Xu Hướng 2/2023 # Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Toán Lớp 1 # Top 3 View | Phauthuatthankinh.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Toán Lớp 1 # Top 3 View

Bạn đang xem bài viết Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Toán Lớp 1 được cập nhật mới nhất trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

I. MỞ ĐẦU:1. Lý do chọn đề tài:Trước xu thế toàn cầu hóa kinh tế tri thức của thời đại, Nghị quyết đại hộiĐảng toàn quốc lần thứ VIII đã đề ra nhiệm vụ: “Nâng cao dân trí, phát huy nguồnlực trí tuệ và sức mạnh tinh thần của con người Việt Nam”. Bởi vậy Giáo dục luônđược xác định là “Quốc sách hàng đầu” mà “Giáo viên là nhân tố quyết định chấtlượng giáo dục đào tạo”. Xuất phát từ yêu cầu thực tế của nhà trường Tiểu học hiệnnay, bên cạnh đó còn xuất phát từ mục tiêu cơ bản của ngành Giáo dục – Đào tạo đãđề ra, phải đào tạo con người mới phát triển toàn diện có đầy đủ tri thức, thôngminh, sáng tạo và đức độ để sau này có thể làm chủ tương lai.Bậc Tiểu học là bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân, chất lượnggiáo dục phụ thuộc rất nhiều vào kết quả đào tạo ở bậc Tiểu học. Mục tiêu giáo dụctiểu học nhằm giúp học sinh hình thành cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắnvà lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và kĩ năng cơ bản để học sinh tiếptục học lên trung học cơ sở. Trong các môn học ở bậc Tiểu học, môn Toán chiếmmột vị trí rất quan trọng, giúp các em chiếm lĩnh được tri thức, phát triển trí thôngminh, năng lực tư duy, sáng tạo lôgic góp phần quan trọng vào sự hình thành vàphát triển toàn diện nhân cách cho học sinh. Trong đó môn toán ở lớp 1 giữ vai tròhết sức quan trọng, bởi toán lớp 1 cung cấp cho các em những kiến thức đầu tiên,là cơ sở cho việc phát triển kỹ năng tính toán và tư duy, giúp học sinh nhanh chónghoàn thiện mình. Hiện nay, chương trình toán tiểu học cao đòi hỏi học sinh đạt

được chuẩn về kiến thức, kỹ năng. Ngoài ra học sinh còn được tăng cường kiếnthức, kỹ năng vào buổi 2. Điều đó rất khó khăn, với yêu cầu là học sinh học tậpmột cách chủ động, tích cực trong lĩnh hội tri thức, tự phán đoán, giải quyết các bàitập. Giáo viên chỉ là người hướng dẫn, không giảng giải nhiều. Đối tượng học sinhkhông đồng đều, có học sinh mồ côi, học sinh có hoàn cảnh khó khăn, học sinhkhuyết tật học hòa nhập, nhận thức chậm, gia đình ít quan tâm, thêm vào đó là họcsinh lớp 1 bước đầu chuyển từ chơi sang học. Đòi hỏi giáo viên không chỉ dạy màcòn phải dỗ. Kết quả về kiến thức, kỹ năng cơ bản đạt yêu cầu trở lên.Vậy làm thế nào để học sinh học tốt môn toán lớp 1, chất lượng môn toán đượcnâng cao là việc làm vô cùng quan trọng, nhằm đáp ứng nhu cầu giáo dục hiện nay.Điều đó làm giáo viên có lúc lúng túng trong việc lựa chọn và tìm ra biện pháp tốtnhất để nâng cao chất lượng môn Toán. Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy lớpmột nhiều năm. Tôi rất trăn trở và suy nghĩ làm sao để nâng cao chất lượng môntoán lớp 1. Tôi quyết định chọn và nghiên cứu “Một số giải pháp nâng cao chấtlượng dạy – học môn toán lớp 1″.

1

2. Mục đích nghiên cứu:Trên cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác giảng dạy về dạy học môn Toán ởtrường Tiểu học Đông Vệ 1, nhằm đề xuất những biện pháp đổi mới phương phápdạy học của bản thân để nâng cao chất lượng dạy học môn Toán cho học sinh lớp 1trong nhà trường.3. Đối tượng nghiên cứu:Giáo viên và học sinh lớp 1 trong quá trình dạy học môn Toán ở trường Tiểuhọc Đông Vệ 1.4. Phương pháp nghiên cứu:– Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết.– Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin.– Phương pháp điều tra thống kê.– Phương pháp so sánh, đối chiếu.– Phương pháp đánh giá, tổng kết rút kinh nghiệm.

2

II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM1. Cơ sở lý luận :Tại hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành TW Đảng Cộng sản Việt Nam lần VIII

đã chỉ rõ nhiệm vụ quan trong của ngành giáo dục và đào tạo là “Đổi mới mạnh mẽphương pháp giáo dục đào tạo khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thóiquen tích cực, tự giác và tư duy sáng tạo của học sinh”. Phương pháp tích cực đãđược nước ta áp dụng từ năm 2002 và áp dụng đồng bộ trên tất cả các trường tiểuhọc của cả nước. Mặt khác lịch sử của toán học cho thấy rằng quá trình nhận thứctoán học không phải lúc nào cũng suôn sẻ, thuận lợi mà luôn có những mâu thuẫnnhư quan điểm và tư tưởng nhận thức.Nhiệm vụ của người giáo viênThực hiện giảng dạy, giáo dục đảm bảo chất lượng theo chương trình giáodục, kế hoạch dạy học; soạn bài lên lớp kiểm tra, đánh giá, xếp loại học sinh; quảnlý học sinh trong các hoạt động giáo dục do nhà trường tổ chức; tham gia các hoạtđộng chuyên môn; chịu trách nhiệm về chất lượng, hiệu quả giảng dạy và giáo dục.Chương trình và mục tiêu chương trình toán lớp 1:Chương trình gồm 35 tuần (4 tiết / 1 tuần x 35 = 140 tiết)Số học: học sinh biết đọc viết đếm các số đến 100, làm tính cộng, tính trừkhông nhớ trong phạm vi 100.Đại lượng, đo đại lượng: học sinh biết đo độ dài trong phạm vi 20.Yếu tố hình học: Học sinh nắm được về điểm, đoạn thẳng, hình vuông, hìnhtam giác, hình tròn.Giải bài toán có lời văn: Biết giải bài toán đơn về cộng, trừ.Yêu cầu với mức độ tư duy còn thấp, quá trình nhận thức môn toán phải đi từcụ thể, kỹ năng phân tích tổng hợp còn yếu hầu như chỉ dựa vào hình ảnh có sẵntrước mắt. Vì thế chương trình toán lớp 1 chỉ tâp trung:+ Học xong toán lớp 1 học sinh bước đầu có kiến thức cơ bản, đơn giản thiếtthực về phép đếm, về số lượng, về số tự nhiên trong phạm vi 100, về phép cộng vàphép trừ không nhớ trong phạm vi 100, về độ dài, đo độ dài trong phạm vi 20, tuầnlễ, ngày trong tuần, đọc giờ đúng trên mặt đồng hồ, về một số hình học (đoạnthẳng, điểm, hình vuông, tròn, hình tam giác) giải bài toán có lời văn.+ Hình thành và rèn luyện kĩ năng thực hành: đọc, viết, đếm, so sánh các sốtrong phạm vi 100, cộng trừ không nhớ trong phạm vi 100, đo ước lượng độ dài cácđoạn thẳng (với các số tự nhiên trong phạm vi 20), nhận biết hình vuông, hình tròn,hình tam giác, điểm đoạn thẳng, giải các bài toán đơn về cộng, trừ. Bước đầu biếtdiễn đạt bài toán bằng lời, bằng kí hiệu một số nội dung đơn giản của bài học và bàitập thực hành, tập dượt so sánh, phân tích tổng hợp trừu tượng hoá, khái quát hoátrong phạm vi của những nội dung có nhiều quan hệ với đời sống thực tế học sinh.Những đặc điểm tâm lý của trẻ vào lớp 13

– Một số tiết học GV còn ngại sử dụng đồ dùng, hoặc sử dụng đồ dùng chưathật hiệu quả Ví dụ: Sách giáo khoa hướng dẫn đồ dùng bằng hình vẽ ô tô, GV cònmáy móc chưa mạnh dạn sáng tạo trong việc sử dụng nhiều đồ dùng khác như: quetính, chiếc lá, hình tam giác, chấm tròn thay thế. Hoặc những đối tượng học sinhnhận thức chậm, GV chưa sử dụng đồ dùng trực quan giúp học sinh khắc sâu kiếnthức.– Việc tổ chức các trò chơi mới, sân chơi phong phú để thu hút HS khi họcmôn toán còn hạn chế. Khả năng tích hợp các môn học như môn Tiếng Việt cònchưa thường xuyên, chưa hiệu quả. Ví dụ: trò chơi “Truyền điện”, việc đặt câu hỏiđể hỏi bạn, HS còn lúng túng.– Chưa thường xuyên tổ chức cho học sinh hoạt động nhóm hoặc tổ chức ápdụng phương pháp dạy học tích cực chưa linh hoạt, chưa sáng tạo, có lúc còn dậpkhuôn máy móc, áp đặt …..ít tổ chức hoạt động ngoại khóa như: câu lạc bộ, rungchuông vàng, chuyên mục,…nhằm bổ trợ kiến thức toán học cho học sinh.2.2. Thực trạng việc học môn toán lớp 1CNgay từ đầu năm khi được phân công chủ nhiệm lớp 1C, tôi đã tìm hiểu đốitượng, hoàn cảnh của học sinh trong lớp từ đó nắm bắt được hoàn cảnh gia đìnhcũng như khả năng của từng em để có phương pháp giảng dạy có hiệu quả. Kết quảđiều tra cụ thể như sau:

42

Hoàn cảnh học sinhCon gia đình cán bộCon gia đình lao động tự doCon gia đình công nhân

SL

%

Qua việc nắm bắt hoàn cảnh từng đối tượng học sinh trong lớp, tôi thấy đượcnhững thuận lợi và khó khăn của lớp 1C do tôi phụ trách như sau:* Thuận lợi:Đối với học sinh lớp 1C trường Tiểu học Đông Vệ 1 đã được tiếp cận và làmquen với phương pháp dạy học tích cực của giáo viên ngay từ đầu năm học, thànhlập được hội đồng tự quản, phân công nhiệm vụ cho từng ban: ban học tập, ban thưviện, ban đối ngoại…. Các ban học tập nắm bắt khá tốt việc điều hành, hướng dẫn,xử lí tình huống trong nhóm.Trong hoạt động nhóm, một số em mạnh dạn, tự tin, hướng dẫn bạn với nhiềuhình thức đọc kết quả, viết kết quả phép tính nối tiếp nhau, kiểm tra đôn đốc những

5

3.2 Tích cực, kiên trì và chủ động, sáng tạo đổi mới phương pháp dạy học.– Chuẩn bị bài trước khi lên lớp rất quan trọng nên việc xây dựng mục tiêubài học cũng như sắp xếp, tổ chức các hoạt động dạy – học cần được coi trọng.– Trong giảng dạy có nhiều học sinh nhận thức chậm. Giáo viên phải kiên trì,không nên khắt khe mà nên tạo điều kiện cho các em được tham gia vào các hoạtđộng học tập, được chia sẻ để tự tin hơn …– Giáo viên tích cực đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá học sinhthường xuyên trao đổi với giáo viên trong tổ, tổ chức các chuyên đề, sinh hoạtchuyên môn mới, chia sẻ, giải quyết kịp thời các khó khăn.– Tăng cường khảo sát chất lượng học sinh ngay tại các giờ học, buổi học,tuần học…– Chấm bài thường xuyên, động viên học sinh bằng nhiều hình thức nhưtuyên dương …– Giáo viên áp dụng phương pháp thường xuyên, phương pháp chứng minh tạothói quen cho học sinh.Ví dụ cụ thể về sự kiên trì, chủ động đổi mới phương pháp.Khi dạy về phép công trong phạm vi 9.Bước 1: Các em quan sát giáo viên làm mẫu: 9 que tính thêm 1 que tính bằng 10que tính. 9 + 1 = 10.Bước 2: Học sinh làm việc cá nhân, các em dùng que tính để lập các phép tínhcộng tiếp theo vào bảng con hoặc bảng phụ. 1 + 9 = 10; 8 + 2 = 10; 7 + 3 = 10Bước 3: Học sinh trao đổi nhóm 2. Đối chiếu các phép cộng đã lập.Bước 4: Học sinh đọc các phép cộng trong nhóm 6.Bước 5: Báo cáo trước lớp, dưới sự điều hành của Chủ tịch hội đồng tự quản.Hoạt động nhóm còn phát huy tính tự quản của cán bộ lớp, nhóm trưởng, nhằmkiểm tra việc học tập của các bạn trong nhóm mình một cách tốt nhất, có tác dụngsửa chữa uốn nắn kịp thời những thiếu hụt, sai sót về kiến thức cho học sinh họcyếu. Giúp các em mạnh dạn hơn trong giao tiếp với các bạn và thầy, cô giáo. Cóthể nói phương pháp này hình thành tinh thần tự giác trách nhiệm đối với tập thểcho từng thành viên của nhóm như vậy để tránh tình trạng lười biếng, sao nhãngnhiệm vụ được giao, tránh sự ghen tị.Nhưng chỉ có tổ chức hoạt động theo nhóm và quan sát trực quan còn là chưa đủnếu trong giờ toán không có luyện tập thực hành trong giờ toán thời gian học sinhluyện tập chiếm tới 2/3 tiết học, càng được luyện tập nhiều thì học sinh càng khắcsâu được kiến thức. Có khi có những nội dung lí thuyết phải qua làm bài tập thìhọc sinh mới hiểu được.

7

Ví dụ : Sử dụng phương pháp luyện tập thực hành trong bài phép cộng trongphạm vi 9.Một tiết dạy có 35 phút, giáo viên dành khoảng 10-12 phút để xây dựng côngthức cộng trong phạm vi 9 (hay bảng cộng trong phạm vi 9)Sau khi xây dựng xong công thức8+1=93+6=91+8=96+3=9Giáo viên cho học sinh thực hành luyện tập 15 – 20 phút bằng cách đọc cá nhân, tậpthể, đọc thuộc bằng mọi hình thức… Sau khi luyện tập xong giáo viên lại cho họcsinh học thuộc lại bảng cộng trong phạm vi 9 bằng cách đọc nối tiếp giữa hai tổ,hoặc em A nêu phép tính em B trả lời và ngược lại.* Lưu ý : Trong tiết học giáo viên thực hiện linh hoạt các phương pháp như:+ Phương pháp trực quan+ Phương pháp hỏi đáp+ Phương pháp giảng giải ( giải nghĩa từ )+ Phương pháp luyện tập thực hành+ Phương pháp kỉ luật tích cực.+ Phương pháp trò chơiTrong phương pháp dạy học toán lớp 1, giáo viên phải sử dụng linh hoạt đúnglúc, đúng chỗ các phương pháp, các hình thức tổ chức dạy học khác nhau. Việc sửdụng các phương pháp, các hình thức dạy học cần theo hướng tích cực hóa hoạtđộng của học sinh, tăng cường tập luyện thực hành để phát triển các kĩ năng tínhtoán, nhằm nhanh chóng đạt được yêu cầu cộng trừ trong phạm vi 10 và cộng trừkhông nhớ trong phạm vi 100.Bám sát 5 yêu cầu của giáo viên:1. Giáo viên giao nhiệm vụ phải rõ ràng, ngắn gọn.2. Làm mẫu phải rõ ràng, chính xác, dứt khoát.3. Chú ý đến tính đồng loạt, tính cá thể của học sinh.4. Nói ít, tránh nói nhiều.5. Không chê, khuyến khích học sinh tích cực làm việc.Việc tổ chức lớp học, tổ chức luyện tập thực hành luyện tập cũng có thể linhhoạt dưới nhiều hình thức: Cá nhân – nhóm – lớp…Vì hình thức dạy học này có sự kết hợp tính tập thể và tính cá nhân màtrong đó học sinh trong nhóm được sự chỉ đạo của nhóm trưởng, trao đổi nhữnghiểu biết về kiến thức với nhau, giúp học sinh hợp tác với nhau, cùng tìm tòi pháthiện, trình bầy và chiếm lĩnh chi thức. Các thành viên trong nhóm không chỉ quantâm đến việc học tập của mình mà còn quan tâm đến việc học tập của các bạnkhác trong nhóm ( Nhóm 2, nhóm 4, nhóm 6…).

8

3.3. Sử dụng hợp lý, có hiệu quả đồ dùng dạy học, đặc biệt là đồ dùng trựcquan.Giáo viên thường sử dụng các dụng cụ học tập trực quan, nhiều màu sắc hấpdẫn, sinh động để thu hút sự chú ý của học sinh bởi thời gian chú ý có chủ định chỉkéo dài 15- 20 phút. Như vậy, cách sử dụng trực quan như trên rất có lợi cho việcHS tập trung chú ý kéo dài và cao độ.– Học sinh được học tập qua ứng dụng công nghệ thông tin bằng hình ảnh đượctrình chiếu một cách sinh động tạo sự hứng thú cho các em tập trung hơn. Tuynhiên giáo viên không nên lạm dụng.Giáo viên cần phải thu hút trẻ bằng các hoạt động mới, mang màu sắc, tíchchất đặc biệt, khác lạ so với bình thường, khi đó sẽ kích thích trẻ cảm nhận, tri giáctích cực và chính xác và đặc biệt phải hình thành ở các em tâm lý hứng thú và vuivẻ khi ghi nhớ kiến thức.Đặc biệt là đồ dùng trực quan đã đem lại hứng thú cho học sinh. Đòi hỏi cácem phải tư duy, sử lý nhanh các tình huống, tự tìm tòi khám phá kiến thức qua trựcquan. Kết quả học sinh ghi nhớ được kiến thức sâu, các em chóng thuộc bài. Lớphọc thoải mái, vui vẻ, giờ học đạt hiệu quả cao. Học sinh ham thích học toán.3.4 Tổ chức các hoạt động ngoại khóa tạo môi trường học tập tốt hơn.Tổ chức nhiều trò chơi học tập như: rung chuông vàng, hái hoa học tập, tròchơi… nhằm bổ sung kiến thức, tạo sự tự tin, nhanh nhẹn, kỹ năng điều hành hoạtđộng nhóm …Nói tóm lại, sáu tuổi vào lớp 1 là bước ngoặt lớn của trẻ thơ. Môi trườnghọc tập thay đổi một cách cơ bản: trẻ phải tập trung chú ý trong thời gian liên tục từ30 – 35 phút. Nhu cầu nhận thức chuyển từ hiếu kỳ, tò mò sang tính ham hiểu biết,hứng thú khám phá. Trẻ bắt đầu kiềm chế dần tính hiếu động, bột phát để chuyểnthành tính kỷ luật, nền nếp, chấp hành nội quy học tập. Tinh nhạy và sức bền vững,tinh khéo léo của các thao tác của đôi bàn tay để tập viết được phát triển nhanh. Tấtcả những điều đó đều là thử thách đối với trẻ, muốn trẻ vượt qua được tốt nhữngthử thách đó thì phải cần có sự quan tâm giúp đỡ của gia đình, nhà trường và xã hộiđặc biệt là giáo viên dựa trên sự hiểu biết về tri thức khoa học.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm:Với việc áp dụng các giải pháp trên cho học sinh lớp 1, tôi thấy chất lượnggiờ học được nâng lên rõ rệt. Học sinh hào hứng, phấn khởi và luôn chờ đợi đểđược học hình. Trong giờ học các em rất say sưa, hăng say phát biểu ý kiến xâydựng bài, không khí lớp học sôi nổi, giờ học hấp dẫn, nhẹ nhàng. Các em nắm chắckiến thức và được khắc sâu kiến thức. Qua tiết học còn rèn luyện được tính nhanhnhẹn, tự tin, bạo dạn. Vì thế chất lượng học tập của học sinh qua các kì khảo sátđược nâng lên rất nhiều. Cụ thể như sau:9

1C

42

THỜI ĐIỂM KIỂM TRAKẾT QUẢ

Cuối kỳ I

10

Thanh Hóa, ngày 20 tháng 3 năm 2016Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mìnhviết, không sao chép nội dung của người khác.Người thực hiện

Hồ Thị Mai

11

MỤC LỤCNỘI DUNGI. MỞ ĐẦU1. Lý do chọn đề tài2. Mục đích nghiên cứu3. Đối tượng nghiên cứu4. Phương pháp nghiên cứuII. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM1. Cơ sở lý luận2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm2.1. Thực trạng việc dạy học môn Toán lớp 1 của nhà trường2.2. Thực trạng việc học môn toán lớp 1C3. Một số giải pháp nâng cao chất lượng môn toán lớp 13.1. Phối kết hợp giữa gia đình, nhà trường và cộng đồng.3.2. Tích cực, kiên trì và chủ động, sáng tạo đổi mới phương phápdạy học.3.3. Sử dụng hợp lý, có hiệu quả đồ dùng dạy học, đặc biệt là đồdùng trực quan.3.4. Tổ chức các hoạt động ngoại khóa tạo môi trường học tập tốthơn.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệmIII. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ1. Kết luận2. Kiến nghị

12

Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán Lớp 1

Thứ ba – 27/05/2014 14:39

PHÒNG GD&ĐT TP LÀO CAI

TRƯỜNG TIỂU HỌC NGUYỄN BÁ NGỌC

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG MÔN TOÁN LỚP 1

Người thực hiện: Phạm Thị Hằng Chức vụ: Tổ trưởng tổ chuyên môn khối 1 Đơn vị: Trường TH Nguyễn Bá Ngọc

Duyên Hải, ngày 02 tháng 12 năm 2013

1

1

4

2.2 Thực trạng chất lượng đầu vào lớp 1 trường TH Nguyễn Bá Ngọc- thành phố Lào Cai.

5

2.3 Một số biện pháp nâng cao chất lượng môn Toán lớp 1

2.3.1 Phối kết hợp với gia đình học sinh

2.3.2 Tích cực, kiên trì thực hiện đổi mới phương pháp dạy học

2.3.3 Sử dụng đồ dùng hiệu quả, đặc biệt là đồ dùng trực quan

2.3.4 Tổ chức tốt các hoạt động ngoại khóa tạo môi trường học tập thân thiện, hiệu quả.

6

2.4 Hiệu quả của Sáng kiến kinh nghiệm.

– Trong giảng dạy có nhiều học sinh nhận thức chậm. Giáo viên phải kiên trì, không nên khắt khe mà nên tạo điều kiện cho các em được tham gia vào các hoạt động học tập, được chia sẻ để tự tin hơn …– Giáo viên tích cực đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá học sinh thường xuyên trao đổi với giáo viên trong tổ, tổ chức các chuyên đề, sinh hoạt chuyên môn mới, chia sẻ, giải quyết kịp thời các khó khăn.– Tăng cường khảo sát chất lượng học sinh ngay tại các giờ học, buổi học, tuần học…– Chấm bài thường xuyên, động viên học sinh bằng nhiều hình thức như tuyên dương …– Giáo viên áp dụng phương pháp thường xuyên, phương pháp chứng minh tạo thói quen cho học sinh.

Ví dụ : Soạn một tiết toán cụ thể theo phương pháp mới

Phép cộng trong phạm vi 7

– Lập và ghi nhớ bảng cộng trong phạm vi 7– Vận dụng các phép tính cộng trong phạm vi 7 làm các bài tập.– HS khuyết tật nắm đựơc các phép cộng trong phạm vi 7* Giáo dục học sinh say mê, yêu thích học toán.II : Đồ dùng dạy học – Bộ đồ dùng dạy toán.III: Các hoạt động dạy học chủ yếu Hoạt động 1: Thành lập và ghi nhớ bảng cộng trong phạm vi 7

a: Hướng dẫn học sinh phép cộng 6+1=7, 1+6=7 HD h/s q/s hình vẽ và nêu thành bài toán

: Gv hướng dẫn HS làm việc cá nhân, dùng que tính lập các phép tính cộng HS ghi bảng con các phép tính đã lập 6+1=7 4+3=7 1+6=7 3+4=7 5+2=7 2+5=7 HS làm việc theo nhóm đôi. – HS đọc và đối chiếu kết quả : HS trao đổi và ghi nhớ phép cộng trong phạm vi 7 theo nhóm 4.

: HS báo cáo kết quả trước lớp dưới sự điều hành của ban học tập. – Trưởng ban tổ chức cho các bạn ghi nhớ các phép cộng.

Hoạt động 2: Thực hành Bài 1: Tính – HS đọc yêu cầu, làm bài vào SGK – Trưởng ban học tập nhận xét – chốt lại kiến thức: Bài toán ôn lại phép cộng trong phạm vi 7

Bài 2: Tính – GV gọi h/s nêu yêu cầu bài tập

– Gv nhận xét chốt lại nội dung bài – Khi thay đổi vị trí các số trong phép tính nhưng kết quả không thay đổi

Bài 3: Tính – GV hướng dẫn h/s cách làm bài tập – Chủ tịch hội đồng tự quản điều hành lớp nêu cách làm. – Gv nhận xét

Bài 4: Viết phép tính thích hợp – Chủ tịch hội đồng tự quản điều hành các bạn tìm hiểu đề bài bài toán. B1: Quan sát tranh B2: Đặt đề toán. a/ Có 6 con bướm. Thêm 1 con bướm. Hỏi tất cả có bao nhiêu con bướm? b/ Có 4 con chim, 3 con chim bay tới. Hỏi có tất cả bao nhiêu con chim? B3: Viết phép tính

* Củng cố dặn dò – CTHĐTQ điều hành lớp ôn lại các phép tính cộng trong phạm vi 7 – GV nhận xét xếp giờ

– H/s quan sát hình và nêu thành bài toán – HS 6 cộng 1 bằng 7 – HS đọc phép tính 6+1=7 ( CN-N-L)

– HS làm việc cá nhân theo lệnh của GV. – HS lập các phép cộng ra bảng con, dựa trên trực quan (que tính)

– HS trao đổi nhóm đôi. – Nhóm trưởng điều hành các cá nhân đọc phép cộng trong phạm vi 7. – Đại diện các nhóm báo cáo kết quả – HS thi đua nhau ghi nhớ phép cộng trong phạm vi 7. – HS khắc sâu: 6+1=7; 1+6=7…

– HS nêu y/c bài tập – làm bài tập vào SGK – HS đổi vở, kiểm tra chéo.

6 2 3 4 1 5 + + + + + + 1 5 4 3 6 2 7 7 7 7 7 7

– HS nêu yêu cầu bài tập – 3 h/s lên bảng làm bài tập – cả lớp làm bảng con. 7+0=7 6+1=7 3+4=7 2+5=7 0+7=7 1+6=7 4+3=7 5+2=7 – HS mời các bạn nhận xét và chữa bài. – HS nêu yêu cầu bài tập – cách thực hiện phép tính 5+1+1=7 4+2+1=7 2+3+2=7 3+2+2=7 3+3+1=7 4+0+2=6 – HS làm bài tập và chữa bài

– HS q/s tranh vẽ, đặt thành bài toán

– HS làm vở ô ly – 2 bạn làm bảng phụ.

– Viết phép tính thích hợp vào ô trống a/ 6+1=7 b/ 4+3=7

Ví dụ cụ thể về sự kiên trì, chủ động đổi mới phương pháp.

Chủ tịch hội đồng tự quản điều hành lớp báo cáo kết quảKhi dạy về phép công trong phạm vi 9.Bước 1: Các em quan sát giáo viên làm mẫu: 9 que tính thêm 1 que tính bằng 10 que tính. 9 + 1 = 10. Bước 2: Học sinh làm việc cá nhân, các em dùng que tính để lập các phép tính cộng tiếp theo vào bảng con hoặc bảng phụ. 1 + 9 = 10; 8 + 2 = 10; 7 + 3 = 10 Bước 3: Học sinh trao đổi nhóm 2. Đối chiếu các phép cộng đã lập. Bước 4: Học sinh đọc các phép cộng trong nhóm 6. Bước 5: Báo cáo trước lớp, dưới sự điều hành của Chủ tịch hội đồng tự quản.Hoạt động nhóm còn phát huy tính tự quản của cán bộ lớp, nhóm trưởng, nhằm kiểm tra việc học tập của các bạn trong nhóm mình một cách tốt nhất, có tác dụng sửa chữa uốn nắn kịp thời những thiếu hụt, sai sót về kiến thức cho học sinh học yếu. Giúp các em mạnh dạn hơn trong giao tiếp với các bạn và thầy, cô giáo. Có thể nói phương pháp này hình thành tinh thần tự giác trách nhiệm đối với tập thể cho từng thành viên của nhóm như vậy để tránh tình trạng lười biếng, sao nhãng nhiệm vụ được giao, tránh sự ghen tị. Nhưng chỉ có tổ chức hoạt động theo nhóm và quan sát trực quan còn là chưa đủ nếu trong giờ toán không có luyện tập thực hành trong giờ toán thời gian học sinh luyện tập chiếm tới 2/3 tiết học, càng được luyện tập nhiều thì học sinh càng khắc sâu được kiến thức. Có khi có những nội dung lí thuyết phải qua làm bài tập thì học sinh mới hiểu được Ví dụ : Sử dụng phương pháp luyện tập thực hành trong bài phép cộng trong phạm vi 9. Một tiết dạy có 35 phút, giáo viên dành khoảng 10-12 phút để xây dựng công thức cộng trong phạm vi 9 (hay bảng cộng trong phạm vi 9) Sau khi xây dựng xong công thức8+1=9 3+6=91+8=9 6+3=9

Giáo viên cho học sinh thực hành luyện tập 15 – 20 phút bằng cách đọc cá nhân, tập thể, đọc thuộc bằng mọi hình thức… Sau khi luyện tập xong giáo viên lại cho học sinh học thuộc lại bảng cộng trong phạm vi 9 bằng cách đọc nối tiếp giữa hai tổ, hoặc em A nêu phép tính em B trả lời và ngược lại. : Trong tiết học giáo viên thực hiện linh hoạt các phương pháp như: + Phương pháp trực quan + Phương pháp hỏi đáp + Phương pháp giảng giải ( giải nghĩa từ ) + Phương pháp luyện tập thực hành + Phương pháp kỉ luật tích cực. + Phương pháp trò chơi Trong phương pháp dạy học toán lớp 1, giáo viên phải sử dụng linh hoạt đúng lúc, đúng chỗ các phương pháp, các hình thức tổ chức dạy học khác nhau. Việc sử dụng các phương pháp, các hình thức dạy học cần theo hướng tích cực hóa hoạt động của học sinh, tăng cường tập luyện thực hành để phát triển các kĩ năng tính toán, nhằm nhanh chóng đạt được yêu cầu cộng trừ trong phạm vi 10 và cộng trừ không nhớ trong phạm vi 100. Bám sát 5 yêu cầu của giáo viên:1. Giáo viên giao nhiệm vụ phải rõ ràng, ngắn ngọn2. Làm mẫu phải rõ ràng, chính xác, dứt khoát.3. Chú ý đến tính đồng loạt, tính cá thể của học sinh4. Nói ít5. Không chê, khuyến khích học sinh tích cực làm việc Việc tổ chức lớp học, tổ chức luyện tập thực hành luyện tập cũng có thể linh hoạt dưới nhiều hình thức: Cá nhân – nhóm – lớp… Vì hình thức dạy học này có sự kết hợp tính tập thể và tính cá nhân mà trong đó học sinh trong nhóm được sự chỉ đạo của nhóm trưởng, trao đổi những hiểu biết về kiến thức với nhau, giúp học sinh hợp tác với nhau, cùng tìm tòi phát hiện, trình bầy chiếm lĩnh chi thức. Các thành viên trong nhóm không chỉ quan tâm đến việc học tập của mình mà còn quan tâm đến việc học tập của các bạn khác trong nhóm ( Nhóm 2, nhóm 4, nhóm 6…).3.3. Sử dụng hợp lý, có hiệu quả đồ dùng dạy học, đặc biệt là đồ dùng trực quan.Giáo viên thường sử dụng các dụng cụ học tập trực quan, nhiều màu sắc hấp dẫn, sinh động để thu hút sự chú ý của học sinh bởi thời gian chú ý có chủ định chỉ kéo dài 15- 20 phút. Như vậy, cách sử dụng trực quan như trên rất có lợi cho việc HS tập trung chú ý kéo dài và cao độ. – Học sinh được học tập qua ứng dụng công nghệ thông tin bằng hình ảnh được trình chiếu một cách sinh động tạo sự hứng thú cho các em tập trung hơn. Tuy nhiên giáo viên không nên lạm dụng.

Giáo viên cần phải thu hút trẻ bằng các hoạt động mới, mang màu sắc, tích chất đặc biệt, khác lạ so với bình thường, khi đó sẽ kích thích trẻ cảm nhận, tri giác tích cực và chính xác và đặc biệt phải hình thành ở các em tâm lý hứng thú và vui vẻ khi ghi nhớ kiến thức.

Đặc biệt là đồ dùng trực quan đã đem lại hứng thú cho học sinh. Đòi hỏi các em phải tư duy, sử lý nhanh các tình huống, tự tìm tòi khám phá kiến thức qua trực quan. Kết quả học sinh ghi nhớ được kiến thức sâu, các em chóng thuộc bài. Lớp học thoải mái, vui vẻ, giờ học đạt hiệu quả cao. Học sinh ham thích học toán.3.4 Tổ chức các hoạt động ngoại khóa tạo môi trường học tập tốt hơn.– Tổ chức nhiều trò chơi học tập như: rung chuông vàng, hái hoa học tập, trò chơi Bin-gô… nhằm bổ sung kiến thức, tạo sự tự tin, nhanh nhẹn, kỹ năng điều hành hoạt động nhóm …3.5 Nói tóm lại, sáu tuổi vào lớp 1 là bước ngoặt lớn của trẻ thơ. Môi trường học tập thay đổi một cách cơ bản: trẻ phải tập trung chú ý trong thời gian liên tục từ 30 – 35 phút. Nhu cầu nhận thức chuyển từ hiếu kỳ, tò mò sang tính ham hiểu biết, hứng thú khám phá. Trẻ bắt đầu kiềm chế dần tính hiếu động, bột phát để chuyển thành tính kỷ luật, nền nếp, chấp hành nội quy học tập. Tinh nhạy và sức bền vững, tinh khéo léo của các thao tác của đôi bàn tay để tập viết được phát triển nhanh. Tất cả những điều đó đều là thử thách đối với trẻ, muốn trẻ vượt qua được tốt những thử thách đó thì phải cần có sự quan tâm giúp đỡ của gia đình, nhà trường và xã hội đặc biệt là giáo viên dựa trên sự hiểu biết về tri thức khoa học.

Phạm Thị Hằng

Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Toán (Phần Giải Toán) Ở Tiểu Học

Như chúng ta đã biết giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học lên.

Môn toán là một môn học chiếm một vị trí rất quan trọng và then chốt trong nội dung chương trình các môn học bậc tiểu học .Các kiến thức kĩ năng của môn toán ở tiểu học có nhiều ứng dụng trong đời sống, chúng rất cần cho người lao động, rất cần thiết để học các môn học khác ở tiểu học và các lớp trên. Môn toán giúp học sinh nhận biết các mối quan hệ về số lượng và hính dạng không gian của thế giới hiện thực .Nhờ đó mà học sinh có phương pháp nhận thức một số mặt của thế giới xung quanh và biết cách hoạt động có hiệu quả trong đời sống. Môn toán góp phần rất quan trọng trong việc rèn luyện phương pháp suy nghĩ, phương pháp suy luận, phương pháp giải quyết vấn đề .Nó góp phần phát triển trí thông minh, cách suy nghĩ độc lập, linh hoạt, sáng tạo, nó đóng góp vào việc hình thành các phẩm chất cần thiết và quan trọng của người lao động như: cần cù, cẩn thận , có ý chí vượt khó khăn, làm việc có kế hoạch, có nề nếp và tác phong khoa học.

Xuất phát từ vị trí quan trọng của môn toán, qua thực tế giảng dạy và nghiên cứu nhiều năm ở tiểu học, để góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn toán đặc biệt nội dung giải toán có văn bản thân tôi đã đúc rút và tổng kết đ­­ược một số bài học kinh nghiệm sau đây . Mời các bạn cùng tham khảo. Thứ nhất: Những kinh nghiệm trong quá trình thực hiện chư­ơng trình và SGK. Những tiết học toán trong SGK là những tiết học rất quan trọng, nhằm cung cấp cho các em học sinh những yêu cầu cơ bản nhất mà chương trình đặt ra.Bằng hình ảnh trực quan sinh động và phư­­ơng pháp sư phạm của giáo viên, các em dần dần nắm chắc kiến thức, rèn luyện các kĩ năng,…. Việc nắm chắc kiến thức phụ thuộc rất nhiều vào nhận thức ban đầu của học sinh. Giáo viên cần xuất phát từ những vấn đề rất cụ thể, chi tiết; học sinh phải nắm đ­­ược bản chất của vấn đề, các em phải có nền kiến thức đại trà vững chắc rồi mới đến ngọn là giải quyết các bài toán ở mức độ cao hơn. Để làm đ­ược điều đó giáo viên cần: – Tổ chức tốt các hoạt động học tập trong các tiết học để học sinh giải quyết tốt các bài tập trong sách giáo khoa. Học sinh phải hiểu sâu sắc vấn đề, nắm chắc kiến thức và vận dụng tốt vào thực hành.

– Thời lư­ợng dành cho thực hành, luyện tập trong mỗi tiết học chiếm từ 60%-70%, nên ta cần tận dụng đặc điểm này để tăng c­ường thực hành, giúp học sinh hình thành và phát triển các kĩ năng toán học, giải quyết về cơ bản các nhiệm vụ thực hành ngay trong các tiết toán tại lớp.

– Giáo viên cần giúp học sinh nắm chắc, thuộc lòng các quy tắc, các công thức tính mà SGK đã cung cấp. Có kĩ năng vận dụng công thức , quy tắc vào giải quyết các bài toán trong SGK phần thực hành.

– Giáo viên nên chuyển nội dung từng tiết dạy học toán thành các phiếu học tập hay phiếu thực hành (nếu có điều kiện) để phát huy tính chủ động và sáng tạo của HS, nêu cao hiệu quả và tăng năng suất học tập. Trong quá trình biên soạn các phiếu học tập, GVnên tích hợp nhiều nội dung giáo dục gắn với thực tế và gần gũi thu hút đ­ược hứng thú của HS, có thể sử dụng một số tranh ảnh, hình vẽ ngộ nghĩnh để minh hoạ cho các bài tập thêm sinh động, có thể thiết kế các bài tập dưới dạng bài tập trắc nghiệm, các trò chơi hay câu đố vui toán học mà không làm biến dạng nội dung cơ bản của môn toán, góp phần tăng thêm gia vị cho môn toán để các em tiếp thu bài tốt hơn.

– Khi HS đã hoàn thành tốt các bài tập trong SGK , GV cần dần từng b­ước hình thành ở các em cách suy luận sáng tạo, biết giải các bài toán đó theo các cách khác nhau. Thứ hai: Những kinh nghiệm trong việc sử dụng ph­ương pháp, hình thức tổ chức dạy học. Để chuyển tải đư­ợc những kiến thức khoa học tới cho học sinh, GV phải sử dụng các ph­ương pháp và hình thức tổ chức dạy học. Việc nắm bắt kiến thức của học sinh phụ thuộc rất nhiều vào cách thức và phư­ơng pháp giảng dạy của giáo viên.

Trong xu thế dạy học hiện nay, GV không còn là ngư­ời truyền thụ tri thức theo một chiều , học sinh thụ động tiếp thu và làm theo. Ng­ười GV cần căn cứ vào vốn sống, khả năng hiểu biết của HS để thiết kế các hoạt động nhằm giúp HS tự phát hiện và giải quyết vấn đề d­ưới sự trợ giúp của các bạn trong nhóm, trong lớp hay của GV. GV trở thành ng­ười thiết kế ngư­ời tổ chức h­ướng dẫn các hoạt động,.. còn HS là ngư­ời thi công, ng­ười trực tiếp hoạt động để tìm tòi kiến thức.

Trên cơ sở đó GV giúp các em biết tổng hợp để rút ra những nhận xét, những quy tắc hay những kết luận cần thiết. Khi giảng dạy các kiến thức mới, dạng toán mới GV cần chú ý các bư­ớc sau đây:

*Ph­ương pháp chung: Tự phát hiện – Tự giải quyết – Tự chiếm lĩnh

* Các b­ước cụ thể:

B­ước 1: Làm nảy sinh nhu cầu nhận thức của HS (Làm xuất hiện vấn đề và tạo cho học sinh có nhu cầu tìm hiểu vấn đề đó)

B­ước 2: Tổ chức các hoạt động học tập (theo cá nhân, theo nhóm hay cả lớp)

Bư­ớc 3: Hư­ớng dẫn học sinh trình bày ý kiến tr­ước nhóm, tr­ước lớp.

Bư­ớc 4: Hư­ớng dẫn học sinh nhận xét , đánh giá ,bổ sung.

B­ước 5: Giáo viên hệ thống, kết luận vấn đề, hư­ớng dẫn học sinh trình bày (GV chốt lại các vấn đề quan trọng)

B­ước 6: Tổ chức cho học sinh luyện tập, thực hành, rèn các kĩ năng.

* Lư­u ý: Để triển khai các b­ước trên một cách có hiệu quả cần có sự trợ giúp của các phư­ơng tiện và đồ dùng dạy học, do đó trong quá trình tổ chức các họat động học tập của HS giáo viên cần sử dụng các đồ dùng dạy học sao cho phù hợp và mang tính hiệu quả cao. PPDH ở tiểu học phải phát huy đ­ược tính tự giác, tích cực, chủ động và sáng tạo của HS, phù hợp với đặc tr­ưng môn học, đặc điểm đối t­ượng học sinh và điều kiện của lớp học . GV cần chủ động lựa chọn, vận dụng phối kết hợp các ph­ương pháp dạy học để phát huy hiệu quả cao nhất.

Thứ ba: Những bước tiếp theo sau khi học sinh đã biết cách giải một dạng toán. Mỗi bài Toán là sự kết hợp đa dạng của các khái niệm, các mối quan hệ toán học, đòi hỏi học sinh phải biết xác lập đ­ược các mối quan hệ giữa các dữ liệu của bài toán: Biết so sánh, phân tích, tổng hợp. Trên cơ sở đó, lựa chọn đ­ược cách giải quyết tốt nhất. Như­ chúng ta đã biết, đ­ường lối chung để hư­ớng dẫn học sinh giải một bài toán ở Tiểu học, thư­ờng gồm các bư­ớc như­: Nghiên cứu tìm hiểu bài toán, thiết lập quan hệ giữa các dữ liệu để tóm tắt bài toán, lập kế hoạch giải bài toán, trình bày bài giải và kiểm tra kết quả.Tuy nhiên, trong quá trình dạy học, nếu giáo viên chỉ dừng lại ở các b­ước trên thì coi nh­ư mới hoàn thành xong việc tổ chức hư­ớng dẫn cho học sinh giải một bài toán. Điều quan trọng là sau khi học sinh giải xong bài toán đó, giáo viên cần làm gì, cần khai thác những gì từ bài toán để một mặt củng cố được cách giải, một mặt phải phát huy hết khả năng tư­ duy, sự sáng tạo của học sinh khi học toán. Tôi xin đ­ưa ra một số kinh nghiệm sau đây:

– Nâng cao mức độ khó dễ của bài toán: Trên cơ sở học sinh đã nắm chắc, hay đã củng cố tốt đ­ược cách giải khái quát của bài toán, giáo viên cần nâng dần mức độ của bài toán đó nhằm kiểm tra khả năng vận dụng của các em vào các tình huống khác nhau nhằm rèn kỹ năng, kỹ xảo giải toán, gây hứng thú học tập và phát huy khả năng của từng em.

– Tìm nhiều cách giải khác nhau cho bài toán: Biện pháp này nhằm giúp học sinh có thể vận dụng các kiến thức đã học vào giải quyết bài toán theo các hư­ớng khác nhau.Trong chư­ơng trình tiểu học học sinh đã đ­ược trang bị một khối l­ượng khá lớn về các công cụ giải toán .

Trong mỗi bài toán có thể chứa đựng rất nhiều các cách giải khác nhau, nên thông qua mỗi bài toán đó GV có thể củng cố cho học sinh rất nhiều các ph­ương pháp giải toán đã học. Đối với HS tiểu học các em đã đ­ược làm quen với nhiều dạng toán cơ bản .

Từ việc vẽ sơ đồ cụ thể các em dễ dàng tìm ra đ­ược lời giải bài toán . Tuy nhiên không phải lúc nào cũng vẽ đ­ược sơ đồ của bài toán , do vậy việc biến đổi các bài toán để đưa về các dạng quen thuộc cũng là một ph­ương pháp rất đặc trư­ng trong dạy toán tiểu học.

– Tìm h­ướng giải quyết bài toán có nhiều khả năng xảy ra Biện pháp này bên cạnh giúp HS củng cố kĩ năng giải toán, phát triển tư­ duy, ở mức độ cao hơn còn đòi hỏi các em phải biết tìm tòi giải quyết tất cả các khả năng có thể xảy ra để tìm hết các đáp số của bài toán, biết loại trừ các khả năng không phù hợp.

– Giải quyết bài toán ng­ược với các bài toán đã giải: Khi giải xong một bài toán, nếu giáo viên đặt ra các bài toán ng­ược và yêu cầu học sinh tìm cách giải, sẽ có tác dụng rất tốt trong việc phát huy khả năng sáng tạo của các em trong việc vận dụng cách giải của bài toán vừa làm làm cơ sở để giải các bài toán ngư­ợc.

– Tổ chức cho học sinh lập đề toán theo sơ đồ tóm tắt cho sẵn rồi giải: Mục đích của hoạt động này là nhằm giúp học sinh căn cứ vào sơ đồ tóm tắt cho sẵn để nhận diện dạng toán cơ bản, để từ đó có thể tự lập một đề toán tư­ơng ứng với sơ đồ tóm tắt đó rồi tự trình bày bài giải. Với hoạt động này sẽ nhằm phát huy vốn sống, vốn hiểu biết và khả năng diễn đạt ngôn ngữ khi học toán của các em. Giúp các em biết lựa chọn và đ­ưa các vấn đề trong cuộc sống vào làm nền cho đề toán của mình.

– Tổ chức cho học sinh tìm dữ kiện còn thiếu hay các dữ kiện thừa trong các bài toán. Việc làm này không những củng cố , khắc sâu cách giải các dạng toán mà còn có tác dụng rất tốt trong việc phát triển t­ư duy cho học sinh. B­ước đầu hình thành ở các em cách t­ư duy của một nhà phát minh , nhà khoa học trong t­ương lai.

Thứ tư: Những kinh nghiệm trong việc mở rộng phát triển và nâng cao kiến thức . Việc mở rộng và nâng cao kiến thức phải trên cơ sở học sinh đã nắm chắc các kiến thức cơ bản.Biết sử dụng các kiến thức cơ bản một cách linh hoạt , sáng tạo.Biết kích thích, gợi mở để các em có nhu cầu vận dụng kiến thức đó.Có nh­ư vậy việc nâng cao kiến thức mới thực sự phát huy được hiệu quả cao.

– Khi phát triển , mở rộng và nâng cao kiến thức cho học sinh , giáo viên cần xuất phát từ các bài toán đơn giản , dễ hiểu.Qua mỗi bài, hay hệ thống bài ,giáo viên cần cho học sinh khái quát chung được cách giải. Giúp các em hiểu sâu , nhớ lâu và hình thành kĩ năng giải các bài toán đó.

– Cần khai thác triệt để các dạng toán quen thuộc ẩn chứa trong mỗi bài toán, giúp học sinh có kĩ năng biến đổi hay kĩ năng suy luận để đ­­ưa bài toán về dạng quen thuộc.Phát huy tối đa khả năng tìm tòi , sáng tạo của các em trư­­ớc mỗi bài toán. Hạn chế tối đa việc sử dụng phư­­ơng pháp đại số khô cứng.

– Khi học sinh đã nắm chắc cách giải thông thư­­ờng,giáo viên nên khuyến khích học sinh tìm nhiều cách giải khác, nhằm phát huy khả năng của các em,gây hứng thú học tập , học sinh học giỏi không mất thời gian chờ đợi những học sinh học kém hơn .

– GV cần thiết kế đư­ợc các bài tập phù hợp cho các đối t­ượng học sinh trong lớp, sao cho nội dung dạy học vừa sức , không bị quá tải song vẫn phát huy đ­ược khả năng sáng tạo và năng khiếu của học sinh.

Thứ năm: Những kinh nghiệm trong việc tổ chức kiểm tra đánh giá học sinh Đánh giá học sinh là một khâu rất quan trọng nhằm: Nắm đư­ợc năng lực tiếp thu bài của học sinh trong lớp để đặt ra yêu cầu học tập đối với từng học sinh : yêu cầu cao hơn đối với học sinh giỏi, yêu cầu ở mức độ cơ bản đối với học sinh trung bình và yếu. Thu thập thông tin phản hồi về cách dạy của GV để điều chỉnh sao cho phù hợp, bổ khuyết những điểm yếu của học sinh.Có nhiều phư­ơng pháp đánh giá kết quả học tập của học sinh , ph­ương pháp đánh giá nào cũng có ư­u điểm và như­ợc điểm, không có phương pháp nào là hoàn hảo mọi mặt, do đó không nên cực đoan đề cao hoặc bác bỏ một ph­ương pháp nào mà phải nghiên cứu chúng thấu đáo để sử dụng đúng lúc, đúng chỗ. Trong quá trình dạy học GV cần sử dụng nhiều phư­ơng pháp đánh giá một cách đa dạng như­:

– Sử dụng bài kiểm tra tự luận.Dạng bài kiểm tra này có rất nhiều ư­u điểm nên đ­ược sử dụng phổ biến. Để đ­ược điểm cao học sinh phải giải đư­ợc bài toán , đồng thời phải biết trình bày bài giải , nghĩa là các em phải thể hiện nhiều kĩ năng . Tuy nhiên dạng bài này cũng có những như­ợc điểm nhất định việc đánh giá phụ thuộc phần nào vào ý nghĩ chủ quan của GV, tốn nhiều thời gian cho việc chấm bài của GV, phạm vi kiến thức đ­ược kiểm tra không đ­ược nhiều.

– Sử dụng bài kiểm tra trắc nghiệm: Khác với các bài tập tự luận , khi trình bày bài giải đòi hỏi học sinh phải có sự lập luận chặt chẽ , câu trả lời và phép tính phải hợp lý, trình bày một cách lô gíc .Các bài tập trắc nghiệm chỉ đòi hỏi học sinh vận dụng các kiến thức đã học một cách sáng tạo và nhanh nhạy để tìm ra đáp số đúng ,đáp số sai hay bài giải đúng , bài giải sai .Giúp cho giáo viên trong một thời gian ngắn có thể kiểm tra đ­­ược nhiều kiến thức của học sinh. Chính vì vậy loại bài tập này rất thu hút sự nhiệt liệt h­­ưởng ứng của học sinh , nó là một hình thức thay đổi không khí giờ học toán và góp phần rất tốt trong việc tạo hứng thú học tập cho học sinh .

– GV cần sử dụng nhiều công cụ đánh giá khác nhau để có thể đánh giá đúng HS một cách khách quan:Kiểm tra vấn đáp, kiểm tra viết (Gồm kiểm tra ngắn, kiểm tra một tiết). Trong các bài kiểm tra viết cần kết hợp cả bài tập trắc nghiệm và bài tập tự luận, các bài tập cần sắp xếp theo thứ tự từ dễ đến khó và có đủ loại bài đại diện cho các kiến thức kĩ năng cơ bản nhất.

– GV cần vận dụng cách đánh giá theo nhiều chiều: GV đánh giá học sinh, học sinh đánh giá lẫn nhau và nêu cao ý thức tự đánh giá ở mỗi học sinh. Với những kinh nghiệm trên, sau nhiều năm vận dụng, tôi nhận thấy chất lượng dạy học môn toán (phần giải toán có văn) đã đạt được những thành tích đáng kể .

Học sinh nắm chắc kiến thức hơn, có hào hứng trong học tập, biết vận dụng các kiến thức một cách sáng tạo vào giải quyết các bài toán thực tế, tạo cho các em một sức bật mới trong nhận thức và hành động.

toantieuhoc.com sưu tầm

Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giờ Dạy Học Môn Ngữ Văn Lớp 6

Đổi mới phương pháp, nâng cao chất lượng giờ học luôn là mục tiêu mà mỗi người giáo viên đứng lớp quan tâm, trăn trở và tìm cách thực hiện, nhằm mang đến hiệu quả tối đa cho giờ dạy học của bản thân và học sinh. Đây cũng là mục tiêu cơ bản và quan trọng nhất của quá trình đổi mới giáo dục xuyên suốt từ vài thập niên gần đây của Bộ Giáo dục và Đào tạo( GD&ĐT). Mỗi người GV trực tiếp giảng dạy, ngoài việc vận dụng tốt những phương pháp, phương tiện thiết bị dạy học, cách thức kiểm tra đánh giá học sinh theo đề án đổi mới giáo dục ở các chuyên đề được tiếp thu, mỗi người cũng cần phải có những cách thức riêng cho bản thân mình để có thể áp dụng vào thực tế công tác, vào điều kiện giảng dạy của bản thân, nhà trường, địa phương. Và nhất là phù hợp với đối tượng học sinh (về khả năng tiếp thu, hoàn cảnh xã hội, gia đình cũng như sức khỏe của các em ).

Một thực tế cho thấy, trong những năm gần đây, các môn học thuộc bộ môn khoa học xã hội, nhất là môn Ngữ văn đang bị học sinh “xa lánh”, một phần vì nội dung chương trình còn nặng về kiến thức, một bài học các em phải tiếp nhận nhiều đơn vị kiến thức với áp lực phải ghi nhớ. Ngữ văn lại là môn học phải đọc nhiều, viết nhiều nhưng xu thế phát triển của thời đại Công nghệ số khiến các em ngại đọc, ngại viết, ngại trau rồi kiến thức mà ỉ lại vào các trang mạng xã hội: Google, Facebook, YouTube… Dẫn đến hạn chế trong khả năng lĩnh hội bài học, kĩ năng tư duy và diễn đạt kém, kiến thức tích lũy thì nghèo nàn. Dẫn đến học sinh chán học, giáo viên mất hứng thú trong giờ dạy, nhiệt huyết truyền đạt những tri thức hay, sâu sắc, mới mẻ cho học sinh mất dần, mai một dần, đến bỏ hẳn. Giờ học Ngữ văn trở nên khô khan, nhàm chán, chất lượng hiệu quả gờ học không cao.

NỘI DUNG:

1.MỞ ĐẦU.2

1.1. Lí do chọn đề tài:2

1.2.Mục đích nghiên cứu :3

1.3.Đối tượng nghiên cứu:3

1.4.Phương pháp nghiên cứu:3

2.NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM4

2.1.Cơ sở lí luận của đề tài:4

2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng:6

2.3. Các sáng kiến kinh ngiệm và các giải pháp đã sử dụng để đưa ra giải quyết vấn đề đó.8

2.4. Hiệu quả của SKKN đối với việc giảng dạy của bản thân và đồng nghiệp ở trường THCS Định Hưng:11

3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ:12

3.1.Kết luận:12

3.2. Kiến nghị:13

Tài liệu tham khảo.14

Mọi đóng góp cho thư viện, các bạn hoàn toàn có thể gửi trực tiếp về email của Admin nguyenphihung1009@gmail.com hoặc inbox qua Facebook https://www.facebook.com/Congdongkythuatcodienvietnam.VMTC/.

Cập nhật thông tin chi tiết về Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Toán Lớp 1 trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!