Xu Hướng 2/2023 # Luận Văn: Quản Lý Nhà Nước Về Đầu Tư Công Tp Hà Nội, Hay # Top 10 View | Phauthuatthankinh.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Luận Văn: Quản Lý Nhà Nước Về Đầu Tư Công Tp Hà Nội, Hay # Top 10 View

Bạn đang xem bài viết Luận Văn: Quản Lý Nhà Nước Về Đầu Tư Công Tp Hà Nội, Hay được cập nhật mới nhất trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

, ZALO 0932091562 at BÁO GIÁ DV VIẾT BÀI TẠI: chúng tôi

Published on

Download luận văn thạc sĩ ngành quản lí công với đề tài: Quản lý nhà nước về đầu tư công thành phố Hà Nội, cho các bạn làm luận văn tham khảo

1. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ …………/………… ……/…… HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA NGUYỄN QUỐC KHÁNH QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ ĐẦU TƢ CÔNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG HÀ NỘI – NĂM 2017

2. 2 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ …………/………… ……/…… HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA NGUYỄN QUỐC KHÁNH QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ ĐẦU TƢ CÔNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG Chuyên ngành: Quản lý công Mã số: 60 34 04 03 NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: chúng tôi NGUYỄN QUANG HỒNG HÀ NỘI – NĂM 2017

3. 3 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan thực hiện nghiên cứu luận văn một cách nghiêm túc, tuân thủ đúng các quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Học viện Hành chính Quốc gia và sự hƣớng dẫn của giáo viên đƣợc Trƣờng phân công. Hà Nội, ngày tháng năm 2017 Học viên lớp cao học HC20.B2 Nguyễn Quốc Khánh

4. 4 MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA LỜI CAM ĐOAN MỤC LỤC DANH MỤC CÁC BẢNG………………………………………………………………………..6 DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ ……………………………………………………………………….7 MỞ ĐẦU ………………………………………………………………………………………………..8 Chƣơng 1 Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về quản lý nhà nƣớc đối với đầu tƣ công cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng ………………………………………..13 1.1. Những khái niệm cơ bản về đầu tƣ công……………………………………………..13 1.2. Quản lý nhà nƣớc đối với đầu tƣ công cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng……………………………………………………………………………………………………..31 1.2.1. Khái niệm quản lý nhà nƣớc đối với đầu tƣ công ………………………………31 1.2.2. Sự cần thiết của quản lý nhà nƣớc đối với đầu tƣ công……………………….31 1.2.3. Nguyên tắc quản lý nhà nƣớc đối với đầu tƣ công……………………………..32 1.2.4. Nội dung quản lý nhà nƣớc đối với đầu tƣ công ………………………………..34 1.2.5. Các nhân tố ảnh hƣởng đến quản lý nhà nƣớc đối với đầu tƣ công ………44 1.3. Kinh nghiệm quản lý nhà nƣớc về đầu tƣ công…………………………………….48 Tiểu kết chƣơng 1…………………………………………………………………………………..52 Chƣơng 2 Thực trạng quản lý nhà nƣớc đối với đầu tƣ công thành phố Hà Nội giai đoạn 2011-2016 ……………………………………………………………………………………..53 2.1. Khái quát chung về tình hình phát triển kinh tế – xã hội thành phố Hà Nội giai đoạn 2011-2016 ……………………………………………………………………………….53 2.2. Thực trạng quản lý nhà nƣớc đối với đầu tƣ công thành phố Hà Nội giai đoạn 2011-2016 ……………………………………………………………………………………..56 2.3. Đánh giá chung quản lý nhà nƣớc đối với đầu tƣ công thành phố Hà Nội giai đoạn 2011-2016 ……………………………………………………………………………….75 Tiểu kết chƣơng 2…………………………………………………………………………………..79 Chƣơng 3 Giải pháp tăng cƣờng quản lý nhà nƣớc đối với đầu tƣ công thành phố Hà Nội giai đoạn đến năm 2020…………………………………………………………………….80 3.1. Bối cảnh mới về đầu tƣ công thành phố Hà Nội giai đoạn đến năm 2020..80

6. 6 DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng Trang Bảng 2.1. Vốn đầu tƣ phát triển của thành phố Hà Nội giai đoạn 2011- 2016 53 Bảng 2.2. Một số chỉ tiêu đầu tƣ công của thành phố Hà Nội 60 Bảng 2.3. Tỷ trọng vốn đầu tƣ công/tổng vốn đầu tƣ xã hội của thành phố Hà Nội 60 Bảng 2.4. Chi đầu tƣ phát triển và XDCB bằng NSĐP của thành phố Hà Nội 61 Bảng 2.5. Cơ cấu đầu tƣ chi đầu tƣ XDCB theo lĩnh vực và theo ngành của thành phố Hà Nội trong kế hoạch đầu tƣ công trung hạn 2016-2020 62

7. 7 DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ Hình Trang Hình 1.1. Các nội dung của chi đầu tƣ công theo thông lệ quốc tế 13 Hình 1.2. Các nội dung của chi đầu tƣ phát triển theo Luật Ngân sách Việt Nam 18

10. 10 2.2.1. Tóm tắt những khoảng trống nghiên cứu của các công trình nêu trên – Về mặt thời gian Đa số các đề tài, báo cáo nghiên cứu nêu trên đã công bố cách đây nhiều năm, khi đó Luật Đầu tƣ công chƣa ra đời. Công trình công bố gần đây nhất của nghiên cứu trên lĩnh vực kết cấu hạ tầng giao thông đô thị, không nghiên cứu về đầu tƣ công trên giác độ tổng thể các lĩnh vực. – Về mặt nội dung Đối với các đề tài, đã đƣa ra đƣợc một số nội dung chủ yếu về cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về QLNN đối với đầu tƣ công. Tuy nhiên, có sự khác biệt về phạm vi nghiên cứu, đối tƣợng nghiên cứu; cơ sở khoa học và phƣơng pháp luận về đầu tƣ công đƣợc kế thừa, vận dụng từ các trƣờng phái nghiên cứu, các học thuyết ở nƣớc ngoài, tại thời điểm nghiên cứu của các đề tài, hệ thống lý luận về đầu tƣ công của Việt Nam còn ở giai đoạn phôi thai, chƣa phát triển. Đối với các báo cáo nghiên cứu, do tích chất của báo cáo là ngắn gọn, tập trung, đi thẳng vào vấn đề, nên các báo cáo nghiên cứu chƣa xây dựng đƣợc cho mình (hoặc ít chú trọng) cơ sở lý luận và thực tiễn về QLNN đối với đầu tƣ công, đặc biệt đầu tƣ công thành phố Hà Nội mà chỉ tập trung vào phân tích thực trạng, nguyên nhân, kiến nghị một số giải pháp, cá biệt có công trình chỉ nghiên cứu trong phạm vi hẹp theo ngành dọc quản lý. 2.2.2. Những vấn đề mà đề tài luận văn cần tập trung nghiên cứu, giải quyết Một là, làm rõ hệ thống cơ sở lý luận về QLNN đối với đầu tƣ công cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng đặt trong bối cảnh Luật Đầu tƣ công số 49/2014/QH13 đƣợc Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 18/6/2014. Hai là, trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng QLNN đối với đầu tƣ công thành phố Hà Nội, tác giả đề xuất các giải pháp tăng cƣờng QLNN đối với đầu tƣ công thành phố Hà Nội theo hƣớng phát triển bền vững, nhằm thực hiện Nghị quyết của Đại hội Đảng bộ thành phố Hà Nội lần thứ XVI về phát triển Thủ đô 5 năm (2015 – 2020). 3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn – Mục đích

11. 11 Mục đích nghiên cứu của luận văn là đƣa ra cơ sở khoa học về đầu tƣ công và QLNN đối với đầu tƣ công, từ đó đối chiếu vào thực tiễn QLNN đối với đầu tƣ công thành phố Hà Nội để kiến nghị các giải pháp phù hợp nhằm khắc phục những hạn chế trong QLNN đối với đầu tƣ công Thành phố. – Nhiệm vụ Một là, hệ thống cơ sở lý luận về QLNN đối với đầu tƣ công. Hai là, phân tích thực trạng QLNN đối với đầu tƣ công thành phố Hà Nội, làm rõ hiệu quả và kết quả đầu tƣ đối với sự phát triển kinh tế – xã hội của thành phố Hà Nội, chỉ rõ các hạn chế và nguyên nhân. Ba là, đề xuất quan điểm, định hƣớng, giải pháp QLNN về đầu tƣ công của thành phố Hà Nội giai đoạn từ nay đến năm 2020. 4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn – Đối tượng nghiên cứu QLNN đối với đầu tƣ công từ nguồn vốn cân đối NSĐP thành phố Hà Nội. – Phạm vi nghiên cứu + Chủ thể QLNN: Chính quyền cấp Thành phố. + Khách thể: Đầu tƣ công trên địa bàn thành phố Hà Nội. + Về thời gian: Từ năm 2011 trở lại đây. + Về không gian: Trên địa bàn thành phố Hà Nội. 5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn – Phương pháp luận Luận văn vận dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng, phƣơng pháp luận về thế giới quan và triết học Mác – Lênin làm phƣơng pháp luận trong nghiên cứu đề tài. – Phương pháp nghiên cứu Luận văn sử dụng các phƣơng pháp: Phƣơng pháp nghiên cứu tài liệu, phƣơng pháp quan sát, phƣơng pháp thực nghiệm tại nơi làm việc, phƣơng pháp xử lý và phân tích số liệu. 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

16. 16 kỳ cần đƣợc coi là chi đầu tƣ vì nếu không có những hoạt động này, thời gian và hiệu quả sử dụng tài sản có thể bị ảnh hƣởng rất lớn. Cũng cùng quan điểm tƣơng tự, Bộ Tài chính Đan Mạch (2011) cho rằng đầu tƣ của nhà nƣớc và vốn vật chất (đƣờng sá, văn phòng, các công trình thủy lợi…) là một bộ phận quan trọng trong ngân sách đầu tƣ công. Song, đầu tƣ vào giáo dục, đào tạo và nghiên cứu – đầu tƣ vào hạ tầng mềm, đóng vai trò quan trọng không kém vào tăng trƣởng quốc gia, lại không đƣợc tính vào ngân sách đầu tƣ công. Viện Chính sách kinh tế Hoa Kỳ (2011) cũng cho rằng, đầu tƣ công là tất cả các khoản chi tiêu của ngân sách cho các đối tƣợng khác nhau trong nền kinh tế mà những khoản chi tiêu này có tác dụng kích hoạt hoặc thúc đẩy chi tiêu của mọi thành phần kinh tế. Nhƣ vậy, theo khái niệm này, chi tiêu của nhà nƣớc cho giáo dục, y tế và các lĩnh vực khác để phát triển con ngƣời cũng đƣợc coi là đầu tƣ công. Thống nhất với cách hiểu này, giáo sƣ Robert Ducan (Đại học Missouri, Hoa Kỳ, 2011) đã tóm tắt quan điểm của mình rằng “đầu tƣ công có nghĩa là sở hữu công”. Nói cách khác, bất kỳ chi tiêu nào sử dụng các nguồn lực do nhà nƣớc sở hữu đều bao hàm trong khái niệm đầu tƣ công, và nhƣ vậy đầu tƣ công gần nhƣ đồng nhất với chi tiêu công. Không chỉ có những tranh luận về cách thức định nghĩa đầu tƣ công trên cơ sở phân loại ngân sách thế giới đang áp dụng phổ biến hiện nay, bản thân định nghĩa đầu tƣ công theo các nhà kinh tế, ví dụ E. Anderson (2006) cũng có nhiều điểm quan trọng cần xem xét trên góc độ kinh tế học chuẩn tắc. Thứ nhất, nguyên nhân các chính phủ chi tiêu vào tài sản công là do các dạng thất bại của thị trƣờng (do tƣ nhân cung cấp hàng hóa công không hiệu quả hay do địa tô độc quyền quá lớn cho tƣ nhân). Thứ hai, vai trò của chính phủ trong đầu tƣ công không chỉ giới hạn ở chi tiêu ngân sách của riêng chính phủ. Chỉ quá tập trung vào chi tiêu chính phủ sẽ là một cách tiếp cận rất hẹp khi xem xét bức tranh quy mô đầu tƣ công và quan trọng hơn, làm giảm vai trò tiềm năng của các chính phủ ở khía cạnh cung cấp kết cấu hạ tầng công cộng. Rõ ràng nhất là trong hợp tác công tƣ (PPP), hầu hết chi đầu tƣ thực hiện bởi khu vực tƣ nhân. Mục đích của các hoạt động đầu tƣ này là nhằm cung cấp hàng hóa và dịch vụ công. Bên cạnh đó, vai trò của chính phủ trong

17. 17 dự án PPP – về mặt giám sát, quản lý, gánh chịu rủi ro và là ngƣời mua tài sản cuối cùng (có thể là rất lâu trong tƣơng lai, nhƣng đó cũng là một phần cam kết trong hợp đồng) sẽ vẫn là phổ biến. Tƣơng tự, trong nhiều trƣờng hợp khi khu vực tƣ nhân đầu tƣ vào sản xuất các hàng hóa độc quyền tự nhiên, cần phải có các quy định của chính phủ. Trong những lĩnh vực đầu tƣ tƣ nhân khác, quy định về vai trò của chính phủ cũng đóng vai trò then chốt để thực hiện các mục tiêu chính sách công (trong trƣờng hợp có các hiệu ứng ngoại lai), dù những khoản đầu tƣ này sẽ đƣợc ghi nhận là đầu tƣ tƣ nhân. Những tranh luận còn bỏ ngỏ về các vấn đề nêu trên khiến khái niệm về đầu tƣ công của thế giới vẫn đang trong quá trình tiếp tục hoàn thiện. 1.1.2.2. Quan niệm của Việt Nam Khảo sát một số công trình nghiên cứu và giáo trình về đầu tƣ phát triển và đầu tƣ công, đầu tƣ XDCB ở Việt Nam, dễ thấy quan niệm về đầu tƣ phát triển của nƣớc ta là không khác biệt so với quan niệm của thế giới, trong khi đó còn có khoảng cách khá xa giữa quan niệm đầu tƣ công, đầu tƣ XDCB ở Việt Nam với quan niệm của thế giới. a) Về đầu tư phát triển Ở mức độ khái quát cao, đầu tƣ phát triển đƣợc định nghĩa là “công việc sử dụng một khoản tiền vốn có tính toán, để đạt được mục đích nhất định vì sự phát triển” [14]. Cụ thể hơn, đầu tư phát triển được hiểu là “bộ phận cơ bản của đầu tư, là việc chi dùng vốn trong hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm làm tăng thêm hoặc tạo ra nhưng tài sản vật chất (nhà xưởng thiết bị…) và tài sản trí tuệ (tri thức, kỹ năng…), gia tăng năng lực sản xuất, tạo thêm việc làm và vì mục tiêu phát triển” [5]. Dù định nghĩa thiên về tính khái quát cao hay thiên về cụ thể, các quan niệm này đồng nhất với quan niệm về đầu tƣ phát triển của cộng đồng quốc tế. Ví dụ, quan niệm của Quỹ Tiền tệ quốc tế, đầu tƣ phát triển đƣợc định nghĩa là phần sản lƣợng đƣợc tích lũy nhằm tăng năng lực sản xuất tƣơng lai của nền kinh tế [20]. b) Về đầu tư công Quan niệm về đầu tƣ công chƣa đƣợc thống nhất giữa các nhà nghiên cứu, các nhà hoạch định chính sách, cơ quan quản lý trong nƣớc và có sự khác biệt với quan niệm và thống kê của quốc tế.

18. 18 Theo Nguyễn Đăng Bình [2], đầu tƣ công đƣợc hiểu là đầu tƣ vào hàng hóa công cộng, “nói chung là đầu tƣ của nhà nƣớc vào cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội, sản xuất, cung cứng sản phẩm, dịch vụ công ích, cải thiện môi trƣờng sinh thái, tài nguyên thiên nhiên và bảo đảm an ninh quốc phòng”. Quan niệm này liệt kê khá cụ thể về các nội dung của đầu tƣ công nhƣng tính khái quát chƣa cao nên không bao hàm hết các nội hàm của đầu tƣ công. Quan niệm tƣơng tự cũng đƣợc thể hiện trong nghiên cứu của Nguyễn Đức Thành và Đinh Tuấn Minh [9]: Đầu tƣ công (thuần) đƣợc hiểu nhƣ là phần chi tiêu công (public expenditure) đƣợc thêm vào lƣợng vốn vật chất để tạo ra các dịch vụ xã hội, chẳng hạn xây dựng đƣờng sá, cầu cảng, trƣờng học, bệnh viện v.v… Nguồn vốn đầu tƣ công thƣờng bao gồm NSNN, trái phiếu chính phủ, hoặc viện trợ phát triển của nƣớc ngoài. Tùy theo quan niệm của từng quốc gia mà đầu tƣ công có thể bao gồm các dự án cho các mục đích kinh doanh (qua khu vực DNNN) hoặc các dự án chỉ thuần mục đích công ích. Vũ Tuấn Anh và Nguyễn Quang Thái [1] cho rằng, theo lý thuyết kinh tế học, đầu tƣ công là việc đầu tƣ để tạo năng lực sản xuất và cung ứng hàng hóa công cộng. Hàng hóa công cộng phải thỏa mãn hai đặc tính là không có tính cạnh tranh và không có tính loại trừ (Varian, 1992). Tuy nhiên, trên thực tế, ở các nƣớc đang phát triển, trong đó có Việt Nam, chính phủ có thể đảm nhận chức năng rộng hơn, không chỉ sản xuất và cung ứng các hàng hóa công cộng, mà còn sản xuất và cung ứng rất nhiều hàng hóa tƣ nhân (ví dụ, sản xuất sắt, thép, xi măng). Ngƣợc lại, ở các nƣớc phát triển tƣ nhân ngày càng tham gia nhiều hơn vào cung ứng các hàng hóa công cộng. Vì thế, đối với trƣờng hợp của những nƣớc mà khu vực kinh tế nhà nƣớc đóng vai trò lớn nhƣ ở Việt Nam, nhiều nhà khoa học trong nƣớc cho rằng, cần phải quan niệm đầu tƣ công là tất cả các khoản đầu tƣ do chính phủ và các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế nhà nƣớc tiến hành. Trong quan niệm này, đầu tƣ công đƣợc xem xét không phải từ góc độ mục đích (có sản xuất hàng hóa công cộng hay không, có mang tính kinh doanh hay là phi lợi nhuận) mà từ góc độ tính sở hữu của nguồn vốn dùng để đầu tƣ [1]. Cụ thể ở Việt Nam, đầu tƣ công là đầu tƣ bằng nguồn vốn nhà nƣớc theo quy định của pháp luật hiện hành, bao gồm: Vốn

19. 19 NSNN, vốn tín dụng do nhà nƣớc bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tƣ phát triển của nhà nƣớc, vốn đầu tƣ phát triển của các DNNN và các vốn khác do nhà nƣớc quản lý. Khác với quan điểm của các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách trong nƣớc cho rằng “Đầu tư công là hoạt động đầu tư của Nhà nước vào các chương trình, dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội và đầu tư vào các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế – xã hội” [6]. Quan niệm nhƣ vậy đã loại bỏ những hoạt động đầu tƣ của chính phủ nhằm mục đích kinh doanh có gia tăng tích lũy tài sản của nền kinh tế. Theo cách hiểu này lĩnh vực đầu tƣ công bao gồm: (i) Đầu tƣ chƣơng trình, dự án kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội; Đầu tƣ phục vụ hoạt động của cơ quan nhà nƣớc, đơn vị sự nghiệp, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội; (ii) Đầu tƣ và hỗ trợ hoạt động cung cấp sản phẩm, dịch vụ công ích; (iii) Đầu tƣ của Nhà nƣớc tham gia thực hiện dự án theo hình thức đối tác công tƣ [6]. Về khía cạnh thống kê, rõ ràng là có sự khác biệt rất lớn về các khái niệm Việt Nam sử dụng so với thông lệ quốc tế. Trong phạm vi của đề tài, sự khác biệt lớn nhất đó nằm ở khái niệm đầu tƣ XDCB. Trong thống kê chi ngân sách của Việt Nam có nội dung chi đầu tƣ phát triển (bản dịch tiếng Anh của Bộ Tài chính sử dụng thuật ngữ capital development expenditure), trong chi đầu tƣ phát triển có chi đầu tƣ XDCB (bản dịch tiếng Anh của Bộ Tài chính sử dụng thuật ngữ (capital construction investment, trong khi Niên giám thống kê dịch là capital expenditure). Thống kê ngân sách của quốc tế không có khái niệm đầu tƣ XDCB mà hiểu nhƣ Tổng Cục thống kê thì chi đầu tƣ XDCB chính là chi đầu tƣ của chính phủ (capital expenditure) nhƣ thế giới dùng. Tuy vậy, ở Việt Nam, thống kê chi đầu tƣ XDCB của chính phủ chỉ là một nội dung của chi đầu tƣ phát triển bằng ngân sách (khoảng 40% chi đầu tƣ phát triển bằng ngân sách) và về mặt nội dung cũng hẹp hơn rất nhiều so với thống kê chi đầu tƣ của chính phủ theo cách thống kê của thế giới. Vì thế, có lẽ không thể dùng thuật ngữ “capital expenditure” để dịch và hiểu tƣơng đƣơng nhƣ “chi đầu tƣ XDCB” ở Việt Nam mà thuật ngữ này của quốc tế sát với “chi đầu tƣ phát triển” hơn, tuy vẫn có khác biệt, đó là chi trả nợ ở Việt Nam

20. 20 không tính vào chi đầu tƣ phát triển trong khi đó là một bộ phận của thống kê chi đầu tƣ công theo thông lệ quốc tế. Hình 1.2. Các nội dung của chi đầu tư phát triển theo Luật Ngân sách Việt Nam c) Về đầu tƣ XDCB bằng vốn ngân sách Nhƣ đã nêu ở trên, thống kê ngân sách quốc tế hiện nay không có khái niệm đầu tƣ XDCB. Ở nƣớc ta, khái niệm vốn đầu tƣ XDCB đƣợc sử dụng phổ biến với nội dung bao hàm những chi phí bằng tiền để xây dựng mới, mở rộng, xây dựng lại hoặc khôi phục năng lực sản xuất của tài sản cố định trong nền kinh tế. Về bản chất, vốn đầu tƣ XDCB chỉ bao gồm những chi phí làm tăng thêm giá trị tài sản cố định và gồm 02 bộ phận: (i) Vốn đầu tƣ để mua sắm hoặc xây dựng mới TSCĐ (thƣờng đƣợc gọi là vốn đầu tƣ XDCB và (ii) Chi phí cho sửa chữa lớn TSCĐ. Về nội dung chi tiêu, vốn đầu tƣ XDCB và chi phí cho sửa chữa lớn TSCĐ bao gồm: Chi phí cho việc thăm dò, khảo sát và quy hoạch xây dựng chuẩn bị cho việc đầu tƣ; chi phí thiết kế công trình; chi phí xây dựng; chi phí mua sắm, lắp đặt máy móc, thiết bị và những chi phí khác thuộc nguồn vốn đầu tƣ XDCB; chi phí cho việc sửa chữa lớn nhà cửa, vật kiến trúc và máy móc thiết bị, sửa chữa lớn các TSCĐ khác. 1.1.2.3. Quan điểm của Tác giả Chi đầu tƣ phát triển (Capital development expenditure) Đầu tƣ cho các dự án Đầu tƣ và hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp cung cấp sản phẩm, dịch vụ công ích do Nhà nƣớc đặt hàng; các tổ chức kinh tế; các tổ chức tài chính của trung ƣơng; đầu tƣ vốn nhà nƣớc vào doanh nghiệp theo quy định của pháp luật Các khoản chi đầu tƣ phát triển khác theo quy định của pháp luật

22. 22 Về cơ bản có thể tóm gọn lại thành ba trƣờng phái: trƣờng phái cho rằng chính phủ nên ít can thiệp và để thị trƣờng quyết định mọi hoạt động kinh tế (tiêu biểu là A. Smith); trƣờng phái cho rằng chính phủ nên đóng vai trò lãnh đạo, dẫn dắt (tiêu biểu là J.M Keynes) và trƣờng phái thứ ba cho rằng cần kết hợp cả vai trò của thị trƣờng và của chính phủ (P.A Sammuelson). Cụ thể hơn, theo tổng kết của Irma Adelman, nhà kinh tế Đại học California Berkeley [21], khi xem xét các quan điểm và thực tiễn về vai trò tối ƣu của chính phủ trong phát triển, đặc biệt ở các nƣớc đang phát triển, kể từ khi kết thúc chiến tranh thế giới lần thứ hai đến nay thì về cơ bản, có thể chia các tranh luận theo ba thời kỳ: – Thời kỳ chính phủ đƣợc xem là lực lƣợng chủ đạo dẫn dắt nền kinh tế kéo dài từ 1940 đến 1979 Thời kỳ này chính phủ đảm nhận vai trò kinh doanh chủ đạo trong nền kinh tế. Các quan điểm cổ vũ cho trào lƣu này có thể thấy trong các nghiên cứu của các nhà kinh tế học cổ điển trƣớc Marshall và ngay sau chiến tranh thế giới thứ hai nhƣ W.A Lewis, Rosenstein Rodan, Nurkse, Singer, Prebish, Hirshman và Leibenstein. Các nhà kinh tế này cho rằng phát triển kinh tế đòi hỏi việc tái phân bổ một cách hệ thống các nguồn lực sản xuất từ khu vực năng suất lao động thấp, công nghệ truyền thống (lạc hậu), mức sinh lợi giảm dần sang khu vực có năng suất cao, công nghệ hiện đại và mức sinh lợi tăng dần. Với giả định rằng, quá trình tái phân bổ nguồn lực bị cản trở bởi tính cứng nhắc vốn là bản chất của công nghệ và thể chế, trƣờng phái này cho rằng, đầu tƣ nhỏ lẻ, kết cấu hạ tầng thiếu và yếu kém, hạn chế về tầm nhìn và thiếu vắng các thị trƣờng sẽ cản trở việc chuyển giao nguồn lực giữa các khu vực một cách suôn sẻ theo hƣớng tối đa hóa lợi nhuận của tƣ nhân. Ngoại ứng công nghệ ở các dự án kết cấu hạ tầng và dự án công nghiệp “cơ bản” sẽ dẫn đến hợp tác thất bại và khiến tƣ nhân không (ít) đầu tƣ vào đó. Quan điểm chính phủ đóng vai trò chủ đạo trong phát triển đã càng đƣợc tăng cƣờng bởi thực tiễn cuối những năm 1950 cho thấy không có đủ các nhà công nghiệp tiềm năng sẵn lòng và có thể thực hiện các dự án công nghiệp, trong khi đó đầu tƣ vào bất động sản đem lại lợi nhuận cao. Hầu hết các nhà kinh tế phát triển cổ điển đề xuất khi thiếu vắng khu vực tƣ nhân, chính phủ một mặt phải tiếp tục thực

23. 23 hiện công việc của doanh nghiệp, mặt khác đồng thời phải thúc đẩy sự phát triển của kinh tế tƣ nhân bằng cách tăng suất sinh lợi từ đầu tƣ tƣ nhân nhờ trợ cấp trực tiếp của chính phủ hay bằng các dự án hợp tác công tƣ hoặc bằng cách trợ cấp các chƣơng trình đào tạo quản lý v.v… – Thời kỳ chính phủ đƣợc nhìn nhận là nguồn gốc của các vấn đề (từ năm 1979 đến năm 1996) Các quan điểm nghi ngờ vai trò chủ đạo của chính phủ trong nền kinh tế đã bắt đầu từ đầu những năm 1970 khi Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) công bố một loạt báo cáo về tình hình việc làm ở các nƣớc đang phát triển. Các báo cáo đã kết luận rằng, mặc dù đạt đƣợc tăng trƣởng kinh tế cao và công nghiệp hóa, nhƣng tỷ lệ thất nghiệp và bán thất nghiệp luôn ở mức rất cao (khoảng 20% lực lƣợng lao động thành thị) và liên tục gia tăng. Lao động có kỹ năng và bán kỹ năng đƣợc khu vực công nghiệp hiện đại hấp thụ và đã trở thành giai cấp trung lƣu trong xã hội, trong khi lao động thất nghiệp hay bán thất nghiệp ở các khu vực năng suất thấp (nông nghiệp và dịch vụ phổ thông ít kỹ năng) và ở các doanh nghiệp năng suất thấp (doanh nghiệp nhỏ sử dụng công nghệ lạc hậu) đang ngày càng tụt hậu. Có một số nguyên nhân đƣợc chỉ ra để lý giải thất bại trong quá trình phát triển này. Nhƣng về cơ bản, tất cả các lý giải đều dựa trên luận điểm rằng quá trình phát triển dƣới dự dẫn dắt của chính phủ đã tạo ra giá nhân tố so sánh không hợp lý vì không phản ánh sự khan hiếm tƣơng đối xét ở góc độ kinh tế: Trợ cấp vốn của chính phủ đã làm vốn bị định giá thấp so với mức độ khan hiếm thật sự của nó và lao động bị định giá quá cao cả so với vốn và so với mức độ khan hiếm thật sự của lao động. Điều này đã dẫn đến việc sử dụng công nghệ quá thâm dụng vốn. Quá trình công nghiệp hóa cƣỡng ép chuyển đổi nguồn lực từ khu vực nông nghiệp sang công nghiệp bằng cách giảm giá cánh kéo giữa hàng nông sản và hàng công nghiệp khiến cho thu nhập của khu vực nông thôn luôn bị duy trì ở mức thấp cùng với kỳ vọng mức lƣơng cao ở khu vực công nghiệp thành thị đã dẫn đến tình trạng di cƣ rất mạnh từ nông thôn ra thành thị. Cho dù nguyên nhân là gì thì phƣơng thuốc đề xuất cũng đều hƣớng tới thực hiện các chính sách nhằm “định giá đúng” nhƣ giảm trợ cấp trực tiếp và gián tiếp của chính phủ, tăng lãi suất và giảm bảo hộ thuế quan, tăng giá hàng nông nghiệp v.v…

25. 25 sách và thể chế. Trƣờng phái này cũng nghiên cứu để tìm ra các cách thức tăng cƣờng năng lực của chính phủ trong hoạch định và thực hiện các chính sách phát triển trên cơ sở có một đội ngũ công chức trung thực và có năng lực. Tổng kết quan điểm của các trƣờng phái kinh tế về vai trò của chính phủ trong nền kinh tế các nƣớc đang phát triển ở trên đã cho thấy rõ cả mặt ƣu điểm và hạn chế khi chính phủ can thiệp vào nền kinh tế. Mặc dù vậy, cần nhấn mạnh rằng, sự tiến hóa của các lý thuyết cũng đã khẳng định việc chính phủ cần tham gia vào phát triển kinh tế là điều tất yếu nhƣng câu hỏi còn bỏ ngỏ là: Làm thế nào để các can thiệp của chính phủ là đúng đắn và hiệu quả? Vì đầu tƣ công là một trong những công cụ quan trọng nhất của chính phủ, câu hỏi tƣơng tự với đầu tƣ công là: Làm thế nào để đầu tƣ công vào đúng chỗ (đúng lĩnh vực), đem lại hiệu quả cao nhất trong nền kinh tế? * Phạm vi đầu tư công hợp lý Nhƣ trên đã nêu, câu hỏi quan trọng là phạm vi đầu tƣ công nhƣ thế nào là hợp lý? Liệu có những tiêu chí về mặt kinh tế có thể giúp xác định hoạt động đầu tƣ nào đó nên thực hiện bởi nhà nƣớc hay tƣ nhân? Câu hỏi này đã đƣợc nêu ra từ nhiều thế kỷ trƣớc. Adam Smith, cha đẻ của kinh tế học cổ điển, ở thế kỷ XVIII đã đƣa ra danh sách lĩnh vực đầu tƣ công trong các lĩnh vực sau: (1) Quốc phòng; (2) Thể chế và (3) Một số loại công trình phúc lợi [15]. Ngày nay, nhìn chung có ba cách tiếp cận để trả lời câu hỏi này. Cách tiếp cận thứ nhất cho phép chính phủ thực hiện đầu tƣ công chỉ khi khu vực tƣ nhân không thể đảm nhận đƣợc công việc đó. Đây có thể xem là cách tiếp cận của các nhà kinh tế thị trƣờng tự do cực đoan. Ở khía cạnh ngƣợc lại là cách tiếp cận trong đó nhà nƣớc đảm nhiệm hầu nhƣ mọi hoạt động trong nền kinh tế (còn đƣợc gọi là cách tiếp cận xã hội chủ nghĩa). Cách tiếp cận dung hòa hơn cho phép chính phủ có vai trò năng động hơn so với các tiếp cận thứ nhất nhƣng không quá ôm đồm nhƣ cách tiếp cận thứ ba [22]. Về mặt thực tiễn, nghiên cứu của Adelman và Morris xem xét vai trò của chính phủ nói chung và đầu tƣ công nói riêng của các nƣớc trên thế giới theo ba nhóm nƣớc – phụ thuộc vào trình độ phát triển – bao gồm: nhóm nƣớc kém phát triển, nhóm nƣớc đang phát triển và nhóm nƣớc phát triển [16].

26. 26 – Nhóm nƣớc kém phát triển: Đƣợc đặc trƣng bởi mức độ phát triển thể chế thị trƣờng và tổ chức xã hội ở mức tối thiểu và kinh tế nông nghiệp đóng vai trò chủ đạo. Kết quả phân tích cho thấy, ở nhóm nƣớc kém phát triển nhất, nhiệm vụ quan trọng nhất của chính phủ là tích lũy vốn xã hội. Chính phủ cần có chính sách và đầu tƣ vào phát triển con ngƣời để gia tăng quy mô tầng lớp trung lƣu gồm các chuyên gia, doanh nhân và bộ máy công chức; loại bỏ các cản trở về mặt xã hội và giáo dục đối với việc gia nhập các nghề nghiệp trung lƣu. Lĩnh vực đầu tƣ quan trọng thứ hai là đầu tƣ vào kết cấu hạ tầng phần cứng, chủ yếu là hệ thống giao thông và năng lƣợng. Lĩnh vực thƣ ba là đầu tƣ xây dựng thể chế, cả kinh tế và chính trị. – Nhóm nƣớc đang phát triển: Nhóm nƣớc này đang ở giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hóa, đƣợc đặc trƣng bởi tốc độ chuyển giao xã hội nhanh và mất cân bằng, vì thế có nhiều nguy cơ mất ổn định xã hội và chính trị. Đối với các nƣớc này, kết quả phân tích cho thấy chính phủ nên tập trung đầu tƣ để tạo nền tảng thể chế, môi trƣờng chính sách và kết cấu hạ tầng cần thiết (tập trung vào hạ tầng vận tải và năng lƣợng) để đẩy mạnh công nghiệp hóa. Chính phủ nên tăng nhanh tỷ lệ đầu tƣ của quốc gia cả thông qua đầu tƣ trực tiếp của chính phủ và trợ cấp, thúc đẩy đầu tƣ tƣ nhân. Cần có chính sách đầu tƣ đủ mạnh để khuyến khích tƣ nhân phát triển các ngành hiện đại, bao gồm cả các hỗ trợ đầu tƣ trong nông nghiệp để gia tăng năng suất lao động khu vực nông nghiệp, tạo điều kiện đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu ngành. Cần có chính sách để thay thế nhập khẩu lao động kỹ năng và vốn bằng cách khuyến khích doanh nghiệp trong nƣớc đầu tƣ sản xuất và chính phủ cần tiếp tục đi tiên phong trong đầu tƣ vào giáo dục. – Nhóm nƣớc phát triển: Các nƣớc này có trình độ kinh tế – xã hội phát triển (tầng lớp trung lƣu đông đảo, tỷ lệ biết chữ cao, tỷ lệ học sinh cấp hai và ba trong độ tuổi cao, thông tin đại chúng phát triển v.v…). Nhóm này gồm 6 nƣớc phát triển nhất ở Mỹ La tinh và 6 nƣớc phát triển nhất ở Trung Đông và 3 nền kinh tế Đông Á là Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan. Trong nhóm này, nhân tố quyết định tạo ra sự khác biệt về mặt kinh tế và thành công phát triển là cam kết của giới lãnh đạo đất nƣớc với phát triển kinh tế, nhân tố này quyết định tới 77% sự khác biệt về tăng trƣởng kinh tế giữa các nƣớc đang phát triển nhất. Khi các điều kiện về

27. 27 xã hội, nhân lực và vốn cho phát triển đã tích lũy ở mức độ lớn, trong trƣờng hợp nhóm nƣớc này, kết quả phân tích cho thấy sự dẫn dắt của chính phủ đối với phát triển cơ bản tập trung vào thúc đẩy công nghiệp hóa trên cơ sở tạo ra và phát huy lợi thế so sánh để liên tục chuyển dịch lên các nấc cao hơn trong chuỗi giá trị trong khi tiếp tục tăng năng suất nông nghiệp. Nhƣ vậy, đầu tƣ công tập trung vào thực hiện các giải pháp thúc đẩy phát triển các ngành có năng lực cạnh tranh (xuất khẩu) và phát triển một khu vực kinh tế tƣ nhân năng động đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế. Đồng thời, để hỗ trợ cho công nghiệp hóa, thực hiện đƣợc mục tiêu tăng năng suất nông nghiệp, đầu tƣ công cũng tập trung vào nâng cấp kết cấu hạ tầng phục vụ phát triển nông nghiệp và hỗ trợ phát triển ứng dụng khoa học và công nghệ trong nông nghiệp. Tuy nhiên, đến cuối giai đoạn công nghiệp hóa, vai trò thích hợp của chính phủ sẽ nên thay đổi theo hƣớng của Đồng thuận Washington. Ngay cả các nƣớc phát triển nhƣ Mỹ hay cộng đồng chung châu Âu, đầu tƣ công của chính phủ nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành vẫn đang tiếp tục diễn ra. Ví dụ, chính quyền của Tổng thống Bill Clinton đã đầu tƣ rất nhiều vào phát triển các ngành công nghệ cao cũng nhƣ đầu tƣ phát triển nhân lực làm việc trong các ngành công nghệ cao. b) Về mặt thống kê Có sự khác biệt khá lớn giữa khái niệm đầu tƣ phát triển của chính phủ trong kinh tế học và đầu tƣ công của chính phủ về mặt thống kê và kế toán theo cả thông lệ quốc tế và thực tiễn của Việt Nam. Những nội dung đƣợc thống kê trong chi đầu tƣ công theo thông lệ quốc tế cần xem xét giảm trừ để có thống kê đầu tƣ phát triển đúng nghĩa của kinh tế học bao gồm: chi đầu tƣ vào tài sản cố định (đang tồn tại) vì trong Hệ thống tài khoản quốc gia (SNA), đầu tƣ với tƣ cách là một bộ phận của GDP phải là đầu tƣ tạo ra tài sản mới; chi đầu tƣ tài sản chính;; chi chuyển giao (gồm chi bổ sung NSĐP và chi đầu tƣ cho DNNN) và chi trả nợ. So sánh hình 1.1 và hình 1.2 về các nội dung của chi đầu tƣ công trong thống kê ngân sách của quốc tế và Việt Nam, Tác giả nhận thấy: Để số liệu thống kê phản ánh đúng ý nghĩa đầu tƣ phát triển về mặt kinh tế học, thì khi sử dụng số liệu chi đầu tư phát triển từ thống kê NSNN của Việt Nam, cần xem xét loại trừ các

28. 28 nội dung không tạo ra tài sản cố định mới cho nền kinh tế (nhà xƣởng, máy móc, thiết bị v.v… ) nhƣ chi đầu tƣ tài chính, chi bổ sung dự trữ quốc gia, và loại trừ phần mua tài sản cố định (đang tồn tại) trong chi đầu tƣ XDCB v.v… 1.1.3. Vai trò của đầu tƣ công Một là, đầu tƣ công góp phần mở ra khả năng thu hút các nguồn vốn đầu tƣ đa dạng cho phát triển kinh tế – xã hội. Hai là, đầu tƣ công góp phần phát triển cơ sở hạ tầng đồng bộ, hiện đại, tạo điều kiện để phát triển các vùng kinh tế động lực, các vùng trọng điểm và từ đó tạo ra các tác động lan toả lôi kéo các vùng liền kề phát triển. Ba là, đầu tƣ công trực tiếp tác động đến các vùng nghèo, hộ nghèo thông qua việc cải thiện hạ tầng, nâng cao điều kiện sống của nhân dân. Bốn là, đầu tƣ công góp phần vào việc giữ gìn môi trƣờng. Năm là, đầu tƣ công tạo điều kiện nâng cao trình độ kiến thức và cải thiện tình trạng sức khoẻ cho ngƣời dân, góp phần giảm thiểu bất bình đẳng về mặt xã hội. 1.1.4. Cấu trúc của đầu tƣ công Cấu trúc đƣợc hiểu là tổng hòa các mối quan hệ bên trong của một chỉnh thể, một hệ thống [22, tr. 217]. Trong khi đó, thuật ngữ “cơ cấu” đã rất quen thuộc với những ngƣời nghiên cứu kinh tế. Đây là một khái niệm mà triết học duy vật biện chứng dùng để chỉ cách thức tổ chức bên trong của một hệ thống, biểu hiện sự thống nhất của các mối quan hệ qua lại vững chắc giữa các bộ phận của nó. Trong khi chỉ rõ mối quan hệ giữa bộ phận và toàn thể, nó biểu hiện ra nhƣ là một thuộc tính của sự vật, hiện tƣợng [9, tr. 269-270]. Nhƣ vậy, cấu trúc hay cơ cấu đều có ý nghĩa giống nhau, đều nhằm chỉ về mối quan hệ bên trong của một hệ thống và khi chuyển sang tiếng Anh thì đều là “structure”. Do vậy, khi nghiên cứu về cấu trúc đầu tƣ hay tái cấu trúc đầu tƣ, Tác giả đã tham khảo và sử dụng các khái niệm/nội hàm của cơ cấu/tái cơ cấu đầu tƣ. Theo Chu Văn Cấp [3], cơ cấu đầu tƣ của một nền kinh tế là cơ cấu các yếu tố cấu thành đầu tƣ, nhƣ: cơ cấu về vốn, nguồn vốn, cơ cấu huy động và sử dụng vốn, quan hệ hữu cơ và tƣơng tác qua lại giữa các bộ phận trong không gian

29. 29 và thời gian. Mỗi loại cơ cấu đầu tƣ phản ánh những nét đặc trƣng của các bộ phận đầu tƣ và các cách mà chúng quan hệ với nhau trong quá trình phát triển. Trong quá trình nghiên cứu về quản lý đầu tƣ công cần phải xem xét về những cơ cấu đầu tƣ này, cụ thể nhƣ sau: – Cơ cấu đầu tư theo nguồn vốn: Cơ cấu này thể hiện quan hệ tỷ lệ của từng loại vốn trong tổng đầu tƣ. Trên bình diện toàn nền kinh tế, cơ cấu đầu tƣ của Việt nam theo nguồn vốn ngày càng đa dạng gắn với định hƣớng chính sách chung là xóa bỏ bao cấp trong đầu tƣ, đa dạng hóa cơ cấu và huy động mọi nguồn lực cho đầu tƣ phát triển. Ở Việt Nam, về cơ bản, có 03 loại vốn đầu tƣ xã hội, gồm: (i) nguồn vốn của nhà nƣớc; (ii) vốn tƣ nhân bao gồm tiết kiệm của dân cƣ và vốn của doanh nghiệp tƣ nhân; (iii) vốn nƣớc ngoài gồm vốn viện trợ phát triển, đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài (FDI) và vốn huy động qua thị trƣờng vốn quốc tế. – Cơ cấu đầu tư công theo ngành: Loại cơ cấu thể hiện việc phân bổ đầu tƣ công và tỷ lệ phân bổ cho các ngành lớn (ngành cấp I) – công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ và các phân ngành (ngành cấp II) – chăn nuôi, trồng trọt… trong nông nghiệp, cơ khí, luyện kim, năng lƣợng… trong công nghiệp; ngành cấp III (lúa, màu…) trong trồng trọt… Vì vậy, nghiên cứu loại cơ cấu này là nhằm tìm ra những cách thức duy trì tính tỷ lệ hợp lý của chúng và những lĩnh vực cần ƣu tiên tập trung nguồn vốn có hạn của quốc gia trong mỗi thời kỳ để thúc đẩy sự phát triển chung của toàn nền kinh tế. – Cơ cấu đầu tư theo lãnh thổ: Là cơ cấu đầu tƣ theo không gian, phản ánh việc phân bổ vốn đầu tƣ công theo các địa phƣơng, các vùng, miền khác nhau của đất nƣớc. Còn xét trong nội bộ 01 tỉnh/thành phố thì có thể kể thêm cơ cấu đầu tƣ giữa nội thành và ngoại thành hay nông thôn – thành thị. Cơ cấu đầu tƣ theo địa phƣơng cho nhận diện rõ ràng về tình hình sử dụng nguồn lực tại địa phƣơng và việc phát huy lợi thế cạnh tranh của từng khu vực. Một cơ cấu đầu tƣ theo địa phƣơng hay vùng lãnh thổ đƣợc xem là hợp lý nếu nó phù hợp với yêu cầu chiến lƣợc phát triển kinh tế – xã hội, phát huy lợi thế sẵn có của vùng trong khi vẫn đảm bảo sự phát triển thống nhất và những cân đối lớn trong phạm vi quốc gia và giữa các ngành.

30. 30 – Cơ cấu đầu tư theo quy mô dự án: Cơ cấu này thể hiện quy mô và tính chất của dự án, ngoài những dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội thông qua chủ trƣơng và cho phép đầu tƣ, các dự án còn lại đƣợc phân thành 03 nhóm A, B, C, trong đó dự án nhóm A do Thủ tƣớng Chính phủ quyết định, nhóm B và C do Bộ trƣởng, thủ trƣởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc chính phủ, Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng quyết định (phụ lục 1). – Cơ cấu theo chu trình dự án: Loại cơ cấu này phản ánh mối quan hệ của các giai đoạn trong chu trình của dự án. Chu trình của một dự án bao gồm nhiều giai đoạn khác nhau, thƣờng có ba giai đoạn chính là (i) giai đoạn xác định, nghiên cứu và lập dự án, (ii) giai đoạn triển khai thực hiện dự án và (iii) giai đoạn khai thác dự án. Trong ba giai đoạn này, giai đoạn khai thác dự án có vai trò quan trọng nhất bởi giai đoạn này đƣợc bắt đầu từ khi thực hiện dự án đến hết thời kỳ hoạt động của dự án và là giai đoạn dự án sinh lợi hoặc thu hồi vốn. – Cơ cấu theo đặc điểm của kết quả đầu tư: Chia thành vốn đầu tƣ hình thành tài sản cố định (vốn đầu tƣ dài hạn) và vốn đầu tƣ hình thành tài sản lƣu động (vốn đầu tƣ ngắn hạn). Đầu tƣ vào tài sản cố định là điều kiện tiên quyết, cơ bản làm tăng tiềm lực kinh tế còn đầu tƣ vào tài sản lƣu động là điều kiện cần thiết đảm bảo cho các tài sản cố định phát huy công suất. – Cơ cấu theo nội dung đầu tư, vốn đầu tư chia thành: Vốn đầu tƣ cho xây lắp, vốn đầu tƣ cho thiết bị và chi phí khác. Nếu trong dự án, tỷ trọng của chi phí khác chiếm quá cao trong tổng vốn đầu tƣ sẽ là một tín hiệu không tốt đối với hoạt động đầu tƣ, bởi nguồn vốn phải dành quá nhiều cho giải phóng mặt bằng (GPMB), chi phí hành chính, chi phí cho Ban quản lý dự án… sẽ không làm tăng đƣợc năng lực sản xuất cho nền kinh tế. Với sự phân loại trên, nhiều nội dung chỉ mang tính tƣơng đối và còn có thể chỉ ra một số cách phân loại vốn đầu tƣ khác theo quan hệ quản lý của chủ đầu tƣ, theo thời gian thực hiện và phát huy tác dụng của kết quả đầu tƣ…, song trong phạm vi đề tài Tác giả chỉ đề cập những cách phân loại trên để làm cơ sở cho nghiên cứu những nội dung của điều chỉnh cơ cấu đầu tƣ công phục vụ tăng trƣởng cao và bền vững. Chẳng hạn, khi phân tích về cơ cấu đầu tƣ công theo nguồn vốn, có thể xét riêng theo các nguồn đặc trƣng của đầu tƣ công, bao gồm: Vốn từ nguồn

31. 31 thu trong nƣớc của NSNN; vốn ngân sách đầu tƣ theo các chƣơng trình hỗ trợ có mục tiêu; tín dụng đầu tƣ (vốn cho vay) của nhà nƣớc có mức độ ƣu đãi nhất định; vốn vay trong nƣớc và ngoài nƣớc để dùng cho đầu tƣ công và đầu tƣ của các DNNN. Trong đó đáng chú ý là nguồn vốn đầu tƣ từ NSNN, đối tƣợng nghiên cứu trực tiếp của đề tài này. Đây là nguồn vốn hình thành trong quá trình hoạt động thu – chi NSNN theo Luật Ngân sách. Theo Trần Văn [13], căn cứ vào mục đích của các khoản chi thì nội dung chi đầu tƣ phát triển của NSNN bao gồm chi đầu tƣ XDCB và các khoản chi không có tính chất đầu tƣ XDCB. Trong chi đầu tƣ phát triển thì chi đầu tƣ XDCB chiếm tỷ trọng lớn, có vai trò quan trọng và tác động trực tiếp mạnh mẽ tới tăng trƣởng và phát triển kinh tế bền vững. 1.2. Quản lý nhà nƣớc đối với đầu tƣ công cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng 1.2.1. Khái niệm quản lý nhà nƣớc đối với đầu tƣ công Theo Ngân hàng thế giới, Quỹ Tiền tệ quốc tế, QLNN đối với đầu tƣ công là một hệ thống tổng thể, bắt đầu từ việc hình thành những định hƣớng lớn trong chính sách đầu tƣ công cho đến việc thẩm định, lựa chọn, lập ngân sách, thực thi, và đánh giá các dự án đầu tƣ cụ thể, với mục đích là đảm bảo hiệu quả và hiệu lực của đầu tƣ công, qua đó đạt đƣợc mục tiêu tăng trƣởng và phát triển chung của nền kinh tế. Theo quan điểm của Tác giả, QLNN đối với đầu tƣ công cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng là sự tác động của bộ máy chính quyền địa phƣơng cấp tỉnh, thành phố vào quá trình đầu tƣ công từ giai đoạn ban hành các văn bản quy phạm pháp luật đến giai đoạn kiểm tra, giám sát quá trình đầu tƣ nhằm đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn NSNN và thực hiện các mục tiêu kinh tế – xã hội đã đặt ra. 1.2.2. Sự cần thiết của quản lý nhà nƣớc đối với đầu tƣ công QLNN đối với đầu tƣ công là rất cần thiết nhằm đảm bảo các hoạt chi ngân sách địa phƣơng (NSĐP) có hiệu quả, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững kinh tế-xã hội tại địa phƣơng. Cụ thể nhƣ sau: Thứ nhất, đảm bảo kỷ luật tài khóa. Đảm bảo kỷ luật tài khóa nghĩa là đảm bảo NSĐP bền vững, cân đối thu- chi NSĐP, mức bội chi và vay nợ phải kiểm soát đƣợc.

39. 39 1.2.4.3. Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước đối với đầu tư công Bộ máy QLNN đối với đầu tƣ công cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng là các chủ thể quản lý thuộc chính quyền địa phƣơng và cơ quan, tổ chức đại diện cho chủ thể quản lý theo quy định pháp luật. Chủ thể quản lý và các cơ quan, tổ chức đại diện hoạt động một cách độc lập, tuy nhiên có sự phối kết hợp đồng bộ để thực hiện những nhiệm vụ chung về QLNN đối với đầu tƣ công. Ở nƣớc ta, bộ máy QLNN đối với đầu tƣ công cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng gồm có HĐND cấp tỉnh, thành phố; UBND cấp tỉnh, thành phố; Sở Tài chính; Sở Kế hoạch và Đầu tƣ; Kho bạc Nhà nƣớc cấp tỉnh, thành phố; chủ đầu tƣ các chƣơng trình, dự án; các cơ quan thanh tra đối với hoạt động đầu tƣ công; các đơn vị/bộ phận thuộc các sở, ban, ngành khác có chức năng, nhiệm vụ QLNN về đầu tƣ công thuộc ngành, lĩnh vực quản lý. (1). HĐND cấp tỉnh, thành phố HĐND cấp tỉnh, thành phố có thẩm quyền quyết định dự toán thu NSNN trên địa bàn tỉnh; dự toán thu, chi NSĐP và phân bổ dự toán ngân sách cấp tỉnh; phê chuẩn quyết toán NSĐP; quyết định các chủ trƣơng, biện pháp triển khai thực hiện NSĐP; quyết định kế hoạch đầu tƣ công, điều chỉnh dự toán NSĐP trong trƣờng hợp cần thiết; giám sát việc thực hiện ngân sách, kế hoạch đầu tƣ công đã đƣợc HĐND quyết định; quyết định việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi cho từng cấp ngân sách ở địa phƣơng; quyết định thu phí, lệ phí, các khoản đóng góp của nhân dân và mức huy động vốn theo quy định của pháp luật. (2). UBND cấp tỉnh, thành phố UBND cấp tỉnh, thành phố lập dự toán thu NSNN trên địa bàn; lập dự toán thu, chi NSĐP; lập phƣơng án phân bổ dự toán ngân sách; kế hoạch đầu tƣ công của cấp mình trình HĐND cùng cấp quyết định; lập dự toán điều chỉnh NSĐP, kế hoạch đầu tƣ công điều chỉnh trong trƣờng hợp cần thiết; quyết toán NSĐP trình HĐND cùng cấp xem xét theo quy định của pháp luật; xây dựng đề án phân cấp nhiệm vụ chi đầu tƣ xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội của địa phƣơng theo quy định của pháp luật để trình HĐND quyết định; tổ chức, chỉ đạo thực hiện đề án sau khi đƣợc HĐND thông qua. (3). Sở Tài chính

40. 40 Sở Tài chính là cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng có chức năng tham mƣu, giúp UBND cấp tỉnh thực hiện chức năng QLNN về tài chính; nguồn vốn NSNN; thuế, phí, lệ phí và thu khác của NSNN; tài sản nhà nƣớc; các quỹ tài chính nhà nƣớc; đầu tƣ tài chính; tài chính doanh nghiệp; kế toán; kiểm toán theo quy định của pháp luật. (4). Sở Kế hoạch và Đầu tƣ Sở Kế hoạch và Đầu tƣ là cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng có chức năng tham mƣu, giúp UBND cấp tỉnh thực hiện chức năng QLNN về kế hoạch và đầu tƣ, gồm: tổng hợp về quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội; tổ chức thực hiện và đề xuất về cơ chế, chính sách quản lý kinh tế – xã hội trên địa bàn cấp tỉnh; quản lý kế hoạch chi đầu tƣ phát triển trong nƣớc (trong đó có kế hoạch đầu tƣ công), đầu tƣ nƣớc ngoài ở địa phƣơng; quản lý nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), nguồn viện trợ phi Chính phủ; đấu thầu; đăng ký kinh doanh trong phạm vi địa phƣơng; tổng hợp và thống nhất quản lý các vấn đề về doanh nghiệp, kinh tế tập thể, kinh tế tƣ nhân; tổ chức cung ứng các dịch vụ công thuộc phạm vi QLNN theo quy định của pháp luật. (5). Kho bạc Nhà nƣớc cấp tỉnh Kho bạc Nhà nƣớc cấp tỉnh là cơ quan trực thuộc Bộ Tài chính, thực hiện chức năng tham mƣu, giúp Bộ Tài chính QLNN về quỹ NSNN, các quỹ tài chính nhà nƣớc và các quỹ khác của Nhà nƣớc đƣợc giao quản lý; quản lý ngân quỹ; tổng kế toán nhà nƣớc. Kho bạc Nhà nƣớc cấp tỉnh còn là cơ quan tham mƣu, giúp UBND cấp tỉnh về cơ chế, chính sách trong huy động vốn, chi đầu tƣ công; thực hiện việc huy động vốn cho NSNN tại địa phƣơng và chỉ đạo kho bạc trên địa bàn cấp huyện thực hiện các thủ tục giải ngân vốn đầu tƣ, trong đó có vốn đầu tƣ công. (6). Chủ đầu tƣ các chƣơng trình, dự án. Chủ đầu tƣ các chƣơng trình, dự án là cơ quan, tổ chức đƣợc giao quản lý chƣơng trình, dự án đầu tƣ công; là đơn vị chịu trách nhiệm trƣớc pháp luật về nội dung của hồ sơ trình cấp có thẩm quyền thẩm định, quyết định. Chủ đầu tƣ có trách nhiệm cung cấp các tài liệu cần thiết cho các cơ quan thẩm định, thẩm tra chƣơng trình, dự án; đề xuất các giải pháp huy động các nguồn vốn để thực hiện chƣơng trình, dự án theo đúng tiến độ, thời gian quy định; chịu trách nhiệm trƣớc pháp luật

Luận Văn: Quản Lý Nhà Nước Về An Ninh, Trật Tự Đô Thị Tại Hà Nội

, ZALO 0932091562 at BÁO GIÁ DV VIẾT BÀI TẠI: chúng tôi

Published on

Luận văn thạc sĩ ngành luật: Quản lý nhà nước về an ninh, trật tự đô thị từ thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội, cho các bạn tham khảo

1. VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI DƯƠNG THANH LIÊM QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ AN NINH, TRẬT TỰ ĐÔ THỊ TỪ THỰC TIỄN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI – 2019

2. VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI DƯƠNG THANH LIÊM QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ AN NINH, TRẬT TỰ ĐÔ THỊ TỪ THỰC TIỄN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI Ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính Mã số: 9.38.01.02 Người hướng dẫn khoa học: chúng tôi Phạm Hồng Thái HÀ NỘI – 2019

3. LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu ghi trong luận án là trung thực. Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. TÁC GIẢ LUẬN ÁN Dương Thanh Liêm

5. ninh, trật tự đô thị Hà Nội……………………………………………………………. 92 3.4. Thực trạng phổ biến, giáo dục pháp luật về quản lý nhà nước về an ninh, trật tự đô thị Hà Nội……………………………………………………….. 105 3.5. Thực trạng thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật trong quản lý nhà nước về an ninh, trật tự đô thị Hà Nội………………………………………………………………………………………. 108 3.6. Nguyên nhân dẫn đến hạn chế trong quản lý nhà nước về an ninh, trật tự đô thị Hà Nội……………………………………………………………………. 115 Kết luận chương 3………………………………………………………………………. 118 Chương 4. QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ AN NINH, TRẬT TỰ ĐÔ THỊ HÀ NỘI…………. 120 4.1. Quan điểm tăng cường quản lý nhà nước về an ninh, trật tự đô thị Hà Nội………………………………………………………………………………………. 120 4.2. Các giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về an ninh, trật tự đô thị Hà Nội…………………………………………………………………………………………….. 127 Kết luận chương 4………………………………………………………………………. 147 KẾT LUẬN………………………………………………………………………………. 149 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC

6. BẢNG QUY ƯỚC CÁCH VIẾT TẮT DÙNG TRONG LUẬN ÁN ANQG An ninh quốc gia ANTT An ninh, trật tự CAND Công an nhân dân CQĐP Chính quyền địa phương HĐND Hội đồng nhân dân QLNN Quản lý nhà nước TTATXH Trật tự an toàn xã hội TTATGT Trật tự an toàn giao thông UBND Ủy ban nhân dân VPPL Vi phạm pháp luật XHCN Xã hội chủ nghĩa

7. 1 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Để góp phần ổn định kinh tế – xã hội và phát triển đất nước, một trong những điều kiện tiên quyết là phải giữ vững an ninh, trật tự, ổn định đời sống chính trị và tinh thần của nhân dân. Đại hội đại biểu lần thứ XII của Đảng xác định: “Củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia, ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và toàn dân” [44, tr.148]. Đây là sự thể hiện quan điểm xuyên suốt của Đảng ta trong lãnh đạo, chỉ đạo sự nghiệp cách mạng của đất nước, nhất là trong tình hình mới, Đảng tiếp tục khẳng định nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt, văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội và củng cố quốc phòng, an ninh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên. Bảo vệ an ninh, trật tự có vị trí đặc biệt quan trọng trong công cuộc bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, quyết định đến sự ổn định chính trị và phát triển toàn diện của đất nước, là một chức năng cơ bản của Nhà nước. Quản lý nhà nước về an ninh, trật tự là một bộ phận của quản lý nhà nước có tác động sâu sắc đến các mặt của đời sống xã hội. Mục tiêu của quản lý nhà nước về an ninh, trật tự là nhằm bảo đảm sự ổn định và an toàn của đất nước, của cả hệ thống chính trị, kinh tế – xã hội, văn hóa, tạo điều kiện cho đất nước phát triển bền vững. Xuất phát từ vai trò của đô thị trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, sự phát triển hay suy thoái của đô thị cũng sẽ tác động tích cực hay tiêu cực tới một vùng, thậm chí đối với cả nước trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội như kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh… Hơn nữa, do những đơn vị hành chính đô thị (thành phố, thị xã, thị trấn) có các đặc điểm khác với những đơn vị hành chính không phải là đô thị – nông thôn (tỉnh, huyện, xã) đã dẫn tới đặc điểm, yêu cầu, nội dung, phương thức

8. 2 quản lý nhà nước khác nhau. Quản lý nhà nước về an ninh, trật tự ở đô thị có ý nghĩa rất quan trọng, tạo lập nền tảng để phát triển kinh tế – xã hội, bảo vệ quyền con người, quyền công dân và luôn được Đảng và Nhà nước ta coi trọng vì đô thị là những địa bàn năng động, đi đầu trong phát huy nội lực, mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế, cũng như liên kết kinh tế với các địa phương trong nước để phát triển. Nơi đây là những trung tâm, là nòng cốt để phát triển kinh tế – xã hội của khu vực và cả nước. Nhìn từ góc độ phát triển tiềm lực quốc gia thì đây là địa bàn số một trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của đất nước; từ góc độ quốc phòng, an ninh thì đây là địa bàn trọng điểm chiến lược, là trung tâm quyết định các chính sách quốc gia và cũng là mục tiêu chống phá ác liệt của các thế lực thù địch, tình hình tội phạm, các tệ nạn xã hội, vi phạm pháp luật diễn biến phức tạp. Hà Nội là đô thị đặc biệt của Việt Nam, là một trong những trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa của cả nước và cũng là một địa bàn trọng điểm, quan trọng về an ninh, trật tự. Năm 2012, Quốc hội đã ban hành Luật Thủ đô, Chính phủ đã quyết định “Phê duyệt Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội thành phố Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050”. Đây là cơ sở pháp lý rất quan trọng để xây dựng đô thị Hà Nội ngày càng văn minh, hiện đại, trong đó vấn đề bảo vệ an ninh, trật tự giữ một vai trò quan trọng, với mục tiêu: “Thủ đô Hà Nội là khu vực phòng thủ vững mạnh, đủ sức đánh thắng kẻ thù trong mọi tình huống. Bảo đảm vững chắc an ninh chính trị, an ninh kinh tế, an ninh xã hội, an ninh tư tưởng, an ninh văn hóa, trật tự an toàn xã hội; bảo đảm tuyệt đối an toàn cho hoạt động của các cơ quan lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, các tổ chức chính trị – xã hội, các cơ quan đại diện ngoại giao, tổ chức quốc tế, các ngày lễ lớn, sự kiện trọng đại và toàn thể nhân dân” [112]. Trên cương vị là Thủ đô của Việt Nam, Hà Nội đã chủ động thiết lập, mở rộng sự quan hệ gắn kết với gần 100 thủ đô, thành phố lớn khắp thế giới. Mục tiêu hội nhập chính trị cũng được thể hiện rõ ràng trong việc Hà Nội chủ

9. 3 động, tích cực tham gia vào các thể chế, diễn đàn đa phương như Hội nghị Thị trưởng Thủ đô các nước ASEAN, Hội nghị Thị trưởng Thủ đô các nước Á – Âu, đăng cai và hỗ trợ tổ chức thành công những sự kiện quốc tế lớn như SEA Games, Hội nghị cấp cao APEC, Hội nghị Mạng lưới các thành phố lớn châu Á thế kỷ XXI (ANMC21)… Những nỗ lực này đã giúp xây dựng hình ảnh một Hà Nội, một Việt Nam ổn định, an toàn, hòa nhập vào đời sống quốc tế và khẳng định đường lối đối ngoại Việt Nam là thành viên tích cực của cộng đồng các quốc gia trên thế giới. Điều này có ý nghĩa lớn khi Đảng và Nhà nước đã xác định rằng hội nhập quốc tế phải nhằm củng cố môi trường hòa bình, tranh thủ tối đa các yếu tố thuận lợi để phát triển đất nước nhanh và bền vững, nâng cao đời sống nhân dân, giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Tuy nhiên, với mức độ đô thị hóa nhanh, cùng với sự phát triển kinh tế – xã hội hiện nay đã dẫn đến đô thị Hà Nội đang gặp nhiều khó khăn, thách thức như: Sự phát triển mất cân đối, thiếu bền vững; vấn đề quy hoạch, quản lý đất đai, nhà ở, quản lý kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế, môi trường, giao thông đã vượt quá khả năng điều hành của chính quyền đô thị; tình hình an ninh, trật tự diễn biến phức tạp, các loại hình dịch vụ kinh doanh nhạy cảm như karoke, vũ trường, nhà nghỉ, cầm đồ, mátxa… thường xuyên không chấp hành quy định về an ninh, trật tự, để xảy ra tệ nạn ma túy, mại dâm, chứa chấp tội phạm, nảy sinh các hoạt động bảo kê, buôn bán ma túy; các thế lực thù địch, phản động và số đối tượng chống đối trong nước thường xuyên tuyên truyền những thông tin sai lệch với chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước… Tuy vậy, hiện nay vấn đề quản lý nhà nước về an ninh, trật tự đô thị Hà Nội vẫn chưa được nghiên cứu toàn diện, thấu đáo nên chưa có biện pháp quản lý nhà nước hữu hiệu đối với lĩnh vực an ninh, trật tự đô thị. Trên thực tế, khi thực hiện chức năng quản lý nhà nước về an ninh, trật tự đô thị, trách nhiệm của các bộ, ngành, chính quyền đô thị và người đứng đầu các cơ quan hành chính nhà nước chưa được nâng cao. Các cơ quan

12. 6 4. Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 4.1. Cơ sở phương pháp luận Luận án được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của Học thuyết Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, pháp luật của Nhà nước trên lĩnh vực quản lý nhà nước về an ninh, trật tự. 4.2. Phương pháp nghiên cứu Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã sử dụng các phương pháp như: Phân tích, so sánh, tổng hợp, thống kê, lịch sử cụ thể… Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng nhằm làm rõ những nội dung của luận án; đảm bảo tính khoa học giữa các vấn đề của luận án. Cụ thể như: – Chương 1, tổng quan tình hình nghiên cứu về quản lý nhà nước về an ninh, trật tự đô thị, xác định những vấn đề luận án cần giải quyết, luận án sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, lịch sử để đánh giá những kết quả đã được nghiên cứu, mà luận án có thể kế thừa phát triển và xác định những vấn đề luận án cần giải quyết mới. – Chương 2, phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh được sử dụng như công cụ chủ đạo để đánh giá các quan điểm khoa học khác nhau và đưa ra khái niệm quản lý nhà nước về an ninh, trật tự đô thị, chỉ ra những đặc điểm, nội dung, phương pháp quản lý. – Chương 3, phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, nghiên cứu tài liệu để đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về an ninh, trật tự đô thị Hà Nội; chỉ ra những ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân của tình trạng đó. – Chương 4, phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng để đưa ra các quan điểm, đề xuất giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về an ninh, trật tự đô thị Hà Nội. 5. Ý nghĩa khoa học của luận án – Về mặt lý luận: Luận án góp phần làm sáng tỏ phương diện lý luận, làm

22. 16 ủy Hà Nội, đăng trên tạp chí Công an nhân dân, kỳ 2, tháng 8/2015. Bài viết đã khái quát quá trình Đảng ta đã tổ chức xây dựng và trực tiếp lãnh đạo, rèn luyện lực lượng CAND trong sự nghiệp bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân, đảm bảo an ninh chính trị và TTATXH; đã xác định vị trí, vai trò của thủ đô Hà Nội là một trung tâm chính trị – hành chính quốc gia, trung tâm lớn về văn hóa, khoa học, giáo dục, kinh tế và giao dịch quốc tế, đồng thời là mục tiêu, địa bàn các thế lực thù địch, đối tượng phản động và các loại tội phạm tập trung hoạt động, chống phá. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của Đảng ủy Công an Trung ương, của Thành ủy Hà Nội, Công an thành phố Hà Nội đã góp phần quan trọng, tích cực giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm TTATXH, phục vụ tốt nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội và đối ngoại của thành phố Hà Nội. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, Thành ủy Hà Nội cũng nghiêm túc nhận thấy những hạn chế trong công tác chỉ đạo, xây dựng phương án đảm bảo ANTT; từ đó để tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, Thành ủy Hà Nội đã đưa ra những nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm nhằm bảo đảm ANTT trên địa bàn đô thị Hà Nội. Bài viết đã giúp cho nghiên cứu sinh khái quát được quá trình hơn 70 năm xây dựng và phát triển của lực lượng Công an, nắm được chủ trương của Thành ủy Hà Nội trong lãnh đạo, chỉ đạo công tác bảo đảm ANTT tại thành phố Hà Nội. Sách tham khảo “Hoàn thiện mô hình tổ chức và quản lý đô thị Hà Nội, luận cứ và giải pháp”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2010, của các tác giả Nguyễn Quang Ngọc, Đoàn Minh Huấn, Bùi Xuân Dũng. Cuốn sách là công trình nghiên cứu khá hoàn chỉnh về lý luận, thực trạng tổ chức chính quyền đô thị ở Hà Nội; đã mô hình hóa được tổ chức chính quyền đô thị Hà Nội trong mối quan hệ với chính quyền Trung ương, chính quyền địa phương (CQĐP) và chính quyền đô thị ở những thành phố khác. Đề tài luận văn thạc sĩ “Mô hình tổ chức chính quyền đô thị ở Hà Nội” của tác giả Nguyễn Thị Thu Thảo, năm 2013 đã phân tích một số vấn đề lý

23. 17 luận về mô hình tổ chức chính quyền đô thị; làm rõ thực trạng tổ chức mô hình chính quyền đô thị ở Hà Nội. Đề tài trên đã phân tích, làm rõ thực trạng mô hình tổ chức của chính quyền đô thị ở Hà Nội; đã làm rõ một số đặc trưng, phân loại đô thị có giá trị tham khảo quan trọng để nghiên cứu sinh kế thừa khi thực hiện đề tài luận án. Đề tài luận án tiến sĩ “Di dân tự do nông thôn – đô thị với trật tự xã hội ở Hà Nội” của tác giả Đinh Quang Hà, năm 2014. Đề tài đã phân tích, đánh giá thực trạng dân di cư tự do đến khu vực nội thành Hà Nội, đã tạo áp lực lớn về các vấn đề kinh tế – xã hội, làm tăng đột biến về dân số cơ học, về cơ cấu dân cư, tạo những áp lực về việc làm, chỗ ở, giao thông, an ninh xã hội, gây khó khăn trong QLNN về ANTT ở Hà Nội. Đề tài giúp cho nghiên cứu sinh đánh giá được các yếu tố tác động đến ANTT đô thị Hà Nội, từ đó làm cơ sở cho việc đưa ra một số giải pháp khắc phục tác động tiêu cựu của di dân tự do giữa nông thôn và thành thị với trật tự xã hội ở Hà Nội. Ngoài ra, còn nhiều công trình khác nghiên cứu về đô thị Hà Nội ở các khía cạnh khác nhau, có giá trị tham khảo đối với đề tài luận án về những yếu tố tác động, ảnh hưởng đến QLNN về ANTT đô thị Hà Nội như: Thu Hà (2008), “Chính quyền đô thị: Phân cấp không chia quyền”, http://tuanvietnam.vietnamnet.vn; Lê Quang Cảnh (2011), “Ảnh hưởng tiêu cực của đô thị hóa và gợi ý chính sách cho quá trình đô thị hóa thành phố Hà Nội”, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế 393 – Tháng 2/2011; Quang Chung (2012), “Chính quyền đô thị: vướng mắc từ Hiến pháp”, http://www.thesaigontimes.vn; Lê Sơn (2012), “Ban chỉ đạo Đề án thí điểm mô hình tổ chức chính quyền đô thị họp phiên thứ nhất” http://baodientu.chinhphu.vn; Một số định hướng chiến lược trong việc phát triển đô thị bền vững tại Hà Nội, Kỷ yếu hội thảo quốc tế lần thứ tư Việt Nam trên con đường hội nhập và phát triển bền vững, Viện Việt Nam học và khoa học phát triển, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, năm 2015; Việt Hà (2015),

24. 18 “Đảm bảo an ninh chính trị, trât tự an toàn xã hội trên địa bàn thủ đô”, http://hanoi.gov.vn. 1.1.3. Những công trình nghiên cứu về các giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về an ninh, trật tự đô thị Hà Nội Đề tài cấp Bộ “Một số giải pháp để thiết lập trật tự, kỷ cương trong quản lý nhà nước đối với các đô thị trực thuộc Trung ương” của tác giả Phạm Kim Giao, Học viện Hành chính, 2005. Đề tài nghiên cứu công tác QLNN đối với các đô thị trực thuộc Trung ương. Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng QLNN trên các lĩnh vực quản lý quy hoạch đô thị, quản lý nhà ở và đất đai ở đô thị, hạ tầng kỹ thuật và vệ sinh môi trường đô thị Hà Nội và các thành phố trực thuộc Trung ương, đề tài đã làm rõ những kết quả đã đạt được, những hạn chế, yếu kém và làm sáng tỏ các yếu tố tác động đến thiết lập trật tự, kỷ cương trong QLNN đối với các đô thị. Kết quả của đề tài là tài liệu tham khảo giúp cho nghiên cứu sinh hiểu sâu hơn về hệ thống kiểm soát đô thị. Sách chuyên khảo “Những giải pháp nâng cao hiệu quả đảm bảo an ninh, trật tự ở các thành phố lớn, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế mở”, năm 2006, được biên tập từ đề tài cấp Nhà nước, mã số KX 07 – 05, do chúng tôi Lê Văn Cương chủ nhiệm, làm tài liệu phục vụ nghiên cứu, học tập và vận dụng trong CAND. Cuốn sách đã tập trung nghiên cứu những nội dung: Vị trí, vai trò các thành phố lớn, khu công nghiệp, khu kinh tế mở với yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước; đã chỉ ra những yếu tố tác động đến ANTT ở các thành phố lớn, trong đó có thành phố Hà Nội – đô thị loại đặc biệt của Việt Nam; đánh giá thực trạng tình hình ANTT ở các thành phố lớn; đề xuất, kiến nghị các giải pháp đảm bảo ANTT tại các thành phố lớn, khu công nghiệp trong thời kì đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đề tài cấp Bộ “Quản lý nhà nước về trật tự an toàn xã hội tại các địa bàn công cộng đô thị – Thực tiễn tình hình và những kiến nghị đề xuất”, của

25. 19 tác giả Vương Đức Phong, năm 2012. Đề tài nghiên cứu làm rõ nội dung cơ bản QLNN về TTATXH tại các địa bàn công cộng đô thị, trong đó có đô thị Hà Nội, từ đó đánh giá thực trạng tình hình trật tự và kiến nghị đề xuất các giải pháp nhằm đảm bảo TTATXH tại các địa bàn công cộng đô thị. Quản lý nhà nước về ANTT đô thị bao gồm quản lý trên nhiều lĩnh vực, như: QLNN về an ninh chính trị, QLNN về an ninh kinh tế, quản lý về bảo vệ an ninh văn hóa – tư tưởng, quản lý về bảo vệ an ninh thông tin, bảo vệ bí mật nhà nước, quản lý xuất cảnh, nhập cảnh, quản lý người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài cư trú tại Việt Nam, quản lý phòng chống tội phạm, quản lý hành chính về trật tự xã hội, quản lý trật tự, an toàn giao thông (TTATGT), trật tự công cộng, quản lý về phòng cháy, chữa cháy… Thời gian qua, đã có không ít các công trình nghiên cứu QLNN về ANTT đô thị Hà Nội trên các lĩnh vực cụ thể như: Đề tài cấp cơ sở “Phòng ngừa, phát hiện và triệt phá các điểm tổ chức sử dụng trái phép ma túy tổng hợp tại các cơ sở kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự của lực lượng cảnh sát Công an thành phố Hà Nội”, của tác giả Ngô Gia Bắc, Học viện Cảnh sát nhân dân, năm 2006. Đề tài đã đánh giá hiệu quả hoạt động phòng ngừa, phát hiện và triệt phá các điểm tổ chức sử dụng trái phép ma túy tổng hợp tại các cơ sở kinh doanh có điều kiện về ANTT của lực lượng Cảnh sát Công an thành phố Hà Nội, nêu lên những hạn chế, bất cập, khó khăn và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác này của lực lượng Cảnh sát Công an thành phố Hà Nội. Đề tài cấp cơ sở “Quản lý nghề kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự phục vụ công tác phòng ngừa tội phạm của lực lượng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an quận Thanh Xuân, Hà Nội – Thực trạng và giải pháp”, của tác giả Đặng Thị Ngọc Hà, năm 2007. Đề tài đánh giá công tác quản lý nghề kinh doanh có điều kiện về ANTT phục vụ công tác phòng ngừa tội phạm của lực lượng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an quận

26. 20 Thanh Xuân, Hà Nội; làm rõ những kết quả đạt được, những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân. Từ đó, đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác này đối với lực lượng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an quận Thanh Xuân, Hà Nội. Đề tài cấp cơ sở “Nâng cao hiệu quả quản lý lưu trú trong các cơ sở kinh doanh khách sạn, nhà nghỉ theo chức năng của lực lượng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an thành phố Hà Nội” của tác giả Đinh Văn Tú, năm 2013. Đề tài đề cập đến việc lưu trú của những người ở các tỉnh, thành phố khác, kể cả khách du lịch trong và ngoài nước ở các khách sạn, nhà nghỉ, nhà trọ của đô thị Hà Nội. Ngoài những người đến lưu trú với mục đích chính đáng thì tội phạm, phần tử xấu cũng trà trộn, lợi dụng các cơ sở kinh doanh lưu trú để hoạt động. Đã có nhiều vụ phạm pháp hình sự như trộm cắp, giết người, cướp của, hiếp dâm… xảy ra trong các cơ sở kinh doanh khách sạn, nhà nghỉ mà thủ phạm không ai khác lại là khách đến lưu trú trong các cơ sở này thực hiện. Bên cạnh đó, các tệ nạn xã hội như cờ bạc, mại dâm, ma túy cũng diễn ra hết sức phức tạp trong các cơ sở này. Nhiều đối tượng truy nã cũng lợi dụng các cơ sở kinh doanh lưu trú làm nơi ẩn náu, lẩn trốn. Có thể khẳng định, các cơ sở lưu trú tiềm ẩn nhiều vấn đề phức tạp về ANTT ở đô thị Hà Nội. Có nhiều bài báo trên các tạp chí chuyên ngành viết về các lĩnh vực, các hoạt động riêng lẻ trong hoạt động QLNN về ANTT đô thị Hà Nội, có thể điểm qua một số bài viết sau: Nguyễn Thị Thảo (2014), Thành phố Hà Nội: quản lý cơ sở kinh doanh dịch vụ cầm đồ, Tạp chí Công an nhân dân (chuyên đề an ninh và xã hội), số 5/2014; Nguyễn Xuân Văn – Nghiêm Đình Hưởng (2014), Nâng cao hiệu quả công tác điều tra cơ bản đối với cơ sở kinh doanh Massage của lực lượng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội trên địa bàn thành phố Hà Nội, Tạp chí Cảnh sát, số 7/2014; Nguyễn Đức Chung (2015), Kinh nghiệm đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” và phòng, chống

30. 24 hiệu quả hoạt động QLNN về ANTT. Tuy vậy, các nhóm giải pháp phần nhiều không cập nhật được tính thời sự hiện nay; giải pháp mang tính chất đơn lẻ trong từng lĩnh vực cụ thể của QLNN về ANTT; chưa đánh giá khái quát được mức độ hoàn thiện của pháp luật về ANTT. Hiến pháp, năm 2013, Luật Tổ chức chính quyền địa phương, năm 2015, Luật Công an nhân dân, năm 2018 đã được ban hành, đặc biệt là Văn kiện Đại hội toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã có những định hướng mới… Do đó, các giải pháp mà các nhà nghiên cứu đã nêu chắc chắn sẽ phải nghiên cứu, phân tích sâu hơn. 1.3. Những vấn đề luận án cần giải quyết Thứ nhất, về quản lý nhà nước, “an ninh quốc gia”, “an ninh chính trị”, “trật tự an toàn xã hội”… tuy đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhưng còn nhiều quan điểm khác nhau, chưa thống nhất, do đó cần được tiếp tục nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận QLNN về ANTT đô thị (khái niệm, đặc điểm, nội dung, phương pháp QLNN về ANTT đô thị). Thứ hai, nghiên cứu, đánh giá được thực trạng QLNN về ANTT đô thị Hà Nội, chỉ ra những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế, đồng thời phân tích một cách cụ thể, toàn diện về những yếu tố bảo đảm tăng cường QLNN về ANTT đô thị. Thứ ba, Hiến pháp, năm 2013 đã có nhiều quy định mới về tổ chức bộ máy Nhà nước, trong đó có tổ chức CQĐP ở đô thị. Cụ thể: Theo Khoản 2, Điều 111, Hiến pháp, năm 2013 quy định “Cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân được tổ chức phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt do luật định”. Như vậy, vấn đề đặt ra là chính quyền đô thị Hà Nội sẽ phải tổ chức theo mô hình như thế nào cho hợp lý? Việc đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền đô thị Hà Nội có tác động không nhỏ tới hoạt động QLNN về ANTT đô thị. Các quy định của pháp luật trong QLNN về ANTT đô thị cần được quyết định trên cơ sở Hiến định phù hợp với thực tiễn. Việc nghiên cứu hoàn thiện

31. 25 các quy định pháp luật về QLNN về ANTT đô thị nói chung, QLNN về ANTT đô thị Hà Nội nói riêng là việc làm cần thiết và quan trọng đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Thứ tư, nghiên cứu và xác định các quan điểm, giải pháp tổng thể mang tính chiến lược để tăng cường QLNN về ANTT đô thị Hà Nội. Như vậy, tính đến thời điểm hiện tại chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách chuyên biệt trong QLNN về ANTT đô thị Hà Nội, ở cấp độ tiến sĩ luật học. Đề tài “Quản lý nhà nước về an ninh, trật tự đô thị từ thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội” sẽ là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu cụ thể, trên cơ sở kế thừa và tiếp thu những tri thức khoa học của những công trình nghiên cứu trước. 1.4. Giả thuyết và câu hỏi nghiên cứu 1.4.1. Giả thuyết nghiên cứu Quản lý nhà nước về an ninh, trật tự đô thị tuy đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhưng còn nhiều quan điểm, cách hiểu khác nhau về QLNN về ANTT đô thị, chưa chỉ ra được những đặc điểm của QLNN về ANTT đô thị và chưa xác định rõ các hoạt động, lĩnh vực cụ thể được quy định trong các văn bản pháp luật QLNN về ANTT. Quản lý nhà nước về ANTT đô thị Hà Nội tuy đã đạt được nhiều kết quả, nhưng cũng còn những bất cập, chưa hợp lý. Trước yêu cầu, nhiệm vụ mới của công tác bảo vệ ANTT trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay, cần bổ sung, điều chỉnh các giải pháp hữu ích, khả thi cả về mặt pháp luật; về nâng cao năng lực, trình độ, phẩm chất của cán bộ, công chức… để tăng cường QLNN về ANTT đô thị Hà Nội, có tác dụng phòng ngừa, đấu tranh, kịp thời xử lý hiệu quả các vụ việc, đảm bảo các yêu cầu bảo vệ, giữ vững ANTT trong tình hình mới. 1.4.2. Câu hỏi nghiên cứu Để tăng cường QLNN về ANTT đô thị Hà Nội, nhiệm vụ của luận án

32. 26 cần tập trung giải đáp một số câu hỏi nghiên cứu sau: – Cơ sở lý luận của QLNN về ANTT đô thị được luận giải như thế nào? Để trả lời được câu hỏi lớn này, cần đặt ra các câu hỏi nhỏ cụ thể là: Quản lý nhà nước về an ninh, trật tự đô thị là gì? Nội dung quản lý nhà nước về an ninh, trật tự đô thị? Các bảo đảm nhằm tăng cường quản lý nhà nước về an ninh, trật tự đô thị? – Thực trạng quản lý nhà nước về an ninh, trật tự đô thị Hà Nội như thế nào? Đánh giá nó đáp ứng như thế nào với các yêu cầu của quản lý nhà nước về an ninh, trật tự, các yêu cầu của việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa và các điều kiện chính trị, kinh tế – xã hội hiện nay? – Các giải pháp cần được áp dụng để tăng cường quản lý nhà nước về an ninh, trật tự đô thị Hà Nội? Cần triển khai ra sao?

34. 28 Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ AN NINH, TRẬT TỰ ĐÔ THỊ 2.1. Khái niệm an ninh, trật tự đô thị An ninh, trật tự được sử dụng một cách khá phổ biến và là một khái niệm thuộc phạm trù chính trị – pháp lý. Tuy vậy, thực tế cho thấy, mặc dù cùng muốn đề cập đến vấn đề an toàn, yên ổn của một quốc gia trên các phương diện chính trị, kinh tế – xã hội… nhưng trong nhiều văn bản của Đảng, Nhà nước và một số công trình nghiên cứu, dưới nhiều ngữ cảnh khác nhau, khái niệm an ninh, trật tự được sử dụng bằng các thuật ngữ cụ thể khác nhau. Có tác giả quan niệm an ninh, trật tự là bao hàm an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội, nhưng cũng có tác giả quan niệm dưới góc độ hẹp hơn, an ninh, trật tự chỉ bao hàm an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội… Những cách tiếp cận này thực chất chỉ là cách lý giải cụ thể dưới các góc độ rộng, hẹp khác nhau của một vấn đề. Đảng ta đã có quá trình phát triển tư duy lý luận từng bước làm rõ, bổ sung, phát triển kịp thời qua các nhiệm kỳ đại hội và triển khai trong thực tiễn mọi công việc để đáp ứng nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Đại hội IX của Đảng Công sản Việt Nam xác định: “Bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội và nền văn hóa; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ sự nghiệp đổi mới và lợi ích quốc gia, dân tộc” [42, tr.117]; Đại hội XI của Đảng phát triển lý luận bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa lên một tầm cao mới: “Thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ…” [43]. Đại hội XII của Đảng tiếp tục xác định: “Củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia, ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và toàn

36. 30 Hiện nay, xu thế toàn cầu hóa đã khiến nhiều quốc gia có sự thay đổi, phát triển quan niệm về ANQG, hướng đến cách tiếp cận đa chiều, toàn diện hơn. Theo đó, ANQG hiện nay không chỉ là an ninh truyền thống mà gồm cả an ninh phi truyền thống, không chỉ trên bình diện quan hệ đối ngoại giữa các nhà nước mà bao gồm cả những quan hệ trong nội bộ quốc gia, không chỉ gồm an ninh chính trị, quân sự mà gồm cả các nhân tố phi chính trị, phi quân sự. Các mối đe dọa ANQG hiện nay đến từ nhiều yếu tố mang bản chất khác nhau, có thể là chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội hoặc môi trường… ANQG được nhìn nhận như một tổng thể bao gồm các nội dung, lĩnh vực chủ yếu như: An ninh chính trị; an ninh kinh tế; an ninh tư tưởng – văn hóa; an ninh môi trường; an ninh con người… Mỗi quốc gia tùy vào bối cảnh tình hình, điều kiện, trình độ phát triển và thực tiễn đất nước đặt trọng tâm vào các nội dung của ANQG không giống nhau. Các nước đang phát triển thường đặt trọng tâm các nội dung ANQG thiên về hướng đối nội, đặt lợi ích tồn tại của chế độ chính trị ở vị trí trung tâm của ANQG bên cạnh an ninh quân sự. Ở Việt Nam, theo Luật An ninh quốc gia, năm 2004: An ninh quốc gia là sự ổn định, phát triển bền vững của chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, sự bất khả xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc [87, tr1]. Từ điển Bách khoa CAND, năm 2005 khái niệm: An ninh quốc gia là sự ổn định và phát triển bền vững của một chế độ xã hội, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và các lợi ích quan trọng khác của một quốc gia” [122, tr.24]. Thuật ngữ “trật tự an toàn xã hội” được sử dụng vào những năm 1970, thay cho thuật ngữ “trật tự trị an” trước đó. Thuật ngữ này được sử dụng ngay trong Văn kiện Đại hội lần thứ IV của Đảng Cộng sản Việt Nam, năm 1976: “Giáo dục nhằm nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng cho quần chúng nhân dân, phát động phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc và trật tự

37. 31 an toàn xã hội”; Điều 45, Hiến pháp, năm 1992: “Các lực lượng vũ trang nhân dân phải tuyệt đối trung thành với Tổ quốc và nhân dân, có nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và những thành quả của cách mạng, cùng toàn dân xây dựng đất nước”; Điều 46, Hiến pháp, năm 2013: “Công dân có nghĩa vụ tuân theo Hiến pháp và pháp luật; tham gia bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội và chấp hành những quy tắc sinh hoạt công cộng”… Quan niệm về trật tự an toàn xã hội qua từng thời kỳ cũng có sự thay đổi. Kết quả của công trình nghiên cứu Từ điển Bách khoa nghiệp vụ Công an, thuộc Viện Chiến lược và Khoa học Công an, Bộ Công an năm 2000 đã đưa ra khái niệm: “Trật tự an toàn xã hội là tình trạng xã hội có tổ chức, có kỷ luật, mọi người được sống yên vui lành mạnh trong xã hội theo quy định bằng các luật lệ của nhà nước, quy phạm của đạo đức, quy phạm của cuộc sống cộng đồng và thuần phong mỹ tục” [121]. Quan niệm này cũng có những hạn chế khi xác định nội hàm, khách thể của TTATXH; theo Từ điển Bách khoa CAND Việt Nam, năm 2005: Trật tự an toàn xã hội là trạng thái xã hội có trật tự, kỷ cương, trong đó mọi người được sống yên ổn trên cơ sở các quy phạm pháp luật và chuẩn mực đạo đức, pháp lý xác định [122]. Từ sự thống nhất các quan niệm nêu trên, bộ sách Khoa học Công an Việt Nam đã đưa ra khái niệm: Trật tự an toàn xã hội là trạng thái ổn định, có trật tự kỷ cương, được xác lập trên cơ sở các quy định của pháp luật, các giá trị, chuẩn mực đạo đức xã hội được tôn trọng và thừa nhận, mà từ đó mọi người dân có cuộc sống bình yên, quyền và lợi ích hợp pháp không bị xâm hại, mọi hoạt động của nhà nước, tổ chức và cá nhân được thực hiện nghiêm theo quy định của pháp luật” [56, tr.13]. Bảo vệ ANQG là phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh làm thất bại các hoạt động xâm phạm ANQG. Nhiệm vụ bảo vệ ANQG được quy định

39. 33 Ngược lại, không đảm bảo TTATXH để tội phạm, tệ nạn xã hội lộng hành, kỷ cương pháp luật không nghiêm, tài sản của nhà nước bị xâm hại, công dân không được bảo vệ, lòng dân bất an không tin vào chế độ, vào sự quản lý của nhà nước, các vụ biểu tình, khiếu kiện diễn biến phức tạp, nghiêm trọng kéo dài, không kiểm soát được sẽ gây ảnh hưởng rất xấu, thậm chí chuyển hóa thành vấn đề chống đối chính trị, từ đó sẽ tạo điều kiện cho các thế lực thù địch lợi dụng phá hoại ANQG. Việc phân biệt ANQG và TTATXH chỉ mang tính chất học thuật. Trong thực tế, QLNN về ANTT với hai nội dung như trên đã phân tích luôn gắn liền với nhau và tạo nên hai phương diện mà Nhà nước đặc biệt quan tâm bảo vệ thông qua hoạt động quản lý của mình. An ninh, trật tự là khái niệm chính trị – pháp lý, hàm chứa an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội, dùng để chỉ trạng thái ổn định, an toàn của mọi lĩnh vực thuộc đời sống chính trị – xã hội của một dân tộc, một quốc gia. Thực tiễn phát triển, biến đổi xã hội của nhiều quốc gia cho thấy, để đất nước có được đời sống kinh tế – xã hội bình thường thì các thiết chế chính trị, xã hội phải được vận hành theo những nguyên lý, trật tự nhất định, nếu phá vỡ trật tự đó thì xã hội sẽ rối loạn… Do đó, xã hội cần có sự bảo đảm an ninh, an toàn và thiết lập một trật tự với sự tuân thủ những quy tắc của đời sống xã hội. An ninh, trật tự chính là sự bảo đảm bằng sức mạnh trên cơ sở pháp luật của quốc gia để giữ vững trật tự xã hội, tạo thuận lợi cho việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội. Đô thị là một khu vực lãnh thổ quốc gia, là một sản phẩm phát triển của loài người, mặc dù ra đời muộn hơn các điểm dân cư nông thôn nhưng với điều kiện sinh hoạt tốt, văn minh, hiện đại hơn, có tổ chức chặt chẽ, khoa học và hiệu quả kinh tế cao hơn, có trình độ văn hóa cao, đô thị ngày càng thu hút nhiều dân cư đến sinh sống. Đô thị không chỉ là nơi tiêu biểu cho sự phát triển, thịnh vượng và văn minh mà còn là những trung tâm truyền bá văn minh, là đầu tàu thúc đẩy các vùng xung quanh phát triển và trong tương lai sẽ là mô

40. 34 hình cư trú chủ yếu của con người. Theo Luật Quy hoạch đô thị năm 2009, đô thị “là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố, nội thị, ngoại thị của thị xã, thị trấn”. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của kinh tế – xã hội, tốc độ đô thị hóa nhanh, dân nhập cư tăng cao, chính sách quản lý đô thị và công tác quản lý đô thị chưa bắt kịp với sự phát triển xã hội đã làm nảy sinh nhiều tệ nạn xã hội, tội phạm, ô nhiễm môi trường… làm cho tình hình ANTT đô thị có nhiều diễn biến phức tạp. Nhiệm vụ bảo vệ an ninh, trật tự là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân và của cả hệ thống chính trị. Ủy ban nhân dân (UBND) các cấp ở đô thị (cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương) là cơ quan thẩm quyền chung trong việc tổ chức thực hiện bảo vệ ANTT tại địa phương mình. Công an ở đô thị là cơ quan chuyên trách có trách nhiệm tham mưu, báo cáo trước UBND về công tác đảm bảo ANTT, đồng thời là lực lượng trực tiếp triển khai thực hiện bảo vệ ANTT đô thị theo phân công, phân cấp của Công an cấp trên. Hiến pháp, năm 2013 xác định: “Nhà nước xây dựng Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, làm nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm” [90]. Điều này phù hợp với nguyên lý phổ biến: Bộ sinh ra để quản lý ngành, lĩnh vực và mỗi việc chỉ nên do một bộ quản lý tránh trùng dẫm trong quản lý nhà nước [80, tr.27]. Khắc phục triệt để sự trùng lắp, chồng chéo chức năng, nhiệm vụ để một tổ chức có thể đảm nhiệm nhiều việc, nhưng một việc chỉ do một tổ chức chủ trì và chịu trách nhiệm chính [5]. Lực lượng Công an tham mưu cho các cấp ủy Đảng và phối hợp với các cơ quan, ban, ngành thực hiện nhiệm vụ bảo vệ ANTT đô thị. Theo quan điểm từ Nghị quyết Trung ương 3 (Khóa VIII) yêu cầu: Phân

41. 35 định trách nhiệm, thẩm quyền giữa các cấp chính quyền theo hướng phân cấp rõ hơn cho địa phương, kết hợp chặt chẽ quản lý ngành và quản lý lãnh thổ, thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ… Văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ XII của Đảng vẫn tiếp tục yêu cầu: Đổi mới tổ chức hoạt động của chính quyền địa phương. Nâng cao chất lượng hoạt động của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân các cấp, bảo đảm quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm trong việc quyết định và tổ chức thực hiện những chính sách trong phạm vi được phân cấp. Nghiên cứu tổ chức, thẩm quyền của chính quyền ở nông thôn, đô thị, hải đảo. Theo đó, vấn đề ANTT nói chung và ANTT đô thị nói riêng có những nét chung nhưng không phải là một. Có thể hiểu, an ninh, trật tự đô thị là trạng thái an toàn, ổn định, có trật tự kỷ cương về mọi mặt của xã hội đô thị, được xác lập trên cơ sở các quy định của pháp luật nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người dân không bị xâm hại, mọi hoạt động của Nhà nước, tổ chức, cá nhân được thực hiện nghiêm theo quy định của pháp luật, tạo môi trường đô thị phát triển bền vững theo những nguyên tắc nhất định. Trong một chỉnh thể thống nhất không thể tách rời của một quốc gia độc lập có chủ quyền, ANTT đô thị thể hiện mối quan hệ chính trị pháp lý trên hai mặt. Trước hết, đó là việc thiết lập và duy trì sự an toàn, ổn định và phát triển bền vững của các lĩnh vực chính trị, kinh tế – xã hội, văn hóa trên địa bàn đô thị. Đồng thời, phải đảm bảo hiệu lực QLNN từ Trung ương tới cơ sở, đảm bảo tính thống nhất và toàn vẹn của một quốc gia độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Nền tảng của ANTT đô thị là vấn đề an dân, đảm bảo sự đoàn kết nhất trí về chính trị và tinh thần trong nội bộ quần chúng, trong hệ thống chính trị ở đô thị, dưới sự quản lý của Nhà nước. ANTT đô thị lấy xây dựng, phát triển và lành mạnh hóa các quan hệ xã hội làm mục đích, lấy phát triển kinh tế – xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa làm nền tảng, giữ vững sự ổn định chính trị – xã hội, tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển về mọi mặt của đô thị, góp phần đắc lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Công An Tp Hà Nội: Tăng Cường Quản Lý Một Số Ngành Nghề Đầu Tư, Kinh Doanh Có Điều Kiện

Tuy nhiên, thời gian gần đây, công tác này còn bộc lộ một số tồn tại, sơ hở, thiếu sót. Tại một số địa bàn, việc quản lý còn mang tính hình thức, hồ sơ quản lý còn đơn thuần, không bổ sung tài liệu thường xuyên; công tác kiểm tra, xử lý chưa nghiêm, chưa triệt để, nên vẫn tồn tại các cơ sở hoạt động trong lĩnh vực đầu tư kinh doanh, dịch vụ có điều kiện về ANTT không có Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, hoạt động không đúng nội dung có trong đăng ký kinh doanh hoặc không có Giấy chứng nhận đủ điều kiện về ANTT nhưng vẫn hoạt động.

Tình trạng các cơ sở kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng hoạt động quá giờ quy định vẫn xảy ra, tạo thành các tụ điểm phức tạp về ANTT, gây bức xúc trong dư luận…

Đánh giá nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên, theo phòng Cảnh sát Quản lý hành chính về Trật tự xã hội cho biết, do lợi nhuận từ việc kinh doanh karaoke cao nên một số chủ cơ sở kinh doanh đã dùng mọi hình thức để biến tướng ra nhiều hình thức như “Hát gia đình”; ” Hát cho nhau nghe”, kinh doanh cà phê trá hình…

Công an TP Hà Nội tăng cường quản lý các cơ sở kinh doanh có điều kiện. (Ảnh: L.T)

Các cửa hàng này sử dụng người lao động làm việc tại cơ sở không có hợp đồng lao động, khi khách có nhu cầu thì chủ cơ sở điều nhân viên nữ từ nơi khác đến, sử dụng nhân viên nữ phục vụ trong một phòng hát quá số lượng quy định, nhảy múa khiêu dâm cho khách khi có yêu cầu, hoạt động kinh doanh karaoke quá giờ quy định.

Các cơ sở kinh doanh ngành nghề kinh doanh có điều kiện nhạy cảm về ANTT thường có sự mua đi, bán lại về tư cách pháp nhân, chủ cũ không kinh doanh nữa nhưng khi có sự việc xảy ra chủ cũ vẫn đứng ra giải quyết do đó gây khó khăn cho cơ quan công an trong công tác quản lý, đặc biệt là với loại hình kinh doanh karaoke và cầm đồ (có trường hợp chủ cơ sở kinh doanh chỉ làm các thủ tục hành chính để đủ tư cách pháp nhân rồi bán lại).

Lợi dụng sự thông thoáng của Luật Doanh nghiệp, nhiều chủ cơ sở kinh doanh khi vi phạm pháp luật hoặc bị đình chỉ, thu hồi giấy phép tại địa chỉ này đã tìm cách thay đổi người đại diện pháp luật để tiếp tục hoạt động.

Để khắc phục những tồn tại, sơ hở, thiếu sót trên, đồng thời thực hiện nghiêm túc Nghị định số 96/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ Quy định điều kiện về ANTT đối với một số ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện và các Thông tư hướng dẫn của Bộ Công an, Công an TP đã xây dựng Kế hoạch số 229 về tăng cường công tác quản lý Nhà nước đối với một số ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về ANTT, ngành nghề kinh doanh dễ phát sinh vi phạm pháp luật trong tình hình mới.

Bên cạnh đó, tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến các quy định của pháp luật về điều kiện an ninh, trật tự đối với các cơ sở kinh doanh có điều kiện, cơ sở kinh doanh dịch vụ nhạy cảm về ANTT; phương thức, thủ đoạn hoạt động của các loại tội phạm, tệ nạn xã hội và hướng dẫn cơ sở kinh doanh chấp hành chế độ thông tin, báo cáo với cơ quan công an theo quy định của pháp luật; vận động quần chúng nhân dân tích cực tham gia xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, đặc biệt là phong trào phát hiện, tố giác, đấu tranh, phòng ngừa các loại tội phạm và tệ nạn xã hội.

Thường xuyên tổ chức điều tra cơ bản, rà duyệt, xác định rõ những cơ sở hoạt động kinh doanh có dấu hiệu nghi vấn phức tạp về tội phạm và tệ nạn xã hội, phân công, phân cấp cụ thể, rõ ràng cho từng đơn vị quản lý theo chức năng, nhiệm vụ được giao và các quy định của Nhà nước về ANTT.

Thiết lập, củng cố hồ sơ quản lý theo quy định, thường xuyên bổ sung các tài liệu, cập nhật thông tin phản ánh diễn biến, tình hình hoạt động của các cơ sở kinh doanh có điều kiện, cơ sở kinh doanh dịch vụ nhạy cảm về ANTT. Từ đó, phát hiện các vi phạm để kiểm tra, xử lý theo quy định của pháp luật, kiên quyết không để xảy ra các vụ, việc nghiêm trọng hoặc hình thành các tụ điểm phức tạp về ANTT. Ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý, trước mắt tập trung xây dựng phần mềm bảng số liệu để theo dõi.

P.V

Nguồn :

Quản Lý Nhà Nước Về Văn Hóa

Huỳnh Văn Tới*QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VĂN HÓAHUỲNH VĂN TỚI(Theo giáo trình về “QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC” do HVHC QG ban hành)Huỳnh Văn Tới*I. VH & VAI TRÒ CỦA VH TRONG PHÁT TRIỂN2. VAI TRÒ CỦA VHTRONG PHÁT TRIỂN1. KHÁI NIỆM3. TƯ TƯỞNG CHỈ ĐẠONỘI DUNG CHÍNHHuỳnh Văn Tới*II. NỘI DUNG QLNN VỀVĂN HÓA2. YÊU CẦU CỦA QLNỘI DUNG CHÍNH1. ĐỐI TƯỢNG QL4. TỔ CHỨC BỘ MÁY 3. NỘI DUNG QL5.KIỂM TRA,GIÁM SÁTHuỳnh Văn Tới*1. KHÁI NIỆMI.CULTUS(gieo trồng)AGRICULTURE(Nông nghiệp)CULTURE(Văn hóa)Vì lợi ích mười năm: Trồng cây!Vì lợi ích trăm năm: Trồng người!文化THEO CÁI ĐẸPHuỳnh Văn Tới*Sự sáng tạo và các giá trị tích lũyCủa con ngườiVì sự phát triển của con ngườiGắn với cộng đồng người.1. KHÁI NIỆMI.TỪ CÁC ĐỊNH NGHĨA VỀ VĂN HÓA: Huỳnh Văn Tới*TỰ ĐIỂN TIẾNG VIỆT(NXB KHXH, Hà Nội – 1997, trang 1154)1. Toàn thể những thành tựu của loài người trong sản xuất, xã hội và tinh thần.2. Sự hiểu biết về sự vật hay về cách xử thế tích luỹ bằng việc học tập có hệ thống hoặc thấm nhuần đạo đức và các phép tắc lịch sự.3. Văn minh.Huỳnh Văn Tới*(HỒ CHÍ MINH TOÀN TẬP, NXB CTQG, 2000, tập 3, trang 431) “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những dụng cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”.Huỳnh Văn Tới*ĐỊNH NGHĨA CỦA UNESCO(Tổ chức văn hóa, giáo dục, khoa học của Liên hiệp quốc) “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo (của cá nhân và cộng đồng) trong quá khứ và trong hiện tại. Qua các thế kỷ hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên hệ thống giá trị, truyền thống, thị hiếu – những đặc tính riêng của dân tộc”.Huỳnh Văn Tới* Internet ? Tính hiện đại?Tính văn hóa?THẢO LUẬNInternet là phương tiện kỹ thuật hiện đại của con người: Thế giới gần nhau lại, con người dễ xa nhau ra!Huỳnh Văn Tới*2. VAI TRÒ CỦA VHTRONG PHÁT TRIỂNI.PHÁTTRIỂNGIÁ TRỊVẬT CHẤTGIÁ TRỊTINH THẦNCONNGƯỜIMỤC TIÊUVĂN HÓAVĂN HÓAKINH TẾĐỘNG LỰCHuỳnh Văn Tới*2. VAI TRÒ CỦA VHTRONG PHÁT TRIỂNI.VĂN HÓA- Mục tiêu của phát triển, đồng thời là nền tảng và động lực của phát triển.- Phát triển tiềm năng “con người” và tiềm năng trí tuệ của con người.- Là nội lực trong giao lưu, đối ngoại, tự vệ.- Nguồn lực của sáng tạo và nâng cao năng suất lao động.- Định hướng con người đến Chân – Thiện – Mỹ.- Tham gia vào việc lựa chọn con đường phát triển của cộng đồng.Huỳnh Văn Tới*3. TƯ TƯỞNG CHỈ ĐẠOXÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓAI.ĐƯỜNG LỐI VĂN HOÁ CỦA ĐẢNGTHỐNG NHẤTPHÁT TRIỂNPHÙ HỌPSÁNG TỎHuỳnh Văn Tới*ĐƯỜNG LỐIQUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNGĐề cương văn hóa 1943: Văn hóa lấy khoa học, dân tộc, đại chúng làm cốt lõi.Đại hội văn nghệ 1957: XD nền VH mới với nội dung XHCN và tính chất dân tộc.Đại hội Đảng VI (1986): XD nền văn hóa văn nghệ XHCN đậm đà bản sắc dân tộc.Huỳnh Văn Tới*ĐƯỜNG LỐIQUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNGCương lĩnh xây dựng đất nước (1991): Kế thừa và phát huy những truyền thống tốt đẹp của các dân tộc trong nước, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh, vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người.Đại hội Đảng VII (1991): Nền VH tiên tiến, đậm đà BSDT là nền tảng tinh thần của XH, là động lực thúc đẩy phát triển KT-XH, đồng thời là mục tiêu của CNXH.Huỳnh Văn Tới*ĐƯỜNG LỐIQUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNGĐH VIII (1996): XD và PT nền văn hóa tiên tiến, đậm đà BSDT, XD con người VN về tư tưởng, đạo đức, tâm hồn, tình cảm, lối sống, XD môi trường VH lành mạnh.NQ TW5 (khóa VIII): Làm cho văn hóa thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội, vào từng người, từng gia đình, từng tập thể và cộng đồng, từng địa bàn dân cư, vào mọi lĩnh vực sinh hoạt và quan hệ con người, tạo ra trên đất nước ta đười sống tinh thần cao đẹp, trình độ dân trí cao, khoa học phát triển, phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh, tiến bước vững chắc lên CNXH.Huỳnh Văn Tới*ĐƯỜNG LỐIQUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNGĐại hội IX (2001): Hướng mọi hoạt động văn hóa vào việc xây dựng con người VN phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng, trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo, có ý thức cộng đồng, lòng nhân ái, khoan dung, tôn trọng nghĩa tình, lối sống có văn hóa, quan hệ hài hoà trong gia đình, cộng đồng và xã hội.Đại hội X (2006): Tiếp tục phát triển sâu rộng và nâng cao chất lượng nền văn hóa VN tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn với phát triển kinh tế xã hội, làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.Huỳnh Văn Tới*VH CÁCH MẠNGCONNGƯỜICÁ NHÂNGIA ĐÌNHCỘNG ĐỒNGLĨNH VỰCĐỊA BÀNQUAN HỆTHẤM SÂUMỤC TIÊUCNXHTINH THẦNCAO ĐẸPDÂN TRÍCAOKHOA HỌCPHÁT TRIỂNDG – NM -CB – DC – VMTRUYỀN THỐNGDÂN TỘCTINH HOANHÂN LOẠIĐẢNGHuỳnh Văn Tới*3. TƯ TƯỞNG CHỈ ĐẠOXÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓAI.QUAN ĐIỂM &TƯ TƯỞNG 1. CT – KT – VH dưới sự lãnh đạo của Đảng.4. Kế thừa phát huy giá trị VH dân tộc – giao lưu, tiếp thu tinh hoa VH nhân loại.5. Nâng cao tính chiến đấu: Bảo vệ giá trị cao đẹp, chống phi văn hóa.6. Xã hội hóa (chống thương mại hóa hoạt động văn hóa).2. Đảm bảo dân chủ, tự do cho sáng tạo và hoạt động VH.3. Văn hóa mới – bảo tồn, phát huy truyền thống. Đa dạng trong thống nhất.Huỳnh Văn Tới*Tình huống “In sang băng lậu”Quản lý nhà nước thế nào?Tư tưởng văn hóaHành vi văn hóa?THẢO LUẬNHuỳnh Văn Tới*1. ĐỐI TƯỢNG QUẢN LÝII.LỄHỘIBẢO TỒN,BẢO TÀNGVĂN HÓANGHỆ THUẬTTHÔNG TIN, CỔ ĐỘNG,BÁO CHÍ, TUYÊN TRUYỀN, QUẢNG CÁOĐẠO ĐỨC, LÝ TƯỞNG, LỐI SỐNG,TẬP QUÁNLÒNG YÊU NƯỚC, NHÂN ÁI, PHÁP LUẬT HOẠT ĐỘNG VĂN HÓA:- Hành vi- Định lượng- Nhận thấy- Kết quả cụ thể- Dự đoán đượcTƯ TƯỞNGVĂN HÓAHuỳnh Văn Tới*Quản lý nhà nước về văn hóa là quản lý các hoạt động văn hóa bằng chính sách và pháp luật.Gắn chặt với công tác giáo dục tư tưởng và vận động, tuyên truyền.Kết hợp quản lý nhà nước về kinh tế.1. ĐỐI TƯỢNG QUẢN LÝII.Huỳnh Văn Tới*2. YÊU CẦUII.1. Thực hiện quyền lực Nhà nước gắn liền với công tác tư tưởng.2. Trách nhiệm của Nhà nước:Minh bạch, công bằng, Chức năng quản lý gắn với phục vụ, trách nhiệm nhà nước gắn với trách nhiệm cộng đồng.3. Phát huy dân chủ, bảo đảm quyền, lợi ích, trách nhiệm và sự tham gia của dân.4. Đảm bảo tính đa dạng trong thống nhất của nền văn hóa đa dân tộc.5. Kết hợp hài hòa hiệu quả kinh tế, chính trị, văn hóa trong quản lý.Huỳnh Văn Tới*3. NỘI DUNG QUẢN LÝII.A. XÂY DỰNG HỆ THỐNG PHÁP LUẬTQUẢN LÝ THỐNG NHẤT BẰNG PHÁP LUẬTCÔNG ƯỚC & LUẬT QUỐC TẾLUẬT CHO CÁC LĨNH VỰCNHỮNG ĐIỀU CẤM5 ĐIỀU CẤM12 LĨNH VỰC CỤ THỂHỘI NHẬP WTOHuỳnh Văn Tới*3. NỘI DUNG QUẢN LÝII.B. BAN HÀNH VÀ THỰC THI HỆ THỐNG CHÍNH SÁCH1. Sáng tạo giá trị văn hóa.2. Bảo tồn, phát huy tài sản văn hoá.3. Phát triển văn hóa cơ sở.4. Giao lưu văn hóa quốc tế.Huỳnh Văn Tới*3. NỘI DUNG QUẢN LÝII.B. BAN HÀNH VÀ THỰC THI HỆ THỐNG CHÍNH SÁCH5. Hiện đại hóa kỹ thuật và phương pháp sản xuất, phân phối sản phẩm văn hoá.6. Đào tạo, phát triển đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ.7. Đảm bảo ngân sách, điều kiện pháp lý cho phát triển văn hóa.8. Nâng cao tính tự quản và phân cấp quản lý văn hóa.Huỳnh Văn Tới*3. NỘI DUNG QUẢN LÝII.C. ĐẦU TƯ VÀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNHPHÂN BỔ NGÂN SÁCHLĨNH VỰC ƯU TIÊNNGUỒN NGÂN SÁCHCƠ CHẾ QUẢN LÝ- Giáo dục- Khoa học- Văn hóa – nghệ thuật- Hoat động nghệ thuật- Nghiên cứu, sưu tầm, bảo tồn, bảo tàng.- Thư viện, xuất bản,- Ngân sách Nhà nước- Phi Chính phủ.- Của dân.- Theo phân cấp quản lý.- CT mục tiêu: Bộ VHTT và Sở VHTT.Huỳnh Văn Tới*4. TỔ CHỨC BỘ MÁY II.BỘ VHTTĐÀI TIẾNG NÓI VNSỞ VHTTPHÒNG VHTTBAN VHTTUBND TỈNH(TP)UBND HUYỆN(TP,TX)UBND XÃ(P,TT)ĐÀI TH VNSÓNG, MẠNG?Huỳnh Văn Tới*5. KIỂM TRA, GIÁM SÁTII.HOẠT ĐỘNGVĂN HOÁPHÒNG NGỪAGIÁM SÁTKIỂM TRATƯ TƯỞNG VĂN HÓAHuỳnh Văn Tới*CÂU HỎI:Trình bày suy nghĩ của mình về quản lý Nhà nước đối với hoạt động Internet hiện nay!Trình bày suy nghĩ của mình về quản lý nhà nước đối với văn hóa trong hội nhập WTO?.

Cập nhật thông tin chi tiết về Luận Văn: Quản Lý Nhà Nước Về Đầu Tư Công Tp Hà Nội, Hay trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!