Xu Hướng 2/2024 # Một Số Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Triển Khai Các Hoạt Động Giới Thiệu, Quảng Bá Hình Ảnh Của Đất Nước Và Con Người Việt Nam # Top 10 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Một Số Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Triển Khai Các Hoạt Động Giới Thiệu, Quảng Bá Hình Ảnh Của Đất Nước Và Con Người Việt Nam được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả triển khai các hoạt động giới thiệu, quảng bá hình ảnh của đất nước và con người Việt Nam

Những năm qua, công tác quảng bá hình ảnh đất nước, con người và văn hóa nghệ thuật của Việt Nam diễn ra trong và ngoài nước đã góp phần tăng cường sự hiểu biết và tình cảm yêu mến của nhân dân thế giới đối với Việt Nam, qua đó thắt chặt tình đoàn kết hữu nghị và thúc đẩy sự hợp tác trên các lĩnh vực khác như chính trị – kinh tế – giáo dục – du lịch, khẳng định uy tín, nâng cao vị thế của nước ta trong khu vực và trên thế giới.

Tuy nhiên, việc quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam ra thế giới còn chưa thật đầy đủ, nguyên nhân chủ yếu là do sự hạn chế của các phương tiện truyền tải các sản phẩm văn hóa của Việt Nam chưa nhiều, còn nghèo nàn về nội dung, đơn điệu về hình thức, chưa linh hoạt áp dụng những phương pháp, hình thức quảng bá theo chuẩn thị hiếu và nhu cầu của quốc tế.

Để nâng cao hiệu quả triển khai các hoạt động giới thiệu, quảng bá hình ảnh Việt Nam ra thế giới, trong thời gian tới chúng ta cần phát triển những loại hình, mô hình, phương thức hoạt động văn hóa đối ngoại đa dạng, hiệu quả để giới thiệu các giá trị văn hóa Việt Nam ra thế giới thông qua các hoạt động văn hóa – nghệ thuật và truyền thống phù hợp với từng địa bàn. Ví dụ như Ngày Văn hóa, Tuần Văn hóa Việt Nam, các Lễ hội Văn hóa – Du lịch…

Hai là, phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam, xây dựng biểu tượng văn hóa quốc gia và một số thương hiệu sản phẩm văn hóa quốc gia.

 Ba là, tiến hành xuất khẩu sản phẩm và dịch vụ văn hóa Việt Nam ra nước ngoài, xây dựng thị phần cho công nghiệp văn hóa Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Bốn là, thành lập một số trung tâm văn hóa ở một số địa bàn trọng điểm trên thế giới và xây dựng trung tâm dịch thuật, quảng bá văn hóa Việt Nam ra nước ngoài.

Năm là, thiết lập đội ngũ tham tán văn hóa, tùy viên văn hóa tại các cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài và hệ thống trung tâm văn hóa của Việt Nam ở nước ngoài.

Sáu là, hỗ trợ cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài tiếp nhận thông tin và sản phẩm văn hóa từ trong nước. Có các chính sách nhằm gắn kết cộng đồng, phát huy trí tuệ, tài năng sáng tạo, đóng góp vào công cuộc xây dựng đất nước. Đẩy mạnh các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho công tác văn hóa đối ngoại. Hợp tác với các nước để đào tạo, bồi dưỡng tài năng văn hóa, nghệ thuật; đào tạo cán bộ chuyên môn trình độ cao.

Bảy là, xây dựng và phát triển một số liên hoan nghệ thuật quốc tế có thương hiệu tại Việt Nam, tạo điều kiện cho công chúng được tiếp cận với các nền văn hóa nghệ thuật đa dạng của thế giới; khẳng định năng lực tổ chức các sự kiện quốc tế của Việt Nam nhằm nâng cao vị thế, uy tín của đất nước.

Tám là, tạo điều kiện thuận lợi để các nước, các tổ chức quốc tế, các cơ quan văn hóa, du lịch nước ngoài giới thiệu đất nước, con người, văn hóa, du lịch tại Việt Nam. Phối hợp triển khai các Tuần văn hóa, những sự kiện văn hóa lớn của các nước tại Việt Nam.

Chín là, thu hút các nguồn lực hỗ trợ cho phát triển văn hóa nghệ thuật, góp phần thực hiện chính sách xã hội hóa. Tổ chức các hoạt động văn hóa đối ngoại theo hình thức xã hội hóa với sự tham gia của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước.

Mười là, tăng cường các hoạt động giao lưu nhân dân đặc biệt là giao lưu khu vực biên giới.

Việc triển khai các hoạt động đối ngoại quy mô quốc gia về văn hóa – thể thao – du lịch luôn cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành và địa phương, góp phần nâng cao hiệu quả triển khai các hoạt động giới thiệu, quảng bá hình ảnh của đất nước và con người Việt Nam; nâng cao hiệu quả công tác thông tin đối ngoại, góp phần tích cực vào sự phát triển chung của đất nước.

(Theo tài liệu Công tác thông tin đối ngoại, những điều cần biết – Ban Chỉ đạo công tác thông tin đối ngoại Trung ương)

Thanh Giang

 

 

Một Số Giải Pháp Nâng Cao Bình Đẳng Giới Đáp Ứng Yêu Cầu Phát Triển Và Bảo Đảm Quyền Con Người Ở Việt Nam

Quyền con người là thành quả phát triển lâu dài của lịch sử nhân loại, là tài sản chung của các dân tộc. Trong xã hội hiện đại, quyền con người được xem như là “thước đo” của sự tiến bộ và trình độ văn minh của các xã hội, không phân biệt chế độ chính trị, trình độ phát triển hay bản sắc văn hóa. Nguồn gốc tư tưởng về quyền con người có từ lâu đời, xuất phát từ các nền văn hóa, tôn giáo và học thuyết ở cả phương Đông và phương Tây. Cho đến nay “Tuyên ngôn thế giới về quyền con người” và hai Công ước: “Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị”; “Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá”, năm 1966 được xem là Bộ luật quốc tế về quyền con người. Đồng thời đây cũng là cơ sở lý luận – thực tiễn của khái niệm quyền con người. Từ khái niệm quyền con người có thể nhận thấy Bình đẳng giới là một quyền của con người. Sau nhiều năm, nhiều quốc gia trên thế giới đã nhận thấy cần phải thay đổi nhận thức về phụ nữ, cho họ được quyền sống với phẩm giá và tự do mong muốn, và tự do khỏi sợ hãi. Bình đẳng giới cũng được coi là điều kiện tiên quyết để thúc đẩy phát triển và xóa đói giảm nghèo. Theo dòng lịch sử, ngay từ bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946 Việt Nam đã khẳng định: “đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện (Điều 9)”. Sau đó các bản Hiến pháp 1959, 1980, 1992 đều thể hiện nguyên tắc này. Thể chế hóa Cương lĩnh của Đảng, Hiến pháp 2013 đã dành một chương (Chương II) quy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân. Trong chương II, các nguyên tắc về quyền con người cũng như những quy định cụ thể về các quyền dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa đã được liệt kê đầy đủ tương thích với các công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã gia nhập hoặc phê chuẩn. Hiến pháp 2013 quy định: “1. Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật. 2. Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng.” (Điều 14 Chương II). Điều 26 quy định: “1. Công dân nam, nữ bình đẳng về mọi mặt. Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng giới. 2. Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội. 3. Nghiêm cấm phân biệt đối xử về giới.” … Quy định nghiêm cấm sự phân biệt đối xử về giới đã được thay thế cho quy định nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, xúc phạm nhân phẩm phụ nữ được nêu trong Hiến pháp 1992 tại điều 63. Như vậy, có sự thay đổi trong cách tiếp cận về bình đẳng giới, đó là không chỉ nhấn mạnh sự phân biệt đối xử với riêng giới nữ mà là bình đẳng cho cả hai giới. Để nâng cao bình đẳng giới, đáp ứng yêu cầu phát triển và bảo đảm quyển con người ở Việt Nam, chúng ta cần làm tốt một số vấn đề sau: Thứ nhất, nâng cao nhận thức về bình đẳng giới Có thể nói tình trạng nhận thức sai lầm, thiếu hụt, lệch lạc về giới và bình đẳng giới cần phải sớm được khắc phục. Trong nhận thức nói chung của xã hội có thể vẫn còn nhiều người cho rằng bảo đảm bình đẳng giới là đem lại nhiều quyền và cơ hội hơn cho nữ giới. Có trường hợp lại cho rằng bình đẳng giới là xóa bỏ sự khác biệt về giới trong tất cả các lĩnh vực của cuộc sống, là việc đàn ông cũng phải làm những công việc như phụ nữ và ngược lại. Tuy nhiên tình trạng “trọng nam, khinh nữ” vẫn đang là một vấn đề tư tưởng lớn, hạn chế không chỉ quyền của nữ giới mà còn hạn chế cả sự phát triển của xã hội. Bình đẳng giới cũng như quyền con người là một chỉ báo về sự tiến bộ của xã hội. Bình đẳng giới nếu được giảm thiểu tất yếu sẽ tạo điều kiện cho nữ giới đóng góp nhiều hơn cho phát triển. Cho đến nay chưa có giải thích nào thỏa đáng cho tỷ lệ nữ thấp, thậm chí là rất thấp trong các cơ quan lãnh đạo Đảng và Nhà nước ở các cấp. Tình trạng này chỉ có thể được trả lời thỏa đáng là do nhận thức của chính cán bộ, Đảng viên, công chức của Đảng và nhà nước về giới vẫn còn lạc hậu. Điều này không chỉ bởi sự lạc hậu trong nhận thức của nam giới mà ở cả nữ giới. Nói rằng bất bình đẳng giới bắt nguồn từ văn hóa, từ sự lạc hậu của phương Đông là chưa thỏa đáng. Trên thế giới đã có không ít phụ nữ từng là nguyên thủ quốc gia… Thứ hai, thực hiện tốt Luật Bình đẳng giới; hoàn thiện chính sách, chiến lược, chương trình mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới. Ngay từ khi chưa trở thành thành viên của Liên hợp quốc, Nhà nước ta đã tự nhận trách nhiệm, cam kết thực hiện những công ước quốc tế quan trọng về quyền con người. Năm 1982, Việt Nam đã gia nhập các công ước sau: Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị, 1966; Công ước quốc tế về các quyền kinh tế xã hội và văn hóa, 1966 và Công ước về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử với nữ giới, 1979. Ngay sau khi gia nhập các công ước nói trên Nhà nước ta đã có nhiều hoạt động bảo đảm các quyền con người theo những chuẩn mực của công ước, trong đó có công tác xây dựng và hoàn thiện pháp luật. Trong lĩnh vực bình đẳng giới, Nhà nước ta đã hoàn thiện Luật Hôn nhân gia đình. Có thể nói vấn đề bình đẳng giới đã sớm được luật hóa trong pháp luật Việt Nam. Đồng thời luật này thường xuyên được cập nhật, sửa chữa, bổ sung phù hợp với sự phát triển của tư duy chính trị – pháp lý của Đảng và Nhà nước ta. Năm 1959, Việt Nam lần đầu tiên có luật về Hôn nhân gia đình. Sau khi gia nhập công ước về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử với nữ giới, năm 1986. Cho đến nay, Việt Nam đã sửa đổi luật này trở thành Luật Hôn nhân gia đình năm 1914. Năm 2006, Nhà nước ta ban hành Luật Bình đẳng giới. Sau đó,Việt Nam cũng đã ban hành Chiến lược Quốc gia về bình đẳng giới ( 2011-2024). Để thực hiện chính sách, pháp luật về bình đẳng giới, từ thực tiễn chúng ta cần cần tập trung những vấn đề cơ bản sau: Trước hết, cần nâng cao năng lực quản lý Nhà nước về bình đẳng giới. Trên cơ sở chủ trương, chính sách, pháp luật đã được ban hành các ngành, các cấp cần cụ thể hóa các mục tiêu trong các chính sách, chương trình, dự án công tác. Các cơ quan tổ chức cần đề ra chỉ tiêu phấn đấu cụ thể lồng ghép trong các nhiệm vụ, giải pháp của cơ quan, đơn vị. Thứ hai, trên cơ sở chương trình của tỉnh được phê duyệt, các cấp, các ngành xây dựng cần lập kế hoạch thực hiện các mục tiêu đã đề ra trên các lĩnh vực. Chẳng hạn về chính trị cần có chỉ tiêu về tỷ lệ nữ tham gia cơ quan dân cử, cấp ủy, lãnh đạo đoàn thể xã hội; cần có chương trình học tập, đào tạo nâng cao trình độ, bao gồm kỹ năng lãnh đạo, quản lý cho nữ giới. Trên lĩnh vực kinh tế các ngành, các cấp cần quan tâm đến các dịch vụ mà nữ giới có thể tham gia. Trong điều kiện kinh tế thị trường các cơ quan tổ chức nhất là các đoàn thể cần có kế hoạch thu hút các tập đoàn, doanh nghiệp công ty trên địa bàn tuyên truyền phổ biến về Luật Lao động, Luật Bình đẳng giới nhằm bảo vệ quyền của nữ giới trong lao động. Thứ ba, tập trung xử lý những vấn đề “nóng” về giới. Phòng chống bạo lực trên cơ sở giới và tệ nạn buôn bán phụ nữ, trẻ em gái, lạm dụng tình dục đang là những vấn đề ” nóng” cần giải quyết. Lãnh đạo Đảng, Chính quyền các cấp cần đặc biệt quan tâm vấn đề này. Các cơ quan pháp luật cần có biện pháp xử lý nghiêm những vi phạm pháp luật trong lĩnh vực này. Thậm chí có thể sửa đổi pháp luật, nâng cao khung hình phạt đối với các tội phạm về bạo lực giới, buôn bán và lạm dụng tình dục đối với nữ giới. Cần nhân rộng các mô hình tuyên truyền về bình đẳng giới như “Câu lạc bộ bình đẳng giới”, tổ công tác “tư vấn, hỗ trợ bạo lực giới”, xây dựng “Nhà tạm lánh” hỗ trợ người bị bạo hành về giới. Thứ tư, loại bỏ các phong tục tập quán lỗi thời, lạc hậu mang tính định kiến giới. Ở Việt Nam hiện nay, phong tục tập quán vẫn có giá trị quan trọng trong đời sống con người, trong đó có cả những phong tục tập quán văn minh, tiến bộ đồng thời vẫn có những phong tục, tập quán lỗi thời lạc hậu, vi phạm quyền con người, trong đó có quyền bình đẳng nam nữ. Vì vậy, nhà nước cần áp dụng những phong tục tập quán tích cực, loại trừ dần những quy định lỗi thời, có hại cho phụ nữ, trẻ em. Thứ năm, thu hẹp khoảng cách về giới tại nơi làm việc. Pháp luật đã có quy định cụ thể về nghiêm cấm các hành vi phân biệt đối xử dựa trên giới tính, song cần bảo đảm việc thực thi pháp luật về bình đẳng giới trên thực tế. Cần nâng cao nhận thức của nhân dân về lợi ích kinh tế và xã hội của bình đẳng giới và thay đổi tư duy của người sử dụng lao động nhằm gỡ bỏ những định kiến và rào cản văn hóa đối với cả hai giới. Nhà nước giúp các cơ sở lao động có cơ chế linh hoạt đối với lao động trong lĩnh vực thai sản, cung cấp và xã hội hóa các dịch vụ hỗ trợ chăm sóc trẻ em để tạo điều kiện tốt nhất cho người lao động dù họ là phụ nữ hay nam giới; đảm bảo phụ nữ và nam giới được tạo cơ hội bình đẳng trong các chương trình đào tạo và hướng dẫn đặc biệt. Bình đẳng giới nói riêng, bình đẳng nói chung là một trong những nguyên tắc quan trọng nhất của quyền con người. Có thể nói, bất bình đẳng giới tác động tiêu cực và ngược lại bình đẳng giới sẽ là đòn bẩy để thúc đẩy phát triển và bảo đảm quyền con người, điều này là tất yếu với không chỉ riêng một quốc gia nào. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, quyền con người đã tạo nên lãnh địa chung duy nhất trên toàn cầu, trong đó phụ nữ và nam giới là hai người chủ có vai trò quan trọng như nhau trong việc xây dựng nên ngôi nhà chung. Trong ngôi nhà chung đó, từ chính trị đến kinh tế, văn hóa, xã hội, lao động, giáo dục… đều đòi hỏi có sự bình đẳng trong việc phân công cũng như trong cơ hội tiếp cận dành cho cả hai người. Bảo đảm bình đẳng giới cần được thực hiện không chỉ từ góc độ pháp luật mà còn cần có sự thay đổi từ nhận thức đến hành vi của mỗi cá nhân trong cộng đồng nhân loại, trong đó giá trị đạo đức và văn hóa của mỗi quốc gia đóng vai trò đặc biệt quan trọng./. ThS. Tô Vũ Ninh Phó Hiệu trưởng Trường Chính trị Hoàng Đình Giong

Những tin cũ hơn Những tin mới hơn

Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng, Hiệu Quả Hoạt Động Của Đại Biểu Hđnd Các Cấp

Một số giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của đại biểu HĐND các cấp

Khoản 2, Điều 6 Luật Tổ chức Chính quyền địa phương đã quy định: Đại biểu HĐND là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân địa phương, chịu trách nhiệm trước cử tri địa phương và trước HĐND về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đại biểu của mình. Thực tế, hoạt động của HĐND có hiệu quả chủ yếu phụ thuộc vào chất lượng hoạt động của đại biểu HĐND, do vậy việc từng bước nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của đại biểu HĐND là giải pháp rất quan trọng trong hoạt động HĐND.

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2024-2024, HĐND tỉnh Lào Cai  khóa XV, nhiệm kỳ 2024-2024 đã bầu đủ số lượng và cơ cấu theo dự kiến với số lượng 56 đại biểu; cấp huyện 317 đại biểu, cấp xã 4.122 đại biểu. Trong đó đối với đại biểu có trình độ đại học cấp tỉnh 68,6%, cấp huyện 67,8%, cấp xã 17,3%; đại biểu có trình độ sau đại học cấp tỉnh 23,2%, cấp huyện 7,6%, cấp xã 0,3%. Số lượng đại biểu có trình độ đại học, sau đại học; đại biểu hoạt động chuyên trách, đại biểu khối Đảng, đoàn thể tăng hơn so với nhiệm kỳ trước. Đây là điều kiện thuận lợi để HĐND các cấp thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ theo luật định.

Thường trực HĐND tỉnh khảo sát tại cơ sở

Bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động của đại biểu HĐND các cấp tỉnh Lào Cai còn có một số hạn chế, khó khăn đó là: Số lượng đại biểu hoạt động chuyên trách vẫn chiếm tỷ lệ thấp so với tổng số đại biểu (cấp tỉnh 11/56, cấp huyện 45/317) và có sự biến động lớn, đến tháng 3/2024 số đại biểu HĐND cấp huyện còn 285 giảm 32 đại biểu so với đầu nhiệm kỳ, cấp xã còn 3.789 đại biểu giảm 333 đại biểu so với đầu nhiệm kỳ3, nguyên nhân chủ yếu là do điều động, luân chuyển công tác ra khỏi địa bàn; nghỉ hưu theo chế độ… điều đó cũng ảnh hưởng nhất định đến chất lượng hoạt động của HĐND.  Đại biểu HĐND các cấp chủ yếu là đại biểu hoạt động kiêm nhiệm, một số đại biểu giữ cương vị lãnh đạo là người đứng đầu của một số cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương, do vậy chưa dành nhiều thời gian cho hoạt động của HĐND, nhiều đại biểu kiêm nhiệm vừa là đối tượng chịu sự giám sát của HĐND nhưng vừa là chủ thể thực hiện giám sát, nên chưa thể hiện được đầy đủ trách nhiệm của người đại biểu…

Để đại biểu HĐND các cấp tiếp tục thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, từng bước nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động HĐND các cấp, cần thực hiện một số giải pháp sau:

Một là, Đảm bảo sự lãnh đạo toàn diện của Đảng đối với hoạt động HĐND các cấp, trong đó quan tâm đến công tác cán bộ

Hai là, thường xuyên tổ chức bồi dưỡng, tập huấn kỹ năng cho đại biểu HĐND các cấp, nhất là đối với các đại biểu hoạt động kiêm nhiệm; việc tập huấn phải được triển khai ngay từ đầu nhiệm kỳ và tổ chức thường xuyên hàng năm, ngoài ra Thương trực HĐND các cấp tăng cường tổ chức các hoạt động giao lưu, học hỏi trao đổi kinh nghiệm cho các đại biểu HĐND với các địa phương khác.

Ba là, Các đại biểu HĐND các cấp chủ động nghiên cứu, học tập, nâng cao trình độ và kỹ năng để thực hiện nhiệm vụ theo luật định, nắm vững các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước.

Bốn là, Thường trực HĐND các cấp ban hành quy định về tiêu chí đánh giá, phân xếp loại hàng năm đối với đại biểu, Tổ đại biểu, Ban HĐND phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương để làm căn cứ thực hiện và cũng là cơ sở để thực hiện công tác thi đua khen thưởng cho đại biểu hàng năm, như vậy trách nhiệm của đại biểu HĐND sẽ được nâng lên.

Đỗ Hiếu Thảo

Một Số Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Hoạt Động Phòng Ngừa Tội Phạm Xâm Hại Trẻ Em Ở Việt Nam Hiện Nay

Về tình hình tội phạm xâm hại trẻ em, theo báo cáo tổng kết của Cục CSHS – Bộ Công an, từ năm 2008 đến 2024, trên phạm vi cả nước, các lực lượng chức năng đã phát hiện tổng số 12.885 vụ vi phạm, số vụ phạm tội xâm hại trẻ em với 14.557 đối tượng phạm tội, trong đó chủ yếu là nhóm các hành vi xâm hại tình dục trẻ em.Năm 2008 tổng số vụ phạm tội xâm hại trẻ em là 983 vụ, năm 2009 tổng số vụ xâm hại trẻ em là 969, giảm 14 vụ; năm 2010 tổng số vụ xâm hại trẻ em là 934, giảm 35 vụ; năm 2011 tổng số vụ xâm hại trẻ em là 1003, tăng 69 vụ; năm 2012 tổng số vụ xâm hại trẻ em là 1809 vụ, tăng 806 vụ; năm 2013 tổng số vụ xâm hại trẻ em là 1.461, giảm 348 vụ; năm 2014 tổng số vụ xâm hại trẻ em là 1.602, tăng 141 vụ; năm 2024 tổng số vụ xâm hại trẻ em là 1413, giảm 189 vụ; năm 2024 tổng số vụ xâm hại trẻ em là 1288, giảm 125 vụ; năm 2024 tổng số vụ xâm hại trẻ em là 1423, tăng 135 vụ.

Biểu đồ 1.1: Biểu đồ hình cột thể hiện tình hình tội phạm xâm hại trẻ em từ năm 2008 – 2024

Phân tích về cơ cấu các tội danh cụ thể trong nhóm tội phạm xâm hại trẻ em cho thấy từ năm 2008 đến 2024 số vụ án xảy ra như sau: Số vụ án giết con mới đẻ: 18 vụ, chiếm 1,99%; số vụ án hiếp dâm trẻ em: 5.411 vụ, chiếm 42,01%; số vụ án cưỡng dâm trẻ em: 86 vụ, chiếm 0,66%; số vụ án giao cấu với trẻ em: 5.153 vu, chiếm 40,01%; số vụ án dâm ô với trẻ em: 1.645 vụ, chiếm 12,77%; số vụ án mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em: 331 vụ, chiếm 2,56%; số vụ án vi phạm quy định về sử dụng lao động trẻ em: 241 vụ, chiếm 1,87%.

Tội phạm xâm hại tình dục trẻ em chiếm trên 80%, trong đó phần lớn số vụ án xảy ra ở khu vực nông thôn. Quá trình giải quyết các vụ án xâm hại tình dục trẻ em chúng tôi thấy có một số khó khăn sau:

, về phía người bị hại, sau khi tiếp nhận tin báo của bị hại hoặc gia đình người bị hại, trong khi cơ quan điều tra đang tiến hành các hoạt động điều tra trong nhiều vụ án, mặc dù tại cơ quan điều tra và trong hồ sơ vụ án đã thể hiện quan điểm rõ ràng và khẳng định hành vi của bị cáo đã xâm hại tình dục đối với họ. Nhưng do trong quá trình chờ xét xử, giữa gia đình bị cáo và gia đình người bị hại đã thỏa thuận, thống nhất với nhau và thậm chí do sự tác động nào đó (có thể do bị đe dọa hoặc hứa hẹn) nên tại phiên tòa người bị hại lại thay đổi lời khai, phủ nhận lời khai trước đó và một mực bảo vệ bị cáo, cho rằng bị cáo không thực hiện hành vi xâm hại tình dục đối với họ như trong hồ sơ vụ án đã thể hiện…qua đó đã gây nhiều khó khăn cho Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết, xét xử vụ án đó.

Trong các vụ án xâm hại tình dục đối với phụ nữ và trẻ em, người bị hại và gia đình của người bị hại thường có tâm lý e ngại, lo sợ ảnh hưởng đến danh dự, cuộc sống gia đình nên nhiều người chưa dám lên tiếng bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bản thân họ hoặc người thân khi bị xâm hại. Khi xảy ra vụ việc, họ thường không trình báo với cơ quan có thẩm quyền mà giấu diếm, bỏ qua hoặc tự thỏa thuận với người có hành vi phạm tội và gia đình của người phạm tội gây khó khăn cho công tác điều tra, truy tố, xét xử. Trong quá trình giải quyết vụ án, do thời gian xảy ra đã lâu, sự hợp tác không chặt chẽ của người phạm tội, người bị hại nên việc giám định của cơ quan có thẩm quyền gặp khó khăn, cũng ảnh hưởng đến kết quả giải quyết vụ án.

việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật là một trong những biện pháp hết sức hữu hiệu để ngăn chặn, phòng ngừa các hành vi vi phạm và các tội phạm xâm hại tình dục phụ nữ và trẻ em. Tuy nhiên, các vụ án xâm hại tình dục là các vụ án nhạy cảm (đặc biệt là các vụ án mà người bị hại là trẻ em gái hoặc vụ án xâm hại tình dục mang tính chất loạn luân giữa những người cùng quan hệ huyết thống hoặc họ hàng thân thiết) thì người bị hại thường có có tâm lý e ngại, không muốn vụ việc được đưa ra xét xử công khai do vấn đề tâm lý sợ ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm. Do vậy, các vụ án xâm hại tình dục phụ nữ và trẻ em ít được đưa ra xét xử lưu động công khai, trong khi đó có nhiều vụ việc cần được đưa ra xét xử lưu động công khai nhằm tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật và răn đe, ngăn chặn và hạn chế các hành vi vi phạm và tội phạm tương tự xảy ra.

, nhận thức pháp luật của một số người dân, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn hạn chế. Nhiều người chưa nhận thức được hành vi họ đã thực hiện là vi phạm pháp luật hoặc danh dự, nhân phẩm của họ đã bị xâm hại, phổ biến nhất là hành vi giao cấu với trẻ em. Thông thường giữa bị cáo và người bị hại có quan hệ tình cảm, thậm chí có trường hợp gia đình của bị cáo và người bị hại còn tổ chức đám cưới cho hai người, tạo điều kiện cho bị cáo thực hiện hành giao cấu với người bị hại. Do đó việc phát hiện, xử lý hành vi phạm tội chưa triệt để, một số trường hợp hai bên còn che giấu, không hợp tác trong quá trình giải quyết vụ án.

, trong một số vụ án, việc xác định tuổi của người bị hại gặp nhiều khó khăn, các cơ quan tiến hành tố tụng đã áp dụng nhiều biện pháp nhưng không xác định được chính xác tuổi của người bị hại để xác định người bị hại có phải là trẻ em hay không. Có trường hợp bị hại không có giấy khai sinh gốc, hoặc có giấy khai sinh nhưng ngày, tháng, năm sinh không chính xác hoặc giấy khai sinh chỉ ghi năm sinh. Có vụ án cha, mẹ của người bị hại nhớ nhầm ngày sinh của người bị hại (ngày âm lịch, dương lịch) nên cấp phúc thẩm phải hủy án của cấp sơ thẩm. Cũng có trường hợp lời khai của bố, mẹ bị hại và giấy tờ, lý lịch trong hồ sơ về ngày, tháng, năm sinh giống nhau nhưng cơ quan tiến hành tố tụng lại thu được những chứng cứ khác với tài liệu kể trên.

Có trường hợp không xác định được năm sinh của người bị hại, cơ quan tiến hành tố tụng đã làm các thủ tục để tiến hành giám định tuổi của họ nhưng kết quả giám định của các cơ quan chuyên môn lại khác nhau, thậm chí mâu thuẫn với tài liệu điều tra khác nên gây khó khăn cho cơ quan tiến hành tố tụng, trong đó có Tòa án trong việc đánh giá, sử dụng tài liệu chứng cứ.

Để đấu tranh có hiệu quả đối với tội phạm xâm hại tình dục trẻ em trong thời gian tới, theo chúng tôi cần tập trung vào một số giải pháp sau:

Thứ nhất, tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về hình sự, hôn nhân gia đình, pháp luật về chăm sóc, giáo dục, bảo vệ trẻ em và pháp luật về phòng chống xâm hại tình dục cho đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu và vùng xa, khu vực nông thôn, vùng đặc biệt khó khăn.Đẩy mạnh hơn nữa công tác thông tin, tuyên truyền Chiến lược Quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2024. Việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật này phải có kế hoạch, chương trình ngắn hạn, dài hạn cụ thể, trong đó chú trọng đến việc lồng ghép nội dung truyền thông phòng, chống xâm hại tình dục phụ nữ và trẻ em gái vào trong sinh hoạt của thôn, ấp, tổ dân phố; trong sinh hoạt ngoại khóa của các cấp học và sinh hoạt chuyên đề của các tổ chức, đoàn thể các cấp.

Thứ hai, nghiên cứu, đưa ra bộ chỉ số thống kê tội phạm xâm hại tình dục trẻ em để phục vụ công tác đấu tranh phòng chống; dự báo tình hình, từ đó có các giải pháp phòng ngừa, bảo vệ trẻ em trước những hành vi xâm hại, nhất là đối với nhóm trẻ có nguy cơ bị xâm hại cao như trẻ em đường phố, lang thang cơ nhỡ, trẻ em nam là nạn nhân của xâm hại tình dục. Cần quy định về quy trình, trách nhiệm đánh giá nguy cơ và quản lý trường hợp trẻ em bị xâm hại cũng như những quy định cụ thể về tiêu chuẩn đánh giá mức độ nguy cơ gây tổn hại cho trẻ em của các hành vi bị xâm hại đối với trẻ em.

Thứ ba, xây dựng và hoàn thiện các quy trình, tiêu chuẩn về bảo vệ trẻ em bị xâm hại; thống nhất hoạt động phối hợp liên ngành để xác minh, điều tra, xử lý từng trường hợp trẻ em bị xâm hại, trong đó quy định rõ các thủ tục, quy trình và trách nhiệm phòng ngừa, phát hiện, tố giác, trợ giúp và giải quyết các trường hợp trẻ em bị xâm hại của các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, nhà trường, gia đình, cá nhân và trẻ em.

Thứ tư, chủ động xác minh, nắm tình hình, diễn biến hoạt động của tội phạm xâm hại tình dục trẻ em, có kế hoạch phòng ngừa, ngăn chặn và quản lý chặt chẽ số lượng thanh thiếu niên chậm tiến, có tiền án, tiền sự, các băng nhóm trên địa bàn là những đối tượng có nguy cơ phạm tội xâm phạm tình dục. Hỗ trợ vật chất cho những gia đình trẻ em gái bị xâm hại tình dục thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo.

Thứ năm, tăng cường điều tra, xử lý tội phạm xâm hại tình dục trẻ em kết hợp với công tác đấu tranh, phòng ngừa vi phạm pháp luật trong thanh thiếu niên, học sinh và vận động nhân dân tố giác kịp thời các hành vi xâm hại tình dục trẻ em, trong đó khuyến khích trẻ em là nạn nhân và gia đình tố giác tội phạm. Đối với người phạm tội cần xử lý nghiêm minh, kịp thời đúng pháp luật, kiên quyết đấu tranh không để lọt tội phạm. Tổ chức tốt các phiên tòa lưu động đối với các vụ án xâm hại tình dục trẻ em nhưng phải đảm bảo thuần phong mỹ tục.

Thứ bảy, cần tăng cường công tác hợp tác quốc tế giữa các nước, các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ nhất là các quốc gia có chung đường biên giới với nước ta như Trung Quốc, Lào, Camphuchia để chia sẻ kinh nghiệm, trao đổi thông tin cần thiết nhằm hỗ trợ các nạn nhân bị xâm hại, trường hợp cần thiết cần can thiệp đưa các em trở lại với gia đình.

3. Quốc hội (2024), Bộ luật Tố tụng hình Hình sự

Giải Pháp Quảng Bá Hình Ảnh Dành Cho Các Showroom Trong Thời Đại 4.0

Làm cách nào để các ấn phẩm mô tả không gian bên trong showroom trở nên ấn tượng trong mắt khách hàng nhằm kích thích sự tò mò và mong muốn trải nghiệm trực tiếp? Nếu ứng dụng công nghệ 4.0 đúng cách, các chủ doanh nghiệp sẽ có những giải pháp quảng bá hình ảnh tối ưu cho các showroom của mình.. 

Tác động của Marketing 4.0 đến các Showroom

Công nghệ 4.0 là cụm từ được nhắc đến thường xuyên trong những năm gần đây, cùng sự tác động mạnh mẽ của nó lên nhiều lĩnh vực trong đó có Marketing. Trong công nghệ 4.0, sự xuất hiện của các khái niệm mới như Thực tế ảo, AI, Internet of things (vạn vật kết nối), Big Data,… đã làm thay đổi cách các công ty lên chiến lược Marketing, để có thể thích nghi và theo kịp thời đại.

Trải nghiệm mua sắm trong không gian 3D ảo nhưng thật trong Showroom

Hiện nay, một trong những công nghệ 4.0 nổi bật được ứng dụng ở nhiều lĩnh vực chính là không gian 3D thực tế ảo, được hiểu là công việc số hoá không gian thực thành không gian 3D ảo nhưng vẫn giữ được sự chính xác gần như 100%.

Với công nghệ mới này, các showroom có thể giúp khách hàng trải nghiệm cửa hàng thật mọi lúc mọi nơi thông qua các thiết bị như: điện thoại, máy tính, máy tính bảng, kính thực tế ảo. Hỗ trợ công việc kinh doanh bằng cách kích thích nhu cầu mong muốn đến trực tiếp Showroom.

Bên cạnh đó, khách hàng có thể dễ dàng thực hiện các thao tác để đi lại, tương tác với những sản phẩm được trưng bày. Các nhãn thông tin sẽ được hiển thị trên mỗi mặt hàng để cung cấp những điều cần biết về sản phẩm, và nếu thích sản phẩm đó, khách hàng có thể tiến hành mua trực tiếp thông qua liên kết website được đính kèm.

Không thể phủ nhận không gian 3D sẽ cải thiện hiệu quả kinh doanh của showroom một cách đáng kể nếu như sử dụng đúng cách trong quá trình Marketing. Nhưng để sử dụng đúng cách, các doanh nghiệp cần phải có sự chuẩn bị, xây dựng và hoàn thiện các nền tảng thiết bị cần thiết để hỗ trợ toàn bộ quá trình Marketing.

Tầm quan trọng của giải pháp Marketing tích hợp đối với các Showroom trong thời đại 4.0

Hiện nay, nhờ vào sự phát triển của công nghệ mà rất nhiều nền tảng được sinh ra có thể hỗ trợ doanh nghiệp trong công việc Marketing như website, mạng xã hội, Youtube, ứng dụng di động,…Thế nhưng, các doanh nghiệp nếu chỉ chăm chú vào việc xây dựng và phát triển từng kênh riêng lẻ sẽ dẫn đến việc thiếu đồng nhất và kết nối, làm giảm trải nghiệm khách hàng, chi phí cao nhưng lại không mang lại hiệu quả.

Chưa kể đến thực trạng những hình ảnh, video sử dụng xáo trộn trên các công cụ mà không có sự quản lý phù hợp, bộ nhận diện thương hiệu không được thống nhất trong các ấn phẩm hiển thị, hay nội dung lúc thế này lúc thế kia cũng là điểm trừ trong mắt khách hàng.

Như vậy, để xây dựng và thực hiện tốt giải pháp quảng bá hình ảnh cho showroom thì cần có sự đồng bộ giữa những nội dung hiển thị và có sự kết nối giữa các nền tảng. Các ấn phẩm hiển thị cần được đầu tư để trông bắt mắt và thu hút khách hàng, sau đó phô bày có kế hoạch trên các nền công cụ đã được kết nối chặt chẽ với nhau. 

LIÊN HỆ HỢP TÁC CÙNG VR360: – VR360 – ĐỔI MỚI ĐỂ KHÁC BIỆT – Fb: https://www.facebook.com/vr360vnvirtualtour ​- Hotline: 0935 690 369 – 0866 578 540 – Email: [email protected] – Địa chỉ: 18 Nại Hưng 2, Sơn Trà, Đà Nẵng – 12B Nguyễn Hữu Cảnh, P.19, Q.Bình Thạnh, HCM

Một Số Giải Pháp Nâng Cao Phát Triển Thị Trường Bất Động Sản Việt Nam Hơn

Để có những sản phẩm tốt nhất mang đến cho quý khách hàng thì thị trường bất động sản nước ta đã có những biện pháp thiết thực để phát triển nó. Chính vì thế, các dự án căn hộ, chung cư Việt Nam luôn thu hút đông đảo quý khách hàng và các ông lớn đầu tư tham gia.

Tình hình thị trường bất động sản nước ta trong những năm vừa qua

Cụ thể theo diễn biến của thị trường bất động sản năm 2024 thì có thể thấy rằng phân khúc nhà ở giá trung bình và trên trung bình có cơ hội phát triển mạnh mẽ. Đó là phân khúc đã có chuyển động tích cực vào cuối năm 2024. Tiếp theo là phân khúc mang tính thị trường cao và phù hợp với khả năng thanh toán của đa số cầu hiện tại. Cuối cùng khi một phân khúc có điều kiện phát triển thì sẽ thu hút được nhiều nguồn vốn đầu tư vào đó. Ngoài phân khúc này thì phân khúc giá rẻ vẫn tiếp tục phát triển với nguồn cung ổn định hàng năm nhưng nó khó có điều kiện tăng cung mạnh. Đó là bởi vì yếu tố thị trường không cao, phụ thuộc rất nhiều vào sự trợ giúp của Nhà nước, mà khả năng trợ giúp này lại luôn có hạn do ngân sách luôn trong tình trạng bội chi cao.

Một vấn đề nữa là vẫn còn tồn tại một kho bất động sản tạo ra một áp lực khá lớn cho thị trường bất động sản nước ra. Hơn thế nữa, các loại hình phân khúc vẫn chưa được đưa ra các giải pháp phát triển tích cực.

Cuối cùng là nhu cầu thuê nhà của người nghèo, người có thu nhập thấp khá cao đã được cải thiện mạnh nhưng nguồn cung vẫn chưa có khả năng tăng đáng kể do vẫn chưa có giải pháp vốn trung hạn và dài hạn. Mặt khác, việc nâng cấp hay xây dựng lại các nhà chung cư cũ cũng vẫn chưa có giải pháp thỏa mãn được nguyện vọng của cả cư dân và các nhà đầu tư.

Những giải pháp tạo cơ hội phát triển mạnh mẽ cho thị trường bất động sản Việt Nam

Thứ nhất là nguồn tín dụng trung hạn và dài hạn nào có thể tận dụng được để phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê để cải tạo chung cư cũ nói riêng và cho thị trường bất động sản nói chung. Giải pháp là chúng ta nên tiếp tục mở chính sách được thế chấp bằng bất động sản ở Việt Nam tại các tổ chức tín dụng nước ngoài. Có thể nói, đây là cách duy nhất để tiếp cận được vốn trung hạn và dài hạn.

Thứ hai là cơ chế cho vay tín dụng ưu đãi đối với người nghèo, người có thu nhập thấp cần được điều chỉnh lại trên nguyên tắc thực hiện các tín dụng nhỏ với sự tham gia của cộng đồng và các tổ chức xã hội. Điều quan trọng nhất là giúp người nghèo có cơ hội cải tạo nhà đang ở bằng chính hoàn cảnh sống của họ.

Thứ ba là cơ hội phát triển thị trường năm 2024 luôn phụ thuộc vào sức hấp dẫn sinh lợi khi đầu tư vào bất động sản. Chúng ta cần phải bảo đảm tính minh bạch cho thị trường về thông tin để mỗi người có thể có những dự báo riêng cho minh và lựa chọn cách đầu tư kỹ lưỡng. Bên cạnh đó, những rủi ro về quan hệ tài chính cũng cần được quản lý chặt chẽ, kể cả giao dịch chuyển quyền, giao dịch bảo đảm, giao dịch tài sản trong tương lai. Quản lý rủi ro tốt là bảo đảm mọi giao dịch trên thị trường đều an toàn, tạo sự hấp dẫn cho thị trường bất động sản.

Thứ tư đó chính là thị trường bất động sản Việt Nam đã trải qua gia đoạn đầu gắn với nền kinh tế chuyển đổi từ bao cấp sang thị trường. Vì thế, trong những giai đoạn tiếp theo, chúng ta phải cần tới các nhà quản lý chuyên nghiệp, nhà đầu tư chuyên nghiệp và người tiêu dùng chuyên nghiệp.

Thứ năm là tất cả các bên tham gia thị trường bất động sản đều phải chung tay làm cho các chính sách mở trong luật nhà ở năm 2014, luật kinh doanh bất động sản năm 2014 được thực thi trên thực tế. Điều này kéo theo nguồn vốn tăng lên đáng kể và tạo tiềm năng vốn cho thị trường.

Cuối cùng là hệ thống thuế bất động sản của Việt Nam đã quá lạc hậu, không tạo việc tăng thu ngân sách từ bất động sản để phát triển hạ tầng và dịch vụ công cộng, mà cũng không mang lại hiệu quả quản lý đối với thị trường. Minh chứng là chúng ta mất rất nhiều sức để cố gắng giải tỏa khu phố cổ Hà Nội nhưng vẫn chưa thể làm được gì và chúng ta chỉ cần đánh thuế cao đối với bất động sản tại khu phố cổ là có thể điều chỉnh lại phân bố dân cư tại nơi đây.

Cập nhật thông tin chi tiết về Một Số Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Triển Khai Các Hoạt Động Giới Thiệu, Quảng Bá Hình Ảnh Của Đất Nước Và Con Người Việt Nam trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!