Xu Hướng 2/2023 # Luận Văn Đề Tài Thực Trạng Và Những Giải Pháp Chủ Yếu Để Nâng Cao Hiệu Quả Kinh Tế Sử Dụng Đất Canh Tác Ở Phường Cẩm Thượng, Thành Phố Hải Dương # Top 7 View | Phauthuatthankinh.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Luận Văn Đề Tài Thực Trạng Và Những Giải Pháp Chủ Yếu Để Nâng Cao Hiệu Quả Kinh Tế Sử Dụng Đất Canh Tác Ở Phường Cẩm Thượng, Thành Phố Hải Dương # Top 7 View

Bạn đang xem bài viết Luận Văn Đề Tài Thực Trạng Và Những Giải Pháp Chủ Yếu Để Nâng Cao Hiệu Quả Kinh Tế Sử Dụng Đất Canh Tác Ở Phường Cẩm Thượng, Thành Phố Hải Dương được cập nhật mới nhất trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia, là tư liệu sản xuất chủ yếu đặc biệt và không có gì có thể thay thế được đối với sản xuất nông, lâm nghiệp, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá – xã hội an ninh và quốc phòng. Ngày nay trong cơ chế thị trường đất đai được coi là một tài sản, là phương tiện thế chấp trong quan hệ tài chính.Do vậy khai thác sử dụng đúng đắn và hợp lý đất đai nhằm mang lại hiệu quả kinh tế xã hội và cũng đảm bảo môi trường sinh thái bền vững là vấn đề mang tính cấp thiết. Hiện nay trên thế giới diện tích đấ trồng trọt là 1500 triệu ha, chiếm 10% diện tích đất tự nhiên của trái đất, đã sản xuất ra nhiều sản phẩm để nuôi sống con người.Theo FAO thì có một số kết quả đạt được trong quá trình sử dụng đất nông nghiệp là : Năng suất lúa mì bình quân đạt 27,7 tạ/ ha; năng suất ngô bình quân đạt 30,1 tạ/ha .với xu hướng phát triển ngày càng cao của con người và xã hội, thì cầu về các loại sản phẩm nông nghiệp như : lương thực, thực phẩm ngày một cao. Sản xuất cung ứng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu hiện nay, cho nên hàng năm trên thế giới thiếu khoảng 150 – 200 triệu tấn lương thực và vẫn còn tới 1/10 số dân thiếu ăn và nạn đói đang đe doạ. Hàng năm khoảng từ 5 – 6 triệu ha đất nông nghiệp bị mất đi do nhiều nguyên nhân sau : sa mạ hoá, sử dụng bừa bãi, xây dựng các cơ sở kinh doanh không hợp lý Do vậy việc khai thác và sử dụng đầy đủ, hợp lý đẻ có hiệu quảđối với nguồn tài nguyên này thì mỗi một quốc gia, một vùng, một địa phương phải có hướng đi thích hợp và nhiều giải pháp phù hợp để có thể thâm canh tăng năng suất và sử dụng lâu bền tài nguyên này đảm bảo phát triển bền vững. Nước ta là một nước nông nghiệp, có khoảng gần 80% dân số sống bằng nghề nông nghiệp, với tổng diện tích đất tự nhiên là 33 triệu ha, đất nông nghiệp có 7,3 triệu ha( chiếm 22,5%đất tự nhiên). Đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp bởi nhiều mục đích phi nông nghiệp và một phần xây dựng nhà ở, do dân số tăng nhanh cho nên bình quân diện tích đất canh tác một hộ, một nhân khẩu giảm đi. Bên cạnh đó đất nông nghiệp lại phân bố không đều từng vùng, từng địa phương.Vì vậy chúng ta khai thác tiềm năng đất sao cho hiệu quả nhất là việc làm vô cùng quan trọng và cần thiết, để đảm bảo cho việc phát triển nền sản xuất nông nghiệp hàng hoá cũng như phát triển kinh tế của đất nước. Cẩm Thượng là một xã mới chuyển thành phường theo nghị định 64 của chính phủ vì vậy sản xuất nông nghiệp ở địa phương vẫn được coi là một trong những nhiệm vụ hàng đầu. CẩmThượng là một phường không rộng so với các phường khác của thành phố, tổng diện tích đất tự nhiên là 255 ha. Đất nông nghiệp chiếm111,5 ha trong đó đất canh tác là 92,45 ha chiếm 83% so với đất nông nghiệp. Do nằm trong vùng châu thổ sông Hồng đất đai trên địa bàn chủ yếu được hình thành do quá trình bồi tụ phù sa của hệ thống sông tháI bình nên đất canh tác của phường rất màu mỡ, chiếm phần lớn khả năng sản xuất cây vụ đông. Mặt khác do địa hình của phường nằm ở phía tây bắc thành phố , có đường quốc lộ 5A và đường sắt đi qua đó là điều kiện thuận lợi cho khâu tiêu thụ sản phẩm và thúc đẩy phát triển thương mại, dịch vụ.Hiện nay tình hình sản xuất nông nghiệp ở phường phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá vẫn còn thấp, năng suất cây trồng cũng như hiệu quả kinh tế sử dụng đất chưa cao.Mặc dù mấy năm qua lãnh đạo phường đã tiến hành nhiều biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế sử dụng đất đai : tiến hành các thủ tục để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâu dài và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng ruộng đất cho hộ nông dân ổn định, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, chuyển đổi ruộng đất, đưa nhiều giống cây trồng có năng suất chất lượng cao vào sản xuất. Nhờ đó năng suất các cây trồng trên địa bàn đều tăng qua các năm. Hiệu quả kinh tế sử dụng đất được nâng lên. Tuy nhiên, việc sử dụng đất canh tác của phường vẫn là một vấn đề bức xúc cần giải quyết như : năng suất cây trồng, hiệu quả kinh tế sử dụng đất thấp, chưa tìm ra được phương thức sản xuất thích hợp và cơ cấu cây trồng hợp lý đối với từng thôn, xóm, từng tiểu vùng sinh thái của phường. Xuất phát từ thực tiễn khách quan đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài : “Thực trạng và những giải pháp chủ yếu để nâng cao hiệu quả kinh tế sử dụng đất canh tác ở phường Cẩm Thượng, thành phố Hải Dương”.

Đề Tài Thực Trạng Và Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Kinh Tế Trang Trại Trên Địa Bàn Huyện Gia Lâm Thành Phố Hà Nội

1. MỞ ĐẦU 1.1.Tính cấp thiết của đề tài Trong nền nông nghiệp thế giới, trang trại( mà chủ yếu là trang trại gia đình) là một hình thức tổ chức sản xuất có vái trò hết sức quan trọng trong hệ thống nông nghiệp của mỗi nước. Ở các nước phát triển, trang trại gia đình có vai trò to lớn và có ý nghĩa quyết định trong sản xuất nông nghiệp, sản xuất ra tuyệt đại bộ phận nông sản, sản phẩm cho xã hội. Ở Việt Nam, kinh tế trang trại mới phát triển trong những năm gần đây, từ khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước, mục tiêu là công nghiệp hoá – hiện đại hoá (CNH – HĐH) đất nước, song lấy nông nghiệp là khâu đột phá. Đặc biệt là sau Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị ( tháng 4/ 1988) về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp, quan hệ sản xuất nông nghiệp nước ta được điều chỉnh một bước. Và đến Nghị quyết VI của Ban Chấp hành Trung ương (khoá VI – tháng 3/ 1989) về sự phát huy vai trò tự chủ của kinh tế hộ nông dân đã đặt nền móng cho sự ra đời của kinh tế trang trại. Hơn nữa sau khi có Luật đất đai (năm 1993) quy định 5 quyền sử dụng đất thì kinh tế trang trại thực sự phát triển nhanh và đa dạng. Mặc dù mô hình kinh tế trang trại nước ta mới phát triển nhưng có vị quan trọng và đã thể hiện vai trò tích cực cả về kinh tế, xã hội và môi trường. Trên nhiều vùng các trang trại đã góp phần tích cực cả về mặt kinh tế, xã hội và môi trường. Trên nhiều vùng các trang trại đã góp phần tích cực phát triển các loại cây trồng vật nuôi có gía trị kinh tế cao, khắc phục dần tình trạng sản xuất phân tán, manh mún. Phát triển kinh tế trang trại gắn liền với việc khai thác và sử dụng một cách đầy đủ và hiệu quả các nguồn lực trong nông nghiệp nông thôn, đặc biệt là đất đai và tiền vốn. Do vậy phát triển kinh tế trang trại ở nước ta bước đầu góp phần tích cực thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển của nông nghiệp và kinh tế nông thôn. Không những vậy phát triển kinh tế trang trại góp phần tạo thêm việc làm, thu nhập, xoá đói giảm nghèo, góp phần thúc đẩy phát triển kết cấu hạ tầng trong nông thôn, làm gương cho các hộ nông dân về cách thức tổ chức quản lý sản xuất qua đó góp phần thúc đẩy sự thay đổi của bộ mặt nông thôn trên nhiều vùng. Hà nội hiện nay với tốc độ đô thị hoá cao, đất nông nghiệp bình quân hàng năm giảm 1000 ha (ước đến năm 2010 còn gần 34.000 ha), nền nông nghiệp Hà Nội đã và đang chuyển theo hướng thâm canh, áp dụng các tiến bộ kỹ thuật, tập trung sản xuất các loại sản phẩm nông nghiệp có chất lượng cao, an toàn thực phẩm có ưu thế ở Hà Nội. Phát triển kinh tế trang trại theo hướng tổng hợp, gắn sản xuất nông nghiệp với chế biến và du lịch sinh thái. Qua kết quả khả sát của sở Nông Nghiệp và PTNT Hà Nội ( theo tiêu chí mới quy định tại Thông tư liên tịch số 62/ TTLT/ – TCTK, ngày 20/05/2003), số lượng trang trại hiện nay của Hà Nội là 401 trang tập trung chủ yếu ở 5 huyện ngoại thành. Bước đầu khẳng định kinh tế trang trại Hà Nội đã đạt được những kết quả nhất định, khai thác được tiềm năng thế mạnh của Hà Nội, cải thiện thu nhập và giải quyết được một phần việc làm cho lao động. Cùng với các huyện ngoại thành, huyện Gia Lâm trong những năm gần đây mô hình kinh tế trang trại trên địa bàn huyện có sự ổn định về số lượng, quy mô đã có tác dụng nhất định đến tình hình kinh tế xã hội của huyện. Tuy nhiên trong quá trình hình thành và phát triển kinh tế trang trại của huyện còn bộc lộ một số hạn chế đó là phần lớn các trang trại còn đang lúng túng trong việc lựa chọn phương hướng sản xuất kinh doanh, quản lý sản xuất, đặc biệt là hiệu quả kinh tế ở trang trại còn thấy chưa tương xứng với tiềm năng thế mạnh nông nghiệp của huyện. Vấn đề đặt ra trong thời gian tới là làm thế nào để khai thác sử dụng tốt các lợi thế so sánh ( đất đai, vốn, lao động,) nâng cao hiệu quả kinh tế của trang trại huyện Gia Lâm. Để góp phần nhỏ bé của mình vào phát triển kinh tế trang trại của huyện, chúng tôi thực hiện đề tài: ” Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế trang trại trên địa bàn huyện Gia Lâm thành phố Hà Nội.” 1.2. Mục tiêu nghiên cứu * Mục tiêu chung: + Nghiên cứu, đánh giá đúng hiệu quả kinh tế trang trại ở Gia Lâm, đề xuất giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế trang trại trên địa bàn huyện Gia Lâm cho những năm tiếp theo * Mục tiệu cụ thể : + Góp phần hệ thống hoá cơ sở lý luận về trang trại, kinh tế trang trại. + Đánh giá hiệu quả kinh tế các trang trại, tìm ra các nguyên nhân ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế trang trại huyện Gia Lâm. + Đề xuất định hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế trang trại trên địa bàn huyện Gia Lâm. 1.3. Đối tượng và phạm vị nghiên cứu * Đối tượng nghiên cứu: Các trang trại chăn nuôi, thủy sản, tổng hợp trên địa bàn huyện Gia Lâm. * Phạm vị nghiên cứu + Phạm vị nội dung nghiên cứu: nghiên cứu hiệu quả kinh tế trang trại trên địa bàn huyện Gia Lâm thành phố Hà Nội + Phạm vị thời gian: từ tháng 1 đến tháng 7 năm 2005. + Phạm vị không gian: trên địa bàn huyện Gia Lâm thành phố Hà Nội 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KINH TẾ TRANG TRẠI HIỆU QUẢ KINH TẾ TRANG TRẠI 2.1. Cơ sở lý luận 2.1.1. Những lý luận chung về trang trại 2.1.1.1. Khái niệm về trang trại và kinh tế trang trại Trong những năm gần đây, kinh tế trang trại ở nước ta có xu hướng phát triển nhanh chóng cả về số lượng và chất lượng trên nhiều địa phương. Chính vì vậy, việc nghiên cứu, tìm hiểu các khái niệm và nội dung của trang trại, kinh tế trang trại là cần thiết để có được những nhận thức đúng đắn trong công việc đánh giá đúng thực trạng phát triển của nó. Trong từ điển Việt, trang trại được hiểu một cách khái quát là: ” Trại lớn sản xuất nông nghiệp”. Trên thế giới đều dùng phổ biến từ farm ( tiếng Anh) và feme ( tiếng Pháp) mà các từ điển Anh – Việt của ta đều dịch là trang trại và các văn kiện của đảng đều dùng thuật ngữ ” trang trại”. Trong các tài liệu nghiên cứu về kinh tế trang trại thường gắn với ngành sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp gọi là ” nông trại”, ” lâm trại”, “ngư nghiêp” để phân biệt chuyên ngành sản xuất. Hiện nay, trong các tài liệu nghiên cứu khoa học kinh tế, trang trại và kinh tế trang trại được nhìn nhận dưới nhiều quan điểm khác nhau, thể hiện rõ qua các khái niệm. Trang trại là chủ lực của các tổ chức làm nông nghiệp ở các nước tư bản cũng như các nước phát triển [13]. Trang trại là một đơn vị kinh tế hộ gia đình có tư các pháp nhân, được Nhà nước giao quyền sử dụng một số diện tích đất đai, rừng, biển hợp lý: để tổ chức lai quá trình sản xuất nông, lâm nghiệp theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá; tích cực áp dụng các tiến bộ kỹ thuật và cộng nghệ mới nhằm cung ứng ngày càng nhiều sản phẩm hàng hoá có chất lượng cao hơn cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu; nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội của từng đơn vị diện tích, góp phần xoá đói giảm nghèo, nâng cao mức sống và chất lượng cuộc sống của mọi người tham gia [17]. Trang trại gia đình, thực chất là kinh tế hộ sản xuất hàng hoá với quy mô lớn, sử dụng lao động tiền vốn của gia đình là chủ yếu để sản xuất kinh doanh có hiệu quả [38]. Trang trại gia đình là loại hình cơ sở sản xuất nông nghiệp trong điều kiện của nền kinh tế thị trường từ khi phương thức sản xuất tư bản thay thế phương thức sản xuất phong kiến, khi bắt đầu cuộc cách mạng công nghiệp hoá lần thứ nhất ở một số nước Châu Âu [8]. Trang trại là một loại hình tổ chức sản xuất cơ sở trong nông lâm, thuỷ sản, có mục đích sản xuất hàng hoá, có tư liệu sản xuất thuộc sở hữu hoặc quyền sử dụng của một chủ độc lập, sản xuất được tiến hành trên quy mô ruộng đất và các yếu tố sản xuất tiến bộ và trình độ kỹ thuật cao, hoạt động tự chủ và luôn gắn với thị trường [22]. Trang trại là hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp dựa trên cơ sở lao động và đất đai của hộ gia đình là chủ yếu, có tư cách pháp nhân, tự chủ sản xuất kinh doanh bình đẳng với các thành phần khác, có chức năng chủ yếu là sản xuất nông sản hàng hoá, tạo ra nguồn thu nhập chính và đáp ứng nhu cầu cho xã hội [21]. Kinh tế trang trại là một hình thức tổ chức kinh tế – hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh trong nông nghiệp ( hiểu nông nghiệp theo nghĩa rộng bao gồm nông, lâm, ngư nghiệp) phổ biến được hình thành và phát triển trên nền tảng kinh tế nông hộ. Quá trình hình thành và phát triển kinh tế trang trại có gắn với sự tích tụ tập trung các yếu tố sản xuất kinh doanh đất đại, lao động, tư liệu sản xuất – vốn, khoa học công nghệ, để nâng cao năng lực sản xuất và sản xuất ra nhiều sản phẩm hàng hoá với năng suất, chất lượng và hiệu quả cao [26]. Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá lớn trong nông, lâm, ngư nghiệp của các thành phần kinh tế khác nhau ở nông thôn, có sức đầu tư lớn, có năng lực quản lý trực tiếp quá trình sản xuất kinh doanh, có phương pháp tạo ra sức sinh lời cao hơn bình thường trên đồng vốn bỏ ra; có trình độ đưa những thành tựu khoa học công nghệ mới kết tinh trong hàng hoá tạo ra sức cạnh tranh cao hơn trên thị trường xã hội, mang lại hiệu quả kinh tế – xã hội cao [12]. Mặc dù, nhiều tác giả đưa ra những khái niệm khác nhau nhưng chúng đều có những điểm chung như sau: + Trang trại là một cơ sở sản xuất – kinh doanh hàng hoá trong nông, lâm, ngư nghiệp. + Có nguồn gốc hình thành và phát triển từ kinh tế nông hộ nhưng ở vào giai đoạn có trình độ tổ chức quản lý sản xuất hàng hoá cao hơn. + Khai thác và sử dụng các nguồn lực kinh tế ở địa phường ( đất đai, vốn, lao động, ứng dụng khoa học công nghệ) + Hoạt động sản xuất – kinh doanh luôn gắn liền với nền kinh tế thị trường. + Nguồn gốc sở hữu của trang trại là thành phần kinh tế tư nhân là chủ yếu, song do sự tác động của kinh tế thị trường và xu thế hội nhập quốc tế nên nó ngày càng mở rộng ra nhiều hình thức sở hữu, từ một thành phần kinh tế đến nhiều thành phần kinh tế. Ngoài ra, qua thực tiễn hoạt động sản xuất – kinh doanh ở các trang trại, chúng tôi nhận thấy rằng lĩnh vực hoạt động của nó không chỉ bó hẹp trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, mà bên cạnh chuyên môn hoá sản xuất nông lâm ngư nghiệp, mà bên cạnh chuyên môn hoá sản xuất nông lâm ngư nghiệp còn kết hợp thêm một số hoạt động dịch vụ kinh doanh hỗ trợ các yếu tố đầu vào, đầu ra và các hoạt động dịch vụ kinh doanh hỗ trợ các yếu tố đầu vào, đầu ra và các hoạt động chế biến nông, lâm, thuỷ sản nhằm mục đích tăng thêm thu nhập của trang trại. Xuất phát từ những cơ sở lý luận và thực tiễn nêu trên, chúng tôi đưa ra khái niệm về kinh tế trang trại như sau: Trang trại là một tổ chức kinh tế cơ sở lấy hoạt động sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp làm mục đích sản xuất kinh doanh chính, trong đó có kết hợp thêm ngành nghề, dịch vụ phụ trợ phi nông nghiệp của các thành phần kinh tế khác nhau trong nông thôn, được hình thành chủ yếu trên cơ sở kinh tế nông hộ, có quy mô sản xuất, thu nhập, giá trị và tỷ suất kinh doanh mang lại hiệu quả kinh tế cao, hoạt động tự chủ và luôn gắn với thị trường. 2.1.1.2. Vị trí, vai trò của kinh tế trang trại Trên thế giới, trải qua hàng thế kỷ đến nay trang trại gia đình đã xuất hiện, đã tồn tại, phát triển ở các nước công nghiệp phát triển và đang được mở rộng, khuyến khích phát triển trên toàn thế giới. Trang trại gia đình đã có được vị trí và vai trò quan trọng trong nền kinh tế ở mỗi đất nước. Trước hết, trang trại gia đình đã và đang là lực lượng chủ yếu sản xuất ra các loại nông sản, đáp ứng nhu cầu đa dạng của con người; đối với các nước đang phát triển, kinh tế trang trại còn góp phần thu hút lao động, xoá đói gỉam nghèo, nâng cao thu nhập của nông dân. Trong quá trình phát triển, kinh tế trang trại gia đình có thể đáp ứng yêu cầu của các hình thức sở hữu khác nhau, với quy mô khác nhau, thúc đẩy quá trình hiện đại hoá nông nghiệp cùng với xu hướng chuyên môn hoá, tập trung hoá trong sản xuất. ở nước ta, kinh tế trang trại mà chủ yếu là trang trại gia đình mới phát triển trong những năm gần đây, song các nghiên cứu đã cho thấy vai trò tích cực của nó thể hiện rõ nét cả về các mặt kinh tế, xã hội và môi trường. a. Về mặt kinh tế Kinh tế trang trại có ý nghĩa quan trọng nhất đối với nền kinh tế đất nước nói chung và trong nông nghiệp, nông thôn nói riêng. Các trang trại góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo ra những sản phẩm có giá trị hàng hoá cao, khắc phục dần tình trạng sản xuất phân tán, góp phần từng bước tạo nên những vùng chuyên môn hoá thâm canh cao góp phần thúc đẩy tăng trưởng và phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn. Từ đó góp phần thúc đẩy phát triển công nghiệp chế biến và dịch vụ sản xuất ở nông thôn. b. Về mặt xã hội Kinh tế trang trại phát triển làm tăng số hộ giàu trong nông thôn, tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho lao động, điều này có ý nghĩa rất quan trọng về mặt xã hội trong nông thôn. Hơn nữa kinh tế trang trại phát triển sẽ góp phần thúc đẩy phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn, tạo tấm gương cho các hộ nông dân về mặt tổ chức và quản lý sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, phát triển kinh tế trang trại sẽ kéo theo sự tập trung ruộng đất – tư liệu sản xuất chủ yếu trong nông nghiệp, dẫn đến ở một vài nơi sẽ có một bộ phận lao động nông nghiệp thiếu ruộng đất và có thể trở thành người làm thuê. Nếu nhà nước không có chính sách cụ thể, sát thực để giải quyết vấn đề này thì có thể ảnh hưởng tiêu cực đến vấn đề đói nghèo ở nông thôn. Đây là vấn đề phải lựa chọn. c, Về mặt môi trường Do sản xuất kinh doanh tự chủ và vì lợi ích thiết thực lâu dài của mình mà các chủ trang trại luôn có ý thức khai thác hợp lý và quan tâm bảo vệ môi trường trước hết là trong phạm vi trang trại. Các trang trại vùng núi, đồi gò đã góp phần tích cực vào việc trồng vào bảo vệ rừng, phủ xanh đất trống đồi trọc, cải tạo và bảo vệ môi trường sinh thái. 2.1.1.3. Các điều kiện, nhân tốt hình thành và nâng cao hq kinh tế trang trại. 2.1.1.3.1 Điều kiện hình thàng a, Điều kiện môi trường pháp lý Trang trại là bộ phận cấu thành hệ thống nông nghiệp của cả nước theo mô hình kinh tế thị trường. Tuy nhiên nó chỉ hình thành và phát triển khi có môi trường pháp lý phù hợp và thuận lợi. Kinh tế trang trại phải đủ điều kiện Nhà nước công nhận về mặt pháp lý. ở nước ta, một thời gian dài chúng ta đã không thừa nhận trang trại là một bộ phận cấu thành hệ thống nông nghiệp ở nước ta. Sự công nhận đại vị pháp lý của kinh tế trang trại sẽ tạo cơ sở pháp lý cho những người có nguồn lực yên tâm đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh theo mô hình trang trại, đồng thời Nhà nước sẽ tạo điều kiện cần thiết cho kinh tế trang trại ra đời và phát triển. – Có quỹ rộng đất cần thiết và chính sách để tập trung rộng đất – Có sự hỗ trợ của công nghiệp chế biến – Có sự phát triển nhất định của kết cấu hạ tầng, trước kết là giao thông, thuỷ lợi. – Có quy hoạch tổng thể về phát triển kinh tế xã hội. – Có sự phát triển nhất định của các hình thức liên kết kinh tế trong hoạt động sản xuất Nông lâm – Ngư nghiệp. b, Các điều kiện đối với trang trại và chủ trang trại – Chủ trang trại phải là người có ý chí quyết tâm làm giàu từ nghề nông, lâm, ngư. Chủ trang trại phải có tích luỹ nhất định về kinh nghiệm sản xuất, về trí thức và tăng lực tổ chức sản xuất kinh doanh – Có sự tập trung nhất định về quy mô các yếu tố sản xuất trước hết là ruộng đất và tiền vốn. Quản lý sản xuất kinh doanh của trang trại phải dựa trên cơ sở hạch toán và phân tích kinh doanh 2.1.1.3.2. Các nhân tố ảnh hưởng đế hiệu quả kinh tế trang trại a, Nhân tố quản lý trang trại quản lý trang trại là quy trình chủ trang trại tác động vào các đối tượng bị quản lý từ khi đầu tư đến khi đưa sản phẩm ra tiêu thụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời. Mục tiêu, mục đích của hoạt động sản xuất ở trang trại là sản xuất hàng hoá. Vì vậy, bản chất của vấn đề tổ chức quản lý trang trại có những đặc thù riêng, khác biệt so với quản lý doanh nghiệp. Xác định chiến lược kinh doanh: đòi hỏi chủ trang trại phải xác định phương hướng, mục tiêu kinh doanh của trang trại. sản xuất kinh doanh trong điều kiện của nền kinh tế thị trường chủ trang trại giải quyết các vấn đề sau: sản xuất và dịch vụ cái gì? Sản xuất và dịch như thế nào? Sản xuất và dịch vụ cho ai? Lợi nhuận thu được bao nhiêu? Muốn giải quyết tốt các vấn đề trên, chủ trang trại phải là người có đủ khả năng nắm bắt và xử lý kịp thời những thông tin của thị trường, trên cơ sở đó đưa ra những quyết định chính xác đáp ứng được các nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng. Việc xác định chiến lược kinh doanh của trang trại đúng hướng nó sẽ góp phần vào sự thành công của trang trại, nâng cao hiệu quả kinh tế trang trại [17]. Lập kế hoạch sản xuất kinh doanh: Trên cơ sở mục tiêu và những định hướng của chiến lược kinh doanh, phân tích đánh giá tình hình diễn biến thực tế của hoạt động sản xuất kinh doanh qua các năm, chủ trang trại xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh hàng năm. Trong kế hoạch cần phải xây dựng nhiều phương án tối ưu để thực hiện. Kế hoạch phải được lập cụ thể cho từng khâu chức năng của sản xuất: kế hoạch tài chính, kế hoạch về bố trí sử dụng đất, kế hoạch lao động và các chính sách marketing. Có như vậy, hoạt động sản xuất của trang trại mới thích ứng với những biến động của thị trường. Tổ chức quản lý thực hiện: Từ kế hoạch, chủ trang trại cụ thể hoá phương án sản xuất kinh doanh, sắp sếp bố trí các nguồn lực, yếu tố sản xuất sao cho việc sử dụng chúng nâng cao được hiệu quả kinh tế cao nhất, mỗi một yếu tố sản xuất có biện pháp và cách thức tác động riêng. Công tác kiểm tra và điều phối: đây là một chức năng quan trọng của quản lý trang trại, vì trong quá trình hoạt động luôn có những diễn biến xảy ra, có những thông tin phản hồi từ các đối tượng bị quản lý, chủ trang trại phải thường xuyên kiểm tra giám sát nắm bắt thông tin và xử lý kịp thời những sai phạm cũng như ách tắc trong từng khâu công việc hàng ngày: tài chính, kỹ thuật, lao động và thị trường. Trên cơ sở đó điều chỉnh các chiến lược kinh doanh sát với tình hình thực tế. Nếu bỏ qua khâu này, sẽ khó có được một kết quả sản xuất như mục tiêu đề ra. Tóm lại, công tác tổ chức quản lý trang trại là việc làm hàng ngày của chủ trang trại chứ không ai khác, nên đòi hỏi phải có kiến thức về khoa học quản lý nhất định. Để có được kiến thức chủ trang trại phải trải qua quá trình đào tạo hoặc tự đào tạo thông qua học hỏi các chủ trang trại ở những trang trại làm ăn giỏi. b. Các nhân tố về điều kiện tự nhiên Hoạt động sản xuất nông nghiệp diễn ra trên một không gian rộng lớn, có điều kiện về tự nhiên, kinh tế giữa các vùng rất khác nhau. Chỉ có thể có hoạt động sản xuất nông nghiệp khi ở đó có đất và các điều kiện tự nhiên thuận lợi. Đây là đặc điểm riêng có của sản xuất nông nghiệp. Do vậy, nhân tố ảnh hưởng đầu tiên đến sự hình thành và phát triển kinh tế trang trại là điều kiện tự nhiên, bao gồm vị trí địa lý, đất đai, khí hậu, nguồn nước và các điều kiện tự nhiên khác. Vị trí địa lý là nhân tố quyết định đến điều kiện tự nhiên do vận động kiến tạo của trái đất và vũ trụ. Mỗi vị trí địa lý có những điều kiện tự nhiên nhất định, gắn với chất lượng đất đai, khí hậu, nguồn nước và các điều kiện tự nhiên khác. Vì vậy khi nghiên cứu kinh tế trang trại cần nghiên cứu điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng đến việc quy hoạch sản xuất, bố trí cây trồng, vật nuôi. Đối với mỗi loại đất, kiểu khí hậu chỉ có thể thích ứng đối với một số loại cây trồng, vật nuôi nhất định. Ruộng đất có hạn nên qui trình sử dụng ruộng đất cần theo con đường thâm canh, cải tạo bồi dưỡng đất. Điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng đến chính sách phát triển trang trại. Mỗi vùng khác nhau cần có những chính sách cụ thể phù hợp với điều kiện tự nhiên của từng vùng. c, Các nhân tố về kinh tế, xã hội Điều kiện kinh tế, xã hội thuận lợi là yếu tố quan trọng việc hình thành và phát triển kinh tế trang trại. Các điều kiện kinh tế, xã hội bao gồm vấn đề thị trường, cơ sở hạ tầng, sự hình thành các vùng chuyên môn hoá sản xuất, sự phát triển của công nghiệp chế biến và các nhân tố kinh tế, xã hội khác tạo điều kiện cho sự phát triển của kinh tế trang trại. d, Thị trường Đặc trưng cơ bản của trang trại là sản xuất hàng hoá nông sản, vì vậy sản xuất phải gắn với thị trường. Thị trường nông nghiệp bao gồm

Đề Tài Thực Trạng Và Một Số Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Hiệu Quả Sử Dụng Nguồn Vốn Oda

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG .2

I. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA NHẬN THỨC VỀ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ – VỐN ĐẦU TƯ .2

1. một số khái niệm . 2

1.2. vốn đầu tư. 2

1.3. Hoạt động đầu tư. 3

2.Những lý luận chung về nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA). 4

21.Nguồn gốc của nguồn vốn ODA. 4

22.Khái niệm về hỗ trợ phát triển chính thức. 4

23.Phân loại nguồn vốn ODA. 5

231.theo tính chất: 5

232.theo mục đích: 5

233.Theo điều kiện: 5

234.Theo hình thức: 6

24.Tình hình hoạt động nguồn vốn ODA trên thế giới. 6

2.5.tầm quan trọng của nguồn vốn ODA đối với các nước đang phát triển . 10

CHƯƠNG II 13

THỰC TRẠNG SỬ DỤNG NGUỒN VỐN ODA Ở VIỆT NAM .13

I. CÁC NGUỒN ODA ĐỐI VỚI VIỆT NAM. 13

1.các nguồn ODA hiện nay .13

1.1. Nguồn ODA đa phương. 13

1.2. Nguồn ODA song phương. 14

1.ODA trong một số nghành , lĩnh vực chủ yếu. 17

1.1.Nghành năng lượng : 17

1.2 Nghành giao thông vận tải. 17

1.3Lĩnh vực nước sạch và vệ sinh môi trường. 17

1.4.lĩnh vực phát triển con người. 18

1.5 lĩnh vực phát triển nông thôn. 18

1.6.Hỗ trợ về chính sách và thể chế. 19

2.Đánh giá chung về hiệu quả và biện pháp mà chính phủ áp dụng nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn ODA thời gian qua. 19

2.1. Đánh giá chung về tình hình thực hiện nguồn vốn ODA trong thời gian qua. 19

2.2.Những biện pháp chính phủ áp dụng để nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn ODA. 21

CHƯƠNG III 23

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG NGUỒN VỐN ODA TẠI VIỆT NAM

I.NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CÒN TỒN TẠI. 23

1.Những kết qủa đạt được . 23

2.Những vấn đề còn tồn tại. 24

2.2.Về cơ chế quản lý : 25

2.3Năng lục và khả năng làm việc của các nhân viên trong môi trường ODA. 25

II.CÁC GIẢI PHÁP CẦN THỰC HIỆN ĐÊ NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG NGUỒN VỐN ODA. 26

1.hài hoà thủ tục dự án 26

2.Giải quyết vốn đối ứng 27

3. Cải thiện chất lượng đầu vào 28

4.Tiếp tục hoàn thiện chính sách đền bù tái định cư 28

5.Tăng cường năng lực quản lý dự án ODA 29

6.Tăng cường công tác đào tạo bồi dưỡng và bồi dưỡng cán bộ dự án 29

III.ĐỊNH HƯỚNG THU HÚT VÀ SỦ DỤNG ODA TRONGTHỜI GIAN TỚI

Luận Văn Đề Tài Biện Pháp Để Phát Triển Kinh Tế Nhiều Thành Phần Ở Việt Nam

Việt Nam đang trong thời kỳ quá độ tiến lên CNXH để rồi phát triển lên một bước cao hơn đó là CNCS – một chế độ xã hội mà ở đó quan hệ sở hữu là sở hữu công cộng, xã hội không còn giai cấp có tính tự quản cao, làm theo nhu cầu. Con người được tự do phát triển toàn diện. Đó là mục tiêu của loài người nói chung và của nước ta nói riêng. Muốn xây dựng được một xã hội như vậy điều kiện tiên quyết là phải phát triển lực lượng sản xuất. Việt Nam xuất phát từ một nước nông nghiệp, nghèo nàn, lạc hậu, kém phát triển. Di sản của cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp vẫn còn tồn tại khá nặng. Những hệ quả của trạng thái bao cáo tư duy bao cấp vẫn còn, chưa thực sự sẵn sàng hội nhập. Do vậy phát triển trở thành nhiệm vụ, mục tiêu số một của toàn Đảng toàn dân. Muốn vậy phải phát triển kinh tế quốc dân, phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN. Đây là giải pháp cơ bản để chuyển từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn ở nước ta hiện nay. Biện chứng của quá trình phát triển nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam trong thời kỳ quá độ giúp cho sinh viên đặc biệt là sinh viên kinh tế chúng em có nhận thức chính xác về sản xuất xã hội. Đồng thời thấy được ý nghĩa to lớn của việc phát triển nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta trong thời kỳ quá độ vừa phù hợp với sự phát triển chung của nhân loại, vừa phù hợp với cách thức phát triển lực lượng sản xuất ở Việt Nam kết hợp với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.

TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC

TIN KHUYẾN MÃI

Thư viện tài liệu Phong Phú

Hỗ trợ download nhiều Website

Nạp thẻ & Download nhanh

Hỗ trợ nạp thẻ qua Momo & Zalo Pay

Nhận nhiều khuyến mãi

Khi đăng ký & nạp thẻ ngay Hôm Nay

NẠP THẺ NGAY

DANH MỤC TÀI LIỆU LUẬN VĂN

Cập nhật thông tin chi tiết về Luận Văn Đề Tài Thực Trạng Và Những Giải Pháp Chủ Yếu Để Nâng Cao Hiệu Quả Kinh Tế Sử Dụng Đất Canh Tác Ở Phường Cẩm Thượng, Thành Phố Hải Dương trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!