Xu Hướng 2/2024 # Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Toán Lớp 1 # Top 3 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Toán Lớp 1 được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

I. MỞ ĐẦU:1. Lý do chọn đề tài:Trước xu thế toàn cầu hóa kinh tế tri thức của thời đại, Nghị quyết đại hộiĐảng toàn quốc lần thứ VIII đã đề ra nhiệm vụ: “Nâng cao dân trí, phát huy nguồnlực trí tuệ và sức mạnh tinh thần của con người Việt Nam”. Bởi vậy Giáo dục luônđược xác định là “Quốc sách hàng đầu” mà “Giáo viên là nhân tố quyết định chấtlượng giáo dục đào tạo”. Xuất phát từ yêu cầu thực tế của nhà trường Tiểu học hiệnnay, bên cạnh đó còn xuất phát từ mục tiêu cơ bản của ngành Giáo dục – Đào tạo đãđề ra, phải đào tạo con người mới phát triển toàn diện có đầy đủ tri thức, thôngminh, sáng tạo và đức độ để sau này có thể làm chủ tương lai.Bậc Tiểu học là bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân, chất lượnggiáo dục phụ thuộc rất nhiều vào kết quả đào tạo ở bậc Tiểu học. Mục tiêu giáo dụctiểu học nhằm giúp học sinh hình thành cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắnvà lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và kĩ năng cơ bản để học sinh tiếptục học lên trung học cơ sở. Trong các môn học ở bậc Tiểu học, môn Toán chiếmmột vị trí rất quan trọng, giúp các em chiếm lĩnh được tri thức, phát triển trí thôngminh, năng lực tư duy, sáng tạo lôgic góp phần quan trọng vào sự hình thành vàphát triển toàn diện nhân cách cho học sinh. Trong đó môn toán ở lớp 1 giữ vai tròhết sức quan trọng, bởi toán lớp 1 cung cấp cho các em những kiến thức đầu tiên,là cơ sở cho việc phát triển kỹ năng tính toán và tư duy, giúp học sinh nhanh chónghoàn thiện mình. Hiện nay, chương trình toán tiểu học cao đòi hỏi học sinh đạt

được chuẩn về kiến thức, kỹ năng. Ngoài ra học sinh còn được tăng cường kiếnthức, kỹ năng vào buổi 2. Điều đó rất khó khăn, với yêu cầu là học sinh học tậpmột cách chủ động, tích cực trong lĩnh hội tri thức, tự phán đoán, giải quyết các bàitập. Giáo viên chỉ là người hướng dẫn, không giảng giải nhiều. Đối tượng học sinhkhông đồng đều, có học sinh mồ côi, học sinh có hoàn cảnh khó khăn, học sinhkhuyết tật học hòa nhập, nhận thức chậm, gia đình ít quan tâm, thêm vào đó là họcsinh lớp 1 bước đầu chuyển từ chơi sang học. Đòi hỏi giáo viên không chỉ dạy màcòn phải dỗ. Kết quả về kiến thức, kỹ năng cơ bản đạt yêu cầu trở lên.Vậy làm thế nào để học sinh học tốt môn toán lớp 1, chất lượng môn toán đượcnâng cao là việc làm vô cùng quan trọng, nhằm đáp ứng nhu cầu giáo dục hiện nay.Điều đó làm giáo viên có lúc lúng túng trong việc lựa chọn và tìm ra biện pháp tốtnhất để nâng cao chất lượng môn Toán. Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy lớpmột nhiều năm. Tôi rất trăn trở và suy nghĩ làm sao để nâng cao chất lượng môntoán lớp 1. Tôi quyết định chọn và nghiên cứu “Một số giải pháp nâng cao chấtlượng dạy – học môn toán lớp 1″.

1

2. Mục đích nghiên cứu:Trên cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác giảng dạy về dạy học môn Toán ởtrường Tiểu học Đông Vệ 1, nhằm đề xuất những biện pháp đổi mới phương phápdạy học của bản thân để nâng cao chất lượng dạy học môn Toán cho học sinh lớp 1trong nhà trường.3. Đối tượng nghiên cứu:Giáo viên và học sinh lớp 1 trong quá trình dạy học môn Toán ở trường Tiểuhọc Đông Vệ 1.4. Phương pháp nghiên cứu:– Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết.– Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin.– Phương pháp điều tra thống kê.– Phương pháp so sánh, đối chiếu.– Phương pháp đánh giá, tổng kết rút kinh nghiệm.

2

II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM1. Cơ sở lý luận :Tại hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành TW Đảng Cộng sản Việt Nam lần VIII

đã chỉ rõ nhiệm vụ quan trong của ngành giáo dục và đào tạo là “Đổi mới mạnh mẽphương pháp giáo dục đào tạo khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thóiquen tích cực, tự giác và tư duy sáng tạo của học sinh”. Phương pháp tích cực đãđược nước ta áp dụng từ năm 2002 và áp dụng đồng bộ trên tất cả các trường tiểuhọc của cả nước. Mặt khác lịch sử của toán học cho thấy rằng quá trình nhận thứctoán học không phải lúc nào cũng suôn sẻ, thuận lợi mà luôn có những mâu thuẫnnhư quan điểm và tư tưởng nhận thức.Nhiệm vụ của người giáo viênThực hiện giảng dạy, giáo dục đảm bảo chất lượng theo chương trình giáodục, kế hoạch dạy học; soạn bài lên lớp kiểm tra, đánh giá, xếp loại học sinh; quảnlý học sinh trong các hoạt động giáo dục do nhà trường tổ chức; tham gia các hoạtđộng chuyên môn; chịu trách nhiệm về chất lượng, hiệu quả giảng dạy và giáo dục.Chương trình và mục tiêu chương trình toán lớp 1:Chương trình gồm 35 tuần (4 tiết / 1 tuần x 35 = 140 tiết)Số học: học sinh biết đọc viết đếm các số đến 100, làm tính cộng, tính trừkhông nhớ trong phạm vi 100.Đại lượng, đo đại lượng: học sinh biết đo độ dài trong phạm vi 20.Yếu tố hình học: Học sinh nắm được về điểm, đoạn thẳng, hình vuông, hìnhtam giác, hình tròn.Giải bài toán có lời văn: Biết giải bài toán đơn về cộng, trừ.Yêu cầu với mức độ tư duy còn thấp, quá trình nhận thức môn toán phải đi từcụ thể, kỹ năng phân tích tổng hợp còn yếu hầu như chỉ dựa vào hình ảnh có sẵntrước mắt. Vì thế chương trình toán lớp 1 chỉ tâp trung:+ Học xong toán lớp 1 học sinh bước đầu có kiến thức cơ bản, đơn giản thiếtthực về phép đếm, về số lượng, về số tự nhiên trong phạm vi 100, về phép cộng vàphép trừ không nhớ trong phạm vi 100, về độ dài, đo độ dài trong phạm vi 20, tuầnlễ, ngày trong tuần, đọc giờ đúng trên mặt đồng hồ, về một số hình học (đoạnthẳng, điểm, hình vuông, tròn, hình tam giác) giải bài toán có lời văn.+ Hình thành và rèn luyện kĩ năng thực hành: đọc, viết, đếm, so sánh các sốtrong phạm vi 100, cộng trừ không nhớ trong phạm vi 100, đo ước lượng độ dài cácđoạn thẳng (với các số tự nhiên trong phạm vi 20), nhận biết hình vuông, hình tròn,hình tam giác, điểm đoạn thẳng, giải các bài toán đơn về cộng, trừ. Bước đầu biếtdiễn đạt bài toán bằng lời, bằng kí hiệu một số nội dung đơn giản của bài học và bàitập thực hành, tập dượt so sánh, phân tích tổng hợp trừu tượng hoá, khái quát hoátrong phạm vi của những nội dung có nhiều quan hệ với đời sống thực tế học sinh.Những đặc điểm tâm lý của trẻ vào lớp 13

– Một số tiết học GV còn ngại sử dụng đồ dùng, hoặc sử dụng đồ dùng chưathật hiệu quả Ví dụ: Sách giáo khoa hướng dẫn đồ dùng bằng hình vẽ ô tô, GV cònmáy móc chưa mạnh dạn sáng tạo trong việc sử dụng nhiều đồ dùng khác như: quetính, chiếc lá, hình tam giác, chấm tròn thay thế. Hoặc những đối tượng học sinhnhận thức chậm, GV chưa sử dụng đồ dùng trực quan giúp học sinh khắc sâu kiếnthức.– Việc tổ chức các trò chơi mới, sân chơi phong phú để thu hút HS khi họcmôn toán còn hạn chế. Khả năng tích hợp các môn học như môn Tiếng Việt cònchưa thường xuyên, chưa hiệu quả. Ví dụ: trò chơi “Truyền điện”, việc đặt câu hỏiđể hỏi bạn, HS còn lúng túng.– Chưa thường xuyên tổ chức cho học sinh hoạt động nhóm hoặc tổ chức ápdụng phương pháp dạy học tích cực chưa linh hoạt, chưa sáng tạo, có lúc còn dậpkhuôn máy móc, áp đặt …..ít tổ chức hoạt động ngoại khóa như: câu lạc bộ, rungchuông vàng, chuyên mục,…nhằm bổ trợ kiến thức toán học cho học sinh.2.2. Thực trạng việc học môn toán lớp 1CNgay từ đầu năm khi được phân công chủ nhiệm lớp 1C, tôi đã tìm hiểu đốitượng, hoàn cảnh của học sinh trong lớp từ đó nắm bắt được hoàn cảnh gia đìnhcũng như khả năng của từng em để có phương pháp giảng dạy có hiệu quả. Kết quảđiều tra cụ thể như sau:

42

Hoàn cảnh học sinhCon gia đình cán bộCon gia đình lao động tự doCon gia đình công nhân

SL

%

Qua việc nắm bắt hoàn cảnh từng đối tượng học sinh trong lớp, tôi thấy đượcnhững thuận lợi và khó khăn của lớp 1C do tôi phụ trách như sau:* Thuận lợi:Đối với học sinh lớp 1C trường Tiểu học Đông Vệ 1 đã được tiếp cận và làmquen với phương pháp dạy học tích cực của giáo viên ngay từ đầu năm học, thànhlập được hội đồng tự quản, phân công nhiệm vụ cho từng ban: ban học tập, ban thưviện, ban đối ngoại…. Các ban học tập nắm bắt khá tốt việc điều hành, hướng dẫn,xử lí tình huống trong nhóm.Trong hoạt động nhóm, một số em mạnh dạn, tự tin, hướng dẫn bạn với nhiềuhình thức đọc kết quả, viết kết quả phép tính nối tiếp nhau, kiểm tra đôn đốc những

5

3.2 Tích cực, kiên trì và chủ động, sáng tạo đổi mới phương pháp dạy học.– Chuẩn bị bài trước khi lên lớp rất quan trọng nên việc xây dựng mục tiêubài học cũng như sắp xếp, tổ chức các hoạt động dạy – học cần được coi trọng.– Trong giảng dạy có nhiều học sinh nhận thức chậm. Giáo viên phải kiên trì,không nên khắt khe mà nên tạo điều kiện cho các em được tham gia vào các hoạtđộng học tập, được chia sẻ để tự tin hơn …– Giáo viên tích cực đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá học sinhthường xuyên trao đổi với giáo viên trong tổ, tổ chức các chuyên đề, sinh hoạtchuyên môn mới, chia sẻ, giải quyết kịp thời các khó khăn.– Tăng cường khảo sát chất lượng học sinh ngay tại các giờ học, buổi học,tuần học…– Chấm bài thường xuyên, động viên học sinh bằng nhiều hình thức nhưtuyên dương …– Giáo viên áp dụng phương pháp thường xuyên, phương pháp chứng minh tạothói quen cho học sinh.Ví dụ cụ thể về sự kiên trì, chủ động đổi mới phương pháp.Khi dạy về phép công trong phạm vi 9.Bước 1: Các em quan sát giáo viên làm mẫu: 9 que tính thêm 1 que tính bằng 10que tính. 9 + 1 = 10.Bước 2: Học sinh làm việc cá nhân, các em dùng que tính để lập các phép tínhcộng tiếp theo vào bảng con hoặc bảng phụ. 1 + 9 = 10; 8 + 2 = 10; 7 + 3 = 10Bước 3: Học sinh trao đổi nhóm 2. Đối chiếu các phép cộng đã lập.Bước 4: Học sinh đọc các phép cộng trong nhóm 6.Bước 5: Báo cáo trước lớp, dưới sự điều hành của Chủ tịch hội đồng tự quản.Hoạt động nhóm còn phát huy tính tự quản của cán bộ lớp, nhóm trưởng, nhằmkiểm tra việc học tập của các bạn trong nhóm mình một cách tốt nhất, có tác dụngsửa chữa uốn nắn kịp thời những thiếu hụt, sai sót về kiến thức cho học sinh họcyếu. Giúp các em mạnh dạn hơn trong giao tiếp với các bạn và thầy, cô giáo. Cóthể nói phương pháp này hình thành tinh thần tự giác trách nhiệm đối với tập thểcho từng thành viên của nhóm như vậy để tránh tình trạng lười biếng, sao nhãngnhiệm vụ được giao, tránh sự ghen tị.Nhưng chỉ có tổ chức hoạt động theo nhóm và quan sát trực quan còn là chưa đủnếu trong giờ toán không có luyện tập thực hành trong giờ toán thời gian học sinhluyện tập chiếm tới 2/3 tiết học, càng được luyện tập nhiều thì học sinh càng khắcsâu được kiến thức. Có khi có những nội dung lí thuyết phải qua làm bài tập thìhọc sinh mới hiểu được.

7

Ví dụ : Sử dụng phương pháp luyện tập thực hành trong bài phép cộng trongphạm vi 9.Một tiết dạy có 35 phút, giáo viên dành khoảng 10-12 phút để xây dựng côngthức cộng trong phạm vi 9 (hay bảng cộng trong phạm vi 9)Sau khi xây dựng xong công thức8+1=93+6=91+8=96+3=9Giáo viên cho học sinh thực hành luyện tập 15 – 20 phút bằng cách đọc cá nhân, tậpthể, đọc thuộc bằng mọi hình thức… Sau khi luyện tập xong giáo viên lại cho họcsinh học thuộc lại bảng cộng trong phạm vi 9 bằng cách đọc nối tiếp giữa hai tổ,hoặc em A nêu phép tính em B trả lời và ngược lại.* Lưu ý : Trong tiết học giáo viên thực hiện linh hoạt các phương pháp như:+ Phương pháp trực quan+ Phương pháp hỏi đáp+ Phương pháp giảng giải ( giải nghĩa từ )+ Phương pháp luyện tập thực hành+ Phương pháp kỉ luật tích cực.+ Phương pháp trò chơiTrong phương pháp dạy học toán lớp 1, giáo viên phải sử dụng linh hoạt đúnglúc, đúng chỗ các phương pháp, các hình thức tổ chức dạy học khác nhau. Việc sửdụng các phương pháp, các hình thức dạy học cần theo hướng tích cực hóa hoạtđộng của học sinh, tăng cường tập luyện thực hành để phát triển các kĩ năng tínhtoán, nhằm nhanh chóng đạt được yêu cầu cộng trừ trong phạm vi 10 và cộng trừkhông nhớ trong phạm vi 100.Bám sát 5 yêu cầu của giáo viên:1. Giáo viên giao nhiệm vụ phải rõ ràng, ngắn gọn.2. Làm mẫu phải rõ ràng, chính xác, dứt khoát.3. Chú ý đến tính đồng loạt, tính cá thể của học sinh.4. Nói ít, tránh nói nhiều.5. Không chê, khuyến khích học sinh tích cực làm việc.Việc tổ chức lớp học, tổ chức luyện tập thực hành luyện tập cũng có thể linhhoạt dưới nhiều hình thức: Cá nhân – nhóm – lớp…Vì hình thức dạy học này có sự kết hợp tính tập thể và tính cá nhân màtrong đó học sinh trong nhóm được sự chỉ đạo của nhóm trưởng, trao đổi nhữnghiểu biết về kiến thức với nhau, giúp học sinh hợp tác với nhau, cùng tìm tòi pháthiện, trình bầy và chiếm lĩnh chi thức. Các thành viên trong nhóm không chỉ quantâm đến việc học tập của mình mà còn quan tâm đến việc học tập của các bạnkhác trong nhóm ( Nhóm 2, nhóm 4, nhóm 6…).

8

3.3. Sử dụng hợp lý, có hiệu quả đồ dùng dạy học, đặc biệt là đồ dùng trựcquan.Giáo viên thường sử dụng các dụng cụ học tập trực quan, nhiều màu sắc hấpdẫn, sinh động để thu hút sự chú ý của học sinh bởi thời gian chú ý có chủ định chỉkéo dài 15- 20 phút. Như vậy, cách sử dụng trực quan như trên rất có lợi cho việcHS tập trung chú ý kéo dài và cao độ.– Học sinh được học tập qua ứng dụng công nghệ thông tin bằng hình ảnh đượctrình chiếu một cách sinh động tạo sự hứng thú cho các em tập trung hơn. Tuynhiên giáo viên không nên lạm dụng.Giáo viên cần phải thu hút trẻ bằng các hoạt động mới, mang màu sắc, tíchchất đặc biệt, khác lạ so với bình thường, khi đó sẽ kích thích trẻ cảm nhận, tri giáctích cực và chính xác và đặc biệt phải hình thành ở các em tâm lý hứng thú và vuivẻ khi ghi nhớ kiến thức.Đặc biệt là đồ dùng trực quan đã đem lại hứng thú cho học sinh. Đòi hỏi cácem phải tư duy, sử lý nhanh các tình huống, tự tìm tòi khám phá kiến thức qua trựcquan. Kết quả học sinh ghi nhớ được kiến thức sâu, các em chóng thuộc bài. Lớphọc thoải mái, vui vẻ, giờ học đạt hiệu quả cao. Học sinh ham thích học toán.3.4 Tổ chức các hoạt động ngoại khóa tạo môi trường học tập tốt hơn.Tổ chức nhiều trò chơi học tập như: rung chuông vàng, hái hoa học tập, tròchơi… nhằm bổ sung kiến thức, tạo sự tự tin, nhanh nhẹn, kỹ năng điều hành hoạtđộng nhóm …Nói tóm lại, sáu tuổi vào lớp 1 là bước ngoặt lớn của trẻ thơ. Môi trườnghọc tập thay đổi một cách cơ bản: trẻ phải tập trung chú ý trong thời gian liên tục từ30 – 35 phút. Nhu cầu nhận thức chuyển từ hiếu kỳ, tò mò sang tính ham hiểu biết,hứng thú khám phá. Trẻ bắt đầu kiềm chế dần tính hiếu động, bột phát để chuyểnthành tính kỷ luật, nền nếp, chấp hành nội quy học tập. Tinh nhạy và sức bền vững,tinh khéo léo của các thao tác của đôi bàn tay để tập viết được phát triển nhanh. Tấtcả những điều đó đều là thử thách đối với trẻ, muốn trẻ vượt qua được tốt nhữngthử thách đó thì phải cần có sự quan tâm giúp đỡ của gia đình, nhà trường và xã hộiđặc biệt là giáo viên dựa trên sự hiểu biết về tri thức khoa học.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm:Với việc áp dụng các giải pháp trên cho học sinh lớp 1, tôi thấy chất lượnggiờ học được nâng lên rõ rệt. Học sinh hào hứng, phấn khởi và luôn chờ đợi đểđược học hình. Trong giờ học các em rất say sưa, hăng say phát biểu ý kiến xâydựng bài, không khí lớp học sôi nổi, giờ học hấp dẫn, nhẹ nhàng. Các em nắm chắckiến thức và được khắc sâu kiến thức. Qua tiết học còn rèn luyện được tính nhanhnhẹn, tự tin, bạo dạn. Vì thế chất lượng học tập của học sinh qua các kì khảo sátđược nâng lên rất nhiều. Cụ thể như sau:9

1C

42

THỜI ĐIỂM KIỂM TRAKẾT QUẢ

Cuối kỳ I

10

Thanh Hóa, ngày 20 tháng 3 năm 2024Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mìnhviết, không sao chép nội dung của người khác.Người thực hiện

Hồ Thị Mai

11

MỤC LỤCNỘI DUNGI. MỞ ĐẦU1. Lý do chọn đề tài2. Mục đích nghiên cứu3. Đối tượng nghiên cứu4. Phương pháp nghiên cứuII. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM1. Cơ sở lý luận2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm2.1. Thực trạng việc dạy học môn Toán lớp 1 của nhà trường2.2. Thực trạng việc học môn toán lớp 1C3. Một số giải pháp nâng cao chất lượng môn toán lớp 13.1. Phối kết hợp giữa gia đình, nhà trường và cộng đồng.3.2. Tích cực, kiên trì và chủ động, sáng tạo đổi mới phương phápdạy học.3.3. Sử dụng hợp lý, có hiệu quả đồ dùng dạy học, đặc biệt là đồdùng trực quan.3.4. Tổ chức các hoạt động ngoại khóa tạo môi trường học tập tốthơn.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệmIII. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ1. Kết luận2. Kiến nghị

12

Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Toán Lớp 1

A. Phân loại học sinh

Xã Đạo Đức là một xã nằm phía đông nam của huyện Bình Xuyên, tiếp giáp với thành phố Phúc Yên. Xã gồm 3 thôn chính: thôn Mộ Đạo, thôn Bảo Đức, thôn Yên Lỗ. Nghề nghiệp chủ yếu là làm nông và công nhân ở các khu công nghiệp. Kinh tế ổn định, đời sống đảm bảo an ninh trật tự, trình độ dân trí không đồng đều. Trong những năm gần đây, Đảng và chính quyền địa phương đã quan tâm chú ý đến đường lối phát triển kinh tế đồng thời đẩy mạnh công tác giáo dục vì vậy đời sống văn hoá, xã hội có những bước chuyển biến rõ nét. Vì vậy, 100% học sinh khi vào lớp 1 đã qua lớp mầm non, tuy nhiên trình độ tiếp thu rất khác nhau bên cạnh đó còn có một số học sinh có biểu hiện của tăng động, chậm phát triển gây khó khăn rất nhiều cho giáo viên trong quá trình giảng dạy và tìm phương pháp giảng dạy phù hợp cho lớp. Vào đầu mỗi năm học khoảng 1 tháng, tôi tiến hành khảo sát chất lượng và đánh giá trình độ tiếp thu của học sinh. Sau đó để tiện

theo dõi và giảng dạy, tôi tạm phân học sinh theo các trình độ: giỏi, khá, trung bình, yếu, kém. Trong đó, tôi quan tâm nhiều đến 3 đối tượng học sinh: trung bình, yếu và kém. Để đảm bảo cho tất cả các đối tượng học sinh đều có thể tham gia vào quá trình tìm tòi, phát hiện kiến thức, tôi chuẩn bị trước ở nhà các bài tập (dựa vào vở Bài tập Toán) có phân loại kiến thức từ dễ đến khó. Các bài tập khó dành cho học sinh khá, giỏi; các bài tập dễ dành cho học sinh trung bình trở xuống nhằm tạo hứng thú cho các em trong từng tiết học để các em chủ động tiếp thu kiến thức.

B. Biện pháp cụ thể

Trong cuộc họp phụ huynh học sinh đầu năm học để gặp gỡ, yêu cầu phụ huynh phải mua đầy đủ đồ dung học tập, sách giáo khoa để phục vụ cho việc học tập tất cả các môn học. Riêng môn Toán, ngoài các dụng cụ, đồ dùng học tập cần thiết như sách giáo khoa, bộ đồ dung toán, tôi yêu cầu phụ huynh học sinh chuẩn bị thêm cho mỗi em 1 cuốn vở ô li để học sinh làm lại các bài tập bị sai hoặc làm các bài tập ở tiết toán + (buổi chiều) bài tập do giáo viên biên soạn. Việc làm này sẽ giúp củng cố kiến thức cho học sinh và giúp các em nhớ lâu hơn đồng thời đây cũng là cách để rèn kỹ năng viết, kỹ năng tính toán cho học sinh.

Đối với mỗi dạng toán khác nhau, ngoài tham khảo sách thiết kế dành cho giáo viên, học hỏi kinh nghiệm giảng dạy của các thầy cô đi trước, tôi lựa chọn cho mình những phương pháp riêng phù hợp với trình độ học sinh lớp mình. Cụ thể như sau:

Ngay từ những bài đầu tiên của chương trình toán lớp 1, các em sẽ làm quen với các hình đơn giản: hình tròn, hình vuông, hình tam giác. Đối với bài học này giáo viên cần phải cho học sinh nhận dạng, nắm được tên các hình và đặc điểm cơ bản để nhận dạng hình, vẽ được hình đó.

Ví dụ: Khi dạy bài hình vuông, hình tròn, sau khi cho học sinh nhận dạng được hình, tôi yêu cầu học sinh lấy trong Bộ đồ dùng môn toán các hình vuông, hình tròn rồi yêu cầu học sinh tìm các đồ vật xung quanh em có hình vuông, hình tròn dưới dạng trò chơi tạo hứng thú ban đầu cho các em khi học môn toán. Sau đó cho học sinh vẽ ra bảng con hình vuông, hình tròn để các em khắc sâu hơn về hình đã học.

2. Dạy toán về nhiều hơn, ít hơn:

Với dạng toán về nhiều hơn, ít hơn học sinh phải nắm thật kỹ để các em chuyển sang học về dấu lớn hơn, bé hơn được dễ dàng. Đối với học sinh khá, giỏi, các em tiếp thu bài rất nhanh vì đó chỉ là những kiến thức đơn giản các em nhận biết trong giao tiếp hàng ngày với cha mẹ, với những người xung quanh. Tuy nhiên đối với những học sinh trung bình, yếu, kém các em gặp khó khăn rất nhiều trong quá trình xác định nhóm đồ vật có số lượng nhiều hơn, nhóm đồ vật có số lượng ít hơn.Vì vậy, khi dạy dạng toán này, tôi chú ý để các học sinh trung bình trở xuống được thực hành nhiều hơn.

Để các em dễ nhận biết kiến thức, tôi áp dụng triệt để phương pháp trực quan. Từ việc cho các em quan sát cụ thể để các em phát hiện và ghi nhớ nội dung kiến thức.

Ví dụ: Gọi hai nhóm học sinh đứng trước lớp, nhóm một có 4 học sinh nam, nhóm hai có 3 học sinh nữ.

– Giáo viên yêu cầu cả lớp quan sát, sau đó gọi những học sinh thuộc nhóm đối tượng trung bình trở xuống trả lời câu hỏi: Nhóm nào nhiều bạn hơn? Nhóm nào ít bạn hơn? Tuy nhiên vẫn sẽ có những học sinh không trả lời được nhóm nào nhiều hơn, nhóm nào ít hơn. Đối với trường hợp này, tôi sẽ cho 2 nhóm bạn nam và nữ bắt tay nhau, mỗi học sinh nam sẽ bắt tay với 1 học sinh nữ, các em sẽ thấy thừa ra 1 học sinh nam từ đó thấy được nhóm học sinh nam nhiều hơn nhóm học sinh nữ.

– Tôi tiếp tục thay đổi số học sinh của hai nhóm và nêu các câu hỏi tương tự để nhiều học sinh yếu kém có cơ hội trả lời câu hỏi nhằm phát hiện kiến thức. Ngoài ra, tôi sẽ làm nhiều phiếu bài tập có dạng bài tương tự để các em nắm vững về nhiều hơn, ít hơn. Quan trọng nhất sau mỗi 1 bài tập tôi thường cho các em trả lời cá nhân sau đó cho các em nhắc lại đồng thanh cả lớp để khắc sâu kiến thức.

3. Dạy về số, các chữ số.

Đối với dạng các số từ 0 đến 10, chúng ta phải hướng dẫn thật kĩ để cho học sinh biết đọc, viết các số, vì đây là tiền đề để các em năm được về vấn đề số học trong toàn bộ chương trình toán học ở tiểu học. Có những học sinh đã được cha, mẹ cho làm quen trước ở nhà nên việc nhớ cách viết, đọc các số rất đơn giản với các em. Tuy nhiên có một số ít trường hợp khó khăn trong việc nhớ cách viết, đọc các số này. Như đã nói ở trên, trong lớp tôi có một học sinh trong 3 tháng đầu tiên của năm học, em không thể nhớ nổi các số từ 0 đến 10( không thể đếm 0 đến 10, không nhớ cách viết số, không nêu được số lượng tương ứng trong các bức tranh, trong trường hợp cụ thể.

Với những học sinh này, thầy cô giáo đặc biệt phải rất kiên trì và nhẫn nại với học sinh cũng như phải thường xuyên trao đổi với phụ huynh học sinh để có biện pháp kịp thời.

Ở dạng toán nhận biết cách đọc, viết các số có 1 chữ số này, tôi thường cho học sinh nhận biết bằng đồ dung trực quan (que tính).

– Ví dụ: Các số 1, 2, 3, 4, 5

+ Có mấy ngôi nhà? (có 4 ngôi nhà).

+ Giáo viên nêu: Có 4 ngôi nhà.

+ Giáo viên ghi bảng: 4 và đọc: Bốn

+ Giáo viên hướng dẫn học sinh viết bảng con số 4. Sau đó cho học sinh chỉ tay vào bảng con của mình đọc nối tiếp: Bốn.

+ Giáo viên cho học sinh thực hành lấy 4 que tính và nêu: Có 4 que tính.

Ngoài ra, để củng cố cho các em về số tôi thường tổ chức cho các em chơi trò chơi ” Chim bay về tổ” để tạo hứng thú cho học sinh đồng thời giúp các em khắc sâu hơn về các số. Trò chơi như sau: Tôi gọi 1 nhóm học sinh tham gia chơi trò chơi, khi giáo viên hô: Chim bay về tổ, học sinh đáp: Về mấy về mấy? Giáo viên nêu số bất kì: 2, 3, 4…. Học sinh sẽ tự tạo nhóm tương ứng với số mà giáo viên đã nêu.

Giáo viên cần cho học sinh nắm chắc thứ tự các số trong dãy số để khi làm các bài tập về điền dấu dễ dàng hơn. (có thể cho học đếm xuôi, đếm ngược hoặc cho học sinh điểm số tờ 1 đến 10 để tạo hứng thú học tập cho học sinh).

b) Các số từ 11 đến 100

Ở dạng toán này học sinh thường bị nhầm ở cách đọc số. Ví dụ: 22 các em thường đọc là: hai hai (đọc đúng là: hai mươi hai).

Để học sinh nắm chắc cách đọc các số, thì khi dạy nhận biết số tôi hướng dẫn học sinh nắm chắc một số gồm mấy chục và mấy đơn vị. Khi học sinh nắm chắc được về chục và đơn vị học sinh sẽ biết cách đọc số. Ví dụ: đọc số: 67

+ 67 gồm mấy chục và mấy đơn vị? (67 gồm 6 chục và 7 đơn vị).

+ Đọc: sáu mươi bảy.

Hoặc đối với học sinh trung bình, yếu tôi buộc phải cho học sinh nhớ máy móc bằng cách them chữ “mươi”. Ví dụ: Các em thường đọc: 67 là: sáu bảy. Khi cho them chữ “mươi” vào giữa 2 số sẽ là: sau mươi bảy.

a) Hướng dẫn học sinh so sánh các số trong phạm vi 10:

Đây là hai dấu bé, lớn chỉ sự quan hệ giữa các số mà học sinh rất dễ nhầm lẫn, không chỉ học sinh yếu, kém nhầm lẫn mà ngay cả học sinh khá, giỏi cũng có thể sai khi tính toán vội vàng. Để hạn chế điều này, tôi giúp học sinh phân biệt bằng cách co cánh tay của mình khi hướng dẫn các em điền dấu.

-Với dấu bé hơn (<):

– Để các em có thể liên hệ với dạng toán nhiều hơn ít hơn, tôi sẽ gắn các số với 1 nhóm đồ vật nhất định ví dụ: 2 quả táo và 4 quả táo.

– Sau đó nêu câu hỏi: 2 quả táo như thế nào so với 4 quả táo?

– Học sinh trả lời: 2 quả táo ít hơn 4 quả táo.

– Giáo viên nhắc lại: 2 quả táo ít hơn 4 quả táo hay ta còn nói: 2 < 4

– Giáo viên ghi dấu bé hơn vào chỗ chấm (2 < 4) và cho học sinh nhận xét: Dấu bé hơn, mũi nhọn quay về bên trái giống như tay trái đang co lại chống vào hông, hay mũi nhọn quay vào số bé hơn.

– Cho học sinh lên bảng thực hành chống tay trái vào hông trước lớp cho các bạn cùng nhận xét xem có đúng như kết luận đã nêu không (học sinh đứng quay mặt vào bảng). Tiếp tục, tôi tiến hành tương tự với một vài ví dụ khác như: 1…5; 4…7;

Tương tự ví dụ trên, giáo viên cũng nêu câu hỏi và rút ra nhận xét: Dấu lớn hơn giống như tay phải co lại chống vào hông. Sau đó, cho học sinh thực hành, nêu nhận xét.

– Giáo viên chọn khoảng 8 học sinh trở lên, tùy theo thực tế học sinh và không gian lớp học, xếp các học sinh này thành một hàng ngang trên bục giảng theo hai nhóm, mỗi nhóm có số lượng học sinh không bằng nhau.

– Giáo viên yêu cầu cả lớp nhận xét, tuyên dương sau mỗi học sinh.

– Giáo viên liên tục thay đổi số lượng học sinh trong mỗi nhóm trên bảng để học sinh có thể so sánh được nhiều giá trị giữa 2 số và cũng là để nhiều học sinh cùng được tham gia vào trò chơi.

b) Hướng dẫn học sinh so sánh các số có hai chữ số:

Để hướng dẫn học sinh dễ dàng so sánh các số có hai chữ số, tôi cho học sinh tách các số thành từng hàng rồi cho học sinh so sánh các số trong cùng hàng; từ đó rút ra kết luận so sánh giá trị của hai số.

– Tôi hướng dẫn từng bước cho học sinh nhận xét:

+ 55 và 59 giống nhau ở hàng nào? (giống ở hàng chục là 5).

+ 5 đơn vị như thế nào so với 9 đơn vị? (5 đơn vị bé hơn 9 đơn vị).

+ 55 như thế nào so với 59? (55 bé hơn 59).

– Gợi ý học sinh rút ra kết luận: 55 và 59 có 5 chục bằng nhau, 5 bé hơn 9 nên 55 bé hơn 59.

– Gọi học sinh lên bảng điền dấu vào chỗ chấm: 55 <59.

– Tiến hành cho học sinh so sánh ngược lại: 59…55 tương tự như trên.

Từ phương pháp và kết quả so sánh trên, giáo viên gợi ý học sinh rút ra kết luận chung: các số có hai chữ số có số chục bằng nhau, số nào có số đơn vị bé hơn thì số đó bé hơn, số nào có số đơn vị lớn hơn thì số đó lớn hơn.

Đối với trường hợp các số khác nhau cả hàng chục và hàng đơn vị tôi tiến hành tương tự như trên để rút ra kết luận: các số có hai chữ số, số nào có hàng chục lớn hơn thì số đó lớn hơn.

3…4

Dạng bài này học sinh dễ dàng điền được dấu luôn tuy nhiên vẫn có số ít học sinh điền nhầm vì vậy giáo viên có thể hướng dẫn học sinh quan sát tranh có số lượng đồ vật tương ứng với các số sau đó hỏi tranh nào có số lượng nhiều hơn từ đó học sinh nhận ra được dấu mình phải điền.

Ở dạng này giáo viên cần cho học sinh nắm chắc kiến thức để làm bài tập các dạng b, c dễ dàng hơn.

– Giáo viên nêu câu hỏi gợi ý:

+ Bài này có mấy phần? Gồm những phần nào? (Bài có hai phần, phần đứng trước dấu chấm và phần đứng sau dấu chấm).

+ Em có thể tính phần nào trước? (Tính 3 + 4 trước).

+ 3 + 4 bằng mấy? (3 + 4 = 7).

+ Em dùng bút chì ghi số 6 nhỏ xuống phía dưới phép tính 3 + 4.

+ 9 như thế nào so với 7? (9 lớn hơn 7).

Ví dụ 3: Bài tập số 2; sách giáo khoa Toán lớp 1 trang 143.

Bài 2: Khoanh tròn vào số lớn nhất:

a) 72; 68; 80. b) 91; 87; 69.

c) 97; 94; 92. d) 45; 40; 48.

Các bài tập này rất khó đối với học sinh trung bình trở xuống, do đó tôi phải hướng dẫn kỹ từng mục của mỗi bài.

– Mục a, b: Hướng dẫn học sinh so sánh hàng chục để tìm được số lớn nhất (bé nhất).

– Mục c, d: Hướng dẫn học sinh so sánh hàng đơn vị để tìm số lớn nhất (bé nhất).

Cuối bài so sánh các số có hai chữ số, tôi tổ chức trò chơi để củng cố như sau:

– Làm các bông hoa có mang số ở nhụy hoa, ví dụ: 34; 61; 14; 67. Mặt sau bông hoa gắn keo dính 2 mặt.

– Tổ chức cho học sinh tham gia trò chơi thành hai đội dưới dạng thi ai nhanh hơn, số lượng học sinh của mỗi đội tương ứng với số hoa mà giáo viên đã làm cho mỗi đội.

– Giáo viên phát lệnh, học sinh hai đội lần lượt đứng theo thứ tự từ bé đến lớn hoặc ngược lại (tùy theo yêu cầu của giáo viên, theo mục tiêu của từng bài học và thực tế học sinh ở mỗi lớp). Đội nào đứng nhanh hơn và đúng là thắng cuộc.

6. Dạy các bài dạng “Tìm thành phần chưa biết của phép cộng, phép trừ”:

Ví dụ: …+ 5= 7 …- 6 = 2.

5 +… = 10 7 -…= 4.

Đối với các lớp trên, dạng toán này có qui tắc cụ thể. Ở lớp Một, các em tự nhẩm rồi điền vào chỗ chấm. Vì vậy, muốn làm đúng dạng toán này, các em phải thuộc kỹ các phép cộng, trừ trong phạm vi 10. Do đó, khi dạy phép cộng và trừ từ 2 đến 10, tôi chú ý rèn cho học sinh kỹ năng thuộc và nhớ kỹ tất cả các phép tính. Đối với những học sinh yếu, kém, tôi sử dụng các hình thức dạy học trực quan, gợi mở, dạy học theo nhóm ở lớp, nhóm ở nhà và thường xuyên kiểm tra để các em có thể thuộc và nhớ được các phép tính theo yêu cầu đã nêu.

7. Dạng điền số vào ô trống:

Để tất cả học sinh có thể làm được và làm đúng dạng toán này, tôi phát huy tối đa ưu thế của phương pháp gợi mở, phân tích – tổng hợp. Cụ thể như sau:

+ Bài toán này có mấy phần? Đó là những phần nào? (Bài toán có hai phần, phần đứng trước dấu bằng và phần đứng sau dấu bằng).

+ Chúng ta có thể tính được phần nào trước? (Tính phần đứng trước dấu bằng).

+ Phần đứng trước dấu bằng có kết quả bằng mấy? (3 + 7 = 10).

+ Phần đứng sau dấu bằng đã có 6, vậy chúng ta cộng thêm mấy nữa để bằng 10? (Cộng thêm 4).

+ Vậy 3 + 7 = 6 + mấy? (3 + 7 = 6 + 4).

Trong các tiết Toán tự soạn sau đó, tôi sẽ đưa thêm một số bài tập tự soạn ở dạng này vào bài để các em được luyện tập nhằm rèn luyện kỹ năng và củng cố, khắc sâu kiến thức.

8. Dạy toán có lời văn:

Khi học dạng toán này, rất nhiều học sinh gặp khó khăn trong việc đặt câu lời giải, thậm chí ngay cả một số học sinh khá cũng lúng túng trong việc này. Các em thường đặt sai câu lời giải hoặc chép lại nguyên văn câu hỏi trong bài toán. Để khắc phục những khó khăn trên cho học sinh, tôi phải sử dụng những qui ước theo kiểu “luật bất thành văn”. Ngay từ những bài toán đầu tiên ở dạng này, tôi qui ước đối với học sinh những nội dung sau:

– Viết câu trả lời chính là việc trả lời câu hỏi của bài toán.

– Khi trả lời, không lặp lại từ “hỏi”.

– Khi trả lời, thay các từ “mấy?”, “bao nhiêu?” trong các bài toán thành các từ “số”, thêm từ là vào cuối câu trả lời.

Đối với học sinh khá, giỏi, tôi không yêu cầu các em làm theo qui ước mà để các em trả lời tự do theo ý hiểu của mình.

Ví dụ: Nhà An có 9 con gà, mẹ đem bán 3 con gà. Hỏi nhà An còn lại mấy con gà?

– Lời giải là câu trả lời của câu hỏi “Hỏi nhà An còn lại mấy con gà?”.

– Khi bỏ từ “hỏi” và thay từ “mấy” bằng từ số sẽ được câu trả lời: “Nhà An có còn lại số con gà là”.

Trong một số tiết Toán + (buổi chiều), tôi đưa ra một số bài toán tự soạn như đã nêu ở phần đầu với yêu cầu chủ yếu đối với học sinh là luyện tập kỹ năng đặt câu lời giải.

Ngoài ra các em còn nhầm lẫn trong khi viết phép tính (nhầm phép cộng thành phép trừ, ngược lại). Để hướng dẫn học sinh viết đúng phép tính tôi thường hướng dẫn như sau:

Ví dụ: Bài 1 trang 148

Có 8 con chim đậu trên cây, sau đó có 2 con bay đi. Hỏi trên cây còn lại bao nhiêu con chim?

+ Cho học sinh đọc đề bài nhiều lần.

+ Bài toán cho biết gì? (Có 8 con chim đậu trên cây, sau đó có 2 con chim bay đi).

+ Bài toán hỏi gì? (Hỏi trên cây còn lại bao nhiêu con chim?)

+ Muốn biết còn lại bao nhiêu con chim ta làm phép tính gì?( Ta làm phép tính trừ).

+ Nêu phép tính?( 8-2=6)

+ Nêu câu trả lời cho bài toán?( Trên cây còn lại số con chim là:)

Với cách làm này, theo ghi nhận thực tế của tôi, 100% học sinh đã đặt được và đúng câu lời giải cho các bài giải toán có lời văn.

Sáng Kiến Kinh Nghiệm: Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Toán Lớp 1

c để nâng cao chất lượng môn Toán đi lên. Qua đây tôi nhấn mạnh thêm khó khăn: Còn nhiều gia đình học sinh chưa thực sự quan tâm tới việc học tập của con cái. Do điều kiện kinh tế còn khó khăn và trình độ học vấn chưa cao nên chưa chú ý đến việc học hành của con. Đặc biệt chưa nhận thức đúng vai trò của môn Toán. Học sinh chưa ý thức được nhiệm vụ của mình, chưa chịu khó, tích cực tư duy suy nghĩ tìm tòi cho mình những phương pháp học đúng để biến tri thức của thấy thành của mình. Cho nên sau khi học xong bài, các em chưa nắm bắt được lượng kiến thức thầy giảng rất nhanh quên và kĩ năng tính toán chưa nhanh. II.3. Giải pháp, biện pháp a. Mục tiêu của giải pháp, biện pháp Tôi đưa ra các biện pháp nhằm các mục tiêu cụ thể như sau: Sáng kiế kinh nghiệm: Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học môn Toán lớp 1 Người thực hiện: Hoàng Thị Loan Trường Tiểu học Lý Tự Trọng 8 - Đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức dạy học thông qua việc ứng dụng công nghệ thông tin, áp dụng trò chơi học tập nhằm kích thích sự hứng thú cho học sinh. - Đầu tư nội dung và hình thức cũng như phương pháp phù hợp trong các tiết ôn luyện nhằm củng cố và nâng cao kiến thức cơ bản cho học sinh. - Nâng cao chất lượng dạy học môn Toán thông qua các hoạt động bổ ích khác. Giúp học sinh yêu thích môn Toán hơn, luôn chủ động tiếp thu kiến thức. b. Nội dung và cách thức thực hiện biện pháp, giải pháp b.1. Đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức dạy học Khác với cách dạy truyền thống "Thầy giảng - trò nghe", phương pháp dạy học hiện tại là "Thầy hướng dẫn - Trò tự tìm tòi khám phá để chiếm lĩnh kiến thức". Phương pháp mới này kích thích tính chủ động, khả năng tìm tòi, tư duy sáng tạo cho người học. Từ đó, giúp học sinh ghi nhớ kiến thức lâu hơn. Môn Toán là môn dễ gây nhàm chán và áp lực thì phương pháp này là thích hợp nhất. Song vai trò của người giáo viên phải là người hướng dẫn, định hướng, giúp đỡ kịp thời để các học sinh đi đúng mục tiêu, nội dung trọng tâm của bài học. Để thực hiện tốt những biện pháp này tôi đã thực hiện những việc sau đây: * Ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học môn Toán Đối với học sinh lớp 1, việc sử dụng công nghệ thông tin để giảng dạy mang lại sự mới lạ, khích thích sự tò mò, hứng thú và phù hợp nhất với tư duy trực quan cụ thể của học sinh. nhiên trong phạm vi 10, 20, 100,..; nhận biết các hình học đơn giản như hình tròn, hình vuông, hình tam giác,Đối với các nội dung trên, tôi chọn một số bài cơ bản để tiến hành dạy bằng giáo án điện tử. + Đối với các bài nhận biết các số từ 1 đến 10, tôi sẽ chọn một bài điển hình để dạy bằng giáo án điện tử giúp dễ hình dung và nắm bắt kiến thức. Ví dụ: Bài: Số 6, trang 26 Bước 1: Nghiên cứu kĩ mục tiêu, nội dung bài học để đưa ra các hình thức dạy: Phần bài cũ, phần bài mới, phần luyện tập, phần củng cố Sáng kiế kinh nghiệm: Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học môn Toán lớp 1 Người thực hiện: Hoàng Thị Loan Trường Tiểu học Lý Tự Trọng 9 Bước 2: Tiến hành soạn giáo án (lưu ý bài soạn không quá màu mè, nên hướng sự chú ý của học sinh vào nội dung chính trong bài, hiệu ứng đơn giản, không rườm rà, mất thời gian) Bước 3: Chuẩn bị máy chiếu, màn chiếu, loa các thiết bị phục vụ cho việc dạy. Bước 4: Tiến hành dạy theo ý tưởng bài soạn (Cần lồng ghép một trò chơi học tập ở phần củng cố hoặc phần bài cũ để tạo không khi sôi nổi cho tiết học) Bước 5: Kiểm tra việc nắm kiến thức của học sinh, tổng kết, rút kinh nghiệm cho bài sau. Thông qua bài dạy học sinh định hình được số 6 thông qua số lượng và hình ảnh trực quan ma các em được nhìn thấy rõ (có 6 bạn, 6 con bướm, 6 chùm nho, 6 bít chì,) Ví dụ: Bài Phép cộng trong phạm vi 9 Giáo viên cũng chuẩn bị theo 5 bước như trên, nhưng trong quá trình dạy giáo viên cần sử dụng các thao tác trên máy thành thạo, nhuần nhuyễn để khỏi gián đoạn quá trình tư duy của học sinh. * Áp dụng các trò chơi học tập vào các tiết học Trong quá trình dạy học môn Toán, việc sử dụng trò chơi toán học có nhiều tác dụng như : - Giúp học sinh thay đổi loại hình hoạt động trong giờ học, làm cho giờ học bớt căng thẳng, tạo cảm giác thoải mái, dễ chịu. Học sinh tiếp thu kiến thức nhẹ nhàng, tạo hứng thú học tập. - Kích thích sự tìm tòi, tạo cơ hội để học sinh tự thể hiện mình. - Thông qua trò chơi, học sinh vận dụng kiến thức năng nổ, hoạt bát, kích thích trí tưởng tượng, trí nhớ. Từ đó phát triển tư duy mềm dẻo, học tập cách xử lý thông minh trong những tình huống phức tạp, tăng cường khả năng vận dụng trong cuộc sống. Sáng kiế kinh nghiệm: Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học môn Toán lớp 1 Người thực hiện: Hoàng Thị Loan Trường Tiểu học Lý Tự Trọng 10 Khi dạy học môn Toán, tôi thường áp dụng trò chơi vào phần khởi động hoặc + Trò chơi: Đoàn kết - Mục đích: Rèn kĩ năng tính nhẩm nhanh, thích hợp với những bài dạy phép cộng, trừ các số trong phạm vi 10. - Thời gian: 5 - 7 phút - Cách chơi: Tôi hô: "Đoàn kết- Đoàn kết", học sinh hỏi "Kết mấy ? - Kết mấy ?" Tôi hô: "Kết 2 + 4" , 1 + 7, 9 - 5 , Học sinh phải nhẩm nhanh kết quả để kết thành nhóm theo yêu cầu. Kết thúc cuộc chơi, ai nhanh thì được tuyên dương, ai chậm thì bị phạt theo yêu cầu của lớp. Trò chơi này tôi dùng vào những tháng đầu của học kì I, sau một thời gian áp dụng tôi thấy tiết học hiệu quả hơn, một số em thiếu tự tin, ít chú ý trở nên nhanh nhẹn và chủ động hơn. + Trò chơi: Truyền điện - Mục đích: Củng cố bảng cộng, trừ trong phạm vi 10, 20 (trang 90 SGK Toán 1) - Thời gian: 5 - 7 phút - Cách chơi: Lớp chia thành 2 đội để thi đua. Tôi sẽ "châm ngòi" đầu tiên, cô đọc một phép tính chẳng hạn: 9 + 6 rồi chỉ vào một em thuộc một trong 2 đội, em đó phải bật ngay ra kết quả. Nếu kết quả đúng thì em đó có quyền "xì điện" một bạn thuộc đội đối phương. Em sẽ đọc bất kì phép tính nào, ví dụ 5 + 8 và chỉ vào một bạn (ở bên kia) bạn đó lập tức phải có ngay kết quả là 13, rồi lại "xì điện" trả lại đội ban đầu. Cứ như thế cô cùng 2 thư ký ghi kết quả của mỗi đội. Hết thời gian chơi đội nào có nhiều bạn đọc kết quả đúng thì đội đó chiến thắng. Nếu một học sinh nào đó trả lời chưa chính xác sẽ bị "giật", lúc này bạn lúc đầu đặt câu hỏi sẽ "xì điện" bạn khác. Kết thúc trò chơi bạn không trả lời được sẽ bị phạt. Đây là một hình thức ôn tập rất hiệu quả, phù hợp với những bài luyện tập. Sáng kiế kinh nghiệm: Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học môn Toán lớp 1 Người thực hiện: Hoàng Thị Loan Trường Tiểu học Lý Tự Trọng 11 + Trò chơi: Giành cờ chiến thắng - Mục đích : Củng cố khái niệm thêm và bớt một số đơn vị, luyện cách xử lý linh hoạt. Ví dụ bài: Luyện tập, trang 88 SGK Chuẩn bị chơi: Tôi chuẩn bị hai phiếu học tập có thể có nội dung như sau: -7 +2 -3 +8 Chia lớp thành hai đội chơi, mội đội cầm một lá cờ, gồm 3 em chơi tiếp sức điền kết quả vào các hình tròn, đội nào cắm được lá cờ lên trước đội đó chiến thắng. +Trò chơi: Hái hoa - Mục đích: Củng cố cách nhận biết về hình học đơn giản, áp dụng đối với bài: Hình vuông, hình tròn, hình tam giác - Thời gian: Từ 3 - 5 phút - Chuẩn bị: Giáo viên vẽ các hình tròn, hình tam giác, hình vuông lên các bông hoa có gắn nam châm, sau đó gắn lên bảng lớp. - Cách chơi: Mỗi lần gọi 2 bạn lên bảng, yêu câu hái những bông hoa chứa hình cô giáo yêu cầu, bạn nào hái được nhiều bông hoa nhất sẽ được tuyên dương. * Sử dụng có hiệu quả đồ dùng dạy học Mỗi bài học khác nhau thì yêu cầu về đồ dùng dạy học là khác nhau vì thế việc lựa chọn đồ dùng dạy học phù hợp với mục tiêu của từng tiết học là rất quan trọng. Đối với môn Toán thông thường đồ dùng dạy học cần chuẩn bị gồm: Que tính, thước kẻ, phấn màu, bảng con, thẻ chữ, phiếu bài tập, + Que tính: Đây là đồ dùng không thể thiếu đối với học sinh lớp 1, tôi thường dùng để hình thành kiến thức mới trong các bài phép cộng, phép trừ trong phạm vi 10, 20, 100. Khi dạy tôi thường dùng que tính để thao tác mẫu trước lớp giúp học sinh dễ quan sát sau đó thực hành lại. Việc làm này giúp các em ghi nhớ nhanh và lâu hơn. 10 Sáng kiế kinh nghiệm: Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học môn Toán lớp 1 Người thực hiện: Hoàng Thị Loan Trường Tiểu học Lý Tự Trọng 12 + Thước kẻ: Được sử dụng để dạy các bài: Điểm, đoạn thẳng; Độ dài đoạn thẳng; Thực hành đo độ dài + Phấn màu: Được dùng để ghi tên bài học và những điểm cần chú ý nhằm làm nổi bật phần kiến thức chính của bài, giúp học sinh tập trung hơn. Tuy nhiên cũng không nên lạm dụng phấn màu vì sẽ làm phân tán sự chú ý của học sinh vào nội dung chính của bài học. + Bảng con: Được dùng để học sinh thực hành viết số, thực hiện phép tính. Bảng con là một đồ dùng cần thiết để kiểm tra việc ghi nhớ bài học của học sinh thông qua việc kiểm tra bài cũ. Tôi thường tổ chức các trò chơi học tập với bảng con như: Thi làm toán nhanh, Rung chuông vàng... vào phần củng cố sau mỗi tiết học. + Phiếu bài tập: Tùy vào yêu cầu của mỗi bài, để phát huy trí lực và khắc sâu kiến thức cơ bản cho học sinh tôi đã chọn một số bài tập ghi vào phiếu học tập cho học sinh điền để tiết kiệm thời gian và tăng sự chủ động cho học sinh. Ví dụ: Bài Các số có hai chữ số (tiếp theo) trang 138 Ở bài tập 4, để tiết kiệm thời gian tôi ghi nội dung bài tập vào phiếu và phát cho từng nhóm bàn để học sinh cùng làm, sau đó chữa bài. Đúng ghi Đ, sai ghi S a) Ba mươi sáu viết là 306 b) 54 gồm 4 chục và 4 đơn vị Ba mươi sáu viết là 36 54 gồm 5 và 4 * Sử dụng phương pháp noi gương Một trong các phương pháp giúp trẻ học tốt đó chính là phương pháp nêu gương. Học sinh lớp 1 rất thích được khen, vì vậy khi các em đạt được thành tích gì dù là nhỏ thì giáo viên cũng phải biết để động viên, khuyến khích học sinh kịp thời. Trong quá trình dạy toán, nếu thấy học sinh nào có tiến bộ, tôi thường tuyên dương các em trước lớp trong giờ học đó để các em phấn khởi và có động lực học tập tốt hơn. Ví dụ: Một em học sinh hôm nay có sự tiến bộ, tôi sẽ khen ngợi em đó trước lớp "Bạn Nam hôm nay làm toán nhanh và chính xác hơn hôm qua, bạn Nam thật Sáng kiế kinh nghiệm: Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học môn Toán lớp 1 Người thực hiện: Hoàng Thị Loan Trường Tiểu học Lý Tự Trọng 13 * Đổi mới về cách kiểm tra, đánh giá học sinh Đánh giá kết quả học tập của học sinh không chỉ có giáo viên là người " Cầm cân nảy mực" mà nên cho học sinh tham gia vào việc đánh giá kết quả học tập của bạn cũng như của bản thân mình. Tôi thường tổ chức cho học sinh đổi chéo vở kiểm tra lẫn nhau, đối chiếu bài cô, tự chấm bài cho mình. Cô là người hướng dẫn và có nhận xét, kết luận chung. Ví dụ: + Khi học sinh hoàn thành tốt bài tập, tôi nhận xét như sau: "Hiểu và làm đúng bài tập, trình bày rõ ràng, em thật đáng khen !" + Khi học sinh hoàn thành bài tập nhưng trình bày chưa đẹp tôi có thể nhận xét: "Em làm đúng bài tập, nhưng em nên trình bày sạch sẽ và cẩn thận hơn" + Khi học sinh chưa hoàn thành bài tập, hoặc làm sai nhiều, có thể nhận xét: "Em chưa hoàn thành bài, em cần cố gắng nhiều hơn nữa" Trong quá trình dạy, tôi luôn kiểm tra, theo dõi, giám sát tiến trình hoạt động, kết quả của các hoạt động của từng học sinh để có sự động viên khuyến khích hay giúp đỡ kịp thời. b. 2. Đầu tư nội dung và phương pháp dạy học phù hợp cho tiết ôn luyện Phân hóa đối tượng học sinh, lựa chọn nội dung ôn luyện phù hợp với từng đối tượng học sinh. Tiến hành chọn bài để ôn luyện. Nội dung ôn luyện không quá cao, không có kiến thức mới chưa học, tránh việc quá tải cho học sinh. Ví dụ: Ôn luyện: Giải toán có lời văn (tiếp theo) trang 148 Bước 1: Xác định mục tiêu bài học: Củng cố kĩ năng giải toán có lời văn Bước 2: Lựa chọn nội dung bài học: Ôn luyện bài tập 1, 2, 3 Vở bài tập Bước 3: Soạn bài, chuẩn bị đồ dùng: Trong bài soạn thể hiện được với một nội dung bài tập nhưng có những yêu cầu khác nhau cho từng đối tượng học sinh khác nhau. Chẳng hạn: Bài tập 1: Dưới ao có 5 con vịt đang bơi, có thêm 5 con vịt nữa xuống ao. Hỏi có tất cả bao nhiêu con vịt dưới ao? + Đối với học sinh yếu và trung bình: Tôi yêu cầu các em đọc kĩ đề bài sau đó làm bài vào vở. Trước đó, tôi hướng dẫn các em bằng các câu hỏi gợi ý để các em nắm được cách giải toán. Sáng kiế kinh nghiệm: Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học môn Toán lớp 1 Người thực hiện: Hoàng Thị Loan Trường Tiểu học Lý Tự Trọng 14 + Đối với học sinh khá: Tôi yêu cầu các em viết tóm tắt, sau đó dựa vào tóm tắt để nêu lại bài toán, rồi giải bài toán vào vở. + Đối với học sinh giỏi: Tôi yêu cầu các em nêu tóm tắt, giải bài toán và tìm lời giải khác lời giải đã làm hoặc nêu cách làm khác (nếu có). Việc dạy học phân hóa góp phần bồi dưỡng học sinh năng khiếu và giúp đỡ kịp thời những học sinh tiếp thu chậm, nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Toán. b.3. Nâng cao chất lượng dạy học môn Toán thông qua các hoạt động khác * Tổ chức "Đôi bạn cùng tiến" Trong giờ học tôi còn tổ chức lớp học thành các " Đôi bạn cùng tiến" cụ thể: + Những học sinh tiếp thu bài nhanh, kĩ năng tính toán tốt sẽ giúp đỡ bạn tiếp thu chậm, hay làm sai (nếu ở gần nhà nhau càng tốt). + Một học sinh chăm học, chuyên cần giúp đỡ và nhắc nhở bạn lười học. Để việc thực hiện có hiệu quả, tôi chủ động xếp học sinh ngồi cùng một bàn để học sinh tự học hỏi lẫn nhau, việc tổ chức cho học sinh cùng nhau học hỏi, cùng nhau thi đua, rèn luyện đó là việc tốt nên làm. Sau từng tuần, từng tháng, tôi tổng kết, tuyên dương từng em, từng "Đôi bạn cùng giúp nhau tiến bộ" vào tiết sinh hoạt cuối tuần. Nhận xét mang tính khuyến khích, động viên các em là chính. * Tổ chức tốt các phong trào thi đua Để tạo không khí hào hứng thi đua học tập, tôi thường xuyên tổ chức các cuộc thi nhỏ như "Rung chuông vàng", "Trạng nguyên nhỏ tuổi", "Tiến sĩ nhí"vào các tiết sinh hoạt tập thể đầu tuần. Những bài toán hay, những cách tính nhanh, được nêu ra để các bạn học tập. Phát động giờ học tốt, tuần học tốt, bông hoa mừng cô để chào mừng các ngày lễ lớn trong năm học được các em hưởng ứng nhiệt tình. * Phối hợp chặt chẽ với giáo viên bộ môn và cha mẹ học sinh Một trong những nguyên nhân dẫn đến thực trạng chất lượng môn Toán chưa cao là do học sinh thiếu sự quan tâm theo dõi sát sao của cha mẹ. Sáng kiế kinh nghiệm: Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học môn Toán lớp 1 Người thực hiện: Hoàng Thị Loan Trường Tiểu học Lý Tự Trọng 15 Tôi thường xuyên trao đổi với đồng nghiệp và cha mẹ học sinh về tình hình học tập của các học sinh trong lớp chủ nhiệm, để nắm bắt kịp thời những sai lệch và động viên khuyến khích những tiến bộ của học sinh. c. Điều kiện để thực hiện giải pháp, biện pháp Để các biện pháp nói trên phát huy được hiệu quả thực tiễn cần đáp ứng - Trước khi lên lớp, giáo viên cần nghiên cứu kĩ nội dung, xác định rõ mục tiêu của bài học. Để từ đó có phương pháp, hình thức tổ chức dạy học mang lại hiệu quả và phù hợp với nội dung từng bài. - Trong quá trình sử dụng các biện pháp cần linh hoạt, sử dụng khéo léo, tinh tế để tạo hứng thú và tránh sự nhàm chán cho học sinh. Luôn quan tâm, theo sát học sinh để uốn nắn, nhắc nhở các em kịp thời cũng như động viên, khuyến khích các em khi các em tiến bộ. - Cần có sự chuẩn bị chu đáo các thiết bị dạy học, đồ dùng học tập, phiếu học tập... trước khi lên lớp tránh tình trạng lúng túng trước học sinh. - Bản thân mỗi giáo viên phải nêu cao tinh thần trách nhiệm, không ngừng học hỏi trau dồi kiến thức để bổ sung những biện pháp cần thiết hay loại bỏ những biện pháp không còn phù hợp. d. Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp Các biện pháp có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau, bổ sung hỗ trợ cho nhau. Nếu thực hiện tốt biện pháp đầu sẽ góp phần vào thành công của biện pháp tiếp theo. Nhằm mục đích cao nhất là nâng cao chất lượng dạy học môn Toán. e. Kết quả khảo nghiệm Từ kết quả khảo sát giữa học kì I, sau khi áp dụng linh hoạt các biện pháp nêu trên tôi đã thu được kết quả khảo nghiệm rất khả quan. Kết quả khảo nghiệm thực hiện vào giữa học kì II tại lớp 1D trường Tiểu học Lý Tự Trọng dưới hình thức bài kiểm tra như sau: Sáng kiế kinh nghiệm: Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học môn Toán lớp 1 Người thực hiện: Hoàng Thị Loan Trường Tiểu học Lý Tự Trọng 16 Thời gian KS Tổng số HS Điểm dưới 5 Điểm 5, 6 Điểm 7, 8 Điểm 9, 10 SL % SL % SL % SL % Giữa HKI 27 5 18.5 8 29.6 8 29.6 6 22.3 Giữa HKII 27 2 7.4 5 18.5 7 25.9 13 48.2 II.4. Kết quả Sau khi áp dụng các biện pháp nêu trên trong khoảng thời gian tương đối dài, tôi nhận thấy: - Chất lượng môn Toán được nâng lên rõ rệt, từ chưa đạt 50% học sinh khá giỏi giữa học kì I tăng lên 74,1 % ở giữa học kì II. - Phát huy được sự chủ động và tích cực của học sinh trong việc tiếp thu kiến thức mới. - Kĩ năng thực hiện phép tính và kĩ năng làm bài trở nên nhanh nhẹn và thành thạo hơn. Học sinh hiểu bài nhanh và nhớ bài lâu hơn. - Đặc biệt nhất là các em thích học môn Toán hơn và thấy bớt nặng nề, áp lực hơn trước khi học toán. Lớp học sôi nổi, hứng thú, học sinh chú ý vào bài học hơn. - Phù hợp với phương pháp đổi mới trong dạy học và tâm lí lứa tuổi học sinh lớp 1. III. KẾT LUẬN III. 1. Kết luận Vấn đề khắc phục khó khăn trong học toán với học sinh lớp 1 không phải là việc đơn giản, có thể đổi mới ngay trong thời gian ngắn. Đứng về phía giáo viên, muốn khắc phục khó khăn này trước hết phải đổi mới tư duy và phương pháp giảng dạy, phải có lòng yêu nghề, mến trẻ và luôn luôn tìm tòi cách giảng dạy sao cho dễ hiểu nhất đến học sinh, tích cực chủ động tổ chức các trò chơi học tập, gây hứng thú học tập cho các em hơn nữa. Phải có sự kết hợp chặt chẽ với gia đình học sinh, giúp học sinh hểu rõ tầm quan trọng của việc học. Không dừng lại ở đó, người giáo Sáng kiế kinh nghiệm: Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học môn Toán lớp 1 Người thực hiện: Hoàng Thị Loan Trường Tiểu học Lý Tự Trọng 17 viên cần phải lựa chọn, phối hợp sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy học sao cho phù hợp với nội dung từng bài, với đối tượng học sinh, tạo điều kiện cho các em chủ động tìm tòi và lĩnh hội kiến thức. Học sinh lớp 1 rất thích được khen. Lời khen kịp thời sẽ giúp các em có hứng thú học tập và mau tiến bộ. Do vậy, giáo viên phải biết động viên khuyến khích các em kịp thời, giúp các em tự tin trong học tập. dụng thực tế giảng dạy ở lớp mình và thu được kết quả tốt. Song do thời gian chưa nhiều cũng như nhận thức của bản thân còn hạn chế. Nội dung trình bày trên không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong hội đồng khoa học các cấp, cùng bạn bè đồng nghiệp góp ý xây dựng để đề tài thêm hoàn chỉnh hơn, có khả năng thực thi cao hơn. III. 2. Kiến nghị a. Đối với giáo viên - Thường xuyên tự học hỏi, rèn luyện mình trau dồi kinh nghiệm để thực sự là tấm gương sáng cho học sinh noi theo. - Điều quan trọng hơn nữa là người giáo viên phải kiên trì, vượt khó, tìm tòi, sáng tạo và có bản lĩnh, có tinh thần trách nhiệm cao, say mê với công việc, tận tụy với học sinh. b. Đối với học sinh Có ý thức tự giác, tích cực trong học tập. Biết lắng nghe nhận xét của cô, của bạn để tự sửa chữa, khắc phục nhược điểm của mình. Mạnh dạn góp ý, sửa sai giúp đỡ bạn trong học tập. c. Đối với nhà trường - Tổ chức các chuyên đề cấp trường để trao đổi chuyên môn, đưa ra các biện pháp dạy học hiệu quả. Tôi xin chân thành cảm ơn! Buôn Trấp, tháng 2 năm 2014 Người viết Hoàng Thị Loan

Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán Lớp 1

Thứ ba – 27/05/2014 14:39

PHÒNG GD&ĐT TP LÀO CAI

TRƯỜNG TIỂU HỌC NGUYỄN BÁ NGỌC

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG MÔN TOÁN LỚP 1

Người thực hiện: Phạm Thị Hằng Chức vụ: Tổ trưởng tổ chuyên môn khối 1 Đơn vị: Trường TH Nguyễn Bá Ngọc

Duyên Hải, ngày 02 tháng 12 năm 2013

1

1

4

2.2 Thực trạng chất lượng đầu vào lớp 1 trường TH Nguyễn Bá Ngọc- thành phố Lào Cai.

5

2.3 Một số biện pháp nâng cao chất lượng môn Toán lớp 1

2.3.1 Phối kết hợp với gia đình học sinh

2.3.2 Tích cực, kiên trì thực hiện đổi mới phương pháp dạy học

2.3.3 Sử dụng đồ dùng hiệu quả, đặc biệt là đồ dùng trực quan

2.3.4 Tổ chức tốt các hoạt động ngoại khóa tạo môi trường học tập thân thiện, hiệu quả.

6

2.4 Hiệu quả của Sáng kiến kinh nghiệm.

– Trong giảng dạy có nhiều học sinh nhận thức chậm. Giáo viên phải kiên trì, không nên khắt khe mà nên tạo điều kiện cho các em được tham gia vào các hoạt động học tập, được chia sẻ để tự tin hơn …– Giáo viên tích cực đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá học sinh thường xuyên trao đổi với giáo viên trong tổ, tổ chức các chuyên đề, sinh hoạt chuyên môn mới, chia sẻ, giải quyết kịp thời các khó khăn.– Tăng cường khảo sát chất lượng học sinh ngay tại các giờ học, buổi học, tuần học…– Chấm bài thường xuyên, động viên học sinh bằng nhiều hình thức như tuyên dương …– Giáo viên áp dụng phương pháp thường xuyên, phương pháp chứng minh tạo thói quen cho học sinh.

Ví dụ : Soạn một tiết toán cụ thể theo phương pháp mới

Phép cộng trong phạm vi 7

– Lập và ghi nhớ bảng cộng trong phạm vi 7– Vận dụng các phép tính cộng trong phạm vi 7 làm các bài tập.– HS khuyết tật nắm đựơc các phép cộng trong phạm vi 7* Giáo dục học sinh say mê, yêu thích học toán.II : Đồ dùng dạy học – Bộ đồ dùng dạy toán.III: Các hoạt động dạy học chủ yếu Hoạt động 1: Thành lập và ghi nhớ bảng cộng trong phạm vi 7

a: Hướng dẫn học sinh phép cộng 6+1=7, 1+6=7 HD h/s q/s hình vẽ và nêu thành bài toán

: Gv hướng dẫn HS làm việc cá nhân, dùng que tính lập các phép tính cộng HS ghi bảng con các phép tính đã lập 6+1=7 4+3=7 1+6=7 3+4=7 5+2=7 2+5=7 HS làm việc theo nhóm đôi. – HS đọc và đối chiếu kết quả : HS trao đổi và ghi nhớ phép cộng trong phạm vi 7 theo nhóm 4.

: HS báo cáo kết quả trước lớp dưới sự điều hành của ban học tập. – Trưởng ban tổ chức cho các bạn ghi nhớ các phép cộng.

Hoạt động 2: Thực hành Bài 1: Tính – HS đọc yêu cầu, làm bài vào SGK – Trưởng ban học tập nhận xét – chốt lại kiến thức: Bài toán ôn lại phép cộng trong phạm vi 7

Bài 2: Tính – GV gọi h/s nêu yêu cầu bài tập

– Gv nhận xét chốt lại nội dung bài – Khi thay đổi vị trí các số trong phép tính nhưng kết quả không thay đổi

Bài 3: Tính – GV hướng dẫn h/s cách làm bài tập – Chủ tịch hội đồng tự quản điều hành lớp nêu cách làm. – Gv nhận xét

Bài 4: Viết phép tính thích hợp – Chủ tịch hội đồng tự quản điều hành các bạn tìm hiểu đề bài bài toán. B1: Quan sát tranh B2: Đặt đề toán. a/ Có 6 con bướm. Thêm 1 con bướm. Hỏi tất cả có bao nhiêu con bướm? b/ Có 4 con chim, 3 con chim bay tới. Hỏi có tất cả bao nhiêu con chim? B3: Viết phép tính

* Củng cố dặn dò – CTHĐTQ điều hành lớp ôn lại các phép tính cộng trong phạm vi 7 – GV nhận xét xếp giờ

– H/s quan sát hình và nêu thành bài toán – HS 6 cộng 1 bằng 7 – HS đọc phép tính 6+1=7 ( CN-N-L)

– HS làm việc cá nhân theo lệnh của GV. – HS lập các phép cộng ra bảng con, dựa trên trực quan (que tính)

– HS trao đổi nhóm đôi. – Nhóm trưởng điều hành các cá nhân đọc phép cộng trong phạm vi 7. – Đại diện các nhóm báo cáo kết quả – HS thi đua nhau ghi nhớ phép cộng trong phạm vi 7. – HS khắc sâu: 6+1=7; 1+6=7…

– HS nêu y/c bài tập – làm bài tập vào SGK – HS đổi vở, kiểm tra chéo.

6 2 3 4 1 5 + + + + + + 1 5 4 3 6 2 7 7 7 7 7 7

– HS nêu yêu cầu bài tập – 3 h/s lên bảng làm bài tập – cả lớp làm bảng con. 7+0=7 6+1=7 3+4=7 2+5=7 0+7=7 1+6=7 4+3=7 5+2=7 – HS mời các bạn nhận xét và chữa bài. – HS nêu yêu cầu bài tập – cách thực hiện phép tính 5+1+1=7 4+2+1=7 2+3+2=7 3+2+2=7 3+3+1=7 4+0+2=6 – HS làm bài tập và chữa bài

– HS q/s tranh vẽ, đặt thành bài toán

– HS làm vở ô ly – 2 bạn làm bảng phụ.

– Viết phép tính thích hợp vào ô trống a/ 6+1=7 b/ 4+3=7

Ví dụ cụ thể về sự kiên trì, chủ động đổi mới phương pháp.

Chủ tịch hội đồng tự quản điều hành lớp báo cáo kết quảKhi dạy về phép công trong phạm vi 9.Bước 1: Các em quan sát giáo viên làm mẫu: 9 que tính thêm 1 que tính bằng 10 que tính. 9 + 1 = 10. Bước 2: Học sinh làm việc cá nhân, các em dùng que tính để lập các phép tính cộng tiếp theo vào bảng con hoặc bảng phụ. 1 + 9 = 10; 8 + 2 = 10; 7 + 3 = 10 Bước 3: Học sinh trao đổi nhóm 2. Đối chiếu các phép cộng đã lập. Bước 4: Học sinh đọc các phép cộng trong nhóm 6. Bước 5: Báo cáo trước lớp, dưới sự điều hành của Chủ tịch hội đồng tự quản.Hoạt động nhóm còn phát huy tính tự quản của cán bộ lớp, nhóm trưởng, nhằm kiểm tra việc học tập của các bạn trong nhóm mình một cách tốt nhất, có tác dụng sửa chữa uốn nắn kịp thời những thiếu hụt, sai sót về kiến thức cho học sinh học yếu. Giúp các em mạnh dạn hơn trong giao tiếp với các bạn và thầy, cô giáo. Có thể nói phương pháp này hình thành tinh thần tự giác trách nhiệm đối với tập thể cho từng thành viên của nhóm như vậy để tránh tình trạng lười biếng, sao nhãng nhiệm vụ được giao, tránh sự ghen tị. Nhưng chỉ có tổ chức hoạt động theo nhóm và quan sát trực quan còn là chưa đủ nếu trong giờ toán không có luyện tập thực hành trong giờ toán thời gian học sinh luyện tập chiếm tới 2/3 tiết học, càng được luyện tập nhiều thì học sinh càng khắc sâu được kiến thức. Có khi có những nội dung lí thuyết phải qua làm bài tập thì học sinh mới hiểu được Ví dụ : Sử dụng phương pháp luyện tập thực hành trong bài phép cộng trong phạm vi 9. Một tiết dạy có 35 phút, giáo viên dành khoảng 10-12 phút để xây dựng công thức cộng trong phạm vi 9 (hay bảng cộng trong phạm vi 9) Sau khi xây dựng xong công thức8+1=9 3+6=91+8=9 6+3=9

Giáo viên cho học sinh thực hành luyện tập 15 – 20 phút bằng cách đọc cá nhân, tập thể, đọc thuộc bằng mọi hình thức… Sau khi luyện tập xong giáo viên lại cho học sinh học thuộc lại bảng cộng trong phạm vi 9 bằng cách đọc nối tiếp giữa hai tổ, hoặc em A nêu phép tính em B trả lời và ngược lại. : Trong tiết học giáo viên thực hiện linh hoạt các phương pháp như: + Phương pháp trực quan + Phương pháp hỏi đáp + Phương pháp giảng giải ( giải nghĩa từ ) + Phương pháp luyện tập thực hành + Phương pháp kỉ luật tích cực. + Phương pháp trò chơi Trong phương pháp dạy học toán lớp 1, giáo viên phải sử dụng linh hoạt đúng lúc, đúng chỗ các phương pháp, các hình thức tổ chức dạy học khác nhau. Việc sử dụng các phương pháp, các hình thức dạy học cần theo hướng tích cực hóa hoạt động của học sinh, tăng cường tập luyện thực hành để phát triển các kĩ năng tính toán, nhằm nhanh chóng đạt được yêu cầu cộng trừ trong phạm vi 10 và cộng trừ không nhớ trong phạm vi 100. Bám sát 5 yêu cầu của giáo viên:1. Giáo viên giao nhiệm vụ phải rõ ràng, ngắn ngọn2. Làm mẫu phải rõ ràng, chính xác, dứt khoát.3. Chú ý đến tính đồng loạt, tính cá thể của học sinh4. Nói ít5. Không chê, khuyến khích học sinh tích cực làm việc Việc tổ chức lớp học, tổ chức luyện tập thực hành luyện tập cũng có thể linh hoạt dưới nhiều hình thức: Cá nhân – nhóm – lớp… Vì hình thức dạy học này có sự kết hợp tính tập thể và tính cá nhân mà trong đó học sinh trong nhóm được sự chỉ đạo của nhóm trưởng, trao đổi những hiểu biết về kiến thức với nhau, giúp học sinh hợp tác với nhau, cùng tìm tòi phát hiện, trình bầy chiếm lĩnh chi thức. Các thành viên trong nhóm không chỉ quan tâm đến việc học tập của mình mà còn quan tâm đến việc học tập của các bạn khác trong nhóm ( Nhóm 2, nhóm 4, nhóm 6…).3.3. Sử dụng hợp lý, có hiệu quả đồ dùng dạy học, đặc biệt là đồ dùng trực quan.Giáo viên thường sử dụng các dụng cụ học tập trực quan, nhiều màu sắc hấp dẫn, sinh động để thu hút sự chú ý của học sinh bởi thời gian chú ý có chủ định chỉ kéo dài 15- 20 phút. Như vậy, cách sử dụng trực quan như trên rất có lợi cho việc HS tập trung chú ý kéo dài và cao độ. – Học sinh được học tập qua ứng dụng công nghệ thông tin bằng hình ảnh được trình chiếu một cách sinh động tạo sự hứng thú cho các em tập trung hơn. Tuy nhiên giáo viên không nên lạm dụng.

Giáo viên cần phải thu hút trẻ bằng các hoạt động mới, mang màu sắc, tích chất đặc biệt, khác lạ so với bình thường, khi đó sẽ kích thích trẻ cảm nhận, tri giác tích cực và chính xác và đặc biệt phải hình thành ở các em tâm lý hứng thú và vui vẻ khi ghi nhớ kiến thức.

Đặc biệt là đồ dùng trực quan đã đem lại hứng thú cho học sinh. Đòi hỏi các em phải tư duy, sử lý nhanh các tình huống, tự tìm tòi khám phá kiến thức qua trực quan. Kết quả học sinh ghi nhớ được kiến thức sâu, các em chóng thuộc bài. Lớp học thoải mái, vui vẻ, giờ học đạt hiệu quả cao. Học sinh ham thích học toán.3.4 Tổ chức các hoạt động ngoại khóa tạo môi trường học tập tốt hơn.– Tổ chức nhiều trò chơi học tập như: rung chuông vàng, hái hoa học tập, trò chơi Bin-gô… nhằm bổ sung kiến thức, tạo sự tự tin, nhanh nhẹn, kỹ năng điều hành hoạt động nhóm …3.5 Nói tóm lại, sáu tuổi vào lớp 1 là bước ngoặt lớn của trẻ thơ. Môi trường học tập thay đổi một cách cơ bản: trẻ phải tập trung chú ý trong thời gian liên tục từ 30 – 35 phút. Nhu cầu nhận thức chuyển từ hiếu kỳ, tò mò sang tính ham hiểu biết, hứng thú khám phá. Trẻ bắt đầu kiềm chế dần tính hiếu động, bột phát để chuyển thành tính kỷ luật, nền nếp, chấp hành nội quy học tập. Tinh nhạy và sức bền vững, tinh khéo léo của các thao tác của đôi bàn tay để tập viết được phát triển nhanh. Tất cả những điều đó đều là thử thách đối với trẻ, muốn trẻ vượt qua được tốt những thử thách đó thì phải cần có sự quan tâm giúp đỡ của gia đình, nhà trường và xã hội đặc biệt là giáo viên dựa trên sự hiểu biết về tri thức khoa học.

Phạm Thị Hằng

Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Toán

Trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa môn toán lại đóng vai trò quan trọng, biết toán mới học được khoa học mà khoa học lại giữ vai trò quyết định cho sự phát triển cho đất nước. Chính vì thế bản thân tôi thầm nghĩ: “Làm thế nào cho học sinh của mình mau tiến bộ và học giỏi. Suy nghĩ đó cứ xoay quanh trong đầu, tôi đã thử nghiệm bằng phương pháp này, phương pháp khác nhằm nâng cao chất lượng môn toán. Do đó tôi rút ra vài biện pháp có hiệu quả trong quá trình công tác dạy học ở những năm gần đây.

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC MÔN TOÁN I/ Mở đầu: Việc nâng cao chất lượng dạy học là yêu cầu không thề thiếu được trong công tác dạy học. Trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa môn toán lại đóng vai trò quan trọng, biết toán mới học được khoa học mà khoa học lại giữ vai trò quyết định cho sự phát triển cho đất nước. Chính vì thế bản thân tôi thầm nghĩ: "Làm thế nào cho học sinh của mình mau tiến bộ và học giỏi. Suy nghĩ đó cứ xoay quanh trong đầu, tôi đã thử nghiệm bằng phương pháp này, phương pháp khác nhằm nâng cao chất lượng môn toán. Do đó tôi rút ra vài biện pháp có hiệu quả trong quá trình công tác dạy học ở những năm gần đây. II/ Nội dung: 1/ Hoạt động xây dựng chuyên môn: - Xây dựng ý thức trách nhiệm, tinh thần tự học tự rèn. - Chú trọng công tác dạy tốt, học tốt , nâng cao chất lượng đại trà. - Sinh hoạt tổ chuyên mônthống nhất chương trình dạy học trong tuần (1 lần/ tuần ). - Soạn kế hoạch bài học phải xác định trọng tâm bài dạy và chuẩn kiến thức cần truyền đạt. - Luôn đổi mới phương pháp dạy học cho phù hợp với các dạng bài. - Chuẩn bị đầy đủ tranh ảnh, đồ dùng dạy học phục vụ cho bài dạy. - Tìm thêm các ví dụ, câu hỏi, nhiều cách giải hay gợi sự chú ý học tập của học sinh nhằm giúp học sinh nắm vững kiến thức nhanh hơn. 2/ Hoạt động trên lớp: a. Khi đứng lớp: - Tình bày bảng nên sử dụng phấn màu, ghi đủ nội dung kiến thức cần truyền đạt, dùng phấn gạch dưới kiến thức trọng tâm, đóng khung kiến thức công thức cần nhớ. - Quan sát theo dõi sự tiếp thu bài học của các em. - Tùy theo kiến thức cần truyền đạt, trình độ của học sinh mà vận dụng các phương pháp phù hợp với từng đối tượng học sinh. - Luôn tạo sự thoải mái khi các em học toán với nhiều trò chơi học tập như: Thi đua giải toán nhanh, sắp xếp nhanh các hình theo yêu cầu,tổ chức thi đua nhóm đôi, thi đua nhóm 4 học sinh, thi đua theo tổ. b. Giờ dạy lý thuyết: - Chú trọng hướng dẫn học sinh nắm vững kiến thức cần bài học. - Biết vận dụng lý thuyết vừa học vào một số các bài tập đơn giản. - Hướng dẫn học sinh học thuộc lý thuyết. c. Giờ dạy luyện tập: - Giúp học sinh vận dụng thành thạo lý thuyết vào bài học một cách hợp lí. -Qua việc giải bài tập đó học sinh rút ra được kinh nghiệm về phương pháp giải toán. d. Nếu là tiết kiểm tra: - Đề kiẻm tra vừa sức với trình độ học sinh, có câu phát triển dành cho học sinh khá giỏi. - Chấm, trả bài, chữa bài kịp thời. - Đánh giá chính xác chất lượng học tập của học sinh. - Quan tâm dến các học sinh làm bài quá kém ( Tìm hiểu nguyên nhân học sinh học kém ) 3/ Hoạt động dạy ngoại khóa: a. Dạy học sinh năng khiếu: - Có kế hoạch bồi dưỡng học sinh năng khiếu để xác định tuyển chọn đội tuyển học sinh giỏi. - Khuyến khích học sinh mượn sách ở thư viện tham khảo, học hỏi nhiều cách giải toán hay.. b. Dạy phụ đạo học sinh yếu: - Tách học sinh yếu ngồi học chung một nhóm ngay từ đầu ( Phân loại học sinh ). - Tìm hiểu nguyên nhân học sinh học yếu. - Vận động học sinh yếu phụ đạo vào các ngày thứ 7, hoặc dạy học sinh yếu chéo buổi. - Nên có thời gian kèm sát các học sinh học yếu. 4/ Hoạt động ngoại khóa: - Luôn dự giờ, thao giảng, dự chuyên đề để nâng cao trình độ chuyên của bản thân. - Thường xuyên sưu tầm thêm các tư liệu, tự làm đồ dùng dạy học phục vụ cho công tác dạy học. IV/ Kết quả: Năm học Học kì 1 Học kì 2 2006-2007 2007-2008 2008-2009 V/ Bài học kinh nghiệm: - Soạn kế hoạch bài học theo hướng đổi mới. - Áp dụng nhiều phương pháp dạy học phù hợp với từng đối tượng học sinh. - Tách học sinh yếu kém ngay từ đầu để phân các em thành một nhóm. - Cuối tuần có bài kiểm tra nhằm theo dõi trình độ học sinh. - Thường xuyên quan sát theo dõi học sinh yếu.

Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Môn Toán Lớp 4

Đúng vậy, thực hiện lời Bác dạy: Giáo dục học sinh phát triển toàn diện ngay từ cấp Tiểu học làm nền tảng cho những lớp học, cấp học sau này chính là nhiệm vụ của giáo viên, nhà trường bậc Tiểu học. Các em học sinh, những mầm non hôm nay là chủ nhân của thế kỷ XXI- những con người thông minh, dí dỏm, hoạt bát, có ánh sáng của trí tuệ, có tâm hồn trong sáng, lành mạnh. Con người của văn hóa thời đại tiên tiến văn minh. Vậy, để hoàn thành tốt nhiệm vụ dạy học, ngoài việc nắm vững kiến thức, khắc sâu nội dung môn học mà mình giảng dạy, người giáo viên phải có những năng lực sư phạm nhất định. Một trong những năng lực đó là : “Năng lực tổ chức và điều khiển quá trình học tập cho học sinh.”

Để đạt được mục tiêu bài dạy, khi tiến hành dạy bài mới, giáo viên phải thực hiện các hoạt động gồm:

1) Giới thiệu bài (cách bắt đầu bài học)

2)Hướng dẫn tìm hiểu nội dung bài; tổ chức cho học sinh rèn luyện các kỹ năng tương ứng qua việc lựa chọn và sử dụng các phương pháp và phương tiện dạy học qua việc tổ chức hình thức dạy học

3) Kết thúc bài học (củng cố bài)

Kết quả học tập của học sinh đạt được ở mức độ nào phụ thuộc rất lớn vào việc hướng dẫn học sinh học tập trên lớp của giáo viên. Vậy giáo viên phải làm gì? Làm như thế nào để tổ chức và điều khiển cả một quá trình học tập trong một tiết học của học sinh đạt kết quả cao, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, giúp các em học tập một cách tự giác, nhẹ nhàng mà có hiệu quả. Thực hiện điều này, với chương trình thay sách giáo khoa mới ở cấp Tiểu học. Tôi nghiên cứu, tìm tòi và rút ra một số biện pháp trong việc tổ chức và điều khiển hoạt động của học sinh lớp 4 trong một tiết học.

Phßng gi¸o dôc&®µo t¹o mü ®øc Tr­êng tiÓu häc §èc TÝn ®Ò tµi S¸ng kiÕn kinh nghiÖm Tªn ®Ò tµi: Mét sè biÖn ph¸p NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY MÔN TOÁN LỚP 4 Ng­êi thùc hiÖn: Bïi ThÞ TuyÕt Nga §¬n vÞ: Tr­êng tiÓu häc §èc TÝn- Mü §øc- Hµ Néi §Ò tµi thuéc lÜnh vùc: M"n To¸n N¨m häc: 2010- 2011 Phòng GD& ĐT Mỹ Đức CỘNG HOÀ Xà HỘI CHỦ NGHĨAVIỆT NAM Trường TH §èc TÝn Độc lập -Tự do- Hạnh phúc **************** ĐỀ TÀI s¸ng kiÕn kinh nghiÖm I- SƠ YẾU LÝ LỊCH Hä vµ tªn: Bïi ThÞ TuyÕt Nga Ngµy, th¸ng, n¨m sinh: 1966 N¨m vµo ngµnh : 1989 Chøc vô: Gi¸o viªn §¬n vÞ c"ng t¸c: Trường Tiểu học §èc TÝn - Mü §øc - Hµ Néi Tr×nh ®é chuyªn m"n: Đại học HÖ ®µo t¹o: Từ xa Bé m"n gi¶ng d¹y: Chủ nhiệm lớp 4A Tr×nh ®é chÝnh trÞ : Khen thưởng: Gi¸o viªn giái cÊp tr­êng II- TÊN ĐỀ TÀI MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY HỌC NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY MÔN TOÁN LỚP4 NĂM HỌC: 2010-2011 A. LÝ DO CHỌN ĐÊ TÀI Lời Bác dạy: " Vì lợi ích mười năm trồng cây Vì lợi ích trăm năm trồng người" Đúng vậy, thực hiện lời Bác dạy: Giáo dục học sinh phát triển toàn diện ngay từ cấp Tiểu học làm nền tảng cho những lớp học, cấp học sau này chính là nhiệm vụ của giáo viên, nhà trường bậc Tiểu học. Các em học sinh, những mầm non hôm nay là chủ nhân của thế kỷ XXI- những con người thông minh, dí dỏm, hoạt bát, có ánh sáng của trí tuệ, có tâm hồn trong sáng, lành mạnh. Con người của văn hóa thời đại tiên tiến văn minh. Vậy, để hoàn thành tốt nhiệm vụ dạy học, ngoài việc nắm vững kiến thức, khắc sâu nội dung môn học mà mình giảng dạy, người giáo viên phải có những năng lực sư phạm nhất định. Một trong những năng lực đó là : "Năng lực tổ chức và điều khiển quá trình học tập cho học sinh." Để đạt được mục tiêu bài dạy, khi tiến hành dạy bài mới, giáo viên phải thực hiện các hoạt động gồm: Giới thiệu bài (cách bắt đầu bài học) 2)Hướng dẫn tìm hiểu nội dung bài; tổ chức cho học sinh rèn luyện các kỹ năng tương ứng qua việc lựa chọn và sử dụng các phương pháp và phương tiện dạy học qua việc tổ chức hình thức dạy học 3) Kết thúc bài học (củng cố bài) Kết quả học tập của học sinh đạt được ở mức độ nào phụ thuộc rất lớn vào việc hướng dẫn học sinh học tập trên lớp của giáo viên. Vậy giáo viên phải làm gì? Làm như thế nào để tổ chức và điều khiển cả một quá trình học tập trong một tiết học của học sinh đạt kết quả cao, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, giúp các em học tập một cách tự giác, nhẹ nhàng mà có hiệu quả. Thực hiện điều này, với chương trình thay sách giáo khoa mới ở cấp Tiểu học. Tôi nghiên cứu, tìm tòi và rút ra một số biện pháp trong việc tổ chức và điều khiển hoạt động của học sinh lớp 4 trong một tiết học. B. NỘI DUNG I. KHẢO SÁT CHẤT LƯỢNG ĐẦU NĂM: 1/Đối tượng khảo sát: Học sinh lớp 4A Trường tiểu học §èc TÝn. 2/ Thời gian khảo sát: Ngày 16 tháng 9 năm 2010. 3/ Cách tiến hành: Ra đề kiểm tra khảo sát chất lượng đầu năm. 4/ Kết quả: Lớp Sĩ số G K TB Y SL % SL % SL % SL % 4A 20 3 15 6 30 10 50,0 1 5 5/ Nguyên nhân: Từ kết quả trên so với môn Toán mà bản thân các em đạt được ở lớp 1,2,3. Quả thật, đây là điều đáng lo ngại. Sau một thời gian tìm hiểu, tôi phát hiện ra những nguyên nhân cơ bản sau: -Việc tiếp thu nội dung, kiến thức bài học của học sinh còn hạn chế, nhanh quên. -Việc lựa chọn và sử dụng phối hợp các phương pháp dạy học của giáo viên chưa được hợp lý. -Đồ dùng dạy học để phục vụ minh họa còn ít, chưa phong phú. Giáo viên lựa chọn và sử dụng còn lúng túng, khai thác chưa khoa học. - Cách đặt câu hỏi, nhận xét câu trả lời của học sinh còn dài dòng. -Những bài mà nội dung, kiến thức cần ghi nhớ không có trong sách giáo khoa nên giáo viên tự soạn còn chưa chuẩn, sát, chưa tập trung vào mục tiêu chính. II. CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN: Từ tình hình thực tế ở khối lớp 4 nói chung, lớp 4A nói riêng, với những nguyên nhân nêu trên. Nhiệm vụ đặt ra cho bản thân tôi là: Làm thế nào để học sinh học tập có hiệu quả hơn? Từ đó tôi áp dụng 3 biện pháp để thực hiện như sau: BIỆN PHÁP 1:GIỚI THIỆU BÀI Giới thiệu bài là khâu quan trọng trong tiến trình dạy học. Việc giới thiêu bài một cách hấp dẫn sẽ thu hút sự chú ý của học sinh, tạo hứng thú học tập và khêu gợi sự nỗ lực ở các em trong việc suy nghĩ, tìm tòi khái niệm. Như các môn học khác, môn Toán cũng có nhiều cách để giới thiệu bài học. Giáo viên lựa chọn biện pháp và hình thức dẫn dắt học sinh vào bài học mới sao cho nhẹ nhàng, hấp dẫn nhưng không cầu kì, kéo dài thời gian: gợi mở bằng tranh ảnh, bằng vật thật; cho học sinhthực hiện một ví dụ; diễn giải bằng lời hoặc bằng cách nêu tình huống có vấn đề sẽ lôi cuốn các em vào bài giảng một cách thoải mái. Ví dụ 1: Ví dụ về giới thiệu bằng cách cho học sinh làm ví dụ: Khi dạy bài " Thương có chữ số 0"- Toán 4 -Giáo viên nêu: 9450: 35=? -Học sinh thực hiện phép chia vào bảng con (chia như chia cho số có 2 chữ số) sau đó nhận xét về lượt chia cuối cùng của số bị chia (là 0) và thương( có 0 ở tận cùng: 270). -Giáo viên nhấn mạnh về thương của phép chia này và giới thiệu bài. Cách giới thiệu này phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh. Học sinh học tập tự giác mà có hiệu quả. Ví dụ 2: Ví dụ về giới thiệu bằng cách nêu tình huống có vấn đề: Khi dạy bài "Phân số và phép chia số tự nhiên"-Toán 4. - Giáo viên nêu tình huống: Có 3 cái bánh, chia đều cho 4 bạn. Vậy em có những cách chia nào? Ví dụ 3: Ví dụ về giới thiệu bằng cách nêu yêu cầu. Khi dạy bài "So sánh các số có nhiều chữ số"- Toán 4. - Giáo viên ghi bảng: 99578100000 rồi yêu cầu học sinh điền dấu thích hợp váo chỗ trống và giải thích. Ví dụ 4: Ví dụ về giới thiệu bằng cách bắt đầu bài học một cách trực tiếp bằng một câu hỏi. Khi dạy bài: "Viết số tự nhiên trong hệ thập phân"- Toán 4. - Giáo viên nêu câu hỏi: Khi viết số, tự nhiên ở mỗi hàng có thể viết được mấy chữ số? Cứ mười đơn vị ở một hàng hợp thành mấy đơn vị ở hàng trên tiếp liền nó? -Học sinh trả lời rồi giáo viên dẫn dắt vào bài học. Ví dụ 5: Ví dụ về giới thiệu bằng tranh ảnh hoặc vật thật. Khi dạy bài "Yến, tạ, tấn"- Toán 4. - Giáo viên chuẩn bị cân đồng hồ cân được 100 kg. - Học sinh lần lượt cân xem mình nặng bao nhiêu( một số học sinh đại diện cân) Từ đơn vị ki-lô- gam giáo viên giới thiệu sang đơn vị yến Như vậy, việc giới thiệu bài học tốt rất có ý nghĩa trong tiến trình tổ chức và kết quả giờ dạy Toán 4. BIỆN PHÁP 2:TÌM HIỂU NỘI DUNG BÀI DẠY Để tìm hiểu nội dung bài học đạt kết quả cao. Trong tiết học Toán người giáo viên phải đảm bảo được các nội dung sau: - Biết lựa chọn phương pháp dạy học. - Biết cách đặt câu hỏi, cách nhận xét câu trả lời của học sinh. - Thông báo nội dung dạy học. - Tổ chức dạy học theo nhóm. - Lựa chọn và sử dụng đồ dùng dạy học. - Tổ chức trò chơi trong tiết dạy học Toán. - Đánh giá, ghi điểm. 1)Việc lựa chọn phương pháp dạy học. Khi tiến hành dạy học, người giáo viên có năng lực tổ chức và điều khiển quá trình học tập của học sinh là người biết lựa chọn và sử dụng phối hợp các phương pháp dạy học một cách hợp lý. Trước sự thay đổi về nội dung dạy học, bám sát mức độ cần đạt được về nội dung, kiến thức chứa đựng bài học. Ví dụ: Khi dạy bài "Giây, thế kỷ"- Toán 4. Giáo viên sử dụng phương pháp luyện tập, thực hành là chủ yếu, kết hợp với các phương pháp khác (đàm thoại, quan sát, hướng dẫn, giảng giải) để hiểu được mối quan hệ giữa giờ và phút, phút và giây, giữa thế kỷ và năm. Từ đó rút ra kết luận: Dựa vào các đơn vị đo thời gian con người tính được khoảng thời gian từ trước cho đến nay. Tuy nhiên, việc lựa chọn phương pháp cần phải căn cứ vào lứa tuổi của học sinh, đặc thù của môn học, tính chất của từng bài và điều kiện về cơ sở vật chất và khả năng hướng dẫn của giáo viên. Đối với Toán 4, tôi sử dụng phương pháp dạy học chủ yếu là: a) Phương pháp dạy học bài mới: Khi dạy bài mới tôi hướng dẫn học sinh tự phát hiện và tự giải quyết vấn đề của bài học rồi giúp học sinh sử dụng kinh nghiệm của bản thân hoặc của bạn cùng nhóm để tìm mối quan hệ của vấn đề đó với các kiến thức đã biết. Từ đó tự tìm cách giải quyết. Ví dụ: Khi dạy bài "So sánh hai phân số khác mẫu số"- Toán 4. - Giáo viên nêu: Trong hai phân số và phân số nào lớn hơn? - Học sinh nhận xét đặc điểm của và để nhận ra đó là hai phân số khác mẫu số cần phải so sánh - Vấn đề cần giải quyết. Để giải quyết tôi cho học sinh trao đổi theo nhóm, có thể theo hai phương án: Phương án 1: Lấy hai băng giấy như nhau. Chia băng giấy thứ nhất thành 3 phần bằng nhau, lấy hai phần( tức băng giấy). Chai băng giấy thứ hai thành 4 phần bằng nhau, lấy 3 phần ( tức băng giấy). So sánh độ dài của hai phần lấy đi của hai băng giấy. Phương án 2: Quy đồng mẫu số hai phân số2/3 và 3/4(học sinh đã học quy đồng) = = ; = = . Ví dụ : Sau khi học bài "So sánh hai phân số khác mẫu số"- Toán 4. Học sinh đã thực hành làm các bài tập. Tôi cho các em làm bài toán đố vui: Lan và Hoa cùng quét lớp. Lan quét được lớp học, Hoa quét được lớp học. Vậy bạn nào quét được nhiều hơn? Để tìm kết quả, học sinh phải phát hiện rồi tự giải quyết vấn đề của bài học là: " so sánh hai phân số và " vấn đề này nêu gián tiếp dưới dạng xem ai quét nhiều hơn? b) Phương pháp dạy học các bài luyện tập, luyện tập chung, ôn tập thực hành. - Với các dạng bài này tôi giúp học sinh nhận ra các kiến thức đã học hoặc một số kiến thức mới trong nội dung các bài tập đa dạng và phong phú. Ví dụ: Khi học sinh thực hành tính 2457 x 306. Nếu học sinh quên cách thực hiện, tôi nêu câu hỏi để học sinh nhớ lại đặc điểm của phép nhân dạng: nhân với số có ba chữ số, thừa số thứ hai có hàng chục là 0. Khi đặt tính không viết tích riêng thứ hai, tích riêng thứ ba viết lùi sang trái hai chữ số so với tích riêng thứ nhất. - Giúp học sinh tự luyện tập, thực hành theo khả năng của từng học sinh. Ở phương pháp này tôi quan tâm giúp học sinh làm bài đúng, trình bày gọn, rõ ràng và cố gắng tìm được cách giải hợp lí. - Tạo ra sự hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các đối tượng học sinh. Thông qua việc giúp đỡ bạn, bản thân các em càng nắm chắc, hiểu sâu kiến thức của bài học, càng có điều kiện hoàn thiện các năng lực của bản thân. - Tập cho học sinh có thói quen tự kiểm tra, đánh giá kết quả luyện tập, thực hành; có thói quen tìm nhiều phương án và lựa chọn phương án hợp lí nhất để giải quyết vấn đề của bài tập, không nên thỏa mãn với các kết quả đã đạt được. Ví dụ: Khi giải bài toán: Thương của phép chia 67200: 80 là số có mấy chữ số? A. 5chữ số B. 4chữ số C. 3chữ số D. 2chữ số Đối với dạy số học trong Toán 4 phương pháp chủ yếu đối với các bài bổ sung, hoàn thiện, tổng kết về số tự nhiên. Tôi sử dụng phương pháp tổ chức hướng dẫn học sinh. Ví dụ: Khi dạy bài: "Phép cộng phân số" (tiếp theo)- Toán 4. Cho học sinh nêu ví dụ rồi tôi ghi bảng + sau đó yêu cầu học sinh thực hiện. Học sinh sẽ lúng túng. Lúc này tôi hướng dẫn cho học sinh nhận ra mẫu số của hai phân số này khác nhau, để cộng thì cần phải quy đồng. Đến đây học sinh có thể thực hiện dễ dàng theo trình tự: Quy đồng mẫu số rồi cộng hai phân số. Đối với các bài toán có lời văn tôi để học sinh cố gắng tự tìm ra phương pháp giải bài toán với các bước: Bước 1: Phân tích đề toán, tóm tắt đề. Bước 2: Phân tích các mối quan hệ giữa các " dữ kiện" đã cho với "kết luận" để tìm ra cách giải bài toán. Bước 3: Trình bày bài giải bài toán đầy đủ, rõ ràng. Để tránh nhàm chán khi giải bài toán có lời văn tôi thay đổi phương pháp cho học sinh đóng vai người bán hàng để giải toán. Ví dụ: Cô cần may 5 cái áo, mỗi cái áo may hết 1m 2dm. Hãy bán số vải cô cần để may số áo đó. Cô đưa 3 tờ giấy bạc mỗi tờ là 50000 đồng. Tính và trả lại số tiền dư (biết rằng1m vải giá 20000đồng) - Dành cho học sinh khá, giỏi Hoặc cho học sinh đóng vai bác nông dân. Ví dụ: Ba bác nông dân cấy lúa trên một thửa ruộng hình chữ nhật có chiều dài 54m, chiều rộng kém chiều dài 18m. Hỏi trung bình một bác nông dân cấy được bao nhiêu mét vuông ruộng? - Dành cho học sinh trung bình, khá. Vậy: Để tổ chức cho học sinh học tập trong một tiết Toán thật tốt, giáo viên cần phải xác định rõ mục tiêu, đối tượng dạy học để từ đó lựa chọn phượng pháp dạy học phù hợp nhằm đạt mục tiêu đó. 2)Cách đặt câu hỏi, nhận xét câu trả lời của học sinh. a/ Trong quá trình dạy học, giáo viên thường đặt nhiều câu hỏi cho học sinh. Đó là những câu hỏi mà giáo viên không phải để biết mà là để thực hiện việc dạy học của mình. Mục đích của việc đặt câu hỏi này là gây hứng thú, gợi trí tò mò khoa học của học sinh để tóm tắt những điểm chính hoặc để đánh giá sự tiến bộ của học sinh. Vì vậy, mặc dù hằng ngày giáo viên đặt ra không biết bao nhiêu câu hỏi nhưng không phải ai cũng nắm được kĩ thuật và có nghệ thuật đặt câu hỏi. Ví dụ: Khi hướng dẫn học sinh giải bài toán: Một mảnh đất hình chữ nhật có chu vi bằng 240m, chiều rộng bằng chiều dài. Tính diện tích mảnh vườn đó? Tôi dùng hệ thống câu hỏi như sau: Câu hỏi tìm dữ kiện: -Bài toán cho ta biết gì? -Bài toán yêu cầu ta phải làm gì ? Câu hỏi đòi hỏi sự nhớ lại : -Muốn tính diện tích hình chữ nhật ta làm như thế nào ? Câu hỏi đòi hỏi suy luận : -Muốn tính chiều rộng hoặc chiều dài của mảnh vườn ta làm cách nào ? Câu hỏi đòi hỏi sự nhớ lại : -Nêu những đặc điểm giống nhau của hình chữ nhật và hình bình hành ? Câu hỏi yêu cầu so sánh : -Viết các phân số; ;; ; theo thứ tự từ bé đến lớn? Câu hỏi yêu cầu học sinh tìm hiểu nguyên nhân: -Viết một phân số lớn hơn 1, một phân số bằng 1, giải thích vì sao? Câu hỏi yêu cầu học sinh hệ thống hóa, khái quát hóa kiến thức: -Tìm 3 số tự nhiên khác nhau, biết số trung bình cộng của ba số là 2. Câu hỏi yêu cầu vận dụng kiến thức đã học: -Để tính nhanh bài toán sau: 24 x 46 + 38 x 41+ 46 x 48 + 5 x 38. Em đã sử dụng tính chất gì của phép tính? b/ Khi nhận xét câu trả lời của học sinh tôi không nhận xét những câu trả lời của học sinh phát biểu mà không được chỉ định mà xác định một cách rõ ràng những câu trả lời đúng để tất cả học sinh đều biết. Có thể xác nhận bằng điệu bộ, cử chỉ mà không cần dùng ngôn ngữ nói. Khi học sinh trả lời chưa đúng, cần uốn nắn chỗ sai một cách cặn kẽ hoặc hướng dẫn học sinh tìm ra chỗ chưa đúng. Khi học sinh trả lời đúng không nên gọi nhiều học sinh khác nhận xét câu trả lời của bạn. 3)Thông báo nội dung học tập. Trong khi tổ chức và hướng dẫn học sinh học tâp, giáo viên sử dụng nhiều dạng ngôn ngữ khác nhau: ngôn ngữ nói; ngôn ngữ viết; ngôn ngữ "ẩn"Ngôn ngữ tự nhiên được dùng để phát biểu vấn đề, diễn đạt suy luận ( khi cần thiết), bằng lời nói hay chữ viết. Đặc biệt ở tiểu học, khái niệm toán học có thể diễn đạt bằng nhiều cách. Ví dụ: Khái niệm mét vuông có thể diễn đạt: - Bằng kí hiệu: "m2". - Bằng chữ viết: " mét vuông". - Bằng kí hiệu âm thanh: "đọc: mét vuông" Tuy nhiên ngôn ngữ nói có một vị trí đặc biệt quan trọng đối với việc dạy học của giáo viên. Cách dùng từ chính xác, cách phát âm rõ ràng, chuẩn xác tiếng phổ thông có tác dụng lớn trong việc thông báo nội dung học tập cho học sinh. Ngôn từ dễ nghe, dễ hiểu của giáo viên sẽ giúp học sinh dễ nhớ và nhớ lâu nhiều điều mà giáo viên truyền đạt. Việc thông báo nội dung học tập cho học sinh của giáo viên được tiến hành bằng nhiều hình thức: - Ghi lên bảng những nội dung học tập chính. - Giảng giải một vấn đề phức tạp. - Nhấn mạnh những điểm quan trọng. - Đưa ra những ví dụ để nhận xét. - Giải thích, hướng dẫn học sinh từng bước lĩnh hội nội dung cần thông báo. - Bổ sung, sửa đổi những câu trả lời của học sinh Trong các hình thức thông báo trên, ghi bảng là hình thức thể hiện rõ trình độ hiểu biết và việc làm khoa học của giáo viên. Những gì mà giáo viên ghi lên bảng thì đó là nội dung học tập chính mà học sinh cần lĩnh hội và cần được khắc sâu. Ví dụ: Khi dạy bài: "Thương có chữ số 0" tôi ghi bảng như: Thứngày.tháng . năm Toán: Thương có chữ số 0 a) Thương có chữ số 0 ở tận cùng. 9450 : 35 = ? 9450 35 245 270 000 9450 : 35 = 270 b)Thương có chữ số 0 xen giữa. 2448 : 24 = ? 2448 24 0048 102 00 2448 : 24 = 102 * L ưu ý: VD(b ) Mỗi lần hạ một chữ số ở số bị chia xuống để chia mà nhỏ hơn số chia thì ghi 0 vào thương rồi hạ chữ số tiếp theo xuống để chia. 4)Tổ chức dạy học theo nhóm - Trong tiết học Toán việc tổ chức cho học sinh hoạt động theo nhóm là rất cần thiết.Hoạt động nhóm trong tiết Toán giúp các em tự tìm tòi, chiếm lĩnh kiến thức mới, có tác dụng gợi mở học sinh sử dụng các kiến thức và kĩ năng về môn Toán mà các em đã được lĩnh hội và rèn luyện để diễn đạt những ý kiến của mình, tham gia một chuỗi các hoạt động học tập dưới sự hướng dẫn của giáo viên, được khuyến khích để trao đổi các kinh nghiệm và được tạo cơ hội làm việc hợp tác với nhau. Đặc điểm tâm lí của học sinh Tiểu học là ham hiểu biết, ưa hoạt động, giàu trí tưởng tượng cho nên khi dạy học tôi luôn gợi trí tò mò, tránh đơn điệu về hình thức hoạt động. Còn đặc điểm nhận thức của học sinh là đi từ tư duy cụ thể đến tư duy trừu tượng, cho nên khi tổ chức dạy học theo nhóm trong môn Toán tôi chia thành các nhóm từ 2 đến 6 học sinh: theo tổ, dãy, bàn, cặpTùy theo mục đích, yêu cầu của vấn đề học tập. Ví dụ: -Tiết dạy về kiến thức mới tôi chia theo nhóm : Bàn. -Tiết dạy luyện tập tôi chia theo nhóm: 4 học sinh. -Tiết dạy thực hành tôi chia theo nhóm: Tổ. -Tiết dạy ôn tập tôi chia theo nhóm:2; 4 học sinh. Chia nhóm cũng có nhiều cách khác nhau. Trong tiết Toán tôi thường chia theo các cách: Cách 1: Các nhóm được phân chia ngẫu nhiên hoặc có chủ định( nhóm cùng trình độ, nhóm theo sở trường) Ví dụ: - Nhóm chia ngẫu nhiên, nhiều trình độ: Cho học sinh đếm từ 1 đến 6 vòng quanh lớp. Các nhóm được thành lập bởi các em có cùng số hoặc lập một bộ từ 1 đến 6. Hoặc phát cho mỗi học sinh một tấm bìa có vẽ biểu tượng, học sinh tìm bạn có cùng biểu tượng hợp thành một nhóm. - Nhóm hình thành có chủ định: Giáo viên lần lượt đọc tên học sinh vào từng nhóm. Giáo viên chia nhóm cố định và đặt tên cho mỗi nhóm. Khi có lệnh của giáo viên, các em tự giác thành lập nhóm như nhóm tổ, dãy. - Chia nhóm tình bạn: Học sinh được phép chọn bạn lập thành một nhóm với số người do giáo viên định trước. Cách 2: Các nhóm hoạt động trong

Cập nhật thông tin chi tiết về Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Toán Lớp 1 trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!