Xu Hướng 2/2023 # Một Số Giải Pháp Khắc Phục Tồn Tại, Hạn Chế Trong Thực Hiện Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Thanh Tra Chính Phủ Về Pctn # Top 6 View | Phauthuatthankinh.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Một Số Giải Pháp Khắc Phục Tồn Tại, Hạn Chế Trong Thực Hiện Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Thanh Tra Chính Phủ Về Pctn # Top 6 View

Bạn đang xem bài viết Một Số Giải Pháp Khắc Phục Tồn Tại, Hạn Chế Trong Thực Hiện Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Thanh Tra Chính Phủ Về Pctn được cập nhật mới nhất trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Điều 76 Luật PCTN quy định: “Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Thanh tra Chính phủ có trách nhiệm sau đây: 1. Tổ chức, chỉ đạo, hướng dẫn công tác thanh tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về PCTN; trường hợp phát hiện hành vi tham nhũng thì đề nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xử lý; 2. Xây dựng hệ thống dữ liệu chung về PCTN”. Đồng thời, Khoản 1 Điều 75 Luật PCTN cũng quy định, trong Thanh tra Chính phủ có đơn vị chuyên trách về chống tham nhũng.

Kế thừa các quy định của Luật PCTN, Điều 14 Luật Thanh tra năm 2010 quy định rõ: “Thanh tra Chính phủ là cơ quan của Chính phủ, chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý Nhà nước về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và PCTN trong phạm vi cả nước…”.

Nhằm thực hiện Luật PCTN, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1424/QĐ-TTg ngày 31/10/2006 về việc thành lập Cục Chống tham nhũng thuộc Thanh tra Chính phủ.

Tiếp đó, sau khi Nghị định số 83/2012/NĐ-CP ngày 9/10/2012 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Thanh tra Chính phủ có hiệu lực, Tổng Thanh tra Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1877/QĐ-TTCP ngày 19/8/2013 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức, hoạt động của Cục Chống tham nhũng để triển khai các nhiệm vụ về PCTN được giao cho Thanh tra Chính phủ. Theo quyết định này, Cục Chống tham nhũng là đơn vị thuộc Thanh tra Chính phủ, có chức năng giúp Tổng Thanh tra Chính phủ thực hiện quản lý Nhà nước về công tác PCTN; thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn thanh tra theo thẩm quyền khi được giao. Như vậy, có thể thấy, việc thành lập Cục Chống tham nhũng là nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn về PCTN của Thanh tra Chính phủ.

Như đề cập ở trên, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Thanh tra Chính phủ trong PCTN được quy định trong Luật PCTN, Luật Thanh tra và các Nghị định quy định chi tiết một số điều của các Luật. Căn cứ vào các quy định này, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Thanh tra Chính trong PCTN bao gồm: Quản lý Nhà nước về công tác PCTN trên phạm vi cả nước; thực hiện chức năng kiểm tra, thanh tra việc thực hiện các biện pháp về PCTN và các vụ việc có dấu hiệu tham nhũng theo thẩm quyền.

Thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao, thời gian qua, Thanh tra Chính phủ đã có nhiều nỗ lực, cố gắng nhằm nâng cao hiệu quả công tác PCTN.

Kết quả tổng kết 10 năm thi hành Luật PCTN cho thấy, công tác PCTN đã đạt được nhiều kết quả tích cực, quan trọng, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước; giúp cải thiện môi trường kinh doanh và đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội.

Nỗ lực PCTN của Việt Nam cũng đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận trong khuôn khổ thực thi Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng mà Việt Nam là thành viên và các diễn đàn quốc tế khác.

Luật PCTN từng bước giúp tạo ra môi trường thể chế ngày càng công khai, minh bạch; từng bước tăng cường sự tham gia của người dân vào công tác PCTN; cơ chế kiểm soát đối với cán bộ, công chức, viên chức và chế độ công vụ cũng ngày càng được cải thiện; việc xử lý người có hành vi tham nhũng và tài sản tham nhũng cũng được chú trọng và nâng cao hiệu quả; bộ máy cơ quan PCTN bước đầu được củng cố, kiện toàn.

Kết quả này cho thấy, việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Thanh tra Chính phủ trong PCTN đã có những hiệu quả tích cực. Trong đó, đáng chú ý, Thanh tra Chính phủ đã tham mưu cho Chính phủ trong việc chỉ đạo các cấp, các ngành khẩn trương tổ chức thực hiện Luật PCTN. Trên cơ sở đó, Thủ tướng Chính phủ ký ban hành “Chương trình Hành động của Chính phủ thực hiện Luật PCTN”, cụ thể hóa các nhiệm vụ, biện pháp PCTN được quy định trong Luật PCTN, trình Chính phủ ban hành “Chiến lược Quốc gia PCTN đến năm 2020”; trình Chủ tịch nước phê chuẩn Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng và ban hành Kế hoạch Thực thi Công ước.

Kể từ khi Luật PCTN có hiệu lực, Thanh tra Chính phủ cũng đã trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành và ban hành theo thẩm quyền gần 30 văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành các quy định của Luật PCTN, giúp Chính phủ, Quốc hội tiến hành sơ kết 05 năm và tổng kết 10 năm làm cơ sở sửa đổi, bổ sung Luật PCTN vào năm 2007, 2012 và kể từ năm 2016 đến nay (sửa đổi toàn diện). Đồng thời, Thanh tra Chính phủ đã tổ chức nhiều đợt kiểm tra, theo dõi thi hành pháp luật về PCTN. Qua công tác này, Thanh tra Chính phủ cũng sửa đổi, bổ sung và trình Chính phủ sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật về PCTN cho phù hợp với thực tiễn cuộc sống; đưa vào kế hoạch thanh tra trách nhiệm thực hiện pháp luật về PCTN đối với các bộ, ngành, địa phương để kịp thời chấn chỉnh việc tổ chức thực hiện pháp luật…

Bên cạnh đó, Thanh tra Chính phủ đã tham mưu cho Chính phủ trong việc tổ chức, chỉ đạo các cơ quan quản lý Nhà nước khẩn trương triển khai việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật về PCTN gắn với việc “học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Đưa nội dung PCTN vào chương trình giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng, chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành và cơ quan Trung ương xây dựng chương trình, tài liệu giảng dạy; tập huấn cho giảng viên giảng dạy các môn học có lồng ghép nội dung về PCTN từ cấp THPT trở lên. Từ năm học 2013 – 2014, việc giảng dạy nội dung PCTN tại các cơ sở giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng (từ cấp THPT trở lên) đã được triển khai rộng khắp trên phạm vi cả nước.

Cũng trong giai đoạn từ năm 2011 đến nay, Thanh tra Chính phủ đã tiến hành nhiều cuộc thanh tra, kiểm tra tại các cơ quan, tổ chức, đơn vị theo chương trình, kế hoạch và theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.

Mặc dù đạt được nhiều kết quả, song vẫn phải thẳng thắn nhìn nhận việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Thanh tra Chính phủ trong quản lý Nhà nước về PCTN chưa toàn diện, còn thiếu hiệu quả, chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn phát sinh; việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn về kiểm tra, thanh tra việc thực hiện pháp luật về PCTN, vụ việc có dấu hiệu tham nhũng, việc minh bạch tài sản, thu nhập và xử lý đơn thư tố cáo về tham nhũng còn chưa hiệu quả. Do đó, để hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Thanh tra Chính phủ trong PCTN, cần tập trung vào những giải pháp sau:

Một là, giải pháp về hoàn thiện pháp luật

Thứ nhất, cần tập trung sửa đổi, bổ sung các quy định về nguyên tắc công khai, nội dung công khai, hình thức công khai và trách nhiệm công khai, gắn với việc phát huy trách nhiệm giải trình của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị; thực hiện nghiêm chế độ họp báo, phát ngôn và cung cấp thông tin làm cơ sở cho việc áp dụng các biện pháp xử lý khi thanh tra, kiểm tra.

Thứ hai, thực hiện các biện pháp đánh giá về thực trạng tham nhũng và công tác PCTN dựa trên hệ thống tiêu chí khoa học, khách quan, toàn diện nhằm nhận diện chính xác thực trạng tham nhũng và hiệu quả PCTN, qua đó giúp phản ánh được một cách khách quan về thực trạng tham nhũng và chủ đồng đề xuất các biện pháp, phương thức đấu tranh phù hợp.

Thứ ba, xây dựng, duy trì chế độ liêm chính trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị dựa trên những giá trị đạo đức cốt lõi và coi đây là một trụ cột quan trọng nhằm phòng ngừa tham nhũng, bao gồm: Quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức; những việc cán bộ, công chức, viên chức không được làm; các quy định về tặng quà và nhận quà tặng, quy tắc đạo đức nghề nghiệp, đạo đức kinh doanh, kèm theo trách nhiệm, thẩm quyền tổ chức thực hiện và xử lý khi có hành vi vi phạm.

Thứ tư, tiếp tục quy định các biện pháp nhằm từng bước kiểm soát biến động về thu nhập và chi tiêu trong xã hội, như: Thực hiên thanh toán qua tài khoản đối với các khoản thu, chi có giá trị từ 20 triệu đồng trở lên; quy định việc bắt buộc áp dụng thanh toán qua tài khoản đối với một số trường hợp nhất định làm cơ sở đưa ra các hình thức xử lý vi phạm phát hiện qua thanh tra, kiểm tra.

Thứ sáu, bổ sung các quy định về xử lý vi phạm Luật PCTN nhằm thể hiện sự nghiêm minh trong việc xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về PCTN, tăng cường hiệu quả thực thi Luật PCTN và hiệu quả của công tác PCTN, bao gồm các quy định về hành vi vi phạm, thẩm quyền xử lý và hình thức xử lý cụ thể.

Hai là, giải pháp về tổ chức thực hiện

Cần đẩy mạnh và chủ động việc tiến hành công tác thanh tra theo kế hoạch, tăng cường thanh tra đột xuất khi phát hiện dấu hiệu vi phạm, kết luận thanh tra khách quan, chính xác, nội dung thanh tra tập trung vào những lĩnh vực dễ xảy ra tham nhũng, tiêu cực nhằm phát hiện, chấn chỉnh những sơ hở, bất cập trong quản lý, xử lý các hành vi vi phạm, tiêu cực cũng như kiến nghị sửa đổi, bổ sung cơ chế, chính sách cho phù hợp. Chú trọng thực hiện công tác xử lý sau thanh tra có biện pháp kiên quyết thu hồi triệt để tài sản tham nhũng.

Cần thể chế hóa quy trình tiếp nhận đơn thư tố cáo về hành vi tham nhũng, trên cơ sở đó kiện toàn tổ chức bộ máy và cơ sở vật chất nhằm tiếp nhận một cách có hiệu quả, thực chất thông tin về tham nhũng, nhất là đơn thư, tố cáo và thông tin của dư luận, báo chí; tăng cường phối hợp giữa báo chí, doanh nghiệp, các tổ chức chính trị – xã hội với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để ngăn chặn và phát hiện kịp thời hành vi nhũng nhiễu, đòi hối lộ của cán bộ, công chức. Từ đó, tiến hành thanh tra vụ việc có dấu hiệu tham nhũng hoặc chuyển cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật.

Tăng cường thực hiện các cuộc thanh tra theo trình tự, thủ tục quy định của pháp luật về thanh tra; đổi mới nội dung, phương pháp chỉ đạo, điều hành, tác nghiệp, nâng cao hiệu quả công tác thanh tra. Trong đó: Tập trung triển khai thanh tra trách nhiệm về quản lý Nhà nước, quản lý kinh tế – xã hội gắn với công tác PCTN; thanh tra việc thực hiện các biện pháp PCTN, đặc biệt là trong thực hiện kê khai, minh bạch tài sản, thu nhập của người có nghĩa vụ kê khai theo quy định của pháp luật và coi đây là nhiệm vụ thường xuyên nhằm tăng cường tính kỷ luật, kỷ cương trong thực hiện các biện pháp phòng ngừa, phát hiện tham nhũng của các bộ, ngành và địa phương.

Đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị và đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác tổng hợp thông tin, báo cáo và quản lý, khai thác, sử dụng cơ sở dữ liệu về PCTN, đặc biệt là trong quản lý dữ liệu bản kê khai tài sản, thu nhập; qua đó giúp từng bước sử dụng các dữ liệu sẵn có nhằm phục vụ cho công tác quản lý Nhà nước về PCTN, tiến tới theo dõi được biến động tài sản, thu nhập của người có nghĩa vụ kê khai thuộc thẩm quyền quản lý của Thanh tra Chính phủ phục vụ cho công tác PCTN.

Tăng cường hợp tác quốc tế song phương và đa phương để tiếp thu, học tập những kinh nghiệm về công tác PCTN theo hướng tiếp tục duy trì quan hệ với các nước, hiệp định mà Việt Nam đã ký kết, tham gia đồng thời nghiên cứu mở rộng quan hệ với các nước triển khai tốt công tác PCTN, gắn với thực hiện có hiệu quả Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng./.

Ths. Nguyễn Tuấn Anh

Phó Vụ trưởng Vụ Pháp chế

9 Nhiệm Vụ Khắc Phục Hạn Chế, Tồn Tại Trong Quản Lý Đất Đai

“Nhiều lĩnh vực được giao quản lý đất đai và sử dụng đất lâu nay được coi là vùng cấm, đó là đất quốc phòng, an ninh thiếu sự giám sát, buông lỏng quản lý, quản lý yếu kém đã xảy ra sai phạm lớn không chỉ gây thất thoát lãng phí về tài nguyên đất mà còn tác động xấu tới uy tín, lĩnh vực của ngành”, đại biểu thẳng thắn nêu vấn đề.

Trong khi đó, đại biểu Nguyễn Thanh Hiền – Phó Trưởng đoàn ĐBQH tỉnh Nghệ An cho rằng cần làm rõ nguyên nhân, trách nhiệm tham mưu, quản lý Nhà nước và làm rõ năng lực, phẩm chất của một bộ phận cán bộ được giao trực tiếp trong lĩnh vực này để làm rõ đâu là năng lực yếu, đâu là có sự lợi dụng chức vụ, quyền hạn để trục lợi, đâu là sự buông lỏng trong công tác quản lý.

Dẫn ra thực trạng “giật mình” tại sân bay Bạch Mai tại Hà Nội, như một thí dụ điển hình việc quản lý lỏng lẻo đất quốc phòng, đại biểu Lưu Bình Nhưỡng (Bến Tre) cho biết “Nói thật với Quốc hội là rất nhiều các công trình dân sinh, dân sự trong đó, sân golf cũng có, sân bóng đá cũng có, vũ trường, sàn nhảy cũng có”, ông Nhưỡng nói và nêu quan điểm: “Báo cáo giám sát của Quốc hội ghi rất rõ là nghiêm cấm sử dụng đất quốc phòng để làm kinh tế, đặc biệt là kinh tế thuần túy…Do đó, cần phải xem xét, đánh giá lại, định nghĩa lại cho các cơ quan, đơn vị quốc phòng họ có sơ sở để thực hiện đúng các quy định của pháp luật để tránh tình trạng vi phạm”…

Bên cạnh đó, cũng có một số ý kiến về vấn đề quản lý đất tại các đô thị lớn vẫn chưa thực sự đạt hiệu quả.

Để khắc phục những tồn tại, hạn chế trong thực hiện chính sách pháp luật về quy hoạch, quản lý, sử dụng đất đai tại đô thị, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng đã nêu 9 nhóm nhiệm vụ mà Chính phủ, các bộ, ngành và địa phương phải tập trung thực hiện trong thời gian tới.

Thứ hai, nâng cao chất lượng quy hoạch, thường xuyên rà soát, cập nhật, bổ sung, điều chỉnh kịp thời quy hoạch theo đúng quy định của pháp luật, bảo đảm tính kế hoạch và phát triển phù hợp với đòi hỏi thực tiễn của từng thời kỳ, bảo đảm đúng quy chuẩn và tiêu chuẩn theo quy định. “Phải thực hiện công khai các thông tin về quy hoạch để người dân biết, tham gia giám sát”, Phó Thủ tướng yêu cầu.

Đồng thời, phải lựa chọn các dự án ưu tiên để đầu tư xây dựng, khắc phục tình trạng đầu tư tự phát, phong trào, không có kế hoạch. Kiểm soát bảo đảm thị trường bất động sản phát triển lành mạnh.

Thứ tư, thực hiện tốt công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư, bảo đảm hài hoà lợi ích của Nhà nước, nhà đầu tư và đặc biệt là lợi ích của người dân.

Thứ năm, tăng cường kiểm soát chặt chẽ việc lựa chọn nhà đầu tư phát triển các dự án đô thị, khu công nghiệp, dịch vụ theo đúng quy định của pháp luật. Song song với đó, xây dựng cơ chế kiểm soát việc xác định giá đất bảo đảm công khai, minh bạch, theo cơ chế thị trường, tránh thiệt hại cho Nhà nước. Có kế hoạch về vốn ngân sách Nhà nước để bồi thường, giải phóng mặt bằng, tạo quỹ đất sạch để đấu giá đất.

Thứ sáu, có các giải pháp hữu hiệu để đẩy nhanh tiến độ thực hiện các nhiệm vụ được cử tri quan tâm như đẩy mạnh phát triển nhà ở xã hội, đặc biệt là nhà ở cho công nhân các khu công nghiệp, khu kinh tế; cải tạo chung cư cũ xuống cấp nguy hiểm tại các đô thị; chuyển các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môi trường, cơ sở đông người ra khỏi khu dân cư tập trung ở nội đô.

Thay vào đó bằng cơ cấu sử dụng đất hợp lý để tăng không gian công cộng cho người dân; rà soát quy hoạch, bảo đảm các không gian công cộng cho người dân; rà soát các công trình sử dụng nhiều đất đai để khắc phục tình trạng lãng phí đất đai; quy hoạch sử dụng không gian ngầm; nghĩa trang…; quản lý chặt chẽ việc người nước ngoài sử hữu nhà ở tại Việt Nam theo đúng quy định của pháp luật.

Thứ bảy, tăng cường công tác quản lý, kiểm soát sử dụng đất đai và phát triển đô thị. Trong đó, tập trung vào công tác thanh tra, kiểm tra, các dự án đầu tư phát triển đô thị. Xử lý nghiêm các vi phạm theo đúng quy định của pháp luật.

Thứ tám, tổ chức bộ máy quản lý đất đai, quản lý phát triển đô thị tinh gọn, hiệu quả. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức, viên chức trong lĩnh vực quản lý đất đai, phát triển đô thị.

Cuối cùng, Phó Thủ tướng đặc biệt nhấn mạnh vai trò giám sát của các cơ quan dân cử, trong đó có vai trò của Hội đồng nhân dân các cấp tại các địa phương, đặc biệt là vai trò của các vị ĐBQH và Quốc hội.

Quân Vương

Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Thanh Tra Chính Phủ

CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ CỦA THANH TRA CHÍNH PHỦ

Thanh tra Chính phủ là cơ quan ngang Bộ của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng trong phạm vi cả nước; thực hiện hoạt động thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng theo quy định của pháp luật.

Thanh tra Chính phủ thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Nghị định số 36/2012/NĐ-CP ngày 18 tháng 4 năm 2012 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ, cơ quan ngang Bộ và những nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể sau đây:

1. Trình Chính phủ dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; dự thảo nghị quyết, nghị định của Chính phủ về thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng theo chương trình, kế hoạch xây dựng pháp luật hàng năm của Thanh tra Chính phủ đã được phê duyệt và các dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật khác theo sự phân công của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

2. Trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Định hướng chương trình thanh tra hàng năm, các dự thảo quyết định, chỉ thị, các văn bản khác thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ và tổ chức triển khai thực hiện.

3. Ban hành thông tư, quyết định, chỉ thị và các văn bản khác về thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng.

4. Chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, định hướng chương trình đã được phê duyệt về thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng; thông tin, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng.

5. Về thanh tra:

a) Lập kế hoạch thanh tra của Thanh tra Chính phủ; hướng dẫn Thanh tra Bộ, cơ quan ngang Bộ (sau đây gọi tắt là Thanh tra Bộ), Thanh tra tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi tắt là Thanh tra tỉnh) xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch thanh tra;

c) Thanh tra vụ việc khác do Thủ tướng Chính phủ giao;

d) Kiểm tra tính chính xác, hợp pháp của các kết luận thanh tra và quyết định xử lý sau thanh tra của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và của Chánh Thanh tra Bộ, cơ quan ngang Bộ, Chánh Thanh tra cấp tỉnh khi cần thiết;

đ) Quyết định thanh tra lại vụ việc đã được Bộ trưởng kết luận nhưng phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật khi được Thủ tướng Chính phủ giao; quyết định thanh tra lại vụ việc đã được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Chánh Thanh tra Bộ, Chánh Thanh tra tỉnh kết luận nhưng phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật;

e) Đề nghị Bộ trưởng, yêu cầu Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tiến hành thanh tra trong phạm vi quản lý của Bộ, của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật; trường hợp Bộ trưởng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh không đồng ý thì có quyền ra quyết định thanh tra, báo cáo và chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ về quyết định của mình;

g) Chủ trì xử lý việc chồng chéo về phạm vi, đối tượng, nội dung, thời gian thanh tra giữa cơ quan Thanh tra các Bộ; giữa Thanh tra bộ với Thanh tra tỉnh ;

h) Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện các kết luận, kiến nghị, quyết định xử lý về thanh tra của Thanh tra Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ ;

i) Xem xét xử lý vấn đề mà Chánh Thanh tra bộ không nhất trí với Bộ trưởng, Chánh Thanh tra tỉnh không nhất trí với Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về công tác thanh tra. Trường hợp Bộ trưởng không đồng ý với kết quả xử lý của Tổng Thanh tra Chính phủ thì Tổng Thanh tra Chính phủ báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định;

k) Kiến nghị Bộ trưởng đình chỉ việc thi hành hoặc hủy bỏ quy định do bộ mình ban hành trái với quy định của cơ quan nhà nước cấp trên, của Tổng Thanh tra Chính phủ về công tác thanh tra; trường hợp Bộ trưởng không đình chỉ hoặc không hủy bỏ văn bản đó thì trình Thủ tướng Chính phủ quyết định;

l) Đình chỉ việc thi hành và đề nghị Thủ tướng Chính phủ bãi bỏ quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trái với quy định của cơ quan nhà nước cấp trên, của Tổng Thanh tra Chính phủ về công tác thanh tra;

Kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, ban hành quy định cho phù hợp với yêu cầu quản lý; kiến nghị đình chỉ hoặc huỷ bỏ quy định trái pháp luật phát hiện qua công tác thanh tra;

n) Kiến nghị Thủ tướng Chính phủ xem xét trách nhiệm, xử lý người thuộc quyền quản lý của Thủ tướng Chính phủ có hành vi vi phạm pháp luật phát hiện qua thanh tra hoặc không thực hiện kết luận, quyết định xử lý về thanh tra; yêu cầu người đứng đầu cơ quan, tổ chức xem xét trách nhiệm, xử lý người thuộc quyền quản lý của cơ quan, tổ chức có hành vi vi phạm pháp luật phát hiện qua thanh tra hoặc không thực hiện kết luận, quyết định xử lý về thanh tra.

6. Về tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo:

a) Tổ chức việc tiếp công dân; tiếp nhận, xử lý đơn khiếu nại, tố cáo; giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật;

c) Xác minh nội dung tố cáo, kết luận nội dung xác minh, kiến nghị biện pháp xử lý tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của Thủ tướng Chính phủ khi được giao;

d) Xem xét, kết luận việc giải quyết tố cáo mà Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đã giải quyết nhưng có dấu hiệu vi phạm pháp luật; trường hợp kết luận việc giải quyết tố cáo có vi phạm pháp luật thì kiến nghị Thủ tướng Chính phủ xem xét, giải quyết lại;

đ) Giúp Thủ tướng Chính phủ theo dõi, kiểm tra, đôn đốc các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp trong việc tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, thi hành quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật.

7. Về phòng, chống tham nhũng:

a) Tổ chức, chỉ đạo, hướng dẫn công tác thanh tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng và phòng, chống tham nhũng trong công tác thanh tra;

b) Thanh tra việc thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng tại các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo thẩm quyền hoặc chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ; chủ động phối hợp với các cơ quan, tổ chức trong việc phát hiện hành vi tham nhũng; thanh tra vụ việc có dấu hiệu tham nhũng; đôn đốc việc xử lý người có hành vi tham nhũng theo quy định của pháp luật và theo phân cấp quản lý cán bộ của Đảng và Chính phủ;

c) Chủ trì, phối hợp với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền xây dựng hệ thống dữ liệu chung về phòng, chống tham nhũng;

d) Phối hợp với Kiểm toán Nhà nước, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao và Văn phòng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng trong việc cung cấp, trao đổi thông tin, tài liệu, kinh nghiệm về công tác phòng, chống tham nhũng; tổng hợp, đánh giá, dự báo tình hình tham nhũng và kiến nghị chính sách, giải pháp phòng, chống tham nhũng .

9. Yêu cầu Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh báo cáo tình hình, kết quả công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng.

10. Tổng hợp, báo cáo kết quả về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Chính phủ; tổng kết kinh nghiệm về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng.

11. Thực hiện hợp tác quốc tế về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng.

12 . Tổ chức, chỉ đạo thực hiện chương trình, kế hoạch nghiên cứu khoa học, ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ trong lĩnh vực thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng.

13. Quyết định và tổ chức thực hiện kế hoạch cải cách hành chính của Thanh tra Chính phủ theo chương trình, kế hoạch cải cách hành chính nhà nước của Chính phủ và chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.

14. Chủ trì, phối hợp với Bộ Nội vụ ban hành văn bản hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy, biên chế của các cơ quan thanh tra nhà nước.

15. Chỉ đạo về công tác, hướng dẫn về nghiệp vụ thanh tra; bồi dưỡng nghiệp vụ thanh tra đối với đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác thanh tra; thực hiện việc quản lý, bổ nhiệm các ngạch công chức thanh tra theo quy định của pháp luật ; cấp thẻ thanh tra viên cho công chức, sỹ quan được bổ nhiệm vào các ngạch thanh tra viên trong toàn ngành Thanh tra ; ban hành tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ của Chánh Thanh tra, Phó Chánh Thanh tra Bộ và Chánh Thanh tra, Phó Chánh Thanh tra tỉnh.

Thống nhất với Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Chánh Thanh tra Bộ, cơ quan ngang Bộ và Chánh Thanh tra cấp tỉnh.

16. Quản lý về tổ chức bộ máy, biên chế; cán bộ, công chức, viên chức; thực hiện chế độ tiền lương và các chế độ, chính sách đãi ngộ, khen thưởng, kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức thuộc phạm vi quản lý của Thanh tra Chính phủ theo quy định của pháp luật.

17. Quản lý và chỉ đạo hoạt động đối với các tổ chức sự nghiệp trực thuộc theo quy định của pháp luật.

18. Quản lý tài chính, tài sản được giao và tổ chức thực hiện ngân sách được phân bổ theo quy định của pháp luật.

19. Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao hoặc theo quy định của pháp luật.

Nhiệm Vụ Và Quyền Hạn Của Thủ Tướng Chính Phủ?

Nhiệm vụ và quyền hạn của Thủ tướng Chính phủ?

Thủ tướng Chính phủ do Quốc hội bầu trong số đại biểu Quốc hội.

Thủ tướng Chính phủ có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

1. Lãnh đạo công tác của Chính phủ; lãnh đạo việc xây dựng chính sách và tổ chức thi hành pháp luật;

2. Lãnh đạo và chịu trách nhiệm về hoạt động của hệ thống hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương, bảo đảm tính thống nhất và thông suốt của nền hành chính quốc gia;

3. Trình Quốc hội phê chuẩn đề nghị bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Thứ trưởng, chức vụ tương đương thuộc bộ, cơ quan ngang bộ; phê chuẩn việc bầu, miễn nhiệm và quyết định điều động, cách chức Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;

4. Đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ văn bản của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Ủy ban Nhân dân, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trái với Hiến pháp, luật và văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên; đình chỉ việc thi hành nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trái với Hiến pháp, luật và văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, đồng thời đề nghị Ủy ban thường vụ Quốc hội bãi bỏ;

5. Quyết định và chỉ đạo việc đàm phán, chỉ đạo việc ký, gia nhập điều ước quốc tế thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ; tổ chức thực hiện điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;

6. Thực hiện chế độ báo cáo trước Nhân dân thông qua các phương tiện thông tin đại chúng về những vấn đề quan trọng thuộc thẩm quyền giải quyết của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ.

Theo Tài liệu Hỏi – Đáp về Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Cập nhật thông tin chi tiết về Một Số Giải Pháp Khắc Phục Tồn Tại, Hạn Chế Trong Thực Hiện Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Thanh Tra Chính Phủ Về Pctn trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!