Xu Hướng 2/2024 # Luận Văn Thạc Sĩ Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Đảng Viên # Top 5 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Luận Văn Thạc Sĩ Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Đảng Viên được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Luận Văn Thạc Sĩ Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Đảng Viên, Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Kết Nạp Đảng Viên, Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đảng Viên Hiện Nay, Giải Pháp Để Nâng Cao Hiệu Quả Quản Lý Đảng Viên Trong Chi Bộ Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Kiểm Tra, Giải Pháp Để Nâng Cao Hiệu Quả Quản Lý Đảng Viên Trong Chi Bộ Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Kiểm Tra , Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Phát Triển Đảng Viên, Luận Văn Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Tín Dụng, Luận Văn Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Nguồn Nhân Lực, Bài Tham Luận Về Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Bài Tham Luận Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Tham Luận Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Đoàn, Bài Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Đảng Viên, Tham Luan Vai Tro Cua Dang Vien Trong Viec Nang Cao Chat Luong Cao, Tham Luạn Vai Trò Của Đảng Viên Trong Việc Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục, Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Xây Dựng Lực Lượng Dqtv, Luận Văn Thạc Sĩ Nâng Cao Chất Lượng Cho Vay Khách Hàng Cá Nhân, Đề Xuất Các Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Chăm Sóc, Khám, Chữa Bệnh Cho Nhân Dân Trên Địa Bàn, Nâng, Đề Xuất Các Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Chăm Sóc, Khám, Chữa Bệnh Cho Nhân Dân Trên Địa Bàn, Nâng , Đề Tài Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Nguồn Nhân Lực, Giai Phap Nang Cao Chat Luong Sinh Hoat Chi Bo, Giai Phap Nang Cao Chat Luong Cong Tac Tu Tuong O Chi Bo, Tiểu Luận Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Phân Công Công Việc Cho Công Chức Phòng Nội Vụ, Giải Pháp Nâng Chất Lượng Tham Mưu Xây Dựng Khu Vực Phòng Thủ, Thuc Trang Va Giai Phap Nang Cao Chat Luong Sinh Hoat Chi Bo, Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Học Tập Và Làm Theo Đạo Đức, Phong Cách Hồ Chí Minh, Tham Luận Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục, Nghiên Cứu Thực Trạng Cấp Cứu, Đề Xuất Các Giải Pháp Cũng Cố Nâng Cao Chất Lượng Cấp Cứu Tại Khoa Cấ, Nghiên Cứu Thực Trạng Cấp Cứu, Đề Xuất Các Giải Pháp Cũng Cố Nâng Cao Chất Lượng Cấp Cứu Tại Khoa Cấ, Giai Pháp Nâng Cao Chất Lượng Thực Hiện Nguyên Tắc Tập Trung Dân Chủ Trong Quân Đội, Nghiên Cứu Thực Trạng Cấp Cứu, Đề Xuất Các Giải Pháp Cũng Cố Nâng Cao Chất Lượng Cấp Cứu Tại Khoa Cấ, Giải Pháp Xay Dung Chi Bộ Trong Schj Vung Manh, Nang Cao Chat Luong Sinh Hoat Chi Bo, Nâng Cao Chất Lượng Phát Triển Đảng Viên, Tham Luận Đại Hội Đảng Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Đảng, Bài Tham Luận Về Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Giáo Viên, Thuc Trạng Và Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng, Hiệu Quả Hoạt Động Hội Họp, Tổ Chức Sự Kiện Cấp Phòng, Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Phát Triển Đảng Viên, Luận Văn Thạc Sĩ Về Quản Lý Chất Lượng, Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Quản Lý Đảng Viên Trong Chi Bộ, Giải Pháp Để Nâng Cao Hiệu Quả Quản Lý Đảng Viên Trong Chi Bộ, Mẫu Báo Cáo Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy, Mẫu Báo Cáo Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục, Không Ngừng Nâng Cao Phẩm Chất, Năng Lực Của Đội Ngũ Cán Bộ, Đảng Viên Trong Đảng Bộ Tổng Cục Kỹ Thu, Không Ngừng Nâng Cao Phẩm Chất, Năng Lực Của Đội Ngũ Cán Bộ, Đảng Viên Trong Đảng Bộ Tổng Cục Kỹ Thu, Luận án Nâng Cao Chất Lượng Đào Tạo, Bài Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học, Bài Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học, Tieu Luan Nang Cao Chat Luong Doi Ngu Can Bo Y Te, Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Đại Trà, Bài Tham Luận Về Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học, Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học, Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Môn Ngữ Văn, Bài Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Đại Trà, Tiểu Luận Thực Trạng Nhiệm Vụ Giải Pháp Xây Dựng Đội Ngũ Đảng Viên, Nâng Cao Chất Lượng Giảng Chính Trị Viên Quân Dôi, Bài Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục, Tham Luận Về Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục, Tham Luận Về Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dcj, Báo Cáo Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục, Khóa Luận Nâng Cao Chất Lượng Tín Dụng, Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Mầm Non, Luận Văn Nâng Cao Chất Lượng Nguồn Nhân Lực, Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Thpt, Luận án Nâng Cao Chất Lượng Nguồn Nhân Lực, Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Mạng Lõi, Bài Tham Luận Về Nâng Cao Chất Lượng Chuyên Môn, Giải Pháp Marketing Trong Logistic Luận án Thạc Sĩ, Bài Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Phong Trào Thi Đua, Bài Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Khóa Luận Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Đoàn, Khóa Luận Nâng Cao Chất Lượng Nguồn Nhân Lực, Báo Cáo Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Bài Tham Luận Về Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Khóa Luận Nâng Cao Chất Lượng Công Chức Cấp Xã, Tiểu Luận Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Bài Tham Luận Tại Đại Hội Chi Bộ Về Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Báo Cáo Kết Quả Kiểm Điểm, Đánh Giá, Xếp Loại Chất Lượng Đối Với Tổ Chức Đảng, Đảng Viên Và Tập Th, Báo Cáo Kết Quả Kiểm Điểm, Đánh Giá, Xếp Loại Chất Lượng Đối Với Tổ Chức Đảng, Đảng Viên Và Tập Th, Báo Cáo Kết Quả Kiểm Điểm, Đánh Giá, Xếp Loại Chất Lượng Đối Với Tổ Chức Đảng, Đảng Viên Và Tập Th, Báo Cáo Kết Quả Kiểm Điểm, Đánh Giá, Xếp Loại Chất Lượng Đối Với Tổ Chức Đảng, Đảng Viên Và Tập Th, Báo Cáo Kết Quả Kiểm Điểm, Đánh Giá, Xếp Loại Chất Lượng Đối Với Tổ Chức Đảng, Đảng Viên Và Tập Th, Báo Cáo Kết Quả Kiểm Điểm, Đánh Giá, Xếp Loại Chất Lượng Đối Với Tổ Chức Đảng, Đảng Viên Và Tập Th, Đánh Giá Chất Lượng Tổ Chức Đảng, Đảng Viên, Một Số Vấn Đề Về Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ Trong Đảng Bộ Quân Đội, Hướng Dẫn Kiểm Điểm Tập Thể, Cá Nhân Và Đánh Giá, Xếp Loại Chất Lượng Tổ Chức Cơ Sở Đảng, Đảng Viên , Hướng Dẫn Kiểm Điểm Tập Thể, Cá Nhân Và Đánh Giá, Xếp Loại Chất Lượng Tổ Chức Cơ Sở Đảng, Đảng Viên, Bài Tham Luận Về Công Tác Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Đoàn, Bài Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Khám Chữa Bệnh, Tiểu Luận Nâng Cao Chất Lượng Khám Chữa Bệnh, Nghị Quyết Số 765-nq/qutw Về Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Huấn Luyện Viên, Của Tcct Một Số Vấn Đề Về Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ Trong Đảng Bộ Quân Đội, Bai Tham Luan Ve Nang Cao Chat Luong Sinh Hoat Chi Bo Trong Truong Mam Non, Báo Cáo Tình Hình Chất Lượng Đảng Viên, Mẫu 5 Phân Tích Chất Lượng Đảng Viên, Mẫu Bản Kiểm Điểm Chất Lượng Đảng Viên, Báo Cáo Tổng Hợp Đánh Giá Chất Lượng Đảng Viên, Hướng Dẫn 07 Về Đánh Giá Chất Lượng Đảng Viên, 4 Tiêu Chí Đánh Giá Chất Lượng Đảng Viên, Hướng Dẫn Về Đánh Giá Chất Lượng Đảng Viên,

Luận Văn Thạc Sĩ Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Đảng Viên, Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Kết Nạp Đảng Viên, Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đảng Viên Hiện Nay, Giải Pháp Để Nâng Cao Hiệu Quả Quản Lý Đảng Viên Trong Chi Bộ Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Kiểm Tra, Giải Pháp Để Nâng Cao Hiệu Quả Quản Lý Đảng Viên Trong Chi Bộ Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Kiểm Tra , Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Phát Triển Đảng Viên, Luận Văn Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Tín Dụng, Luận Văn Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Nguồn Nhân Lực, Bài Tham Luận Về Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Bài Tham Luận Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Tham Luận Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Đoàn, Bài Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Đảng Viên, Tham Luan Vai Tro Cua Dang Vien Trong Viec Nang Cao Chat Luong Cao, Tham Luạn Vai Trò Của Đảng Viên Trong Việc Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục, Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Xây Dựng Lực Lượng Dqtv, Luận Văn Thạc Sĩ Nâng Cao Chất Lượng Cho Vay Khách Hàng Cá Nhân, Đề Xuất Các Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Chăm Sóc, Khám, Chữa Bệnh Cho Nhân Dân Trên Địa Bàn, Nâng, Đề Xuất Các Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Chăm Sóc, Khám, Chữa Bệnh Cho Nhân Dân Trên Địa Bàn, Nâng , Đề Tài Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Nguồn Nhân Lực, Giai Phap Nang Cao Chat Luong Sinh Hoat Chi Bo, Giai Phap Nang Cao Chat Luong Cong Tac Tu Tuong O Chi Bo, Tiểu Luận Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Phân Công Công Việc Cho Công Chức Phòng Nội Vụ, Giải Pháp Nâng Chất Lượng Tham Mưu Xây Dựng Khu Vực Phòng Thủ, Thuc Trang Va Giai Phap Nang Cao Chat Luong Sinh Hoat Chi Bo, Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Học Tập Và Làm Theo Đạo Đức, Phong Cách Hồ Chí Minh, Tham Luận Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục, Nghiên Cứu Thực Trạng Cấp Cứu, Đề Xuất Các Giải Pháp Cũng Cố Nâng Cao Chất Lượng Cấp Cứu Tại Khoa Cấ, Nghiên Cứu Thực Trạng Cấp Cứu, Đề Xuất Các Giải Pháp Cũng Cố Nâng Cao Chất Lượng Cấp Cứu Tại Khoa Cấ, Giai Pháp Nâng Cao Chất Lượng Thực Hiện Nguyên Tắc Tập Trung Dân Chủ Trong Quân Đội, Nghiên Cứu Thực Trạng Cấp Cứu, Đề Xuất Các Giải Pháp Cũng Cố Nâng Cao Chất Lượng Cấp Cứu Tại Khoa Cấ, Giải Pháp Xay Dung Chi Bộ Trong Schj Vung Manh, Nang Cao Chat Luong Sinh Hoat Chi Bo, Nâng Cao Chất Lượng Phát Triển Đảng Viên, Tham Luận Đại Hội Đảng Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Đảng, Bài Tham Luận Về Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Giáo Viên, Thuc Trạng Và Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng, Hiệu Quả Hoạt Động Hội Họp, Tổ Chức Sự Kiện Cấp Phòng, Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Phát Triển Đảng Viên, Luận Văn Thạc Sĩ Về Quản Lý Chất Lượng, Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Quản Lý Đảng Viên Trong Chi Bộ, Giải Pháp Để Nâng Cao Hiệu Quả Quản Lý Đảng Viên Trong Chi Bộ, Mẫu Báo Cáo Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy, Mẫu Báo Cáo Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục, Không Ngừng Nâng Cao Phẩm Chất, Năng Lực Của Đội Ngũ Cán Bộ, Đảng Viên Trong Đảng Bộ Tổng Cục Kỹ Thu, Không Ngừng Nâng Cao Phẩm Chất, Năng Lực Của Đội Ngũ Cán Bộ, Đảng Viên Trong Đảng Bộ Tổng Cục Kỹ Thu, Luận án Nâng Cao Chất Lượng Đào Tạo, Bài Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học, Bài Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học, Tieu Luan Nang Cao Chat Luong Doi Ngu Can Bo Y Te, Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Đại Trà, Bài Tham Luận Về Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học, Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học,

Luận Văn: Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Đảng Viên Ở Các Đảng Bộ

, DOWNLOAD ZALO 0932091562 – BÁO GIÁ VIỆT BÀI : VIETBAOCAOTHUCTAP.NET

Published on

Luận văn thạc sĩ xây dựng đảng và chính quyền nhà nước, đề tài: Nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên ở các đảng bộ xã, phường, thị trấn trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh hiện nay, dành cho các bạn làm khóa luận tham khảo.

1. 1 BỘ QUỐC PHÒNG HỌC VIỆN CHÍNH TRỊHỌC VIỆN CHÍNH TRỊ  NGÔ HẢI YẾN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ ĐẢNG VIÊN Ở CÁC ĐẢNG BỘ XÃ, PHƯỜNG, THỊ TRẤN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SĨ XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ CHÍNH QUYỀN NHÀ NƯỚC HÀ NỘI – 2014

2. 2 BỘ QUỐC PHÒNG HỌC VIỆN CHÍNH TRỊHỌC VIỆN CHÍNH TRỊ  NGÔ HẢI YẾN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ ĐẢNG VIÊN Ở CÁC ĐẢNG BỘ XÃ, PHƯỜNG, THỊ TRẤN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY CHUYÊNNGÀNH:XÂYDỰNGĐẢNGVÀCHÍNHQUYỀNNHÀNƯỚC MÃ SỐ: 60 31 02 03 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: chúng tôi TRẦN BÁ THANH HÀ NỘI – 2014

3. 3 MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU 3 Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ ĐẢNG VIÊN Ở CÁC ĐẢNG BỘ CÁC XÃ, PHƯỜNG, THỊ TRẤN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 9 1.1. Những vấn đề lý luận cơ bản về nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên ở các đảng bộ xã, phường, thị trấn trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh 9 1.2. Thực trạng và kinh nghiệm nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên ở các đảng bộ xã, phường, thị trấn trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh 30 Chương 2 YÊU CẦU VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP CƠ BẢN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ ĐẢNG VIÊN Ở CÁC ĐẢNG BỘ XÃ, PHƯỜNG, THỊ TRẤN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY 49 2.1. Tình hình, nhiệm vụ và yêu cầu nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên ở các đảng bộ xã, phường, thị trấn trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay 49 2.2. Những giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên ở các đảng bộ xã, phường, thị trấn trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay 58 KẾT LUẬN 87 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 89 PHỤ LỤC 94 DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT Chữ viết đầy đủ Chữ viết tắt

4. 4 Ban chấp hành BCH Chính trị quốc gia CTQG Chủ nghĩa xã hội CNXH Nhà xuất bản Nxb Trong sạch vững mạnh TSVM

5. 5 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn coi công tác xây dựng đội ngũ đảng viên là một trong những nội dung quan trọng của công tác xây dựng Đảng; số lượng, chất lượng đội ngũ đảng viên trực tiếp quyết định năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, uy tín và danh dự của tổ chức đảng và toàn Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Đảng là gồm các đảng viên mà tổ chức nên. Mọi công việc của Đảng đều do đảng viên làm. Mọi chính sách của Đảng đều do đảng viên mà thấu đến quần chúng. Mọi khẩu hiệu, mọi kế hoạch của Đảng đều do đảng viên cố gắng thực hiện”[43, tr.235-236]. Trong hệ thống chính trị, đảng viên là hạt nhân lãnh đạo, nguồn bổ sung cán bộ cho bộ máy của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể và là lực lượng nòng cốt trong các phong trào cách mạng của các tổ chức và quần chúng. Trong điều kiện Đảng cầm quyền, Đảng lãnh đạo mọi mặt của đời sống xã hội. Những thành tựu to lớn mà Đảng ta lãnh đạo trong các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm và công cuộc đổi mới toàn diện đất nước trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Xã hội chủ nghĩa hiện nay càng khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của đội ngũ đảng viên. Bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, từ yêu cầu của cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn và nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức đặt ra những yêu cầu mới, cao hơn ở người đảng viên. Từ thực trạng tình hình, nếu Đảng không tự đổi mới công tác tổ chức, cán bộ, không chăm lo xây dựng đội ngũ đảng viên vững mạnh thì Đảng không thể lãnh đạo thắng lợi nhiệm vụ cách mạng trong tình hình mới. Thành phố Hồ Chí Minh là địa bàn chiến lược quan trọng, trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá – xã hội lớn của đất nước và các tỉnh, thành phía Nam. Những năm qua, bằng sự năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm,

9. 9 pháp cơ bản nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên ở các xã, phường, thị trấn trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay. * Nhiệm vụ nghiên cứu – Làm rõ một số vấn đề lý luận về chất lượng đội ngũ đảng viên ở các đảng bộ xã, phường, thị trấn trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. – Đánh giá đúng thực trạng, chỉ rõ nguyên nhân và rút ra một số kinh nghiệm nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên ở các đảng bộ xã, phường, thị trấn trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. – Xác định yêu cầu và đề xuất những giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên ở các đảng bộ xã, phường, thị trấn trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay. 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài * Đối tượng nghiên cứu của đề tài : Nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên ở các đảng bộ xã, phường, thị trấn trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. * Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Nghiên cứu hoạt động nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên ở các đảng bộ xã, phường, thị trấn trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh; tiến hành điều tra, khảo sát ở các đảng bộ cơ sở (xã, phường, thị trấn) điển hình trên địa bàn các quận, huyện thuộc Thành phố Hồ Chí Minh, thời gian từ 2010 đến nay. 5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu của đề tài. * Cơ sở lý luận của đề tài: Đề tài được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về xây dựng Đảng nói chung, về vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên nói riêng, nhất là đối với đội ngũ đảng viên ở đảng bộ xã – phường – thị trấn. * Cơ sở thực tiễn của đề tài: Thực tiễn chất lượng đảng viên ở các đảng bộ xã, phường, thị trấn trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh thời gian qua; qua báo cáo sơ, tổng kết về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, công tác xây dựng đội ngũ đảng viên; qua điều tra khảo sát thực tế, trao đổi tọa

11. 11 Chương 1 NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ ĐẢNG VIÊN Ở CÁC ĐẢNG BỘ XÃ, PHƯỜNG, THỊ TRẤN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH- NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1. Những vấn đề lý luận cơ bản về nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên ở các đảng bộ xã, phường, thị trấn trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh 1.1.1. Đội ngũ đảng viên ở các đảng bộ xã, phường, thị trấn trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh * Đảng bộ xã, phường, thị trấn ở Thành phố Hồ Chí Minh Đảng bộ ở các xã, phường, thị trấn là tổ chức cơ sở đảng trực thuộc các đảng bộ quận, huyện trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Hiện nay Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh có 259 đảng bộ phường, 58 đảng bộ xã và 5 đảng bộ thị trấn với 181.260 đảng viên. Đảng là một tổ chức chặt chẽ và khoa học từ Ban Chấp hành Trung ương đến chi bộ. Các tổ chức đảng ở xã, phường, thị trấn là một bộ phận cấu thành Đảng và là nền tảng của Đảng. Nền tảng của Đảng vững chắc do sự vững mạnh của các tổ chức cơ sở đảng lập thành; là cái bảo đảm cho sự vững chắc của toàn Đảng và các cơ quan lãnh đạo của Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Chi bộ là nền móng của Đảng, chi bộ tốt thì mọi việc sẽ tốt”[45, tr.210]. Tổ chức cơ sở đảng ở các xã, phường, thị trấn là cầu nối giữa đảng và các cơ quan lãnh đạo cấp trên của Đảng với quần chúng. Do đặc điểm về tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức đảng nên mối liên hệ giữa Đảng và quần chúng chỉ có thể thông qua cầu nối trực tiếp là các tổ chức cơ sở đảng. Là tổ chức lãnh đạo của Đảng ở cơ sở, trực tiếp liên hệ với quần chúng nhân dân hằng ngày, nên tổ chức cơ sở đảng có điều kiện nắm rõ những tâm tư, nguyện vọng, kiến nghị của quần chúng để báo cáo với Đảng, giúp cho các cơ quan lãnh đạo của Đảng nghiên cứu và giải quyết kịp thời. Mặt khác, Đảng muốn đưa đường lối, chủ trương đến với quần chúng cũng phải thông qua công tác

13. 13 Là hạt nhân chính trị ở cơ sở, đảng bộ xã, phường, thị trấn có trách nhiệm kiểm tra, giám sát mọi hoạt động của cơ quan quản lý và đội ngũ cán bộ chủ trì ở cơ sở. Với chức năng lãnh đạo, đảng bộ xã, phường, thị trấn kiểm tra, giám sát đội ngũ cán bộ chủ trì thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; định kỳ tổ chức sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm góp phần bổ sung, hoàn thiện, phát triển đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Đảng bộ xã, phường, thị trấn trực tiếp xây dựng đội ngũ đảng viên, là nơi đào tạo cán bộ cho Đảng, nơi xuất phát đề cử ra cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng. Quản lý, giáo dục, rèn luyện, kết nạp và sàng lọc đảng viên, đào tạo cán bộ cho Đảng là một nhiệm vụ thường xuyên quan trọng của toàn Đảng và tổ chức các cấp. Đảng viên dù đảm nhiệm cương vị, trọng trách nào trong các cơ quan Đảng, Nhà nước đều phải tham gia sinh hoạt và chịu sự quản lý của một tổ chức cơ sở đảng. Đảng bộ xã, phường, thị trấn trực tiếp tác động đến từng đảng viên và giáo dục, rèn luyện họ thành những đảng viên ưu tú. Thông qua các nghị quyết lãnh đạo, thông qua công tác tư tưởng và tổ chức, bằng các biện pháp quản lý, duy trì các chế độ nền nếp sinh hoạt đảng, phân công nhiệm vụ cho đảng viên, tự phê bình và phê bình, công tác kiểm tra, giám sát đảng viên và chấp hành kỷ luật Đảng để giáo dục, rèn luyện đảng viên. Với vai trò là cầu nối trực tiếp giữa Đảng và quần chúng, Đảng bộ xã, phường, thị trấn có điều kiện lựa chọn những quần chúng ưu tú, có đủ điều kiện, tiêu chuẩn để bồi dưỡng, giáo dục, rèn luyện, thử thách, kết nạp họ vào Đảng, tăng thêm nguồn sinh lực cho Đảng, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Thông qua việc quản lý, giáo dục, rèn luyện đảng viên, tổ chức đảng ở xã, phường, thị trấn có trách nhiệm phát hiện, bồi dưỡng và rèn luyện đội ngũ cán bộ cho Đảng. Tổ chức cơ sở đảng là nơi xuất phát đề cử ra cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng.

14. 14 * Đảng viên của đảng bộ xã, phường, thị trấn trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. C. Mác, PhĂngghen đã chỉ ra đặc trưng cơ bản nhất của người đảng viên cộng sản: “Về mặt thực tiễn, những người cộng sản là bộ phận kiên quyết nhất trong các đảng công nhân ở tất cả các nước, là bộ phận luôn thúc đẩy phong trào tiến lên; về mặt lý luận họ khác bộ phận còn lại của giai cấp vô sản ở chỗ họ hiểu rõ những điều kiện và tiến trình và kết quả của phong trào”[18, tr.343]. Quan điểm của C.Mác, PhĂngghen đã chỉ ra rằng, đảng viên cộng sản phải là người tiên phong trong hoạt động thực tiễn cách mạng và tư tưởng lý luận. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ: “Mỗi đảng viên tốt, mỗi chi bộ tốt là đảng được mạnh thêm một phần; đảng viên kém, chi bộ kém là những khâu yếu của Đảng”[46, tr.166]. Xuất phát từ quan điểm đó, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin cho rằng vấn đề cốt lõi của việc tạo dựng tổ chức là phải xây dựng đội ngũ đảng viên. Mọi biểu hiện coi nhẹ, thái độ không nghiêm túc, không khoa học trong xây dựng đội ngũ đảng viên là nguồn gốc làm cho Đảng lỏng lẽo về tổ chức, giảm sút năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu, dẫn đến làm biến chất, tan rã Đảng. Thấm nhuần quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về người đảng viên cộng sản và trong công tác xây dựng đội ngũ đảng viên, Đảng Cộng sản Việt Nam đặc biệt coi trọng chất lượng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của Đảng trong từng giai đoạn cách mạng. Nhờ đó Đảng ta đã xây dựng được một đội ngũ đảng viên có phẩm chất chính trị vững vàng, có đạo đức lối sống cách mạng, có năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu cao, luôn vững vàng trước mọi khó khăn, thử thách. Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ rõ: “Đảng viên là chiến sỹ cách mạng trong đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam suốt đời phấn đấu cho mục đích, lý tưởng của Đảng, đặt lợi ích của Tổ quốc, của giai cấp công nhân và nhân dân lao động lên trên lợi ích cá nhân; chấp hành nghiêm chỉnh Cương lĩnh chính trị, Điều lệ, các nghị quyết của

15. 15 Đảng và pháp luật Nhà nước, có lao động, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; có đạo đức và lối sống lành mạnh; gắn bó mật thiết với nhân dân; phục tùng tổ chức, kỷ luật của Đảng, giữ gìn đoàn kết thống nhất trong Đảng”. Đảng viên các đảng bộ xã, phường, thị trấn trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh là những người đang công tác trong hệ thống chính trị, sinh sống ở khu phố, tổ dân phố, các xóm, ấp, các đơn vị hành chính, sự nghiệp của xã, phường, thị trấn, những đảng viên nghỉ hưu… do đảng bộ xã, phường, thị trấn trực tiếp quản lý giáo dục, rèn luyện. Ngoài ra còn có những đảng viên công tác ở các cơ quan, đơn vị, các cấp, các ngành của thành phố và Trung ương có gia đình cư trú trên địa bàn phường. Hiện nay đội ngũ đảng viên ở các đảng bộ xã, phường, thị trấn trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh có 181.260 đảng viên. Theo nhiệm vụ, điều kiện công tác, sinh hoạt có thể chia đảng viên ở các xã, phường, thị trấn theo ba nhóm: Những đảng viên đang công tác trong hệ thống chính trị xã, phường, thị trấn và ở các khu dân cư; những đảng viên là cán bộ, công chức đã về hưu hoặc được hưởng các chế độ, chính sách đãi ngộ của Nhà nước như thương binh, gia đình có công với cách mạng; những đảng viên cư trú cùng với gia đình trên địa bàn xã, phường thị trấn, nhưng đang công tác ở các đơn vị hành chính sự nghiệp, tổ chức kinh tế – xã hội đơn vị lực lượng vũ trang… * Quan niệm đội ngũ đảng viên của đảng bộ xã, phường, thị trấn trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh Khoa học về tổ chức đã chỉ ra rằng, nhằm tổ chức sự lãnh đạo của Đảng có hiệu quả nhất, cần có một số lượng đảng viên đáp ứng quy mô của sự lãnh đạo. Tuy nhiên, cần chống khuynh hướng chạy theo số lượng thuần tuý mà coi nhẹ chất lượng. Đồng thời cần có một cơ cấu đội ngũ đảng viên đáp ứng yêu cầu lãnh đạo nhất là khi Đảng trở thành Đảng cầm quyền. Tuy nhiên, trong xử lý vấn đề này cần chống khuynh hướng nặng về cơ cấu đội ngũ mà hạ thấp tiêu chuẩn đảng viên. Hậu quả của tình trạng này là bệnh hình thức

17. 17 việc hoặc nơi ở của đảng viên; mỗi chi bộ ít nhất có ba đảng viên chính thức. Chi bộ đông đảng viên có thể chia thành nhiều tổ đảng. Về cơ cấu : là hạt nhân chính trị ở cơ sở, có chức năng, nhiệm vụ lãnh đạo toàn diện mọi lĩnh vực hoạt động, công tác của địa phương về chính trị – tư tưởng, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh… Vì vậy, phải có cơ cấu đội ngũ đảng viên hợp lý, bao gồm các vấn đề về chuyên môn, ngành nghề, độ tuổi, trình độ học vấn, dân tộc, tôn giáo. Có như vậy mới bảo đảm sự lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng bao quát các lĩnh vực trọng yếu và toàn diện. Về chất lượng: chất lượng đội ngũ đảng viên thể hiện ở tư cách, tiêu chuẩn và việc hoàn thành nhiệm vụ của mỗi đảng viên. Đó phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, năng lực hoàn thành nhiệm vụ của người đảng viên. Đối với cả đội ngũ là bầu không khí chính trị – tinh thần, đoàn kết, dân chủ, kỷ luật; tổ chức đảng trong sạch vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức…. Giữa các yếu tố tạo thành đội ngũ đảng viên có mối quan hệ biện chứng với nhau tạo điều kiện làm tiền đề hỗ trợ cho nhau, tạo nên sức mạnh tổng hợp của đội ngũ. Vì vậy, nâng cao chất lượng phải đặc biệt quan tâm các yếu tố đó, không coi nhẹ bất cứ yếu tố nào, trong đó đặc biệt coi trọng chất lượng. * Vai trò của đội ngũ đảng viên ở các đảng bộ xã, phường, thị trấn ở Thành phố Hồ Chí Minh. Một là, đảng viên là người chiến sĩ cách mạng trong đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam. Đảng chính là đội quân ưu tú nhất, là bộ tham mưu chính trị của gia cấp công nhân và là đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của cả dân tộc. Đảng ta hoạt động không vì mục đích tự thân của mình, mà chính là vì hạnh phúc của nhân dân, tức là nhằm xây dựng một nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Đảng

18. 18 Cộng sản Việt Nam trước hết là một tổ chức, Đảng là một cơ thể chính trị – xã hội sống, cho nên toàn bộ sức mạnh của Đảng, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng đều được tạo thành từ mỗi một thành viên trong tổ chức, từ mỗi tế bào cấu tạo nên Đảng, tức là từ từng người đảng viên. Nói cách khác, sức mạnh của Đảng phụ thuộc vào số lượng và chất lượng của đội ngũ đảng viên. Đảng viên tồn tại gắn liền với tổ chức; chịu sự lãnh đạo, giáo dục, quản lý, kiểm tra của tổ chức. Tổ chức mạnh đảm bảo từng người mạnh, từng người mạnh khiến cả tổ chức mạnh. Chất lượng đội ngũ đảng viên ngày càng cao, nội bộ càng ổn định, thì uy tín của Đảng đối với quần chúng càng lớn. Hai là, đội ngũ đảng viên là những người vừa có trách nhiệm góp phần xây dựng đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng; đồng thời có trách nhiệm tổ chức thực hiện ở đảng bộ xã, phường, thị trấn; tăng cường mối liên hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân. Đảng viên là người đóng góp ý kiến, góp phần xây dựng đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, nhiệm vụ chính trị của tổ chức cơ sở đảng và trực tiếp tổ chức thực hiện. Trong quá trình thực hiện, đảng viên góp phần kiểm nghiệm đường lối chính sách của Đảng, phát hiện những điều chưa hợp lý của đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và nhiệm vụ chính trị của tổ chức đảng để cấp có thẩm quyền bổ sung, làm cho đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng đúng đắn hơn. Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy rằng: “Mỗi công việc của Đảng đều do đảng viên làm. Mọi nghị quyết của Đảng đều do đảng viên chấp hành. Mọi khẩu hiệu, kế hoạch của Đảng đều do đảng viên cố gắng thực hiện” [43,tr.235-236]. Đảng viên là người đưa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng vào quần chúng, trực tiếp lãnh đạo, tổ chức, giáo dục quần chúng thực hiện. Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Mọi chính sách của Đảng đều do đảng viên mà thấu đến quần chúng”; “Mỗi đảng viên là người thay mặt cho Đảng trước quần chúng, để giải thích chính sách của Đảng và chính phủ cho quần chúng hiểu

19. 19 rõ và vui lòng thi hành” [42,tr.189]. Như vậy, đảng viên không chỉ là người đóng góp ý kiến, góp phần xây dựng, hoàn thiện đường lối chủ trương, chính sách của Đảng, nhiệm vụ chính trị của đảng bộ mà còn trực tiếp tổ chức thực hiện. Với ý nghĩa đó đảng viên chính là người xây dựng, củng cố, tăng cường mối liên hệ giữa Đảng với nhân dân ở xã, phường, thị trấn. Ba là, người đảng viên dù ở cương vị nào, cũng vừa là người lãnh đạo, vừa là người phục vụ quần chúng. Vai trò đó của người đảng viên là sự quán triệt, thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng. Trong mỗi con người đảng viên, người lãnh đạo và người đầy tớ luôn thống nhất với nhau trong mọi mặt hoạt động lãnh đạo của đảng bộ địa phương. Với vai trò là người lãnh đạo, Đảng phải thuyết phục, thu phục được quần chúng. Muốn vậy, đường lối, chính sách của Đảng phải thực sự đúng đắn, cách mạng và khoa học, phản ánh đúng tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, thực sự là ngọn đèn dẫn lối, soi đường cho nhân dân hành động. Để thực hiện Đảng yêu cầu đội ngũ cán bộ, đảng viên phải thực sự gương mẫu trước nhân dân, nói đi đôi với làm, phải có cái tâm, cái trí, cái đức; thực sự trung thành đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng. Mọi đảng viên, tổ chức đảng phải thực sự là người lãnh đạo xứng đáng của nhân dân chứ không phải theo đuôi, a dua đối với quần chúng. Với vai trò là người đầy tớ trung thành của nhân dân, đòi hỏi mục đích hoạt động lãnh đạo của Đảng là phục vụ nhân dân, đem lại quyền lợi cho nhân dân chứ không nhằm mục đích nào khác. Mọi đảng viên phải tiêu biểu cho đạo lý chí công vô tư, mình vì mọi người. thực sự là công bộc của dân; phải tôn trọng, lắng nghe ý kiến nhân dân, chịu sự kiểm tra, giám sát của nhân dân. Hiện nay, với vai trò này, đòi hỏi người đảng viên phải có lập trường chính trị vững vàng, trung thành với mục tiêu, lý tưởng của Đảng, với sự nghiệp đổi mới; có năng lực trí tuệ, am hiểu thực tiễn; có nhiệt tình cách

20. 20 mạng cao và năng lực hành động. Đấu tranh, loại trừ những thói ba hoa, chủ nghĩa cá nhân, thành tích, căn bệnh tự kiêu, tự đại, công thần, quan liêu, tham nhũng, xa rời quần chúng ở từng địa bàn, cơ sở. Bốn là, đảng viên là tiền đề, là cơ sở để xây dựng đội ngũ cán bộ của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể nhân dân. Trong điều kiện đảng cầm quyền, tuyệt đại bộ phận đảng viên giữ trong trách trong các cơ quan bộ máy chính quyền từ Trung ương đến cơ sở. Vì vậy, muốn phát triển trở thành cán bộ thì trước hết phải là đảng viên của Đảng. Mỗi cán bộ phải là người đại biểu cho mục tiêu, lý tưởng của Đảng, có khả năng tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục, vận động, tập hợp quần chúng; phát động các phong trào quần chúng nhằm từng bước hiện thực hoá Cương lĩnh chính trị, đường lối, nghị quyết của Đảng trong từng giai đoạn. 1.1.2. Những vấn đề cơ bản về chất lượng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên các đảng bộ xã, phường, thị trấn trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh * Quan niệm chất lượng đội ngũ đảng viên ở các đảng bộ xã, phường, thị trấn trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh: Để có quan niệm đúng đắn về chất lượng đội ngũ đảng viên các đảng bộ xã, phường, thị trấn trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh cần thống nhất nhận thức về chất lượng nói chung. Chất lượng là thuộc tính vốn có, là cái tạo nên giá trị của sự vật, hiện tượng, con người. Chất lượng quy định những đặc điểm và tính chất khách quan vốn có của sự vật, hiện tượng và biểu hiện bằng các thuộc tính của sự vật. Chất lượng là biểu hiện giá trị và cũng là để phân biệt sự vật, hiện tượng này với sự vật, hiện tượng khác. Chất lượng có thể đánh giá được về định lượng và định tính thông qua các phương pháp khoa học. Mỗi một sự vật, hiện tượng có chất lượng khác nhau, giá trị tác dụng khác nhau, do đó phương pháp nghiên cứu, đánh giá chất lượng không giống nhau. Chất

21. 21 lượng của một sự vật, hiện tượng, con người được biểu hiện ở giá trị, tác dụng trong đời sống. Đánh giá chất lượng hoạt động trong lĩnh vực chính trị – xã hội thường là phức tạp hơn trong lĩnh vực kinh tế, khoa học kỹ thuật, công nghệ, y học… Đội ngũ đảng viên các đảng bộ xã, phường, thị trấn trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh là một chỉnh thể bao gồm nhiều nhân tố hợp thành: số lượng, cơ cấu và phẩm chất, năng lực của từng người và cả đội ngũ. Các yếu tố ấy có vị trí, vai trò, chức năng nhiệm vụ khác nhau, nhưng có mối quan hệ hữu cơ với nhau. Hoạt động của yếu tố này là tiền đề, điều kiện của yếu tố kia và ngược lại. Nếu một yếu tố nào đó hoạt động kém hiệu quả sẽ làm ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ đảng viên ở các đảng bộ xã, phường, thị trấn trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Vì vậy, xem xét chất lượng đội ngũ đảng viên các đảng bộ xã, phường, thị trấn trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh phải xem xét hoạt động của từng mặt, từng bộ phận, yếu tố hợp thành nó. Để đánh giá chất lượng đội ngũ đảng viên ở các đảng bộ xã, phường, thị trấn trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, phải nghiên cứu số lượng, cơ cấu và phẩm chất, năng lực của từng người và cả đội ngũ và ở kết quả thực hiện chức năng, nhiệm vụ của từng người và cả đội ngũ. Bởi vì kết quả thực hiện chức năng, nhiệm vụ của từng người và cả đội ngũ phản ánh kết quả vận động và phát triển tổng hợp của các nhân tố ấy. Từ phân tích trên, có thể quan niệm: Chất lượng đội ngũ đảng viên ở các đảng bộ xã, phường, thị trấn trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh là tổng hoà giá trị của các yếu tố hợp thành công tác đảng viên của cấp uỷ, tổ chức đảng được thể hiện qua kết quả của quá trình thực hiện nhiệm vụ của đảng viên, đáp ứng tiêu chuẩn đảng viên theo quy định của Điều lệ Đảng, bảo đảm sự trong sạch vững mạnh của từng tổ chức và toàn đảng bộ, thực sự là hạt nhân chính trị, nền tảng của Đảng ở cơ sở địa phương. – Những yếu tố quy định chất lượng đội ngũ đảng viên Chất lượng của đội ngũ đảng viên là tổng hợp các yếu tố biểu hiện ở số lượng, cơ cấu đội ngũ đảng viên; ở phẩm chất, năng lực, phương pháp tác

22. 22 phong công tác và kết quả hoàn thành chức trách, nhiệm vụ của đội ngũ đảng viên. Một là, số lượng, cơ cấu đội ngũ đảng viên Muốn có một đội ngũ, bao giò cũng phải có số lượng nhất định. Số lượng đảng viên ở các xã, phường, thị trấn không chỉ bảo đảm cho đảng bộ địa phương đủ sức lãnh đạo mà còn bảo đảm cho các tổ chức trong hệ thống chính trị hoạt động, bảo đảm cho sự phát triển đội ngũ cán bộ cả trước mắt và lâu dài. Vì vậy, trong đánh giá chất lượng đội ngũ đảng viên bao giờ cũng dựa vào số lượng đảng viên thực tế. Chất lượng đội ngũ đảng viên còn phụ thuộc vào cơ cấu đội ngũ. Để có một đội ngũ đảng viên đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, bao giờ cũng phải có một cơ cấu đồng bộ, hợp lý cả về độ tuổi, giới tính, năng lực, trình độ, thâm niên, phạm vi lãnh đạo…để bảo đảm sự kế thừa, chuyển tiếp vững chắc giữa các thế hệ đảng viên. Do sự đa dạng về địa bàn hoạt động, cần phải có một cơ cấu đội ngũ đảng viên hợp lý để bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, bao quát về mọi mặt, phạm vi lãnh đạo của các tổ chức đảng. Hai là, tiêu chuẩn đảng viên là yếu tố quy định chất lượng đội ngũ đảng viên. Trong từng giai đoạn phát triển của cách mạng, yêu cầu đặt ra đối với tiêu chuẩn của người đảng viên ngày càng cao và Đảng đều có sự bổ sung, phát triển về nội dung tiêu chuẩn của đảng viên đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ. Tiêu chuẩn đảng viên, trước hết biểu hiện yêu cầu về phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống đối với đảng viên. Đây là “gốc, rễ, nền tảng” chi phối, định hướng, phong cách làm việc của đảng viên. Chỉ có tuyệt đối trung thành với mục tiêu lý tưởng của Đảng, kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, toàn tâm, toàn ý phục vụ nhân dân, tận tâm, tận tuỵ với công việc thì từng đảng viên mới say mê nghiên cứu tìm tòi, suy nghĩ lựa chọn cách thức, biện pháp nhằm thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao. Chỉ có mẫu mực về đạo đức, lối sống có ý thức tổ chức kỷ luật cao, mới bảo đảm cho từng tổ chức đảng

23. 23 thực sự là trung tâm đoàn kết, mới vận động, giáo dục, thuyết phục, cảm hoá được quần chúng và phát động quần chúng thực hiện các chủ trương, biện pháp lãnh đạo của đảng bộ. Tiêu chuẩn đảng viên biểu hiện ở yêu cầu về trình độ, năng lực của mỗi đảng viên. Đây là yếu tố trực tiếp quy định đến chất lượng của từng đảng viên và tổ chức đảng. Nếu trình độ thấp, năng lực của từng đảng viên yếu thì khó có thể tạo ra một chất lượng của một đội ngũ. Tiêu chuẩn đảng viên còn biểu hiện ở yêu cầu phương pháp, tác phong công tác của mỗi đảng viên. Nếu chỉ có phẩm chất, kiến thức, năng lực thì vẫn chưa đủ mà còn cần phải có phương pháp làm việc khoa học. Nếu có chủ trương, biện pháp đúng, nhưng phương pháp không phù hợp thì cũng không đem lại hiệu quả như mong muốn. Phương pháp, tác phong công tác của đảng viên gắn liền với phương pháp lãnh đạo của Đảng. Đó chính là lý luận gắn liền với thực tiễn, nói đi đôi với làm, là xây dựng và nhân điển hình; phương pháp nêu gương bản thân. Đồng thời, đó còn là việc chấp hành nguyên tắc tổ chức sinh hoạt, giữ gìn kỷ luật đảng; xây dựng và thực hiện các quy chế dân chủ trong Đảng…đó là nhân tố căn bản, trực tiếp tạo nên chất lượng của từng đảng viên và cả đội ngũ. Ba là, kết quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ của đội ngũ đảng viên Phẩm chất, năng lực của đảng viên, chất lượng của đội ngũ phải được biểu hiện ở kết quả lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị, yêu cầu công tác xây dựng đảng bộ. Nói cách khác, kết quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ của người đảng viên và lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị của từng cơ sở địa phương là yếu tố suy cho cùng quy định chất lượng đảng viên và cả đội ngũ. Mỗi đảng viên ngoài thực hiện nhiệm vụ theo quy định của Điều lệ Đảng, phải hoàn thành tốt nhất theo từng cương vị, chức trách được giao. Chất lượng, hiệu quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ của đảng viên thấp thì không thể đánh giá người đảng viên đó có phẩm chất, năng lực tốt được và nhiệm vụ chính trị của mỗi địa phương cơ sở có sự khác nhau và mức độ, hiệu quả công tác lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ

24. 24 đó chính là thước đo để đánh giá chất lượng của đội ngũ đảng viên và công tác xây dựng đảng bộ. Những yếu tố trên là thể thống nhất, tác động qua lại, quy định chất lượng của đội ngũ đảng viên nói chung và đội ngũ đảng viên ở các xã, phường, thị trấn trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh nói riêng. * Quan niệm nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên ở đảng bộ xã, phường, thị trấn trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Trong đời sống, thuật ngữ “nâng cao” được hiểu là hoạt động của chủ thể tác động vào đối tượng nào đó làm cho chúng cao hơn, phát triển hơn trước đây để đáp ứng nhu cầu của đời sống xã hội, cá nhân. Thuật ngữ này cũng còn biểu đạt sự tự thân vận động, tự thân phát triển của một chủ thể nào đó để phẩm chất, năng lực, trình độ đáp ứng yêu cầu của hoạt động thực tiễn. Khi nghiên cứu nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên ở các đảng bộ xã, phường, thị trấn trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh phải nắm vững quan điểm hệ thống, tính chỉnh thể của hoạt động thực tiễn của con người trong đời sống xã hội. Bất cứ một hoạt động nào đó của con người cũng đều có mục đích, đối tượng tác động, nội dung, phương thức, phương tiện và được diễn ra trong thời gian, không gian cụ thể. Nếu một khâu, một công việc nào đó trục trặc, hoạt động kém kết quả, lập tức sẽ làm ảnh hưởng đến các khâu khác, mặt khác mà do đó kết quả hoạt động sẽ rất hạn chế, thậm chí thất bại, không đạt được mục đích đề ra. Từ những phân tích trên, có thể quan niệm nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên ở các đảng bộ xã, phường, thị trấn trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh là tổng thể các giải pháp của tổ chức đảng và của cả hệ thống chính trị tác động vào yếu tố cấu thành chất lượng nhằm tạo sự chuyển biến, phát triển về số lượng, cơ cấu, phẩm chất, năng lực của đội ngũ đảng viên ở các đảng bộ xã, phường, thị trấn, góp phần xây dựng đảng bộ xã, phường, thị trấn trong sạch, vững mạnh, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu, hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao.

25. 25 Mục đích nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên các đảng bộ xã, phường, thị trấn là nhằm làm cho đội ngũ phát triển về số lượng, cơ cấu, đáp ứng tiêu chuẩn đảng viên thời kỳ mới; xây dựng đảng bộ xã, phường, thị trấn trong sạch, vững mạnh, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu, hoàn thành mọi nhiệm vụ. Chủ thể hoạt động nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên các đảng bộ xã, phường, thị trấn là các cấp uỷ, tổ chức đảng, các ban chức năng của cấp uỷ; đội ngũ đảng viên. Trong đó chủ thể lãnh đạo, chỉ đạo là cấp uỷ đảng các cấp ở địa phương, mà trực tiếp là đảng uỷ các xã, phường, thị trấn, chi uỷ chi bộ thuộc đảng bộ các xã, phường, thị trấn là chủ thể trực tiếp lãnh đạo triển khai tổ chức thực hiện; đội ngũ đảng viên vừa là đối tượng, vừa là chủ thể với tự cách tự tu dưỡng, rèn luyện nâng cao phẩm chất, trình độ về mọi mặt đáp ứng yêu cầu chức trách, nhiệm vụ được phân công. Lực lượng tham gia nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên các đảng bộ xã, phường, thị trấn là toàn bộ các tổ chức trong hệ thống chính trị và nhân dân. Mỗi một tổ chức, lực lượng có vị trí, vai trò, chức năng nhiệm vụ khác nhau nhưng đều nhằm mục đích giáo dục, rèn luyện, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình phát triển chất lượng đội ngũ đảng viên các đảng bộ xã, phường, thị trấn. Mọi hoạt động của các cơ quan ban ngành, đoàn thể ở địa phương nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên các đảng bộ xã, phường, thị trấn đều được thực hiện dưới sự lãnh đạo của cấp uỷ, tổ chức đảng. Đối tượng nâng cao chất lượng là đội ngũ đảng viên các đảng bộ xã, phường, thị trấn, bao gồm những đảng viên đang công tác trong hệ thống chính trị xã, phường, thị trấn và những đảng viên đã nghỉ hưu, hưởng các chế độ chính sách, những đảng viên là cấp uỷ viên, những đảng viên dự bị. Nội dung nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên các đảng bộ xã, phường, thị trấn có nội dung toàn diện, biểu hiện tập trung nâng cao chất lượng các mặt công tác xây dựng đội ngũ đảng viên:

26. 26 Nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị – tư tưởng, bồi dưỡng đảng viên: Chất lượng đội ngũ đảng viên chỉ phát triển vững chắc khi từng người và cả đội ngũ có trình độ giác ngộ chính trị cao, bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối với mục tiêu lý tưởng chiến đấu của Đảng, với Tổ quốc xã hội chủ nghĩa và nhân dân; không dao động, mơ hồ, giảm sút niềm tin chính trị trước những tình huống chính trị phức tạp, những thử thách, khó khăn; đấu tranh không khoan nhượng với các quan điểm sai trái, thù địch; luôn nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo trong suy nghĩ và hành động đúng với quy luật khách quan trước những biến cố chính trị của thời cuộc. Chính vì vậy nâng cao trình độ giác ngộ chính trị, bản lĩnh chính trị là nội dung cốt lõi của nâng cao chất lượng đảng viên các đảng bộ xã, phường, thị trấn. Nâng cao chất lượng công tác phát triển đảng viên mới: Những người được kết nạp vào Đảng phải có lý lịch rõ ràng; Chấp hành tốt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước. Việc phát triển đảng viên mới phải theo đúng quy định của Điều lệ Đảng và hướng dẫn của cấp trên. Nâng cao chất lượng công tác quản lý đảng viên của đảng bộ xã, phường, thị trấn trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh bao gồm: quản lý từng người và quản lý cả đội ngũ. Trong quản lý từng người tập trung quản lý cả về phẩm chất, năng lực và phương pháp tác phong công tác; quản lý về chính trị, tư tưởng, đạo đức lối sống của đảng viên; quản lý về sinh hoạt và quan hệ xã hội. Trong quản lý đội ngũ: tập trung quản lý cả số lượng, chất lượng và cơ cấu. Làm tốt công tác sàng lọc đảng viên, bảo đảm sự trong sạch của từng tổ chức đảng; kiên quyết đưa những người không còn đủ tư cách, không thiết tha với Đảng ra khỏi hàng ngũ của Đảng. Hình thức, biện pháp nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên bao gồm tổng hợp những hình thức biện pháp công tác tư tưởng, công tác tổ chức, chính sách tác động, nhằm không ngừng phát triển các yếu tố quy định chất lượng một cách vững chắc.

27. 27 – Các biện pháp công tác tổ chức, chính sách được sử dụng tập trung nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của đảng bộ xã, phường, thị trấn, như: thông qua sinh hoạt, hoạt động của các tổ chức mà đảng viên là thành viên (tổ chức đoàn, hội cựu chiến binh, hội nông dân, tổ chức công đoàn…); thông qua các hoạt động thực tiễn chính trị ở địa phương, trong đó coi trọng rèn luyện đảng viên qua thực tiễn các phong trào hành động cách mạng của địa phương. – Kết hợp chặt chẽ giữa quản lý của chi bộ với đảng viên tự quản lý; kết hợp chặt chẽ giữa quản lý đảng viên với quản lý cán bộ; thực hiện tốt việc kiểm tra, phân tích đánh giá chất lượng đảng viên; xây dựng và thực hiện tốt các quy định, chế độ về thủ tục hành chính đảng ở chi bộ; phát huy vai trò trách nhiệm của các tổ chức, các lực lượng để quản lý đảng viên; dựa vào cấp uỷ, chính quyền nơi đảng viên cư trú. Mỗi hình thức, biện pháp có vị trí, vai trò tác dụng và cách tiến hành khác nhau nhưng đều nhằm mục tiêu nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên. * Những vấn đề có tính nguyên tắc trong nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên ở các đảng bộ xã, phường, thị trấn trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh Một là, quán triệt và vận dụng sáng tạo học thuyết Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nghị quyết, quy định của Đảng về xây dựng đội ngũ đảng viên vào nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên ở các đảng bộ xã, phường, thị trấn. Học thuyết Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng là căn cứ, phương hướng, mục tiêu chỉ đạo toàn bộ quá trình nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên của các đảng bộ xã, phường, thị trấn trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Vấn đề có tính nguyên tắc này xuất phát từ bản chất chính trị, tính tiên phong của Đảng. Đội ngũ đảng viên phải là chiến sỹ tiên phong trên cả phương diện lý luận và thực tiễn. Xét đến cùng, Đảng chỉ có thể hoàn thành trọng trách lãnh đạo của mình khi có đội ngũ đảng viên tiên phong trên cả phương diện lý luận và thực tiễn. Do đó, nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên là vấn đề thường xuyên và có ý nghĩa quyết định. Do nhiệm vụ cách

28. 28 mạng luôn vận động, phát triển, yêu cầu đội ngũ đảng viên phải nâng cao trình độ về mọi mặt. Tuỳ theo nhiệm vụ cách mạng từng thời kỳ mà nội dung nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trên cả ba mặt cho cụ thể. Quán triệt và thực hiện nguyên tắc này, các đảng bộ xã, phường, thị trấn phải coi việc nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên là một nội dung lãnh đạo quan trọng của cấp uỷ địa phương. Sự lãnh đạo của cấp uỷ địa phương, cơ sở được thể hiện trên tất cả các khâu, các bước trong nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên. Sự lãnh đạo ấy phải được thể hiện bằng nghị quyết, bằng chỉ thị, bằng các biện pháp kiểm tra thực hiện; thông qua công tác tư tưởng, tổ chức, chính sách, vai trò tiền phong gương mẫu của đảng viên và tổ chức đảng. Đảng bộ các xã, phường, thị trấn phải quán triệt nghiêm túc các nghị quyết, chỉ thị của trên về công tác xây dựng đội ngũ đảng viên; tuân thủ các nguyên tắc thủ tục kết nạp đảng viên; cụ thể hoá tư cách, nhiệm vụ, quyền hạn đảng viên. Chỉ có như thế, người đảng viên mới có căn cứ phấn đấu, rèn luyện, có phương hướng hoạt động thiết thực, rõ ràng. Đối với mỗi đảng viên phải nêu cao ý thức đảng, nghiêm túc thực hiện chế độ tự phê bình và phê bình để cho bản thân và mỗi tổ chức đảng không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu. Hai là, phát huy sức mạnh tổng hợp trong nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên. Tham gia xây dựng Đảng là trách nhiệm chung của toàn dân và của cả hệ thống chính trị nước ta. Vì vậy, phát huy sức mạnh tổng hợp của địa phương, cơ sở là một nguyên tắc cần phải nắm vững và thực hiện có hiệu quả trong nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên. Nội dung nguyên tắc này chỉ rõ phải thực hiện quyền làm chủ của nhân dân trong nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên. Nhân dân tham gia nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên bao gồm các hình thức: Tham gia quản lý, giáo dục, động viên; kiểm tra, giám sát; thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo các hành vi vi phạm pháp luật. Thông qua các tổ chức chính trị – xã hội như Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp

29. 29 phụ nữ Việt Nam, Hội Cựu chiến binh…ở mỗi địa phương, cơ sở. Thực hiện tốt dân chủ ở cơ sở. Nâng cao hiệu quả phối hợp chỉ đạo, hướng dẫn và tổ chức thực hiện giữa các cơ quan ban, ngành, đoàn thể ở địa phương và Trung ương trên địa bàn vào nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên. Đề phòng và khắc phục những nhận thức không đúng, coi việc nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên chỉ là nhiệm vụ của riêng các tổ chức đảng. Ba là, nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên kết hợp chặt chẽ với nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ; xây dựng đảng bộ trong sạch, vững mạnh với xây dựng cơ sở địa phương vững mạnh toàn diện; đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch. Trong điều kiện Đảng cầm quyền, đại đa số đảng viên là cán bộ giữ các cương vị, trọng trách trong chính quyền; quản lý, nắm giữ tài chính, cơ sở vật chất, kỹ thuật. Đường lối của Đảng, nhiệm vụ của từng địa phương, cơ sở là mục tiêu quy định nội dung, biện pháp xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên. Có kết hợp chặt chẽ mới bảo đảm cho đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng có đủ khả năng quán triệt sâu sắc đường lối của Đảng, cụ thể hoá và vận dụng đúng đắn, phù hợp tình hình nhiệm vụ của địa phương, cơ sở. Vì vậy, làm tốt các mặt công tác xây dựng Đảng cũng nhằm mục tiêu thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá XI) Về một số vấn đề cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay, xác định rõ: “Làm tốt nhiệm vụ xây dựng Đảng cũng chính là để thúc đẩy thực hiện nhiệm vụ chính trị”. Cốt lõi của công tác xây dựng Đảng hiện nay, Đảng ta tập trung nhấn mạnh việc nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên, cán bộ của Đảng, bảo đảm cho họ thực sự tiêu biểu và đủ khả năng để hiện thực hoá đường lối chủ trương, chính sách của Đảng. Mỗi địa phương là một đơn vị hành chính, kinh tế – xã hội hoàn chỉnh; là địa bàn tổ chức sản xuất, chiến đấu, giải quyết trực tiếp đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Do vậy, nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên đáp ứng yêu cầu bảo đảm khả năng hoàn thành nhiệm vụ giữ vững ổn định chính

31. 31 Mức độ, chất lượng thực hiện các hoạt động nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên theo chức năng, nhiệm vụ của mỗi tổ chức, lực lượng. Đó là tiêu chí chung, để đánh giá chính xác chất lượng của các chủ thể cần căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của mỗi chủ thể để chi tiết hoá các dấu hiệu trong nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên…. Hai là, đánh giá về thực hiện nội dung, hình thức, biện pháp nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên. Tiêu chí này thể hiện ở việc chính xác, khoa học nội dung chương trình giáo dục chính trị tư tưởng ở địa phương, cơ sở. Ở công tác phát triển đảng, quản lý giáo dục, rèn luyện đảng viên. Ở việc phát huy sức mạnh của công tác tổ chức vào nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên. Hiệu lực, hiệu quả phối hợp giữa các tổ chức, lực lượng trong nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên… Ba là, đánh giá phẩm chất chính trị, năng lực, kết quả thực hiện nhiệm vụ, công tác xây dựng đảng bộ của đội ngũ đảng viên. Phẩm chất chính trị được thể hiện ở lập trường chính trị vững vàng, tinh thần yêu nước và tự cường dân tộc; quyết tâm phấn đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định và quyết tâm thực hiện đường lối xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ nhân dân; có quyết tâm cao hoàn thành tốt nhiệm vụ; kiên quyết bảo vệ đường lối của Đảng; biết phân tích đúng, sai trước các sự kiện, hiện tượng xảy ra trong đời sống chính trị, xã hội, dám đấu tranh bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng; không mơ hồ trước âm mưu thủ đoạn của kẻ thù, không bi quan, dao động trước khó khăn, thách thức; khả năng hiểu biết về đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta, về nhiệm vụ cách mạng. Những vấn đề đó được đánh giá thông qua khả năng vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, nhiệm vụ cách mạng vào thực hiện nhiệm vụ, chức trách; có quan điểm, chính kiến rõ ràng đối với những hành vi sai trái, những tư tưởng sai lầm, quan điểm thù địch và các tệ nạn tiêu cực trong đời sống xã hội.

33. 33 trọng và có nhiều chủ trương, giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên. Những năm qua, mặc dù phải đối mặt với nhiều khó khăn do tác động của nền kinh tế – xã hội nhưng cấp uỷ và các cơ quan chức năng các cấp đã chủ động tổ chức quán triệt và thực hiện nghiêm túc các nghị quyết của Đảng về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, từng bước đổi mới công tác xây dựng đội ngũ đảng viên. Đã đánh giá đúng vị trí, vai trò, tầm quan trọng của đội ngũ đảng viên, chủ động xây dựng kế hoạch, quy hoạch nhằm giải quyết những vấn đề trước mắt, đồng thời có chủ trương phù hợp để nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên. Cấp uỷ, tổ chức đảng, cán bộ chủ chốt, cơ quan chức năng các cấp đã đặc biệt quan tâm đến công tác giáo dục chính trị – tư tưởng, phân công công tác, quản lý giáo dục rèn luyện đảng viên, kiểm tra giám sát, sàng lọc, kết nạp đảng viên mới. Các cấp uỷ, tổ chức đảng, cán bộ chủ trì đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, chủ động khắc phục khó khăn, tổ chức thực hiện nghiêm túc các nghị quyết, chỉ thị quản lý đội ngũ cán bộ, đảng viên, thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ trong quá trình nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên. Tổ chức nghiên cứu, quán triệt nghiêm túc Nghị quyết về công tác xây dựng Đảng trong thời kỳ mới; xác định chính xác phương hướng lãnh đạo và có kế hoạch tổ chức triển khai thực hiện. Chỉ đạo rà soát, đánh giá đúng thực trạng đội ngũ đảng viên. Chỉ đạo các cơ quan chức năng xây dựng kế hoạch nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên gắn với xây dựng đội ngũ cán bộ. Coi trọng việc rèn luyện đảng viên thông qua hoạt động thực tiễn và có kế hoạch lựa chọn những người ưu tú có đủ điều kiện, tiêu chuẩn để phát triển đảng. Kết quả trưng cầu ý kiến cho thấy có 59% cán bộ, đảng viên được hỏi đánh giá cấp uỷ tổ chức đảng xã, phường, thị trấn đã đặc biệt coi trọng công tác xây dựng đội ngũ đảng viên. Hai là, nội dung, biện pháp nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên đã được các đảng bộ xã, phường, thị trấn thực hiện tương đối có nền nếp và đạt được kết quả trên thực tế. Đã cụ thể hoá tiêu chuẩn và thực hiện phân công

34. 34 công tác cho đảng viên ở các chi bộ cơ sở. Đã thực hiện việc đánh giá, phân loại đảng viên hàng năm theo đúng quy định và hướng dẫn của cấp trên. Đã chấp hành có nền nếp chế độ kiểm tra, giám sát đảng viên ở chi bộ cơ sở. Đã bảo đảm các điều kiện và thủ tục phát triển đảng viên mới theo quy định của Điều lệ Đảng, hướng dẫn của các cơ quan chức năng cấp trên. Chấp hành các quy định về điều kiện người vào Đảng. Chấp hành các thủ tục, các khâu, các bước phát triển Đảng, giáo dục, rèn luyện đảng viên dự bị, chuyển đảng viên dự bị thành đảng viên chính thức. Đã phát huy được vai trò của các tổ chức trong hệ thống chính trị và nhân dân tham gia xây dựng đội ngũ đảng viên ở xã, phường, thị trấn. Công tác giáo dục, rèn luyện, quản lý, phân công công tác; phát triển đảng viên mới đã được cấp uỷ, tổ chức đảng các cấp quan tâm thực hiện đúng các nguyên tắc, chế độ quy định. Thời gian qua, cấp uỷ đảng các cấp đã chấp hành và hướng dẫn cho các cấp uỷ đảng cấp dưới đầy đủ văn bản, quy định, hướng dẫn về công tác giáo dục, rèn luyện, quản lý, phân công công tác; phát triển đảng viên mới. Tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể đảng uỷ (thường vụ) lãnh đạo và phát huy trách nhiệm của người chủ trì, cơ quan, ban ngành. Do đó, hầu hết các cấp uỷ đã nhận thức đúng vị trí, ý nghĩa của nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong tình hình, nhiệm vụ mới; từng bước phát huy vai trò trách nhiệm của các cấp, các ngành, khắc phục tình trạng phân tán, tuỳ tiện, giản đơn, thiếu trách nhiệm trong nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên. Công tác quản lý đội ngũ đảng viên ngày một có nền nếp, giữ vững nguyên tắc. Kết quả khảo sát cho thấy có 73% cán bộ, đảng viên đánh giá cấp uỷ, tổ chức đảng cấp trên có sự lãnh đạo, chỉ đạo tốt trong việc nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên ở các đảng bộ xã, phường, thị trấn. Việc nhận xét, đánh giá được tiến hành nghiêm túc, chặt chẽ, đã chú ý đến nhiều mặt, lấy hiệu quả công việc làm căn cứ chủ yếu. Thực hiện lấy ý kiến dân chủ để tham khảo sự tín nhiệm trước khi kết nạp đảng viên mới. Việc quy hoạch, tạo nguồn, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, quản lý, bố trí, sử

35. 35 dụng và thực hiện các chế độ chính sách để giải quyết số lượng và chất lượng, cơ cấu đội ngũ đáp ứng yêu cầu chấn chỉnh tổ chức lực lượng và sự phát triển tình hình nhiệm vụ. Tích cực bồi dưỡng, đào tạo, rèn luyện để nâng cao toàn diện về phẩm chất, năng lực, phương pháp, tác phong công tác của đội ngũ đảng viên. Ba là, phẩm chất năng lực, phong cách của đội ngũ đảng viên về cơ bản đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Chất lượng đội ngũ đảng viên từng bước được nâng lên đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị của đảng bộ xã, phường, thị trấn. Số lượng đảng viên về cơ bản đã đáp ứng được nhiệm vụ lãnh đạo ở xã, phường, thị trấn. Về cơ cấu, nhìn chung tương đối hợp lý trong các lĩnh vực hoạt động của xã, phường, thị trấn, bảo đảm lĩnh vực hoạt động nào của xã, phường, thị trấn cũng có đảng viên. Tuyệt đại bộ phận đội ngũ đảng viên ở xã, phường, thị trấn đã phát huy vai trò tiền phong, gương mẫu trong sản xuất, công tác và đời sống, được nhân dân tín nhiệm. Các đảng viên mới đều phấn đấu đạt tiêu chuẩn đảng viên theo Quy định của Điều lệ Đảng. Đã hoàn thành tốt nhiệm vụ đảng viên trong thời kỳ dự bị và chuyển thành đảng viên chính thức. Kết quả đánh giá, phân loại đảng viên hàng năm ở các đảng bộ xã, phường, thị trấn năm 2013: Đảng viên đủ tư cách, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ 10,52%. Đảng viên đủ tư cách, hoàn thành tốt nhiệm vụ 73,1%. Đảng viên đủ tư cách, hoàn thành nhiệm vụ 16,14%. Đảng viên không đủ tư cách 0,24%. Từ thực tế nghiên cứu ở các xã, phường, thị trấn cho thấy, tuyệt đại đa số đảng viên xác định tốt trách nhiệm chính trị với chức trách, nhiệm vụ được giao, không dao động trước những khó khăn, thử thách, có bản lĩnh chính trị vững vàng, lập trường tư tưởng kiên định, có trình độ nhận thức và niềm tin sâu sắc vào chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thực sự là tấm gương tiêu biểu cho lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân, kiên định với mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, sẵn sàng chiến

36. 36 đấu hy sinh để bảo vệ độc lập chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa. Nắm vững và triệt để chấp hành đường lối chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, giữ vững nguyên tắc lãnh đạo, nhạy bén, sắc sảo về chính trị, bình tĩnh, sáng tạo, quyết đoán trong giải quyết công việc; có tinh thần cảnh giác cách mạng cao, tích cực, chủ động trong đấu tranh bảo vệ trận địa chính trị tư tưởng của Đảng, tỉnh táo trước mọi luận điệu của các thế lực thù địch, không sa ngã trước sự cám dỗ vật chất, sáng suốt trước những dư luận không lành mạnh trên địa bàn địa phương mình. Đội ngũ đảng viên có phẩm chất đạo đức cách mạng và lối sống trong sạch lành mạnh, trung thực, chân thành, khiêm tốn giản dị, thực sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, tận tuỵ với công việc, có tinh thần khắc phục khó khăn, có tinh thần cầu thị, ý chí phấn đấu vươn lên. Trong công tác, giải quyết đúng đắn mối quan hệ. Phần đông có tác phong công tác sâu sát, tỉ mỉ, lời nói đi đôi với việc làm, phát huy được tính tiền phong gương mẫu trong công việc và cuộc sống đời thường. Hầu hết đội ngũ đảng viên hiện nay nhận thức tốt vai trò của việc rèn luyện, nâng cao phẩm chất đạo đức với quá trình công tác và sự tiến bộ trưởng thành của mình, có thái độ kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện sai trái, tiêu cực, lạc hậu. Là người trực tiếp lãnh đạo nhân dân, tuyệt đại đa số đảng viên hiện nay đều gương mẫu chấp hành pháp luật của Nhà nước, ít có trường hợp vi phạm kỷ luật phải xử lý. Theo kết quả khảo sát có 63,52% ý kiến đánh giá đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ; 28% ý kiến đánh giá hoàn thành nhiệm vụ và 8,5 % ý kiến đánh giá chưa hoàn thành. Qua trao đổi với cán bộ chủ trì và qua nghiên cứu các báo cáo tổng kết, về cơ bản đội ngũ đảng viên có kiến thức, năng lực tương đối toàn diện cả về chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học kỹ thuật. Nắm vững những quan điểm của Đảng, có năng lực nắm bắt địa bàn, tuyên truyền vận động thuyết phục quần chúng, có khả năng phổ biến, quán triệt triển khai các nhiệm vụ công tác. Có uy tín đối với các ban ngành, đoàn

38. 38 thiện chủ trương, biện pháp lãnh đạo đơn vị thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ. Trong hoạt động cũng như trong sinh hoạt hàng ngày luôn cụ thể, sâu sát và có tác phong quần chúng, có khả năng giáo dục, thuyết phục, nêu gương, nói đi đôi với làm. Tác phong làm việc có kế hoạch, khoa học, chính xác, cẩn thận tỉ mỉ, chu đáo trong công việc, luôn nhận thức và giải quyết hài hoà các mối quan hệ giữa tập thể và cá nhân, giữa cấp trên và cấp dưới. Nhìn chung, đội ngũ đảng viên có đủ số lượng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của xã, phường, thị trấn, cơ cấu từng bước được cải thiện. Hầu hết đội ngũ đảng viên hoàn thành được chức trách, nhiệm vụ. Qua tổng kết của các xã, phường, thị trấn từ 2010 đến nay cho thấy tỷ lệ đảng viên có năng lực công tác ở mức thành thạo ngày càng tăng, chất lượng công tác được đảm bảo, thực hiện tốt các nhiệm vụ được giao. Kết quả khảo sát ý kiến đánh giá về mức độ hoàn thành chức trách, nhiệm vụ của đội ngũ đảng viên cho thấy, có 63,52% ý kiến được hỏi đánh giá hoàn thành tốt; 28% ý kiến đánh giá hoàn thành; 8,7% ý kiến đánh giá chưa hoàn thành; chỉ có 2% ý kiến đánh giá kết quả hoàn thành chức trách, nhiệm vụ ở mức yếu. Kết quả phân loại trong 4 năm trở lại đây là: đảng viên đủ tư cách, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chiếm 10,8%; đảng viên đủ tư cách, hoàn thành tốt nhiệm vụ chiếm 74,25 %; đảng viên đủ tư cách, hoàn thành nhiệm vụ chiếm 14,62 %. Kết quả hoàn thành nhiệm vụ của đội ngũ đảng viên còn thể hiện ở kết quả hoàn thành nhiệm vụ của địa phương và chất lượng xây dựng tổ chức đảng, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, ở kết quả đánh giá chất lượng tổ chức đảng và đảng viên hàng năm. Đội ngũ đảng viên đã nắm vững những vấn đề cơ bản về công tác đảng, cả về nguyên tắc, nội dung, hình thức tiến hành, hiểu biết đầy đủ các nguyên tắc tổ chức, cơ chế hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị địa phương; giải quyết tốt mối quan hệ trong công tác; có khả năng phổ biến, quán triệt, triển khai các nhiệm vụ của công tác đảng. Qua đó, đã khẳng định vị thế và năng lực công tác của đội ngũ đảng viên ở các đảng bộ xã, phường, thị trấn.

39. 39 * Nguyên nhân của những ưu điểm Một là, đảng uỷ các xã, phường, thị trấn đã nghiêm túc thực hiện các quan điểm, nguyên tắc xây dựng đội ngũ đảng viên, tích cực chủ động có nhiều biện pháp thiết thực nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên phù hợp với đặc điểm của từng địa phương. Những năm qua, quán triệt sâu sắc các nghị quyết của Đảng về công tác xây dựng Đảng, nhất là nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khoá XI; xuất phát từ yêu cầu nhiệm vụ, đảng uỷ các xã, phường, thị trấn đã đề ra nhiều chủ trương, biện pháp thực hiện công tác đảng viên. Đã quan tâm đầu tư nhiều hơn đến việc xây dựng và chỉ đạo tổ chức nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên. Thường xuyên rút kinh nghiệm, gắn việc kiện toàn đội ngũ đảng viên với kiện toàn các tổ chức trong hệ thống chính trị; việc đánh giá, phân loại chất lượng đảng viên ngày càng đi vào thực chất. Qua đó, thực hiện nhận xét, đánh giá, phân loại để bồi dưỡng phát huy ưu điểm, hạn chế những khuyết điểm; tạo điều kiện cho đảng viên phấn đấu, rèn luyện. Nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên đã góp phần chuẩn bị nhân sự cho đại hội Đảng các cấp và kiện toàn biên chế, tổ chức, nhờ đó hầu hết đảng viên được giới thiệu đã trúng cử vào cấp uỷ, vào bộ máy chính quyền. Đội ngũ đảng viên được bầu vào cấp uỷ, bổ nhiệm vào các chức danh của chính quyền đều có phẩm chất, năng lực tốt, có tín nhiệm cao. Quán triệt, thực hiện nghiêm túc các nghị quyết của Đảng, cấp uỷ, tổ chức đảng ở xã, phường, thị trấn đã thường xuyên quan tâm đến bồi dưỡng, giáo dục, rèn luyện đội ngũ đảng viên. Trên cơ sở phân tích và phân loại cấp uỷ đảng, cán bộ chủ trì đã thực hiện có nền nếp công tác bồi dưỡng cán bộ, cấp uỷ, đảng viên. Dưới sự lãnh đạo của cấp uỷ, tổ chức đảng, sự giáo dục rèn luyện, bồi dưỡng của tổ chức, đội ngũ đảng viên đã nhận thức đúng vị trí, vai trò, ý thức rõ trách nhiệm của mình đối với việc phấn đấu tu dưỡng về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, trau dồi kiến thức, nâng cao năng lực, phương pháp, tác

40. 40 phong công tác, coi đó là một việc phải thực hiện suốt đời. Trên cương vị công tác của mình, từng người đã tự học, tự rèn luyện từ việc nhỏ đến việc lớn; từ cách suy nghĩ đến cách hành động, từ lời nói đến việc làm, từ cách nghiên cứu, học tập đến giải quyết các mối quan hệ… để hoàn thành nhiệm vụ. Trước sự tác động, phát triển nhanh chóng, phức tạp của tình hình kinh tế – xã hội đất nước và yêu cầu nhiệm vụ của các xã, phường, thị trấn, đội ngũ đảng viên vẫn vững vàng, kiên định mục tiêu, lý tưởng theo con đường đổi mới của Đảng. Nhiều người đã ý thức rõ chức trách, nhiệm vụ của mình, tự giác, tích cực tu dưỡng, rèn luyện, chủ động khắc phục mọi khó khăn, không ngừng phấn đấu vươn lên để tự khẳng định mình trên cương vị được giao, đồng thời mong muốn được học tập, đào tạo, rèn luyện để có điều kiện phát triển, tiến bộ trưởng thành. Qua kết quả khảo sát, có 62% cán bộ, đảng viên cho rằng nhận thức, trách nhiệm của đảng viên ở các đảng bộ xã, phường, thị trấn có ý thức, trách nhiệm tốt trong tự tu dưỡng, rèn luyện. Cuộc sống của đội ngũ đảng viên hiện nay còn nhiều khó khăn, thiếu thốn, nhất là những đồng chí công tác ở các xã. Nhưng từng người vẫn tự khắc phục khó khăn của bản thân và gia đình; tranh thủ điều kiện để tự học tập, rèn luyện, nghiên cứu trau dồi kiến thức; ghép mình vào tổ chức, ra sức phấn đấu rèn luyện hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Đây là một trong những nguyên nhân rất quan trọng làm cho chất lượng đội ngũ đảng viên được thường xuyên giữ vững và nâng cao hơn. * Những hạn chế, khuyết điểm và nguyên nhân Hạn chế, khuyết điểm: Một là, phẩm chất năng lực, phong cách làm việc của một bộ phận đội ngũ đảng viên có mặt chưa phát triển kịp yêu cầu nhiệm vụ lãnh đạo của các đảng bộ xã, phường, thị trấn. Qua báo cáo của một số địa phương cho thấy tỷ lệ đảng viên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ còn khiêm tốn. Qua trao đổi với một số cán bộ lãnh đạo ở một số xã, phường, thị trấn, thấy rằng hạn chế của

Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Cán Bộ, Đảng Viên

CNQP&KT – 5 năm qua, Đảng ủy Tổng cục đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tiến hành đồng bộ, hiệu quả các giải pháp lãnh đạo công tác xây dựng Đảng, đặc biệt là nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên, góp phần hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị trọng tâm.

Trong công tác cán bộ đã đảm bảo sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng; nâng cao số lượng, chất lượng và cải thiện được cơ cấu đội ngũ cán bộ; công tác xây dựng và quy hoạch cán bộ chỉ huy, quản lý các cấp được triển khai tích cực tạo sự chuyển tiếp vững chắc giữa các thế hệ. Đồng thời, tích cực cử cán bộ đi đào tạo, bồi dưỡng tại các trường trong và ngoài Quân đội để nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật nghiệp vụ; gắn công tác đào tạo bồi dưỡng với quản lý, sử dụng cán bộ; gắn kiện toàn cán bộ chủ trì với kiện toàn cấp ủy; quan tâm và mạnh dạn bổ nhiệm cán bộ trẻ, cán bộ nữ vào các vị trí trọng yếu… Đại đa số cán bộ hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao và thực sự là lực lượng nòng cốt trong Tổng cục.

Tuy nhiên, công tác xây dựng Đảng và xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên cũng còn một số tồn tại, hạn chế, như: Công tác giáo dục, phổ biến pháp luật, quản lý tư tưởng, duy trì nền nếp chính quy, rèn luyện kỷ luật ở một số cấp ủy, đơn vị chưa cao; nhân sự giữ chức danh chủ tịch công ty đa số là cán bộ kỹ thuật, quản lý chưa được đào tạo, bồi dưỡng và chưa có nhiều kinh nghiệm về hoạt động công tác Đảng, công tác chính trị. Tỷ lệ cán bộ thừa, thiếu theo chức danh còn cao, cơ cấu ngành nghề chưa cân đối; đội ngũ cán bộ khoa học chất lượng cao còn mỏng, thiếu cán bộ đầu ngành về kỹ thuật công nghệ…

Để phát huy thành tích đã đạt được và khắc phục những tồn tại, hạn chế, tôi cho rằng, cần chấp hành nghiêm chế độ, nền nếp và nguyên tắc sinh hoạt Đảng, đặc biệt là nguyên tắc tập trung dân chủ; mỗi cán bộ, đảng viên phải nâng cao ý thức trách nhiệm, tổ chức kỷ luật, tích cực học tập, rèn luyện. Tăng cường công tác giáo dục chính trị, phổ biến giáo dục pháp luật; đề cao trách nhiệm nêu gương của cán bộ đảng viên, nhất là cán bộ chủ trì các cấp. Tích cực giải quyết số lượng cán bộ, nâng cao chất lượng, cải thiện cơ cấu đội ngũ cán bộ, tăng tỷ lệ cán bộ ở các cơ sở sản xuất quốc phòng; đẩy mạnh công tác xây dựng và điều hành quy hoạch cán bộ chỉ huy, quản lý các cấp; tích cực cử cán bộ đi đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ; gắn đào tạo, bồi dưỡng với quản lý sử dụng cán bộ. Cùng với đó, cần nghiên cứu xây dựng tiêu chuẩn chức danh cán bộ đầu ngành về sản xuất vũ khí; nghiên cứu đề xuất các cơ chế chính sách đặc thù để thu hút, giữ gìn đội ngũ cán bộ khoa học, quản lý giỏi phục vụ lâu dài trong Quân đội. Nhất thiết phải tăng cường công tác kiểm tra, giám sát đối với cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên; kịp thời phát hiện, chấn chỉnh những thiếu sót, khuyết điểm và xử lý nghiêm đối với các trường hợp vi phạm.

Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Công ty TNHH Một thành viên Điện cơ – Hóa chất 15

Nhiều Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Cán Bộ, Đảng Viên

* Chú trọng đổi mới nội dung, hình thức tuyên truyền, giáo dục, nâng cao ý thức cách mạng, bản lĩnh chính trị, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Thái Bình chỉ đạo các đơn vị trong khối tư tưởng phối hợp đẩy mạnh tuyên truyền đến cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân về các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Quy định số 101-QĐ/TW về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu. Qua quá trình tổ chức thực hiện, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp đã phát huy tính tiền phong, gương mẫu trong thực hiện nhiệm vụ chính trị ở từng địa phương, cơ quan, đơn vị.

Lễ kết nạp đảng viên tại Đảng bộ trường đại học Thái Bình. Ảnh:tbu.edu.vn

Mỗi cán bộ, đảng viên đều xây dựng kế hoạch rèn luyện, giữ gìn tư cách đạo đức, phẩm chất của cán bộ, đảng viên; chấp hành nghiêm Điều lệ Đảng, Quy định về “Những điều đảng viên không được làm”; nêu cao ý thức tu dưỡng, rèn luyện, học tập, đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội, thực dụng, vụ lợi cá nhân; chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, các biểu hiện tiêu cực khác…; kịp thời đấu tranh, ngăn chặn các luận điệu xuyên tạc, phản động để thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.

Cùng với đó, để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức trong hệ thống chính trị, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành nghị quyết về chiến lược xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp giai đoạn 2007 – 2024, chú trọng đào tạo nâng cao trình độ cho cán bộ, đảng viên, nhất là cấp cơ sở. Ban thường vụ các huyện ủy, thành ủy đều xây dựng kế hoạch đào tạo cán bộ cho mỗi giai đoạn theo kế hoạch của tỉnh và ban hành tiêu chuẩn chức danh cán bộ, công chức. Mỗi nhiệm kỳ, toàn tỉnh có trên 7.000 lượt cán bộ được cử đi đào tạo nâng cao trình độ lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ.

Ban Thường vụ Tỉnh ủy phân công các đồng chí Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy phụ trách địa phương, đơn vị; các đồng chí Tỉnh ủy viên, lãnh đạo các sở, ban, ngành, đoàn thể tỉnh về tham gia chỉ đạo xây dựng nông thôn mới và dự sinh hoạt với chi bộ, đảng bộ các xã trong tỉnh. Cấp ủy cấp huyện phân công các đồng chí thường vụ huyện ủy phụ trách cụm, huyện ủy viên, trưởng, phó các phòng, ban, ngành, đoàn thể và tương đương phụ trách xã. Cấp xã phân công các đồng chí đảng ủy viên phụ trách chi bộ trực thuộc đảng ủy. Thông qua việc đi cơ sở giúp cán bộ kịp thời nắm bắt tình hình cơ sở trong thực hiện các chủ trương, chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát và kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, giải quyết những vấn đề phát sinh, những kiến nghị chính đáng của đảng viên và quần chúng nhân dân.

Các cấp ủy đảng, ủy ban kiểm tra các cấp tăng cường kiểm tra, giám sát đối với tổ chức cơ sở đảng, đảng viên; quan tâm kiểm tra các lĩnh vực nhạy cảm, dễ phát sinh tiêu cực như quản lý đất đai, tài chính, ngân sách, xây dựng cơ bản, thực hiện chính sách an sinh xã hội. Đồng thời, để tạo nguồn kết nạp Đảng, hàng năm, cấp ủy các cấp đều giao chỉ tiêu cho các tổ chức cơ sở đảng phát hiện, giới thiệu cho Đảng những đoàn viên, hội viên ưu tú và quần chúng tích cực để cử đi học lớp bồi dưỡng nhận thức về Đảng. 10 năm qua, toàn tỉnh đã kết nạp được gần 25.000 đảng viên. Đa số đảng viên mới kết nạp phát huy được vai trò, trách nhiệm, nhiều đồng chí đã trưởng thành, được bổ sung vào cấp ủy, đảm nhận các chức danh chủ chốt và cán bộ lãnh đạo các cơ quan, đơn vị, địa phương.

* Sau 3 năm thực hiện Nghị quyết 02-NQ/TU của Tỉnh ủy Bến Tre về “Tăng cường xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức Đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên”, nhận thức, hành động của nhiều cấp ủy, tổ chức Đảng, cán bộ, đảng viên trên địa bàn tỉnh đã có chuyển biến tích cực.

Tỉnh uỷ Bến Tre tổ chức họp mặt biểu dương gương điển hình trong học tập và làm theo Bác. Ảnh: TTXVN

Đáng chú ý, nhiều cấp ủy, cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu đã có sự quyết tâm đổi mới và chuyển biến tích cực; thường xuyên rà soát, điều chỉnh quy chế làm việc phù hợp với chức năng, nhiệm vụ. Ngoài ra, việc thực hiện phương châm “Tỉnh nắm tới xã, huyện nắm tới ấp, khu phố, xã nắm tới hộ gia đình” ngày càng phát huy hiệu quả. Hầu hết cán bộ được phân công nắm cơ sở đều thực hiện tốt nhiệm vụ được giao. Qua đó giúp các địa phương tháo gỡ những khó khăn và có sự chuyển biến đáng kể.

Tỉnh Bến Tre cũng đã triển khai nhiều giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu và cấp phó của người đứng đầu các cấp; chú trọng công tác quy hoạch gắn với đào tạo, bồi dưỡng, củng cố, kiện toàn đội ngũ cán bộ đạt chuẩn theo quy định. Công tác kết nạp đảng viên đạt tỷ lệ khá cao (toàn tỉnh kết nạp được 7.624 đảng viên/8.000-8.500 đảng viên so với Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh, nhiệm kỳ 2024-2024). Đa số cán bộ, đảng viên gương mẫu, trình độ, năng lực, ý thức trách nhiệm được nâng lên.

* Trong những năm qua, Tỉnh ủy Lai Châu và các cấp ủy, tổ chức đảng luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở đảng, phát triển và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên. Tính từ đầu nhiệm kỳ khóa XIII đến nay, Đảng bộ tỉnh đã kết nạp được gần 5 nghìn đảng viên, chất lượng đảng viên mới kết nạp ngày càng được nâng lên. Cùng với phát triển Đảng, Đảng bộ tỉnh luôn quan tâm rà soát, sàng lọc, đưa những đảng viên không còn đủ tư cách ra khỏi Đảng. Qua đó, góp phần xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh; nâng cao chất lượng đảng viên, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng; củng cố lòng tin của Nhân dân các dân tộc đối với sự lãnh đạo của Đảng bộ.

Lai Châu tăng cường giáo dục, rèn luyện đảng viên thông qua sinh hoạt chi bộ. Ảnh:laichaudcs.vn

Kế hoạch của Tỉnh ủy xác định rõ nhiệm vụ, giải pháp chấn chỉnh công tác kết nạp đảng viên, khắc phục triệt để tình trạng chạy theo số lượng, xem nhẹ chất lượng. Theo đó, hằng năm các cấp ủy, tổ chức đảng phải xây dựng kế hoạch kết nạp đảng viên phù hợp với điều kiện, đặc điểm tình hình thực tiễn của đảng bộ, chi bộ; kịp thời khắc phục ngay việc xây dựng kế hoạch, giao chỉ tiêu kết nạp đảng viên chạy theo số lượng, chưa thật sự chú trọng đến chất lượng, không sát với thực tiễn, thiếu tính khả thi hoặc biểu hiện thiếu quyết liệt, dễ làm, khó bỏ, quan tâm, chú trọng chỉ đạo công tác kết nạp đảng viên ở nông thôn, ở chi bộ còn ít đảng viên. Đảng viên mới được kết nạp phải là quần chúng thực sự ưu tú, có phẩm chất chính trị tốt, đạo đức trong sáng, được rèn luyện, thử thách trong thực tiễn; có động cơ vào Đảng đúng đắn; có nhận thức đúng, đầy đủ về Đảng. Thông qua các hoạt động, phong trào thi đua ở cơ sở để phát hiện, lựa chọn nhân tố tích cực, nhất là đoàn viên thanh niên, công nhân, người lao động có thành tích, gương mẫu trong các phong trào, người có uy tín trong cộng đồng dân cư để có kế hoạch bồi dưỡng, giúp đỡ, tạo điều kiện cho họ phấn đấu trở thành đảng viên của Đảng.

Kế hoạch của Tỉnh ủy cũng xác định rõ nhiệm vụ thực hiện nghiêm túc việc rà soát, sàng lọc đảng viên; kiên quyết đưa những đảng viên không còn đủ tư cách ra khỏi Đảng. Đề cao tính kỷ luật, kỷ cương của Đảng, tính chiến đấu, tự phê bình, phê bình và nâng cao trách nhiệm đảng viên trong sinh hoạt chi bộ. Các cấp ủy, tổ chức đảng thường xuyên kiểm tra, giám sát đảng viên thực hiện Quy định của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm; về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên; Quy định của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về trách nhiệm của đảng viên trong việc chấp hành chế độ sinh hoạt chi bộ và thực hiện nhiệm vụ được phân công; các quy định, hướng dẫn của Trung ương, của tỉnh về kiểm điểm, đánh giá, xếp loại chất lượng đối với tổ chức đảng, đảng viên hằng năm; việc xây dựng và thực hiện cam kết tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu hằng năm của đảng viên; xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm../.

Luận Văn: Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Công Chức Văn Hóa

, DOWNLOAD ZALO 0932091562 – BÁO GIÁ VIỆT BÀI : VIETBAOCAOTHUCTAP.NET

Published on

Tải luận văn thạc sỹ khoa học kinh tế đề tài: nâng cao chất lượng đội ngũ công chức văn hóa – xã hội cấp xã trên địa bàn huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, dành cho những bạn làm luận văn có nhu cầu tham khảo.

1. LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của chúng tôi Mai Văn Xuân. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Học viên Nguyễn Văn Bảo i

2. LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành khóa luận này, tác giả tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo chúng tôi Mai Văn Xuân, người đã tận tình hướng dẫn để tác giả có thể hoàn thành luận văn một cách tốt nhất. Tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành đến quý thầy cô giáo tại Phân hiệu Đại học Huế, Trường Đại học kinh tế Huế đã tận tình giảng dạy, truyền đạt kiến thức và giúp đỡ tác giả trong suốt khóa học. Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn đến Huyện ủy, Ủy ban nhân dân, Phòng Nội vụ, Phòng Lao động thương binh và xã hội huyện Triệu Phong, Phòng Văn hóa thông tin huyện Triệu Phong, Đảng ủy, Ủy ban nhân dân và cán bộ công chức các xã, thị trấn ở huyện Triệu Phong cùng bạn bè, đồng nghiệp đã tạo điều kiện, động viên, khích lệ, cung cấp tư liệu, đóng góp ý kiến cho tác giả trong quá trình học tập nghiên cứu và hoàn thành luận văn này. Xin trân trọng cảm ơn! Quảng Trị, ngày 10 tháng 6 năm 2024 Học viên Nguyễn Văn Bảo ii

4. DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT Ký hiệu Nghĩa BHXH : Bảo hiểm xã hội BHYT : Bảo hiểm y tế CBCC : Cán bộ công chức CSXH : Chính sách xã hội HCNN : Hành chính nhà nước HĐND : Hội đồng nhân dân LĐVL : Lao động việc làm NXB : Nhà xuất bản TS : Tiến sĩ ThS : Thạc sĩ THPT : Trung học phổ thông UBND : Ủy ban nhân dân XĐGN : Xóa đói giảm nghèo XHCN : Xã hội chủ nghĩa iv

5. MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN…………………………………………………………………………………………………………………….i LỜI CẢM ƠN…………………………………………………………………………………………………………………………..ii TÓM LƯỢC LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC KINH TẾ……………………………..iii DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT………………………………………………………………………………iv MỤC LỤC………………………………………………………………………………………………………………………………….v DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU………………………………………………………………………………………xi MỞ ĐẦU…………………………………………………………………………………………………………………………………….1 1. Tính cấp thiết của đề tài………………………………………………………………………………………………………1 2. Mục tiêu nghiên cứu…………………………………………………………………………………………………………….3 2.1 Mục tiêu chung……………………………………………………………………………………………………………………3 2.2. Mục tiêu cụ thể…………………………………………………………………………………………………………………..3 3. Đối tượng và phạm vi ng iên cứu……………………………………………………………………………………..4 3.1. Đối tượng nghiên cứu………………………………………………………………………………………………………4 3.2. Phạm vi nghiên cứu…………………………………………………………………………………………………………..4 4. Phương pháp nghiên cứu…………………………………………………………………………………………………….4 4.1. Phương pháp thu thập số liệu…………………………………………………………………………………………4 4.2. Phương pháp phân tích, tổng hợp………………………………………………………………………………….5 5. Kết cấu luận văn……………………………………………………………………………………………………………………5 Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ VÀ CHẤT LƯỢNG CÔNG CHỨC VĂN HÓA – XÃ HỘI CẤP XÃ………………………………………………………………………………………………………………………………………7 1.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG CHỨC VÀ CÔNG CHỨC CẤP XÃ ……………………………………………………………………………………………………………………………………………………….7 1.1.1. Khái niệm công chức, công chức cấp xã, công chức văn hóa – xã hội cấp xã..7 1.1.1.1. Khái niệm công chức…………………………………………………………………………………………………7 1.1.1.2. Khái niệm công chức cấp xã……………………………………………………………………………………8 1.1.1.3. Công chức văn hóa – xã hội cấp xã………………………………………………………………………..9 1.1.2. Khái niệm chất lượng, chất lượng công chức, chất lượng công chức văn hóa – xã hội cấp xã…………………………………………………………………………………………………………………………….11 v

6. 1.1.2.1. Khái niệm chất lượng……………………………………………………………………………………………..11 1.1.2.2. Khái niệm chất lượng công chức cấp xã…………………………………………………………….12 1.1.3. Vị trí, vai trò của đội ngũ công chức văn hóa – xã hội cấp xã trong bộ máy chính quyền cấp xã…………………………………………………………………………………………………………………15 1.1.3.1. Vị trí của công chức văn hóa – xã hội cấp xã…………………………………………………….15 1.1.3.2. Vai trò của đội ngũ công chức văn hóa – xã hội cấp xã trong bộ máy chính quyền………………………………………………………………………………………………………………………………………….16 1.1.4. Mối tương quan giữa chất lượng công chức văn hóa – xã hội cấp xã với hiệu quả hoạt động của chính quyền cấp xã và phát triển kinh tế – văn hóa – xã hội ở địa phương……………………………………………………………………………………………………………………………………….17 1.2. NHỮNG TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG CÔNG CHỨC VĂN HÓA – XÃ HỘI CẤP XÃ…………………………………………………………………………………………………………………..18 1.2.1. Tiêu chí về phẩm chất c ính trị, đạo đức, tác phong và lề lối làm việc…………..18 1.2.2. Tiêu chí đánh giá năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ…………………………..19 1.2.2.1. Trình độ chuyên môn nghiệp vụ…………………………………………………………………………..19 1.2.2.2. Trình độ lý luận chính trị……………………………………………………………………………………….20 1.2.2.3. Trình độ quản lý nhà nước…………………………………………………………………………………….20 1.2.2.4. Trình độ ngoại ngữ và tin học……………………………………………………………………………….21 1.2.3. Tiêu chí đánh giá kỹ năng nghề nghiệp………………………………………………………………….21 1.2.4 Tiêu chí đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ của công chức văn hóa – xã hội cấp xã…………………………………………………………………………………………………………………………………………22 1.2.5. Tiêu chí đánh giá về năng lực và tổ chức quản lý……………………………………………….24 1.3. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG CÔNG CHỨC VĂN HÓA – XÃ HỘI CẤP XÃ…………………………………………………………………………………………………….27 1.3.1. Yếu tố khách quan………………………………………………………………………………………………………27 1.3.1.1. Cơ chế tuyển dụng công chức văn hóa – xã hội cấp xã…………………………………..27 1.3.1.2. Chính sách về đào tạo bồi dưỡng công chức văn hóa – xã hội cấp xã…………28 1.3.1.3. Yếu tố văn hóa địa phương……………………………………………………………………………………29 vi

7. 1.3.1.4. Yếu tố chính sách đảm bảo lợi ích vật chất đối với công chức văn hóa – xã hội cấp xã………………………………………………………………………………………………………………………………….29 1.3.1.5. Môi trường làm việc………………………………………………………………………………………………..30 1.3.1.6. Công tác đánh giá công chức văn hóa – xã hội cấp xã…………………………………….30 1.3.1.7. Tiêu chí đánh giá sự hài lòng của người dân trong mối quan hệ giải quyết công việc với công chức văn hóa xã hội cấp xã………………………………………………………………31 1.3.1.8. Công tác thanh tra, kiểm tra…………………………………………………………………………………..32 1.3.2. Yếu tố chủ quan…………………………………………………………………………………………………………..32 1.3.2.1. Yếu tố nhận thức của công chức văn hóa – xã hội cấp xã………………………………32 1.3.2.2. Yếu tố trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, năng lực của công chức văn hóa – xã hội cấp xã…………………………………………………………………………………………………………………………….33 1.3.2.3. Tình trạng sức khỏe…………………………………………………………………………………………………34 1.3.2.4 Kinh nghiệm công tác của công chức…………………………………………………………………..34 1.3.2.5. Tinh thần trách nhiệm, thái độ phục vụ của công chức…………………………………..34 1.4. KINH NGHIỆM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG CHỨC VĂN HÓA – XÃ HỘI CẤP XÃ…………………………………………………………………………………………………………………..34 1.4.1. Kinh nghiệm của Nhật Bản……………………………………………………………………………………….34 1.4.2. Kinh nghiệm của thành phố Đà Nẵng…………………………………………………………………….36 Chương 2: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC VĂN HÓA – XÃ HỘI HIỆN NAY TẠI HUYỆN TRIỆU PHONG, TỈNH QUẢNG TRỊ…………………………………………………………………………………………………………………………………………….38 2.1. KHÁI QUÁT VỀ ĐẶC ĐIỂM LỊCH SỬ, ĐIỀU KIỆN TỰ N IÊN VÀ KINH TẾ – XÃ HỘI HUYỆN TRIỆU PHONG, TỈNH QUẢNG TRỊ…………………………………..38 2.1.1. Đặc điểm lịch sử………………………………………………………………………………………………………….38 2.1.2. Điều kiện tự nhiên và kinh tế – xã hội huyện Triệu Phong………………………………..39 2.1.3. Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội tới chất lượng công chức văn hóa – xã hội cấp xã tại huyện Triệu Phong………………………………………………………………..41 2.1.3.1. Mặt tích cực………………………………………………………………………………………………………………41 2.1.3.2. Mặt tiêu cực………………………………………………………………………………………………………………43 vii

8. 2.2. PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CÔNG CHỨC VĂN HÓA – XÃ HỘI CẤP XÃ HUYỆN TRIỆU PHONG, TỈNH QUẢNG TRỊ……………………………………………………………..43 2.2.1. Thực trạng về số lượng công chức văn hóa – xã hội cấp xã ở huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị……………………………………………………………………………………………………………43 2.2.2. Thực trạng về chất lượng công chức văn hóa – xã hội cấp xã huyện Triệu Phong…………………………………………………………………………………………………………………………………………45 2.2.3. Đánh giá của người dân về chất lượng đội ngũ công chức văn hóa – xã hội cấp xã và sự hài lòng của đội ngũ công chức văn hóa – xã hội cấp xã huyện Triệu Phong..51 2.2.3.1. Về kết quả giải quyết công việc, phẩm chất đạo đức, lối sống, thái độ, tinh thần phục vụ nhân dân…………………………………………………………………………………………………………..51 2.2.3.2. Năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ……………………………………………………….54 2.2.4.3. Đánh giá sự hài lòng của đội ngũ công chức văn hóa xã hội cấp xã huyện Triệu Phong………………………………………………………………………………………………………………………………55 2.2.2.4. Đánh giá của đội ngũ công chức văn hóa xã hội cấp xã đối với quyền lợi, chính sách đãi ngộ…………………………………………………………………………………………………………………..58 2.2.2.5. Đánh giá của đội ngũ công chứ văn hóa xã hội cấp xã đối với kỹ năng làm việc……………………………………………………………………………………………………………………………………………..60 2.2.2.6. Đánh giá về nhu cầu đào tạo, bồi dưỡ g kiến thức của đội ngũ công chức văn hóa xã hội cấp xã huyện Triệu Phong………………………………………………………………………..61 2.3. ĐÁNH GIÁ VỀ CHẤT LƯỢNG CÔNG CHỨC VĂN HÓA XÃ HỘI CẤP XÃ TẠI HUYỆN TRIỆU PHONG…………………………………………………………………………………….63 2.3.1. Những kết quả đạt được…………………………………………………………………………………………….63 2.3.2. Những yếu điểm…………………………………………………………………………………………………………..65 2.3.3. Nguyên nhân của yếu kém………………………………………………………………………………………..66 2.3.3.1. Công tác tuyển dụng, tổ chức thi tuyển công chức văn hóa – xã hội cấp xã66 2.3.3.2. Công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức văn hóa – xã hội cấp xã và chính sách đãi ngộ, thu hút nhân tài………………………………………………………………………………………………67 2.3.3.3. Công tác đánh giá, xếp loại công chức văn hóa – xã hội cấp xã…………………..67 viii

9. 2.3.3.4. Việc đảm bảo lợi ích vật chất và tinh thần đối với công chức văn hóa – xã hội cấp xã………………………………………………………………………………………………………………………………….70 2.3.3.5. Cở sở vật chất phục vụ hoạt động của công chức văn hóa – xã hội cấp xã .71 2.3.3.6. Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát…………………………………………………………………71 Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC VĂN HÓA – XÃ HỘI CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TRIỆU PHONG, TỈNH QUẢNG TRỊ HIỆN NAY……………………..73 3.1. QUAN ĐIỂM VÀ PHƯƠNG HƯỚNG NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG CHỨC VĂN HÓA – XÃ HỘI CẤP XÃ HUYỆN TRIỆU PHONG, TỈNH QUẢNG TRỊ……………………………………………………………………………………………………………………………………………..73 3.1.1. Nhận thức đúng vị trí, vai trò cấp xã………………………………………………………………………74 3.1.2. Nhận thức đúng đắn vai trò của công chức văn hóa – xã hội cấp xã……………….76 3.1.3. Quan điểm đổi mớ về nâng cao chất lượng công chức văn hóa – xã hội cấp xã và chế độ chính sách đối với công chức văn hóa – xã hội cấp xã………………………………..77 3.2. GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG CHỨC VĂN HÓA – XÃ HỘI CÁP XÃ HUYỆN TRIỆU PHONG TỈNH QUẢNG TRỊ…………………………………..79 3.2.1. Nâng cao nhận thức các cấp ủy Đảng…………………………………………………………………….79 3.2.2. Xây dựng bản mô tả công việc và khung ă g lực cho đội ngũ công chức văn hóa – xã hội cấp xã………………………………………………………………………………………………………………….79 3.2.3. Giải pháp đổi mới đào tạo, bồi dưỡng công chức văn hóa – xã hội cấp xã về lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng xây dựng, lập chương trình, kế hoạch hoạt động………………………………………………………………………………………………………………………83 3.2.4. Giải pháp trong tuyển dụng, tổ chức thi tuyển công chức…………………………………88 3.2.5. Giải pháp về chính sách đãi ngộ, thu hút nhân tài……………………………………………….89 3.2.6. Giải pháp về đổi mới đánh giá, xếp loại công chức văn hóa – xã hội cấp xã..92 3.2.7. Giải pháp về thanh tra, kiểm tra, giám sát, đánh giá khen thưởng, kỷ luật hoạt động của công chức văn hóa – xã hội cấp xã……………………………………………………………………94 3.2.8. Tạo nguồn kinh phí đảm bảo cho công tác thu hút, đào tạo, bồi dưỡng, trang thiết bị cho hoạt động của công chức…………………………………………………………………………………95 ix

10. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 97 1. Kết luận 97 2. Kiến nghị 98 2.1. Đối với cấp Trung ương 98 2.2. Đối với tỉnh Quảng Trị99 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………………………………………….101 PHỤ LỤC………………………………………………………………………………………………………………………………105 Quyết định của hội đồng chấm luận văn Biên bản của hội đồng chấm luận văn và nhận xét phản biện Bản giải trình chỉnh sữa luận văn Xác nhận hoàn thiện luận văn x

11. DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU Bảng 2.1: Tình hình về số lượng công chức văn hóa xã hội cấp xã huyện Triệu Phong theo giới tính và độ tuổi……………………………………………………………………..44 Bảng 2.2: Trình độ chuyên môn của công chức văn hóa – xã hội cấp xã huyện Triệu Phong…………………………………………………………………………………………………………………..46 Bảng 2.3: Trình độ lý luận chính trị, quản lý Nhà nước của đội ngũ công chức văn hóa – xã hội cấp xã huyện Triệu Phong……………………………………………………….48 Bảng 2.4: Trình độ ngoại ngữ, tin học của đội ngũ công chức văn hóa – xã hội cấp xã huyện Triệu Phong……………………………………………………………………………………..49 Bảng 2.5: Số liệu thống kê kết quả giải quyết chế độ chính sách cho các đối tượng qua các năm……………………………………………………………………………………………………….51 Bảng 2.6: Đánh giá của người dân về kết quả giải quyết công việc, phẩm chất đạo đức, lối sống, t ái độ, tinh thần phục vụ nhân dân của đội ngũ công chức văn hóa – xã hội cấp xã huyện Triệu Phong……………………………………..52 Bảng 2.7: Đánh giá của người dân về năng lực trình độ chuyên môn của đội ngũ công chức văn hóa – xã hội ấp xã huyện Triệu Phong……………………………55 Bảng 2.8: Đánh giá sự hài lòng của đội ngũ cô g chức văn hóa xã hội cấp xã huyện Triệu Phong……………………………………………………………………………………………………….57 Bảng 2.9: Đánh giá của đội ngũ công chức văn hóa xã hội cấp xã đối với quyền lợi, chính sách đãi ngộ……………………………………………………………………………………………59 Bảng 2.10: Kết quả tự đánh giá kỹ năng thực thi công vụ của đội ngũ công chức văn hóa xã hội cấp xã tại huyện Triệu Phong……………………………………………60 Bảng 2.11 Đánh giá của công chức văn hóa xã hội cấp xã về nhu cầ đào tạo, bồi dưỡng về kiến thức…………………………………………………………………………………………..62 xi

12. MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Thực hiện Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trong những năm qua Đảng và Nhà nước ta đã đặc biệt quan tâm, coi trọng xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, trong đó có đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở. Bộ Chính trị các khóa VIII, IX, X đã ban hành nhiều nghị quyết, quyết định, quy định về công tác cán bộ. Nhờ đó, công tác cán bộ và chất lượng đội ngũ cán bộ các cấp có chuyển biến rõ rệt. Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa IX đã ban hành Nghị quyết “Về đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn”, trong đó có những quan điểm, chủ trương đặt cơ sở cho việc xác định các chức danh cán bộ, công chức và chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã. Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đội ngũ công chức cấp xã nói chung, đội ngũ công chức văn hóa xã hội nói riêng có một vai trò rất quan trọng, bởi đội ngũ cán bộ công chức xã là lực lượng nòng cốt, điều hành hoạt động của bộ máy tổ chức chính quyền cấp xã. Là những người gần gũi với nhân dân nhất, hiểu rõ hoàn cảnh điều kiện, cũng như tâm tư nguyện vọng của nhân dân, có vai trò là cầu nối trực tiếp giữa chính quyền và nhân dân, đưa các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước đến với từng người dân, tạo điều kiện cho nhân dân thực hiện các quyền dân chủ của mình.Việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã nói chung, công chức văn hóa xã hội nói riêng, cùng với việc sắp xếp lại, tinh giảm bộ máy hành chính, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ vừa là yêu cầu cơ bản, vừa là đòi hỏi cấp thiết, là một trong những nhân tố có ý nghĩa chiến lược, quyết định sự thành bại của công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Xây dựng và nâng cao chất lượng đời sống người dân là một trong những nhiệm vụ hàng đầu mà Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Khi xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế gia tăng kéo theo đó là hội nhập về mặt văn hóa – xã hội. Điều này đã tạo nên những thay đổi lớn trong đời sống sinh hoạt hằng ngày của người 1

13. dân, nhiều nhu cầu cần thiết của người dân thay đổi, một số nhu cầu mới xuất hiện buộc chính quyền địa phương phải có những thay đổi trong công tác quản lý để có thể đáp ứng và nâng cao chất lượng đời sống người dân địa phương hơn. Bên cạnh những nhu cầu về vật chất thì những nhu cầu về mặt tinh thần ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong đời sống xã hội hiện đại và được người dân quan tâm, nó trở thành vấn đề cấp bách của xã hội bởi bao giờ những quyền lợi của người dân luôn được theo dõi sát sao từng ngày. Do đó, nếu đội ngũ CBCC sa sút về phẩm chất, không đủ năng lực công tác sẽ gây những hậu quả tiêu cực và nghiêm trọng về nhiều mặt đối với mỗi địa phương nói riêng và cả nước nói chung. Để làm tốt được các công tác đó thì vai trò của công chức cấp xã nói chung và vai trò của công chức văn hóa – xã hội cấp xã nói riêng chiếm một vị trí quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển con người Việt Nam hiện đại, yêu nước, có ý thức vươn lên xây dựng địa phương phát triển mạnh mẽ. Công chức văn hóa – xã hội cơ sở là lực lượng quản lý nắm bắt phần lớn công tác xây dựng đời sống văn hoá cơ sở như: Xây dựng gia đình văn hoá; thôn, khu phố, xã văn hoá, xây dựng gia đình Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; xây dựng nếp sống văn minh trong việ cưới, việc tang, lễ hội, tổ chức các hoạt động văn hoá, thể thao đáp ứng nhu cầu vui chơ , giải trí lành mạnh của người dân, tổ chức tuyên truyền giáo dục pháp luật, đảm bảo thực hiện các chế độ chính sách cho đối tượng khó khăn. Đảm bảo quyền được hưởng các chế độ của Nhà nước đến mọi đối tượng, và quan trọng hơn nữa đó là hoạt động văn hoá thông tin cơ sở miền núi góp phần nâng cao dân trí vùng đồng bào dân tộc thiểu số gắn với việc ngăn chặn gieo rắc ấn phẩm văn hoá độc hại, tà đạo xâm nhập trái phép, đẩy lùi tập quán lạc hậu, mê tín dị đoan, đồng thời tạo sự bình đẳng về hưởng thụ và tham gia vào các hoạt động văn hoá của đồng bào các dân tộc. Hiệu quả của công tác này tuỳ thuộc rất nhiều vào công tác lựa chọn về trình độ chuyên môn của người dự tuyển, năng khiếu, sự nhiệt tình và tính năng động của mỗi công chức. Đối với huyện Triệu Phong, sau 27 năm được tái lập với nỗ lực của các cấp, ngành và nhân dân địa phương huyện đã có được hệ thống cơ sở vật chất hạ tầng cơ 2

14. bản đáp ứng được nhu cầu phát triển xã hội. Các hoạt động văn hoá thông tin, tuyên truyền phát triển đi vào chiều sâu, các phong trào xây dựng gia đình văn hoá, làng văn hoá, xây dựng nông thôn mới, chính sách xã hội được triển khai có hiệu quả. Tuy nhiên, trước yêu cầu đổi mới, nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở và yêu cầu ngày càng cao trong lãnh đạo, quản lý, điều hành quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế – xã hội, quản lý đô thị, xây dựng nông thôn mới… ở cấp xã hiện nay, đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã nói chung, công chức văn hóa xã hội cấp xã nói riêng tại địa phương còn bộc lộ những hạn chế, yếu kém cả về số lượng và chất lượng. Một bộ phận công chức chưa thực sự có trình độ chuyên môn đúng theo yêu cầu cụ thể, năng lực chuyên môn chưa cao và hơn hết là chưa tận tụy với nghề. Điều này đặt ra cho lãnh đạo huyện cần phải có biện pháp cụ thể để nâng cao chất lượng đội ngũ công chức văn hóa – xã hội cấp xã trên địa bàn, đảm bảo cho hoạt động văn hóa – xã hội thực sự phát uy hết vai trò, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân trên địa bàn, góp phần vào công cuộc xây dựng quê hương phát triển bền vững. Để góp phần giải quyết những tồn tại trong công tác xây dựng văn hóa xã hội địa phương, cũng như nâng cao chất lượng công chức làm công tác văn hóa – xã hội, tác giả chọn đề tài “Nâng cao chất lượng độ gũ công chức văn hóa – xã hội cấp xã trên địa bàn huyện Triệu Phong, tỉnh Quả g Trị ” làm luận văn Thạc sĩ. 2. Mục tiêu nghiên cứu 2.1 Mục tiêu chung Trên cơ sở kết quả nghiên cứu lý luận về chất lượng công chức cấp xã và đánh giá thực trạng chất lượng công chức văn hóa – xã hội cấp xã trong những năm qua tại huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, luận văn đưa ra những quan điểm và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức văn hóa – xã hội cấp xã của huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị giai đoạn hiện nay. 2.2. Mục tiêu cụ thể – Phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận về số lượng và chất lượng đội ngũ công chức văn hóa – xã hội cấp xã, hệ thống hóa những quan điểm của Đảng, Nhà 3

17. Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng công chức cấp xã và chất lượng công chức văn hóa – xã hội cấp xã. Chương 2: Thực trạng chất lượng công chức văn hóa – xã hội hiện nay tại huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Chương 3: Phương hướng và một số giải pháp nâng cao chất lượng công chức văn hóa – xã hội cấp xã trên địa bàn huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị hiện nay. 6

19. phòng; trong cơ quan đơn vị thuộc công an nhân dân mà không phải là sỹ quan, hạ sỹ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng cộng sản Việt nam, Nhà nước, tổ chức Chính trị – xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị công lập) trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”. Điểm mới quan trọng nhất trong Luật cán bộ, công chức là đổi mới chế độ công vụ mà trước hết là Luật này đã phân định rõ đối tượng cán bộ và công chức, tách biệt với đối tượng làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập sẽ do bộ luật khác quy định (Luật Viên chức đã có hiệu lực năm 2010), trừ một số vị trí quản lý trong các đơn vị sự nghiệp công lập vẫn là công chức. Chính điều này đã làm cho hoạt động công vụ tránh được những chồng chéo, vướng mắc trong cách giải quyết, giúp cho công chức định vị rõ phạm vi hoạt động, vị trí của mình trong công việc. 1.1.1.2. Khái niệm công chức cấp xã Khái niệm công chức xã được quy định tại Khoản 3, Điều 4 của Luật cán bộ, công chức 2008 như sau: “Công chứ ấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà ước”. – Cơ cấu công chức cấp xã Theo Khoản 3, Điều 61 của Luật cán bộ, công chức 2008, công chức cấp xã có các chức danh sau đây: a) Trưởng công an (nơi chưa bố trí lực lượng công an chính quy). b) Chỉ huy trưởng quân sự; c) Văn phòng – Thống kê; d) Địa chính – Xây dựng; đ) Tài chính – Kế toán; e) Tư pháp – Hộ tịch; g) Văn hoá – Xã hội [43, tr.15]. Công chức cấp xã do cấp huyện quản lý. 8

20. Ngoài các chức danh theo quy định trên, công chức cấp xã còn bao gồm cả cán bộ, công chức được luân chuyển, điều động, biệt phái về cấp xã. Công chức chính quyền cấp xã có một vị trí vô cùng quan trọng trong hoạt động quản lý điều hành cơ sở. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa” và “cán bộ là gốc của mọi công việc”. “Muốn công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém” [24, tr.29]. Công chức chính là cầu nối giữa Nhà nước với nhân dân, nhân tố quyết định đến sự thành bại của cách mạng, đồng thời là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng. Họ vừa là người đại diện Nhà nước, đại diện cộng đồng, vừa là người cùng làng nên họ có thể trực tiếp nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, tình cảm của dân để phản ánh lên các cấp chính quyền để các cấp chính quyền đặt ra chính sách đúng. Thực tế cho thấy, ở đâu cán bộ công chức chính quyền cấp xã luôn tận tâm, nắm bắt kịp tâm tư nguyện vọng của dân thì ở đó các cấp chính quyền sẽ đề ra chính sách đúng đắn. Chính công chức cấp xã là những người trực tiếp tuyên truyền, phổ biến chính sách của Nhà nước, vận động nhân dân thực hiện tốt đường lối, chính sách pháp luật đó trong cuộc sống. Đồng thời công chức cấp xã là người trực tiếp giải quyết những yêu cầu, những thắc mắc về lợi ích chính đáng của nhân dân. Trên cơ sở phân tích ở trên, tác giả cho rằ g: “Công chức cấp xã là những người làm việc trong hệ thống cơ quan HCNN ở địa phương, được hưởng lương từ ngân sách nhà nước và sử dụng quyền lực nhà nước để thực thi công vụ nhằm hướng tới thực hiện các mục tiêu quản lý hành chính nhà nước trên các lĩnh vực theo quy định của pháp luật”. 1.1.1.3. Công chức văn hóa – xã hội cấp xã Công chức văn hóa – xã hội cấp xã có vai trò rất quan trọng đối với đời sống văn hoá – xã hội ở cơ sở, trực tiếp tổ chức đưa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống. Đồng thời tiếp thu những ý kiến của nhân dân để phản ánh cho Đảng và Nhà nước hoàn thiện chính sách, pháp luật sao cho phù hợp với hoàn cảnh thực tế của đất nước và nguyện vọng chính đáng của 9

22. đặt ra hiện nay cho các cấp quản lý là công tác nâng cao và hoàn thiện chất lượng hệ thống đội ngũ công chức văn hóa – xã hội cấp xã. Trên cơ sở phân tích ở trên, tác giả quan niệm: “Công chức văn hóa – xã hội cấp xã là công chức cấp xã, làm việc tại UBND cấp xã, được hưởng lương từ ngân sách nhà nước và sử dụng quyền lực nhà nước để tổ chức thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn thuộc thẩm quyền trong các lĩnh vực: Văn hóa, thể dục thể thao, du lịch, thông tin, truyền thông, lao động, thương binh, xã hội, y tế, giáo dục theo quy định của pháp luật”. 1.1.2. Khái niệm chất lượng, chất lượng công chức, chất lượng công chức văn hóa – xã hội cấp xã 1.1.2.1. Khái niệm chất lượng Chất lượng là một phạm trù trừu tượng, nó mang tính chất định tính và khó định lượng, chúng ta không thể cân đo đong đếm được. Dưới mỗi cách tiếp cận khác nhau thì quan niệm về chất lượng cũng khác nhau Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học do Nhà xuất bản Đà Nẵng xuất bản năm 2000 định nghĩa: “Chất lượng: Cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một con người, một sự vật, sự việc”[51, tr.144]. Trong mỗi lĩnh vực khác nhau với mục đích khác nhau có nhiều quan điểm về chất lượng khác nhau. Người sản xuất coi chất lượng là điều họ phải làm để đáp ứng các quy đị và yêu cầu do khách hàng đặt ra, để được khách hàng chấp nhận. Chất lượng được so sánh với chất lượng của đối thủ cạnh tranh và đi kèm theo các chi phí, giá cả. Do con người và nền văn hóa trên thế giới khác nhau, nên cách hiểu của họ về chất lượng và đảm bảo chất lượng cũng khác nhau. Tuy nhiên, có một định nghĩa về chất lượng được thừa nhận ở phạm vi quốc tế, đó là định nghĩa của Tổ chức Tiêu chuẩn hoá Quốc tế định nghĩa chất lượng là: “Mức độ đáp ứng các yêu cầu của một tập hợp có đặc tính vốn có”. Chất lượng là khái niệm đặc trưng cho khả năng thoả mãn nhu cầu của khách hàng. Vì vậy, sản phẩm hay dịch vụ nào không đáp ứng được nhu cầu của khách hàng thì bị coi là kém chất lượng cho dù trình độ công nghệ sản xuất ra có hiện đại 11

24. Trong hệ thống các cấp hành chính của nước ta bao gồm: Cấp trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã thì cấp xã được coi là cấp cơ sở và là cấp quan trọng nhất trong việc thực thi hoạt động hành chính. Chính quyền cấp xã có chức năng bảo đảm việc chấp hành các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, quyết định của chính quyền Nhà nước cấp trên; quyết định và đảm bảo thực hiện các chủ trương, biện pháp để phát huy mọi khả năng và tiềm năng của địa phương về các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng, không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân trong xã và làm tròn nghĩa vụ của địa phương với Nhà nước. Sự vững mạnh của chính quyền cấp xã là nền tảng cho sự vững mạnh của hệ thống chính quyền trong cả nước và ngược lại. Như vậy “Chất lượng công chức cấp xã chính là chất lượng hoạt động công vụ của công chức cấp xã, thể hiện ở trình độ chuyện môn, nghiệp vụ, các kỹ năng, kinh nghiệm cần thiết cho mọi nhiệm vụ”. Chất lượng công chức cấp xã được phản ánh thông qua các tiêu chuẩn, tiêu chí về năng lực thực thi nhiệm vụ, về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, văn hóa ứng xử với người dân, kỹ năng nghề nghiệp, kinh nghiệm công tác, thái độ chính trị, đạo đứ , tình trạng sức khỏe của công chức trong thực thi công vụ. Chất lượng của đội ngũ công chức ngoài hững yếu tố nêu trên còn phụ thuộc vào cơ cấu đội ngũ công chức, đó là tỷ lệ hợp lý giữa các độ tuổi, giữa nam và nữ, giữa công chức lãnh đạo, quản lý, công chức phụ rách chuyên môn nghiệp vụ. Mỗi công chức không tồn tại một cách biệt lập mà phải đặt trong một chỉnh thể thống nhất của cả đội ngũ công chức. Vì vậy quan niệm chất lượng đội ngũ công chức phải được đạt trong mối quan hệ biện chứng giữa chất lượng của từng công chức với chất lượng của cả đội ngũ. Bên cạnh đó cũng cần phải giải q yết tốt mối quan hệ giữa chất lượng và số lượng đội ngũ công chức. Chỉ khi nào hai mặt này có quan hệ hài hòa mới tạo nên sức mạnh đồng bộ của cả đội ngũ. 1.1.2.3. Chất lượng công chức văn hóa – xã hội cấp xã Nghiên cứu chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn, tiêu chuẩn về nghiệp vụ và vai trò của công chức văn hóa – xã hội cấp xã, chúng ta nhận thấy công chức văn hóa – 13

26. 1.1.3. Vị trí, vai trò của đội ngũ công chức văn hóa – xã hội cấp xã trong bộ máy chính quyền cấp xã 1.1.3.1. Vị trí của công chức văn hóa – xã hội cấp xã Công chức văn hóa – xã hội cấp xã có vị trí và tầm quan trọng rất to lớn đối công tác quản lý các hoạt động văn hoá – xã hội ở cơ sở. Nổi bật là những công việc trọng tâm sau đây: – Giúp UBND cấp xã trong việc thông tin tuyên truyền giáo dục về đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, tình hình kinh tế – chính trị ở địa phương và đấu tranh chống âm mưu tuyên truyền phá hoại của địch; báo cáo thông tin về dư luận quần chúng về tình hình môi trường văn hoá ở địa phương lên Chủ tịch UBND cấp xã. – Giúp UBND cấp xã trong việc tổ chức các hoạt động thể dục, thể thao, văn hoá văn nghệ quần chúng, các câu lạc bộ, lễ hội truyền thống. Xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hoá, ngăn chặn việc truyền bá tư tưởng phản động, đồi trụy dưới hình thức văn hoá, nghệ thuật và các tệ nạn xã hội khác ở địa phương. – Giúp UBND cấp xã trong việ tổ chức vận động để xã hội hoá các nguồn lực nhằm xây dựng, phát triển sự nghiệp văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao, bảo vệ các di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh, các điểm vui chơi giải trí ở địa phương. – Hướng dẫn, kiểm tra đối với tổ chức và cô g dân chấp hành pháp luật trong hoạt động văn hoá thông tin, thể dục thể thao. – Lập chương trình, kế hoạch công tác văn hoá, văn nghệ, thông tin tuyên truyền, thể dục thể thao, công tác lao động, thương binh và xã hội trình UBND cấp xã và tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch được phê duyệt. – Thống kê dân số, lao động, tình hình việc làm, ngành nghề trên địa bàn; nắm số lượng và tình hình các đối tượng chính sách lao động, thương binh và xã hội. – Hướng dẫn và nhận hồ sơ của người xin học nghề, tìm việc làm, người được hưởng chính sách ưu đãi, chính sách xã hội trình UBND xã giải quyết theo thẩm quyền. – Theo dõi và đôn đốc việc thực hiện chi trả trợ cấp cho người hưởng chính sách lao động, thương binh và xã hội. 15

27. – Phối hợp với các đoàn thể trong việc chăm sóc, giúp đỡ các đối tượng chính sách; quản lý các nghĩa trang liệt sĩ, công trình ghi công liệt sĩ và bảo trợ xã hội, việc nuôi dưỡng, chăm sóc các đối tượng xã hội ở cộng đồng. – Theo dõi thực hiện chương trình xoá đói giảm nghèo. – Giúp UBND xã thực hiện sơ kết, tổng kết báo cáo công tác văn hoá, văn nghệ, thông tin tuyên truyền, thể dục thể thao, công tác lao động, thương binh và xã hội ở xã, phường, thị trấn. Từ những nhiệm vụ trên cho thấy công chức văn hóa – xã hội cấp xã có vai trò, vị trí rất lớn đến sự phát triển các lĩnh vực văn hóa xã hội và có tầm ảnh hưởng lớn tới đời sống tinh thần của người dân địa phương. Chất lượng công chức văn hóa – xã hội cấp xã được nâng cao, kéo theo đó là quá trình phục vụ nhu cầu người dân tăng lên, các nhu cầu về giải trí, việc làm, chính sách xã hội, công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật được đáp ứng nhanh, cởi mở khiến cho người dân cảm thấy hài lòng hơn. Những yếu tố kích thích về tinh thần lại có ý nghĩa trong các giai đoạn phát triển xã hội góp phần tạo tâm lý an tâm cho người dân trong việc cùng chính quyền xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp. Với vị trí và tầm quan trọng to lớn như vậy nhưng trên thực tế các chế độ tiền lương, bảo hiểm xã hội đối với đội ngũ công chức văn hoá – xã hội cấp xã hiện còn nhiều bất cập. Chế độ chính sách cho công chức được cử đi đào tạo, bồi dưỡng tuy đã được điều chỉnh, bổ sung, nâng cao hơn so với trước, song vẫn còn thấp và chưa phù hợp với giá cả của thị trường hiện nay. Do vậy Nhà nước cần phải có một cơ chế chính sách đãi ngộ thoả đáng đối với đội ngũ công chức văn hoá – xã hội cấp xã, Đồng thời các cấp uỷ Đảng và các cấp Chính quyền địa phương cũng phải quan tâm đến đời sống của cán bộ công chức văn hoá – xã hội cấp xã tại địa phương mình đang quản lý, tạo điều kiện cho họ yên tâm công tác và phát triển. 1.1.3.2. Vai trò của đội ngũ công chức văn hóa – xã hội cấp xã trong bộ máy chính quyền Công chức cấp cơ sở khối văn hóa – xã hội phải thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước tại các khu phố, xã, phường, thị trấn. Đây là lực lượng có vai trò quan trọng trong việc góp phần xây dựng và phát triển xã hội tại địa phương. Khối lượng 16

30. Bên cạnh phẩm chất chính trị tốt thì đó là tiêu chuẩn về đạo đức, lối sống, tác phong làm việc. Là những người trực tiếp làm việc và tổ chức các phong trào với người dân, cho nên đạo đức của công chức văn hóa – xã hội cấp xã sẽ tác động rất lớn đối với người dân, có ảnh hưởng rất lớn đối với hiệu quả quản lý nhà nước của chính quyền cấp xã. Không chỉ làm công tác tuyên truyền, công chức văn hóa – xã hội cần phải gương mẫu trong việc chấp hành đường lối, chủ trương, chính sách đó, nói phải đi đôi với làm, họ phải là tấm gương sáng để nhân dân noi theo. Luôn luôn gương mẫu, có lối sống lành mạnh, thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, không tham nhũng, vụ lợi cá nhân, sinh hoạt bê tha, có tinh thần chống tham nhũng, tận tụy phục vụ nhân dân, tôn trọng nhân dân, quan hệ mật thiết với quần chúng nhân dân, sâu sát với công việc, không quan liêu cửa quyền, gây phiền hà cho dân, tác phong làm việc khoa học, dân chủ, nói đi đôi với làm, làm nhiều hơn nói. Có tác phong làm việc k oa học, nghiêm túc; biết lắng nghe, tiếp thu ý kiến của đồng nghiệp và những người xung quanh. Yêu cầu về phẩm chất, đạo đức, lối sống của đội ngũ công chức cấp xã đòi hỏi phải cao hơn so với người khác bởi vì công chức là công bộc của dân. Xét về bản hất thì đây là tiêu chuẩn hàng đầu và xem như là đương nhiên phải có của người ông chức. Người công chức nếu thiếu phẩm chất đạo đức, thì dù có tài năng kiệt xuất cũng hô g thể là công bộc của dân được. Đạo đức của người công chức khi thi hà công vụ rất khó xác định bằng những tiêu chí cụ thể. Dư luận xã hội đánh giá các biểu hiện đạo đức của công chức qua sự tán thành hay không tán thành, ca ngợi hay phê phán hoạt động của họ. Sự tán thành hay phê phán đó luôn gắn với mục tiêu xã hội, lợi ích của toàn dân và tính nhân văn. 1.2.2. Tiêu chí đánh giá năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ 1.2.2.1. Trình độ chuyên môn nghiệp vụ Được hiểu là kiến thức chuyên sâu vào một lĩnh vực nhất định được biểu hiện qua những cấp độ: Sơ cấp, trung cấp, cao đẳng, đại học, sau đại học. Khi xem xét về trình độ chuyên môn nghiệp vụ của công chức, không chỉ xem xét đến mức độ bằng cấp đạt được mà cần phải xem xét đến sự phù hợp giữa chuyên môn được 19

31. đào tạo với yêu cầu thực tế của công việc cần đảm nhiệm. Do đó trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã được đo bằng số lượng và tỷ lệ công chức có trình độ sơ cấp, trung cấp, cao đẳng, đại học, sau đại học. Với công chức văn hóa – xã hội cấp xã thì đó là trình độ hiểu biết kiến thức về văn hóa – xã hội, các kiến thức quản lý trong nhiệm vụ và quyền hạn của mình. 1.2.2.2. Trình độ lý luận chính trị Lý luận chính trị là cơ sở là cơ sở xác định quan điểm, lập trường giai cấp công nhân của công chức văn hóa – xã hội. Bản thân người làm công tác văn hóa – xã hội có lập trường chính trị vững vàng, hoạt động vì mục tiêu, lý tưởng cách mạng thì sẽ được nhân dân kính trọng, tin yêu và họ sẽ vận động được nhân dân thực hiện tốt các chủ trương, chính sách pháp luật góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước. Ngược lại, nếu họ không có lập trường chính trị vững vàng, hoạt động vì lợi ích cá nhân, đặt lợ ích tập thể xuống dưới, thoái hóa, biến chất thì sẽ gây mất lòng tin ở người dân dẫn đến iệu quả quản lý nhà nước thấp. Hiện nay công chức cấp xã đã qua đào tạo chủ yếu dùng lại ở trình độ trung cấp, sơ cấp, điều này chưa đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công tác lãnh đạo, quản lý, điều hành việc phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng ở đơn vị hành chính cơ sở, đặc biệt trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiệ đại hóa nông nghiệp, nông thôn, xây dựng nông thôn mới hiện nay. 1.2.2.3. Trình độ quản lý nhà nước Trình độ quản lý Nhà nước của đội ngũ công chức văn hóa xã hội cấp xã đóng vai trò quan trọng trong công tác tổ chức hoạt động của chính quyền cấp xã, bao gồm các chỉ tiêu Chương trình bồi dưỡng cán sự; Chương trình bồi dưỡng ngạch chuyên viên; Chương trình bồi dưỡng ngạch chuyên viên chính; Chương trình bồi dưỡng ngạch chuyên viên cao cấp. Quản lý vừa là hoạt động khoa học vừa là hoạt động nghệ thuật, cho nên mỗi công chức văn hóa – xã hội cấp xã phải là người vừa am hiểu sâu sắc về kiến thức quản lý vừa phải vận dụng linh hoạt các kiến thức đó vào giải quyết những vụ việc cụ thể. Trong quá trình quản lý chỉ dựa vào kinh nghiệm thôi thì chưa đủ mà cần 20

32. phải được trang bị đầy đủ và bổ sung kịp thời các kiến thức, cách thức quản lý hiện đại để phù hợp với xu thế hiện nay nhằm đáp ứng kịp thời những yêu cầu của người dân. Hiện nay, hạn chế lớn nhất của công chức chính quyền cấp xã là trình độ quản lý nhà nước, vì vậy để tránh tối đa hạn chế này thì cần phải nhanh chóng đào tạo, bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước cho công chức cấp xã nói chung và công chức văn hóa – xã hội nói riêng. 1.2.2.4. Trình độ ngoại ngữ và tin học Ngoại ngữ và tin học có vai trò vô cùng quan trọng trong tất cả các lĩnh vực hoạt động và ảnh hưởng trực tiếp đến sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế đối với tất cả các quốc gia. Hiện nay, tiêu chuẩn cơ bản về trình độ của công chức cấp xã nói chung, công chức văn hóa – xã hội nói riêng phải đáp ứng các tiêu chuẩn về tin học và ngoại ngữ như sau: + Trình độ tin học: Có chứng chỉ tin học văn phòng trình độ A trở lên; + Trình độ ngoại ngữ: Hiện không có quy định về tiêu chuẩn này đối với công chức cấp xã. Các cấp ủy Đảng, cơ quan có thẩm quyền cần xem xét lại các tiêu chuẩn nhằm cải thiện và nâng cao trình độ của công chức trên mọi mặt. 1.2.3. Tiêu chí đánh giá kỹ năng nghề g iệp Kỹ năng là khả năng vận dụng những kiến thức hu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế, kỹ năng công việc bao giờ cũng gắn với một hoạt động cụ thể ở một lĩnh vực cụ thể như kỹ năng ra quyết định, kỹ năng phối hợp, kỹ năng soạn thảo văn bản…Đây là sản phẩm của quá trình tư duy kết hợp với việc tích lũy kinh nghiệm thông qua đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện, công tác. Kỹ năng nghề nghiệp là tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng công chức khi thực thi nhiệm vụ, công chức cần có những kỹ năng nhất định để thực thi nhiệm vụ. Tuy nhiên, có những kỹ năng cần thiết cho mọi công chức và có những kỹ năng không thể thiếu đối với một nhóm công chức nhất định phụ thuộc vào tính chất công việc mà họ đảm nhận. Việc phân chia kỹ năng nghề nghiệp thành các nhóm là cơ sở để xác 21

35. sách lao động, thương binh và xã hội; theo dõi, đôn đốc việc thực hiện và chi trả các chế độ đối với người hưởng chính sách xã hội và người có công; quản lý nghĩa trang liệt sĩ và các công trình ghi công liệt sĩ; thực hiện các hoạt động bảo trợ xã hội và chương trình xóa đói, giảm nghèo trên địa bàn cấp xã. – Khả năng chủ trì, phối hợp với công chức khác và trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố xây dựng hương ước, quy ước ở thôn, tổ dân phố và thực hiện công tác giáo dục tại địa bàn cấp xã. – Khả năng thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật chuyên ngành và do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã giao. Các tiêu chí đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ của công chức văn hóa – xã hội cấp xã: + Tính chủ động trong công việc. + Thực hiện chế độ t ông tin, báo cáo; + Mối quan hệ với cấp trên và đồng nghiệp; + Chất lượng tham mưu ban hành các văn bản; + Tiến độ thực hiện công việc; + Chất lượng công việc; 1.2.5. Tiêu chí đánh giá về năng lực và tổ chức quản lý. Năng lực là khả năng của một người để làm một việc gì đó, để xử lý một tình huống và để thực hiện một nhiệm vụ cụ thể trong mộ môi trường xác định. Nói cách khác năng lực là khả năng sử dụng các tài sản, tiềm lực của con người như kiến thức, kỹ năng và các phẩm chất khác để đạt được các mục tiêu cụ thể trong các điều kiện xác định. Thông thường người ta chỉ rằng năng lực gồm có các thành tố là kiến thức, kỹ năng và thái độ. Năng lực của công chức không phải là năng lực bất biến, được sử dụng trong mọi hoàn cảnh, môi trường. Ở thời điểm hay môi trường này năng lực được thể hiện, phát huy tác dụng nhưng ở thời điểm khác thì cẩn phải có loại năng lực khác. Mỗi thời kỳ, mỗi hoàn cảnh, môi trường khác nhau đặt ra yêu cầu về năng lực khác nhau. Người có năng lực tổ chức trong kháng chiến không có nghĩa là có năng lực tổ chức trong sản xuất kinh doanh, dịch vụ trong điều kiện phát 24

37. thái độ thiếu nhiệt tình, thiếu tận tâm, chính điều này đã làm mất đi sự tin tưởng của người dân vào nền HCNN hiện tại. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng thiếu tích cực trong lao động của một bộ phận công chức, nhưng trước hết là chúng ta chưa có những quy định cụ thể về tính chịu trách nhiệm của mỗi cá nhân đối với từng công việc được giao, nhất là những công việc mang yếu tố tập thể. Tình trạng “bình quân chủ nghĩa” vẫn còn, dẫn đến việc ỷ lại, dựa dẫm, thậm chí bỏ mặc. Bên cạnh đó, việc thực hành dân chủ chưa được coi trọng, chưa trở thành nếp sinh hoạt văn hóa công sở, cũng đã ít nhiều chi phối tới việc công chức chưa phát huy được tinh thần sáng tạo, chưa đề xuất được các sáng kiến, giải pháp về cải cách hành chính, bị động, phụ thuộc hoàn toàn vào mệnh lệnh cấp trên. Nhất là trong điều kiện cấp cơ sở còn nhiều khó khăn, chế độ đãi ngộ thấp, cùng với những bất cập trong công tác tổ chức cán bộ đã phần nào làm giảm chất lượng hoạt động của công chức. Bàn về ý thức trách n iệm của công chức, trước hết phải nói đến trách nhiệm của người đứng đầu mỗi đơn vị. Bởi vì, hơn ai hết, họ là những “người cầm trịch”, “đứng mũi chịu sào”, được giao trách nhiệm quản lý, chỉ đạo, điều hành. Người đứng đầu phải phân công chức trách, nhiệm vụ rõ ràng, cụ thể cho từng cán bộ, công chức. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát để kịp thời phát hiện và xử lý những sai phạm, thiếu sót trong thực thi công vụ của cán bộ, công chức dưới quyền, tránh tình trạng quan liêu, bê bối, tiêu cực xảy ra trong cơ quan, đơn vị mình quản lý. Đáng chú ý, chính việc suy giảm uy tín của người lãnh đạo, quản lý, sự yếu kém về năng lực quản lý, sự giảm sút về phẩm chất đạo đức cũng là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng không nhỏ tới tính tích cực lao động của công chức. Thực tế, một môi trường lao động mà ở đó, tính minh bạch, công khai, văn minh, dân chủ chưa được phát huy, chưa có công bằng tương đối, thì ở đó rất dễ làm thui chột tính tích cực lao động của công chức. Về phía người lao động, việc hạn chế về chuyên môn, nghiệp vụ cũng là một trong những nguyên nhân quan trọng, làm giảm tính tích cực lao động của công chức. 26

38. Để góp phần nâng cao tính tích cực lao động của công chức cơ sở không có cách nào khác là phải tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, hoàn thiện cơ chế, chính sách và hệ thống pháp luật, xác định rõ nghĩa vụ, quyền lợi, trách nhiệm, cũng như các tiêu chí khen thưởng, xử phạt, gắn với thực hiện nghiêm kỷ cương, kỷ luật nơi cơ quan, công sở. Sẽ chưa thể hài lòng, khi Nhà nước đòi hỏi công chức phải hết lòng vì công việc, tận tâm tận lực với việc của dân, trong khi Nhà nước lại chưa quan tâm giải quyết thỏa đáng đến các chế độ, chính sách cho công chức. Vì vậy, giải quyết tốt chính sách tiền lương, chế độ phụ cấp sẽ là cái gốc của vấn đề, là điều kiện tiên quyết để nâng cao tính tích cực lao động của công chức trong tình hình hiện nay. 1.3. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG CÔNG CHỨC VĂN HÓA – XÃ HỘI CẤP XÃ 1.3.1. Yếu tố khách quan 1.3.1.1. Cơ chế tuyển dụng công chức văn hóa – xã hội cấp xã Tuyển dụng công chức là một hoạt động công, do cơ quan, tổ chức và người có thẩm quyền thực hiện và chịu sự điều chỉnh của các quy phạm pháp luật thuộc ngành. Thông qua tuyển dụng để tạo nguồn công chức đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị, tổ chức “Việc tuyển dụng cô g chức phải căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ, vị trí việc làm và chỉ tiêu biên chế” [14]. Tuyển dụng công chức là một trong những nội dung quan trọng quyết định chất lượng của đội ngũ công chức hiện tại cũng như tương lai. Mục đích của việc tuyển dụng công chức là nhằm tìm được những người đủ tài và đức, đủ phẩm chất tốt để đảm nhiệm công việc. Tuyển dụng công chức là tiền đề hết sức quan trọng của việc xây dựng và phát triển đội ngũ công chức nhà nước trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội để đảm đương những nhiệm vụ được giao. Nói đến cơ chế tuyển dụng là nói đến cách thức, phương pháp để lựa chọn cán bộ sao cho đúng người, đúng việc nhằm phát huy năng lực và sở trường của họ để đạt kết quả cao trong công tác. Để có được đội ngũ công chức xã nói chung, công chức văn hóa xã hội nói riêng có chất lượng cao thì việc tuyển dụng phải được thực hiện theo một quy trình chặt chẽ 27

Giải Pháp Để Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Giáo Viên

GIÁO VIÊN TRONG NHÀ TRƯỜNG THCS

ội ngũ giáo viên (GV) có vai trò rất quan trọng việc thực hiện nhiệm vụ Giáo dục của Đảng. Họ là những người thực thi những nhiệm vụ, các kế hoạch của đơn vị, họ quyết định chất lượng giáo dục đào tạo của một nhà trường. Bàn về vị trí vai trò của người thầy giáo, trong sự nghiệp giáo dục, cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng viết “Thầy giáo là nhân vật trung tâm trong nhà trường, là người quyết định đào tạo nên những con người mới XHCN”. Thủ tướng còn chỉ rõ thêm ” Vấn đề lớn nhất trong giáo dục của ta hiện nay là tạo điều kiện thuận lợi nhất để đội ngũ GV dần dần trở thành một đội quân đủ năng lực, đủ tư cách làm tròn sứ mệnh của mình. Chất lượng giáo dục trước mắt và tương lai tuỳ thuộc vào đội ngũ này. Cho nên lo cho chất lượng, lo cho CCGD thì khâu quan trọng bậc nhất là lo cho đội ngũ GV. Phải thực sự lo và có một biện pháp từ Bộ đến địa phương. Bộ phải coi đây là công tác trọng yếu nhất, phải kiên trì làm trong nhiều năm, phải làm cho GV có đạo đức tốt hơn, có ý thức với nghề, có tâm hồn với trẻ. Không có GV tốt thì không có nhà trường tốt, không có giáo dục tốt thì không có chất lượng cao. Muốn đạt được như vậy điều quan trọng trước tiên là phải lo bồi dưỡng đội ngũ GV của ta làm sao để có đủ trình độ về chính trị, nghiệp vụ văn hoá để ngày mai dạy tốt hơn bây giờ”.

Nghị quyết TƯ 2 khoá VIII của Đảng đã khẳng định “Giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu”. Vấn đề trên đòi hỏi chúng ta – Những nhà làm công tác quản lý phải nhận thức sâu sắc là phải bồi dưỡng đội ngũ GV mới đáp ứng được công cuộc CNH – HĐH đất nước.

Nghị quyết thứ lần thứ 2 BCH TƯ Đảng khoá VIII đã chỉ rỏ: ” Đội ngũ GV vừa thiếu, vừa yếu, nhìn chung chất lượng GV chưa đáp ứng yêu cầu phát triển GD – ĐT trong giai đoạn mới”.

Đội ngũ GV Trường THCS Văn Thuỷ cũng nằm trong nhận định đó: Vừa thiếu vừa không đồng bộ, nguồn đào tạo đa dạng. Trước sự phát triển như vũ bão của khoa học kỷ thuật, trước sự đòi hỏi ngày càng cao của chương trình đổi mới giáo dục phổ thông, đội ngũ GV gặp rất nhiều khó khăn trước nhiệm vụ được giao. Vậy cần phải làm gì đây để có một đội ngũ có trình độ chuyên môn vững vàng? Từ vai trò vị trí của người GV, từ thực tế của trường, từ sự băn khoăn của bản thân, tôi chọn đề tài “Một số giải pháp để nâng cao chất lượng đội ngũ GV trong nhà trường THCS “.

*Tổng số cán bộ giáo viên 22 (Nữ: 12). Trong đó:

– 2 cán bộ quản lý, 4 nhân viên (2 nhân viên hợp đồng ngắn hạn), 16 giáo viên (3 GV mới vào biên chế đang thời kỳ tập sự).

– Tuổi đời cao nhất: 53. Tuổi đời thấp nhất 29. Bình quân tuổi đời: 32,5.

– Tuổi nghề cao nhất: 29. Tuổi nghề thấp nhất: < 1. Bình quân tuổi nghề: 10,4

– Trình độ đào tạo: 4 Đại học, 14 CĐSP và 4TC.

– Trình độ Tin học: 21/22 có chứng chỉ A và chứng chỉ B Tin học.

– Trình độ Ngoại ngữ: 6/22 có chứng chỉ ngoại ngữ trở lên.

– Đảng viên: 10/22. Trong đó có 2 Đảng viên đạt trình độ TCCT.

– Năng lực sư phạm: + Tốt: 6 đạt 27,3%

+ Khá: 10 đạt 45,5%

+ TB: 4 đạt 18,2%

+ TB yếu: 2 đạt 9%

* Một số nhận định về đội ngũ:

Đội ngũ có phẩm chất đạo đức tốt, có tinh thần trách nhiệm , yêu nghề, nhiệt tình công tác, hầu hết được đào tạo chính quy và phần lớn đạt chuẩn trở lên, có chí tiến thủ, khắc phục khó khăn hoàn thành nhiệm vụ được giao.

+ Trường thuộc địa bàn đặc biệt khó khăn, số lớp ít (8 lớp, 2 lớp/ khối) nên cường độ làm việc của GV lớn, nhất là khâu soạn bài. Cơ cấu đội ngũ không đồng bộ, một số GV không thuộc hệ đào tạo phải dạy chéo môn ( Môn Thể dục)

+ Một số GV mới ra trường chưa được bồi dưỡng thay sách, loại hình đào tạo đa dạng nên gặp nhiều trở ngại trong công tác dạy học.

+ Một số GV lớn tuổi, sức khỏe không đảm bảo, chủ nghĩa kinh nghiệm còn nặng, ít có nhu cầu học tập nâng cao kiến thức, do đó thực hiện chương trình đổi mới giáo dục phổ thông còn hạn chế.

1-Tiêu chuẩn của người giáo viên trong xã hội hiện nay:

– Trước tiên người GV phải là người công dân tốt, có đầy đủ phẩm chất “Tài và Đức”. Đây là hai mặt để tạo nên nhân cách con người phát triển toàn diện. Người GV phải có trình độ sư phạm tối thiểu: CĐSP trở lên đối với bậc THCS và phải phấn đấu để nâng chuẩn từ CĐSP lên Đại học, trên Đại học.

– Người GV phải là tấm gương sáng cho học sinh noi theo, nên phải là người có đạo đức tư tưởng trong sáng, có tác phong mẫu mực, có lối sống lành mạnh, nhận thức đúng đắn đường lối của Đảng nhất là lĩnh vực giáo dục, vận dụng quan điểm chính thống vào giảng dạy, kiên định đi theo con đường của Đảng và Bác Hồ đã chọn. Thông qua các buổi học Nghị quyết, nghe thời sự, đọc báo, tài liệu để từng bước nâng cao nhận thức của bản thân . Có thể nói tiêu chuẩn cao nhất để đánh giá GV là sự tiến bộ của học sinh.

2-Nội dung cần bồi dưỡng:

2.1. Bồi dưỡng về tư tưởng đạo đức, phẩm chất nghề nghiệp

– Về tư tưởng chính trị, đạo đức: Bồi dưỡng GV có ý thức tuyệt đối trung thành với đường lối của Đảng, phải yêu lao động, trọng lẽ phải, không ngừng học tập tu dưỡng kiến thức chuyên môn nghiệp vụ, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Bồi dưỡng GV có phẩm chất đạo đức tốt, có lối sống trong sáng, giản dị, thực hiện tốt cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Mỗi thầy giáo, cô giáo phải luôn là tấm gương sáng cho học sinh noi theo.

– Về phẩm chất nghề nghiệp: Bồi dưỡng cho GV có lí tưởng nghề nghiệp đúng đắn; bồi dưỡng lòng yêu nghề, mến trẻ; bồi dưỡng tinh thần “Dân chủ – kỉ cương- tình thương – trách nhiệm”, thực hiện tốt cuộc vận động ” Hai không” với 4 nội dung.

2-2 Bồi dưỡng về văn hoá chuyên môn nghiệp vụ .

– Kho tàng tri thức của nhân loại là vô tận và luôn có sự đổi mới. Tri thức là chìa khoá vạn năng giúp con người mở cửa cuộc đời. Ngày nay, cuộc cách mạng khoa học kỉ thuật và công nghệ đang diễn ra như vũ bảo, đội ngũ giáo viên là người đi dạy người khác mà không tự bồi dưỡng, không bổ sung chuyên môn nghiệp vụ cho mình thì sẽ bị mai một kiến thức và tụt hậu.

– Năng lực chuyên môn của GV được thể hiện qua việc:

+ Nắm chương trình, SGK từng môn, từng lớp, nắm chuẩn kiến thức, kỉ năng từng môn, từng chương, từng phần .

+ Xác định đúng, đủ mục tiêu bài dạy.

+ Truyền thụ rỏ ràng chính xác , có hệ thống kiến thức cơ bản bài dạy.

+ Tổ chức và sử dụng phương pháp dạy học, phương tiện dạy học hiện đại, linh hoạt phù hợp với nội dung bài học và đặc trưng bộ môn.

+ Đánh giá đúng khả năng của học sinh, chấm bài, cho điểm đánh giá học sinh chính xác, công bằng, khách quan.

– Hoạt động nghiệp vụ của GV được thể hiện qua 3 khâu cơ bản: Soạn bài- lên lớp- chấm chữa, đánh giá xếp loại học sinh. Ba khâu này tạo thành một chu trình khép kín công việc của người thầy. Vì thế, khâu nào cũng rất quan trọng không thể xem nhẹ. Vì vậy, người cán bộ quản lí phải biết tiếp sức cho GV cả 3 khâu: Soạn bài ( thiết kế xây dựng bài soạn điển hình cho từng kiểu dạng bài), lên lớp ( qua thao giảng dự giờ), chấm chữa xếp loại học sinh ( qua việc kiểm tra thực hiện quy chế chuyên môn). Muốn tiếp sức bồi dưỡng kịp thời cho đội ngũ, người cán bộ quản lí phải làm tốt công tác kiểm tra nội bộ trường học.

1-Xác định đúng tầm quan trọng của công tác bồi dưỡng cán bộ GV.

Đội ngũ GV là lực lượng lao động chủ yếu, giử vai trò quan trọng có tính chất quyết định đến sự thành công của nhà trường. Thế nhưng trên thực tế đội ngũ GV nói chung còn gặp khó khăn và nhiều mặt hạn chế trước yêu cầu đổi mới của sự nghiệp giáo dục . Trước tình hình đó, việc chăm lo bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ GV có đủ phẩm chất năng lực công tác là vấn đề quan trọng đối với người Hiệu trưởng trong nhà trường THCS nói riêng, trong nhà trường phổ thông nói chung. Đối tượng quản lí của Hiệu trưởng là GV, là “Con người” một yếu tố năng động nhất, quyết định nhất để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường. Có thể khẳng định: Xây dựng bồi dưỡng đội ngũ GV là công tác quan trọng hàng đầu và lâu dài của người Hiệu trưởng (HT).

2-Lập kế hoạch bồi dưỡng đội ngũ GV:

HT phải biết nghiên cứu, phân tích, điều tra nắm tình hình, đánh giá phân loại giáo viên với các công việc cụ thể: Ngay từ đầu năm học điều tra để nắm đội ngũ GV, để phân loại chi tiết cụ thể chất lượng đội ngũ GV. Qua đó, Ban giám hiệu (BGH) lập danh sách từng GV cần bồi dưỡng những mặt nào? Từ đó, lập kế hoạch bồi dưỡng từng mặt: tư tưởng, đạo đức, nghiệp vụ chuyên môn… Đồng thời, sau khi đã nắm được mặt mạnh, mặt hạn chế của đội ngũ để xây dựng chương trình bồi dưỡng ngắn hạn hay dài hạn cho từng giai đoạn, từng học kì , từng năm.

3-Phối hợp sức mạnh tổng hợp của các tổ chức đoàn thể trong nhà trường để làm tốt công tác bồi dưỡng đội ngũ GV.

Người HTphải biết dựa vào tổ chức nồng cốt là chi bộ Đảng, Công đoàn và Đoàn thanh niên để tổ chức tốt các phong trào thi đua tu dưỡng, rèn luyện cho đội ngũ GV, bồi dưỡng cho đội ngũ GV về tư tưởng, đường lối chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Thông qua việc học tập nghiên cứu, nghe báo cáo sinh hoạt tập thể, duy trì tốt phong trào “Mỗi thầy giáo, cô giáo là một tấm gương sáng cho học sinh noi theo”, ” Dân chủ – kỉ cương – tình thương – trách nhiệm”,

” Dạy tốt, học tốt”. Người HT phải biết kết hợp các đoàn thể để bồi dưỡng đạo đức, tác phong, nâng cao tầm hiểu biết cho đội ngũ GV.

4-Thực hiện nề nếp sinh hoạt chuyên môn và đa dạng hoá các loại hình bồi dưỡng, tự bồi dưỡng cho đội ngũ.

4-1:Thực hiện có nề nếp sinh hoạt chuyên môn ở HĐSP và tổ chuyên môn:

Tổ chuyên môn đóng vài trò hết sức quan trọng trong nhà trường nếu được sinh hoạt tốt thì rất có tác dụng thiết thực trong công tác bồi dưỡng đội ngũ, nếu sinh hoạt qua loa, chiếu lệ thì sẽ trở thành hình thức, ít hiệu quả. Trước đây, sinh hoạt chuyên môn thường nặng về đánh giá kiểm điểm, như vậy không đem lại hiệu quả thiết thực cho GV và lảng phí thời gian .

Để nâng cao chất lượng đội ngũ GV, là người HT phải biết định rỏ cụ thể nội dung sinh hoạt chuyên môn, giành thời gian ưu tiên cho việc giải quyết những vướng mắc trong chuyên môn, tổ chức đúc rút kinh nghiệm về xây dựng giáo án bài soạn, về dự giờ thăm lớp, thao giảng giờ dạy. Nội dung sinh hoạt tổ cần đi sâu ôn lại, có dạy minh hoạ lại các chuyên đề, từ đó góp ý hoàn chỉnh chuyên đề rồi mới áp dụng đại trà.

4-2: Đa dạng hoá các loại hình bồi dưỡng – Tự bồi dưỡng cho đội ngũ:

– Bồi dưỡng theo chuyên đề do Phòng GD-ĐT tổ chức

– Tổ chức viết sáng kiến kinh nghiệm và tham gia hội thảo về đổi mới phương pháp dạy học từng bộ môn, để nắm bắt một cách tường minh về phương pháp giảng dạy .

– Sau mỗi lần tiếp thu chuyên đề về trường, BGH cùng tổ trưởng đi sâu nghiên cứu kỉ chuyên đề, bàn bạc và thống nhất phương án triển khai, đồng thời cử GV dạy giỏi hoặc giáo viên có năng lực khá dạy mẫu, để đội ngũ nắm bắt cụ thể hơn về tinh thần của chuyên đề.

– Mỗi một chuyên đề như vậy yêu cầu GV xem xét nghiên cứu và qua thực tế để rút ra những ưu điểm và tồn tại . Đây cũng là hình thức tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho mỗi GV.

– Mặt khác, HT còn mời các chuyên viên, màng lưới chuyên môn nghiệp vụ của Phòng GD-ĐT về bồi dưỡng thêm cho đội ngũ GV.

– Những đồng chí chưa đạt chuẩn, HT lập danh sách đề nghị với Phòng GD-ĐT cử đi học các lớp chuẩn hoá tại chức hoặc từ xa. Những GV dạy giỏi, những GV có năng lực đã đạt chuẩn đào tạo thì đề nghị Phòng GD-ĐT cho đi học để nâng chuẩn đào tạo để có kế hoạch tạo nguồn lâu dài.

Từ những việc làm đó, HT đã kích thích động viên đội ngũ GV hăng say thi đua có ý thức trong công tác bồi dưỡng và tự bồi dưỡng của mình.

5- Đẩy mạnh dự giờ thăm lớp và thao giảng cho đội ngũ GV:

5-1: Tổ chức thường xuyên dự giờ thăm lớp đúc rút kinh nghiệm giờ dạy:

Đây là hoạt động thường xuyên của nhà trường. Hàng tuần, HT đều có lịch dự giờ GV, bố trí chúng tôi tổ trưởng chuyên môn và GV có năng lực khá giỏi dự giờ ( Có thể báo trước hoặc báo trước 15 phút) để nắm bắt tình hình giảng dạy của đội ngũ. Qua dự giờ nhằm đúc rút kinh nghiệm chỉ ra mặt mạnh – yếu để đội ngũ khắc phục phát huy. Trong lĩnh vực này, nhà trường ưu tiên dự giờ nhiều đối với GV yếu, GV mới ra nghề và GV khá giỏi để tiếp sức cho đội ngũ và xây dựng GV dạy giỏi.

5-2: Thao giảng

Nhà trường tổ chức thường xuyên hoạt động này nhân các ngày lễ lớn. Qua thao giảng đã tạo nên không khí thi đua sôi nổi trong nhà trường, là dịp để đội ngũ GV “Thi tài, đua sức”. Qua đó, nhà trường nắm bắt những thành công, những hạn chế của đội ngũ để góp ý giúp đỡ. Những tiết thao giảng này, người lên lớp chủ yếu là GV có năng lực nên rất có ý nghĩa đối với GV mới ra trường, GV có tay nghề còn non.

6- Duy trì tốt hoạt động SHCM liên trường:

– Xác định đây là chủ trương đúng đắn của Phòng GD-ĐT nên trường đã nghiêm túc thực hiện khá tốt. Đặc thù trường có số lớp ít, GV trong một khối ít nên rất hạn chế về trao đổi về chuyên môn nghiệp vụ. Qua sinh hoạt chuyên môn (SHCM) liên trường nhằm tháo gỡ những vứng mắc khó khăn và học tập kinh nghiệm của trường bạn. Do vậy, ngoài lịch của Phòng, trường chủ động liên hệ với trường bạn cùng hợp tác tổ chức SHCM các trường trong cụm để nâng cao chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ.

7- Làm tốt công tác kiểm tra nội bộ trường học:

Đây là hoạt động không thể thiếu trong một nhà trường góp phần tích cực trong việc bồi dưỡng GV. Kiểm tra không ngoài mục đích là để nắm bắt tình hình đội ngũ, đánh giá chất lượng đội ngũ, từ đó có kế hoạch bồi dưỡng cho họ, tiếp sức cho họ hoàn thành nhiệm vụ. HT phải làm tốt công tác kiểm tra nội bộ trường học. Cụ thể:

+Lên kế hoạch kiểm tra (Năm, tháng, tuần) phù hợp tình hình thực tại của đơn vị. Kế hoạch kiểm tra phải bám sát Hướng dẫn nhiệm vụ năm học của Ngành.

+ Thành lập Ban kiểm tra nội bộ trường học, phân công rõ người, rõ việc và thực hiện kiểm tra theo kế hoạch.

+ Kiểm tra phải thực hiện theo một chu trình khép kín: Thông báo kế hoạch kiểm tra – Kiểm tra – Xữ lý thông tin kiểm tra – Trả thông tin cho đối tượng kiểm tra – Thông báo kết quả kiểm tra trong HĐSP.

– Muốn nâng cao chất lượng đội ngũ, tạo chất xúc tác cho đội ngũ luôn luôn tự học, tự rèn, tự phấn đấu để nâng cao trình độ hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao người HT phải làm tốt công tác thi đua khen thưởng trong đơn vị.

– Xây dựng tiêu chí thi đua sát đúng phù hợp đồng thời định ra mức thưởng hợp lý.

– Công tác thi đua phải đảm bảo công bằng, khách quan, công khai dân chủ.

– Qua nhiều năm tích cực bồi dưỡng và tự bồi dưỡng, nhất là năm học vừa qua, đội ngũ GV trường THCS Văn Thuỷ ngày càng vững vàng đạt các yêu cầu về phẩm chất và năng lực của một nhà giáo.

– Về phẩm chất: Tất cả CB -GV-NV có phẩm chất đạo đức tốt, có tác phong lối sống trong sáng lành mạnh, chấp hành tốt mọi đường lối chủ trương của Đảng, Nhà nước và của Ngành, đảm bảo danh dự uy tín của người thầy.

– Về năng lực, tay nghề: 100% đội ngũ đạt TB trở lên, không có GV yếu. Số GV khá giỏi ngày càng tăng. Năm học 2007-2008 trường xây dựng đạt thêm 2 GV dạy giỏi cấp Huyện. Đến nay, trường đã bồi dưỡng được 8 GV dạy giỏi cấp huyện, trong đó có 1 GV dạy giỏi cấp tỉnh. Số GV đạt khá giỏi theo đánh giá xếp loại của trường đạt 95,5%. Trường có một đội ngũ bồi dưỡng HS giỏi, bồi dưỡng HS năng khiếu khá vững vàng hàng năm đều có giải đồng đội và nhiều giải cá nhân. Đặc biệt, năm học này trường đạt thành tích khá cao về các Hội thi. Thi HS giỏi huyện trường đạt 1 giải ba và 3 giải KK. Thi năng khiếu, trường đạt giải ba đồng đội về Hội thi “Phòng chống ma túy”, giải ba đội bóng chuyền nữ, 3 giải nhất, 1giải nhì và 2 giải ba HKPĐ huyện; 2 huy chương vàng, 1 huy chương bạc HKPĐ tỉnh và 1 huy chương vàng HKPĐ cấp quốc gia tại khu vực miền Trung. Hội thi cấp xã đạt giải ba đội bóng chuyền nữ và giải nhất thi kể chuyện về ” Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”

– Kết quả bồi dưỡng thường xuyên: 100% đạt TB trở lên. Trong đó trên 70% khá giỏi.

– Trong năm, trường đã tạo điều kiện cho 2 đ/c đi học Đại học tại chức, 1 đ/c đi học Cao đẳng, 1 đ/c đi học TCCT. Đến nay, trường đã có: 5 đại học, 15 cao đẳng và 2 Trung cấp. Đã kết nạp thêm 1 Đảng viên nữa là 10 đ/c. Trong đó, ba Đảng viên có trình độ TCCT.

– Trong năm học này, Phòng thanh tra chuyên đề trường về thực hiện cuộc vận động “Hai không” và xây dựng chuẩn quốc gia. Kết quả, Ngành nhận xét, đánh giá khá tốt về kế hoạch, triển khai thực hiện của nhà trường, của GV, không có CB-GV-NV bị nhắc nhở phê bình.

– Kết quả thi đua cuối năm, trường có: 5 CSTĐ cơ sở đạt 22,7%%, 11 LĐTT đạt 50%, 6 HTNV đạt 27,3%. Trường tự nhận đạt danh hiệu tập thể lao động Tiên tiến. Các tổ chức đoàn thể trong nhà trường đều đạt danh hiệu vững mạnh, riêng Liên đội được Hội đồng đội huyện xếp loại vững mạnh xuất sắc.

– Xếp loại năng lực sư phạm đội ngũ:

+ Loại tốt: 6 đạt 27,3%

+ Loại khá: 15 đạt 68,2%

+ Loại TB: 1 đạt 4,5%

+ Không có yếu.

– Xếp loại công chức:

+ Loại xuất sắc: 6 đạt 27,3%

+ Loại khá: 15 đạt 27,3%

+ Loại TB: 1 đạt 4,5%. Không có kém.

– Nhờ vậy, chất lượng dạy học đạt chỉ tiêu giao của PGD, tỷ lệ tốt nghiệp THCS đạt 100%.

Qua thực tiễn bồi dưỡng đội ngũ chúng tôi rút ra những bài học sau:

Để nâng cao chất lượng đội ngũ người cán bộ quản lý phải:

– Thường xuyên quan tâm bồi dưỡng phẩm chất đạo đức nghề nghiệp và năng lực chuyên môn nghiệp vụ.

– Có kế hoạch bồi dưỡng phù hợp với tình hình điều kiện của đội ngũ.

– Tiến hành thường xuyên tạo nên nề nếp ổn định. Nội dung bồi dưỡng, kết quả bồi dưỡng phải được kiểm tra theo dõi chặt chẽ.

– Coi trọng vai trò tự bồi dưỡng của cá nhân và tổ chuyên môn.

– Quan tâm xây dựng lực lượng nồng cốt, hạt nhân của chuyên môn để đảm đương các công việc trọng yếu của nhà trường vừa lấy đó làm mới cho phong trào tự học, tự bồi dưỡng cho đội ngũ.

– HT tham mưu tích cực cho Ngành trong việc giới thiệu GV đi học. Đồng thời Ngành phải tạo mọi điều kiện bố trí đội ngũ đi học để đạt chuẩn và nâng chuẩn đào tạo.

Là người HT cần quán triệt và nhận thức đúng đắn về công tác bồi dưỡng, tự bồi dưỡng để nâng cao chất lượng đội ngũ GV trong nhà trường phổ thông. Xác định công tác bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ GV là hướng đi đúng đắn và đóng vai trò quan trọng của người HT. Nếu chúng ta không có kế hoạch bồi dưỡng thì không có một đội ngũ đủ mạnh cả về lượng lẫn về chất. Công việc này khó khăn, gian khổ, lâu dài thường xuyên, đòi hỏi người Hiệu trưởng linh hoạt, sáng tạo, kiên trì và phải biết vận dụng sức mạnh tổng hợp trong quá trình bồi dưỡng. Bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ là trách nhiệm của các cấp, trong đó vai trò của người Hiệu trưởng là điều kiện tiên quyết.

Văn Thuỷ, ngày 20 tháng 5 năm 2008

Người viết

Lê Quý Thành

Cập nhật thông tin chi tiết về Luận Văn Thạc Sĩ Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Đảng Viên trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!