Xu Hướng 2/2024 # Một Số Biện Pháp Tạo Hứng Thú Học Môn Âm Nhạc Cho Học Sinh Lớp 5 # Top 3 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Một Số Biện Pháp Tạo Hứng Thú Học Môn Âm Nhạc Cho Học Sinh Lớp 5 được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trang mà đề tài đã đặt ra. Bồi dưỡng hứng thú học tập là một việc làm thiết thực và có tác động mạnh mẽ đến quá trình học tập của học sinh bởi vì “Không thể làm tốt việc nếu mà ta không có hứng thú với việc đó”. Đối với học sinh Tiểu học cũng vậy, các em không thể học tốt nếu không có hứng thú với việc tiếp thu bài trên lớp cũng như chuẩn bị bài ở nhà. Ngay từ những buổi học đầu tiên, hãy gieo vào tâm hồn các em những niềm say mê đối với việc kiếm tìm những cái hay, cái đẹp trong cuộc sống. Đó là chìa khoá quan trọng giúp các em mở cánh cửa đam mê với tri thức – nguồn tài nguyên vô giá của nhân loại. 3. Giải pháp, biện pháp: Mục tiêu của giải pháp, biện pháp Những giải pháp, biện pháp được nêu trong đề tài nhằm tổng kết các phương pháp, kĩ năng thu được từ thực tiễn giảng dạy. Mặt khác nhằm trao đổi với các giáo viên dạy Âm nhạc về việc vận dụng các phương pháp vào trong giảng dạy giúp học sinh nhận ra được những giá trị to lớn của Âm nhạc, từ đó làm cho học sinh ham mê hứng thú học tập, làm cho quá trình học tập của các em trở nên tự giác, tạo nên niềm vui trong sáng và bổ ích, bồi dưỡng cho các em tinh thần học tập, mạnh dạn trước tập thể, tạo được hưng phấn các em có thể học tốt các môn học khác. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp  1. Gây hứng thú cho học sinh ngay từ phần mở đầu bài học. Ngay từ bước chân của giáo viên vào lớp, với thái độ vui vẻ thân mật đối với học sinh đã tạo nên không khí hào hứng chung của cả lớp để chuẩn bị bước vào bài học mới, sự hứng thú học tập chỉ thực sự bắt đầu với phần giới thiệu gây hấp dẫn đối với học sinh. Muốn cho học sinh yêu thích, hứng thú với môn Âm nhạc thì ngay từ đầu tiết học, tôi tạo cho học sinh sự hứng thú, niềm vui. Tôi thường tạo tình huống để thu hút học sinh khi bước vào tiết học bằng một nụ cười, một câu nói nhẹ nhàng, hay một lời khen. (Ví dụ như: các em hôm nay trông thật xinh, thật vui hoặc là hôm nay lớp mình trực nhật sạch sẽ đấy…). Hoặc sau khi ổn định lớp, tôi thường cho học sinh chơi những trò chơi nhỏ như: “Gà thức – gà ngủ” để luyện thanh. Ví dụ 1: Tôi hướng dẫn cả lớp đứng dậy cùng thực hiện. Lớp trưởng hô: Trời tối Cả lớp ấp hai tay vào má và đồng thanh nói: “Gà đi ngủ” Lớp trưởng hô: Trời sáng Cả lớp đặt hai tay lên miệng và giả tiếng gà gáy: Ò…ó…o..o…o… Thực hiện 2 – 3 lần. Như vậy là HS vừa thực hiện hoạt động luyện thanh khởi động giọng nhưng rất vui, nhẹ nhàng và tạo được sự sảng khoái để bước vào tiết học. Ví dụ 2: . Để bước vào tiết học “Học hát bài Dàn đồng ca mùa hạ” (tiết 30) tôi bước vào lớp trên tay cầm một chú ve nhỏ và hỏi: Các em biết cô đang cầm trên tay con vật gì không nào? (Có thể có rất nhiều câu trả lời đúng thậm chí sai nhưng sẽ tạo được không khí vui tươi, rộn ràng, gây được sự tò mò, suy nghĩ và sự tập trung ở học sinh), hấp dẫn hơn khi tôi giới thiệu thêm: Đây chính là một chú ve, những bạn nào biết âm thanh của chú ve này kêu như thế nào? chú là biểu của mùa nào trong năm?…..rất nhiều cánh tay giơ lên muốn được trả lời. Sau đó giáo viên giới thiệu về bài học hôm nay chúng ta sẽ học bài hát ca ngợi về giọng hát của những chú ve – dàn nhạc đặc biệt của mùa hè. Đó là bài hát Dàn đồng ca mùa hạ – Sáng tác nhạc Nguyễn Minh Châu, dựa trên lời của nhà thơ Nguyễn Minh Nguyên. Như thế các em sẽ trở nên vui và hào hứng để chuẩn bị bước vào bài học mới.   2. Phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh Để kích thích tính tự giác tích cực, độc lập và tạo hứng thú cho học sinh thì GV cần phải biết lựa chọn những phương pháp và hình thức tổ chức dạy học phù hợp với môn học và đối tượng học sinh trong lớp. Đối với lớp 5 trường tôi đang công tác, thì đối tượng học sinh tương đối đồng đều về chất lượng. Có nhiều em có năng khiếu hát, múa và Tập đọc nhạc rất tốt. Vì vậy tôi thường chọn hình thức tổ chức dạy học theo nhóm – tác dụng của việc dạy học theo nhóm là đề cao vai trò hợp tác, trách nhiệm giữa cá nhân và tập thể, đồng thời rèn luyện cho học sinh những kĩ năng: biết lựa chọn, tiếp nhận ý kiến của người khác để bổ sung vào sự hiểu biết của mình, ngoài ra, học sinh biết trình bày ý kiến của mình cho bạn nghe và ngược lại. Tôi thường xuyên cho HS hoạt động theo nhóm trong các tiết dạy, nhất là các tiết ôn tập bài hát và Tập đọc nhạc. Ví dụ: Tiết 20: Ôn tập bài hát Hát mừng. Ở HĐ 2: Tập biểu diễn Học sinh xung phong biểu diễn những động tác tự chuẩn bị . Xung phong biểu diễn theo nhóm 3. Tổ chức nhiều hình thức học tập Ngoài việc khai thác sự hứng thú trong nội dung dạy học, chúng tôi Lê Phương Nga cho rằng: “Hứng thú của học sinh còn được hình thành và phát triển nhờ các phương pháp, thủ pháp, hình thức tổ chức dạy học phù hợp với sở thích của các em”. Vì vậy, tôi thường áp dụng những hình thức dạy học sau, tôi thấy học sinh rất say mê hứng thú khi học Âm nhạc: Tổ chức trò chơi học tập Trò chơi âm nhạc là một hoạt động thực hiện yêu cầu đổi mới phương pháp dạy âm nhạc theo chương trình bậc Tiểu học. Trò chơi âm nhạc nhằm giúp giáo viên thay đổi các hình thức hoạt động trong tiết dạy và giúp HS thư giãn, hứng thú theo tinh thần chơi mà học âm nhạc. Trong thực tế dạy học, giờ học nào tổ chức trò chơi cũng đều gây được không khí học tập hào hứng, thoải mái, vui nhộn. Nghiên cứu cho thấy, trò chơi học tập có khả năng kích thích hứng thú và trí tưởng tượng, kích thích sự phát triển trí tuệ của các em. Tùy vào từng nội dung bài học. Tôi thường cho HS chơi những trò chơi sau: * Tiết học bài mới, hoạt động hát kết hợp gõ đệm theo nhịp 3, tôi hướng dẫn từng cặp 2 HS quay mặt vào nhau, miệng đếm 1-2-3 nhịp nhàng kết hợp với gõ đệm theo phách của nhịp ¾ như sau: – Phách 1 (mạnh): Từng HS tự vỗ 2 tay mình 1 tiếng. – Phách 2 (nhẹ): Vỗ tay phải HS này vào tay trái HS kia. – Phách 3 (nhẹ): Vỗ tay trái HS này vào tay phải HS kia. Hoặc HD hát đối đáp là cách hát chia ra “phần xướng” (hát 1 người) và “phần xô” (hát tập thể); Hoặc cách hát chia một nhóm hát “phần hỏi” và một nhóm hát “phần đáp”. Hoặc hướng dẫn HS hát nối tiếp: chia lớp thành 2 nhóm hát nối tiếp nhau từng câu hát: Ví dụ: + Nhóm A hát câu 1: Cùng nhau cầm tay đi đến thăm các thầy các cô + Nhóm B hát câu 2: Lời hát rộn rã bao bé em bước trên đường phố + Nhóm A hát câu 3: Ngàn hoa nở tươi khoe sắc hương dưới ánh… + Nhóm B hát câu 4: Náo nức tiếng cười, say sưa yêu đời……. Với các hoạt động trên, HS rất hào hứng, bởi các em được làm việc theo nhóm, có sự hợp tác của các bạn, những em HS không có năng khiếu cũng cảm thấy tự tin nắm được kiến thức, những em có năng khiếu thì khẳng định được mình. Ví dụ: Tiết 23:Ôn tập bài hát: Tre ngà bên Lăng Bác HS xem tranh và nêu: Bài Tre ngà bên Lăng Bác (Nhạc và lời: Hàn Ngọc Bích) Ví dụ: Tiết 25 có nội dung Tập đọc nhạc số 7: Em tập lái ô tô Sau khi học xong nội dung Tập đọc nhạc, tôi cho các em chơi trò chơi “Đèn xanh – đèn đỏ”. Tôi cho các em đứng dậy và HD trò chơi: Khi GV hô: Đèn xanh – thì hai tay quay nhanh, GV hô “Đèn vàng” – hai tay quay chậm lại, Gv hô “Đèn đỏ” – hay tay dừng lại. Sau đó GV thử tài HS bằng cách miệng hô “Đèn đỏ” nhưng tay GV vẫn quay nhanh, nếu em nào làm sai thì yêu cầu hát hoặc biểu diễn theo nhóm (hay cá nhân) một bài hát tự chọn đã học. Sau đó yêu cầu HS nhắc lại cách đi như thế nào là đúng Luật giao thông… Hoặc sau khi học sinh hát đúng giai điệu của bài hát, tôi hướng dẫn HS chơi trò chơi: “Hát thay lời ca bằng chữ cái”. Tôi làm kí hiệu tay theo các chữ cái A, U, I. Khi GV đưa tay theo kí hiệu, HS hát giai điệu với các chữ cái theo kí hiệu GV hướng dẫn trước lớp Ví dụ: Bài hát: Con chim hay hót. Câu 1, GV đưa tay kí hiệu chữ A, HS hát “A” theo giai điệu của câu 1. “À à, à à a à á a” Câu 2, Gv đưa tay kí hiệu chữ U, HS hát “U”theo giai điệu của câu 2.“U ú u uù ụ ù u u ù u”. GV tiếp tục thay đổi các kí hiệu khác cho đến hết bài hát. Trò chơi này giúp các em thay đổi không khí học tập, đồng thời để kiểm tra việc ghi nhớ giai điệu của HS Trò chơi “Ai nhanh tai hơn” cũng giúp HS mau thuộc lời ca, phát triển tai nghe một cách nhanh nhất. Ví dụ: Sau khi học xong bài hát, tôi sử dụng nhạc cụ, đàn giai điệu một câu nhạc bất kì, yêu cầu HS nghe và hát lại câu có giai điệu vừa nghe. Việc kết hợp tổ chức một trò chơi trong giờ học hát, vừa giúp học sinh nắm kiến thức chắc hơn, sâu hơn, nhanh hơn, vừa tạo ra không khí sôi nổi, hứng thú cho HS học môn Âm nhạc cũng như học các môn học khác. Tổ chức hoạt động học theo nhóm   Học theo nhóm là hình thức học tập có sự hợp tác của nhiều thành viên trong lớp nhằm giải quyết những nhiệm vụ học tập một cách có hiệu quả mà vẫn tạo được không khí thi đua hào hứng sôi nổi trong học tập. Học theo nhóm sẽ phát huy tính tích cực, sáng tạo, năng lực, sở trường, tinh thần và kĩ năng hợp tác của mỗi thành viên trong nhóm để học sinh có cơ hội trao đổi bàn bạc. Có nhiều hình thức tổ chức học tập như: cá nhân, tổ, nhóm, dãy… Tuy nhiên tùy theo từng mục tiêu HS cần đạt được mà tôi lựa chọn, phối hợp một cách hợp lý các hình thức học tập. Tôi thường cho học sinh làm việc nhóm khi câu hỏi đặt ra khá rộng và khó, cần sự góp ý của nhiều người thì làm việc nhóm mới thật cần thiết và đạt hiệu quả Tạo kịch tính trong giờ học Các tiết học cứ diễn ra bình thường theo những bước đã định sẵn sẽ tạo cho HS sự nhàm chán, không có hứng thú, HS sẽ biết bược tiếp theo sẽ làm gì.Thay vì giảng dạy theo trình tự bình thường, đối với một số tiết học có nội dung kể chuyện Âm nhạc, tôi thường tổ chức cho HS đóng vai thành một vở kịch với những hình ảnh, tình huống sống động, khiến HS quên cả giờ ra chơi. Đóng vai là phương pháp tổ chức cho học sinh biết cách ứng xử các tình huống trong cuộc sống. Qua quá trình giảng dạy, tôi được biết: Phương pháp dạy HS đóng vai có rất nhiều ưu điểm và một trong những ưu điểm sau mang lại nhiều kiến thức cho HS : – Học sinh được rèn luyện thực hành những kỹ năng ứng xử và bày tỏ thái độ trong môi trường an toàn trước khi thực hành trong thực tiễn. – Gây hứng thú và chú ý cho học sinh – Tạo điều kiện để HS được sáng tạo. – Khích lệ sự thay đổi thái độ, hành vi của học sinh theo chuẩn mực hành vi đạo đức – Thấy được hiệu quả của lời nói hoặc việc làm của các vai diễn. Đối với phương pháp này, tôi thực hiện như sau : + Chia nhóm, giao tình huống đóng vai cho từng nhóm và quy định rõ thời gian chuẩn bị. + Các nhóm lên trình bày. Sau khi HS trình bày, tôi phỏng vấn học sinh đóng vai: – Vì sao em lại ứng xử như vậy ? – Cảm xúc, thái độ của em khi thực hiện cách ứng xử ? Khi nhận được cách ứng xử ( đúng hoặc sai ) Cuối cùng tôi kết luận về cách ứng xử cần thiết trong tình huống. Với phương pháp dạy này cần lưu ý: + Tùy vào từng nội dung của tiết dạy (Dạy Kể chuyện Âm nhạc với câu chuyện có nhiều lời thoại như tiết 28: Kể chuyện âm nhạc: Khúc nhạc dưới trăng với những lời thoại của người cha, người con và nhạc sĩ Bét – tô – ven + Tình huống nên để mở, không cho trước “ kịch bản”, lời thoại + Phải dành thời gian phù hợp cho các nhóm chuẩn bị đóng vai + Phải hướng dẫn HS hiểu rõ nhân vật của mình trong khi đóng vai để không bị lạc đề. + Khích lệ cả những học sinh nhút nhát tham gia + Chuẩn bị một vài đạo cụ đơn giản để tăng tính hấp dẫn khi HS đóng vai Thay đổi không gian học tập Thay đổi không gian học tập cũng tạo được sự hứng thú cho HS và cũng góp phần đến thành công của tiết dạy. Đối với lứa tuổi hiếu động như HS lớp 5. Thay đổi không gian học tập cũng là một hứng thú đối với các em. Chính vì vậy, đối với một số tiết học tôi tổ chức cho HS học tập ở một vài không gian khác nhau như: Dạy học ngoài trời tạo điều kiện để HS quan sát thiên nhiên, có không gian biểu diễn, chơi các trò chơi nhằm gây hứng thú, sự tích cực học tập cho các em. Tổ chức tiết học ngoài trời sẽ giúp HS tri giác trực tiếp đối tượng và ghi nhớ tốt, không phải tri giác gián tiếp qua các phương tiện dạy học. Các em có điều kiện gần gũi, hiểu biết về thiên nhiên, từ đó có ý thức bảo vệ thiên nhiên và môi trường sống xung quanh. Hoạt động ngoài lớp còn là cơ hội để các em bộc lộ cá tính, năng khiếu, sở trường, đồng thời có tác dụng hình thành thói quen hợp tác, tương trợ, học hỏi lẫn nhau. Ngoài ra, trong môn Âm nhạc, nhiều bài hát gắn liền với địa phương, nơi HS đang sinh sống nên việc dạy học ngoài không gian lớp học lại càng quan trọng. Ví dụ: Tiết 23 Ôn tập 2 bài hát: Hát mừng, Tre ngà bên lăng Bác Tôi thay đổi không gian lớp học bằng cách cho HS ra sân xếp thành vòng tròn vừa hát vừa biểu diễn, sau khi biểu diễn 2 bài hát, tôi thường lồng ghép một số câu hỏi hoặc trò chơi để liên hệ giáo dục tình cảm thái độ của HS về kiến thức địa phương, hay ý thức bảo vệ môi trường, giữ gìn vệ sinh trường lớp ….. Hoặc với những tiết Tập biểu diễn bài hát. Khi bắt đầu tiết học, tôi cho HS sắp xếp bàn ghế theo hình chữ U, cách sắp xếp bàn ghế này tạo cho lớp học có không gian biểu diễn đồng thời tất cả HS được quan sát các bạn biểu diễn cũng như thúc đẩy quá trình học tập sáng tạo, ý thức tự giác, niềm đam mê học tập, háo hức được cùng các bạn tham gia biểu diễn. 4. Phát huy hiệu quả của ĐDDH Muốn gây hứng thú cho HS, theo tôi việc sử dụng ĐDDH là rất quan trọng, Tuy nhiên đồ dùng cần phải đáp ứng được tính thẩm mĩ không tùy tiện cẩu thả, phong phú đa dạng và phải phù hợp với nội dung bài học. Mỗi tiết dạy có sự đặc trưng riêng về cách tổ chức lớp và có những sáng tạo riêng của từng giáo viên. Đặc biệt đối với môn Âm nhạc lớp 5, việc sử dụng đồ dùng dạy học trong tiết dạy là hết sức cần thiết vì giáo viên không thể thao thao bất tuyệt với lý lẻ suôn hay chỉ hát “chay” từ ngày này qua ngày khác sẽ khiến học sinh nhàm chán và thiếu phấn khởi trong học tập. Vì đây là môn năng khiếu cần có sự bồi đắp và vun dưỡng từ giáo viên để tạo cơ hội cho những học sinh có năng khiếu bộc lộ mình, các em học HS không có năng khiếu cũng sẽ hiểu bài một cách chủ động hơn. Trong tất cả các tiết dạy, tôi chuẩn bị đầy đủ các đồ dụng dạy – học sẵn có để hỗ trợ việc dạy và học Âm nhạc như: Thanh phách, song loan, đàn Organ, băng đĩa, tranh phóng to các bài TĐN của lớp 5. Hoặc những nhạc cụ do các em tự chế như: chai nước nhựa, thanh tre nhỏ, những chiếc đũa… tất cả các đồ dùng dạy – học trên sẽ mang lại một tiết học sôi nổi đầy hào hứng. Tuy nhiên, nếu GV không biết phối hợp hoặc sử dụng những ĐDDH không thành thạo thì cũng không mang lại hiệu quả cao cho tiết dạy. Việc sử dụng thành thạo đàn Organ cũng là một yếu tố quan trọng. Cách bỏ hợp âm, dạo nhạc cũng sẽ thu hút HS hào hứng học hát và hát đúng giai điệu, vì vậy tôi thường xuyên học tập, sáng tạo, đổi mới cách đệm phù hợp với sắc thái của từng bài hát, sao cho tất cả các đối tượng HS đều biết hát đúng giai điệu hoặc ít nhất là hát theo giai điệu của bài hát. Sử dụng đàn Piano và Organ trong các tiết dạy Âm nhạc Cùng với đ

Skkn Một Số Biện Pháp Tạo Hứng Thú Học Môn Âm Nhạc Cho Học Sinh Lớp 5

Một số biện pháp tạo hứng thú học môn Âm nhạc cho học sinh Lớp 5

MỤC LỤC

Tên mục

Trang

I. Phần mở đầu………………………………………………………………………………………..1 I.1. Lý do chọn đề tài…………………………………………………………………………………1 I.2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài……………………………………………………………….2 I.3. Đối tượng nghiên cứu…………………………………………………………………………..2 I.4. Phạm vi nghiên cứu……………………………………………………………………………..2 I.5. Phương pháp nghiên cứu………………………………………………………………………2 II. Phần nội dung…………………………………………………………………………………….2 II.1. Cơ sở lý luận……………………………………………………………………………………..2 II.2. Thực trạng…………………………………………………………………………………………3 II.3. Giải pháp, biện pháp…………………………………………………………………………..5 II.4. Kết quả……………………………………………………………………………………………16 III. Phần kết luận, kiến nghị…………………………………………………………………..16 III.1. Kết luận…………………………………………………………………………………………16 III.2. Kiến nghị……………………………………………………………………………………….17 Tài liệu tham khảo ………………………………………………………………………………….19 Trường Tiểu học Krông Ana

1

Đỗ Thị Thu Hà

Một số biện pháp tạo hứng thú học môn Âm nhạc cho học sinh Lớp 5

Trường Tiểu học Krông Ana

2

Đỗ Thị Thu Hà

Một số biện pháp tạo hứng thú học môn Âm nhạc cho học sinh Lớp 5

I. PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong những năm qua, từ khi nước ta bước sang thế kỷ XXI, sự nghiệp giáo dục được quan tâm hơn bao giờ hết, môn Âm nhạc cũng được chú trọng hơn vì những lợi ích trong việc phát triển hài hoà, toàn diện về nhân cách của học sinh. Qua môn học này học sinh có thể thấy được: Âm nhạc là một liều thuốc tinh thần, là hưng phấn trong học tập và thông qua môn học, học sinh cảm nhận được phần nào sự hấp dẫn của thế giới Âm nhạc. Ngoài ra, môn Âm nhạc sẽ cùng các môn học khác phát triển năng lực tư duy, trí tuệ sáng tạo và cung cấp cho các em một trình độ văn hoá Âm nhạc, góp phần đào tạo những người lao động phát triển, toàn diện về Đức – Trí – Thể – Mỹ (theo nghị quyết TW II của Đảng về mục tiêu giáo dục) Mặc dù môn Âm nhạc không đào tạo các em trở thành những ca sĩ, nghệ sĩ chuyên nghiệp mà chủ yếu giáo dục văn hóa Âm nhạc, làm cho các em yêu thích nghệ thuật, biết cảm thụ và nhận biết âm nhạc một cách sâu sắc. Hình thành ở học sinh một tâm hồn trong sáng, một thị hiếu âm nhạc lành mạnh, tư duy sắc sảo, tính sáng tạo, giàu tình cảm và hoạt bát hơn, phát triển tối đa những phẩm chất tốt đẹp của lứa tuổi học trò. Mặt khác, thông qua môn học nhằm phát hiện, bồi dưỡng những mầm non nghệ thuật tương lai cho đất nước. Là môn học mang tính nghệ thuật cao, nuôi dưỡng cho các em lòng đam mê học tập, luôn tự tìm tòi, sáng tạo, khám phá để nắm kiến thức áp dụng vào cuộc sống hằng ngày. Đó là những giá trị to lớn, những kết quả đạt được khi học Âm nhạc. Tuy nhiên, trên thực tế – tôi thấy phần đa học sinh lớp 5 vẫn rụt rè nhút nhát chưa có hứng thú, chưa yêu thích khi đến tiết học Âm nhạc. Có thể do nhiều nguyên nhân nhưng nguyên nhân chính là: Đa số các bậc CMHS đều hướng con mình học tập các môn học kiến thức khác như Toán, Tiếng Việt, Tiếng Anh… nên các em có tâm lý không chú trọng đến môn Âm nhạc, lơ là khi đến tiết Âm nhạc. Một số em không có năng khiếu hát, múa dẫn đến không cảm thụ được Âm nhạc, nhiều HS không nắm được kiến thức Âm nhạc ban đầu nên các em cảm thấy chán nản không muốn học hoặc do hoàn cảnh gia đình một số em còn khó khăn không có thời gian học tập, bố mẹ chia tay nên tâm lý của các em mất đi sự hồn nhiên và là lứa tuổi đang thay đổi về suy nghĩ và cơ thể nên nhiều em e ngại không tự tin, không thích thú với việc biểu diễn trước tập thể ….. tất cả điều đó làm cho các em không yêu thích môn học, không cảm thấy hào hứng khi học Âm nhạc.

Trường Tiểu học Krông Ana

3

Đỗ Thị Thu Hà

Một số biện pháp tạo hứng thú học môn Âm nhạc cho học sinh Lớp 5

Vậy làm thế nào để gây được sự hứng thú, sự yêu thích, lòng đam mê cho các em học sinh lớp 5 khi đến tiết học Âm nhạc ? Đây là nhiệm vụ rất cần thiết và đòi hỏi người giáo viên phải biết chọn lọc, đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh và làm thế nào để học sinh được học theo phương châm học vui – vui học nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn Âm nhạc, đạt thành tích cao trong các cuộc thi nghệ thuật các cấp. Qua nhiều năm giảng dạy môn Âm nhạc tiểu học, nắm bắt được tâm lý lứa tuổi của học sinh tiểu học, đặc biệt là Hs Lớp 5, thực hiện đổi mới các phương pháp dạy – học, trao đổi với đồng nghiệp, tôi mạnh dạn trình bày “Một số biện pháp tạo hứng thú học môn Âm nhạc cho học sinh Lớp 5″ với mong muốn tất cả các em học sinh Lớp 5 có hứng thú, niềm đam mê thực sự để khám phá kho tàng kiến thức rộng lớn của môn học mang tính nghệ thuật này. 2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài Mục tiêu Áp dụng một số biện pháp trong các hoạt động dạy học và các hoạt động ngoại khóa để học sinh Tiểu học có hứng thú, niềm đam mê, yêu thích học môn Âm nhạc. Nhiệm vụ Áp dụng các biện pháp đó vào các tiết dạy nhằm tạo được tâm lí thoải mái, hào hứng, nâng cao ý thức học tập mỗi khi đến tiết Âm nhạc, đồng thời kích thích tiềm năng nghệ thuật, kĩ năng sáng tạo, phát triển khả năng cảm thụ âm nhạc, góp phần học tốt các môn học khác. 3. Đối tượng nghiên cứu Biện pháp sư phạm nhằm tạo hứng thú cho học sinh lớp 5 trong các tiết học Âm nhạc. 4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu HS Lớp 5 – Trường TH Krông Ana. Năm học 2014 – 2024 5. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu lý luận Phương pháp nghiên cứu thực tiễn Phương pháp so sánh Trường Tiểu học Krông Ana

4

Đỗ Thị Thu Hà

Một số biện pháp tạo hứng thú học môn Âm nhạc cho học sinh Lớp 5

Phương pháp khảo nghiệm Phương pháp điều tra II. PHẦN NỘI DUNG 1. Cơ sở lý luận Như đã nói ở trên: Môn Âm nhạc Tiểu học không nhằm đào tạo HS trở thành những ca sĩ nhạc sĩ, những nhà hoạt động nghệ thuật chuyên nghiệp, mà chủ yếu là giáo dục văn hóa Âm nhạc, làm cho HS yêu thích và say mê hứng thú học tập môn Âm nhạc nói riêng và các môn học khác nói chung. Hứng thú trong học tập có thể làm nâng cao chất lượng giáo dục, nuôi dưỡng ở HS lòng ham muốn chính đáng trong việc không ngừng vươn tới những đỉnh cao của việc nắm kiến thức, luôn tìm tòi học tập cái mới và áp dụng vào thực tiễn. Những biện pháp tạo hứng thú trong bài viết này xuất phát từ 3 luận điểm cơ bản. Một là: Hiệu quả thực sự của việc dạy học là học sinh biết tự học; tự hoàn thiện kiến thức và tự rèn luyện kỹ năng, hai là: Nhiệm vụ khó khăn và quan trọng nhất của GV là làm sao cho học sinh thích học, ba là: Dạy học ở tiểu học phải làm cho HS cảm thấy biết thêm kiến thức của mỗi bài học ở mỗi môn học là có thêm những điều bổ ích, lý thú từ một góc nhìn cuộc sống. Với ba luận điểm này, tôi quan niệm rằng thực chất của việc dạy học là truyền cảm hứng và đánh thức khả năng tự học của người học. Còn nếu quan niệm người dạy truyền thụ, người học tiếp nhận thì người dạy dù có hứng thú và nỗ lực đến mấy mà chưa truyền được cảm hứng cho HS, chưa làm cho người học thấy cái hay, cái thú vị, giá trị chân thực mà tri thức đem lại thì giờ dạy vẫn không có hiệu quả. Học sinh chỉ tự giác, tích cực học tập khi thấy hứng thú. Hứng thú không có tính tự thân, không phải là thiên bẩm. Hứng thú không tự nhiên nảy sinh và khi đã nảy sinh nếu không duy trì, nuôi dưỡng cũng có thể bị mất đi. Hứng thú được hình thành, duy trì và phát triển nhờ môi trường giáo dục với vai trò dẫn dắt, hướng dẫn, tổ chức của GV. GV là người có vai trò quyết định trong việc phát hiện, hình thành, bồi dưỡng hứng thú học tập cho HS. 2.Thực trạng 2.1

Thuận lợi- khó khăn

Thuận lợi: – HS đã được tiếp xúc với Âm nhạc ngay từ khi còn nhỏ và trên nhiều phương tiện thông tin đại chúng. Trường Tiểu học Krông Ana

5

Đỗ Thị Thu Hà

Một số biện pháp tạo hứng thú học môn Âm nhạc cho học sinh Lớp 5

– Đa số học sinh yêu thích môn học, có tâm lý thoải mái khi bước vào các tiết học Âm nhạc. Khó khăn: – Một số em HS còn lười học, có tâm lý lơ là không chú tâm đến môn học. – Khả năng tiếp thu bài của học sinh không đồng đều. 2.2 Thành công- hạn chế Thành công: – Vận dụng được nhiều phương pháp giảng dạy, áp dụng với các đối tượng HS. – HS đã có ý thức tự giác hơn khi học tiết Âm nhạc, hăng say phát biểu. – HS chịu khó tìm tòi, sáng tạo hơn, tiếp thu bài nhanh hơn, nắm tốt các kiến thức Âm nhạc của chương trình. Hạn chế: – Cơ sở vật chất còn hạn chế nên việc sử dụng ĐDDH, phương pháp dạy học trực quan còn chưa được thường xuyên. 2.3 Mặt mạnh- mặt yếu Mặt mạnh: – Phát huy tối đa ĐDDH sẵn có. – Tạo được môi trường học tập công bằng, thân thiện, hứng thú. Mặt yếu – Một số em có hoàn cảnh gia đình khó khăn, ý thức vượt khó chưa cao. – Một số gia đình hướng con em vào các môn học như Toán, Tiếng Việt, vì vậy còn xem nhẹ bộ môn Âm nhạc. – Đồ dùng dạy – học cho bộ môn chưa đầy đủ.

Trường Tiểu học Krông Ana

6

Đỗ Thị Thu Hà

Một số biện pháp tạo hứng thú học môn Âm nhạc cho học sinh Lớp 5

2.4 Các nguyên nhân, các yếu tố tác động… * Nguyên nhân của thành công – Được sự quan tâm của các cấp Lãnh đạo và Nhà trường đã tạo điều kiện tương đối đầy đủ về cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học môn Âm nhạc như đàn Organ, một số nhạc cụ gõ đệm. – Đa số học sinh ngoan, yêu thích học môn Âm nhạc – Có sự giúp đỡ nhiệt tình của các đồng nghiệp trong việc góp ý về phương pháp, hình thức tổ chức dạy học giúp học sinh tiến bộ. – Bản thân luôn nghiên cứu tham khảo tài liệu, tìm tòi sáng tạo và học hỏi kinh nghiệm để lựa chọn, đưa ra những phương pháp giảng dạy phù hợp với từng đối tượng học sinh nhằm nâng cao kiến thức về dân ca cũng như phương pháp dạy hát dân ca. * Nguyên nhân của hạn chế CSVC của môn Âm nhạc tuy có nhưng chưa đáp ứng đầy đủ những yêu cầu cần thiết để dạy Âm nhạc, không gian lớp học còn chật hẹp chua đáp ứng được khi tổ chức hoạt động biểu diễn các bài hát. Thiếu tài liệu, tư liệu về dạy các nội dung Âm nhạc thường thức, giới thiệu các nhạc cụ dân tộc, nhạc cụ phương tây, tranh ảnh các câu chuyện Âm nhạc trường Tiểu học (chủ yếu là giáo viên tự sưu tầm và tự làm phục vụ quá trình giảng dạy nên chất lượng chưa được đảm bảo). Nhận thức của một số học sinh còn xem môn học âm nhạc là một môn phụ, các em chỉ quan tâm đến môn học mà các em đã định hướng cho nghề nghiệp tương lai sau này nên một số học sinh chưa thực sự hứng thú với môn học, tạo nên sự khô khan cứng nhắc trong môn học. Đặc biệt ở học sinh lớp 5, đây là lứa tuổi có nhiều thay đổi về đặc điểm tâm sinh lý, các em bắt đầu có sự e ngại, chất giọng cũng có sự thay đổi, sự hồn nhiên của các em đã có sự giảm sút. Một số em đã tỏ ra không thích hay còn e ngại khi trình bày một bài hát trước tập thể lớp… 2.5

Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trang mà đề tài đã đặt ra.

Có thể hiểu rằng hứng thú học tập là thái độ yêu thích đặc biệt của học sinh đối với việc học, được thể hiện qua nhiều mức độ như: sự chú ý, tập trung, sự ham Trường Tiểu học Krông Ana

7

Đỗ Thị Thu Hà

Một số biện pháp tạo hứng thú học môn Âm nhạc cho học sinh Lớp 5

Mục tiêu của giải pháp, biện pháp

Những giải pháp, biện pháp được nêu trong đề tài nhằm tổng kết các phương pháp, kĩ năng thu được từ thực tiễn giảng dạy. Mặt khác nhằm trao đổi với các giáo viên dạy Âm nhạc về việc vận dụng các phương pháp vào trong giảng dạy giúp học Trường Tiểu học Krông Ana

8

Đỗ Thị Thu Hà

Một số biện pháp tạo hứng thú học môn Âm nhạc cho học sinh Lớp 5

9

Đỗ Thị Thu Hà

Một số biện pháp tạo hứng thú học môn Âm nhạc cho học sinh Lớp 5

10

Đỗ Thị Thu Hà

Một số biện pháp tạo hứng thú học môn Âm nhạc cho học sinh Lớp 5

ra cho các em cảm giác thua bạn, tiết học sẽ trở nên nhẹ nhàng, các em sẽ hứng thú, sẵn sàng để tiếp tục bước vào nội dung học tiếp theo.

Học sinh xung phong biểu diễn những động tác tự chuẩn bị .

Trường Tiểu học Krông Ana

11

Đỗ Thị Thu Hà

Một số biện pháp tạo hứng thú học môn Âm nhạc cho học sinh Lớp 5

Xung phong biểu diễn theo nhóm 3. Tổ chức nhiều hình thức học tập Ngoài việc khai thác sự hứng thú trong nội dung dạy học, chúng tôi Lê Phương Nga cho rằng: “Hứng thú của học sinh còn được hình thành và phát triển nhờ các phương pháp, thủ pháp, hình thức tổ chức dạy học phù hợp với sở thích của các em”. Vì vậy, tôi thường áp dụng những hình thức dạy học sau, tôi thấy học sinh rất say mê hứng thú khi học Âm nhạc: Tổ chức trò chơi học tập Trò chơi âm nhạc là một hoạt động thực hiện yêu cầu đổi mới phương pháp dạy âm nhạc theo chương trình bậc Tiểu học. Trò chơi âm nhạc nhằm giúp giáo viên thay đổi các hình thức hoạt động trong tiết dạy và giúp HS thư giãn, hứng thú theo tinh thần chơi mà học âm nhạc. Trong thực tế dạy học, giờ học nào tổ chức trò chơi cũng đều gây được không khí học tập hào hứng, thoải mái, vui nhộn. Nghiên cứu cho thấy, trò chơi học tập có khả năng kích thích hứng thú và trí tưởng tượng, kích thích sự phát triển trí tuệ của các em. Tùy vào từng nội dung bài học. Tôi thường cho HS chơi những trò chơi sau: * Tiết học bài mới, hoạt động hát kết hợp gõ đệm theo nhịp 3, tôi hướng dẫn từng cặp 2 HS quay mặt vào nhau, miệng đếm 1-2-3 nhịp nhàng kết hợp với gõ đệm theo phách của nhịp ¾ như sau: – Phách 1 (mạnh): Từng HS tự vỗ 2 tay mình 1 tiếng. – Phách 2 (nhẹ): Vỗ tay phải HS này vào tay trái HS kia. – Phách 3 (nhẹ): Vỗ tay trái HS này vào tay phải HS kia. Hoặc HD hát đối đáp là cách hát chia ra “phần xướng” (hát 1 người) và “phần xô” (hát tập thể); Hoặc cách hát chia một nhóm hát “phần hỏi” và một nhóm hát “phần đáp”. Hoặc hướng dẫn HS hát nối tiếp: chia lớp thành 2 nhóm hát nối tiếp nhau từng câu hát: Ví dụ: + Nhóm A hát câu 1: Cùng nhau cầm tay đi đến thăm các thầy các cô + Nhóm B hát câu 2: Lời hát rộn rã bao bé em bước trên đường phố + Nhóm A hát câu 3: Ngàn hoa nở tươi khoe sắc hương dưới ánh… + Nhóm B hát câu 4: Náo nức tiếng cười, say sưa yêu đời……. Trường Tiểu học Krông Ana

12

Đỗ Thị Thu Hà

Một số biện pháp tạo hứng thú học môn Âm nhạc cho học sinh Lớp 5

Với các hoạt động trên, HS rất hào hứng, bởi các em được làm việc theo nhóm, có sự hợp tác của các bạn, những em HS không có năng khiếu cũng cảm thấy tự tin nắm được kiến thức, những em có năng khiếu thì khẳng định được mình. * Tiết Ôn tập bài hát: Để tạo hứng thú và sự bất ngờ cho HS, trước khi giới thiệu bài tôi cho HS chơi trò chơi: “Xem tranh đoán bài hát”: Tôi treo tranh minh họa cho bài hát và cho HS thi đua đoán tên bài hát, tác giả. Sau khi HS đoán đúng tên bài hát và tác giả tôi mới giới thiệu vào bài mới. Hoặc trò chơi: “Ghép tranh đoán bài hát”: tôi chuẩn bị bức tranh nội dung miêu tả bài hát rồi cắt ra nhiều mảnh rồi cho HS thi đua cá nhân hoặc theo nhóm ghép bức tranh lại nhanh và chính xác nhất. Ghép xong yêu cầu HS đoán tên bài hát và tác giả của bài hát. Ví dụ: Tiết 23:Ôn tập bài hát: Tre ngà bên Lăng Bác

13

Đỗ Thị Thu Hà

Một số biện pháp tạo hứng thú học môn Âm nhạc cho học sinh Lớp 5

(hay cá nhân) một bài hát tự chọn đã học. Sau đó yêu cầu HS nhắc lại cách đi như thế nào là đúng Luật giao thông… Hoặc sau khi học sinh hát đúng giai điệu của bài hát, tôi hướng dẫn HS chơi trò chơi: “Hát thay lời ca bằng chữ cái”. Tôi làm kí hiệu tay theo các chữ cái A, U, I. Khi GV đưa tay theo kí hiệu, HS hát giai điệu với các chữ cái theo kí hiệu GV hướng dẫn trước lớp Ví dụ: Bài hát: Con chim hay hót. Câu 1, GV đưa tay kí hiệu chữ A, HS hát “A” theo giai điệu của câu 1. “À à, à à a à á a” Câu 2, Gv đưa tay kí hiệu chữ U, HS hát “U”theo giai điệu của câu 2.”U ú u uù ụ ù u u ù u”. GV tiếp tục thay đổi các kí hiệu khác cho đến hết bài hát. Trò chơi này giúp các em thay đổi không khí học tập, đồng thời để kiểm tra việc ghi nhớ giai điệu của HS Trò chơi “Ai nhanh tai hơn” cũng giúp HS mau thuộc lời ca, phát triển tai nghe một cách nhanh nhất. Ví dụ: Sau khi học xong bài hát, tôi sử dụng nhạc cụ, đàn giai điệu một câu nhạc bất kì, yêu cầu HS nghe và hát lại câu có giai điệu vừa nghe. Việc kết hợp tổ chức một trò chơi trong giờ học hát, vừa giúp học sinh nắm kiến thức chắc hơn, sâu hơn, nhanh hơn, vừa tạo ra không khí sôi nổi, hứng thú cho HS học môn Âm nhạc cũng như học các môn học khác. Tổ chức hoạt động học theo nhóm Học theo nhóm là hình thức học tập có sự hợp tác của nhiều thành viên trong lớp nhằm giải quyết những nhiệm vụ học tập một cách có hiệu quả mà vẫn tạo được không khí thi đua hào hứng sôi nổi trong học tập. Học theo nhóm sẽ phát huy tính tích cực, sáng tạo, năng lực, sở trường, tinh thần và kĩ năng hợp tác của mỗi thành viên trong nhóm để học sinh có cơ hội trao đổi bàn bạc. Có nhiều hình thức tổ chức học tập như: cá nhân, tổ, nhóm, dãy… Tuy nhiên tùy theo từng mục tiêu HS cần đạt được mà tôi lựa chọn, phối hợp một cách hợp lý các hình thức học tập. Tôi thường cho học sinh làm việc nhóm khi câu hỏi đặt ra khá rộng và khó, cần sự góp ý của nhiều người thì làm việc nhóm mới thật cần thiết và đạt hiệu quả

Trường Tiểu học Krông Ana

14

Đỗ Thị Thu Hà

Một số biện pháp tạo hứng thú học môn Âm nhạc cho học sinh Lớp 5

15

Đỗ Thị Thu Hà

Một số biện pháp tạo hứng thú học môn Âm nhạc cho học sinh Lớp 5

+ Các nhóm lên trình bày. Sau khi HS trình bày, tôi phỏng vấn học sinh đóng – Vì sao em lại ứng xử như vậy ?

16

Đỗ Thị Thu Hà

Một số biện pháp tạo hứng thú học môn Âm nhạc cho học sinh Lớp 5

Thay đổi không gian học tập cũng tạo được sự hứng thú cho HS và cũng góp phần đến thành công của tiết dạy. Đối với lứa tuổi hiếu động như HS lớp 5. Thay đổi không gian học tập cũng là một hứng thú đối với các em. Chính vì vậy, đối với một số tiết học tôi tổ chức cho HS học tập ở một vài không gian khác nhau như: Dạy học ngoài trời tạo điều kiện để HS quan sát thiên nhiên, có không gian biểu diễn, chơi các trò chơi… nhằm gây hứng thú, sự tích cực học tập cho các em. Tổ chức tiết học ngoài trời sẽ giúp HS tri giác trực tiếp đối tượng và ghi nhớ tốt, không phải tri giác gián tiếp qua các phương tiện dạy học. Các em có điều kiện gần gũi, hiểu biết về thiên nhiên, từ đó có ý thức bảo vệ thiên nhiên và môi trường sống xung quanh. Hoạt động ngoài lớp còn là cơ hội để các em bộc lộ cá tính, năng khiếu, sở trường, đồng thời có tác dụng hình thành thói quen hợp tác, tương trợ, học hỏi lẫn nhau. Ngoài ra, trong môn Âm nhạc, nhiều bài hát gắn liền với địa phương, nơi HS đang sinh sống nên việc dạy học ngoài không gian lớp học lại càng quan trọng. Ví dụ: Tiết 23 Ôn tập 2 bài hát: Hát mừng, Tre ngà bên lăng Bác Tôi thay đổi không gian lớp học bằng cách cho HS ra sân xếp thành vòng tròn vừa hát vừa biểu diễn, sau khi biểu diễn 2 bài hát, tôi thường lồng ghép một số câu hỏi hoặc trò chơi để liên hệ giáo dục tình cảm thái độ của HS về kiến thức địa phương, hay ý thức bảo vệ môi trường, giữ gìn vệ sinh trường lớp ….. Hoặc với những tiết Tập biểu diễn bài hát. Khi bắt đầu tiết học, tôi cho HS sắp xếp bàn ghế theo hình chữ U, cách sắp xếp bàn ghế này tạo cho lớp học có không gian biểu diễn đồng thời tất cả HS được quan sát các bạn biểu diễn cũng như thúc đẩy quá trình học tập sáng tạo, ý thức tự giác, niềm đam mê học tập, háo hức được cùng các bạn tham gia biểu diễn. 4. Phát huy hiệu quả của ĐDDH Muốn gây hứng thú cho HS, theo tôi việc sử dụng ĐDDH là rất quan trọng, Tuy nhiên đồ dùng cần phải đáp ứng được tính thẩm mĩ không tùy tiện cẩu thả, phong phú đa dạng và phải phù hợp với nội dung bài học. Mỗi tiết dạy có sự đặc trưng riêng về cách tổ chức lớp và có những sáng tạo riêng của từng giáo viên. Đặc biệt đối với môn Âm nhạc lớp 5, việc sử dụng đồ dùng dạy học trong tiết dạy là hết sức cần thiết vì giáo viên không thể thao thao bất tuyệt với lý lẻ suôn hay chỉ hát “chay” từ ngày này qua ngày khác sẽ khiến học sinh nhàm chán và thiếu phấn khởi trong học tập. Vì đây là môn năng khiếu cần có sự bồi đắp và vun dưỡng từ giáo viên để tạo cơ hội cho những học sinh có năng khiếu bộc lộ mình, các em học HS không có năng khiếu cũng sẽ hiểu bài một cách chủ động hơn. Trong tất cả các tiết dạy, tôi chuẩn bị đầy đủ các đồ dụng dạy – học sẵn Trường Tiểu học Krông Ana

17

Đỗ Thị Thu Hà

Một số biện pháp tạo hứng thú học môn Âm nhạc cho học sinh Lớp 5

có để hỗ trợ việc dạy và học Âm nhạc như: Thanh phách, song loan, đàn Organ, băng đĩa, tranh phóng to các bài TĐN của lớp 5. Hoặc những nhạc cụ do các em tự chế như: chai nước nhựa, thanh tre nhỏ, những chiếc đũa… tất cả các đồ dùng dạy học trên sẽ mang lại một tiết học sôi nổi đầy hào hứng. Tuy nhiên, nếu GV không biết phối hợp hoặc sử dụng những ĐDDH không thành thạo thì cũng không mang lại hiệu quả cao cho tiết dạy. Việc sử dụng thành thạo đàn Organ cũng là một yếu tố quan trọng. Cách bỏ hợp âm, dạo nhạc cũng sẽ thu hút HS hào hứng học hát và hát đúng giai điệu, vì vậy tôi thường xuyên học tập, sáng tạo, đổi mới cách đệm phù hợp với sắc thái của từng bài hát, sao cho tất cả các đối tượng HS đều biết hát đúng giai điệu hoặc ít nhất là hát theo giai điệu của bài hát.

Sử dụng đàn Piano và Organ trong các tiết dạy Âm nhạc

Cùng với đàn Piano và Organ, thì thanh phách và song loan cũng là những nhạc cụ không thể thiếu trong môn Âm nhạc. Vì đây là những nhạc cụ giúp HS nắm chắc tiết tấu của bài hát và các bài TĐN một cạch nhẹ nhàng dễ hiểu. Đối với từng bài học tôi cho các em sử dụng các nhạc cụ cho phù hợp. Ví dụ: Đối với bài hát nhịp 3 như bài Tre ngà bên lăng Bác, tôi cho các em dùng tay để vỗ theo phách HS sẽ dễ nhớ hơn, vì đây là cách gõ đệm khó, khi dùng nhạc cụ sẽ gây ồn ào các em khó hình dung ra phách của nhịp 3. Nhưng đối với bài hát Con chim hay hót thì nhạc cụ gõ làm cho các em sôi nổi hào húng khi gõ đẹm theo nhịp….. Trường Tiểu học Krông Ana

18

Đỗ Thị Thu Hà

Một số biện pháp tạo hứng thú học môn Âm nhạc cho học sinh Lớp 5

Ngoài các đồ dùng dạy học kể trên, thì giáo án điện tử cũng là một phương tiện hỗ trợ đắc lực cho giáo viên. Qua thực tế giảng dạy. tôi nhận thấy hầu hết các em HS Tiểu học nói chung, các em lớp 5 nói riêng rất thích được học những tiết học bằng máy chiếu bởi vì cùng một lúc các em được nghe âm thanh, hình ảnh, màu sắc sinh động. HS hứng thú học tập và dễ dàng tiếp thu bài nhờ những hình ảnh, âm thanh, những tư liệu giúp HS khắc sâu kiến thức, kích thích nguồn cảm hứng học tập, vì vậy, tôi tăng cường thực hiện một số tiết day bằng GAĐT. Khi giảng dạy, tôi kết hợp hài hòa giữa màn hình với lời giảng và giữa màn hình với ghi bảng sao cho linh hoạt uyển chuyển giúp cho tiết dạy được sinh động hơn, HS học tập hứng thú hơn, hạn chế cách dạy khô khan Tuy nhiên, đối với các tiết dạy bằng GAĐT, GV phải thật sự có ý thức học hỏi, khai thác và sử dụng có chọn lọc những tư liệu quý trên Internet. Đừng quá tham lam tư liệu, có bao nhiêu cũng đưa vào bài giảng, làm cho bài giảng dễ bị loãng nhàm chán không thu hút được sự hào hứng của tiết dạy. 5. Đổi mới quan niệm và cách thức kiểm tra, đánh giá Một trong những nguyên nhân khiến học sinh không thích học là do cách đánh giá bằng lời và cho điểm của chúng ta không thỏa đáng. Theo chúng tôi Lê Phương Nga: “Phải đánh giá, kiểm tra kết quả học tập của học sinh tiểu học theo một chiến lược dạy học lạc quan – đó là nhấn mạnh vào mặt thành công của học sinh”. Áp dụng Thông tư 30 vào công tác giảng dạy và đánh giá học sinh. Để tạo hứng thú cho học sinh, trong các tiết dạy tôi thường xuyên động viên, khích lệ những kết quả của các em: Nhận xét bằng lời trực tiếp khi giảng dạy, nhận xét vòa vở của học sinh, nhận xét trong sổ theo dõi hàng tháng, cuối kì và cuối năm học. Khi nhận xét tôi luôn chú trọng vào mặt thành công của các em, tôn trọng những sáng tạo của HS, dù rất nhỏ, đồng thời, tập cho mình có một cách nhìn: Học sinh tiểu học em nào cũng ngoan, em nào cũng giỏi, em nào cũng cố gắng. Chỉ có em này ngoan, giỏi, cố gắng nhiều hơn, em kia ngoan, giỏi, cố gắng ít hơn mà thôi. Vì vậy đòi hỏi phải thật nghiêm khắc và đặt ra yêu cầu cao với bản thân mình có nghĩa là không cho phép chúng ta khắt khe trong đánh giá và chặt chẽ khi nhận xét HS. Khi HS đạt được thành công trong học tập sẽ tạo ra hứng thú và niềm say mê học tập, niềm tự hào về thành công, cảm giác xúc động khi thành công mới là nguồn gốc thật sự của ham muốn học hỏi. 3.3 Điều kiện thực hiện giải pháp, biện pháp Để thực hiện tốt các vấn đề đã được đề cập trong nội dung sáng kiến, cần có những điều kiện sau đây:

Trường Tiểu học Krông Ana

19

Đỗ Thị Thu Hà

Một số biện pháp tạo hứng thú học môn Âm nhạc cho học sinh Lớp 5

20

Đỗ Thị Thu Hà

Skkn: Một Số Biện Pháp Tạo Hứng Thú Cho Học Sinh Học Môn Hình Học 8

Nghị quyết 4 của BCH TW Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VII( 1-1993) Đã khẳng định rằng “Giáo dục là quốc sách hàng đầu”. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII một lần nữa khẳng định “Cùng với khoa học công nghệ, giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”. Điều đó thể hiện tầm quan trọng của việc đào tạo thế hệ trẻ đối với đất nước. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển. Chính vì thế trong những năm qua giáo dục đã có những bước cải cách , đổi mới liên tục. Thực hiện nghị quyết 40 Quốc hội khóa X, Bộ giáo dục đào tạo đã chủ trương đổi mới chương trình SGK ở các trường phổ thông . Chương trình mới dựa trên quan điểm lấy học sinh làm trung tâm, giáo viên đóng vai trò hướng dẩn, tổ chúc hoạt động dạy học. Để làm tốt điều đó người giáo viên nói chung và giáo viên dạy Toán nói riêng phải hình thành cho học sinh phương pháp học tập phù hợp để nắm vững kiến thức .Định hướng đổi mới phương pháp dạy học hiện nay đã xác định “phương pháp dạy học Toán trong nhà trường các cấp phải phát huy tính tích cực, tự giác chủ động của người học, hình thành và phát triển năng lực tự học, trau dồi các phẩm chất linh hoạt , độc lập sáng tao của tư duy”.Bắt nguồn từ định hướng đó giáo viên cần phải học hỏi nghiên cứu, tìm tòi và áp dụng những phương pháp dạy học sao cho phù hợp với từng vùng miền, từng đối tượng học sinh, từng kiểu bài làm cho hiệu quả giờ học đạt cao nhất .Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy và tìm hiểu thực tiễn tại trường THCS Trung Thượng – Quan Sơn – Thanh Hóa. tôi thấy còn nhiều học sinh chưa nắm vững được kiến thức cơ bản của phân môn Hình học, chất lượng bộ môn vẫn còn thấp, các bài kiểm tra, bài thi còn chưa đạt yêu cầu. Bằng thực tiễn trong giảng dạy và tìm hiểu đã có những ý kiến như: phân môn hình học khó tiếp thu, lượng kiến thức trong giờ học còn nhiều mà lại khô khan, không hấp dẫn… Điều đó nãy sinh trong tôi những trăn trở: Là làm thế nào để nâng cao chất lượng bộ môn? Làm thế nào để học sinh hứng thú, say mê trong khi học? Có biện pháp gì để tạo hứng thú say mê tìm tòi sáng tạo, vận dụng những gì đã học vào thực tiễnVới mong muốn tìm ra những đáp án đó, đã thúc đẩy tôi chọn và nghiên cứu sáng kiến kinh nghiệm “Một số giải pháp tạo hứng thú cho học sinh học phân môn hình học lớp 8”

B/ PHẦN NỘI DUNG

Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Lớp 5 Hứng Thú Đến Trường

Để mong muốn góp phần giải quyết thực tế nói trên đồng thời hoà nhập chung với tiến độ phát triển chung của xã hội, tôi muốn góp một phần nhỏ công sức nghiên cứu của mình qua việc tìm hiểu hứng thú đến trường cho học sinh để những ai quan tâm đến vấn đề này có được một số vốn kiến thức nhất định phục vụ cho việc giảng dạy nói riêng và trong cuộc sống đối với thế hệ trẻ thơ nói chung. Xuất phát từ những lý do trên tôi quyết định chọn nghiên cứu đề tài:

Qua đề tài này, tôi muốn góp phần nhỏ vào việc nâng cao chất lượng dạy học cho học sinh lớp 5, để các em hứng thú đến trường, đồng thời tìm ra phương pháp giúp giáo viên dạy học sinh lớp 5 đạt hiệu quả cao hơn. Làm cho hoạt động dạy- học đạt kết quả tốt, giúp học sinh Tiểu học khơi nguồn cảm xúc, trí tuệ, không những giúp các em tiếp thu kiến thức bài học một cách dễ dàng mà còn giúp các em củng cố và khắc sâu các kiến thức. Khi đã lĩnh hội đựợc các em mới hứng thú đến trường. Đồng thời khắc phục những hạn chế trong quá trình dạy- học.

Để thực hiện đề tài của mình tôi đã chọn học sinh lớp … năm học ….trường Tiểu học ………làm đối tượng nghiên cứu.

4. Phương pháp nghiên cứu :

Để thực hiện có kết quả cao đề tài này chúng tôi đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau :

Bước đầu nghiên cứu đề tài tôi chọn Phương pháp đọc sách, nghiên cứu tài liệu, phương pháp trên kết hợp với kiến thức và hiểu biết của mình đã hỗ trợ tôi có được một số kiến thức nhất định nghiên cứu ra sáng kiến này.

Thứ hai, để có số liệu, giới hạn nghiên cứu, đối tượng học sinh tôi chọn Phương pháp lựa chọn, điều tra, tôi có thể lựa chọn cho mình sản phẩm cần nghiên cứu.

Thứ ba, để nắm được đối tượng nghiên cứu và đạt được kết quả tôi chọn Phương pháp nghiên cứu thực tế, để tôi có thể giúp mình học hỏi, trao đổi những kinh nghiệm đồng nghiệp, nắm được căn bản lí lịch từng em, …

Tiếp theo để có kết quả khảo nghiệm tôi chọn Phương pháp hỏi- đáp bước đầu tôi đã phần nào hiểu sản phẩm và có những số liệu nhất định.

Để có những số liệu cần thiết, chính xác về sản phẩm sáng kiến tôi chọn Phương pháp mô tả, phân tích giúp tôi có thể phân tích cụ thể sản phẩm.

Khi có số liệu tôi chọn Phương pháp so sánh và tổng hợp với phương pháp này tôi có thể so sánh, đối chiếu, tổng hợp sản phẩm khi chưa áp dụng và sau khi đã áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.

Là một trường thuộc địa bàn xã EaHồ. 100% học sinh là con em đồng bào dân tộc tại chỗ, các em tiếp xúc rất ít với Tiếng Việt, nên khi trẻ bước vào trường học gặp rất nhiều khó khăn. Các em vừa học kiến thức trên sách vở đồng thời vừa học giao tiếp với thầy cô, bạn bè bằng ngôn ngữ thứ hai. Việc truyền thụ kiến thức cho trẻ hiểu đã là một việc làm khó, truyền cho các em ham học, say mê với môn học, hứng thú đến trường lại là điều trăn trở của một giáo viên.

Vì thế là một người giáo viên Tiểu học, người ” viết ” lên những trang giấy trắng đầu tiên vào các em, “cấy” vào tâm hồn trẻ những điều tốt đẹp, chúng ta cần tạo cho các em sự yêu thích và phát triển một cách tốt nhất.

Hứng thú làm nảy sinh khát vọng hành động, làm tăng hiệu quả của hoạt động nhận thức, tăng sức làm việc. Vì thế, tạo hứng thú cho các em đến trường chỉ có thể người giáo viên là then chốt chứ không ai khác được. Một khi đã có hứng thú để các em tiến tới mục tiêu chung của Tiểu học: Nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kĩ năng cơ bản, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, bước đầu xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học trung học cơ sở.

Nhưng để đạt được mục tiêu đó đâu phải một sớm một chiều mà là cả quá trình lâu dài, muốn làm việc đó có kết quả tốt thì trẻ cần có tình yêu và sự hứng thú thực sự nhưng đâu phải bắt học sinh yêu thích được mà phải truyền thụ và giúp các em hứng thú. Vì thế có nhà triết gia đã nói :

Người giáo viên là một kĩ sư tâm hồn, quá trình dạy học là cả một nghệ thuật, muốn đạt được điều đó thì đòi hỏi người thầy không ngừng học hỏi, rèn luyện nâng cao chuyên môn, luôn có sự sáng tạo, cải tiến phương pháp dạy học của mình nhằm mục đích nâng cao chất lượng dạy học.

Qua nhiều năm giảng dạy ở trường Tiểu học …….. và trao đổi với đồng nghiệp tôi đã có những nhận xét chung về thực trạng dạy học như sau:

Thuận lợi: Trường Tiểu học …….. Được sự quan tâm, giúp đỡ của các cấp uỷ, các ban ngành và sự chỉ đạo của Ban giám hiệu hiện nay xây dựng trường học khang trang, cơ sở vật chất tương đối đầy đủ.

Khó khăn: Học sinh trường tôi là đồng bào dân tộc tại chỗ (Êđê ), nói tiếng Việt chưa thành thạo, tiếp xúc ít với tiếng phổ thông, phương tiện thông tin đại chúng tiếp cận còn ít nên việc tiếp thu bài của các em hết sức hạn chế, khó khăn. Bên cạnh đó, phụ huynh đa số làm nông nghiệp, kinh tế còn nghèo nàn và phần đông chưa thực sự quan tâm đến con cái, do nhận thức chưa đầy đủ về công tác giáo dục nên nhiều bậc phụ huynh chủ yếu phó thác cho nhà trường…

Đối với học sinh lớp 5 trường tôi các kiến thức hiện nay không phải là đơn giản, dễ dàng tiếp thu, lĩnh hội nên một số em thấy “học khó”. Học sinh đi học không đều, vắng học diễn ra thường xuyên, một số học sinh lớp 5 lớn tuổi nên không tự tin khi đến lớp, thậm chí có nguy cơ bỏ học giữa chừng, một số em chưa thực sự yêu thích đến trường. Vì vậy việc học tập của trẻ chưa đạt kết quả cao.

Nhiều giáo viên chưa đầu tư sâu, giúp học sinh yêu thích các môn học, hứng thú đến lớp mà chủ yếu truyền tải nội dung, kiến thức cho các em.

Xã hội có phồn vinh, đất nước có giàu mạnh trước hết cần những nhân tài, là mầm ươm tương lai của đất nước. Nhân tài không tự nhiên mà tồn tại và phát triển một cách hoàn thiện mà không qua trường lớp. Chính vì lẽ đó, đào tạo trẻ có kiến thức vững chắc, lâu dài thì cấp một chính là nền móng để nuôi dưỡng và phát triển nhân cách, tri thức, hoàn thiện cho một tương lai tươi sáng phía trước. Nhưng để các em cảm nhận thật trọn vẹn, đầy hứng thú, niềm vui mỗi khi bước chân vào trường học, lớp học không phải là điều đơn giản, mà đó là cả một nghệ thuật của người giáo viên.

Khi trẻ đã hứng thú đến trường thì đây chính là cơ hội cho các em lĩnh hội kiến thức, nuôi dưỡng, phát triển cảm xúc thẩm mỹ và phát huy trí tưởng tượng. Học tập sẽ hiệu quả hơn khi nó thực sự vui thích” (Perter Kline). Yêu thích đến trường các em sẽ không còn thấy “sợ học”, không còn thấy mệt mỏi khi các em hứng khởi tiếp nhận các kiến thức mà trước đây cho là khó, là “khô khan”, căng thẳng, nhàm chán. Hứng thú đến trường là miếng đất màu mỡ để trên đó tư duy hình tượng, tư duy logic học sinh nảy nở, phát triển. Trẻ sẽ tăng dần tính trách nhiệm với bản thân, với người khác. Để đạt được hiệu quả cao trong học tập trước hết cần rèn và truyền cho các em sự hứng thú.

Do vậy để khắc phục những hạn chế, phát huy những ưu điểm hiện có ở thực tế. Tôi xin mạnh dạn đưa ra một số giải pháp hướng dẫn học sinh lớp 5 hứng thú đến trường. Đó là:

Một số trò chơi điển hình khi dạy các môn học lớp 5 như:

– Trò chơi ” Xì điện”.

Ví dụ: Môn Toán học:

Giáo viên chia lớp thành hai đội, phổ biến luật chơi ( trong quá trình chơi bạn nào một trong hai đội không nêu nhanh được kết quả sẽ mất quyền “xì điện”, giáo viên sẽ chỉ người khác), hướng dẫn cách chơi. Giáo viên đọc phép tính 78, 29 x 10 sau đó chỉ bất kì một em một trong hai đội, tức thì học sinh đó phải nêu nhanh được kết quả ( 782, 9). Kết quả ấy nếu đúng thì em đó có quyền đọc phép tính khác, học sinh ấy đọc: 265, 307 x 0, 01 (đọc và chỉ bất kì vào bạn của đội một), bạn đó đọc kết quả 2, 65307; rồi lại “xì điện” đến bạn tiếp theo của đội hai… Cứ như thế giáo viên và thư kí ghi lại kết quả. Hết thời gian quy định đội nào có nhiều bạn trả lời và kết quả đúng thì đội đó thắng cuộc. Giáo viên và cả lớp tuyên dương nhóm thắng và động viên nhóm chưa thắng.

Trò chơi này áp dụng trong các tiết luyện tập, luyện tập chung. Giúp học sinh thực hiện tốt nhân một số thập phân với một số thập phân. Các em thích thú, vui vẻ, hào hứng khi chơi. Sau khi tiết học kết thúc học sinh nhớ lâu và thực hiện tốt hơn các kiến thức và áp dụng tính nhanh hơn trong cuộc sống. Không những trong giờ học mà trong giờ ra chơi các em còn đố nhau và trở thành trò chơi rất thú vị…

– Trò chơi ” Tiếp sức”.

Ví dụ: Môn Khoa học:

Bài 5: Cần làm gì để cả mẹ và em bé đều khoẻ?

Giáo viên treo bảng phụ, kẻ hai cột ( Nên/ không nên). Chia lớp thành hai đội, phổ biến luật chơi, hướng dẫn. Giáo viên hô ” Bắt đầu” cột (1) nên, tức thì các nhóm dùng bút dạ ghi vào của nhóm mình. Học sinh thứ nhất của đội mình ghi xong về ngay chỗ đứng thì học sinh tiếp theo mới tiếp sức lên ghi tên các món ăn cần để cả mẹ và em bé đều khoẻ. Cứ như thế học sinh các nhóm tiến hành cho đến bạn cuối cùng, kết thúc trò chơi giáo viên và các nhóm cùng đánh giá rồi đếm (ví dụ: giáo viên đọc: thịt gà- tức thì học sinh đồng thanh hô: 1; giáo viên đọc: chuối- học sinh đồng thanh hô: 2,…cứ như thế đến món cuối cùng của đội) xem nhóm nào có nhiều thức ăn hợp lí, nhiều chất dinh dưỡng…thì đội đó sẽ thắng. Giáo viên cùng học sinh tuyên dương nhóm thắng cuộc,… Tiến hành tương tự như thế đối với cột không nên.

Tác dụng: Khi chơi học sinh hứng thú học tập, tiết học trở nên hào hứng, sinh động; học sinh thì vui vẻ, khắc sâu và nhớ kiến thức được lâu hơn. Qua trò chơi các em biết được tên một số thức ăn áp dụng món ăn nào nên và tốt, hợp lí cho cuộc sống. Đồng thời biết được và tránh những điều không nên cho bà mẹ và em bé trong thực tế thông qua trò chơi…và các trò chơi trên còn áp dụng nhiều môn học khác; đồng thời còn nhiều trò chơi khác áp dụng vào việc học tập tạo niềm vui, hứng thú cho học sinh, giúp các em tiếp thu tốt chương trình học một cách nhẹ nhàng, hiệu quả.

Điều quan trọng nữa mà mỗi giáo viên khi lên lớp không được quên đó là tạo ra môi trường học tập công bằng, thân thiện, hứng thú cho các em.

Trong tiết dạy hay trong quá trình tổ chức trò chơi hoặc trong giờ sinh hoạt lớp giáo viên nên động viên, khuyến khích mặt tích cực, chỉ ra những ưu điểm dù là nhỏ nhất của trẻ để các em cảm thấy mình cũng quan trọng và tự tin hơn trong mắt người khác. Khi trẻ được khen trẻ sẽ đón nhận lời khen ấy với cảm giác vui sướng trẻ sẽ cố gắng thật nhiều sao cho xứng với lời khen ấy và chờ được khen những lần sau. Tránh chê bai hay dùng đòn roi khiến trẻ sợ hãi, mất hết hứng thú hoặc tệ hơn nữa là trẻ chán học, không muốn đi học, thậm chí là bỏ học. Do đó, giáo viên “Hãy luôn đặt mình vào vị trí người khác, nếu điều đó làm tổn thương bạn thì nó cũng sẽ tổn thương người khác”.

Đồng thời trong các cuộc họp phụ huynh, giáo viên cần trao đổi và nắm bắt nguyện vọng của phụ huynh, đặc biệt là phụ huynh có con em thuộc diện khó khăn để lưu ý, quan tâm hơn trong năm học.

Bên cạnh đó, trong năm học giáo viên cần khen kịp thời và động viên những em có thành tích trong hoạt động học tập hay hoạt động phong trào.

Ví dụ cấp trên tổ chức phong trào: ” Giao lưu tiếng Việt”, hay chữ viết đẹp các cấp thì trước khi học sinh đi thi giáo viên nên động viên khuyến khích các em bằng lời nói, bằng cử chỉ yêu thương, bằng món quà nhỏ khích lệ.

Để tạo hứng thú đến trường cho học sinh lớp 5 và nâng cao chất lượng dạy- học tôi nghĩ đồ dùng dạy học là một trong những phương tiện dạy học đạt kết quả cao nhất. Khi trẻ được thấy, được hoạt động trực tiếp trẻ sẽ nhớ rất lâu và khắc sâu những kiến thức mà giáo viên truyền thụ. Trẻ sẽ cảm nhận, nhớ lâu kiến thức thông qua đồ dùng dạy học. Do đó, tôi chuẩn bị tranh ảnh, đồ dùng dạy- học trước khi dạy thật tốt.

Để đạt được kết quả học tập tốt hay không người lĩnh hội chính là trẻ. Trước hết các em cần chuẩn bị bài trước khi đến lớp. Cùng với các kiến thức lớp 5 như hiện nay đối với học sinh đồng bào dân tộc thiểu số thì việc học các kiến thức theo chuẩn kiến thức kĩ năng không phải là dễ nếu như các em không hứng thú tiếp thu, lĩnh hội thì sẽ khó vận dụng và thực hành những kiến thức đã học vào các tiết học sau.

Giáo viên cần làm sao tạo cho các em thích đến trường, muốn đi học. Chính yêu trường sẽ cho các em sự hứng thú, thích đến lớp trẻ cảm thấy các kiến thức đơn giản, dễ dàng và thoải mái hơn. Đồng thời sẽ đem lại cho các em vốn hiểu biết về thế giới xung quanh và nhìn đời thánh thiện hơn và phát triển tư duy và ngôn ngữ cho các em. Tiếp theo, cơ sở vật chất là yếu tố không thể thiếu để trẻ tiếp nhận và có hứng thú để đạt kết quả cao khi trẻ hứng thú đến trường.

Để học sinh lớp 5 có hứng học, hứng thú đến trường thì cơ sở vật chất, đồ dùng dạy học, … có tầm quan trọng rất lớn đối với các em:

Giáo viên chủ nhiệm thường xuyên hướng dẫn, nhắc nhở các em vệ sinh trong và ngoài lớp học. Vệ sinh cá nhân gọn gàng, sạch sẽ. Trường học xanh, sạch, đẹp.

Một tiết học muốn giáo viên truyền thụ kiến thức để học sinh có hứng thú học tập thì đòi hỏi lớp học phải sạch, thoáng mát; các đồ dùng của lớp phải để ngăn nắp, gọn gàng; học sinh tự giác rửa tay chân, quần áo thì sạch sẽ; nề nếp học tập phải tốt. Muốn thế giáo viên chủ nhiệm cần hướng dẫn các em trở thành thói quen như: rửa chân tay sạch sau khi lao động xong, quét lớp hàng ngày, lau lớp tuần hai lần, xếp dép thẳng hàng ngăn nắp dưới bậc thềm, lớp học luôn phải sạch như chính ngôi nhà của các em. Cô còn nhắc nhở trò không bẻ cành, ăn quà vặt, bỏ rác đúng nơi quy định. Để xứng đáng là Trường học thân thiện- Học sinh tích cực.

Chiều thứ 5 hàng tuần giáo viên chủ nhiệm hướng dẫn học sinh lao động (nhổ cỏ xung quanh lớp, nhổ cỏ cho cây, quét) xung quanh lớp học của mình, cùng thầy tổng phụ trách hướng dẫn học sinh trồng thêm cây xanh, tưới nước những cây đã trồng, vệ sinh trường học ngày một đẹp hơn. Chính những điều này hỗ trợ không nhỏ trong việc tạo hứng thú đến lớp, đến trường cho các em. Vì đến trường lớp với ngôi trường sạch sẽ, khang trang, cây xanh che mát và bầu không khí trong lành khi các em chơi.

Trường sạch, lớp đẹp sẽ giúp các em hứng thú tiếp thu và vận dụng thực tế đó vào các môn học ( như môn Tập làm văn tả ngôi trường, sẽ giúp bài văn sinh động, giàu cảm xúc,…) đạt hiệu quả cao hơn trước nhiều.

Bên cạnh đó, lớp học phải có đủ ánh điện, độ chiếu sáng trong lớp học phải đủ. Đặc biệt là những lúc trời mưa, ánh sáng ngoài không chiếu đủ vào lớp. Ánh sáng tốt giúp cho các em nhìn rõ mọi những kiến thức mà giáo viên viết, những gì giáo viên giao nhiệm vụ. Chính điều này giúp học sinh hứng thú học tập.

Đồng thời, bàn ghế phải phù hợp với lứa tuổi các em, cho mọi học sinh ngồi học phải theo qui định của Bộ Giáo dục và Đào Tạo,

Gia đình là tế bào của xã hội vì thế gia đình đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc giáo dục trẻ. Một đứa trẻ phát triển tốt đòi hỏi phải sống trong một gia đình có cách giáo dục tốt. Mà muốn trẻ giáo dục tốt thì cần phải bắt đầu từ tuổi ấu thơ, đây chính là nền tảng ban đầu của đứa trẻ. Đặc biệt trẻ học được tấm lòng vị tha, nhân ái, những điều hay lẽ phải trong cuộc sống thì bắt đầu bằng việc giáo dục và hành động của người lớn trước hết là gia đình.

Muốn tạo cho các em nguồn cảm hứng, sự hứng thú khi đến trường thì cha mẹ các em cần phải tạo cho các em một thói quen tốt ngay từ nhỏ và gần gũi với các em. Giáo viên cần trao đổi ngay với phụ huynh khi trẻ có hiện tượng vắng học, có biểu hiện chán học, không để hiện tượng vắng học, chán học kéo dài. Trao đổi với phụ huynh rằng: Một khi trẻ không thích đi học hay có một số biểu hiện chán học phụ huynh cần bình tĩnh hỏi han, cùng trẻ tìm ra nguyên nhân do đâu các em không thích đi học. Khi học sinh đã nói ra nguyên nhân mình không thích đi học như: Thấy cô đơn, không theo kịp kiến thức, bị điểm kém,…cha mẹ không nên trách mắng trẻ, nên tạo cho trẻ môi trường thoải mái để có hứng thú học tập. Cha mẹ học sinh cần phối hợp với giáo viên chủ nhiệm để tìm ra giải pháp tối ưu nhất cho trẻ như thiết lập các mối quan hệ tốt đẹp với bạn bè, tạo cho các em lại niềm tin về bản thân, nên khuyến khích trẻ và nói những điều tốt về trường học.

Đồng thời đã qua thực tế và thấy: Do điều kiện ở đây còn khó khăn, một số gia đình quan tâm đã có tương đối đầy đủ đồ dùng nhưng một số gia đình chưa quan tâm và còn khó khăn về kinh tế nên chưa có cho các em đầy đủ đồ dùng học tập. Vì vậy, ngoài những dụng cụ nhà nước phát theo chế độ như sách giáo khoa, vở thì tôi tìm hiểu và cho học sinh thêm các dụng cụ học tập như bút, giấy vẽ,… hoặc mượn được một số đồ dùng ở thư viện trường để lớp có đồ dùng học tập tốt hơn.

Giáo viên cần trao đổi với phụ huynh, cần phối kết hợp với họ để ở trường giáo dục là giáo viên, còn ở nhà phần giáo dục của gia đình rất quan trọng. Đứa trẻ tiếp xúc với trường học đầu tiên ấy là gia đình.

Do đó, gia đình cần giành thời gian quan tâm, động viên, gần gũi trẻ, không nên vì hoàn cảnh khó khăn mà bắt con em mình ở nhà phụ giúp gia đình. Gia đình cần cộng tác với thầy cô giáo. Cha mẹ các em nên báo với giáo viên những lúc học sinh và gia đình cảm thấy khó khăn để giáo viên tìm hướng giải quyết, nếu vấn đề phức tạp giáo viên khó giải quyết sẽ nhờ sự giúp đỡ và kết hợp của Ban giám hiệu hay của cấp trên.

Ở nhà phụ huynh cần nhắc nhở, kiểm tra, đôn đốc việc học của các em.

Cần chuẩn bị bài, học bài, làm bài tập và kiểm tra đồ dùng học tập trước khi đến lớp.

Là học sinh cuối cấp Tiểu học vì thế phụ huynh nên hướng dẫn cho trẻ lập thời gian biểu riêng hàng ngày, giờ nào học, giờ nào chơi, lúc nào phụ giúp gia đình,… hãy tạo điều kiện để trẻ vừa học vừa chơi, thấy việc học cũng vui, cũng bổ ích, lí thú chứ không nhàm chán, không phải là nhiệm vụ quá nặng nề đối với các em.

Bên cạnh đó, giáo viên chủ nhiệm cần kết hợp nhịp nhàng với giáo viên bộ môn như: Hát nhạc, Thể dục, Mỹ thuật, …

Qua tiết học toán, tiếng Việt với những con số, phép tính,tìm hiểu bộ phận câu, … chuyển sang tiết Âm nhạc các em được học những bài hát yêu quê hương, yêu thầy cô, bạn bè, kết hợp với những nốt nhạc đầy cảm xúc làm cho tâm hồn các em hoà cùng những tình cảm ấy, nốt nhạc ấy giúp cho các tiết học sau của học sinh dễ hơn, hiệu quả hơn.

Môn Thể dục trẻ được tập các bài thể dục, các trò chơi bổ ích, lí thú. Qua giờ học này, các em sẽ khoẻ hơn, thư giãn, vui vẻ, hứng thú đến trường, hào hứng đến lớp.

Tiết Mỹ thuật giúp các em tưởng tượng vẽ ra trường học, con vật, đường giao thông, về thầy cô giáo kính yêu, bố mẹ, chú bộ đội yêu quý, chúng tôi vào lòng các em biết bao tình cảm, tình yêu thể hiện qua nét vẽ, chiếc bút màu đầy mầu nhiệm. Chính những đồ dùng, tiết học tưởng chừng như đơn giản đó nhưng chưa đựng bao nhiêu điều hay, điều tốt về thế giới xung quanh của cuộc sống. Giúp các em bổ sung thêm vốn phong phú về cái đẹp trong tâm hồn non nớt của mình.

Để chất lượng dạy – học ngày càng cao và kịp với các trường bạn trong huyện nhà thì không những dạy học sinh biết kiến thức mà còn dạy các em có kiến thức, nhớ lâu và áp dụng kiến thức đó vào trong các môn học cũng như trong cuộc sống, để có được điều ấy thì bên cạnh người giáo viên truyền cho trẻ hứng thú và từ những bài học trên lớp để lớp học tiếp thu, liên hệ và áp dụng vào trong cuộc sống. Cần phối kết hợp nhịp nhàng với các đoàn thể như khi họp Đảng đồng chí Bí thư chi bộ luôn triển khai và trao đổi với giáo viên nhắc học sinh đi học đều, cần chuẩn bị kĩ bài và đồ dùng dạy học trước khi đến lớp.

Trong các buổi chào cờ đầu tuần thầy tổng phụ trách nhắc nhở: không bẻ cành, hái hoa, yêu thương mọi người, chăm học, đi học chuyên cần, khen ngợi kịp thời nhưng học sinh có thành tích trong học tập,…. Chính những điều đó đã hình thành đức tính tốt và tạo hứng thú cho các em đến trường.

Ngoài ra, giáo viên chủ nhiệm cần kết hợp với Tổng phụ trách Đội tổ chức một số hoạt động ngoại khoá ngoài giờ và xen kẽ các buổi học để thu hút học sinh đến trường.

Học sinh hứng thú đến trường, yêu thích môn học, chất lượng học tập được nâng lên. Học kì I vừa qua một số em đạt học sinh tiên tiến. Nhà trường, giáo viên, phụ huynh và học sinh rất phấn khởi.

II.4. Kết quả thu được qua khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu.

Qua một thời gian lớp có chuyển biến rõ rệt về chất lượng học tập. Trong giờ học có sự kết hợp giữa giáo viên và học sinh nhịp nhàng, tình trạng thụ động tiếp thu bài không còn nữa, không khí học tập trở nên sôi nổi, tiết học nhẹ nhàng, học sinh thực sự có hứng thú khi đến lớp, đến trường; đi học không phải là sự ép buộc mà đi học rất lí thú và cần thiết, là niềm vui mỗi ngày của các em.

So với trước khi áp dụng đề tài thì đa số các em đã rất yêu thích và thích đến trường chỉ còn một vài học sinh chưa thích trong lớp tôi áp dụng.

Đồng thời yêu thích đến trường vì theo các em đến trường tiếp thu những điều thú vị, thầy cô giáo rất gần gũi với các em, có nhiều bạn bè chơi rất vui,…

Các em đã có hứng thú đến trường, so với trước đây thì bây giờ các em đã chuẩn bị đồ dùng học tập và chuẩn bị bài chu đáo, đã tích cực tham gia vào các hoạt động học tập cũng như các hoạt động tập thể khác.

Trẻ thật sự muốn đến trường, đối với các em đến trường có những điều đầy thú vị và bổ ích. Trẻ hứng thú và yêu thích đến trường làm cho trẻ mạnh dạn hơn trong học tập, dẫn đến đã mạnh dạn, tự tin hơn trong giao tiếp,…

Khả năng giao tiếp giữa học sinh với giáo viên, giữa các em với nhau được gần gũi hơn. Học sinh bộc lộ lên những ý muốn, những sở thích riêng của mình với bạn bè với thầy cô.

Việc vận dụng những kinh nghiệm đó đã nâng cao hiệu quả của giờ lên lớp, phát huy được tính chủ động sáng tạo và tạo được niềm cảm xúc, sự hứng thú say mê thực sự đối với học sinh.

Trong quá trình nghiên cứu và qua kinh nghiệm dạy học, tôi rút ra một số kết luận sau :

Trong quá trình dạy học muốn đạt hiệu quả cao phải nắm được đặc điểm của từng môn học. Vì vậy, để học sinh hứng thú đến trường. Dạy học tốt các môn và đạt hiệu quả cao người giáo viên cần nắm được đặc điểm của từng môn trong chương trình và đòi hỏi đầu tiên theo tôi đó là sự tận tâm, nhiệt tình, yêu thương học sinh. Trong mỗi giờ dạy, người giáo viên phải tạo được sự say mê cho bản thân mình cũng như tạo hứng thú cho học sinh. Chuẩn bị tốt bài dạy, biết kết hợp hài hoà giữa các yếu tố cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, hoạt động dạy của giáo viên, hoạt động học sinh, kết hợp giữa giáo viên và phụ huynh, kết hợp giữa giáo viên và đoàn thể…tôi thiết nghĩ việc tạo hứng thú đến trường không còn là băn khoăn, vướng mắc của người giáo viên nữa.

Trường tôi, học sinh là con em dân tộc tại chỗ việc tiếp thu kiến thức rất hạn chế và khó khăn hơn nhưng chỉ sau một thời gian áp dụng các biện pháp, giải pháp trên tôi thấy kết quả tăng lên rõ rệt. Thông qua đây tôi thấy hoạt động dạy học được tiến hành nhẹ nhàng, sinh động. Các em được lôi cuốn vào quá trình học một cách tự nhiên, đến trường đầy hứng thú và có tinh thần trách nhiệm, đồng thời giải tỏa được những mệt mỏi căng thẳng trong quá trình học tập. Các giờ học sẽ nhẹ nhàng hơn, không còn khô khan, cứng nhắc, nhạt nhẽo nữa. Nội dung giáo dục mà giáo viên truyền đạt tới học sinh sẽ được các em tiếp thu dễ dàng hơn, hiệu quả hơn. Chất lượng dạy học được nâng lên. Vì thế, thiết nghĩ vấn đề này không chỉ áp dụng có hiệu quả riêng cho trường tôi mà có thể áp dụng hiệu quả đến những ai quan tâm đến vấn đề này.

Để nâng cao chất lượng học tốt và hứng thú đến trường cho học sinh, tôi xin có một vài đề xuất sau:

Về phía nhà quản lí giáo dục phải tăng cường nhiều biện pháp kiểm tra, giám sát quá trình dạy học một cách sát sao hơn.

Tiếp tục đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị cho nhà trường, có đầy đủ các bộ tranh ảnh, có sách tham khảo, các loại băng hình cho giáo viên phục vụ cho việc dạy học các môn.

Phát huy tối đa hiệu quả các buổi sinh hoạt chuyên môn để học hỏi kinh nghiệm của các đồng nghiệp, các trường có phong trào.

Cần có các buổi ngoại khoá, các trò chơi bổ ích ngoài giờ lên lớp nhiều hơn.

Về phía phụ huynh cần quan tâm, chú ý đến các môn học và tạo những thói quen tốt ngay từ nhỏ cho các em.

Áp dụng linh hoạt, sáng tạo các biện pháp dạy học trên cơ sở phát huy tính tích cực của học sinh.

Tôi xin chân thành cảm ơn !

– Công văn số 237/PGD&ĐT “V/v Triển khai làm Sáng kiến kinh nghiệm” Năm học 2013-2014.

– Danh ngôn về học tập.

– Luật giáo dục -1998

– Bùi Phương Nga, Lương Việt Thái…Khoa học 5/Tập 2 Bộ Giáo dục và Đào tạo

– Lê Chí Quế, Võ Quang Nhơn- Văn học dân gian Việt Nam – NXB Đại học Quốc gia Hà Nội – 1996…

– Nguyễn Minh Thuyết, Hoàng Hoà Bình, Trần Mạnh Hưởng…Sách giáo viên lớp 5 Nhà Xuất bản Giáo dục Việt Nam

– Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Thị Hạnh…Tiếng Việt 5/Tập 1, tập 2 Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Skkn Một Số Biện Pháp Tạo Hứng Thú Và Phát Huy Tính Tích Cực Cho Học Sinh Trong Học Tập Môn Khoa Học Lớp 4

Trang 1. Mở đầu …………………………………………………………………………………………….. 2 1.1. Lí do chọn đề tài …………………………………………………………………………… 2 1.2. Mục đích nghiên cứu ………………………………………………………………………. 2 1.3. Đối tượng nghiên cứu ……………………………………………………………………… 2 1.4. Phương pháp nghiên cứu …………………………………………………………………. 3 2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm…………………………………………………………… 3 2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm …………………………………………….. 3 2.2. Thực trạng vấn đề …………………………………………………………………………… 3 2.3. Các biện pháp thực hiện ………………………………………………………………….. 4 2.4. Hiệu quả của sáng kiến …………………………………………………………………… 18 3. Kết luận, kiến nghị …………………………………………………………………………… 19 3.1. Kết luận ……………………………………………………………………………………….. 19 3.2. Kiến nghị ………………………………………………………………………………………. 20 Tài liệu tham khảo ………………………………………………………………………………. 21 1. MỞ ĐẦU 1.1. Lý do chọn đề tài Ở Tiểu học, giúp các em có những hiểu biết về thế giới xung quanh, những hiện tượng khoa học, những vấn đề về thiên nhiên là mục tiêu quan trọng. Môn Khoa học cung cấp cho các em những kiến thức đó. Đó là môn học tích hợp những kiến thức của khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành phẩm chất, năng lực đạo đức của con người. Việc dạy môn Khoa học không chỉ nhằm tích luỹ kiến thức đơn thuần mà còn nhằm dạy cho học sinh tập làm quen với cách tư duy chặt chẽ mang tính khoa học, hình thành cho học sinh những năng lực cần thiết để thích ứng với thực tế cuộc sống và tiếp tục học tập sau này. Chính vì vậy, Khoa học là môn học quan trọng trong nhà trường. Bên cạnh đó, quá trình hội nhập của Việt Nam, các nước trong khu vực và trên thế giới đòi hỏi nền giáo dục nước nhà phải có những đổi mới trong mục tiêu và nội dung dạy học. Sự đổi mới này đòi hỏi phải có những đổi mới về phương pháp dạy học. Theo định hướng đó, phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tích tực, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp đặc điểm của từng lớp học, môn học. Không những thế, học sinh chỉ học tập đạt kết quả tốt khi yêu thích môn học đồng thời các em cũng tìm được cảm hứng từ môn học đó. Việc đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới hình thức tổ chức hoạt động là một việc làm không phải dễ và cũng không phải ngày một ngày hai mà làm được. Nó đòi hỏi một sự đầu tư lâu dài, một quá trình rèn luyện không ngừng của người giáo viên. Mỗi một sự cố gắng dù rất nhỏ trong nhận thức của giáo viên về đổi mới phương pháp, hình thức dạy học đều là động lực tạo hứng thú học tập cho các em học sinh, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học. Với những lý do nêu trên, để tạo hứng thú và phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập môn Khoa học đang là một đòi hỏi cấp bách cần giải quyết. Vì vậy, tôi đã đúc kết cho mình một số kinh nghiệm khi giảng dạy môn học này. Chính vì thế tôi chọn đề tài: “Một số biện pháp tạo hứng thú và phát huy tính tích cực cho học sinh trong học tập môn Khoa học lớp 4.” 1.2. Mục đích nghiên cứu: Mục đích nghiên cứu của sáng kiến nhằm: – Tìm hiểu các nguyên nhân vì sao học sinh chưa hứng thú, chưa tích cực học môn Khoa học. – Tìm ra các giải pháp nhằm giúp học sinh có hứng thú để các em tích cực hơn trong quá trình học tập môn học nói trên, từ đó góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả của phương châm giáo dục toàn diện cho học sinh. 1.3. Đối tượng nghiên cứu Học sinh lớp 4A và lớp 4B – Trường Tiểu học Hermann Gmeiner 1.4. Phương pháp nghiên cứu: Để thực hiện đề tài này tôi đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau: – Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Sự hứng thú và tính tích cực học tập của học sinh. – Phương pháp điều tra: Khảo sát đánh giá thực trạng tính tích cực học tập của học sinh. – Phương pháp quan sát – Phương pháp thống kê – Phương pháp phân tích tổng hợp 2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2. 1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm Như chúng ta đã biết, học sinh tiểu học là lứa tuổi học tập theo hứng thú và chủ yếu là cảm tính. Đồng thời lứa tuổi này còn mang các đặc điểm tâm lý hồn nhiên, ngộ nghĩnh và hiếu động. Các em thích vui chơi, thích các trò chơi vui nhộn “vừa chơi, vừa học”. Mặt khác đối với học sinh tiểu học việc ghi nhớ thì rất nhanh nhưng để nhớ một nội dung, một vấn đề nào đó thì lại rất khó cho nên các nhà khoa học đã nhận định rằng lứa tuổi học sinh tiểu học là lứa tuổi “Chóng nhớ, mau quên”. Muốn học sinh nhớ được vấn đề nào đó thì ngoài việc thường xuyên phải củng cố, ôn tập về nội dung cần nhớ thì việc tạo cho các em cảm giác hứng thú và say mê với nội dung cần ghi nhớ, chắc chắn rằng các em sẽ dễ tiếp thu, dễ nhớ và nhớ lâu hơn. Đồng thời lứa tuổi học sinh tiểu học là lứa tuổi mang đặc điểm nhận thức, tư duy trực quan và cụ thể. Các em không những nhận thức tốt các vấn đề mang tính cụ thể mà còn rất có hứng thú khi khai thác, tìm hiểu các vấn đề mang tính cụ thể, đồng thời các em cũng rất ưa thích các vấn đề trực quan mang tính bắt mắt mà các em có thể quan sát một cách dễ dàng. Ở trường Tiểu học việc xây dựng chương trình học tập cho học sinh được chia theo hai giai đoạn: Giai đoạn lớp 1, 2, 3 và giai đoạn lớp 4, 5. Nếu như ở các lớp 1, 2, 3 việc nắm bắt kiến thức của học sinh còn ở mức sơ giản thì chương trình của lớp 4, 5 đã mở rộng hơn rất nhiều. Kiến thức về tự nhiên, xã hội được mở rộng hơn, thể hiện rõ ở môn Khoa học. Với chương trình lớp 4 môn Khoa học được tích hợp các kiến thức như: vật lý, sinh học, hoá học và một số kiến thức của môn sức khoẻ cũ cũng được tích hợp vào môn học này. Do đó các nội dung kiến thức của môn học này mang tính trừu tượng, yêu cầu học sinh phải ghi nhớ. Đồng thời đối với học sinh lớp 4 là lớp bản lề của hai giai đoạn: Giai đoạn lớp 1, 2, 3 và giai đoạn lớp 4, 5. Mặt khác, lớp 4 cũng là lớp học bắt đầu của việc tách môn học “Tự nhiên – Xã hội” thành các môn Khoa học, Lịch sử, Địa lý và cũng là lớp tạo nền tảng cho việc học tập và tìm hiểu kiến thức các môn học này ở lớp 5 và các lớp trên. Vì vậy để “tạo hứng thú và phát huy tính tích cực” cho học sinh khi học môn Khoa học ở lớp 4 là hết sức cần thiết. 2.2. Thực trạng vấn đề Qua một số tiết dạy những ngày đầu năm học, tôi nhận thấy một tồn tại trong việc học môn Khoa học của học sinh lớp 4A là các em ngại học, không hào hứng. Chính vì ngại, không hứng thú nên tính tích cực học tập của các em còn rất yếu, thể hiện qua một số dấu hiệu sau: + Học sinh ít giơ tay phát biểu ý kiến của mình về các vấn đề giáo viên nêu ra (chỉ có khoảng 10% số học sinh cả lớp tham gia phát biểu ý kiến xây dựng bài trong mỗi tiết học). + Nếu được hỏi, học sinh chủ yếu lệ thuộc vào sách giáo khoa, ít tư duy. + Không thắc mắc hay đòi hỏi giáo viên phải giải thích cặn kẽ những vấn đề mà mình chưa hiểu rõ. + Không khí của lớp rất buồn tẻ, trầm lắng hoặc ít sôi nổi khi học sinh không thực hiện được yêu cầu của giáo viên. + Học sinh không có thói quen sưu tầm tư liệu phục vụ bài học; nếu có thì số lượng tranh rất ít, chất lượng sưu tầm chưa đúng yêu cầu bài học. Những thực tế nói trên bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân nhưng có một nguyên nhân mà tôi cho là cơ bản nhất là: chúng ta (bao gồm tôi và các đồng nghiệp) từ trước đến nay chưa tạo được hứng thú hay nói cách khác là chưa làm sao để cho các em học sinh thích thú khi học các tiết Khoa học. Do đó các em cũng chưa phát huy được tính tích cực khi học môn học này, vì vậy mà kết quả học tập là chưa cao. Vào đầu năm học tôi đã tiến hành điều tra các tiết học Khoa học tại lớp 4A (25 học sinh) tôi thu được kết quả như sau: Tổng số học sinh Hứng thú, tích cực với tiết học Thờ ơ với tiết học 25 Số lượng Tỉ lệ Số lượng Tỉ lệ 4 16% 21 84% Từ kết quả thu được cho thấy tình trạng học sinh lười học, ngại học thật đáng lo, tỉ lệ học sinh ham thích và chủ động học tập còn quá thấp, tỉ lệ học sinh không hứng thú với môn học quá nhiều (trên 80%). Từ thực trạng nói trên, tôi thấy cần phải thay đổi thói quen học tập của học sinh đối với môn học Khoa học. Qua quá trình giảng dạy, tôi đã rút ra được một vài biện pháp giúp học sinh có niềm yêu thích và tích cực học môn Khoa học hơn, tôi xin mạnh dạn trình bày một số biện pháp như sau: 2.3. Các biện pháp thực hiện Biện pháp 1: Khuyến khích học sinh sưu tầm tư liệu và đồ dùng học tập phục vụ bài học. Sách giáo khoa hiện nay đóng vai trò quan trọng trong phần cung cấp kiến thức cho học sinh. Tuy nhiên, ở một số bài học, tư liệu sưu tầm lại đóng vai trò quan trọng và cần thiết trong việc giúp học sinh chủ động, phát hiện, chiếm lĩnh kiến thức bài học, chứ không phải tiếp nhận kiến thức một cách thụ động. Một tiết học đạt hiệu quả tùy thuộc vào sự chuẩn bị của giáo viên và học sinh trước buổi học đó. Vì vậy, giáo viên luôn khuyến khích học sinh chuẩn bị bài cho ngày hôm sau từ việc xem trước bài cho đến việc chuẩn bị các đồ dùng cần thiết cho bài học sẽ giúp các em có ý thức hơn trong việc học của mình. Cách làm này rất phù hợp với quá trình nhận thức của học sinh, giúp các em hứng thú học tập đồng thời bước đầu hình thành phương pháp nghiên cứu khoa học, chuẩn bị cho các em tiếp tục học lên các lớp trên. * Ví dụ bài 7: Tại sao cần ăn phối hợp nhiều loại thức ăn? Học sinh sưu tầm các đồ chơi bằng nhựa như: gà, cá, tôm, cua,… Mục đích của việc sưu tầm là giúp các em phân loại nhóm thức ăn cần ăn đủ, ăn có mức độ, ăn ít và ăn hạn chế. Đồng thời đó cũng là dụng cụ để các em tham gia trò chơi học tập theo nhóm. * Ví dụ bài 54: Nhiệt cần cho sự sống. Học sinh sưu tầm ảnh về các loài động vật, thực vật. Học sinh làm việc theo nhóm với yêu cầu sau: – Phân loại tranh ảnh sưu tầm theo sự phân bố của chúng trên trái đất như sau: + Động vật, thực vật sống ở xứ lạnh, băng tuyết quanh năm. + Động vật, thực vật sống ở vùng ôn đới. + Động vật, thực vật sống ở vùng nhiệt đới. + Động vật, thực vật sống ở vùng sa mạc. – Nhận xét các vùng khí hậu (có nhiều loài vật, cây sinh sống hoặc ít loài sinh sống). Trên cơ sở tranh ảnh sưu tầm, học sinh tự rút ra kết luận về vai trò của nhiệt đối với đời sống sinh vật. Để việc sưu tầm tư liệu mang lại hiệu quả cao, tôi áp dụng một số các làm như sau: + Hướng dẫn học sinh phân loại tranh theo yêu cầu của bài học. + Sử dụng tư liệu sưu tầm của học sinh các khoá trước. + Đánh giá, động viên việc sưu tầm tư liệu của học sinh. + Giáo viên thường xuyên bổ sung tư liệu, kiến thức ngoài sách giáo khoa trong các tiết học. * Ví dụ bài 58: Nhu cầu nước của thực vật Học sinh sưu tầm tranh, ảnh, một số cây thật. Học sinh sẽ làm việc theo nhóm với các yêu cầu: – Phân loại các loại cây đã sưu tầm theo 4 nhóm sau đây; + Cây chịu được khô hạn + Cây sống trên cạn ưa ẩm ướt + Cây sống dưới nước + Cây vừa sống trên cạn vừa sống dưới nước – Nhận xét về nhu cầu nước của mỗi loài cây Sau khi tìm hiểu và phân loại từ những tranh, ảnh, cây đã sưu tầm, học sinh tự rút ra được kết luận về nhu cầu nước của mỗi loài cây (Mỗi loài cây có nhu cầu về nước khác nhau). Biện pháp 2: Rèn học sinh tự làm các thí nghiệm đơn giản. * Phương pháp thí nghiệm có tác dụng : + Giúp học sinh đi sâu vào tìm hiểu bản chất các sự vật, hiện tượng, sự vật tự nhiện. + Thí nghiệm được sử dụng như “nguồn” dẫn học sinh đi tìm tri thức mới, vì thế các em sẽ hiểu sâu nhớ lâu. + Rèn luyện cho học sinh một số kĩ năng: đặt thí nghiệm, lắp ráp dụng cụ thí nghiệm, quan sát diễn biến thí nghiệm, … * Để dạy học theo phương pháp thí nghiệm thông thường cần tuân theo các bước sau: a) Xác định mục đích của thí nghiệm: Các thí nghiệm trong chương trình khoa học 4 có thể phân thành 3 loại chính: – Loại nghiên cứu mối quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả. – Loại nghiên cứu điều kiện (cái này là điều kiện của cái kia hoặc hiện tượng kia). – Loại nghiên cứu tính chất của một vật. b) Vạch kế hoạch tiến hành thí nghiệm: Liệt kê những dụng cụ thí nghiệm cần có và những điều kiện để tiến hành thí nghiệm.Vạch kế hoạch cụ thể (Làm gì trước? Làm gì sau?). – Thực hiện thao tác gì? Trên vật nào ? – Quan sát dấu hiệu gì? Ở đâu? Bằng giác quan nào hoặc phương tiện nào? c) Tiến hành thí nghiệm Bố trí, lắp ráp và làm thí nghiệm theo các bước đã vạch ra. * Khi làm thí nghiệm, giáo viên cần nắm vững và thực hiện các yêu cầu sau: + Học sinh phải chọn ra được một số yếu tố riêng có thể khống chế được để nghiên cứu hoặc phải tác động lên hiện tượng, sự vật cần nghiên cứu. + Học sinh cần phải theo dõi, quan sát các hiện tượng xảy ra trong thí nghiệm. + Học sinh cần biết thiết lập các mối quan hệ (nguyên nhân – kết quả) giải thích các kết quả thí nghiệm để rút ra kết luận. + Các điều kiện và quá trình được kiểm soát là thiết yếu đối với một số thí nghiệm. + Chú ý đảm bảo an toàn cho học sinh khi làm thí nghiệm. d) Phân tích kết quả và kết luận: Phần này, giáo viên cần hướng dẫn học sinh chú ý đến các dấu hiệu bản chất. Dạy học sinh cách so sánh, suy luận khái quát để rút ra kết luận. – Lưu ý: Tuỳ từng thí nghiệm, tuỳ trình độ học sinh, giáo viên có thể yêu cầu học sinh làm thí nghiệm ở các mức độ khác nhau: – Học sinh nghiên cứu thí nghiệm được trình bày trong sách giáo khoa đưa ra giả thuyết, giải thích và kết luận. – Giáo viên làm mẫu, học sinh làm theo. – Giáo viên giao nhiệm vụ, giúp đỡ học sinh từng bước tiến hành thí nghiệm thông qua phiếu học tập hoặc chỉ dẫn bằng lời. – Giáo viên giao nhiệm vụ, học sinh tự làm, giáo viên theo dõi và đưa ra chỉ dẫn kịp thời nếu thấy cần thiết. Vì thế trừ một số thí nghiệm đòi hỏi tính chính xác cao phải do giáo viên thực hiện (ví dụ bài 31: thí nghiệm chứng minh tính chất của không khí: Không khí nở ra khi nóng lên và co lại khi lạnh đi; bài 37: Thí nghiệm chứng minh không khí chuyển động từ nơi lạnh đến nơi nóng, không khí chuyển động tạo thành gió) các thí nghiệm nêu ở sách giáo khoa, tôi chia lớp thành nhiều nhóm để thực hành. Đối với mỗi thí nghiệm yêu cầu học sinh thực hiện đúng theo các bước sau: Bước 1: Chuẩn bị dụng cụ. Bước 2: Tiến hành thí nghiệm. Bước 3: Quan sát thí nghiệm. Bước 4: Giải thích thí nghiệm * Ví dụ bài 35: Không khí cần cho sự cháy Hoạt động 1: Tìm hiểu vai trò của ô – xi đối với sự cháy Mục tiêu: Làm thí nghiệm chứng tỏ: Càng có nhiều không khí càng có nhiều ô – xi để duy trì sự cháy được lâu hơn Bước 1: Chuẩn bị: + Hai lọ thủy tinh ( 1 lọ to, 1 lọ nhỏ) + Hai cây nến bằng nhau Bước 2: Cách tiến hành Giáo viên cho học sinh đọc cách tiến hành trong SGK để học sinh nắm được cách làm thí nghiệm như sau: + Lấy 2 lọ thủy tinh cùng úp đồng thời vào 2 cây nến đang cháy + Quan sát sự cháy của các ngọn nến Bước 3: Quan sát thí nghiệm – Học sinh quan sát để thấy được ngọn nến trong lọ thủy tinh to thời gian cháy dài hơn, ngọn nến trong lọ thủy tinh nhỏ thời gian cháy ngắn hơn. Bước 4: Giải thích hiện tượng Học sinh dựa vào các thành phần của không khí để giải thích hiện tượng cây nến trong lọ thủy tinh to cháy lâu hơn cây nến trong lọ thủy tinh nhỏ như sau: Nến trong lọ thủy tinh cháy lâu hơn vì lượng không khí ở trong lọ nhiều hơn nên lượng ô – xi nhiều hơn. Còn nến trong lọ thủy tinh nhỏ tắt nhanh hơn vì lượng không khí trong lọ nhỏ ít hơn nên lượng ô – xi ít hơn. Sau đó học sinh rút ra kết luận: Ô – xi trong không khí cần cho sự cháy. Càng có nhiều không khí thì càng có nhiều ô – xi để duy trì sự cháy lâu hơn. Vì vậy cần có không khí để duy trì sự cháy. (Học sinh quan sát thí nghiệm để rút ra nhận xét) * Ví dụ bài 52: Vật dẫn nhiệt và vật cách nhiệt. Hoạt động 2: Chứng minh không khí là vật cách nhiệt. Bước 1: Chuẩn bị: + Hai chiếc cốc như nhau. + Hai tờ giấy báo. + Nước nóng. + Nhiệt kế. Bước 2: Cách tiến hành: + Lấy một tờ giấy báo quấn thật chặt vào cốc thứ nhất. + Lấy tờ báo còn lại làm nhăn và quấn lỏng vào cốc thứ hai để có nhiều chỗ chứa không khí giữa các lớp giấy. + Đổ vào hai cốc nước một lượng nước nóng như nhau. + Sau một thời gian đo nhiệt độ nước trong hai cốc. – Nhận xét: Nước trong cốc nào nóng hơn Giáo viên chỉ làm mẫu cách quấn giấy vào cốc sau đó yêu cầu học sinh tiến hành thí nghiệm theo nhóm 4. Bước 3: Quan sát thí nghiệm Học sinh đo và ghi lại nhiệt độ của từng cốc sau mỗi lần đo. Lần 1: Nước trong cốc được quấn giấy báo nhăn và không buộc chặt có nhiệt độ cao hơn nước trong cốc được quấn giấy báo thường chặt Lần 2: Đo cách lần một 5 phút, nước trong cốc được quấn giấy báo nhăn và chặt vẫn có nhiệt độ cao hơn nước trong cốc được quấn giấy báo thường chặt. Bước 4: Giải thích hiện tượng Học sinh dựa vào tính chất của không khí để giải thích hiện tượng nước trong cốc quấn giấy báo nhăn quấn lỏng còn nóng hơn nước trong cốc quấn giấy báo thường và quấn chặt như sau: Nước trong cốc quấn giấy báo nhăn quấn lỏng còn nóng hơn vì giữa các lớp báo quấn lỏng có chứa rất nhiều không khí nên nhiệt độ của nước truyền qua cốc, lớp giấy báo và truyền ra ngoài môi trường ít hơn, chậm hơn nên nó còn nóng lâu hơn. Sau đó học sinh tự rút ra kết luận không khí là vật cách nhiệt. * Ưu điểm của biện pháp này là: – Học sinh có kỹ năng thao tác thành thạo trong việc thực hiện thí nghiệm dưới sự hướng dẫn của giáo viên. – Học sinh được trực quan (mắt thấy, tai nghe hoặc cảm nhận qua các giác quan) các hiện tượng, kết quả thí nghiệm, chứ không bị áp đặt, chấp nhận kết quả thí nghiệm một cách gián tiếp thông qua sách giáo khoa. Biện pháp 3: Tăng cường việc học tập theo nhóm để phát huy tính tích cực của học sinh. Hoạt động nhóm là một hoạt động học tập tích cực. Cụ thể là: – Đem lại cho học sinh cơ hội được sử dụng các kiến thức và kỹ năng mà các em được lĩnh hội và rèn luyện. – Cho phép học sinh diễn đạt những ý tưởng, những khám phá của mình. – Mở rộng suy nghĩ và thực hành các kỹ năng tư duy (so sánh, phân tích, tổng hợp, đánh giá …). – Hoạt động nhóm giúp các em rèn luyện và phát triển kỹ năng làm việc, kỹ năng giao tiếp, tạo điều kiện cho học sinh học hỏi lẫn nhau, phát huy vai trò trách nhiệm, tính tích cực xã hội trên cơ sở làm việc hợp tác. Thông qua hoạt động nhóm, các em có thể cùng làm với nhau những công việc mà một mình không thể tự làm được trong một thời gian nhất định. – Hình thức dạy học theo nhóm góp phần hình thành và phát triển các mối quan hệ qua lại trong học sinh, đem lại bầu không khí đoàn kết, giúp đỡ, tin tưởng lẫn nhau trong học tập. – Tổ chức cho học sinh học tập theo nhóm giúp các em học sinh nhút nhát, khả năng diễn đạt kém có điều kiện rèn luyện, tập dượt, từ đó tự khẳng định mình trong sự hấp dẫn của hoạt động nhóm. – Khi dạy học nhóm, giáo viên sẽ có dịp tận dụng các kinh nghiệm và sự sáng tạo của học sinh trong học tập. * Muốn hoạt động nhóm đạt kết quả tốt cần đảm bảo các yêu cầu sau: – Mỗi thành viên trong nhóm đều biết và hiểu công việc của nhóm, của bản thân. – Mỗi thành viên đều tích cực suy nghĩ và tham gia vào các hoạt động của nhóm (như phát biểu ý kiến, tranh luận …). – Mọi thành viên đều lắng nghe ý kiến của nhau, thoải mái khi phân tích và nói ra những điều mình suy nghĩ. –

Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Học Tập Môn Âm Nhạc Cho Hs Lớp 5

Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng học tập môn Âm nhạc cho hs lớp 5

1

Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng học tập môn Âm nhạc cho hs lớp 5

Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng học tập môn Âm nhạc cho hs lớp 5

3

Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng học tập môn Âm nhạc cho hs lớp 5

– Với cách thức thực hiện của đề tài này: Giúp học sinh tham gia tích cực trong quá trình học tập, hứng thú khi tìm tòi và sáng tạo vấn đề; hào hứng khi trình bày sáng tạo của mình. – Đề tài này là động lực giúp học sinh tham gia tích cực vào các hoạt động văn hoá văn nghệ do trường lớp, Đoàn, Đội và các đơn vị văn hoá trong địa bàn tổ chức, tham gia có kết quả ngày một tốt hơn, góp phần phát triển khả năng ca hát của chính mình. Giúp các em hoà mình vào tập thể, rèn luyện sức khoẻ, rèn luyện toàn diện nhân cách đồng thời đảm bảo nguyên tắc “Lấy thực hành làm sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình học tập của học sinh”.

B. PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN I. MỤC TIÊU CHUNG: Trước sự phát triển và đổi mới của xã hội, của ngành, môn Âm nhạc được đặt một vị trí quan trọng trong nhà trường phổ thông. Luôn được các cấp, các ngành quan tâm tạo điều kiện cho giáo viên dạy Âm nhạc kể cả về vật chất lẫn tinh thần. Trang thiết bị dạy học ngày càng được đầu tư đầy đủ hơn, đặc biệt là có cái nhìn đúng đắn hơn đối với môn Âm nhạc. – Tăng cường và phát huy năng lực cảm thụ Âm nhạc cho học sinh nói chung, tạo cho các em có năng khiếu có cơ hội khẳng định mình trước tập thể bạn học trong trường và ngoài xã hội. Từ đó góp phần phát triển về đức – trí thể – mĩ cho học sinh. – Tạo điều kiện cho học sinh phát triển tư duy và năng lực cảm thụ bằng nhiều hình thức như: Biểu diễn văn nghệ chào mừng các ngày lễ lớn, tổ chức Hội thi giọng hát hay (cấp tiểu học). Qua đó Âm nhạc có tác dụng mạnh mẽ đến từng học sinh, bổ sung vốn hiểu biết nhằm hướng tới “chân – thiện – mĩ” và làm cho đời sống tinh thần của các em tươi đẹp hơn. – Học Âm nhạc cần có kĩ năng khi hát, khi đọc các bài tập đọc nhạc và hiểu biết thêm về một số bài dân ca chọn lọc, truyện kể hay, góp phần vào trí tưởng tượng phong phú và làm cho con người các em thoải mái hơn trong mọi giờ học. II. ĐẶC THÙ CHƯƠNG TRÌNH MÔN ÂM NHẠC LỚP 5: (1 tiết/tuần x 35 tuần = 35 tiết) GVTH: Nguyễn Thị phương Thảo Trang

4

Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng học tập môn Âm nhạc cho hs lớp 5

Việc học Âm nhạc ở các lớp dưới (lớp 1, 2, 3) chủ yếu là học hát và một số động tác vận động phụ họa. Nhờ đó học sinh được rèn về cảm tính, trí nhớ và rèn về tính chính xác cao độ – tiết tấu trong học hát. Từ đó các em có được kĩ năng để hỗ trợ cho những lớp cuối cấp và bước vào cấp 2. Bước vào lớp 4 Âm nhạc tách riêng thành một môn độc lập, có thể nói đến lớp 5 là “giai đoạn 2” học sinh được học Âm nhạc không gắn liền với môn nghệ thuật. Cụ thể về chương trình lớp 5 gồm: Học hát, khả năng phát triển Âm nhạc, Tập đọc nhạc. * Về học hát: – Củng cố, ôn tập một số bài hát đã học ở lớp 4. – Đựơc học 12 bài hát, trong đó có 02 bài dân ca (1 bài dân ca Khơ me Nam Bộ, 1 bài dân ca dân tộc H’rê Tây Nguyên) và một bài hát nhạc nước ngoài (Trung Quốc). Hiểu được nội dung của mỗi bài hát khi đã được học giai điệu. – Hát đúng những ký hiệu trong bài như: dấu luyến hoa mĩ, luyến 2 – 3 âm, biết lấy hơi và giữ hơi khi hát. – Biết thể hiện sắc thái tình cảm của tác phẩm khi trình bày bài hát trước tập thể. Đặc biệt là tạo được sự tự tin khi hát trước đông người từ đó các em mạnh dạn và tự hào hơn. * Về khả năng phát triển Âm nhạc: – Nhận biết một số loại nhạc cụ Việt Nam và một số nhạc cụ nước ngoài. Hiểu biết các ký hiệu như: Dấu nhắc lại, khung thay đổi. – Đọc và tìm hiểu hai truyện kể Âm nhạc: trong đó có một truyện kể về nhạc sĩ thiên tài người Đức đó là nhạc sĩ Bét tô ven; các em được nghe các bài hát dân ca chọn lọc, được làm quen với cách đánh nhịp 2/4. – Hình nốt trắng, nốt đen, nốt móc đơn, dấu lặng đen, dấu lặng đơn. – Biết viết một số nốt nhạc trên khuông. * Về tập đọc nhạc: – Học 8 bài tập đọc nhạc, làm quen với thang 5 âm: Đô Rê Mi Son La.

Cảm nhận được cao độ của các nốt nhạc và nhận biết được vị trí của các nốt nhạc trên khuông nhạc.

GVTH: Nguyễn Thị phương Thảo Trang

5

Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng học tập môn Âm nhạc cho hs lớp 5

– Được hát lời ca của 8 bài tập đọc nhạc khi đã đọc chuẩn về cao độ và tiết tấu.

CHƯƠNG II: CƠ SỞ THỰC TIỄN I. THỰC TRẠNG NHÀ TRƯỜNG VÀ ĐỊA PHƯƠNG. Trường TH Nguyễn Thị Minh Khai có 04 điểm trường, điểm trường chính đóng tại nông trường Cưkpô – Huyện Krông Buk – Đăk Lăk. Trường có tổng số 25 lớp với tổng số học sinh là 630 em. Về đội ngũ cán bộ giáo viên gồm: 39 người. + CB_ GV đạt trình độ chuẩn: 100% + CB_GV đạt trình độ trên chuẩn: 64,1% – Những năm trước đây, do nền kinh tế của địa phương còn nhiều khó khăn dân chủ yếu là làm nông, công nhân cạo mủ cao su, trình độ nhận thức còn nhiều hạn chế sự quan tâm của chính quyền địa phương chưa đúng mực và khó khăn hơn là sự quan tâm của phụ huynh học sinh đối với bộ môn Âm nhạc chưa có. – Cơ sở vật chất chưa có, việc đầu tư trang thiết bị cho môn học còn hạn chế. Do đó việc truyền đạt và giúp các em tiếp thu kiến thức Âm nhạc là hết sức khó khăn, thậm chí những kiến thức đó đến với các em hết sức trừu tượng. Việc truyền thụ các bài hát chỉ qua phương pháp truyền khẩu thuần tuý, ít phát triển khả năng tư duy của các em. Do đó không tạo được sự thu hút, ít gây hứng thú học tập cho các em. II. NGUYÊN NHÂN: * Chủ quan: – Mức độ nhận thức của học sinh vẫn còn rất hạn chế (nhất là ở các điểm trường phân hiệu) đa số chưa hiểu tầm quan trọng của bộ môn. Mặt khác phụ huynh chưa có ý thức quan tâm việc học của con em mình. * Khách quan: – Trường có nhiều cụm lẻ lại cách xa trung tâm nên học sinh ít được giao lưu học hỏi. – Những năm học trước đây việc giảng dạy bộ môn Âm nhạc được giao cho giáo viên đứng lớp giảng dạy, không có giáo viên chuyên biệt. Bên cạnh đó là sự thiếu hụt các phương tiện dạy học, đặc biệt là nhạc cụ, cùng với những phương pháp giảng dạy cũ kỹ, giáo viên lại chưa gần gũi với học sinh. GVTH: Nguyễn Thị phương Thảo Trang

6

Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng học tập môn Âm nhạc cho hs lớp 5

Việc dạy hát và dạy đọc nhạc theo phương pháp truyền miệng khô cứng. Do đó kết quả đạt được là chưa cao, ít gây hứng thú cho các em trong việc học tập và tiếp thu kiến thức của bộ môn. III. ĐIỀU TRA KHẢO SÁT KHỐI LỚP 5: * Điều tra động cơ học tập: Dựa vào cơ sở lý luận đã có cùng với thời gian giảng dạy tạỉ trường Tiểu học Nguyễn Thị Minh Khai, tôi đã tìm hiểu khả năng học tập bộ môn Âm nhạc của học sinh khối lớp 5 tại trường chính có 4 lớp với tổng số: 110 học sinh. Bằng việc quan sát thực tế các giờ học tôi nhận thấy việc tiếp thu các kiến thức Âm nhạc và sự yêu thích học tập bộ môn chỉ rơi vào một số em gọi là có năng khiếu. Còn lại các em khác chỉ học theo bản năng phải học nên ít có sự sáng tạo trong vận dụng kiến thức. Trên cơ sở đặt câu hỏi qua phiếu điều tra trắc nghiệm: Em có thích học bộ môn Âm nhạc không? Vì sao thích? Vì sao không? Kết quả thu đươc như sau: STT

NGUYÊN NHÂN

KẾT QUẢ Tổng số học sinh: 110 em

Do môn Âm nhạc hấp dẫn, dễ học Do môn Âm nhạc khó nhớ, hay quên Do thầy cô dạy hay, dễ hiểu

55/110 HS = 50% 25/110 HS = 22,7% 30/110 HS = 27,3%

* Khảo sát trình độ học sinh: a) Nội dung: Khảo sát chất lượng học tập đầu năm 2009 – 2010 của học sinh qua việc trình bày một bài hát hoặc đọc một bài tập đọc nhạc mà em đã học ở lớp 4. b) Kết quả: Học sinh hát và đọc 1 bài tập đọc nhạc (TĐN) Tổng Hát đúng, đọc đúng Biết hát và đọc số học bài TĐN và trình TĐN nhưng sinh bày diễn cảm. chưa chính xác SL TL SL TL GVTH: Nguyễn Thị phương Thảo Trang

Ghi chú

7

Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng học tập môn Âm nhạc cho hs lớp 5

110

25

22,7%

50

45,5%

35

31,8%

Qua khảo sát chất lượng học tập môn Âm nhạc của học sinh khối lớp 5, với số liệu khảo sát cho thấy chất lượng học tập của các em còn rất yếu. Đây là một khó khăn lớn cho giáo viên trực tiếp giảng dạy bộ môn. Song bằng lòng yêu nghề, nhiệt tình và hiểu biết của mình đúc rút trong nhiều năm giảng dạy tôi tìm tòi và chọn ra biện pháp tối ưu nhằm đem đến cho học sinh một cái nhìn đúng đắn về tầm quan trọng của môn Âm nhạc trong nhà trường và trong

cuộc sống. Từ đó các em mạnh dạn hơn, hiểu biết hơn, nhận thức đúng hơn nhằm nâng cao chất lượng học tập đối với môn Âm nhạc.

CHƯƠNG III: NỘI DUNG ĐỀ TÀI MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HỌC TẬP MÔN ÂM NHẠC CHO HỌC SINH LỚP 5 Trước những khó khăn trên, là giáo viên công tác tại một trường cách xa trung tâm phải nói rằng gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên, bằng lòng yêu nghề mến trẻ tôi đã tìm tòi, nghiên cứu và tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến học sinh học yếu môn Âm nhạc trong nhà trường. Từ đó tôi mạnh dạn đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng học tập môn Âm nhạc cho học sinh khối lớp 5. Cụ thể các giải pháp được thực hiện như sau: I. GIẢI PHÁP THỨ NHẤT: Gây tình thương, tạo sự tự tin, tránh mặc sự cảm. Về phía học sinh tôi luôn yêu quý các em như con của mình, tận tình, ân cần, luôn theo dõi và gần gũi đối với các em chưa biết hát, chưa biết đọc tập đọc nhạc hoặc đọc sai quá nhiều. Tôi thường xuyên nhắc nhở giảng giải cho các em hiểu và nắm bắt nội dung trong giờ học Âm nhạc. Điều quan trọng nhất là tránh trường hợp tạo ra khoảng cách giữa giáo viên và học sinh. Sau khi đã hướng dẫn xong tôi hát và đọc cho các em thực 8 GVTH: Nguyễn Thị phương Thảo Trang

Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng học tập môn Âm nhạc cho hs lớp 5

hiện lại, kết quả có tiến bộ và tốt hơn trước rất nhiều. Ở đây điều quan trọng là tôi luôn tạo niềm tin cho các em, tránh sự bi quan, mặc cảm. Luôn tạo cho lớp học một không khí thoải mái, vui tươi; xây dựng tinh thần đoàn kết giúp đỡ nhau để các bạn yếu tiến bộ dần trong học tập và theo kịp với các bạn học khá trong lớp. Ví dụ: Qua những tiết có nội dung kể chuyện, ngoài việc kể cho học sinh nghe tôi còn lồng ghép thêm một vài động tác phụ họa, hài hước theo cốt truyện để tạo sự vui tươi hứng khởi và sự tập trung chú ý của học sinh. Qua đó

các em cảm nhận nhận được nội dung câu chuyện kể và thích thú hơn khi được học Âm nhạc. II. GIẢI PHÁP THỨ HAI: Tìm hiểu đối tượng học sinh Trong chương trình dạy học Âm nhạc nhằm đảm bảo kết quả việc tiếp thu và vận dụng lý thuyết vào hoạt động thực tiễn. Khi dạy hát, tập đọc nhạc, giáo viên là người cung cấp kiến thức mới cần tiến hành theo một số thao tác tư duy để kích thích hứng thú tìm hiểu, thể hiện, giúp học sinh nắm chắc cảm âm và tìm ra cách trình bày đúng đắn nhất. Tránh áp đặt máy móc những quy tắc mà học sinh chưa được gợi mở suy nghĩ để thực hiện một cách tự giác. Vì đối tượng ở đây là học sinh vùng II lại cách xa trung tâm gia đình còn khó khăn, nên rất khó khăn đối với các em trong tất cả các môn học nói chung, môn Âm nhạc nói riêng. Từ đó tôi luôn dẫn dắt từng bước để các em hiểu được yêu cầu của bài hát, bài tập đọc nhạc đồng thời không nên áp đặt làm cho các em sẽ chán nản và dẫn đến sẽ nghỉ học khi có tiết Âm nhạc. Ví dụ: Những tiết ôn hát (tiết 8, 17, 28, 33, 34 SGK Âm nhạc 5) kiểu bài rèn luyện kỹ năng, năng khiếu trình bày trên cơ sở thực hiện việc chuyển đổi hiện tượng âm thanh và phối hợp vận động phụ họa (tiếp nhận qua thị giác và thính giác). Nên giáo viên cần thể hiện mẫu, học sinh nghe – nhìn và thực hiện theo đầy đủ với tốc độ đã được định hình từ tiết học trước. Còn trong quá trình hoạt động vận động phụ họa thì phải phối hợp nhịp nhàng, chính xác nên yêu cầu giáo viên cần thực hiện mẫu từ chậm đến nhanh để phù hợp với mức độ tiếp thu của từng đối tượng học sinh. III. GIẢI PHÁP THỨ BA: Phân loại đối tượng học sinh Đây là một giải pháp quan trọng, người giáo viên cần xây dựng đôi bạn cùng tiến giúp đỡ nhau trong học tập. Tôi cho những em học khá hơn (hát và đọc hay hơn, trình bày đúng hơn) giúp đỡ các bạn còn yếu trong học tập. GVTH: Nguyễn Thị phương Thảo Trang

9

Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng học tập môn Âm nhạc cho hs lớp 5

Trường hợp có những em học quá yếu thì tôi trực tiếp hướng dẫn chi tiết, cụ thể hơn, sau đó phân chia nhóm từng loại đối tượng theo mức độ tiếp thu bài. Ví dụ: Những tiết học hát (gồm 12 tiết), sau khi truyền thụ cho học sinh hát hết bài hát tôi chia lớp thành nhiều nhóm, chọn những học sinh khá cùng phụ trách nhóm giúp đỡ các bạn học sinh học yếu khắc phục những chỗ chưa thực hiện đúng. Sau đó kết hợp cho nhận xét chéo nhóm và giáo viên tuyên dương những nhóm thực hiện đúng nhất. Với cách làm này luôn thu hút được sự tập trung cao độ của học sinh trong giờ học, từ đó các em dần hình thành được kĩ năng hát – đọc nhạc và cảm nhận âm thanh trong Âm nhạc.

Ví dụ: Đối với những tiết có nội dung Tập đọc nhạc. Trước tiên tôi sắp xếp học sinh (học sinh khá ngồi giữa những học sinh trung bình và yếu) để các em có sự hỗ trợ cảm âm từ “giọng đọc” của những bạn học khá. Khi các em đã được học về cao độ và tiết tấu tôi cho đọc thầm 1 lần sau đó đọc theo nhóm và kết hợp nhận xét chéo nhóm – Giáo viên nhận xét tuyên dương đồng thời động viên những nhóm đọc chưa đúng. Trong quá trình đọc nhạc tôi luôn là sự hỗ trợ cho các em những chỗ khó, luôn thể hiện sự quan tâm, ân cần và gẫn gũi để các em hứng thú hơn trong học tập và không bị phân tán tư tưởng. IV. GIẢI PHÁP THỨ TƯ: Quan hệ với gia đình học sinh và xã hội Đứng trước tình hình học sinh lơ là và học yếu môn Âm nhạc, đó cũng là một nỗi lo âu cho người giáo viên đang trực tiếp giảng dạy trong nhà trường. Tôi đã tìm hiểu và đưa ra rất nhiều phương pháp để giúp cho các em học tốt hơn, tiến bộ hơn. – Luôn tạo mối quan hệ thân thiết, sự gần gũi giữa thầy và trò với mục đích nhằm nâng cao chất lượng học tập cho các em, giúp các em có được nền tảng cho những lớp sau. – Tôi gặp một số phụ huynh và trao đổi về tình hình học tập của các em cho phụ huynh biết, (ví dụ như: các buổi họp phụ huynh) tâm sự cùng phụ huynh để phụ huynh hiểu được tầm quan trọng của bộ môn và có biện pháp nhắc nhở giáo dục con em cố gắng trong học tập. Đồng thời tôi hướng dẫn cho các em tạo một góc học tập ở nhà. Từ đó không những nâng cao chất lượng môn Âm nhạc mà các môn học khác cũng tiến bộ hơn nhiều. Ngoài ra, tôi còn liên hệ với chính quyền địa phương, Hội trưởng hội PHHS của các lớp nhắc nhở tạo điều kiện cho con em các gia đình khó khăn được đến trường học tập nhằm tránh sự kì thị đối với các em học sinh có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. GVTH: Nguyễn Thị phương Thảo Trang

10

Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng học tập môn Âm nhạc cho hs lớp 5

CHƯƠNG IV: KẾT QUẢ VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM I. KẾT QUẢ. 1. Đối với giáo viên: – Trong tiết dạy việc truyền thụ kiến thức cho học sinh trở nên nhẹ nhàng, không nặng nề như trước vì giáo viên chỉ đóng vai trò người hướng dẫn, dìu dắt và học sinh làm trung tâm. – Xây dựng được lớp học năng động, có tính tập thể cao, cùng đoàn kết học tập, tiết học đạt kết quả. Qua đó giáo viên hiểu rõ được năng khiếu và tâm lý của từng em, có biện pháp uốn nắn kịp thời.

– Được các em tin tưởng, trao đổi, giải quyết một số khó khăn khi học hát cũng như học tập đọc nhạc. – Thật sự Âm nhạc được nhìn nhận không phải là môn học phụ mà nó là một môn giúp học sinh tiến tới cái “chân – thiện – mỹ” phát triển toàn diện về thể và chất của các em. – Đặc biệt hơn là nâng cao được ý thức học tập và chất lượng học tập môn Âm nhạc cho học sinh trong toàn khối 5. Từ đó giáo viên có được sự hứng khởi hơn khi bước chân lên bục giảng. 2. Đối với học sinh: Sau khi thực hiện đề tài kết quả đạt được đối với học sinh là: – Qua mỗi tiết lên lớp học sinh rất vui, hứng thú hơn vì thầy cô giáo giảng dạy nhiệt tình, quan tâm đến học sinh, hiểu được tâm tư nguyện vọng của học sinh. Chất lượng học tập môn Âm nhạc tiến bộ hơn rất nhiều so với đầu năm học. – Các em được học, được chơi, được vận động và được hiểu biết nhiều hơn so với một số môn khác. Nắm chắc nội dung và cách trình bày mỗi bài hát, mỗi bài tập đọc nhạc. Hiểu biết thêm một số nhạc cụ nước ngoài và được nghe thầy cô giáo kể chuyện, hiểu được các câu chuyện kể.  Cụ thể kết quả đến cuối học kì I đạt được như sau: Tổng Xếp loại học lực học kì I – Môn âm nhạc khối lớp 5 Học sinh Học sinh Học sinh số học hoàn thành tốt hoàn thành chưa hoàn thành sinh + (Loại A ). (Loại A). (Loại B). GVTH: Nguyễn Thị phương Thảo Trang

Ghi chú

11

Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng học tập môn Âm nhạc cho hs lớp 5

36 HS

TL

SL

32,8%

74 HS

II. BÀI HỌC KINH NGHIỆM. – Chuẩn bị chu đáo đồ dùng dạy học (có đồ dùng tự làm), câu hỏi tình huống, trò chơi Âm nhạc, băng đĩa, tranh ảnh, nhạc cụ và các tài liệu liên quan. Sử dụng đúng và đủ đồ dùng dạy học cho tiết lên lớp.

– Trước khi lên lớp, giáo viên cần nghiên cứu kĩ bài, lựa chọn phương pháp nào có thể truyền đạt kiến thức cho học sinh hay nhất, hiệu quả nhất, sinh động nhất để sử dụng trong tiết dạy. – Cần tiến hành luân phiên nhiều phương pháp, linh động trong việc sử dụng phương pháp. Bám sát đối tượng học sinh, tổ chức lớp học không thụ động mà cần mang tính khoa học cao. Luôn tạo một không khí thoải mái cho học sinh trong mọi giờ học. – Không kỳ thị với những học sinh yếu và học sinh có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn hay dị tật mà cần động viên và gẫn gũi hơn giúp các em tự tin để học tập tiến bộ. – Chú ý những học sinh yếu kém, khuyết tật để có hướng bồi dưỡng và biện pháp khắc phục kịp thời. – Phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu của từng em, tạo mọi điều kiện để học sinh được thể hiện năng khiếu của mình trước tập thể.

C. PHẦN KẾT THÚC I. KẾT LUẬN: Chất lượng học tập bộ môn là điều mà tất cả giáo viên cần quan tâm. Nó góp phần cho sự phát triển toàn diện đối với học sinh trong trường phổ thông. Hơn nữa, Âm nhạc là một nhu cầu không thể thiếu trong đời sống tinh thần của mỗi con người. Nên việc dạy Âm nhạc cho học sinh là tạo môi trường cho các em được hát, được hoạt động, được nhận thức, được cảm thụ Âm nhạc và một số kiến thức phổ thông về Âm nhạc. Tất cả những yếu tố đó sẽ mang lại cho các em một kiến thức Âm nhạc tối thiểu nhất. Việc tạo không khí vui tươi, thoải mái trong giờ học nhằm nâng cao chất lượng học tập cho học sinh là 12 GVTH: Nguyễn Thị phương Thảo Trang

Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng học tập môn Âm nhạc cho hs lớp 5

Tiết 13 ÔN TẬP BÀI HÁT: ƯỚC MƠ TẬP ĐỌC NHẠC : TĐN SỐ 4 I. MỤC TIÊU: – HS thuộc lời ca, hát đúng giai điệu, tiết tấu và thể hiện tình cảm thiết tha, trìu mến của bài hát. Trình bày bài một cách sinh động trước lớp. – Đọc đúng cao độ, trường độ các nốt trong bài TĐN số 4, biết ghép lời ca với nhạc, và gõ theo tiết tấu. GVTH: Nguyễn Thị phương Thảo Trang

13

Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng học tập môn Âm nhạc cho hs lớp 5

II. CHUẨN BỊ: – Giáo viên: + Một số động tác phụ hoạ bài hát. + Đàn điện tử. Bảng phụ bài tập đọc nhạc số 4: Nhớ ơn Bác. – Học sinh : + Nhạc cụ gõ. + Vở ghi bài. III. CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY – HỌC: Hoạt đông của giáo viên 1. Kiểm tra bài cũ: (4 phút). – Bài: Ước mơ. – GV đàn cao độ, HS khởi động giọng. – GV dạo đàn, HS hát lại bài hát (1 lần) – Gọi 2 HS hát. – GV nhận xét, đánh giá. 2. Bài mới: – Giới thiệu bài (1 phút) – GV giới thiệu bài học gồm 2 nội dung: – GV ghi đầu bài lên bảng. + Hoạt động 1: Ôn tập bài hát: Ước mơ (15 phút) . + Câu hỏi: Em hãy cho biết nhạc và lời bài hát Ước mơ, lời ca của bài hát nói lên điều gì? – GV dạo đàn, HS hát lại bài (1 lần) – GV đàn, hát và sửa lỗi cho HS. – Dạo đàn, HS hát (cả lớp, từng dãy, cá nhân ) – GV nêu y/c, dạo đàn, hát gõ đệm theo nhịp, phách.(1 lần) – GV dạo đàn, HS hát vận động theo nhịp đàn (1 lần). GVTH: Nguyễn Thị phương Thảo Trang

Hoạt động của học sinh – Học sinh thực hiện. Mi – Ma – Mô

– Học sinh lắng nghe. + Ôn tập bài hát: Ước mơ + Tập đọc nhạc số 4: Nhớ ơn Bác.

– Học sinh trả lời. Nhạc: Trung Quốc Lời việt: An Hoà. – Học sinh thực hiện.

Gió vờn cánh hoa bay dưới trời… X

x

x

x

14

Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng học tập môn Âm nhạc cho hs lớp 5

– GV gợi ý, để HS tự nghĩ động tác phụ hoạ. – Gọi từng em lên đơn ca biểu diễn bài hát trước lớp. – Gọi từng nhóm lên trình bày bài trước lớp (HS, GV nhận xét). – Nhận xét- Tuyên dương. + Hoạt động 2: Tập đọc nhạc số 4: Nhớ ơn Bác. (13 phút) – GV treo bảng phụ và tranh bài TĐN số 4. – Nêu y/c, HS nhận xét bài TĐN. – GV đàn thang âm, HS đọc theo(2 lần) – Luyện cao độ:

– Học sinh tập động tác phụ hoạ – Học sinh thực hiện. – Các nhóm thi đua biểu diễn bài hát.

+ Nhịp 2/4. – Học sinh thực hiện. + Gồm các nốt : Đô, Rê, Mi, Son, La, – GV nêu y/c hướng dẫn HS thực hiện (Đố) tiết tấu. – Luyện tiết tấu: + Về tiết tấu : Móc đơn, nốt đen, nốt trắng – HS thực hiện (2 lần) – GV đàn bài TĐN. – Học sinh lắng nghe. – GV tập bài TĐN, HS đọc theo đàn từng câu (2 lần). – Học sinh thực hiện. – Bắt nhịp, gõ phách cho HS đọc (1 lần) – GV sửa lỗi. TĐN SỐ 4: Nhớ ơn Bác – GV đàn bài TĐN, HS đọc cùng đàn Nhạc và lời: Phan Huỳnh Điểu – Gọi từng nhóm đọc. Vừa phải – GV nêu y/c, HS tự ghép lời ca. – GV bắt nhịp, HS hát lời ca kết hợp gõ đêm nhạc cụ. – Gọi HS đọc bài theo nhóm, cá nhân ( GV nhận xét, động viên HS) GVTH: Nguyễn Thị phương Thảo Trang

15

Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng học tập môn Âm nhạc cho hs lớp 5

3. Củng cố dặn dò: (2 phút) – GV nhắc lại nội dung bài học. – Nhận xét giờ học – Nhắc HS về hoc bài.

– Học sinh thực hiện theo : Lớp, dãy, cá nhân. – Học sinh lắng nghe. – Về nhà học bài.

Giáo viên thực hiện

Nguyễn Thị Phương Thảo

ĐÁNH GIÁ CỦA HĐKH CẤP TRƯỜNG

ĐÁNH GIÁ CỦA HĐKH PHÒNG GD&ĐT GVTH: Nguyễn Thị phương Thảo Trang

16

Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng học tập môn Âm nhạc cho hs lớp 5

GVTH: Nguyễn Thị phương Thảo Trang

17

Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng học tập môn Âm nhạc cho hs lớp 5

A – Phần mở đầu I. Lý do chọn đề tài II. Mục đích nghiên cứu III. Đối tượng nghiên cứu IV. Phương pháp nghiên cứu V. Ý nghĩa thực tiễn B – Phần nội dung Chương I: Cơ sở lí luận

I. Mục tiêu chung II. Đặc thù chương trình môn Âm nhạc lớp 5

Chương II: Cơ sở thực tiễn

5

I. Thực trạng nhà trường và địa phương II. Nguyên nhân III. Điều tra khảo sát học sinh khối lớp 5

Chương III: Nội dung đề tài: “Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng học tập môn Âm nhạc cho học sinh lớp 5.

8

I. Giải pháp thứ nhất II. Giải pháp thứ hai III. Giải pháp thứ ba IV. Giải pháp thứ tư

Chương IV: Kết quả và bài học kinh nghiệm

10

I. Kết quả II. Bài học kinh nghiệm

GVTH: Nguyễn Thị phương Thảo Trang

18

Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng học tập môn Âm nhạc cho hs lớp 5

C – Phần kết thúc I. Kết luận II. Kiến nghị và đề xuất

GVTH: Nguyễn Thị phương Thảo Trang

19

Cập nhật thông tin chi tiết về Một Số Biện Pháp Tạo Hứng Thú Học Môn Âm Nhạc Cho Học Sinh Lớp 5 trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!