Xu Hướng 2/2023 # Một Số Giải Pháp Cho Tiết Kiệm Điện Năng # Top 7 View | Phauthuatthankinh.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Một Số Giải Pháp Cho Tiết Kiệm Điện Năng # Top 7 View

Bạn đang xem bài viết Một Số Giải Pháp Cho Tiết Kiệm Điện Năng được cập nhật mới nhất trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Hưởng ứng phong trào “Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả”, nhiều doanh nghiệp đã nỗ lực đầu tư nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng, đặc biệt là điện năng. Vấn đề đặt ra với mỗi doanh nghiệp là có thể tiết kiệm điện được điện năng ở chỗ nào, đầu tư vào đâu và đầu tư như thế nào để có thể đạt được hiệu quả đầu tư.

Trong các phương án để nâng cao hiệu quả sử dụng điện năng thì phương án đầu tư đổi mới công nghệ sang sử dụng một công nghệ sản xuất mới với mức tiêu hao năng lượng thấp hơn là phương án tốt nhất về mặt kỹ thuật. Tuy nhiên phương án này không phải lúc nào cũng là phương án khả thi khi xem xét tới các bài toán kinh tế và năng lực tài chính của mỗi doanh nghiệp. Do vậy vấn đề cải tạo hệ thống sản xuất hiện có để đạt được sự tiết kiệm năng lượng nói chung, điện năng nói riêng vẫn đang là mối quan tâm hàng đầu đối với các doanh nghiệp. Bài viết này giới thiệu một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng điện năng trong công nghiệp và dân dụng giúp cho các nhà quản lý doanh nghiệp có được cái nhìn khách quan trong phân tích và lựa chọn phương án đầu tư cải tạo hệ thống sản xuất để tiết kiệm năng lượng.

Ứng dụng hệ thống BMS trong tiết kiệm điện năng Trong các tòa nhà văn phòng lớn, việc sử dụng hệ thống BMS (Building Management System) sẽ giúp cho tiết kiệm điện năng. Hệ thống BMS tham gia trực tiếp vào quá trình điều khiển hệ thống điều hòa và thông gió (HVAC) và phải giữ cho hệ thống HVAC làm việc một cách hiệu quả, đảm bảo rằng các hoạt động của hệ thống HVAC là an toàn trong bất kỳ tình huống bất thường nào (kể cả các tình huống không được dự báo trước). Hệ thống BMS sẽ điều khiển quá trình thông gió ở mức tối ưu, giảm được tối thiểu sự mất mát nhiệt (vào mùa đông) và lạnh (vào mùa hè) đồng thời vẫn đảm bảo yêu cầu thông gió. Việc lựa chọn được một chiến lược điều khiển tốt sẽ đảm bảo được các yêu cầu của hệ thống HVAC đồng thời giảm tải cho hệ thống làm lạnh và điều hòa không khí dẫn tới tiết kiệm được năng lượng điện tiêu thụ. Chiến lược và cấu trúc điều khiển này sẽ phụ thuộc vào cấu trúc của hệ thống thông gió. Tuy vậy, cho dù là thông gió tự nhiên (natural ventilation) hay thông gió cưỡng bức (bằng thiết bị máy móc – mechanical ventilation) thì một trong những mục tiêu cơ bản vẫn là loại bỏ mùi, cacbon dioxide (CO2) và các ô nhiễm khác sinh ra do con người thải ra và các hoạt động khác (như của máy in, máy photocopy,…) trong tòa nhà. Trong các yếu tố cần loại bỏ trên thì với môi trường văn phòng làm việc CO2 là yếu tố chính và hệ thống BMS cần phải khống chế nồng độ CO2 dưới nồng độ cho phép (thông thường là dưới 1000ppm). Điều này đặc biệt hữu ích cho các khu vực có số lượng người làm việc thay đổi như các hội trường, các phòng họp, phòng làm việc có sự thay đổi người làm việc thường xuyên. Nếu kết hợp được các chiến lược điều khiển khống chế nồng độ CO2 với các chiến lược điều khiển khác (khi nhiệt độ không khí ngoài trời thấp hơn nhiệt độ trong phòng, ban ngày, ban đêm, mùa hè, mùa đông,…) sẽ cho phép tiết kiệm rất nhiều năng lượng điện tiêu thụ của hệ thống điều hòa và thông gió.Sử dụng biến tần có tiết kiệm điện không?Khi đặt câu hỏi này ra có thể bạn sẽ nhận được hai cách trả lời hoàn toàn trái ngược nhau. Có người cho rằng sử dụng biến tần không những không tiết kiệm điện mà còn phải tiêu tốn thêm điện cho biến tần. Nhưng cũng có ý kiến cho rằng muốn tiết kiệm điện cho động cơ điện thì phải sử dụng biến tần. Theo quan điểm thứ hai này, có những lãnh đạo doanh nghiệp thậm chí cả lãnh đạo một trong những tập đoàn công nghiệp lớn của Nhà nước từng ra chỉ thị rằng “để tiết kiệm năng lượng cần trang bị biến tần cho tất cả các động cơ đang hoạt động”. Vậy hai quan điểm này, quan điểm nào đúng, quan điểm nào sai? Để trả lời trước hết chúng ta cần hiểu bản thân biến tần là thiết bị điều khiển động cơ điện xoay chiều bằng cách biến đổi tần số nguồn điện cấp cho động cơ. Biến tần sẽ cung cấp điện năng cho động cơ đúng theo yêu cầu hoạt động của động cơ bằng các thiết bị bán dẫn theo kết quả tính toán của các thuật toán điều khiển nên nó đạt hiệu suất khá cao. Tuy nhiên, mặc dù hiệu suất là khá cao thì bản thân biến tần là thiết bị điện tử nên nó cũng phải tiêu hao năng lượng và do tổn thất của các thiết bị biến đổi bán dẫn nên hiệu suất của nó không thể đạt tới 100% được. Hơn nữa khi lắp đặt biến tần ta sẽ phải tiêu hao năng lượng cho các thiết bị phụ như điều hòa không khí, quạt thông gió,… Chính vì vậy, việc sử dụng biến tần cần có sự cân nhắc thận trọng nếu như không muốn tăng mức tiêu hao điện năng. Thực tế đã có những doanh nghiệp sau khi trang bị biến tần thì không những không giảm mức tiêu hao điện năng mà còn làm tăng thêm chi phí trên hóa đơn tiền điện hàng tháng. Sử dụng nguyên tắc “Chỉ có thể tiết kiệm được khi có tổn thất, lãng phí” ta có thể nhận thấy biến tần được sử dụng hiệu quả trong các trường hợp sau:l Đối với các ứng dụng mà yêu cầu công nghệ cần điều khiển tốc độ hoặc momen động cơ điện thì việc sử dụng biến tần sẽ hiệu quả hơn các phương pháp điều khiển khác như điều khiển điện áp, điều khiển điện trở rotors,… và nó sẽ tiết kiệm năng lượng hơn.l Đối với các ứng dụng sử dụng động cơ quay với tốc độ định mức còn điều khiển sử dụng phương pháp điều khiển khác như dùng các cửa chặn (dampers), van chặn, van tuần hoàn,… thì có thể xem xét ứng dụng biến tần phối hợp điều khiển tốc độ và các phương pháp điều khiển trên để tiết kiệm điện năng. Cần lưu ý là trừ trường hợp của van tuần hoàn còn khi các cửa chặn và van đóng lại cũng làm giảm công suất tiêu thụ trên động cơ nên việc trang bị biến tần vào có tiết kiệm được không và tiết kiệm được bao nhiêu thì cần phải có sự khảo sát và tính toán kỹ lưỡng.Đối với các trường hợp không có yêu cầu điều khiển, điều chỉnh gì (động cơ quay với một tốc độ định mức) thì nói chung việc ứng dụng biến tần sẽ không hiệu quả. Trong trường hợp này việc sử dụng biến tần có thể nâng cao hiệu suất hoạt động của động cơ bằng phương pháp điều khiển tối ưu từ thông nếu nó hoạt động non tải nhưng cần xem xét giữa mức giảm tổn hao trên động cơ và mức tổn hao tăng thêm trên biến tần để có quyết định hợp lý.Các giải pháp tiết kiệm điện khácGần hai phần ba năng lượng điện sử dụng trong công nghiệp là để cung cấp cho các động cơ nên vấn đề tiết kiệm điện cho các ứng dụng truyền động sử dụng động cơ điện luôn là vấn đề có tính thời sự. Ngoài giải pháp tiết giảm năng lượng cấp cho động cơ bằng cách sử dụng biến tần đối với các ứng dụng cần sự điều khiển, điều chỉnh như đã trình bày ở trên, còn có các giải pháp khác nhằm tiết kiệm điện cho các ứng dụng truyền động sử dụng động cơ điện. Ngay cả những hệ truyền động đã sử dụng biến tần rồi cũng cần phải xem xét áp dụng các giải pháp để có thể tăng mức độ tiết kiệm điện. Giải pháp tiết kiệm điện tối ưu đối với hệ truyền động sử dụng động cơ điện phụ thuộc vào đặc điểm của mỗi ứng dụng. Ở đây tác giả xin giới thiệu một số giải pháp điển hình như sau:l Hoàn trả năng lượng về lướiTrong các hệ thống truyền động sử dụng động cơ điện năng lượng điện được biến đổi thành cơ năng phục vụ cho yêu cầu công nghệ. Trong quá trình đó một phần năng lượng được tích lũy dưới dạng thế năng như trong các thiết bị nâng hạ hoặc động năng của các máy. Khi thay đổi chế độ làm việc thì năng lượng này cần phải được giải phóng. Ví dụ khi thiết bị nâng hạ chuyển từ chế độ nâng sang chế độ hạ tải thì thế năng tích lũy được trong quá trình nâng cần phải được giải phóng, hoặc khi máy xeo giấy giảm tốc độ thì động năng tích lũy trong các lô của máy giấy cần phải được giải phóng. Phần năng lượng cần giải phóng này thường được biến thành nhiệt năng và thoát ra ngoài môi trường thông qua các phanh hãm cơ hoặc điện trở hãm lắp vào biến tần. Một giải pháp tiết kiệm điện năng trong trường hợp này là hoàn trả phần năng lượng này trở lại lưới bằng cách lắp bộ hãm tái sinh vào mạch một chiều trung gian của biến tần hoặc thay thế biến tần bằng loại biến tần có thể hoạt động được cả ở bốn góc phần tư (biến tần 4q).l Giảm tổn hao trên động cơ bằng thiết bị điều khiểnĐối với các ứng dụng truyền động sử dụng động cơ không đồng bộ không cần điều khiển, điều chỉnh tốc độ hoạt động trong chế độ non tải như đã nói ở trên hoặc có chu kỳ có tải và không tải thì có thể tiết kiệm điện bằng thiết bị điều khiển để giảm từ thông khi động cơ hoạt động non tải. Ví dụ như trong các máy ép nhựa, khi hành trình ép thì động cơ hoạt động đầy tải còn hành trình lùi động cơ hoạt động gần như không tải. Bộ điều khiển tiết kiệm điện sẽ tự động cảm nhận chế độ làm việc của động cơ và thực hiện tiết giảm điện áp đặt vào động cơ và qua đó giảm tổn thất trên động cơ trong chế độ non tải, nâng cao hiệu suất hoạt động. Bộ điều khiển tiết kiệm điện kiểu này có cấu trúc đơn giản hơn biến tần nhiều nên có hiệu suất cao hơn và giá thành thấp hơn nên sẽ đảm bảo khả năng hoàn vốn đầu tư.l Thay thế động cơ bằng động cơ thế hệ mới có hiệu suất cao hơnSự tiến bộ của công nghệ vật liệu và công nghệ chế tạo máy điện gần đây đã cho ra đời các thế hệ động cơ có hiệu suất cao. Sử dụng các động cơ có lớp hiệu suất eff1 (hay động cơ hiệu năng cao) theo tiêu chuẩn châu Âu thay thế cho các động cơ thế hệ cũ sẽ cho phép giảm tổn thất trên động cơ và qua đó tiết kiệm được năng lượng. Các động cơ thuộc lớp hiệu suất eff1 có hiệu suất trên 91% trong khi các động cơ thuộc lớp hiệu suất eff3 có hiệu suất nhỏ hơn 88% nên việc sử dụng động cơ eff1 sẽ mang lại sự tiết kiệm năng lượng đáng kể. Với các động cơ thế hệ cũ có hiệu suất khoảng 80% thì sự tiết kiệm này còn lớn hơn nữa.Nói chung việc thiết kế giải pháp tiết kiệm điện cho ứng dụng truyền động sử dụng động cơ điện là vấn đề phức tạp đòi hỏi phải có sự hiểu biết sâu sắc và nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực truyền động điện và ứng dụng. Giải pháp tốt nhất trong trường hợp này là sử dụng dịch vụ tư vấn của các chuyên gia.Vấn đề quản lý vẫn là then chốtThực tế chứng minh rằng ngoài yếu tố công nghệ thì mức độ tổn thất năng lượng phụ thuộc rất nhiều và ý thức và trách nhiệm của nhân viên, của người vận hành. Mong muốn của người quản lý là làm sao cho tất cả nhân viên, công nhân vận hành phải có ý thức tiết kiệm năng lượng. Ở đây không đề cập tới các chính sách quản trị của các doanh nghiệp mà chỉ xin nêu ra một giải pháp công nghệ giúp cho nhà quản lý có thể kiểm soát được mức tiêu hao năng lượng hỗ trợ cho các chính sách quản lý tiết kiệm điện năng của mình. Đó là giải pháp kiểm soát mức tiêu hao điện năng đến từng ca sản xuất của doanh nghiệp.Để có thể kiểm soát được mức độ tiêu hao điện năng đến từng ca, từng tổ và từng máy sản xuất ta có thể trang bị các thiết bị đo đếm điện thông minh và thiết lập một mạng giám sát (SCADA). Các thiết bị này hiện nay có bán trên thị trường với các chuẩn truyền thông công nghiệp như Profibus, RS485 sẽ cho phép ta kết nối các thiết bị đo đếm thông minh thành mạng. Thông qua một máy tính kết nối với mạng truyền thông này người quản lý có thể giám sát được mức tiêu hao điện năng của từng khu vực và công đoạn sản xuất tới từng ca sản xuất để từ đó có cái nhìn tổng quan về mức độ tổn thất năng lượng của toàn doanh nghiệp và từ đó có những điều chỉnh hợp lý nhằm nâng cao khả năng tiết kiệm điện năng.Tiết kiệm điện năng hiện nay là vấn đề thời sự nóng bỏng không chỉ với các doanh nghiệp Việt Nam mà còn cả đối với các doanh nghiệp ở các nước công nghiệp phát triển. Xây dựng thành công chiến lược tiết kiệm điện năng và có những quyết định đầu tư đúng đắn sẽ giúp cho doanh nghiệp tăng sức cạnh tranh của mình trên thị trường. Việc quyết định sai không những không giúp tiết kiệm điện mà còn gây lãng phí không đáng có đối với doanh nghiệp, tạo thêm gánh nặng về tài chính và giảm sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, với sự cân nhắc cẩn trọng cộng với việc sử dụng các ý kiến chuyên gia nhiều kinh nghiệm các nhà quản lý hoàn toàn có thể có những quyết sách đúng đắn cho vấn đề này và mang lại hiệu quả cao cho doanh nghiệp của mình.

Số 123 (1+2/2011)♦Tạp chí tự động hóa ngày nay

Một Số Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Tiết Luyện Nói Môn Ngữ Văn Ở Trường Thcs An Tiến

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM Tên đề tài:

MÔ T Ô SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TIẾT LUYÊÔN NÓI MÔN NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG THCS AN TIẾN

Lĩnh vực

: Ngữ văn

Tên tác giả

: TRẦN THỊ PHÓNG

Chức vụ

: Giáo viên

0

Năm học: 2012 – 2013

1

ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

SƠ YẾU LÝ LICH – Họ và tên

: TRẦN THỊ PHÓNG

– Ngày, tháng, năm sinh

: 12 / 04 / 1972 .

– Năm vào ngành

: 1995

– Chức vụ và đơn vị công tác

: Giáo viên trường THCS An Tiến Mỹ Đức , Hà Nội .

– Trình độ chuyên môn

: Đại học sư phạm

– Hệ đào tạo

: Từ xa

– Bộ môn giảng dạy

: Ngữ văn

– Trình độ chính trị

: Sơ cấp

– Khen thưởng

: Chiến sỹ thi đua cấp cơ sở

– Kỷ luật

: Không

2

A. ĐẶT VẤN ĐỀ 1.Lý do chọn đề tài: Như chúng ta đã biết mục tiêu của dạy học môn Ngữ văn là hình thành những con người có ý thức, có tư tưởng tình cảm cao đẹp, có năng lực cảm thụ các giá trị chân, thiện, mỹ và đặc biệt là có khả năng thích ứng với cuộc sống năng động trong xã hội hiện đại. Quan điểm tích hợp và tích cực luôn chi phối các hoạt động dạy học Ngữ văn, nhất là ở phần dạy các kĩ năng làm văn. Một tiết dạy học Ngữ văn đạt hiệu quả trước hết phải tạo nên không khí hứng thú cho mỗi giờ học. Không khí đó chỉ có được khi người dạy biết đa dạng hóa các hình thức, biện pháp dạy học. Mặt khác, với tinh thần quan điểm dạy học mới, SGK Ngữ văn không chỉ chú trọng nội dung mà còn chú trọng hình thức nhằm phục vụ cho việc đổi mới phương pháp dạy học. Để đạt được những mục tiêu trên và thực hiện theo yêu cầu của phương pháp dạy học mới, người dạy cần tổ chức cho học sinh học tập bằng các biện pháp nhằm rèn cho học sinh các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết. Trong đó kĩ năng nói là vô cùng quan trọng. Nói sao cho người nghe hiểu là điều không phải ai cũng thực hiện tốt. Người nói khi đã chuẩn bị đầy đủ nội dung trong đầu sẽ tìm cách bộc lộ, truyền đạt thông tin đó chính là “nói”. Muốn hoạt động nói có hiệu quả trong giờ học Ngữ văn, người dạy phải hướng dẫn rèn luyện cho các em, tập cho các em mạnh dạn trước tập thể. Nhiều khi các em có dự kiến trong đầu nhưng lại không nói ra được và người thầy sẽ không nhận xét đánh giá đúng về sự tiếp thu, cảm thụ của các em trong giờ học Ngữ văn. Vậy rèn kĩ năng nói cho học sinh là việc làm thiết thực vừa góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn vừa hình thành phong cách cho học sinh giúp các em mạnh dạn trước tập thể, có kỹ năng giao tiếp trong cuộc sống. Thực tế của việc rèn luyện kỹ năng nói cho học sinh trong giờ dạy Ngữ văn là còn nhiều hạn chế. Nghịch lý của giờ luyện nói vẫn thường xuyên xảy ra: giờ luyện nói là điều kiện tốt nhất để học sinh bày tỏ quan điểm, tình cảm, khả năng giao tiếp của mình trước bạn bè nhưng các em lại im phăng phắc, nép mình chờ nghe giáo viên chỉ định. Dường như tính tự tin, hoạt bát thường ngày của các em đã biến mất, giờ học thật nặng nề. Đã có học sinh chân thành phát biểu rằng: “Một điều đáng sợ là phải học tiết luyện nói môn Ngữ văn!”. Không có hứng thú trong giờ luyện nói thì làm sao rèn luyện kỹ năng nói cho học sinh đây ? Thiết nghĩ, đây không chỉ là sự trăn trở của riêng tôi mà là tất cả của giáo viên dạy Ngữ văn hiện nay. Xuất phát từ lý do trên tôi nhâ ân thấy mình cần phải suy nghĩ tìm tòi để tìm ra những phương pháp giảng dạy cho phù hợp nhằm thu hút được mọi đối tượng học sinh góp phần nâng cao chất lượng dạy học trong nhà trường. Bởi vâ ây tôi đã chọn đề tài: “MÔÔT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TIẾT LUYÊÔN NÓI MÔN NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG THCS AN TIẾN. Đến nay tôi đã tạo được một bước đột phá trong chuyên môn của mình .

3

2. Mục đích nghiên cứu : Với đề tài này không những giúp học sinh nắm vững , nắm chắc các kiến thức về các kiểu bài làm văn trong chương trình mà qua đó còn rèn cho học sinh hình thành bốn kĩ năng cơ bản đó là nghe, nói, đọc ,viết, đặc biệt là kĩ năng nói. Học sinh từ chỗ còn lo lắng, rụt rè, nói còn ngập ngừng vấp váp đến chỗ nói tốt hơn, lưu loát, ngừng nghỉ đúng chỗ. Hơn nữa nói có kết hợp với ánh mắt cử chỉ, thái độ, tình cảm. Không những thế, qua tiết luyện nói còn phát hiện được chỗ yếu của học sinh, giúp học sinh khắc phục được những điểm yếu để viết tốt bài làm văn…Từ đó có thể rèn luyện cho học sinh khả năng thể hiện , bộc lộ; khả năng giao tiếp của mình trong nhà trường và ngoài xã hội; góp phần nâng cao chất lượng bộ môn cũng như chất lượng chung của toàn trường . 3. Đối tượng nghiên cứu : Giải pháp nâng cao chất lượng tiết luyê ân nói môn Ngữ văn ở trường THCS An tiến . 4. Đối tượng khảo sát, thực nghiêm ê : Học sinh lớp 9A, trường THCS An Tiến, Mỹ Đức, Hà Nô âi. 5. Phương pháp nghiên cứu:: – Dựa trên yêu cầu, mục tiêu của môn học, dựa trên tình hình thực tế của từng lớp, từng đối tượng học sinh.

– Điều tra tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến tình trạng học sinh chưa mạnh dạn nói trước tâ âp thể . – Qua thực tế giảng dạy bộ môn Ngữ văn ở các khối lớp và đă âc biê ât là ở lớp 9A, từ tình hình học tập của học sinh qua các tiết luyện nói, qua ý kiến của đồng nghiệp, hoạt động của nhóm chuyên môn… 6. Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu : Tôi nghiên cứu đề tài với thời gian là 1 năm ( từ tháng 8 năm 2012 đến tháng 5 năm 2013 ) năm học 2012-2013 .

4

học luyện nói phần lớn thời gian là để học sinh tập nói, giáo viên chỉ nghe và quan sát nhưng phải thật tỉ mỉ, thật khéo léo trong việc nhận xét, góp ý cho học sinh để các em kịp thời khắc phục hạn chế và cảm thấy tự nhiên, tự tin hơn ở phần diễn đạt của mình. Vì vậy bản thân tôi cảm nhận dù không phải diễn giải nhiều trong giờ học nhưng công sức đầu tư cho tiết dạy (từ việc soạn giáo án đến việc tổ chức tiết dạy) đòi hỏi rất công phu, nhằm giúp học sinh đạt hiểu quả hơn trong hoạt động nói như: nói ngắn gọn, dễ hiểu, phù hợp thói quen ngôn ngữ, suy nghĩ, tinh cảm, tâm lý và nhu cầu của người nghe – thuyết phục được người nghe. Đây cũng là sự cụ thể thể hoá tư tưởng dạy học theo lý thuyết giao tiếp và thực tiễn dạy học môn Ngữ văn ở trường THCS . Điểm mới mẻ và cần lưu ý là chú trọng hơn tới cách tổ chức cho học sinh hoạt động để phát triển kỹ năng nói cho học sinh. Luyện nói tốt sẽ giúp học sinh biết bộc lộ tư tưởng, truyền đạt thông tin trong hoàn cảnh giao tiếp khác nhau.Ví dụ như rèn cho các em phải suy nghĩ trước khi nói, nói đúng vấn đề cần trao đổi, khi nói cần bình tĩnh, tự tin nói theo đúng nghi thức và tuân thủ các nguyên tắc hội thoại, biết vận dụng các yếu tố để lời nói thêm thuyết phục. Giáo viên chú trọng tạo điều kiện cho học sinh được bô âc lộ những suy nghĩ cá nhân, đồng thời rèn luyện năng lực nói- trình bày lưu loát, diễn cảm những suy nghĩ, tình cảm của các em. Các câu hỏi đặt ra có ngữ cảnh giao tiếp cụ thể, được đặt trong những “tình huống có vấn đề” để kích thích óc tư duy và sự phản xạ nhanh chóng của học sinh, giúp học sinh có thể trả lời ngắn gọn, thích hợp. Vì thế, luyện nói là việc rất quan trọng trong quá trình dạy học văn, là biện pháp góp phần nâng cao chất lượng hiệu quả của giờ dạy Ngữ văn. Luyện nói tốt sẽ giúp người học có được một công cụ giao tiếp hiệu quả trong cuộc sống của mình . 3. Cơ sở thực tiễn : Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp chủ yếu của con người. Không phải ai cũng nói nhiều như nói trong đời sống sinh hoạt xã hội, nghề nghiệp của mình. Trong giờ luyện nói hiệu quả lao động của học sinh được cảm nhận trực tiếp. Giờ luyện nói có thế mạnh của một sinh hoạt giao tiếp tập thể, không như giờ viết văn là một hoạt động tĩnh, cá nhân. Không khí giờ làm văn miệng dễ kích thích hứng thú hoạt động của học sinh hơn, nếu giáo viên ý thức được vấn đề này. Về tâm lý, con người trong hoạt động tập thể bao giờ cũng năng động hơn. Thấy rõ được đặc thù của hoạt động luyện nói và đặc điểm tâm lý học sinh thì giáo viên mới tiến hành có hiệu quả giờ dạy học được. Giờ luyện nói là cơ hội tốt nhất để giáo viên hiểu về con người, tư tưởng tình cảm học sinh qua cách nói năng, diễn đạt…

6

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

7

Đầu năm Mức độ 9A (35 học sinh)

Năm học : 2012-2013 Khả năng nói tốt trong tiết luyện nói 5/35 học sinh =14,3%

Khả năng nói chưa tốt trong tiết luyện nói 30/35 học sinh = 85,7%

Hình ảnh học sinh lớp 9A khi giáo viên gọi lên nói trước lớp .

8

Từ thực tế đáng buồn ấy, bản thân tôi đã phải suy nghĩ, tìm hiểu những nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó, nhằm tháo gỡ những vướng mắc và tìm ra những giải pháp hữu hiê âu nhất để áp dụng vào giảng dạy tiết luyê nâ nói môn Ngữ văn trong nhà trường . 3. Nguyên nhân của thực trạng: – Phần lớn học sinh đều xuất thân và sinh sống ở vùng nông thôn, vùng sâu điều kiện tiếp xúc với nơi đông người còn hạn chế nên các em thiếu tự tin, e dè, ngại ngùng và hồi hộp khi nói trước tập thể. Đôi khi các em chuẩn bị bài nói rất kĩ nhưng vì thiếu tự tin, hồi hộp quá nên các em cũng không nói được bài nói của mình. – Do điều kiện sinh sống như vậy nên đa số học sinh thiếu vốn từ để diễn đạt bài nói. Điều ấy biểu hiện ở chỗ các em thường nói ngập ngừng, lủng củng hoặc nói dài dòng, lan man không diễn đạt được điều muốn nói. Đồng thời trong bài nói các em sử dụng nhiều từ địa phương. – Kĩ năng nói của học sinh chưa được rèn luyện nhiều nên các em không biết cách nói dẫn đến thực trạng là các em nói như đọc. – Học sinh chuẩn bị bài nói chưa kĩ khiến các em không chủ động trong việc trình bày bài nói điều đó cũng dẫn đến việc học sinh nói ngập ngừng, ấp úng. Với những điều nêu trên, chắc chắn giáo viên sẽ gặp nhiều khó khăn khi tổ chức tiết luyện nói. Từ đó tôi thấy vấn đề đặt ra là phải tạo cho học sinh tính tự tin, mạnh dạn, tinh thần chủ động; bồi dưỡng thêm vốn từ, rèn luyện kĩ năng nói và hình thành những chuẩn mực trong bài nói nhằm nâng cao chất lượng tiết luyện nói cho học sinh; góp phần thực hiện thành công mục tiêu dạy học môn Ngữ văn ở trường THCS. CHƯƠNG 3: BIÊÔN PHÁP, GIẢI PHÁP CHỦ YẾU 9

ĐỂ THỰC HIÊÔN ĐỀ TÀI

I. Cơ sở đề xuất giải pháp : Giáo viên dạy Ngữ văn là người hiểu và nắm rõ vai trò của tiết luyện nói trong môn Ngữ văn, nhằm phát triển đồng bộ bốn kỹ năng : nghe, nói, đọc, viết của học sinh THCS. Qua cách diễn đạt, phong cách, điệu bộ của học sinh trong giờ luyện nói, giáo viên có cơ hội giáo dục, uốn nắn về mặt ứng xử, đồng thời bổ sung, điều chỉnh kiến thức cơ bản về kỹ năng làm văn cho học sinh. Giờ luyện nói sẽ có ý nghĩa giáo dục toàn diện của nó, tuy trọng tâm vẫn là rèn luyện ngôn ngữ nói, phương pháp tư duy và nghệ thuật giao tiếp. Cùng với sự đổi mới của cấu trúc chương trình đã nhấn mạnh đến ưu thế của tiết luyện nói, đây là cơ sở để tôi mạnh dạn đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy hiệu lực đúng mức của tiết luyện nói trong môn Ngữ văn . II.Các giải pháp chủ yếu : Với quan điểm dạy học theo phương pháp mới hiện nay đã nhấn mạnh : “Thầy chủ đạo, trò chủ động”, ” Học sinh là chủ thể của sáng tạo”. Để phát huy tính tích cực của học sinh, thì giáo viên phải làm tốt vai trò của người nhạc trưởng. Cụ thể để dạy thành công được tiết luyện nói môn Ngữ văn, giáo viên cần phải quan tâm đặc biệt đến những khía cạnh sau : – Giúp học sinh chuẩn bị tốt nội dung, yêu cầu bài nói để các em hình dung được mình sẽ nói cái gì ? (xác định đề tài) ; nói với ai ? (xác định giao tiếp) ; nói trong hoàn cảnh nào ? (xác định hoàn cảnh giao tiếp) ; nói để làm gì ?(xác định mục đích giao tiếp) ; nói như thế nào ? (cách thức giao tiếp để thuyết phục người nghe). – Tạo cho học sinh có nhu cầu muốn nói, muốn được bộc lộ. Điều này tưởng chừng như đơn giản nhưng tương đối khó thực hiện, bởi đa số học sinh rất ngại nói hoặc không tự tin khi nói trước đông người (nhất là học sinh lớp 8,9). Vì thế điều quan trọng là bên cạnh việc chuẩn bị tốt về kiến thức, kỹ năng giáo viên cần tạo ra những tình huống giả định tương đối gần gũi với cuộc sống thường ngày của học sinh để các em có thể nói được và có nhu cầu muốn nói. – Tạo cho học sinh hoàn cảnh giao tiếp thuận lợi trong giờ luyện nói : như không khí hào hứng của lớp, thái độ dễ hợp tác của những người tham gia giao tiếp, sự động viên, khuyến khích kịp thời của giáo viên. Còn đối với học sinh : + Phải thực hiện tốt các yêu cầu chuẩn bị cho tiết luyện nói theo đề bài, thể loại cụ thể dưới sự hướng dẫn của giáo viên. + Cần viết đề cương : tìm ý, sắp xếp ý cho đề bài luyện nói. Không yêu cầu học sinh viết thành văn, không thuộc lòng, không nói từ đầu đến cuối bằng một giọng đều đều, phải phân biệt giọng điệu cho phù hợp. III. Tổ chức triển khai thực hiện : 10

11

Các em tổ trưởng kiểm tra sự chuẩn bị bài của tổ mình. 2. Bước 2: Thống nhất lại dàn ý chung Phần này tôi không đi lại từng bước nhỏ như phần chuẩn bị bài vì sẽ mất thời gian. Tôi chỉ đưa ra những câu hỏi, những vấn đề có tính chất giải đáp vướng mắc mà các em gặp phải trong phần chuẩn bị bài. Trên cơ sở đó, xây dựng dàn ý chung làm cơ sở để đánh giá nội dung bài nói của học sinh. 3. Bước 3: Đưa ra yêu cầu cho bài nói của học sinh. Tôi nêu yêu cầu tiết luyện nói chung để học sinh rõ (chỉ áp dụng cho tiết luyện nói đầu tiên của khối lớp, những tiết sau, bước này sẽ do học sinh tự nhắc lại ở trước lớp). – Nội dung : Nói phải đúng trọng tâm, yêu cầu đề bài. Dựa vào dàn ý thống nhất để trình bày cho có hệ thống. – Kỹ thuật nói : trình bày rõ ràng, mạch lạc, nói thành câu trọn vẹn. Lời nói có ngữ điệu, diễn tả thái độ, tình cảm tự nhiên, phù hợp – Tác phong : Bình tĩnh, đĩnh đạc, tự tin. Trước khi nói phải có lời thưa gửi, kết thúc phải có lời cảm ơn. i 4. Bước 4: Nói trước nhóm của học sinh : Tôi chia lớp thành nhiều nhóm nhỏ ( 2 bàn quay vào làm thành mô ât nhóm ) thứ nhất là để cho thuâ nâ tiê ân trong viê âc tổ chức sắp xếp của lớp học,rút ngắn được thời gian ổn định .Thứ hai là để nhiều em cùng được nói. Sau đó tôi dành thời gian khoảng 10 phút để cho các em trình bày bài nói của mình trước nhóm.

12

Hình ảnh các em học sinh luyênê nói trước nhóm của mình. 5. Bước 5 : Học sinh trình bày bài nói trước lớp: Để cho học sinh có điều kiện trình bày bài nói của mình một cách tự nhiên, hiệu quả, tôi lựa chọn nhiều hình thức, nhiều cách trình bày bài nói khác nhau. – Trình bày bài nói theo từng phần : mở bài, thân bài, kết bài đến cả bài. – Trình bày bài nói theo sự phân công của tổ, nhóm (chọn học sinh khá của tổ nhóm trình bày trước, để học sinh trung bình, yếu có điều kiện học tập và chuẩn bị). – Học sinh trình bày bài nói theo thứ tự luân phiên (đa phần học sinh đều có thể trình bày bài nói). – Học sinh trình bày bài nói theo yêu cầu, mức độ khác nhau : giỏi, khá, trung bình, yếu.

13

Em Hoàng Văn Hà đang nói trước lớp

14

6. Bước 6 : Nhận xét, đánh giá Nếu cứ để cho học sinh cứ thay phiên nhau lên trình bày bài nói của mình mà không có sự nhận xét, đánh giá, góp ý của thầy cô, bạn bè thì tiết luyện nói sẽ phản tác dụng. Trong tiết luyện nói, học sinh giữ vai trò chủ động, tích cực thì giáo viên thể hiện rõ vai trò của người chủ đạo, hướng dẫn. Vì thế tôi đã hướng dẫn học sinh theo dõi, nhận xét, đánh giá từng phần, từng nội dung cụ thể.

Em Hoàng Thị Vân Anh nhâ Ôn xét các bạn nói trước lớp. Sau đó tôi tổng hợp ý kiến từ học sinh, chỉ ra ưu, khuyết điểm cũng như mặt mạnh, mặt yếu của từng em, để các em kịp thời phát huy, sữa chữa và uốn nắn. Khi các em nói xong tôi nhẹ nhàng, tế nhị, đánh giá tương đối chính xác, rõ ràng từng đối tượng học sinh . Luôn tạo ra không khí thân ái, gần gũi để các em trao đổi, trình bày ý kiến của mình được tự nhiên hơn. Tôi cũng lựa chọn ưu điểm nổi bật của từng học sinh và căn cứ theo từng mức độ : giỏi, khá, trung bình, yếu mà tuyên dương, động viên, khuyến khích. Nhất là sự tiến bộ của học sinh yếu (dù chỉ là sự tiến bộ rất nhỏ). Vì lời khen, chê của tôi không chỉ là động lực thúc đẩy sự cố gắng phấn đấu của học sinh mà còn là đòn bẩy, bẩy giờ luyện nói lên cao. Nói tóm lại tuỳ thuộc vào điều kiện, mức độ của từng lớp, hoạt động của giờ luyện nói mà có những hình thức khác nhau. Hình thức rất phong phú đa dạng. Điều quan trọng là giáo viên phải nắm vững đặc trưng giờ luyện nói để đảm bảo yêu cầu một giờ học Ngữ văn trong trường THCS. 15

*.

ĐỊNH HƯỚNG DÀN Ý CHO MÔÔT SỐ TIẾT LUYÊÔN NÓI THEO CÁC BIÊÔN PHÁP NÊU TRÊN : Ví dụ: Tiết 65 – Bài 14: (Ngữ văn 9) Luyện nói: Tự sự kết hợp với nghị luận và miêu tả nội tâm. Có thể chọn 1 trong 3 đề có ở sách giáo khoa phần luyện tập. Tôi chọn đề 3. Đề bài : Dựa vào nội dung phần đầu tác phẩm “Chuyện người con gái Nam Xương” đến chỗ trót đã qua. Hãy đóng vai Trương Sinh kể lại câu chuyện và bày tỏ niềm ân hận. a. Yêu cầu: Trước khi tiến hành luyện nói, giáo viên kiểm tra vở soạn của học sinh , sau đó giáo viên chốt lại và đưa ra bảng phụ mà giáo viên đã chuẩn bị sẵn lên bảng đen cho học sinh theo dõi để luyện nói và hướng dẫn học sinh: Phải xác định ngôi kể cho phù hợp (tôi) Phải hóa thân vào Trương Sinh kể lại câu chuyện theo trình tự Các nhân vật và các sự việc còn lại chỉ có vai trò như một cái cớ để nhân vật tôi giãi bày tâm trạng của mình. b. Dàn ý: – Mở bài: Tự giới thiệu về mình, nêu mối quan hệ với Vũ Nương trong câu chuyện. – Thân bài: Kể lại nội dung đoạn truyện (ngôi kể là ngôi thứ nhất: tôi – Trương Sinh). Trong quá trình kể có thể hiện sự hối hận của người kể. – Kết luận: Trương Sinh suy nghĩ về cái chết của Vũ Nương và ân hận về việc làm của mình. Tiết 140 – Bài 27: (Ngữ văn 9) Luyện nói: Nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ. Có thể linh động chọn đề bài sau: Đề bài : Phân tích khổ thơ đầu trong bài “Sang thu”của Hữu Thỉnh. a.Yêu cầu : – Nghị luận về một khổ thơ trong bài thơ – Vấn đề nghị luận: Phân tích, cảm nhận về cái hay cái đẹp về nội dung và hình thức của khổ thơ đầu trong bài thơ “Sang thu” của nhà thơ Hữu Thỉnh. b. Dàn ý: *. Mở bài: + Giới thiệu tác giả, tác phẩm. + Giới thiệu khổ thơ đầu, nêu khái quát về giá trị nội dung của khổ thơ. *.Thân bài: + Cảm nhận thu sang của tác giả (phân tích vai trò của các giác quan). + Bức tranh vô hình của thời gian: Khúc giao mùa từ mùa hạ sang mùa thu. 16

+ Bức tranh được vẽ lên bởi giác quan đa dạng của người họa sĩ . – Hai câu thơ đầu thoáng chút bâng khuâng xao xuyến. – Mạch cảm xúc tiếp tục ở 2 câu cuối: + Phân tích vẻ đẹp, hay của các từ ngữ “hương ổi, phả, gió se, chùng chình, hình như”. + Suy nghĩ về mùa thu thiên nhiên thời khắc giao mùa: *. Kết bài: – Qua hình ảnh, hương vị quen thuộc, gần gũi đặc trưng của mùa thu và những cảm nhận tinh tế, tác giả đã thể hiện thành công vẻ đẹp thiên nhiên thời điểm giao mùa. *. RÈN KỸ NĂNG NÓI QUA MÔÔT GIÁO ÁN CỤ THỂ : Việc rèn kĩ năng nói cho học sinh đã được tôi chú ý thể hiện qua các hoạt động dạy- học ở giáo án sau đây. Tiết 140

LUYỆN NÓI : NGHỊ LUẬN VỀ MỘT ĐOẠN THƠ, BÀI THƠ A) Mục tiêu cần đạt : – Giúp học sinh củng cố kiến thức về cách làm bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ. – Luyện tập kĩ năng nói và đặc biệt là nói trước tập thể đông người một cách tự tin , rõ ràng, mạch lạc . B) Chuẩn bị: 1. Giáo viên: Chuẩn bị bảng phụ viết dàn ý cho đề bài: Bếp lửa sưởi ấm một đời -Bàn về bài thơ “Bếp lửa” của Bằng Việt. 2. Học sinh : – Hoâc sinh đọc lại bài thơ Bếp lửa – Lập dàn ý theo đề bài : Bếp lửa sưởi ấm một đời – Bàn về bài thơ “Bếp lửa” của Bằng Việt. – Chuẩn bị dàn ý đại cương, dàn ý chi tiết . – Tâ pâ trình bày miê âng theo dàn ý mình đã chuẩn bị . C)Tiến trình tổ chức các họat động dạy học : 1) Ổn định lớp : 2) Kiểm tra bài cũ : (5 phút) GV kiểm tra việc chuẩn bị bài của học sinh 3) Bài mới : Giới thiê âu bài :(2 phút ) Việc rèn kỹ năng rất cần thiết đối với các em .Nói như thế nào cho rõ ràng mạch lạc, tự tin nhất là trình bày nói cho bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ như hôm nay. Cô tin rằng với sự chuẩn bị có nhiều cố gắng của các em, tiết luyện nói hôm nay sẽ đạt được những hiệu quả tốt. 17

Hoạt động của thầy

18

Hoạt động của trò *. Đề bài: Bếp lửa sưởi ấm một đời -Bàn về bài thơ “Bếp lửa” của Bằng Việt. I/ Phân tích đề: Kiểu bài: Nghị luận về bài thơ Nội dung: Bếp lửa sưởi ấm một đời. (Bếp lửa từ trong kỉ niệm của tuổi thơ luôn sưởi ấm tâm hồn, nâng đỡ con người trên chặng hành trình dài của cuộc đời )

II/ Lâ Ôp dàn ý: 1. Mở bài: – Giới thiệu tác giả Bằng Việt và bài thơ “Bếp lửa”. – Khái quát giá trị của bài thơ và hình ảnh Bếp lửa . 2.Thân bài: Nghị luận về vấn đề trong bài thơ a. Hình ảnh Bếp lửa khơi nguồn cho những cảm xúc về bà : – Sự liên tưởng từ hình ảnh thân thương,ấm áp : Bếp lửa – Bếp lửa của tuổi thơ nhọc nhằn gian khổ sống bên bà b.Bếp lửa sưởi ấm tâm hồn tuổi thơ : -Bếp lửa hiện diện như tình bà ấm áp -Bếp lửa gợi những liên tưởng trong kỉ niệm về bà c. Bếp lửa với những suy ngẫm về bà : – Bà là người nhóm lửa ,người giữ lửa . – Ngọn lửa trở thành kỉ niệm thân thương ,thành niềm tin thiêng

Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Âm Nhạc

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BẮC NINHTRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ KINH BẮC

BÁO CÁOBIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG MÔN ÂM NHẠC“MỘT SỐ GIẢI PHÁP TẠO HỨNG THÚ CHO HỌC SINH THCS TRONG DẠY MÔN ÂM NHẠC”

Họ và tên: LÊ THỊ LỆ THỦY Môn giảng dạy: Âm nhạc Trình độ chuyên môn: Đại học Chức vụ: Giáo viên Đơn vị công tác: Trường THCS Kinh Bắc – Thành phố Bắc Ninh

KINH BẮC, THÁNG 10 NĂM 2020

PHẦN I: MỞ ĐẦU3

PHẦN II: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ3

1. Thực trạng công tác dạy và học môn Âm nhạc3

b, Hạn chế và nguyên nhân hạn chế:4

2. Biện pháp nâng cao chất lượng giảng dạy môn Âm nhạc 4

a) Biện pháp 1: Gây hứng thú cho HS ngay từ phần mở đầu bài học5

b) Biện pháp 2: Khuyến khích kỹ năng nghe và đánh giá của học sinh6

c) Biện pháp 3: HS phát biểu cảm nhận về bài hát 6

d) Biện pháp 4: Hướng dẫn HS học hát kết hợp biểu diễn 8

e) Biện pháp 5: Sử dụng phương tiện dạy học9

g) Biện pháp 6: Thường xuyên củng cố và phát triển hứng thú của HS trong giờ học âm nhạc9

h) Biện pháp 7: Chơi trò chơi 10

3. Thực nghiệm sư phạm11

a). Mô tả cách thực hiện:11

b) Kết quả đạt được 11

c) Điều chỉnh, bổ sung sau thực nghiệm12

4. Kết luận12

5. Kiến nghị, đề xuất12

PHẦN III: MINH CHỨNG VÀ HIỆU QUẢ CỦA BIỆN PHÁP13

PHẦN IV: CAM KẾT 14

PHẦN II: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ1. Thực trạng công tác dạy và học môn Âm nhạca, Ưu điểm:– Âm nhạc là một môn học độc lập trong chương trình Trung học cơ sở (THCS). Dạy và học nghiêm túc, có kiểm tra, thi đánh giá cuối năm và kết quả là một trong những tiêu chuẩn để xét lên lớp hay tốt nghiệp bậc học;– Nhà trường và Ban giám hiệu luôn quan tâm thường xuyên, trang bị đồ dùng, thiết bị giảng dạy, phù hợp với đặc trưng của bộ môn;– Giáo viên(GV) luôn có ý thức tự học hỏi để nắm chắc về chuyên môn, tích

Một Số Biện Pháp Nâng Cao Hiệu Quảgiáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Học Sinh Thcs

ĐỀ TÀI:

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ

GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH THCS

A. PHẦN MỞ ĐẦU

I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

          Trong mọi thời đại, giáo dục luôn đóng vai trò quan trọng: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu” với mục đích đào tạo ra những con người có đủ đức, đủ tài góp phần vào sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh để sánh vai với các cường quốc năm châu. Để thực hiện được mục đích đó đòi hỏi nhà trường, gia đình và xã hội phải tạo điều kiện tốt nhất cho các em học sinh được học tập và hoạt động sáng tạo nhằm chiếm lĩnh tri thức. Trong đó việc phối hợp giảng dạy tốt các môn Khoa học tự nhiên, Khoa học xã hội và rèn kỹ năng sống có ý nghĩa lớn, không chỉ giúp học sinh lĩnh hội kiến thức mà còn góp phần đào tạo thế hệ trẻ thành những người lao động chủ động, vừa có năng lực trí tuệ, vừa có kỹ năng, năng lực hành động thực tế vừa có phẩm chất đạo đức tốt.

         Trong thực tế hiện nay việc giáo dục kỹ năng sống của các em ở trường THCS còn thấp và nhiều hạn chế. Nguyên do chính là trong tư tưởng giáo viên, phụ huynh chỉ chú trọng đến việc dạy kiến thức, việc rèn kỹ năng sống cho học sinh còn chiếu lệ, học sinh được gia đình định hướng sớm nên chỉ tập trung học một số môn “chính” (đó là những môn thi vào cấp III và đại học) .

         Kỹ năng sống là điều hết sức quan trọng với tất cả mọi người, chứ không riêng gì học sinh. Tuy nhiên, học sinh là đối tượng thường được nhắm đến đầu tiên trong việc giáo dục kỹ năng sống, bởi trên thực tế cho thấy, hiện nay kỹ năng sống của các em học sinh đang là vấn đề rất đáng quan tâm vì trong những năm gần đây, dường như có sự bùng phát hiện tượng học sinh  nghiện game, học sinh nam để tóc kiểu, nhuộm tóc, đi học trễ… mặc dù bị nhắc nhở nhiều nhưng vẫn tiếp tục xảy ra. Hơn thế nữa hiện tượng nói trống không, thậm chí chỉ chào thầy cô dạy mình hoặc không chào cũng đang xảy ra ngày một nhiều hoặc nhiều trẻ rất thiếu kỹ năng làm việc nhà, kỹ năng tự phục vụ, kỹ năng tự bảo vệ bản thân…; hiện tượng trẻ em ngu ngơ khi phải xử lý những tình huống của cuộc sống thực, thiếu tự tin trong giao tiếp, thiếu bản lĩnh vượt qua khó khăn, thiếu sáng kiến và dễ nản chí.

        Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh là điều hết sức cần thiết cho tương lai

các em và cần được bắt đầu rèn luyện từ sớm, rèn luyện thường xuyên vì từ những hành vi cá nhân đơn giản nhất, theo đó hình thành tính cách và nhân cách. Do phần lớn thời gian học sinh ở trường học, nơi hàng ngày diễn ra cuộc sống thực của các em, thế nên bắt buộc các em phải được giáo dục và rèn luyện từ trong nhà trường sau đó mới đến gia đình. Nhưng rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh và đặc biệt là học sinh THCS như thế nào cho hiệu quả, thu hút được các em và các bậc phụ huynh luôn là vấn đề trăn trở của các nhà trường, của những người làm công tác giáo dục và của toàn xã hội hiện nay. Với mong muốn, nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác giáo dục kỹ năng sống cho học sinh nên tôi chọn đề tài “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THCS” để nghiên cứu và cùng chia sẻ.

II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

1. Đối với giáo viên

    – Sáng tạo về phương pháp dạy học phát huy tính chủ động, phát triển tư duy, tính tích cực, tự giác, tự học tập của học sinh.      

    – Chú trọng đến việc rèn luyện các kĩ năng, năng lực hành động, vận dụng kiến thức, tăng cường thực hành và gắn nội dung bài học với thực tế cuộc sống.

    – Thiết kế tổ chức, hướng dẫn học sinh thực hiện các hoạt động ngoài giờ lên lớp với hình thức đa dạng, phong phú, có sự hấp dẫn, phù hợp với đặc trưng bài học, với đặc điểm và trình độ học sinh, với điều kiện cụ thể của lớp, trường và

địa phương.

2. Đối với học sinh

    – Tích cực suy nghĩ, chủ động tham gia các hoạt động học tập, tự khám phá và lĩnh hội kiến thức, rèn luyện kĩ năng, xây dựng thái độ và hành vi đúng đắn.

    – Học sinh biết làm chủ bản thân, thích ứng và biết cách ứng phó trước những tình huống khó khăn trong cuộc sống hàng ngày và có cuộc sống bình thường trong một xã hội hiện đại

III. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

    Áp dụng trong việc tổ chức các hoạt động giáo dục để giáo dục và rèn kỹ năng sống cho học sinh THCS.

IV. ĐỐI TƯỢNG KHẢO SÁT

    Đối tượng khảo sát của đề tài là khả năng vận dụng kỹ năng sống của học sinh trường THCS nơi tôi đang công tác hiện nay. Thời điểm khảo sát (trước khi áp dụng đề tài) về khả năng vận dụng một số KNS của học sinh THCS vào thực tế  đã thu được kết quả như sau:

Năm học 2014- 2015

Khối

Kết quả khảo sát về khả năng vận dụng các kỹ năng sống của học sinh bậc THCS

KN tự

phục vụ

KN

giao tiếp

KN hợp tác

KN tìm kiếm sự

hỗ trợ

KN bảo vệ bản thân

6

42,3 %

48 %

41,3 %

50,6 %

39,5 %

7

60,6 %

59 %

49,6 %

56,5 %

46,5 %

8

71,0 %

76,5 %

66,9 %

64,4 %

57,6 %

9

83,5 %

88,3 %

80,7 %

72,9 %

65,9 %

Trung bình toàn trường

64,4 %

68,0 %

59,6 %

61,1 %

52,4 %

V. PHẠM VI VÀ KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU

1. Phạm vi nghiên cứu

      Đề tài tập trung giới thiệu và giải quyết những vấn đề về việc tổ chức các hoạt động giáo dục nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục và rèn kỹ năng sống cho học sinh THCS.

2. Kế hoạch nghiên cứu

      Đề tài này được tôi nghiên cứu, tiến hành thực nghiệm và hoàn thành từ tháng 9/2014 đến tháng 4/ 2017.

VI. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

– Tìm hiểu thực tế.

– Nghiên cứu thực nghiệm.

– Tổng hợp tư liệu, tài liệu.

B. PHẦN NỘI DUNG

I. CƠ SỞ LÍ LUẬN

          Trong Luật giáo dục Việt Nam năm 2005, điều 2 chương 3 đã quy định như sau: “Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lí tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.” Hơn thế, giáo dục là quá trình bao gồm giáo dục và giáo dưỡng. Trong giáo dục thì có giáo dưỡng, trong giáo dưỡng thì có giáo dục. Vậy làm thế nào để hai quá trình này tạo thành một mục tiêu chung? Làm thế nào để những người chủ tương lai của đất nước có đủ đức lẫn tài? Làm thế nào để sự nghiệp giáo dục mang lại hiệu quả tốt? Đây chính là trách nhiệm của toàn xã hội, của những người làm công tác giáo dục.

         Vấn đề giáo dục học sinh trở thành những con người phát triển toàn diện là nhiệm vụ hàng đầu biến các mục tiêu giáo dục thành hiện thực. Theo Thông tư số 463/BGDĐT-GDTX ngày 28 tháng 01 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT V/v hướng dẫn triển khai thực hiện giáo dục kỹ năng sống tại các cơ sở GDMN, GDPT và GDTX đã quy định về nội dung giáo dụckỹ năng sống đối với học sinh nhằm mục đích:

– Đẩy mạnh hoạt động giáo dục KNS cho HS theo định hướng phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực của HS gắn với định hướng nghề nghiệp;

– Giúp giáo viên chủ động, tích cực trong việc tự bồi dưỡng KNS cho bản thân và giáo dục KNS cho HS.

– Tăng cường sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội, tạo môi trường thuận lợi để giáo dục KNS cho HS.

           Thông tư cũng nhấn mạnh nội dung giáo dục kỹ năng sống cho học sinh là: Giáo dục cho người học những kỹ năng cơ bản, cần thiết, hướng tới hình thành những thói quen tốt giúp người học thành công, đảm bảo vừa phù hợp với thực tiễn và thuần phong mỹ tục Việt Nam vừa hội nhập quốc tế trong giai đoạn công nghiệp hoá đất nước. Đối với đối tượng là học sinh THCS cần tiếp tục rèn luyện những kỹ năng đã được học ở tiểu học, tập trung giáo dục những KNS cốt lõi, có ý nghĩa thiết thực cho người học như: kỹ năng ra quyết định và giải quyết vấn đề, kỹ năng tư duy phản biện và sáng tạo, kỹ năng giao tiếp và hợp tác, kỹ năng tự nhận thức và cảm thông, kỹ năng quản lý cảm xúc và đương đầu với áp lực, kỹ năng tự học.

II. CƠ SỞ THỰC TIỄN

          Cuộc sống hiện đại về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, khoa học kỹ thuật, môi trường khí hậu… ở trong nước và trên thế giới đang vận động hết sức khẩn trương và chứa đựng nhiều yếu tố khôn lường. Để sống, hội nhập và góp phần tích cực cho cuộc sống cá nhân và cộng đồng tốt đẹp hơn, con người nói chung và học sinh nói riêng không thể không quan tâm đến việc rèn luyện kỹ năng sống nhằm thích ứng với mọi biến động của hoàn cảnh.

          Hiện nay, đa số học sinh sống trong hai môi trường có hoàn cảnh khác nhau: Một là các em được sự quan tâm chăm sóc quá sức chu đáo của phụ huynh vì sống trong gia đình ít con, hoàn cảnh kinh tế ổn định; hai là những em sống trong gia đình với nhiều lo toan cho cuộc sống mưu sinh, phụ huynh bỏ mặc con cái. Môi trường hoàn cảnh khác nhau ấy lại thường cùng mang đến cho các em một thiếu sót lớn trong từng bước trưởng thành, đó là kĩ năng sống.

        Mục tiêu của giáo dục THCS  nhằm giúp học sinh củng cố, phát triển những kết quả của giáo dục Tiểu học; có học vấn phổ thông ở trình độ cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kĩ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học Trung học phổ thông, trung cấp học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động. Giáo dục bậc THCS có vai trò duy trì và phát tiển những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kỹ năng cơ bản, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, nội dung giáo dục trong các nhà trường THCS trong thời gian qua còn xem trọng việc dạy chữ, chưa chú trọng đúng mức dạy làm người, nhất là việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.Thế nên việc giáo dục kỹ năng sống chỉ được mang tính chất lồng ghép vào các môn học. Ở lứa tuổi của các em nếu chỉ dạy kỹ năng sống thông qua các môn học, qua lý thuyết suông thì chưa đủ. Hãy gắn các em vào những hoạt động bổ ích, những việc làm phù hợp với những hình thức linh hoạt, sáng tạo để thu hút trẻ. Thế nên việc phối hợp các biện pháp giữa giáo dục chính khóa và hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp sẽ là điều kiện là cơ hội tốt cho trẻ tự thể hiện bản thân, được trải nghiệm cuộc sống bằng những việc làm của mình.

III. THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1. Thuận lợi

          – Bộ Giáo dục – Đào tạo đã phát động phong trào “Xây dựng trường học thân thiện – học sinh tích cực” với những kế hoạch, nội dung nhất quán từ trung ương đến địa phương. Trong đó, nội dung  rèn kỹ năng sống cho HS ngày càng được chú trọng hơn và tập trung vào một số hoạt động sau:

+ Giáo dục đạo đức, kỹ năng sống cho học sinh thông qua các môn học, hoạt động giáo dục và xây dựng quy tắc ứng xử văn hoá. Nhà trường chủ động phối hợp với gia đình và cộng đồng cùng tham gia chăm sóc giáo dục đạo đức và kỹ năng sống cho học sinh. Thực hiện Chỉ thị 1537/CT-BGDĐT ngày 05/5/2014 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về tăng cường và nâng cao hiệu quả một số hoạt động giáo dục cho học sinh, sinh viên trong các cơ sở giáo dục, đào tạo; Thông tư số 04/2014/TT-BGDĐT ngày 28/02/2014 ban hành quy định về quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống và hoạt động giáo dục ngoài giờ chính khóa; Thông tư số 07/2014/TT-BGDĐT ngày 14/3/2014 quy định về hoạt động chữ thập đỏ

 trong trường học.                                                                                                     + Đẩy mạnh các giải pháp nhằm xây dựng trường, lớp xanh, sạch, đẹp; đủ nhà vệ sinh sạch sẽ cho học sinh và giáo viên.

+ Tổ chức cho học sinh hát Quốc ca tại Lễ chào Cờ Tổ quốc; tăng cường giáo dục thể chất, rèn luyện sức khỏe cho học sinh thông qua tập thể dục buổi sáng, tập thể dục giữa giờ.

+ Đưa các nội dung giáo dục văn hoá truyền thống, giáo dục thông qua di sản vào nhà trường. Tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo, vui chơi, giải trí tích cực, các hoạt động văn nghệ, thể thao, trò chơi dân gian, dân ca, ngoại khoá phù hợp với điều kiện cụ thể của nhà trường và địa phương. Hướng dẫn học sinh tự quản, chủ động tự tổ chức, điều khiển các hoạt động tập thể và hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp.

+ Tổ chức lễ khai giảng năm học mới (với cả phần lễ và phần hội) gọn nhẹ, vui tươi, tạo không khí phấn khởi cho học sinh bước vào năm học mới. Trong đó, dành thời gian tổ chức lễ đón học sinh lớp 1, tạo ấn tượng và cảm xúc cho học sinh.

+ Tổ chức 1 – 2 “Tuần làm quen” đầu năm học mới đối với lớp 6 nhằm giúp học sinh thích nghi với môi trường học tập mới ở trường THCS.

+ Tổ chức lễ ra trường trang trọng, tạo dấu ấn sâu sắc cho học sinh hoàn thành chương trình THCS trước khi ra trường (tuỳ điều kiện cụ thể, có thể tổ chức các sinh hoạt tập thể, giao lưu, văn nghệ,…).

          -  Bên cạnh các phong trào thi đua, các công văn hướng dẫn chỉ, chỉ đạo thực hiện công tác giáo dục KNS cho học sinh, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức một số hoạt động hướng tới việc rèn luyện năng lực cho học sinh như: Tổ chức Chương trình đánh giá học sinh quốc tế PISA với cách đánh giá kỹ năng vận dụng kiến thức vào giải quyết các vấn đề thực tiễn trong cuộc sống; tổ chức cuộc thi vận dụng kiến thức liên môn giải quyết các vấn đề thực tiễn; triển khai phương pháp dạy học “Bàn tay nặn bột”, là phương pháp dạy học khoa học được tiến hành dưới sự giúp đỡ của giáo viên, chính học sinh tìm ra câu trả lời cho các vấn đề được đặt ra trong cuộc sống thông qua tiến hành thí nghiệm, quan sát, nghiên cứu tài liệu hay điều tra để từ đó hình thành kiến thức cho mình.

          – Phòng Giáo dục – Đào tạo cũng đã có kế hoạch từng năm học với những biện pháp cụ thể để rèn kỹ năng sống cho học sinh một cách chung nhất cho các bậc học, đây chính là những định hướng giúp giáo viên thực hiện như: Rèn luyện kỹ năng ứng xử hợp lý với các tình huống trong cuộc sống, thói quen và kỹ năng làm việc, sinh hoạt theo nhóm; rèn luyện sức khỏe và ý thức bảo vệ sức khỏe, kỹ năng phòng, chống tai nạn giao thông, đuối nước và các tai nạn thương tích khác; rèn luyện kỹ năng ứng xử văn hóa, chung sống hòa bình, phòng ngừa bạo lực và các tệ nạn xã hội.

         – Trong thực tế những năm học gần đây, cơ sở vật chất của nhiều nhà trường đã được nâng cấp hoặc xây dựng mới, đồ dùng và các phương tiện dạy học ngày càng đầy đủ và hiện đại, trình độ chuyên môn của giáo viên đều đạt chuẩn và trên chuẩn, giáo viên thành thạo về kỹ năng công nghệ thông tin…Đây là những điều kiện vô cùng thuận lợi giúp việc tổ chức giáo dục kỹ năng sống cho học sinh qua các hoạt động giáo dục được hiệu quả hơn.

2. Khó khăn

* Về phía học sinh

          Do đặc điểm tâm sinh lí học sinh, nhiều em tính cách nhút nhát, ít va chạm với môi trường xung quanh, sức khỏe yếu… nên khó khăn cho việc tiếp thu kiến thức và các kỹ năng.

* Về phía phụ huynh

         - Về phía các bậc cha mẹ các em luôn nóng vội trong việc dạy con; họ chỉ chú trọng đến việc con mình  được điểm số là bao nhiêu,  đạt được những thành   tích gì, học các môn “chính” có giỏi không… hoặc nếu con có điểm số thấp, học các môn“chính” chưa tốt thì lo lắng một cách thái quá. Phụ huynh chiều chuộng, cung phụng con cái khiến các em không có kỹ năng tự phục vụ.

          - Nhiều bậc phụ huynh do bận làm ăn, hầu như chỉ chú ý con em mình có ăn ngon, mặc đẹp là được, không có chút thời gian quan tâm đến tâm tư tình cảm, không quan tâm đến học tập của con em mình. Phụ huynh chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc giáo dục đạo đức cho các em, trách nhiệm của mình trong việc học tập của con em còn phó thác cho giáo viên.

*Về phía giáo viên

             – Trong thực tế, khi xây dựng chương trình dạy học, nội dung dạy học trên lớp, giáo viên đều phải xây dựng 3 mục tiêu: Cung cấp kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành thái độ. Đây là yêu cầu mang tính nguyên tắc trong dạy học và giáo viên đều nhận thức sâu sắc yêu cầu này. Tuy nhiên, có thể nói rằng do phải chạy theo thời gian, phải chuyển tải nhiều nội dung kiến thức trong khi thời gian có hạn, giáo viên có khuynh hướng tập trung cung cấp kiến thức mà ít quan tâm rèn luyện kỹ năng cho học sinh, nhất là kỹ năng ứng xử với xã hội, ứng phó và hòa nhập với cuộc sống.

           – Nhà trường là môi trường giáo dục quan trọng nhất trong việc hình thành và phát triển nhân cách học sinh, nhưng nhiều cơ sở chưa chú tâm đầu tư mới chỉ hoàn thành theo mục tiêu môn học, chưa nghiên cứu phương pháp dạy nhằm mục đích giáo dục cao nhất. Giáo viên chưa xác định được kỹ năng cần rèn qua từng bài học. Chưa chú ý kiểm tra kỹ năng hành vi đạo đức đã học của học sinh.

          - Việc rèn kỹ năng sống cho học sinh chưa thường xuyên liên tục nên các hành vi đạo đức chưa trở thành thói quen, các em chóng quên. hành vi đó

 chưa có giá trị thực tế cao.

IV. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

1. Kỹ năng sống là gì?

1.1 Khái niệm kỹ năng sống

     Các tổ chức trên thế giới đã đưa ra rất nhiều quan niệm về kĩ năng sống:

 * Theo UNESCO:

        Kỹ năng sống là năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hằng ngày. Kỹ năng sống bao gồm một loạt các kỹ năng cụ thể cần thiết cho cuộc sống hằng ngày của con người. Bản chất của kỹ năng sống là kỹ năng tự quản bản thân và kỹ năng xã hội cần thiết để cá nhân tự lực

 trong cuộc sống, học tập và làm việc hiệu quả.

*Theo Tổ chức y tế thế giới ( WHO):

        Kỹ năng sống là các khả năng để có hành vi thích ứng và tích cực giúp các cá nhân có thể ứng xử hiệu quả trước các nhu cầu và thách thức của cuộc sống hằng ngày.

*Theo UNICEF:

        Kỹ năng sống là cách tiếp cận giúp thay đổi hoặc hình thành hành vi mới. Cách tiếp cận này lưu ý đến sự cân bằng về tiếp thu kiến thức, hình thành thái độ và phát triển kỹ năng. Cách tiếp cận này nhấn mạnh việc luyện tập thường xuyên, lặp đi lặp lại để củng cố.

*Kết luận:

       – Kỹ năng sống là khả năng làm chủ bản thân của mỗi người, khả năng ứng xử phù hợp với những người khác và với xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống. Một kỹ năng có thể có những tên gọi khác nhau: Kỹ năng hợp tác còn gọi là kỹ năng làm việc nhóm; Kỹ năng kiểm soát cảm xúc còn gọi là kỹ năng xử lí cảm xúc, kỹ năng làm chủ cảm xúc, kỹ năng quản lí cảm xúc; Kỹ năng thương lượng còn gọi là kỹ năng đàm phán, kỹ năng thương thuyết.

       – Nội dung giáo dục kỹ năng sống cho học sinh bậc THCS hiện nay là những kỹ năng tâm lý – xã hội cơ bản giúp cho cá nhân tồn tại và thích ứng trong cuộc sống, giúp cho cá nhân vững vàng trước cuộc sống có nhiều thách thức nhưng cũng nhiều cơ hội trong thực tại… Kỹ năng sống đơn giản là tất cả điều cần thiết mà chúng ta phải biết để có được khả năng thích ứng với những thay đổi diễn ra hằng ngày trong cuộc sống.

1.2 Phân loại kỹ năng sống

        Kỹ năng sống được chia thành 2 loại: Kỹ năng cơ bản và kỹ năng nâng cao.

*Kỹ năng cơ bản gồm: Kỹ năng nghe, nói, đọc, viết, múa, hát, đi, đứng, chạy, nhảy v.v…

*Kỹ năng nâng cao: Là sự kế thừa và phát triển các kỹ năng cơ bản dưới một dạng thức mới hơn. Nó bao gồm: Các kỹ năng tư duy logic, sáng tạo, suy nghĩ nhiều chiều, phân tích, tổng hợp, so sánh, nêu khái niệm, đặt câu hỏi v.v…

         Mục tiêu giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THCS là trang bị cho các em những kiến thức, giá trị, thái độ và kĩ năng phù hợp. Trên cơ sở đó hình thành cho học sinh những hành vi, thói quen lành mạnh, tích cực; loại bỏ những hành vi, thói quen tiêu cực trong các mối quan hệ, các tình huống và hoạt động hàng ngày; Tạo cơ hội thuận lợi để học sinh thực hiện tốt quyền, bổn phận của mình và phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức. Theo đó, chúng ta cần tập trung rèn luyện cho các em 2 nhóm kỹ năng sống sau đây:

+ Nhóm kỹ năng giao tiếp – hòa nhập cuộc sống.

+ Nhóm kỹ năng trong học tập, lao động – vui chơi giải trí.

2. Các biện pháp nâng cao hiệu quả giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THCS

2.1. Nhận thức sâu sắc về việc dạy trẻ kỹ năng sống

       – Kỹ năng sống hướng vào việc giúp con người thay đổi nhận thức, thái độ và giá trị trong những hành động theo xu hướng tích cực và mang tính chất xây dựng. Rèn luyện kỹ năng sống sẽ giúp học sinh nhanh chóng hoà nhập và khẳng định vị trí của mình trong tập thể, mà xa hơn là một cộng đồng, xã hội. Chính vì vậy, việc rèn luyện kỹ năng sống cho trẻ là điều rất cần thiết. Việc hình thành các kỹ năng cơ bản trong học tập và sinh hoạt là yếu tố quyết định đến quá trình hình thành và phát triển nhân cách sau này của các em. Khi xảy ra vấn đề nào đó, nếu không được trang bị kỹ năng sống, các em sẽ không đủ kiến thức để xử lý các tình huống bất ngờ. Vì thế, rèn luyện kỹ năng sống sẽ giúp học sinh sớm có ý thức làm chủ bản thân, sống tích cực và hướng đến những điều lành mạnh cho chính mình cũng như xã hội.

       – Hiện nay, do áp lực công việc của giáo viên quá nhiều do: Hồ sơ giáo án, dự giờ kiểm tra, các phong trào thi đua… chiếm nhiều thời gian công việc quá lớn. Nhưng chúng ta đã không vì áp lực công việc mà thiếu đi quan tâm giáo dục chuẩn mực, vì điều đó sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến các em…Vì vậy, bên cạnh việc dạy kiến thức còn cần phải quan tâm đến việc giáo dục kỹ năng sống cho các em.

2.2. Xác định những kỹ năng sống cơ bản cần dạy cho học sinh THCS

        Học sinh THCS ( từ 12-16 tuổi) là lứa tuổi có nhiều thay đổi mạnh mẽ về thể chất, sức khỏe và tâm sinh lý. Tuổi dậy thì các em dễ thay đổi tình cảm, hành vi, chóng vui chóng buồn. Vì vậy việc giáo dục kỹ năng sống cho các em trong giai đoạn này vô cùng quan trọng và cấp thiết .Việc xác định được các kỹ năng cơ bản phù hợp với lứa tuổi sẽ giúp giáo viên lựa chọn đúng những nội dung trọng tâm để trang bị cho các em những kỹ năng cần thiết nhất trong giai đoạn chuyến tiếp này.

       – Đối với học sinh lớp 6, việc chuyển tiếp từ trường tiểu học lên THCS được coi là bước ngoặt trong cuộc đời các em. Đây là giai đoạn khó khăn nhất với các em do thay đổi môi trường cũng như yêu cầu học tập. Vì vậy người giáo viên cần phải quan tâm, động viên và thấu hiểu các em; biết cách tôn trọng tính độc lập và quyền bình đẳng của các em, cần gương mẫu, khéo léo trong mọi vấn đề. Thầy cô cần nhận thức sâu sắc về sự cần thiết của việc giáo dục kĩ năng sống cho các em và phải xác định được những kỹ năng sống cần thiết để giáo dục trẻ trong giai đoạn này và những năm phát triển tiếp theo.

2.3. Cụ thể hóa nội dung của những kỹ năng cơ bản mà giáo viên cần dạy cho học sinh THCS

2.3.1. Kỹ năng tự nhận thức bản thân

       Kỹ năng tự nhận thức là khả năng con người hiểu về chính bản thân mình,

 như cơ thể, tư tưởng, các mối quan hệ xã hội của bản thân; biết nhìn nhận, đánh

 giá đúng về tiềm năng, tình cảm, sở thích, thói quen, điểm mạnh, điểm yếu,…của bản thân mình; quan tâm và luôn ý thức được mình đang làm gì, kể cả nhận ra lúc bản thân đang cảm thấy căng thẳng.

       Tự nhận thức là một kỹ năng sống rất cơ bản của con người, là nền tảng để con người giao tiếp, ứng xử phù hợp và hiệu quả với người khác cũng như để có thể cảm thông được với người khác. Ngoài ra, có hiểu đúng về mình, con người mới có thể cớ những quyết định, những sự lựa chọn đúng đắn, phù hợp với khả năng của bản thân, với điều kiện thực tế và yêu cầu xã hội. Ngược lại, đánh giá không đúng về bản thân có thể dẫn con người đến những hạn chế, sai lầm, thất bại trong cuộc sống và trong giao tiếp với người khác.Để tự nhận thức đúng về bản thân cần phải được trải nghiệm qua thực tế, đặc biệt là giao tiếp với người khác.

2.3.2. Kỹ năng xác định giá trị

       Giá trị là những gì con người cho là quan trọng, là có ý nghĩa đối với bản thân mình, có tác dụng định hướng cho suy nghĩ, hành động và lối sống của bản thân trong cuộc sống. Giá trị có thể là những chuẩn mực đạo đức, những chính kiến, thái độ, và thậm chí là thành kiến đối với một điều gì đó…Giá trị có thể là giá trị vật chất hoặc giá trị tinh thần, có thể thuộc các lĩnh vực văn hóa,

nghệ thuật, đạo đức, kinh tế,…

       Mỗi người đều có một hệ thống giá trị riêng. Kỹ năng xác định giá trị là khả năng con người hiểu rõ được những giá trị của bản thân mình. Kỹ năng xác định giá trị có ảnh hưởng lớn đến quá trình ra quyết định của mỗi người. Kỹ năng này còn giúp người khác biết tôn trọng người khác, biết chấp nhận rằng người khác có những giá trị và niềm tin khác.

2.3.3. Kỹ năng kiểm soát cảm xúc

       Kiểm soát cảm xúc là khả năng con người nhận thức rõ cảm xúc của mình trong một tình huống nào đó và hiểu được ảnh hưởng của cảm xúc đối với bản thân và đối với người khác thế nào, đồng thời biết cách điều chỉnh và thể hiện cảm xúc một các phù hợp. Kỹ năng xử lý cảm xúc còn có nhiều tên gọi khác như: Xử lý cảm xúc , kiềm chế cảm xúc, làm chủ cảm xúc, quản lí cảm xúc.

       Một người biết kiểm soát cảm xúc thì sẽ góp phần giảm căng thẳng giúp giao tiếp và thương lượng hiệu quả hơn, giải quyết mâu thuẫn một cách hài hòa và mang tính xây dựng hơn, giúp ra quyết định và giải quyết vấn đề tốt hơn.

Kỹ năng quản lý cảm xúc cần sự kết hợp với kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng ứng xử với người khác và kỹ năng ứng phó với căng thẳng, đồng thời góp phần củng cố các kỹ năng này.

2.3.4. Kỹ năng ứng phó với căng thẳng

        Kỹ năng ứng phó với căng thẳng là khả năng con người bình tĩnh, sẵn sàng đón nhận những tình huống căng thẳng như là một phần tất yếu của cuộc sống, là khả năng nhận biết sự căng thẳng, hiểu được nguyên nhân, hậu quả của căng thẳng, cũng như biết cách suy nghĩ và ứng phó một cách tích cực khi bị căng thẳng.

         Chúng ta cũng có thể hạn chế những tình huống căng thẳng bằng cách sống và làm việc điều dộ, có kế hoạch, thường xuyên luyện tập thể dục thể thao, sống vui vẻ, chan hòa, tránh gây mâu thuẫn không cần thiết với mọi người xunh quanh, không đặt ra cho mình những mục tiêu quá cao so với điều kiện và khả năng của bản thân,…

         Kỹ năng ứng phó với căng thẳng có được nhờ sự kết hợp của các kỹ năng sống khác như: kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng xử lý cảm xúc, kỹ năng giao tiếp, tư duy sáng tạo, kỹ năng tìm kiếm sự giúp đỡ và kỹ năng giải quyết vấn đề.

2.3.5. Kỹ năng tìm kiếm sự hỗ trợ

        Trong cuộc sống, nhiều khi chúng ta gặp những vấn đề, tình huống phải cần đến sự hỗ trợ, giúp đỡ của những người khác. Kỹ năng tìm kiếm sự hỗ trợ

 bao gồm các yếu tố sau:

- Ý thức được nhu cầu cần giúp đỡ.

- Biết xác định được những địa chỉ đáng tin cậy.

– Tự tin và biết tìm đến các địa chỉ đó.

– Biết bày tỏ nhu cầu cần giúp đỡ một cách phù hợp.

      Khi tìm đến các địa chỉ cần hỗ trợ, chúng ta cần:

– Cư xử đúng mực và tự tin.

– Cung cấp thông tin đầy đủ, rõ ràng, ngắn gọn.

– Giữ bình tĩnh khi gặp sự cố đối xử thiếu thiện chí. Nếu vẫn cần sự hỗ trợ của người thiếu thiện chí, cố gắng tỏ ra bình thường, kiên nhẫn nhưng không sợ hãi.

– Nếu bị cự tuyệt, đừng nản chí, hãy kiên trì tìm kiếm sự hỗ trợ từ các địa chỉ khác, người khác.Kỹ năng tìm kiếm sự hỗ trợ, giúp đỡ giúp chúng ta có thể nhận được những lời khuyên, sự can thiệp cần thiết để tháo gỡ, giải quyết những vấn đề khó khăn, giảm bớt được căng thẳng tâm lý do bị dồn nén cảm xúc. Biết tìm kiếm sự giúp đỡ kịp thời sẽ giúp cá nhân không cảm thấy đơn độc, bi quan, và trong nhiều trường hợp, giúp chúng ta có cái nhìn mới và hướng đi mới.

           Kỹ năng tìm kiếm sự hỗ trợ, giúp đỡ rất cần thiết để giải quyết vấn đề, giải quyết mâu thuẫn và ứng phó với căng thẳng. Đồng thời để phát huy hiệu quả của kỹ năng này, cần kỹ năng lắng nghe, khả năng phân tích thấu đáo ý kiến tư vấn, kỹ năng ra quyết định lựa chọn cách giải quyết tối ưu sau khi được tư vấn.

2.3.6. Kỹ năng thể hiện sự tự tin

       Tự tin là có niềm tin vào bản thân; tự hài lòng với bản thân; tin rằng mình có thể trở thành một người có ích và tích cực, có niềm tin về tương lai, cảm thấy có nghị lực để hoàn thành các nhiệm vụ.

        Kỹ năng thể hiện sự tự tin giúp cá nhân giao tiếp hiệu quả hơn, mạnh dạn bày tỏ suy nghĩ và ý kiến của mình, quyết đoán trong việc ra quyết định và giải quyết vấn đề, thể hiện sự kiên định, đồng thời cũng giúp người đó có suy nghĩ tích cực và lạc quan trong cuộc sống.

        Kỹ năng thể hiện sự tự tin là yếu tố cần thiết trong giao tiếp, thương lượng, ra quyết định, đảm nhận trách nhiệm.

2.3.7. Kỹ năng giao tiếp

       Kỹ năng giao tiếp là khả năng có thể bày tỏ ý kiến của bản thân theo hình thức nói, viết hoặc sử dụng ngôn ngữ cơ thể phù hợp với hoàn cảnh và văn hóa, đồng thời biết lắng nghe, tôn trọng ý kiến người khác ngay cả khi bất đồng quan điểm. Bày tỏ ý kiến bao gồm cả bày tỏ về suy nghĩ, ý tưởng, nhu cầu, mong muốn và cảm xúc, đồng thời nhờ sự giúp đỡ và sự tư vấn cần thiết.

       Kỹ năng giao tiếp giúp con người biết đánh giá tình huống giao tiếp và điều chỉnh cách giao tiếp một cách phù hợp, hiệu quả, cởi mở bày tỏ suy nghĩ, cảm xúc nhưng không làm hại gây tổn thương cho người khác. Kỹ năng này giúp chúng ta có mối quan hệ tích cực với người khác, bao gồm biết gìn giữ mối quan hệ tích cực với các thành viên trong gia đình- nguồn hỗ trợ quan trọng cho mỗi chúng ta, đồng thời biết cách xây dựng mối quan hệ với bạn bè mới và đây là yếu tố rất quan trọng đối với niềm vui cuộc sống. Kỹ năng này cũng giúp kết thúc các mối quan hệ khi cần thiết một cách xây dựng.

       Kỹ năng giao tiếp là yếu tố cần thiết cho nhiều kỹ năng khác như bày tỏ sự cảm thông, thương lượng, hợp tác, tìm kiếm sự giúp đỡ, giải quyết mâu thuẫn, kiếm soát cảm xúc. Người có kỹ năng giao tiếp tốt biết dung hòa đối với mong đợi của những người khác, có cách ứng xử khi làm việc cùng và ở cùng với những người khác trong một môi trường tập thể, quan tâm đến những điều người khác quan tâm và giúp họ có thể đạt được những điều họ mong muốn một cách chính đáng.

2.3.8. Kỹ năng lắng nghe tích cực

       Lắng nghe tích cực là một phần quan trọng của kỹ năng giao tiếp. Người có kỹ năng lắng nghe tích cực biết thể hiện sự tập trung chú ý và thể hiện sự quan tâm lắng nghe ý kiến hoặc phần trình bày của người khác (bằng các cử chỉ, điệu bộ, ánh mắt, nét mặt, nụ cười), biết cho ý kiến phản hồi mà không vội đánh giá, đồng thời có đối đáp hợp lí trong quá trình giao tiếp.

       Người có kỹ năng lắng nghe tích cực thường được nhìn nhận là biết tôn trọng và quan tâm đến ý kiến của người khác, nhờ đó làm cho việc giao tiếp, thương lượng và hợp tác của họ hiệu quả hơn. Lắng nghe tích cực cũng góp

 phần giải quyết mâu thuẫn một cách hài hòa và xây dựng.

       Kỹ năng lắng nghe tích cực có quan hệ mật thiết với các kĩ năng giao tiếp, thương lượng, hợp tác, kiềm chế cảm xúc và giải quyết mâu thuẫn.

2.3.9. Kỹ năng thể hiện sự cảm thông

       Thể hiện sự cảm thông là khả năng có thể hình dung và đặt mình trong hoàn cảnh của người khác, giúp chúng ta hiểu và chấp nhận người khác vốn là những người rất khác mình, qua đó chúng ta có thể hiểu rõ cảm xúc và tình cảm của người khác và cảm thông với hoàn cảnh hoặc nhu cầu của họ

        Kỹ năng này có ý nghĩa quan trọng trong việc tăng cường hiệu quả giao tiếp và ứng xử với người khác; cải thiện các mối quan hệ giao tiếp xã hội, đặc biệt trong bối cảnh đa văn hóa, đa sắc tộc. Kỹ năng thể hiện sự cảm thông cũng giúp khuyến khích thái độ quan tâm và hành vi thân thiện, gần gũi với những người cần sự giúp đỡ.

         Kỹ năng thể hiện sự cảm thông được dựa trên kĩ năng tự nhận thức và kĩ năng xác định giá trị, đồng thời là yếu tố cần thiết trong kĩ năng giao tiếp, giải quyết vấn đề, giải quyết mâu thuẫn, thương lượng, kiên định và kiềm chế cảm xúc.

2.3.10. Kỹ năng thương lượng

nghĩ, cách làm hoặc một vấn đề gì đó.

        Kỹ năng thương lượng bao gồm nhiều yếu tố của kỹ năng giao tiếp như lắng nghe, bày tỏ suy nghĩ và một phần quan trọng của giải quyết vấn đề và giải quyết mâu thuẫn. Một người có kỹ năng thương lượng tốt sẽ giúp giải quyết vấn đề hiệu quả, giả quyết mâu thuẫn một cách xây dựng và có lợi cho tất cả các bên.

 thông, tư duy sáng tạo, kĩ năng hợp tác và khả năng thỏa hiệp những vấn đề không có tính nguyên tắc của bản thân.

2.3.11. Kỹ năng hợp tác

         Hợp tác là cùng chung sức làm việc, giúp đỡ, hỗ trợ lẫn nhau trong một công việc, một lĩnh vực nào đó vì mục đích chung.

         Kỹ năng hợp tác là khả năng cá nhân biết chia sẻ trách nhiệm, biết cam kết và cùng làm việc có hiêu quả với những thành viên khác trong nhóm. Biểu hiện của người có kỹ năng hợp tác:

- Tôn trọng mục đích, mục tiêu hoạt động chung của nhóm; tôn trọng những quyết định chung, những điều đã cam kết.

- Biết giao tiếp hiệu quả, tôn trọng, đoàn kết và cảm thông, chia sẻ với các thành viên khác trong nhóm.

– Biết bày tỏ ý kiến, tham gia xây dựng kế hoạch hoạt động của nhóm. Đồng thời biết lắng nghe, tôn trọng, xem xét các ý kiến, quan điểm của mọi người trong nhóm.

- Nỗ lực phát huy năng lực, sở trường của bản thân để hoàn thành tốt nhiệm vụ đã được phân công. Đồng thời biết hỗ trợ, giúp đỡ các thành viên khác trong quá trình hoạt động.

– Biết cùng cả nhóm đồng cam cộng khổ vượt qua những khó khăn, vướng mắc để hoàn thành mục đích, mục tiêu hoạt động chung.

- Có trách nhiệm về những thành công hay thất bại của nhóm, về những sản phẩm do nhóm tạo ra.

2.3.12. Kỹ năng tư duy phê phán

          Kỹ năng tư duy phê phán là khả năng phân tích một cách khách quan và toàn diện các vấn đề, sự vật, hiện tượng…xảy ra. Để phân tích một cách có phê phán, con người cần:

– Thu thập thông tin về vấn đề, sự vật, hiện tượng…đó từ nhiều nguồn khác nhau.

– Phân tích, so sánh, đối chiếu, lí giải các thông tin thu thập được, đặc biệt là các thông tin trái chiều.

– Xác định bản chất vấn đề, tình huống, sự vật, hiện tượng…là gì?

– Nhận định về những mặt tích cực, hạn chế của vấn đề, tình huống, sự vật, hiện tượng,….đó, xem xét một cách thấu đáo, sâu sắc và có hệ thống.

           Kỹ năng tư duy phê phán rất cần thiết để con người có thể đưa ra được những quyết định, những tình huống phù hợp. Nhất là trong xã hội hiện đại ngày nay, khi mà con người luôn phải đối mặt với nhiều vấn đề gay cấn của cuộc sống, luôn phải xử lý nhiều nguồn thông tin đa dạng, phức tạp…thì kỹ năng tư duy phê phán càng trở lên quan trọng đối với mỗi cá nhân.

           Kỹ năng tư duy phê phán phụ thuộc vào hệ thốn giá trị cá nhân. Một người có được kĩ năng tư duy phê phán tốt khi biết phối hợp nhịp nhàng với kĩ năng tự nhận thức và kĩ năng xác định giá trị.

2.3.13. Kỹ năng tư duy sáng tạo

          Tư duy sáng tạo là khả năng nhìn nhận và giải quyết vấn đề theo một cách mới, với ý tưởng mới, theo phương thức mới, cách sắp xếp và tổ chức mới; là khả năng khám phá và kết nối mối quan hệ giữa các khái niệm, ý tưởng, quan niệm, sự việc; độc lập trong suy nghĩ.

           Kỹ năng tư duy sáng tạo giúp con người tư duy năng động với nhiều sáng kiến và óc tưởng tượng; biết cách phán đoán và thích nghi; có tầm nhìn và khả năng suy nghĩ rộng hơn các người khác, không bị bó hẹp vào kinh nghiệm trực tiếp đang trải qua; tư duy minh mẫn và khác biệt.

          Tư duy sáng tạo là một kỹ năng sống quan trọng bởi vì trong cuộc sống con người thường xuyên bị đặt vào những hoàn cảnh bất ngờ hoặc ngẫu nhiên xảy ra. Khi gặp những hoàn cảnh như vậy đòi hỏi chúng ta phải có tư duy sáng tạo để có thể ứng phó một cách linh hoạt và phù hợp.

          Khi một người biết kết hợp tốt giữa kĩ năng tư duy phê phán và tư duy sáng tạo thì năng lực tư duy của người ấy càng được tăng cường và sẽ giúp ích rất nhiều cho bản thân trong việc giải quyết vấn đề một cách thuận lợi và phù hợp nhất.

2.3.14. Kỹ năng kiên định

          Kỹ năng kiên định là khả năng con người nhận thức được những gì mình muốn và lí do dẫn đến sự mong muốn đó. Kiên định còn là khả năng tiến hành các bước cần thiết để đạt được những gì mình muốn trong những hoàn cảnh cụ thể, dung hòa được giữa quyền, nhu cầu của mình với quyền, nhu cầu của người khác.

          Kiên định khác với hiếu thắng, nghĩa là luôn chỉ nghĩ đến quyền và nhu cầu của bản thân, bằng mọi cách để thỏa mãn nhu cầu của mình, không quan tâm đến quyền và nhu cầu của người khác.

           Thể hiện tính kiên định trong mọi hoàn cảnh là cần thiết song cần có cách thức khác nhau để thể hiện sự kiên định đối với từng đối tượng khác nhau.

Khi cần kiên định trước một tình huống/ vấn đề, chúng ta cần:

– Nhận thức được cảm xúc của bản thân.

– Phân tích, phê phán hành vi của đối tượng.

– Khẳng định ý muốn của bản thân bằng cách thể hiện thái độ, lời nói và hành động mang tính tích cực, mềm dẻo, linh hoạt và tự tin.

          Kỹ năng kiên định sẽ giúp chúng ta tự bảo vệ được chính kiến, quan điểm, thái độ và những quyết định của bản thân, đứng vững trước những áp lực tiêu cực của những người xung quanh. Ngược lại, nếu không có kỹ năng kiên định, con người sẽ bị mất tự chủ, bị xúc phạm, mất lòng tin, luôn bị người khác điều khiển hoặc luôn cảm thấy tức giận và thất vọng. Kỹ năng kiên định giúp cá nhân giải quyết vấn đề và thương lượng có hiệu quả.

            Để có kỹ năng kiên định, con người cần xác định được các giá trị của bản thân, đồng thời phải kết hợp tốt với kĩ năng tự nhận thức, kĩ năng thể hiện sự tự tin và kĩ năng giao tiếp.

2.3.15. Kỹ năng đảm nhận trách nhiệm

            Đảm nhận trách nhiệm là khả năng con người thể hiện sự tự tin, chủ động và ý thức cùng chia sẻ công việc với các thành viên khác trong nhóm. Khi đảm nhận trách nhiệm, cần dựa trên những điểm mạnh, tiềm năng của bản thân, đồng thời tìm kiếm thêm sự giúp đỡ cần thiết để hoàn thành nhiệm vụ.

Khi các thành viên trong nhóm có kỹ năng đảm nhận trách nhiệm sẽ tạo được một không khí hợp tác tích cực và xây dựng trong nhóm, giúp giải quyết vấn đề, đạt được mục tiêu chung của cả nhóm, đồng thời tạo sự thỏa mãn và thăng tiến cho mỗi thành viên.

2.3.16. Kỹ năng quản lý thời gian

            Kỹ năng quản lý thời gian là khả năng con người biết sắp xếp các công việc theo thứ tự ưu tiên, biết tập trung vào giải quyết công việc trọng tâm trong một thời gian nhất định.

           Kỹ năng này rất cần thiết cho việc giải quyết vấn đề, lập kế hoạch, đặt mục tiêu và đạt được mục tiêu đó; đồng thời giúp con người tránh được căng

thẳng do áp lực công việc.

            Quản lý thời gian là một trong những kỹ năng quan trọng trong nhóm kỹ năng làm chủ bản thân. Quản lý thời gian tốt góp phần rất quan trọng vào sự thành công của cá nhân và của nhóm.

2.3.17. Kỹ năng bảo vệ bản thân

           Kỹ năng bảo vệ bản thân là những hiểu biết của một người về những sự việc xung quanh mình cũng như cách để hành động đúng, an toàn đối với sự vật đó. Trẻ có kỹ năng bảo vệ bản thân sẽ biết cách làm thế nào để tránh xa những mối nguy hiểm hoặc khám phá thế giới trong phạm vi an toàn.

          Xã hội hiện đại mang đến cho cuộc sống con người nhiều tiện ích, sự thoải mái nhưng cũng tiềm ẩn nhiều mối nguy hiểm, đặc biệt là đối với độ tuổi học sinh của các em. Điều này đòi hỏi em đều phải có những kỹ năng để xử lý cũng như bảo vệ chính bản thân mình.

2.4. Xác định nhiệm vụ cơ bản và phân công trách nhiệm trong việc dạy học sinh kỹ năng sống

       - Giáo viên cần tích cực đổi mới phương pháp giảng dạy nhằm khuyến khích sự chuyên cần, tích cực của học sinh , cần phải biết khai thác phát huy năng khiếu, tiềm năng sáng tạo ở mỗi học sinh . Vì mỗi học sinh là một nhân vật đặc biệt, phải giáo dục học sinh như thế nào để các em cảm thấy thoải mái trong mọi tình huống của cuộc sống.

       - Cần thường xuyên tổ chức các họat động giáo dục chăm sóc giáo dục các em một cách thích hợp tuân theo một số quan điểm: Giúp các em phát triển đồng đều các lĩnh vực: thể chất, ngôn ngữ, nhận thức, tình cảm- xã hội và thẫm mĩ. Phát huy tính tích cực của các em, giúp các em hứng thú, chủ động khám phá tìm tòi, biết vận dụng vốn kiến thức, kỹ năng vào việc giải quyết các tinh huống khác nhau.

       - Thường xuyên liên hệ với phụ huynh để kịp thời nắm tình hình của các em, trao đổi với phụ huynh những nội dung và biện pháp chăm sóc và giáo dục các em tại nhà, bàn bạc cách giải quyết những khó khăn gặp phải.

2.5. Lựa chọn hình thức phù hợp để giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THCS

          Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THCS được thực hiện linh hoạt thông qua nhiều hình thức khác nhau. Căn cứ vào từng nội dung bài học, những kỹ năng cần phát triển cho học sinh, đối tượng học sinh, điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường, địa phương… giáo viên có thể cân nhắc và lựa chọn một hình thức phù hợp hoặc phối hợp nhiều hình thức khác nhau để giáo dục kỹ năng sống cho học sinh đạt hiệu quả cao nhất. Các hình thức giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THCS rất đa dạng như: Tích hợp vào các môn học, giáo dục qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, phối hợp với cha mẹ học sinh…

2.5.1. Rèn kỹ năng sống hiệu quả qua việc tích hợp vào các môn học

– Để giáo dục kĩ năng sống cho học sinh có hiệu quả giáo viên có thể vận dụng vào các môn học, tiết học, nhất là các môn như: Ngữ văn, Giáo dục công dân, Địa lí, Giáo dục thể chất, Công nghệ, Sinh học …. để những giờ học sao cho các em được làm để học, được trải nghiệm như trong cuộc sống thực.

+ Ví dụ 1:

       Môn Ngữ văn ở các khối lớp của bậc THCS đều có phần Tiếng Việt. Thông qua nội dung học tập sẽ  chuẩn bị cho việc hình thành một số kỹ năng như: Viết thư; Giới thiệu địa phương; Kể chuyện được chứng kiến hoặc tham gia,… được lồng ghép cụ thể qua các tình huống giao tiếp. Khi học các bài học đó, giáo viên chỉ gợi mở sau đó cho các em tự nói một cách tự nhiên hoàn toàn không gò bó áp đặt. Vì vậy người giáo viên cần phải vận dụng nhiều phương pháp dạy phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh như: thực hành giao tiếp, trò chơi học tập, phương pháp nêu và giải quyết vấn đề, phương pháp tổ chức hoạt động nhóm, phương pháp hỏi đáp,…Thông qua các hoạt động học tập, được phát huy trải nghiệm, rèn kỹ năng hợp tác, bày tỏ ý kiến cá nhân, đóng vai,…học sinh có được cơ hội rèn luyện, thực hành nhiều kỹ năng sống cần thiết.

+ Ví dụ 2:

         Ở môn Giáo dục công dân, để các chuẩn mực đạo đức trở thành tình cảm, niềm tin, hành vi và thói quen của học sinh. Giáo viên phải sử dụng phương pháp dạy học đổi mới theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh. Tổ chức cho học sinh thực hiện các hoạt động học tập phong phú, đa dạng như: Kể chuyện theo tranh; quan sát tranh ảnh, băng hình, tiểu phẩm; phân tích, xử lí tình huống; chơi trò chơi, đóng tiểu phẩm, múa hát, đọc thơ, vẽ tranh,…Sử dụng nhiều phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực như: học theo nhóm, theo dự án, đóng vai, trò chơi,…Và chính thông qua việc sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực đó, học sinh đã được tạo cơ hội để thực hành, trải nghiệm nhiều kỹ năng sống cần thiết, phù hợp với lứa tuổi. Đó là lối sống lành mạnh, các hành vi ứng xử phù hợp với nền văn minh xã hội. Lối sống, hành vi như gọn gàng, ngăn nắp, nói lời đẹp, chăm sóc bố mẹ, ông bà, hợp tác, giúp đỡ, chia sẻ với bạn…

+ Ví dụ 3:

Trong bộ môn Sinh học bậc THCS, nhất là Sinh học lớp 8, thông qua các bài học, giáo viên có thể giáo dục cho học sinh một số kỹ năng tự phục vụ, chăm sóc sức khỏe như:

– Bài vệ sinh mắt: Tại sao không đọc sách nơi thiếu ánh sáng hay đang đi tàu xe?  Nguyên nhân dẫn đến cận thị? Để không bị cận thị em cần phải làm gì?…Qua những câu hỏi này giáo dục cho học sinh ngồi học đúng tư thế, đảm bảo khoảng cách giữa mắt và sách, khi xem ti vi không ngồi gần; không đam mê trò chơi điện tử, phải đọc sách nơi có ánh sáng; … Nêu các cách phòng tránh bệnh đau mắt hột mà em biết ? Từ đó giáo dục cho các em không dụi tay bẩn vào mắt, không dùng chung khăn mặt, không tắm sông, thường xuyên rửa mặt bằng nước muối pha loãng, …

– Giáo dục  kỹ năng về sức khỏe sinh sản:

 + Bài tuyến sinh dục: Nêu những dấu hiệu xuất hiện ở tuổi dậy thì của nam, nữ ? Trong những biến đổi đó, biến đổi nào là quan trọng cần lưu ý ?

 + Bài cơ sở khoa học của các biện pháp tránh thai: – Nêu rõ những ảnh hưởng của có thai sớm ngoài ý muốn của tuổi vị thành niên? Phải làm gì để điều đó không xảy ra? Những hậu quả có thể xảy ra khi phải xử lý đối với việc mang thai ngoài ý muốn ở tuổi vị thành niên là gì ? Làm thế nào để tránh được ? Thông qua các câu hỏi trên giáo dục các em học sinh biết mình cần phải làm gì khi còn là học sinh. Sống vô tư, hồn nhiên, tập trung vào học tập, không đua đòi, bồng bột, nhất thời hồ đồ để lại hậu quả đáng tiếc xảy ra. 

         Để giáo dục kỹ năng sống có hiệu qủa, giáo viên có thể vận dụng khá nhiều trong các môn học thông qua xử lí tình huống hay các trò chơi học tập có nội dung gần gũi với cuộc sống hằng ngày của các em. Thông qua đó các em làm việc tích cực, vui vẻ, tự mỗi em nói được tiếng nói, suy nghĩ của mình với bạn bè, với thầy cô một cách tự tin mạnh dạn. Việc rèn luyện các kỹ năng này đã tạo ra được thói quen tốt cho bản thân mỗi em, các em tham gia một cách chủ động tích cực vào quá trình học tập, tạo điều kiện cho các em chia sẻ những kinh nghiệm, ý kiến hay để giải quyết một vấn đề nào đó.

2.5.2. Giáo dục kỹ năng sống hiệu quả qua các tiết sinh hoạt lớp, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp

         Ngay những ngày đầu tiên khi các em vào lớp học, giáo viên cần cho học

 sinh làm quen với nội quy của trường, lớp và phát động các phong trào: Qua cách ứng xử lễ phép như biết đi thưa về trình, chào hỏi những người lớn tuổi, biết xin lỗi khi có khuyết điểm, cảm ơn khi được tặng quà, vui vẻ hoà nhã với bạn bè, lễ phép với thầy cô và những người lớn tuổi,… và tổng kết vào các tiết sinh hoạt lớp. Giáo viên học cách lắng nghe, tìm hiểu nguyên nhân, và dùng lời lẽ mềm mỏng bằng những tình cảm, cử chỉ yêu thương của mình khi yêu cầu điều gì đó với học sinh. Tránh hành hung, nói nặng lời để giáo dục các em.

        Để rèn kỹ năng sống có hiệu quả còn vận dụng thông qua các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp như: Tiết chào cờ đầu tuần, sinh hoạt tập thể; hoạt động giáo dục theo chủ điểm, tham quan, du lịch…Qua các buổi ngoại khóa của trường, lớp, giáo viên cần tạo các tình huống chơi trong chế độ sinh hoạt hàng ngày của các em. Vì đối với học sinh THCS trò chơi có một vai trò rất quan trọng trong việc rèn kỹ năng sống cho các em. Các em lớn lên, học hành và khám phá thông qua trò chơi. Các hành động chơi đòi hỏi các em phải suy nghĩ, giải quyết các vấn đề, thực hành các ý tưởng.

        Không những thế,khuyến khích các em cùng chia sẻ những cảm nhận, những suy nghĩ, những quan sát của mình với cô với bạn một cách thoải mái, tự nhiên không gò bó, áp đặt. Hoặc ở những giờ sinh hoạt lớp, giờ ra chơi bản thân cùng các em tham gia những trò chơi dân gian, trò chơi giúp các em phát triển trí tuệ.

          Bên cạnh đó, để rèn kỹ năng tự phục vụ, biết lao động vừa sức, biết trang trí lớp học xanh – sạch – đẹp, giúp các em yêu trường, yêu lớp hơn.

          Một điều không thể thiếu để tạo sự hưng phấn, vui vẻ, phấn khởi, giúp các em có ý thức cao trong việc rèn luyện các kĩ năng bản thân luôn chú ý đến công tác động viên, khen thưởng học sinh qua biện pháp sau:

2.5.3. Động viên, khen thưởng

         Việc động viên, khuyến khích, khen thưởng kịp thời các em sẽ tạo cho các em có một động cơ tốt.Vì vậy, các em thi đua nhau “ nói lời hay, làm việc tốt” và cuối tuần nào cũng có rất nhiều em được bông hoa điểm mười .Mỗi học kì, tổng kết một lần để khen thưởng những em đã đạt nhiều hoa điểm mười bằng những phần quà nhỏ. Các em rất vui và hãnh diện khi được tặng những bông hoa điểm tốt và những món quà của cô giáo tặng. Vì thế các em không ngừng thi đua cố gắng thực hiện tốt để được nhận những bông hoa mà cô giáo thưởng. Đây là một hình thức động viên về tinh thần rất giá trị và hiệu quả. Các em sẽ nhanh nhẹn hơn, có đạo đức tốt hơn, mạnh dạn hơn trong giao tiếp, tự tin hơn trong

 cuộc sống.

2.6.Tuyên truyền đến các bậc phụ huynh về sự cần thiết phải giáo dục kỹ năng sống cho con em và một số kỹ năng cơ bản cần giáo dục để phụ huynh cùng phối hợp với nhà trường trong việc giáo dục để đạt hiệu quả cao nhất

         Trước hết, người lớn phải gương mẫu, yêu thương, tôn trọng, đối xử công

– Kỹ năng an toàn khi tự chơi           Đây được coi là mối quan tâm hàng đầu của hầu hết các bậc phụ huynh trong thời gian gần đây. Hiện nay do tính chất của công việc cũng như điều kiện của mỗi gia đình, việc tự chơi của các con rất phổ biến. Trong quá trình chơi, các con có thể gặp phải những mối nguy hiểm từ những đồ vật trong gia đình như phích nước, ổ điện, bếp ga, đồ dùng nhà bếp, cầu thang và những đồ vật nhỏ. Các con cần hiểu được đâu là đồ chơi, đâu là đồ dùng trong gia đình; đâu là đồ vật an toàn và đồ vật không an toàn,…

– Kỹ năng tránh bị xâm hại cơ thể

         Ở Việt Nam, vấn đề cho con tìm hiểu về vấn đề này chưa thực sự được quan tâm đúng mức. Tuy nhiên, đây lại là vấn đề khá nhức nhối trong xã hội hiện nay. Để đảm bảo cho con có những kiến thức cơ bản về vấn đề bảo vệ thân thể cũng như cách phòng tránh khi bị xâm hại cơ thể, cha mẹ cần trang bị cho con những kiến thức cần thiết. Cha mẹ hãy giúp con hiểu được thế nào là hành động xâm phạm thân thể, nếu bị xâm hại cơ thể các con nên ứng xử ra sao?…

        Việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh qua học tập ở trương, sinh hoạt ở nhà  là điều hết sức cần thiết cho tương lai các em. Để đạt được điều đó, giáo viên cần kiên trì, quyết tâm thực hiện từng bước và liên tục trong suốt quá trình giảng dạy.

         Giáo dục kỹ năng sống cho mọi người nói chung và học sinh nói riêng là điều rất cần thiết. Nó trang bị đầy đủ những kỹ năng cho các em để các em có được cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn. Đồng thời giúp những em có thói quen xấu và hành vi tiêu cực trở thành con ngoan, trò giỏi và là người có ích cho xã hội sau này.

2.7.Tạo môi trường thực hiện nhiệm vụ giáo dục trẻ kỹ năng sống

        Nhằm tạo môi trường thuận lợi và phù hợp giúp việc giáo dục và rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh tốt hơn, giáo viên có thể tham mưu với nhà trường để trang bị thêm các đầu sách cho thư viện thư viện, tổ chức nhiều hoạt động ngoại khóa thiết thực như: Thi các trò chơi dân gian, thi kể chuyện, thi thể dục thể thao, thi Giai điệu tuổi hồng, tổ chức thăm quan du lịch… để tạo nhiều cơ hội cho học sinh được trải nghiệm và thể hiện bản thân.

V. HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

+ 100% số học sinh được điều tra đều được giáo viên giáo dục những kỹ năng sống cơ bản như: Kỹ năng tự phục vụ, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng bảo vệ bản thân, kỹ năng hợp tác , Kỹ năng tìm kiếm sự hỗ trợ…

+ 100 % số học sinh được  giáo dục, được bảo vệ sức khỏe, được bảo đảm an toàn, phòng bệnh, được theo dõi cân đo bằng biểu đồ phát triển và tuyệt đối không xảy ra bạo hành trẻ em ở trường.

+ Học sinh đi học đều hơn, đạt tỷ lệ chuyên cần đạt từ 99% trở lên và ít gặp khó khăn khi đến lớp, có kỹ năng lao động tự phục vụ cho bản thân, biết thương yêu bạn bè trong cùng một mái trường, biết giúp đỡ bạn cùng tiến.

          Qua điều tra về khả năng vận dụng một số kỹ năng sống vào thực tế cuộc sống của học sinh tại trường THCS nơi tôi đang công tác đã thu được kết quả khá khả quan, cụ thể sau:

Năm học 2016- 2017

Khối

Kết quả khảo sát về khả năng vận dụng các kỹ năng sống của học sinh bậc THCS vào thực tế sau khi áp dụng SKKN

KN tự

phục vụ

KN

giao tiếp

KN

hợp tác

KN tìm kiếm sự

hỗ trợ

KN bảo vệ bản thân

6

70,9 %

67,2 %

59,3 %

67,8 %

72,2 %

7

79,4 %

80,5 %

69,0 %

75,2 %

86,4 %

8

92,6 %

88,6 %

86,7 %

86,0 %

97,0 %

9

97,3 %

97,3 %

93,8 %

96,1 %

100 %

Trung bình toàn trường

85,1 %

83,4 %

77,2 %

81,3 %

88,9 %

Kết quả điều tra khả năng vận dụng

 một số kỹ năng của học sinh THCS vào thực tế

Năm học 2014- 2015 và 2016- 2017

C. PHẦN KẾT LUẬN

I. NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM

1. Một số điều giáo viên và phụ huynh cần làm để giáo dục và rèn kỹ năng sống cho học sinh bậc THCS đạt hiệu quả cao:

       – Điều cần làm trước hết là người lớn phải là tấm gương sáng, yêu thương, tôn trọng, đối xử công bằng và đảm bảo an toàn cho các em.

       – Việc học của các em nếu luôn đựơc người lớn khuyến khích, chia sẻ thì các em sẽ tự tin vào năng lực của bản thân và chúng thường hy vọng vào tương lai nhiều hơn.

        – Tham gia vào việc giáo dục của con cái không nên để tốn quá nhiều thời gian và cũng khộng cần tốn sức tập luyện, cha mẹ chỉ tốn ít thời gian khi cho các em thấy cha mẹ rất coi trọng giá trị của việc giáo dục.Việc tham gia ở mức độ nào không quan trọng nhưng thời gian đó thật đáng giá và đó là sự đầu tư cần thiết cho tương lai của các em.

2. Một số diều giáo viên và phụ huynh cần tránh khi giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THCS :

         – Không hạ thấp các em: Cứ mỗi lần chúng ta nói những lời hạ thấp khả năng các em là chúng ta đã phá vỡ những suy nghĩ tích cực về chính bản thân của học sinh. Không nên tạo cho các em thói quen kiêu ngạo nhưng cũng không nên nói những lời không hay đối với trẻ.

         – Không doạ nạt: Người lớn cần nhớ rằng mỗi lần chúng ta doạ nạt là chúng ta đã làm cho trẻ sợ hãi và căm giận người lớn. Sự đe doạ hoàn toàn có hại cho đứa trẻ và sẽ không giúp cho hành vi của các em tốt hơn.

          – Không bắt các em hứa hẹn: Vì sự hứa hẹn hoặc doạ nạt không có ý nghĩa đối với em vì nếu các em cảm nhận được và cắn rứt vì không làm tròn lời hứa thì ở các em sẽ phát triển cảm giác hối lỗi.

          – Không nên yêu cầu các em phục tùng theo ý người lớn ngay lập tức vì sự phục tùng một cách thái quá không có sự thoả thuận giữa các bên không tạo điều kiện phát triển tính tự lập ở các em.

          – Không yêu cầu những điều không phù hợp với các em vì những yêu cầu ở các em phải thực hiện một hành vi chín chắn mà các em chưa có khả năng hoặc các em phải làm các yêu cầu không mang tính thống nhất và liên tục trong việc cho phép hoặc cấm đoán sẽ ảnh hưởng không tốt đến sự phát triển tính nhận thức của học sinh.

 não bộ các em.

II. KẾT LUẬN

           Trong công cuộc đổi mới hiện nay của đất nước ta khi yếu tố con người được coi trọng về tiềm năng trí tuệ cùng với sức mạnh tinh thần. Nhân cách của con người càng được đề cao và phát huy mạnh mẽ trong mọi lĩnh vực xã hội. Thực tế hiện nay ngành giáo dục đào tạo đã được nhà nước quan tâm đưa lên quốc sách hàng đầu thi việc dạy chữ nói chung và việc giáo dục kỹ năng sống nói riêng là vấn đề đặc biệt quan trọng. Một nhà hiền triết đã nói “khoa học mà không có hành vi đạo đức thì chỉ là sự tàn rụi của linh hồn” mà hành vi đạo đức đó chính là kỹ năng sống của học sinh. Kỹ năng sống chính là nhịp cầu giúp con người biến kiến thức thành thái độ, hành vi và thói quen tích cực, lành mạnh. Chính vì vậy việc thực hiện giáo dục và rèn kỹ năng sống cho học sinh là cần thiết biết bao. Cần khẳng định việc đứa trẻ thích nghi nhanh hay chậm, hình thành những kỹ năng sống diễn ra nhanh hay chậm phụ thuộc rất nhiều vào mức độ đúng đắn trong các chuẩn của người lớn đối với đứa trẻ.

         Trong quá trình nghiên cứu và áp dụng đề tài “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THCS” vào thực tiễn tại trường THCS nơi tôi công tác đã thu được nhiều kết quả đáng khích lệ: Giáo viên chú trọng hơn đến nội dung giáo dục KNS cho HS; nội dung giáo dục KNS cho HS không còn chung chung mà đã được cụ thể hóa bằng những nhóm KNS cơ bản phù hợp với lứa tuổi; 100% đối tượng HS khảo sát đều được giáo viên dạy những KNS cơ bản;… Khả năng vận dụng các KNS vào thực tế của HS cao hơn. Cụ thể:

Thời gian khảo sát

Kết quả khảo sát về khả năng vận dụng các kỹ năng sống của học sinh bậc THCS

KN tự

phục vụ

KN

giao tiếp

KN

hợp tác

KN tìm kiếm sự

hỗ trợ

KN bảo vệ bản thân

Trước khi áp dụng SKKN

64,4 %

68,0 %

59,6 %

61,1 %

52,4 %

Sau khi áp dụng SKKN

85,1 %

83,4 %

77,2 %

81,3 %

88,9 %

Mức độ tăng

20,7 %

15,4 %

18,6 %

20,2 %

36,5 %

             Để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, đáp ứng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế và nhu cầu phát triển của người học, giáo dục phổ thông đã và đang được đổi mới mạnh mẽ theo bốn trụ cột của giáo dục thế kỉ XXI, mà thực chất đó là cách tiếp cận kỹ năng sống, đó là: Học để biết, Học để làm việc, Học để tự khẳng định mình và Học để cùng chung sống. Để đạt được mục tiêu đó, trong thời gian tới, bên cạnh việc áp dụng nội dung đề tài “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THCS”  vào giảng dạy tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu tìm thêm nhiều biện pháp mới, phối hợp chặt chẽ với các đoàn thể trong nhà trường, cha mẹ học sinh và học hỏi kinh nghiệm của đồng nghiệp để công tác giáo dục kỹ năng sống cho học sinh bậc THCS đạt hiệu quả cao hơn nữa.

III. NHỮNG KHUYẾN NGHỊ

        - Với kinh nghiệm của bản thân trong quá trình giảng dạy, tôi xin được đưa ra sáng kiến “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THCS” để các đồng chí tham khảo, đóng góp ý kiến bổ sung để cùng nhau xây dựng các hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh bậc THCS đạt hiệu quả cao hơn nữa.

        - Đề nghị phòng Giáo dục, hằng năm các sáng kiến kinh nghiệm được xếp loại cần được biên soạn lại và phổ biến về các cơ sở trường học để giáo viên tham khảo và vận dụng nhằm tăng tính khả thi của các đề tài nghiên cứu.

        - Một trong những yếu tố góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục kỹ năng sống cho học sinh là cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, công nghệ thông tin. Vì vậy nhà trường cần thu hút các nguồn đầu tư xây dựng, cung cấp phương tiện, công nghệ và có biện pháp sử dụng hợp lí để góp phần nâng cao chất lượng giáo dục./

                                     D. TÀI LIỆU THAM KHẢO       

1.Tâm lí học lưa tuổi và tâm lí học sư phạm ( Biên soạn ThS. Đỗ Văn Thông – Đại học An Giang, 2008).

2.Tình huống tâm lí học lứa tuổi và tâm lí học sư phạm ( Tác giả Đỗ Thị Châu – NXB GDHN, 2005).

3.Rèn kỹ năng sống cho học sinh THCS ( Tác giả Nguyễn Thanh Lâm, Nguyễn Tú Phương – NXB ĐH QGHN, 2014).

4.Rèn kỹ năng sống dành cho học sinh ( Tác giả Lệ Nguyễn Khánh Hà – NXB ĐHSP, 2016).

5.Ngôn ngữ cơ thể( Dịch giả Lê Huy Lâm – NXB Tổng hợp TPHCM, 2017).

6. Tổ chức cuộc sống từ A đến Z ( Tác giả Lệ Hằng – NXB Tuổi trẻ năm, 2005).

7. Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ ( Tác giả Thùy Chi – NXB Lao động năm, 2009)

8. Nhập môn kỹ năng sống ( Tác giả TS. Huỳnh Văn Sơn – NXB Giáo dục, 2010)

9. Khi yêu thương là tôi có thể ( Nhiều tác giả Lệ Hằng – NXB Kim Đồng, năm 2009)

10. Tủ sách kỹ năng sống dành cho học sinh ( Dịch giả Nguyễn Thu Hương – NXB Đại học Sư phạm, năm 2016

11. Kỹ năng sống để làm chủ bản thân( Tác giả Phương Liên, Minh Đức – NXB Trẻ, năm 2006)

12. Một số tài liệu về Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp.

Cập nhật thông tin chi tiết về Một Số Giải Pháp Cho Tiết Kiệm Điện Năng trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!