn nguồn vốn của mình. Vậy nên, bản thân chính quyền, doanh nghiệp, hộ dân cần tìm hiểu và thấy được vai trò vô cùng quan trọng của marketing để kích thích tiêu thụ.

    – Xây dựng và phát triển làng nghề truyền thống thành thương hiệu sản phẩm hàng hóa và thương hiệu du lịch của tỉnh. Việc làm này giúp cho du khách khi đến với Quảng Ninh, họ sẽ không chỉ biết đến Vịnh Hạ Long, Chùa Yên Tử, Ẩm thực hấp dẫn… mà còn biết tới Quảng Ninh với các giá trị văn hóa làng nghề độc đáo, đặc sắc của vùng biển Đông Bắc. Ví dụ như các làng nghề ở Quảng Nam, làng nghề ở Hà Nội, làng nghề, làng nghề ở Thành phố Hồ Chí Minh. Tâm lý chung của khách du lịch và đặc biệt là khách du lịch nước ngoài rất thích tìm hiểu, khám phá các giá trị văn hóa độc đáo tại nơi tham quan. Và làng nghề truyền thống sẽ là một kênh kết nối hiệu quả cho sự phát triển của du lịch tỉnh.

    – Hoạt động sản xuất song song với hoạt động bảo vệ môi trường làng nghề truyền thống. Môi trường là câu chuyện trăn trở, bức xúc của tất cả các làng nghề ở Việt Nam hiện nay và tỉnh Quảng Ninh cũng rất lo lắng cho câu chuyện ô nhiễm tại các làng nghề truyền thống. Bởi vậy, đi đôi với hoạt động sản xuất, các doanh nghiệp, hộ dân cũng cần có ý thức bảo vệ môi trường làm việc và môi trường cộng đồng xung quanh. Từ đó góp phần tạo nên không gian làng nghề an toàn cho mọi người cùng phát triển sản xuất và đồng thời, cơ hội giới thiệu, quảng bá cho làng nghề truyền thống sẽ đạt hiệu quả hơn.

      Kết luận

      Tóm lại, xây dựng và phát triển làng nghề truyền thống là một việc làm cần thiết và chung tay của các cấp chính quyền và cộng đồng xã hội. Việc làm này không chỉ giúp bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của địa phương mà đồng thời, nó cũng tạo ra nguồn thu kinh tế cho tỉnh. Vì vậy, trong bất kì chính sách nào ban hành về hoạt động sản xuất ở giai đoạn hiện nay cũng cần quan tâm, hỗ trợ nhiều hơn để người lao động luôn tự hào, tâm huyết với nghề và phát triển được kinh tế gia đình bằng nghề truyền thống.

      Phạm Bích Huyền-Đặng Hoài Thu (2014), Các ngành Công nghiệp Văn hóa, Nxb Lao động, Hà Nội.

      Nguyễn Thị Lan Thanh (2012), Marketing văn hóa nghệ thuật, NXB Lao Động, Hà Nội.

      Kế thừa và phát huy thương hiệu gốm Đông Triều, (2009), Báo Quảng Ninh – số 7257 – ngày 29/04/2009.

      Lịch sử hình thành huyện Đông Triều – Quảng Ninh (1995), Quảng Ninh.

      Nguyễn Đức Tý (2006), Kinh tế xã hội Quảng Ninh, Sở Văn hoá thông tin, Quảng Ninh.

      Bùi Văn Vượng (2002), Làng nghề truyền thống Việt Nam, Nxb Văn hóa thông tin.

      Báo Quảng Ninh (2023), Hướng đi nào cho bảo tồn và phát huy giá trị các làng nghề truyền thống, http://baoquangninh.com.vn, truy cập ngày 10/4/2023.

      Báo Quảng Ninh (2023), Giải pháp phát triển bền vững làng nghề truyền thống, http://baoquangninh.com.vn, truy cập ngày 10/4/2023.

      Báo Nhân dân (2023), Phát triển nuôi cấy ngọc trai thành ngành công nghiệp, http://www.nhandan.com.vn, truy cập ngày 08/4/2023.

      Các Giải Pháp Nhằm Phát Triển Làng Nghề Truyền Thống Ở Tỉnh Hà Nam

      1.Mở rộng thị trường tiêu thụ.

      Thị trường là vấn đề sống còn quyết định sự thành bại của các làng nghề. Thực tiễn, những cơ sở, những làng nghề đẩy mạnh và phát triển sản xuất đều là những nơi giải quyết tốt được đầu ra. Trong những năm gần đây, thị trường xuất khẩu sang các nước, vùng lãnh thổ như: Hàn Quốc, Đài Loan, Singapo, Nhật Bản và một số nước Tây Âu đã được khai thông, song nhìn chung vẫn chưa tạo lập được các thị trường ổn định và lâu dài. Hầu hết các cơ sở sản xuất vẫn phải tự thân lo liệu tìm kiếm thị trường.

      Những hạn chế lớn về thị trường đặc biệt là thị trường tiêu thụ sản phẩm đang là nguyên nhân chủ yếu làm giảm tốc độ phát triển của các ngành nghề. Phát triển thị trường ở đây phải căn cứ vào nhiều yếu tố như: Thu nhập của người dân, nhu cầu đối với sản phẩm hiện tại và trong tương lai, cũng như mẫu mã, giá thành sản phẩm… Gắn kết sản phẩm với thị trường là một trong những nội dung quan trọng nhất của chiến lược thị trường. Phát triển thị trường đầu vào (lao động, thông tin, khoa học công nghệ, nguyên vật liệu…) và thị trường sản phẩm cho các làng nghề. Hiện nay doanh nghiệp Nhà nướcbỏ ngỏ thị trường cho các làng nghề, đang để tư thương thao túng. Cần phát triển đa dạng các thành phần kinh tế hoạt động trên thị trường này trong đó nêu cao vai trò của thương nghiệp Nhà nước. Thông qua các hình thức gia công, đặt hàng và hợp tác sản xuất giữa các doanh nghiệp ở thành thị với các cơ sở kinh doanh ở nông thôn để tạo thị trường lớn và ổn định cho các ngành nghề.

      Tóm lại, để giải quyết tốt vấn đề thị trường cho các ngành nghề truyền thống cần phải có sự nỗ lực từ hai phía, đó là các cơ quan chức năng và các đơn vị sản xuất kinh doanh.

      – Đối với các cơ quan chức năng.

      Thứ nhất: Thường xuyên tổ chức hội chợ (trong và ngoài nước), hàng năm dành một phần ngân sách cho hoạt động này. Các huyện, thị nen dành vị trí thuận lợi để tổ chức các trung tâm, các cửa hàng bán và giới thiệu sản phẩm của các ngành nghề.

      Thứ hai: Tổ chức thông tin, dự báo thị trường tiêu thụ sản phẩm chống ép giá. Sở Thương mại chủ trì phối hợp với các cơ quan quản lý chuyên ngành và các đơn vị sản xuất để có biện pháp cùng nhau tháo gỡ những mướng mắc về thị trường. Tỉnh nên tạo điều kiện cho các đơn vị sản xuất có đủ năng lực được phép xuất khẩu trực tiếp hạn chế các khâu trung gian.

      Thứ ba: Tỉnh cần có chính sách thông thoáng tạo điều kiện cho việc thành lập các cơ sở chuyên nghề ở nông thôn. Thực tế cho thấy, các cơ sở ngành nghề rất nhanh nhạy trong việc mở rộng tìm kiếm thị trường. Ngành nghề phát triển tạo điều kiện cho các doanh nghiệp ra đời ngược lại chính các doanh nghiệp đã thúc đẩy các hoạt động ngành nghề phát triển trong thời gian vừa qua.

      Thứ tư: Cần thực hiện chính sách bảo hộ hợp lý sản xuất của các ngành nghề, lành mạnh hoá thị trường trong cả nước. Các ngành công an, hải quan, quản lý thị trường cần có biện pháp kiên quyết chống buôn lậu, làm hàng giả và gian lận thương mại.

      -Đối với các đơn vị sản xuất ngành nghề.

      Thứ nhất: Nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ nhất là cán bộ nghiên cứu thị trường để có được những thông tin nhanh nhất, chính xác nhất về thị trường đặc biệt là thị trường xuất khẩu. Phải chú ý nghiên cứu khai thác các thị trường ngách, phát triển quan hệ gia công cho các doanh nghiệp lớn ở thành thị. Xây dựng một mạng lưới phân phối sản phẩm rộng khắc chú ý tập trung vào các thành phố lớn như: Hà Nội, Hải Phòng…. vì ở đây có sức mua lớn.

      Thứ hai: Chủ động, tích cực thực hiện các biện pháp nâng cao chất lượng, cải tiến mẫu mã sản phẩm, đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất ngành nghề.

      Thứ ba: Cùng với kế hoạch tiêu thụ cũng cần quan tâm tới việc bảo đảm nguồn vật tư ổn định lâu dài tại địa phương. Một nguồn nguyên liệu sẵn có tại chỗ, có chất lượng chắc chắn sẽ tạo ra được những sản phẩm có sức cạnh tranh cao trên thị trường. Mối quan hệ giữa người cung cấp nguyên liệu và người sản xuất cũng phải củng cố theo nguyên tắc đôi bên cùng có lợi.

      2 Đổi mới trang thiết bị và công nghệ sản xuất

      Qua thực tế cho thấy trang thiết bị, công cụ sản xuất đối với các ngành nghề nhìn chung là thô sơ và đơn giản, dùng nhiều sức lao động nên có ưu điểm tận dụng được nhân công rẻ giá thành hạ. Chỉ đổi mới công nghệ sản xuất mới giúp các ngành nghề nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh trên thị trường, mới giúp cho các làng nghề đứng vững và cạnh tranh được với hàng công nghiệp thành thị. Nhưng cũng cần lưu ý rằng việc đổi mới thiết bị và công nghệ mới phải kết hợp chặt chẽ với công nghệ truyền thống thì mới giữ được nét đặc sắc của sản phẩm.

      Để giúp cho các cơ sở sản xuất có thể đổi mới thiết bị và công nghệ ngoài sự hỗ trợ về vốn để người sản xuất có điều kiện đầu tư mua sắm trang thiết bị Nhà nước cần có sự hỗ trợ trong việc nghiên cứu hoàn thiện công nghệ mới, chế tạo máy móc thiết bị mới hướng dẫn cung cấp thông tin về thiết bị công nghệ ngoại nhập, để người sản xuất có điều kiện chon lọc cho phù hợp.

      Tổ chức các trung tâm tư vấn chuyển giao công nghệ và các hoạt động hỗ trợ về mặt kỹ thuật và công nghệ cho các ngành nghề truyền thống. Các trung tâm này sẽ tư vấn cho các làng nghề nên sử dụng công nghệ gì, đổi mới ở khâu nào, sử dụng kỹ thuật ra sao … để giúp các làng nghề có thể áp dụng công nghệ thích hợp vào sản xuất nhằm nâng cao năng suất chất lượng sản phẩm .

      Môi giới tổ chức khâu nối các quan hệ hợp tác giữa làng nghề với các cơ quan nghiên cứu khoa học để giải quyết các vấn đề thực tiễn đặt ra. Cần khuyến khích mối quan hệ chắt chẽ giữa những cơ sở nghiên cứu với các làng nghề. Đồng thời trong mối quan hệ này cũng cần tạo ra sự liên kết trao đổi thông tin công nghệ giữa các làng nghề với các hình thức tổ chức thích hợp để liên kết chính ngay những người sản xuất trong các làng nghề với nhau.

      Tuy vậy, cần phải căn cứ vào từng điều kiện cụ thể của từng ngành nghề để lựa chọn phương hướng đổi mới công nghệ cho phù hợp. Cần phải đổi mới công nghệ ở cả phần cứng và phần mềm. Có nghĩa là song song với việc nhập máy móc thiết bị, cần phải nâng cao khả năng tiếp thu sử dụng thiết bị cho người lao động. Trong đổi mới công nghệ nên theo hướng lựa chọn những công nghệ thích hợp là chủ yếu.

      Cùng với các hoạt động nhằm đổi mới hoặc cải tiến công nghệ sản xuất, các cơ sở ngành nghề phải kết hợp chặt chẽ với các cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương để có biện pháp xử lý tình trạng ô nhiễm một cách tốt nhất.

      3. Giải pháp phát triển nguồn nhân lực cho ngành nghề

      Để có thể vừa tăng nhanh về số lượng vừa nâng cao được trình độ kỹ thuật tay nghề cho người lao động đáp ứng yêu cầu mở rộng phát triển sản xuất của các làng nghề, đòi hỏi trước hết Nhà nước cần phải mở rộng quy mô đào tạo và đa dạng các hình thức dạy nghề thành lập các trường dạy nghề truyền thống ở bậc Cao đẳng nhằm tạo ra được một đội ngũ những người quản lý những cố vấn kỹ thuật những giám đốc doah nghiệp nhỏ trong các làng nghề. Thành lập các viện nghiên cứu về nghề truyền thống, tổ chức các dịch vụ tư vấn giúp đỡ các cơ sở về mặt kỹ thuật, quản lý kinh doanh, xuất nhập khẩu hoặc pháp luật.

      Hàng năm tỉnh nên dành một phần kinh phí đầu tư phát triển để hỗ trợ cho việc đào tạo dạy nghề. Tuỳ theo từng trường hợp cụ thể có thể dùng các hình thức sau đây:

      – Các trung tâm tự dạy nghề do tư nhân tự mở lớp, đào tạo nghề cho những người có nhu cầu.

      – Khuyến khích các nghệ nhân thợ giỏi dạy nghề, truyền nghề.

      – Các hiệp hội nghề nghiệp có thể tổ chức ra các trường lớp đào tạo về kỹ thuật quản lý ở trình độ cao nhằm tạo ra những người có trình độ sản xuất kinh doanh giỏi, có khả năng tiếp nhận những nghề mới, cải tiến nghề truyền thống làm hạt nhân cho các làng nghề ở những vùng thuần nông nên lựa chọn hình thức thích hợp để “cấy nghề”. Hướng phát triển nghề là là dạy cho một số hộ làm điểm sáng để lôi kéo những hộ khác trong làng làm theo theo nguyên lý “vết dầu loang”.

      – Đối với những nghệ nhân là những người tâm huyết với nghề nắm vững bí quyết và kỹ thuật sản xuất phải có chính sách ưu đãi đặc biệt. Hàng năm hoặc vài năm cần tổ chức xét và công nhận trao tặng danh hiệu cao quý tôn vinh nghề nghiệp cũng như thưởng vật chất xứng đáng cho những người thợ giỏi, nghệ nhân, những nhà kinh doanh có tài làm ra nhiều sản phẩm có chất lượng cao xuất khẩu nhiều cũng như những người có phát minh sáng kiến cải tiến máy móc thiết bị công nghệ sản xuất, góp phần nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm.

      – Nâng cao trình độ văn hoá cho dân cư trong toàn tỉnh nói chung và các làng nghề nói riêng. Cần nghiên cứu kết hợp dạy văn hoá với dạy nghề ở những năm học cuối cấp II,III sao cho họ có thể sống được bằng nghề đó khi thôi không đi học.

      – Tăng cường công tác đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý sản xuất kinh doanh các chủ cơ sở ngành nghề nhất là kiến thức về thị trường.

      4. Giải pháp về vốn

      Với quy mô sản xuất nhỏ như hiện nay, vốn đầu tư sản xuất cho các ngành nghề không lớn nhưng việc đầu tư đổi mới công nghệ nâng cao chất lượng sản phẩm rất khó khăn. Để có vốn sản xuất kinh doanh thì người sản xuất phải dám mạnh dạn vay vốn, phải có phương án kinh doanh khả thi, có lãi đó là điều quan trong nhất. Như vậy, vốn đầu tư cho các ngành nghề có thể huy động từ các nguồn sau:

      Thứ nhất, huy động vốn tự có của người lao động, theo thống kê hiện nay mức huy động vốn nhàn rối trong dân mới chỉ đạt 36%. ở những làng, xã nghề tuy mức huy động cao hơn song ta có thể thấy rằng vẫn còn một lượng rất lớn vốn nhàn rỗi chưa được huy động ở nông thôn. Vấn đề ở đây là phải tạo được niền tin để thu hút nguồn vốn tồn đọng đó đầu tư vào sản xuất kinh doanh.

      Thứ hai, có thể đi vay từ các tổ chức tín dụng, các quỹ hỗ trợ của Nhà nước. Mở rộng hệ thống dịch vụ tín dụng cho khu vực nông thôn tổ chức các quỹ tín dụng chuyên doanh phục vụ phát triển TTCN nông thôn. Hàng năm tỉnh nên có kế hoạch dành một phần vốn nhất định từ nguồn vốn đầu tư phát triển cho vay với lãi suất ưu đãi cho các cơ sở sản xuất TTCN trong các làng nghề mới khôi phục…

      Đơn giản hoá thủ tục cho vay vốn của các ngân hàng, các quỹ tín dụng hiện nay, các thủ tục cho vay vốn còn nhiều phiền hà tốn nhiều thời gian. Trong các làng nghề, nên phát triển hình thức cho vay qua các tổ chức đoàn thể ở địa phương, thực tế cho thấy đây là mô hình cho vay có hiệu quả. Các ngân hàng thương mại và các quỹ đầu tư phát triển cần phải nâng cao trách nhiệm và tạo điều kiện cho các cơ sở, hộ gia đình làm nghề vay vốn để phát triển sản xuất trên cơ sở thẩm định hiệu quả của các dự án.

      Giải pháp cuối cùng rất quan trọng là Nhà nước cần tạo lập môi trường kinh tế vĩ mô ổn định mà trưóc hết là “hâm nóng lại nền kinh tế ” tạo niềm tin cho các nhà đầu tư. Ngoài việc tăng thêm vốn đầu tư của Ngân sách nhà nước, nguồn vốn tín dụng hỗ trợ cho các cơ sở sản xuất, cần tranh thủ sự đầu tư giúp đỡ của các tổ chức quốc tế qua các dự án đầu tư phát triển nông nghiệp nông thôn.

      5. Nhà nước cần hỗ trợ các làng nghề trong việc giải quyết tình trạng ô nhiễm môi trường

      Sự phát triển sản xuất của các làng nghề đã và đang làm ảnh hưởng xấu tới môi trường sinh thái ở nông thôn. Không giống như các cơ sở công nghiệp thành thị chúng ta không thể chỉ dùng biện pháp hành chính để sử lý tình trạng ô nhiễm mà trước hết phải tuyên truyền giáo dục cho người dân hiểu để cùng hợp tác tìm biện pháp giải quyết. Thông thường trong các làng nghề chỉ một vài công đoạn có gây ra ô nhiễm vd: làng dệt Nhật Tân, Hoà Hậu thì gây ô nhiễm chủ yếu ở khâu tẩy, nhuộm còn làng Thanh Hà thì chủ yếu ở khâu nhuộm, in. Tình trạng ô nhiễm hiện nay chủ yếu do công nghệ sử dụng thủ công quá lạc hậu chính. Mặc dù vậy, trong điều kiện còn nhiều hạn chế các biện pháp ít phức tạp, đỡ tốn kém như đưa nguồn nước thải ra ngoài cánh đồng, xử lý nguồn nước ô nhiễm qua các ao hồ bằng phương pháp tự nhiên vẫn được coi trọng. Tuy nhiên, khả năng đồng hoá chất thải của tự nhiên chỉ có giới hạn, biện pháp lâu dài và chủ yếu là phải xây dựng được hệ thống công trình sử lý chất thải ở trong từng địa phương. Trong đổi mới công nghệ ưu tiên lựa chọn công nghệ ít gây ô nhiễm.

      6. Hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật tạo môi trường lành mạnh cho các ngành nghề tồn tại và phát triển

      Đầu tư xây dựng phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn, nâng cao chất lượng của hệ thống giao thông, điện, nước, thông tin liên lạc

      Cần có chính sách miễn giảm thuế cho những cơ sở ngành nghề nông thôn mới được thành lập, hoặc mới được khôi phục tuỳ thuộc vào loại nghề loại sản phẩm. Cần có biện pháp khuyến khích các chủ đầu tư người thành phố hoặc ngươi nước ngoài bỏ vốn đầu tư cho công nghiệp nông thôn

      Chính quyền địa phương tạo điều kiện thuận lợi cho cho việc thuê đất để phát triển ngành nghề nông thôn, giải quyết việc làm cho người lao động

      Quy hoạch, xây dựng và thực hiện các chương trình tổng quan phát triển nghề và làng nghề ở nông thôn trong thời kỳ dài cho toàn tỉnh, cho từng làng nghề

      Cần nâng cao vai trò, năng lực của đội ngũ cán bộ ở các xã vì thực tế cho thấy đây là lực lượng có quyết định rất lớn tới sự phát triển của các làng nghề nhất là việc tiếp thu nghề mới.

      biện pháp phát triển nghề truyền thống

      làm gì để phát triển nghề truyền thốmg

      ,

      Một Số Giải Pháp Bảo Tồn Và Phát Triển Làng Nghề Truyền Thống Trong Công Cuộc Đổi Mới

      Những năm đổi mới, nhất là từ khi Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu sụp đổ, thị trường truyền thống của các làng nghề bị thu hẹp, sự tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã tác động mạnh mẽ tới hoạt động sản xuất, kinh doanh của các làng nghề. Mặt khác, những sản phẩm công nghiệp và hàng hoá ngoại nhập đang chiếm ưu thế đối với các sản phẩm thủ công bởi sự đa dạng về mẫu mã, sự tiện dụng và giá cả cạnh tranh, vì vậy một số làng nghề đã bị mai một, thậm chí thất truyền.

      Để bảo tồn và phát triển các làng nghề đạt kết quả tốt, Đảng, Nhà nước và chính quyền các cấp luôn quan tâm lãnh đạo, tạo điều kiện thuận lợi cho các làng nghề phát triển. Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương (khoá X), về Nông nghiệp, nông dân và nông thôn đã nêu rõ những thuận lợi và khó khăn có tác động trực tiếp đến quá trình xây dựng nông thôn mới hiện nay. Nghị quyết xác định cần phải thực hiện “đẩy mạnh sản xuất tiểu thủ công nghiệp, triển khai chương trình bảo tồn và phát triển làng nghề”.

      Trước yêu cầu hội nhập ngày càng sâu rộng của nền kinh tế đất nước, sự quan tâm lãnh đạo của Đảng, sự điều hành của chính quyền các cấp và những nỗ lực cố gắng của mỗi làng nghề, hoạt động sản xuất kinh doanh của các làng nghề đã dần đi vào ổn định và có bước phát triển mới. Các làng nghề đã chủ động bồi dưỡng nguồn nhân lực, tập trung đầu tư vốn, công nghệ nhằm đổi mới mẫu mã, nâng cao chất lượng sản phẩm, mở rộng thị trường trong nước và từng bước thâm nhập thị trường nước ngoài. Các làng nghề đã giải quyết việc làm tại chỗ và tạo thu nhập ổn định cho hàng triệu lao động ở khu vực nông thôn, góp phần xóa đói giảm nghèo, gắn kết cộng đồng các cư dân trong làng xã; giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và giải quyết tình trạng di dân tự do vào các đô thị lớn. Một số ngành nghề có xu hướng phát triển mạnh như: gốm sứ, điêu khắc, khảm trai, thêu ren, mây tre đan, da giầy, kim hoàn,… Chỉ tính riêng trên địa bàn Hà Nội năm 2009, giá trị sản xuất của các làng nghề chiếm 10% và năm 2010 tăng lên 12% tổng giá trị sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp toàn thành phố. Có những làng nghề đạt doanh thu hàng trăm tỉ đồng mỗi năm như: Làng gốm Bát Tràng, Làng lụa Vạn Phúc, Làng nghề dệt kim và bánh kẹo La Phù… Tiềm năng và sự đóng góp của các làng nghề với phát triển kinh tế – xã hội, nhất là địa bàn nông thôn là rất lớn.

      Mặc dù vậy, việc bảo tồn và phát triển các làng nghề truyền thống vẫn còn một số hạn chế do nhiều nguyên nhân, chủ yếu là: Khả năng tiếp thị, nắm bắt thịtrường của các làng nghề chưa tốt; việc chuyển giao công nghệ và cải tiến mẫu mã còn chậm; khả năng cạnh tranh trên thị trường của các sản phẩm làng nghề còn nhiều bất cập do mới chỉ tập trung sản xuất các mặt hàng tinh xảo; vấn đề đào tạo nguồn nhân lực chưa được quan tâm đúng mức; việc tiếp cận các nguồn vốn cho sản xuất của các doanh nghiệp nhỏ còn khó khăn; giải quyết tình trạng ô nhiễm môi trường chưa tốt; kết cấu hạ tầng thiếu đồng bộ và chưa được quan tâm giải quyết hợp lý... Năm 2010 có trên 20% số doanh nghiệp làng nghề bị phá sản, số còn lại đang gặp rất nhiều khó khăn.

      Bảo tồn và phát triển các làng nghề truyền thống là yêu cầu khách quan, cấp bách và có ý nghĩa quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội và xây dựng nông thôn mới. Trong thời gian tới, để bảo tồn và phát triển các làng nghề cần tập trung một số vấn đề cơ bản sau:

      Một là, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng đối với quá trình bảo tồn, phát triển các làng nghề truyền thống. Sự lãnh đạo đúng đắn của các cấp uỷ đảng là nhân tố có ý nghĩa quyết định hàng đầu đến thắng lợi trong quá trình thực hiện bảo tồn, phát triển các làng nghề. Định hướng phát triển cần phải xuất phát từ đặc điểm tình hình cụ thể của mỗi địa phương, mỗi làng nghề, gắn với sự phát triển chung của các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, du lịch,... Các tổ chức cơ sở đảng phải coi đây là một trong những nhiệm vụ chính trị trung tâm, là tiêu chí cơ bản để đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ lãnh đạo của mỗi tổ chức đảng. Các cấp ủy đảng phân công các đồng chí cấp ủy có trình độ, có tâm huyết theo dõi, chỉ đạo hoạt động sản xuất – kinh doanh của các làng nghề. Kịp thời phát hiện và đề xuất với cấp có thẩm quyền giải quyết dứt điểm những vướng mắc, khó khăn nảy sinh trong quá trình sản xuất – kinh doanh của các làng nghề. Các tổ chức cơ sở đảng quan tâm, chăm lo bồi dưỡng, phát triển đảng viên mới hướng vào những quần chúng ưu tú, giỏi nghề và yêu nghề trong các làng nghề. Thực tế cho thấy, địa phương nào tổ chức đảng thường xuyên được củng cố, có chủ trương lãnh đạo bảo tồn, phát triển làng nghề sát đúng, ở đó các làng nghề truyền thống phát triển tốt, bộ mặt nông thôn được cải thiện, góp phần tăng cường sự tin tưởng, gắn bó của nhân dân vào cấp ủy và chính quyền địa phương; mối quan hệ giữa nông nghiệp, nông dân và nông thôn được củng cố vững chắc.

      Ba là, bảo tồn và phát triển các làng nghề truyền thống phải kết hợp chặt chẽ với các loại hình du lịch làng nghề, du lịch sinh thái. Thực tế cho thấy, ở một số nước trong khu vực như Thái Lan, Malaixia,… du lịch làng nghề đã có từ rất sớm và phát triển mạnh. Việt Nam là một quốc gia gắn liền với nền văn minh nông nghiệp lúa nước, với kết cấu cộng đồng làng xã trong đó còn lưu giữ được các địa tầng văn hoá, phong tục tập quán đặc sắc, những nét đặc trưng của văn hoá người Việt; nổi bật là các làng nghề thủ công truyền thống. Chính vì vậy, tiềm năng du lịch làng nghề ở Việt là rất lớn, song vẫn còn là một lĩnh vực khá mới mẻ cần được quan tâm đầu tư phát triển.

      Ở Việt , nhiều địa phương, nhiều vùng miền có làng nghề truyền thống, có nơi không chỉ là làng nghề mà là cả xã làm nghề. Nhiều làng nghề nổi tiếng gắn với những sản phẩm đặc sắc, mang đậm văn hoá, tâm hồn và nét tài hoa của người Việt như: thêu ren, trạm khảm, đúc đồng,… Đặc biệt, có những làng nghề tồn tại gắn liền với sự phát triển của các làng Việt cổ, hay các di tích lịch sử, khu du lịch như: Làng Việt cổ Đường Lâm – Sơn Tây với nghề làm cỏ tế; Làng thêu Gia Phúc – Hà Nội với những sản phẩm nổi tiếng từ thời phong kiến như tranh thêu tiến Vua, nằm sát ngôi chùa Đậu nổi tiếng; Làng dệt thổ cẩm và kim hoàn Cát Cát – Sa Pa…Những thế mạnh đó đã được các địa phương khai thác, biến du lịch làng nghề trở thành một hoạt động kinh tế hiệu quả và mang lại nguồn thu ngân sách cho địa phương. Song thực tế vẫn chưa tương xứng với tiềm năng của các làng nghề. Trong chiến lược phát triển du lịch của cả nước và của mỗi địa phương cần quan tâm thích đáng đối với việc đẩy mạnh phát triển các loại hình du lịch làng nghề. Việc quy hoạch xây dựng các cụm làng nghề theo hướng trên cùng một địa phương có thể cùng tồn tại nhiều loại hình sản xuất khác nhau để không chỉ phát huy thế mạnh hiện có, mà còn giúp cho du khách tham quan được nhiều ngành nghề trong khi chỉ cần tham quan một xã, thậm chí là một làng. Ngay trong mỗi làng nghề cần ưu tiên xây dựng cơ sở hạ tầng, các khu trưng bày, các công trình văn hoá, xây dựng các hộ gia đình nghệ nhân tiêu biểu thành các điểm đón khách; đảm bảo an ninh trật tự và an toàn xã hội; tăng cường giáo dục nâng cao nhận thức và văn hoá giao tiếp cho người dân ở làng nghề khi tiếp xúc với các du khách. Giải quyết tốt việc chia sẻ lợi ích từ du lịch cho mọi người dân.

      Bốn là, đổi mới cơ chế, chính sách để huy động các nguồn lực và tăng cường ứng dụng, chuyển giao công nghệ trong sản xuất tại các làng nghề. Trước yêu cầu ngày càng cao của thị trường nội địa và xuất khẩu, sự cạnh tranh của các mặt hàng nhập khẩu, sản phẩm của các làng nghề cần được đổi mới cả về chất lượng, mẫu mã, hạ giá thành sản phẩm, từ đó đòi hỏi các làng nghề phải tăng cường ứng dụng, đổi mới công nghệ sản xuất, quan tâm đến công tác đào tạo nguồn nhân lực có tay nghề cao và giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường. Chính vì vậy, việc tiếp cận các nguồn lực tài chính hỗ trợ sản xuất là rất cần thiết đối với các làng nghề. Hiện nay, Nhà nước đã ban hành cơ chế, chính sách và các ưu đãi về vốn vay, thuế cho phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, song vẫn thiếu đồng bộ, chưa thực sự tạo ra hành lang pháp lý thuận lợi cho các doanh nghiệp và các hộ sản xuất trong làng nghề tiếp cận các nguồn vốn vay, nhất là các nguồn vốn vay ưu đãi để mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ. Một số doanh nghiệp không tiếp cận được các nguồn vốn ưu đãi đã rơi vào tình trạng khó khăn, thu hẹp dẫn quy mô sản xuất. Ngoài việc tạo cơ chế, chính sách thuận lợi thì việc thường xuyên tổ chức các hội trợ hàng thủ công truyền thống, các hoạt động trình diễn mô hình; thành lập các quỹ khuyến công, quỹ bảo lãnh tín dụng, nhằm hỗ trợ sản xuất cho các làng nghề là một yêu cầu cần thiết. Năm 2001, Chính phủ đã ban hành Quyết định về Quy chế thành lập, hoạt động của Quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, nhưng đến năm 2010 quỹ mới được thành lập ở 9 tỉnh.

      Năm là, quan tâm đúng mức và tôn vinh tài năng các nghệ nhân làng nghề. Để bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống cần quan tâm chăm lo đến nhân tố con người, trong đó các thế hệ nghệ nhân là yếu tố quyết định trực tiếp. Bởi nghệ nhân chính là những báu vật nhân văn sống, là những người có sứ mệnh lĩnh hội, cải biến, bổ sung và truyền nghề; họ cũng là cầu nối giữa tổ nghiệp với các thế hệ mai sau và có nhiều năm gắn bó với nghề. Thực tế cho thấy, một số làng nghề vì nhiều lý do sản xuất bị mai một, nhưng ở đó do còn nghệ nhân truyền dạy nghề, nên đã có cơ hội để bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống.

      Phát triển làng nghề trong thời gian tới vẫn là vấn đề cần thiết. Chính vì vậy, Đảng ta đã khẳng định Phát triển làng nghề là một trong bốn chương trình lớn góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu của Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI: “Phát triển mạnh công nghiệp, dịch vụ và làng nghề gắn với bảo vệ môi trường”.

      Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Làng Nghề Truyền Thống Tại Tiền Giang

      Khắc phục những yếu kém

      Tìm và xác định nguyên nhân khiến các làng nghề truyền thống lâm vào cảnh khó khăn để cùng tìm hướng tháo gỡ và đầu tư để phát triển là việc làm cấp thiết hiện đang được các cấp, các ngành trong tỉnh quan tâm. Thời gian qua, Chi cục Phát triển nông thôn đã tham mưu UBND tỉnh ban hành nhiều chính sách khuyến khích phát triển làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh.

      Thực hiện chính sách này, hàng năm, chi cục làm việc với các địa phương có làng nghề về tình hình đầu tư, phát triển làng nghề, tình hình sản xuất kinh doanh, nắm những thuận lợi, khó khăn trong hoạt động của các làng nghề để tham mưu đề xuất các giải pháp tháo gỡ khó khăn.

      Hướng dẫn địa phương thành lập tổ chức đại diện cho làng nghề như tổ hợp tác, hợp tác xã để làm đầu mối tổ chức sản xuất, cung ứng nguyên liệu, thu mua, tiêu thụ, quảng bá sản phẩm cho làng nghề và tiếp nhận các chính sách hỗ trợ của nhà nước; hướng dẫn các làng nghề xây dựng kế hoạch đầu tư cơ sở vật chất, hạ tầng, lồng ghép vào đồ án quy hoạch, đề án xây dựng nông thôn mới trên địa bàn xã.

      Sở NN&PTNT đã tổ chức cho các hợp tác xã, doanh nghiệp trong làng nghề như: Nón bàng buông Thân Cửu Nghĩa; dệt chiếu Long Định; tủ thờ Gò Công; Hợp tác xã Quang Minh tham gia Hội chợ triển lãm “Làng nghề Việt Nam năm 2013” tại Huế. Qua đó, giúp cho các cơ sở làng nghề giao lưu trao đổi thông tin, giới thiệu và quảng bá các sản phẩm, tạo điều kiện mở rộng thị trường, đẩy mạnh sản xuất kinh doanh.

      Trong năm 2014, ngành chức năng sẽ đầu tư xây dựng mới hệ thống xử lý nước thải tập trung ở các làng nghề có nguy cơ gây ô nhiễm cao như: bánh phồng Cái Bè, bánh tráng Hậu Thành, bánh bún hủ tiếu Mỹ Tho. Tổ chức đào tạo 9 lớp dạy nghề, với 285 lao động để nâng cao tay nghề tại các làng đan lát ở ấp Tân Hội, xã Tân Phong (huyện Cai Lậy); làng nghề bó chổi Hòa Định, xã Hòa Định (huyện Chợ Gạo); làng nghề dệt chiếu Long Định, xã Long Định (huyện Châu Thành); làng nghề truyền thống thủ công mỹ nghệ xã Tân Lý Đông (huyện Châu Thành).

      Đào tạo nâng cao kiến thức sản xuất, kinh doanh và hội nhập cho chủ doanh nghiệp, cơ sở trong làng nghề. Hỗ trợ các doanh nghiệp, cơ sở làng nghề tham gia các hội chợ, triển lãm, quảng bá sản phẩm làng nghề trong và ngoài tỉnh. Hỗ trợ đăng ký nhãn hiệu hàng hóa cho sản phẩm làng nghề như: bánh tráng Hậu Thành, bánh phồng Cái Bè, dệt chiếu Long Định, sản phẩm thủ công mỹ nghệ Tân Lý Tây; đẩy mạnh quảng bá 2 làng nghề đã được công nhận nhãn hiệu là làng nghề bánh bún hủ tiếu và làng nghề truyền thống tủ thờ Gò Công.

      Tổ chức cho cơ sở làng nghề Tủ thờ Gò Công, làng nghề Chạm khắc gỗ Lương Hòa Lạc tham quan, học tập kinh nghiệm tại các doanh nghiệp sản xuất, chế biến sản phẩm từ gỗ hoặc các làng nghề có cùng sản phẩm ở các tỉnh bạn.

      Ngoài ra, tỉnh cũng có kế hoạch đầu tư 5 máy cắt, máy liên hợp, máy hơi cho làng nghề đan lát Tân Phong, với kinh phí 70 triệu đồng; 40 máy dệt chiếu cho làng nghề dệt chiếu Long Định, với kinh phí 1,2 tỷ đồng; 5 máy tráng bánh công nghệ mới cho làng nghề bánh tráng Hậu Thành, với kinh phí 150 triệu đồng; đầu tư 500 triệu đồng để nâng cấp và cải tiến trang thiết bị cho làng nghề bánh phồng Cái Bè; nghiên cứu thực hiện dự án chế tạo máy tuốt que dừa cho làng nghề bó chổi que dừa Hòa Định; đầu tư 1,5 tỷ đồng mua máy móc, thiết bị chạm khắc cho làng nghề chạm khắc gỗ Lương Hòa Lạc.

      Tỉnh cũng đầu tư xây dựng đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng nông thôn, tạo điều kiện cho các cơ sở sản xuất trong làng nghề có điều kiện phát triển, giao lưu hàng hóa giữa các vùng, địa phương trong cả nước; góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập và xây dựng nông thôn mới. Ưu tiên đầu tư hệ thống đường giao thông, công trình cấp thoát nước, nâng cấp hệ thống điện ở các làng nghề trên địa bàn tỉnh.

      Bên cạnh đó, tỉnh sẽ hỗ trợ vốn vay cho các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, hộ trong làng nghề để đầu tư máy móc, thiết bị, xây dựng nhà xưởng, mua nguyên liệu. Đề nghị hỗ trợ vốn tín dụng cho các làng nghề trên 4,7 tỷ đồng.

      Tuyên truyền, vận động các cơ sở, hộ trong làng nghề tham gia mô hình kinh tế tập thể theo hình thức tổ hợp tác, hợp tác xã để có pháp nhân làm đầu mối tổ chức sản xuất, cung ứng nguyên liệu, thu mua, tiêu thụ và quảng bá sản phẩm ở các làng nghề: chạm khắc gỗ Lương Hòa Lạc, đan lát Tân Phong, bó chổi Hòa Định, bánh phồng Cái Bè, bánh tráng Hậu Thành, chế biến thủy sản Vàm Láng.

      Giải pháp để “vực dậy” làng nghề

      Theo Quy hoạch phát triển làng nghề Tiền Giang giai đoạn 2011-2023 và tầm nhìn đến năm 2023, mục tiêu hàng đầu là khôi phục và khuyến khích phát triển làng nghề một cách bền vững, gắn với quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn và xây dựng nông thôn mới.

      Phát triển làng nghề phải gắn với thu hút và giải quyết việc làm cho lao động nông thôn theo hướng công nghiệp và dịch vụ, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, tăng thu nhập, cải thiện đời sống cho nông dân; đồng thời gắn với bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa địa phương thông qua các sản phẩm phục vụ phát triển du lịch, cũng như bảo vệ môi trường sinh thái bền vững.

      Để bảo tồn và phát triển có hiệu quả những làng nghề truyền thống, thiết nghĩ cần triển khai đồng bộ các giải pháp như: khẩn trương rà soát, khảo sát xây dựng quy hoạch tổng thể về phát triển ngành nghề nông thôn nằm trong tổng thể quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh; tổ chức lập quy hoạch chi tiết xây dựng làng nghề, ngành nghề nông thôn phù hợp nhằm khai thác, phát huy những ngành nghề lợi thế của từng vùng, từng địa phương. Muốn phục hồi và duy trì phát triển bền vững của các làng nghề thì vấn đề quan trọng nhất là nguồn kinh phí.

      Theo Đề án phát triển làng nghề thì chúng ta từng bước củng cố, phát triển các nghề, làng nghề hiện có; du nhập nghề mới nhằm tạo thêm việc làm, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động nông nghiệp, nông thôn.

      Cụ thể, tỉnh sẽ đầu tư 141,1 tỷ đồng (giai đoạn 2011-2023), đầu tư 296,8 tỷ đồng (giai đoạn 2023-2023) để bảo tồn và phát triển làng nghề; phát triển làng nghề gắn với du lịch, tỉnh đầu tư 26,5 tỷ đồng (giai đoạn 2011-2023), đầu tư 66,6 tỷ đồng (giai đoạn 2023-2023); phát triển nghề mới giai đoạn 2011-2023 là 31 tỷ đồng, giai đoạn 2023-2023 trên 50 tỷ đồng.

      Theo đánh giá của Chi cục Phát triển nông thôn, các dự án thuộc chương trình này khi được triển khai sẽ góp phần thúc đẩy phát triển ngành du lịch của tỉnh. Do đó, một số dự án được lồng ghép với “Chương trình phát triển du lịch” của tỉnh như: Khu du lịch cù lao Thới Sơn, Đồng Tháp Mười, Cù lao Tân Phong, Công viên du lịch Vĩnh Tràng, du lịch sinh thái vườn, sông nước…

      Nằm trong chương trình đào tạo nguồn nhân lực phục vụ phát triển ngành nghề nông thôn, tỉnh còn đầu tư 22,4 tỷ đồng (giai đoạn 2011-2023), 44,8 tỷ đồng (giai đoạn 2023-2023) để đào tạo cán bộ quản lý; đầu tư 35,8 tỷ đồng (giai đoạn 2011-2023), trên 64 tỷ đồng (giai đoạn 2023-2023) để đào tạo và tập huấn kỹ thuật cho người lao động; đầu tư 67,1 tỷ đồng (giai đoạn 2023-2023) để hỗ trợ các cơ sở đào tạo nghề ở nông thôn; đầu tư 19,2 tỷ đồng (giai đoạn 2023-2023) để tổ chức hội thi các tay nghề giỏi.

      Bên cạnh đó, tỉnh còn đầu tư 172,3 tỷ đồng (giai đoạn 2023-2023) để ứng dụng, đổi mới khoa học công nghệ trong các lĩnh vực ngành nghề nông thôn; đầu tư 206,7 tỷ đồng (giai đoạn 2023-2023) để xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu cho các sản phẩm ngành nghề, làng nghề nông thôn. 

      Hy vọng, với những đầu tư và có lộ trình cụ thể của các ngành chức năng, làng nghề truyền thống ở tỉnh ta sẽ tồn tại và phát triển để giữ lại cho thế hệ mai sau những tinh hoa văn hóa của dân tộc.

      Nguồn: baoapbac.vn BTV Hồng Nhung

       

      Đắk Nông: Giải Pháp Bảo Tồn Và Phát Triển Các Làng Nghề Truyền Thống

      Bên cạnh đó, các đại biểu cũng đã bàn bạc về giải pháp tháo gỡ khó khăn và phương thức phối hợp để tổ chức thực hiện tốt các mục tiêu, nhiệm vụ theo Quy hoạch phát triển ngành nghề, làng nghề nông thôn trên địa bàn tỉnh Đắk Nông đến năm 2023, định hướng đến năm 2030; quan điểm về việc khôi phục, bảo tồn và phát triển các nghề truyền thống; quy hoạch các làng nghề gắn với phát triển du lịch…

      Đắk Nông nhiều giải pháp bảo tồn và phát triển các ngành nghề nông thôn.

      Theo báo cáo hiện trên địa bàn tỉnh có 4 nghề truyền thống chưa được công nhận bao gồm: Dệt thổ cẩm; đan lát, mây tre đan; thêu ren và rượu cần. Các nghề này phân bố tại các bon, buôn trên địa bàn một số xã tại 4 huyện, thị xã gồm: Cư Jút, Tuy Đức, Krông Nô, Gia Nghĩa. Đây là các nghề do một số nghệ nhân người đồng bào thiểu số tại chỗ tự sản xuất để phục vụ trong gia đình hoặc tại các lễ hội truyền thống, hoạt động không liên tục, đang có nguy cơ bị mai một.

      Các ngành nghề nông thôn như: sản xuất mộc thủ công mỹ nghệ, dệt thổ cẩm, mây tre đan, cơ khí nhỏ, sinh vật cảnh và dịch vụ… tuy đã có những bước phát triển nhưng còn nhiều hạn chế, yếu kém. Nhìn chung, sản phẩm của ngành nghề nông thôn Đắk Nông còn đơn điệu, chất lượng chưa cao, chưa theo kịp với yêu cầu của đời sống xã hội và thị hiếu của người tiêu dùng.

      Trong khi đó, một số nghề truyền thống mang đậm nét văn hóa của các dân tộc nhưng đang có nguy cơ mai một, thất truyền do sự cạnh tranh của các sản phẩm cùng loại được sản xuất công nghiệp và ngày càng ít được sử dụng trong đời sống hàng ngày như: Dệt thổ cẩm, đan lát mây tre, hàng thủ công mỹ nghệ.

      Tuy vậy, ngành nghề nông thôn cũng đã chứng tỏ vai trò của nó trong việc phát triển kinh tế, xã hội vùng nông thôn, thu hút lao động dư thừa, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, hỗ trợ cho sản xuất nông nghiệp, tạo ra giá trị sản lượng không nhỏ trong kinh tế nông thôn, nhất là ở các thị trấn, thị tứ, cụm kinh tế xã, liên xã. Do đó, công tác hỗ trợ để ngành nghề nông thôn phát triển, phát huy vai trò của nó trong đời sống xã hội là hết sức quan trọng và cần thiết.

      Theo đó, nhằm bảo tồn và phát triển các ngành nghề nông thôn trên địa bàn tỉnh, hiện nay, tỉnh Đắk Nông đã xây dựng và phê duyệt Quy hoạch phát triển ngành nghề, làng nghề nông thôn trên địa bàn tỉnh Đắk Nông đến năm 2023 và định hướng đến năm 2030 tại Quyết định 1236/QĐ-UBND ngày 17/8/2023. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng đã tham mưu UBND tỉnh ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Nghị định số 52/2023/NĐ-CP ngày 12/4/2023 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn trên địa bàn tỉnh.

      Việc phát triển các nghề truyền thống, làng nghề, làng nghề truyền thống nhằm mục đích bảo tồn bản sắc dân tộc đồng bào thiểu số tại chỗ là một việc làm có ý nghĩa không chỉ góp phần tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho các hộ dân trên địa bàn tỉnh, góp phần vào việc giảm nghèo mà nó còn đóng vai trò lớn trong việc phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh.

      Đắk Nông Tìm Giải Pháp Bảo Tồn Và Phát Triển Các Làng Nghề Truyền Thống

      Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Nông Tôn Thị Ngọc Hạnh vừa chỉ đạo UBND các huyện, thị xã căn cứ các tiêu chí theo quy định để lập hồ sơ về nghề truyền thống, làng nghề, làng nghề truyền thống trên địa bàn trình UBND tỉnh xem xét, công nhận. (Cinet) – Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Nông Tôn Thị Ngọc Hạnh vừa chỉ đạo UBND các huyện, thị xã căn cứ các tiêu chí theo quy định để lập hồ sơ về nghề truyền thống, làng nghề, làng nghề truyền thống trên địa bàn trình UBND tỉnh xem xét, công nhận.

      Nhiều làng nghề truyền thống có nguy cơ bị mai một

      Bên cạnh đó, các đại biểu cũng đã bàn bạc về giải pháp tháo gỡ khó khăn và phương thức phối hợp để tổ chức thực hiện tốt các mục tiêu, nhiệm vụ theo Quy hoạch phát triển ngành nghề, làng nghề nông thôn trên địa bàn tỉnh Đắk Nông đến năm 2023, định hướng đến năm 2030; quan điểm về việc khôi phục, bảo tồn và phát triển các nghề truyền thống; quy hoạch các làng nghề gắn với phát triển du lịch…

      Theo báo cáo hiện trên địa bàn tỉnh có 4 nghề truyền thống chưa được công nhận bao gồm: Dệt thổ cẩm; đan lát, mây tre đan; thêu ren và rượu cần. Các nghề này phân bố tại các bon, buôn trên địa bàn một số xã tại 4 huyện, thị xã gồm: Cư Jút, Tuy Đức, Krông Nô, Gia Nghĩa. Đây là các nghề do một số nghệ nhân người đồng bào thiểu số tại chỗ tự sản xuất để phục vụ trong gia đình hoặc tại các lễ hội truyền thống, hoạt động không liên tục, đang có nguy cơ bị mai một.

      Các ngành nghề nông thôn như: sản xuất mộc thủ công mỹ nghệ, dệt thổ cẩm, mây tre đan, cơ khí nhỏ, sinh vật cảnh và dịch vụ… tuy đã có những bước phát triển nhưng còn nhiều hạn chế, yếu kém. Nhìn chung, sản phẩm của ngành nghề nông thôn Đắk Nông còn đơn điệu, chất lượng chưa cao, chưa theo kịp với yêu cầu của đời sống xã hội và thị hiếu của người tiêu dùng.

      Trong khi đó, một số nghề truyền thống mang đậm nét văn hóa của các dân tộc nhưng đang có nguy cơ mai một, thất truyền do sự cạnh tranh của các sản phẩm cùng loại được sản xuất công nghiệp và ngày càng ít được sử dụng trong đời sống hàng ngày như: Dệt thổ cẩm, đan lát mây tre, hàng thủ công mỹ nghệ.

      Tuy vậy, ngành nghề nông thôn cũng đã chứng tỏ vai trò của nó trong việc phát triển kinh tế, xã hội vùng nông thôn, thu hút lao động dư thừa, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, hỗ trợ cho sản xuất nông nghiệp, tạo ra giá trị sản lượng không nhỏ trong kinh tế nông thôn, nhất là ở các thị trấn, thị tứ, cụm kinh tế xã, liên xã. Do đó, công tác hỗ trợ để ngành nghề nông thôn phát triển, phát huy vai trò của nó trong đời sống xã hội là hết sức quan trọng và cần thiết.

      Theo đó, nhằm bảo tồn và phát triển các ngành nghề nông thôn trên địa bàn tỉnh, hiện nay, tỉnh Đắk Nông đã xây dựng và phê duyệt Quy hoạch phát triển ngành nghề, làng nghề nông thôn trên địa bàn tỉnh Đắk Nông đến năm 2023 và định hướng đến năm 2030 tại Quyết định 1236/QĐ-UBND ngày 17/8/2023. Sở NN&PTNT cũng đã tham mưu UBND tỉnh ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Nghị định số 52/2023/NĐ-CP ngày 12/4/2023 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn trên địa bàn tỉnh.

      Việc phát triển các nghề truyền thống, làng nghề, làng nghề truyền thống nhằm mục đích bảo tồn bản sắc dân tộc đồng bào thiểu số tại chỗ là một việc làm có ý nghĩa không chỉ góp phần tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho các hộ dân trên địa bàn tỉnh, góp phần vào việc giảm nghèo mà nó còn đóng vai trò lớn trong việc phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh.

      Cập nhật thông tin chi tiết về Một Số Giải Pháp Phát Triển Làng Nghề Truyền Thống Ở Tỉnh Quảng Ninh Hiện Nay * Tóm Tắt: – Trường Đại Học Hạ Long trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!