Xu Hướng 2/2023 # Lạm Phát Năm 2022 Cơ Bản Nằm Trong Tầm Kiểm Soát Của Chính Phủ # Top 4 View | Phauthuatthankinh.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Lạm Phát Năm 2022 Cơ Bản Nằm Trong Tầm Kiểm Soát Của Chính Phủ # Top 4 View

Bạn đang xem bài viết Lạm Phát Năm 2022 Cơ Bản Nằm Trong Tầm Kiểm Soát Của Chính Phủ được cập nhật mới nhất trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Toàn cảnh Hội thảo. ẢNh Thuỳ Linh.

Diễn biến CPI 6 tháng nằm trong kịch bản thấp

Theo báo cáo của Cục Quản lý giá, Bộ Tài chính, mặt bằng giá cả thị trường nửa đầu năm 2019 biến động theo hướng tương đối cao trong tháng diễn ra Tết Nguyên đán, giảm nhẹ trong tháng 3, tăng dần trở lại trong hai tháng tiếp theo và giảm trở lại vào tháng 6.

Thống kê của Tổng cục Thống kê cũng cho thấy, CPI bình quân 6 tháng đầu năm 2019 so với cùng kì năm 2018 tăng 2,64%. Như vậy, diễn biến chỉ số giá tiêu dùng trong 6 tháng đầu năm tương đối sát với dự báo từ đầu năm và nằm trong kịch bản CPI thấp.

Theo phân tích của TS. Nguyễn Ngọc Tuyến, Học viện Tài chính, lương thực, thực phẩm; nhà ở và vật liệu xây dựng; giao thông… là các nhóm sản phẩm, dịch vụ có biến động gía lớn nhất, tác động tới tăng chỉ số giá tiêu dùng 6 tháng đầu năm 2019.

“6 tháng đầu năm, ngoài biến động lớn của giá lương thực, thực phẩm trong dịp Tết Nguyên đán và tác động ảnh hưởng của dịch tả lợn châu Phi thì yếu tố tác động lớn tới chỉ số giá tiêu dùng chính là giá điện và giá xăng dầu. Theo đó, gía xăng dầu thế giới biến động khá phức tạp và nhà nước đã điều chỉnh giá xăng dầu nhiều lần. Giá điện tăng 8,6% trong tháng 5 đã làm cho giá nhà ở và vật liệu xây dựng tăng mạnh với mức tăng 1,28% so với tháng 4 và nhóm sản phẩm, dịch vụ bình quân 6 tháng đã tăng 2,7%. Điều này cũng góp phần làm tăng chỉ số giá tiêu dùng bình quân trong 6 tháng”, ông Nguyễn Ngọc Tuyến phân tích.

Theo TS. Nguyễn Đức Độ, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế – Tài chính, lạm phát trung bình 6 tháng đầu năm ở mức thấp bất chấp các đợt tăng sốc giá điện và xăng dầu vào tháng 3 và tháng 4. Thậm chí, lạm phát so với cùng kỳ năm trước của tháng 6 còn giảm xuống mức 2,61%.

Theo ông Nguyễn Đức Độ, có nhiều nguyên nhân dẫn đến lạm phát thấp như hiện nay. Thứ nhất, lạm phát cơ bản mặc dù có xu hướng tăng nhẹ nhưng vẫn thấp hơn mức 2%. Đây là xu hướng chủ đạo đã diễn ra trong nhiều năm gần đây. Thứ hai, giá xăng dầu sau khi tăng hồi đầu năm đã giảm trong các tháng 5 và tháng 6. Thứ ba, tỷ giá được Ngân hàng Nhà nước điều hành ổn định, chỉ tăng 1% trong 6 tháng đầu năm 2019.

Tại Hội nghị, nhiều ý kiến chuyên gia cho rằng 6 tháng đầu năm 2019 kinh tế nước ta đứng trước những thách thức không nhỏ từ kinh tế thế giới và những khó khăn trong nước. Tuy nhiên, với quyết tâm của Chính phủ trong việc thực hiện mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, sự chủ động điều hành giá các mặt hàng thiết yếu, cộng với nguồn cung đáp ứng nhu cầu là những yếu tố góp phần làm cho chỉ số giá tiêu dùng thấp.

CPI bình quân năm 2019 sẽ trong mức khoảng 3,3-3,9%

Nhận định về diễn biến giá cả 6 tháng cuối năm, Cục Quản lý giá cho rằng, công tác điều hành giá, kiểm soát lạm phát trong các tháng còn lại năm 2019 đặt trong bối cảnh kinh tế thế giới đang có xu hướng chững lại, cùng với đó, căng thẳng về tình hình chính trị thế giới vẫn chưa có dấu hiệu hạ nhiệt tác động làm gía nhiều loại nguyên, nhiên liệu như xăng dầu có biến động phức tạp, khó dự báo.

“Căn cứ về cập nhật diễn biến CPI 6 tháng đầu năm cơ bản diễn biến theo kịch bản đã đề ra và ở mức thấp, với các dự báo về các yếu tố tác động đến CPI 6 tháng cuối năm, dự báo CPI bình quân năm 2019 sẽ trong mức khoảng 3,3-3,9%. Như vậy có thể đánh giá việc thực hiện mục tiêu kiểm soát lạm phát năm 2019 cơ bản vẫn nằm trong tầm kiểm soát của Chính phủ nếu không có các diễn biến quá bất thường từ tinh hình kinh tế – chính trị và thị trường thế giới”, Cục Quản lý giá nhận định.

Chuyên gia Ngô Trí Long cũng cho rằng, thời gian tới, các yếu tố có thể ảnh hưởng tới chỉ số giá tiêu dùng đó là giá thực phẩm trong nước vẫn dự báo cao. Hơn nữa, trong tháng 7, Nhà nước sẽ thực hiện tăng lương (thêm 6,92%) trên mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hàng tháng trước đó đối với 8 đối tượng. Trong tháng 9, thời điểm vào năm học mới sẽ có những yếu tố tác động đến chỉ số giá tiêu dùng.

Đáng chú ý, theo dự báo giá xăng dầu thế giới trong thời gian tới diễn biến phức tạp và có xu hướng tăng nhẹ. Tuy nhiên, ông Ngô Trí Long cũng cho rằng, vừa qua giá xăng dầu sau nhiều kỳ liên tiếp giảm giá đã góp phần bình ổn giá cả thị trường, kéo giảm lạm phát nên trong những tháng còn lại gía xăng dầu sẽ không còn là “mối đe doạ” đối với chỉ số giá tiêu dùng.

Để đảm bảo mục tiêu kiểm soát CPI bình quân năm 2019, hỗ trợ cho tăng trưởng, ổn định kinh tế vĩ mô, từ nay đến cuối năm, Bộ Tài chính sẽ tiếp tục chủ động phối hợp với các Bộ ngành, địa phương tập trung triển khai nghiêm túc các chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các chỉ đạo của Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ – Trưởng ban Chỉ đạo điều hành gía.

Chuyên gia Ngô Trí Long cũng kiến nghị, Chính phủ cần kiên trì triển khai những nhóm giải pháp lớn nhằm bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và tăng trưởng. Trong đó tiếp tục chính sách tiền tệ, tài khoá linh hoạt, chủ động để kiểm soát lạm phát. Ngoài ra cũng cần tăng tốc độ giải ngân vốn đầu tư công, giải quyết kịp thời vướng mắc tại các dự án.

“Để giữ mức CPI bình quân năm 2019 dưới 4%, các bộ ngành cần tiếp tục rà soát để đẩy nhanh thực hiện giảm giá các mặt hàng có khả năng giảm giá. Đối với các mặt hàng giá thị trường có xu hướng tăng trong thời gian tới đây như lương thưc, thịt lợn… cần chủ động rà soát, cân đối cung cầu, sử dụng hợp lý quỹ bình ổn giá để bình ổn thị trường”, chuyên gia Ngô Trí Long kiến nghị.

Đặc biệt, đối với giá xăng dầu, vị chuyên gia này cho rằng, Bộ Công thương phải chủ trì phối hợp với Bộ Tài chính điều hành giá, sử dụng hợp lý quỹ bình ổn với liều lượng thích hợp, chủ động có kịch bản ứng phó nếu giá tăng cao, để tạo dư địa lợi nhuận cho việc kiểm soát mặt bằng giá cả năm.

Kiểm Soát Lạm Phát Năm 2022 Như Thế Nào?

PV: Ông có nhận xét gì về lạm phát năm 2018 ở nước ta?

PGS.TS Ngô Trí Long: Năm 2018, Quốc hội quyết định mục tiêu tăng giá tiêu dùng bình quân ở mức 4%. So với năm 2017, con số đó không thay đổi, nhưng công tác điều hành quản lý giá trong năm 2018 đặt ra nhiều thách thức, trong bối cảnh có nhiều yếu tố tác động tới lạm phát. Giá cả nhiều mặt hàng cơ bản trên thế giới có xu hướng phục hồi, nhất là giá dầu thô được dự báo lên mức trên 60 USD/thùng, các diễn biến bất lợi của tỉ giá cũng như các căng thẳng trong chiến tranh thương mại Mỹ – Trung Quốc cũng tác động lên mặt bằng giá. Mặt bằng giá cả trong nước chịu những áp lực lớn ngay từ nửa đầu năm từ các yếu tố thị trường như giá lương thực tăng theo nhu cầu xuất khẩu, giá các mặt hàng nhiên liệu như xăng dầu, khí LPG liên tục có các biến động tăng trong quý II và quý III…

Tuy nhiên, trong bối cảnh đó, lạm phát năm 2018 vẫn được kiểm soát hiệu quả. Tính chung, năm 2018, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân tăng 3,54% so với năm 2017 – dưới mục tiêu Quốc hội đề ra và tăng 2,98% so với tháng 12-2017, bình quân mỗi tháng tăng 0,25%. Lạm phát cơ bản (CPI sau khi loại trừ lương thực, thực phẩm tươi sống, năng lượng và mặt hàng do Nhà nước quản lý bao gồm dịch vụ y tế và dịch vụ giáo dục) năm 2018 so với 2017 chỉ tăng 1,48%.

Như vậy, mục tiêu kiểm soát lạm phát dưới 4% của năm 2018 đã đạt được, góp phần vào mục tiêu kép là vừa giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, vừa thúc đẩy tăng trưởng GDP, tạo thêm dư địa để thực hiện tốt hơn các nhiệm vụ bảo đảm an sinh xã hội.

PV: Theo ông nguyên nhân nào đã làm cho việc kiểm soát lạm phát đạt được kết quả khả quan như vậy?

PGS.TS Ngô Trí Long: Đó là Bộ Tài chính đã chủ động phối hợp với các bộ, ngành, địa phương để triển khai quyết liệt công tác quản lý, điều hành giá nhằm bình ổn giá cả thị trường, kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, góp phần thúc đẩy tăng trưởng. Bộ Tài chính đã tập trung xây dựng lộ trình và phạm vi điều chỉnh giá các mặt hàng Nhà nước quản lý trong năm 2018; tổ chức thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác quản lý, điều hành nhằm bình ổn thị trường giá cả trong dịp Tết Nguyên đán 2018.

Bộ Tài chính cũng đã chủ động xây dựng kịch bản điều hành giá trong các giai đoạn ngắn hạn và trong cả năm 2018, đồng thời chú trọng xây dựng hành lang pháp lý về giá đồng bộ, có tính thực tiễn cao, trong đó có việc nghiên cứu, tổng kết, đánh giá thi hành Luật Giá và các văn bản dưới luật để có cơ sở báo cáo Quốc hội tiến hành sửa đổi Luật Giá (nếu cần thiết). Công tác kiểm tra được đẩy mạnh trong các lĩnh vực, qua đó đã phát hiện và xử lý kịp thời, chấn chỉnh các hành vi vi phạm pháp luật về giá.

Các mặt hàng tiêu dùng, thực phẩm tại một siêu thị

Năm 2018, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân tăng 3,54% so với năm 2017 – dưới mục tiêu Quốc hội đề ra và tăng 2,98% so với tháng 12-2017, bình quân mỗi tháng tăng 0,25%. Lạm phát cơ bản (CPI sau khi loại trừ lương thực, thực phẩm tươi sống, năng lượng và mặt hàng do Nhà nước quản lý bao gồm dịch vụ y tế và dịch vụ giáo dục) năm 2018 so với 2017 chỉ tăng 1,48%.

Bên cạnh đó, Bộ Công Thương cũng góp phần đáng kể trong kiểm soát lạm phát với lĩnh vực quản lý của mình. Như với mặt hàng xăng dầu, Bộ Công Thương đã điều hành giá xăng dầu trong nước theo quy định của Chính phủ và chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, đã sử dụng linh hoạt quỹ bình ổn giá để hạn chế mức tăng giá các mặt hàng xăng dầu, đồng thời quán triệt nguyên tắc thực hiện công khai, minh bạch trong điều hành giá xăng dầu, thường xuyên công khai chi tiết tình hình trích lập, sử dụng lãi phát sinh và số dư Quỹ bình ổn giá xăng dầu của từng thương nhân kinh doanh xăng dầu đầu mối hằng quý trên trang thông tin điện tử của liên Bộ.

Ngoài ra, Bộ Công Thương còn phối hợp Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư nghiên cứu, đề xuất các giải pháp cụ thể trong điều hành bán giá điện. Đối với các mặt hàng khác như khí LPG, thuốc và vật tư y tế, dịch vụ giáo dục, vật liệu xây dựng, cước bưu chính viễn thông, các dịch vụ vận tải đường bộ… Bộ Công Thương cũng đã chủ động phối hợp với các bộ, ngành, địa phương theo dõi tình hình giá cả, chủ động trong việc triển khai các biện pháp điều hành phù hợp, dự báo và xây dựng kịch bản điều hành giá cho từng mặt hàng kịp thời trong từng giai đoạn theo đúng chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ…

PV: Còn vai trò của Ngân hàng Nhà nước như thế nào, thưa ông?

PGS.TS Ngô Trí Long: Vai trò của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cũng vô cùng quan trọng, nhất là trong việc điều hành chính sách tiền tệ. NHNN đã điều hành tỉ giá theo cơ chế tỉ giá trung tâm với những đồng tiền chủ chốt nên tỉ giá VND/USD trong nước chỉ dao động trong biên độ 3%. Giá vàng trong nước biến động cùng xu hướng với giá vàng thế giới. Nhu cầu vàng trong nước tăng cao vào dịp Tết Nguyên đán, ngày “Thần tài” nhưng không có tình trạng sốt vàng gây bất ổn cho xã hội.

Cùng với đó NHNN đã phối hợp đồng bộ các biện pháp, công cụ chính sách tiền tệ để điều tiết thanh khoản, lãi suất VND hợp lý, kiên định với chủ trương từng bước hạn chế tình trạng “đôla hóa”, ổn định tâm lý thị trường.

PV: Thưa ông, liệu kiểm soát lạm phát năm 2019 có đạt được như năm 2018?

GS.TS Ngô Trí Long: Theo tôi, về thuận lợi, năm 2018 đã nối tiếp thành công với những nền tảng tích cực của năm 2017 thì năm 2019 sẽ tiếp tục khả quan từ những gì đã làm được của năm 2018, đặc biệt là GDP tăng trưởng với con số ấn tượng 7,08%.

Tuy nhiên, cũng không được chủ quan với tình hình kinh tế, lạm phát bởi những con số ấy không thể làm mờ đi nguy cơ tụt hậu. Thực tế, GDP bình quân đầu người năm 2018 đạt khoảng 2.587 USD, tăng 198 USD so với năm 2017, nhưng còn ở mức thấp so với các nước trong khu vực. Kinh tế Việt Nam vẫn phải nỗ lực nhiều để vươn lên tầm cao mới. Nếu không đồng thời cải cách và phát triển, chúng ta lập tức sẽ bị tụt hậu.

Theo kết quả xếp hạng của Diễn đàn Kinh tế thế giới năm 2018, chỉ số năng lực cạnh tranh 4.0 của Việt Nam giảm 4 bậc (từ 74 xuống 77). Quan trọng hơn là 7/12 trụ cột giảm điểm. So sánh trong ASEAN, Việt Nam đứng sau hầu hết các nước, chỉ trên Lào và Campuchia.

Theo kết quả xếp hạng của Diễn đàn Kinh tế thế giới năm 2018, chỉ số năng lực cạnh tranh 4.0 của Việt Nam giảm 4 bậc (từ 74 xuống 77). Quan trọng hơn là 7/12 trụ cột giảm điểm. So sánh trong ASEAN, Việt Nam đứng sau hầu hết các nước, chỉ trên Lào và Campuchia. Năm 2018 cũng chỉ có Việt Nam, Lào, Campuchia giảm bậc trong khi các nước ASEAN khác đều tăng bậc, nhất là Philippines tăng 12 bậc. Như vậy, năng lực cạnh tranh 4.0 của Việt Nam tụt lại đằng sau các nước ASEAN.

Bên cạnh đó, năm 2019, giá cả thị trường trong nước dự báo sẽ chịu nhiều tác động từ không ít các yếu tố. Trong đó, đáng chú ý là dịch bệnh đối với vật nuôi luôn có nguy cơ xảy ra, gây ảnh hưởng tới nguồn cung và giá cả các mặt hàng thực phẩm. Thời tiết, khí hậu cũng có khả năng ảnh hưởng lớn tới hoạt động sản xuất nông nghiệp và nguồn cung nông sản trên thị trường. Hoặc, từ ngày 1/1/2019 sẽ tăng lương tối thiểu vùng từ 2.920.000 đồng lên 4.180.000 đồng/tháng đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động…

Dịch vụ công năm 2019 tiếp tục được điều chỉnh theo lộ trình tăng giá giai đoạn 2016-2020 nên được dự báo sẽ góp phần vào lạm phát tổng thể, tác động trễ tới diễn biến chỉ số giá tiêu dùng.

Dựa vào những nhân tố nêu trên, lạm phát dự báo sẽ tiếp tục ở mức thấp, khoảng 4% trong các năm 2019, 2020. Căn cứ vào các yếu tố vĩ mô, tình hình chính trị, kinh tế trong nước và quốc tế, dự báo của các cơ quan chức năng như Tổng cục Thống kê, Bộ Tài chính… chỉ số CPI năm 2019 đều ở mức dưới 4%.

PV: Để lạm phát dừng ở mức 4%, theo ông, cần có những giải pháp gì?

Đối với việc thực hiện lộ trình theo cơ chế thị trường một số mặt hàng quan trọng, thiết yếu, Bộ Tài chính cần tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, Tổng cục Thống kê để tính toán mức độ và thời điểm điều chỉnh phù hợp nhằm kiểm soát mặt bằng giá chung, hạn chế tác động đến sản xuất, tiêu dùng và đời sống người dân. Điều chỉnh giá dịch vụ công cần theo lộ trình phù hợp, tránh gây ra những tác động bất lợi đến chỉ số giá tiêu dùng. Tiếp tục rà soát, hoàn thiện hệ thống pháp luật về giá, đẩy nhanh hoàn thiện các định mức kinh tế – kỹ thuật làm cơ sở xác định giá dịch vụ theo lộ trình tính đúng, tính đủ chi phí thực hiện dịch vụ vào giá…

Đặc biệt, đổi mới thể chế là đột phá quan trọng trong kiểm soát lạm phát. Chính vì vậy, chúng ta phải tập trung rà soát, hoàn thiện các cơ chế chính sách tạo chuyển biến mạnh mẽ hơn nữa, nhất là những ngành, lĩnh vực ứng dụng công nghệ cao, xây dựng, phát triển đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng công nghệ thông tin, vì thời đại 4.0 tác động rất mạnh mẽ đến sản xuất, kinh doanh, phát triển kinh tế… Ngoài ra phải phát huy vai trò, trách nhiệm và hiệu quả hoạt động của Ủy ban Quản lý vốn Nhà nước tại doanh nghiệp; tập trung giải pháp để xử lý các dự án thua lỗ bên cạnh điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, thận trọng, phối hợp với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác nhằm tiếp tục ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát…

PV: Cảm ơn ông về cuộc trao đổi này!

TS Nguyễn Đức Độ – Phó viện trưởng Viện Kinh tế tài chính: Lạm phát năm 2019 sẽ thấp hơn năm 2018

Với việc giá dầu giảm mạnh, lạm phát tháng 12/2018 so với tháng 12/2017 chỉ còn ở mức 2,98%. Đây là điều kiện rất thuận lợi cho việc bảo đảm kiềm chế lạm phát dưới hoặc 4% trong năm 2019. Bởi mức khởi điểm lạm phát trong tháng đầu năm 2019 nhiều khả năng sẽ ở mức dưới 3% sau khi Liên Bộ Tài chính – Công Thương quyết định điều chỉnh giảm giá xăng dầu khoảng 500 đồng/lít.

Mức lạm phát thấp của tháng đầu năm 2019 sẽ có tác động tích cực đến lạm phát của tất cả các tháng trong năm cũng như lạm phát trung bình của cả năm 2019.

Trên thực tế, việc kiềm chế lạm phát năm 2019 không chỉ thuận lợi do giá dầu giảm mà còn do nhiều yếu tố khác. Trước tiên, giá thịt lợn sau khi đã đạt mức trên 50.000 đồng/kg (thuộc hàng cao nhất thế giới) đã chững lại. Bởi giá tăng cao hơn nữa sẽ khiến cho nguồn cung tăng mạnh (nhập khẩu thịt lợn tăng, nông dân tái đàn) từ đó kéo giá xuống. Do đó, giá thịt lợn năm 2019 nhiều khả năng sẽ không tăng hoặc giảm, tức là đóng góp của giá thịt lợn vào lạm phát năm 2019 sẽ bằng 0 hoặc âm.

Yếu tố thuận lợi thứ hai là áp lực đối với tỉ giá trong năm 2019 được dự báo sẽ thấp hơn so với năm 2018 bởi kinh tế Mỹ được dự báo sẽ tăng trưởng chậm lại và lộ trình tăng lãi suất của FED cũng đang ở giai đoạn cuối, dẫn đến nhu cầu đối với USD không còn mạnh như trước.

Yếu tố thứ ba cũng cần nói đến là căng thẳng thương mại Mỹ – Trung đang có chiều hướng dịu bớt. Khi cả nền kinh tế Mỹ và Trung Quốc cùng được dự báo sẽ tăng trưởng chậm lại trong năm sau, việc gia tăng căng thẳng trong quan hệ thương mại giữa hai nước sẽ không có lợi cho bất kỳ ai, kể cả bên thứ ba là các nước còn lại, khiến đồng nhân dân tệ ổn định hơn trong năm 2019.

Theo kịch bản trung bình, lạm phát sẽ tăng khoảng 0,14%/tháng (chưa tính điều chỉnh giá điện, giá dịch vụ y tế và giáo dục), tương đương với mức tăng của lạm phát cơ bản trong năm 2018. Với mức tăng này, lạm phát tháng 12-2019 sẽ ở mức khoảng 1,7% và lạm phát trung bình sẽ chỉ ở mức trên 2%. Tuy nhiên, do Chính phủ sẽ điều chỉnh giá dịch vụ công theo lộ trình nên lạm phát trung bình sẽ cao hơn, nhưng khả năng chỉ ở mức khoảng 3%.

Trong kịch bản lạm phát thấp, giá dầu tiếp tục giảm và tỉ giá VND/USD chỉ tăng 1%, lạm phát cùng kỳ của tháng 12-2019 có thể chỉ ở mức 1% và lạm phát trung bình cả năm 2019 chỉ ở mức 2,5%.

Còn kịch bản lạm phát cao, giá xăng dầu tăng mạnh trở lại và tỉ giá VND/USD có mức tăng tương đương với mức của năm 2018, đồng thời Chính phủ vẫn điều chỉnh giá dịch vụ công theo lộ trình, lạm phát trung bình cả năm 2019 sẽ vẫn thấp hơn mức 3,54% của năm 2018.

Tú Anh

Kiểm Soát Lạm Phát Năm 2022: Dưới 4% Có Khả Thi?

Năm 2018 đã ghi nhận một dấu mốc mới của kinh tế Việt Nam với thành công kép là GDP tăng trưởng tới 7,08%, mức tăng cao nhất trong 10 năm qua, trong khi chỉ sốlạm phátbình quân (CPI) chỉ tăng 3,54% so với năm 2017, thấp hơn mục tiêu 4% do Quốc hội đề ra.

Dự báo lạm phát tiếp tục dưới 4%

Năm 2019, các chuyên gia kinh tế vô cùng lạc quan khi dự báo Việt Nam có thể kiểm soát được lạm phát dưới mức 4%. Mặc dù giá cả các mặt hàng thiết yếu vẫn đang tạo ra không ít sức ép, song nhiều ý kiến cho rằng với việc triển khai đồng bộ các giải pháp đề ra và sự chỉ đạo điều hành của Chính phủ, mục tiêu kiểm soát lạm phát sẽ thực hiện được.

Nhìn nhận về bức tranh kinh tế năm 2019, TS Nguyễn Đức Độ, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế – Tài chính, cho rằng có thể lạm phát năm 2019 còn thấp hơn trong năm 2018 đã qua. Theo ông Độ, cả 3 yếu tố khiến cho lạm phát những tháng đầu năm 2018 tăng mạnh là giá dầu, giá thịt lợn và tỉ giá đều được dự báo sẽ giảm hoặc ổn định hơn trong năm 2019. “Do đó, mục tiêu kiềm chế lạm phát dưới 4% trong năm 2019 gần như sẽ thực hiện được” – ông Độ nhận định.

Cũng theo vị chuyên gia này, áp lực đối với tỉ giá trong năm 2019 được dự báo sẽ thấp hơn so với năm 2018. Bên cạnh đó, chiến tranh thương mại Mỹ – Trung đang có những động thái theo chiều hướng “giảm nhiệt”.

Việt Nam cũng có rất nhiều thuận lợi để kiềm chế lạm phát trong bối cảnh hiện tại. Cụ thể, CPI các năm gần đây đều thấp dưới 4%, lạm phát cơ bản các năm gần đây cũng đạt thấp dưới 2%, cung hàng hóa tương đối dồi dào, kinh tế vĩ mô ổn định. Nếu triển khai thực hiện tốt các giải pháp thì hoàn toàn có thể đạt mục tiêu kiểm soát lạm phát dưới 4% năm 2019.

Nhiều thách thức

Mặc dù nhận định Việt Nam có thể kiểm soát được lạm phát dưới mức 4% năm 2019, tuy nhiên các chuyên gia kinh tế cũng chỉ ra các sức ép, thách thức đối với cơ quan quản lý trong bối cảnh hiện tại.

Chia sẻ với phóng viên BáoNgười Lao Động, Chuyên gia kinh tế Ngô Trí Long đánh giá giữ lạm phát khoảng 4% là một thách thức không nhỏ trong năm 2019.

Ông Ngô Trí Long nhận định trong năm nay giá cả thị trường hàng hóa Việt Nam sẽ chịu tác động của nhiều yếu tố như dịch bệnh đối với vật nuôi gây ảnh hưởng tới nguồn cung và giá cả các mặt hàng thực phẩm.

Vị chuyên gia kinh tế cũng đưa ra những yếu tố gây áp lực lên mặt bằng giá như lương tối thiểu vùng tăng từ 1-1-2019, điều chỉnh giá điện hay một số mặt hàng do Nhà nước quản lý, xu hướng tăng giá của đồng USD tác động đến tỉ giá trong nước. “Năm 2019 sẽ chịu áp lực từ việc điều chỉnh tăng giá dịch vụ công”- ông Ngô Trí Long nhấn mạnh.

Về bài toán kiềm chế lạm phát trong năm nay, TS Lê Quốc Phương, nguyên Phó Giám đốc Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại (Bộ Công Thương), nhận định giá hàng hóa thế giới năm 2019 được dự báo có thể tăng và việc Cục Dự trữ liên bang (FED) dự định sẽ tăng tiếp lãi suất ít nhất 2 lần trong năm 2019. Do vậy, đồng USD sẽ tăng giá tạo sức ép lên tỉ giá và gây sức ép lên lạm phát.

“Mục tiêu tăng trưởng GDP tương đối cao, trong khi mô hình tăng trưởng theo chiều rộng chưa đổi mới căn bản cũng là nguyên nhân tạo sức ép lên lạm phát. Việc tăng giá dịch vụ y tế và giáo dục theo lộ trình tại một số địa phương hay tăng thuế bảo vệ môi trường đối với xăng dầu là những yếu tố gây áp lực lên kiềm chế lạm phát”- ông Phương nhận định.

Một số chuyên gia kinh tế cho rằng, cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung mặc dù có chiều hướng “giảm nhiệt” nhưng có thể tạo ra những cú sốc tác động tiêu cực tới nền kinh tế trong nước.

Để đạt được mục tiêu kiểm soát lạm phát dưới 4% năm nay, chuyên gia Ngô Trí Long cho biết trước hết cơ quan quản lý cần chủ động theo dõi, phân tích thông tin và dự báo diễn biến tình hình kinh tế, tài chính, giá cả thế giới, trong nước để chủ động có phương án phù hợp, kịp thời.

Ông Long cũng đề xuất cần thực hiện quyết liệt các giải pháp chống thất thu, chuyển giá, trốn thuế, xử lý nợ đọng thuế và kiểm soát chi thường xuyên.

Nghị quyết về Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2019 của Quốc hội đề ra mục tiêu kiểm soát lạm phát khoảng 4%. Theo Nghị quyết, mục tiêu tổng quát của năm 2019 vẫn đặt lên hàng đầu yêu cầu tiếp tục ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát.

Nghị quyết của Quốc hội nêu rõ tiếp tục ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát. Điều hành lãi suất, tỷ giá linh hoạt, phù hợp với diễn biến thị trường và yêu cầu quản lý; điều chỉnh giá dịch vụ công cần theo lộ trình phù hợp, tránh gây ra những tác động bất lợi đến chỉ số giá tiêu dùng.

Theo Minh Chiến/Người Lao Động

Giải Pháp Nào Kiểm Soát Lạm Phát?

BNEWS Nhiều chuyên gia cho rằng việc giữ lạm phát khoảng 4% như Quốc hội đề ra là một thách thức không nhỏ.

Theo các chuyên gia kinh tế, năm 2019, giá cả thị trường Việt Nam tiếp tục gắn kết ngày càng chặt chẽ với biến động của giá nguyên, nhiên vật liệu trên thị trường thế giới. Do đó, khi các yếu tố bên ngoài biến động, cần tính toán kỹ càng để đạt được mục tiêu kiểm soát lạm phát khoảng 4% như Nghị quyết về Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2019. Cục Quản lý giá (Bộ Tài chính) cho biết, trong những tháng đầu năm 2019, thời điểm trước và sau Tết Nguyên đán Kỷ Hợi khiến nhu cầu mua sắm, đi lại, du lịch gia tăng đẩy giá một số mặt hàng thiết yếu biến động tăng cao hơn tháng trước. Trong bối cảnh đó, việc điều hành giá một số mặt hàng do Nhà nước quản lý đã được các bộ, ngành, địa phương phối hợp chặt chẽ và thực hiện đồng bộ các biện pháp, góp phần kiềm chế tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng (CPI). Ông Phạm Minh Thụy, Viện Kinh tế – Tài chính cho rằng, năm nay sẽ điều chỉnh tăng giá điện, dịch vụ, y tế, giáo dục theo lộ trình thực hiện cơ chế giá thị trường và xã hội hóa giá dịch vụ y tế, giáo dục. Bên cạnh đó, việc thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế đã ký, nhất là cam kết về mở cửa thị trường, cắt giảm thuế, bảo đảm sở hữu trí tuệ sẽ mang lại cơ hội cho Việt Nam trong thu hút các nguồn lực từ nước ngoài, nhưng đồng thời cũng là áp lực cạnh tranh rất lớn đối với khu vực trong nước, tương quan cung – cầu hàng hóa trên thị trường sẽ biến động rất nhanh. Đồng quan điểm, chuyên gia kinh tế Ngô Trí Long cho biết một số yếu tố gây áp lực lên mặt bằng giá trong năm 2019 như áp dụng tăng lương tối thiểu vùng từ 2.920.000 đến 4.180.000 đồng/tháng từ ngày 1/1/2019; hay việc điều chỉnh giá một số mặt hàng do Nhà nước quản lý theo lộ trình thị trường, giá điện sẽ được điều chỉnh, biến động phức tạp của giá xăng dầu và các hàng hóa cơ bản khác trên thị trường thế giới. Xu hướng tăng giá của đồng USD cũng sẽ tác động đến tỷ giá trong nước. Do đó, ông Ngô Trí Long cho rằng việc giữ lạm phát khoảng 4% như Quốc hội đề ra là một thách thức không nhỏ. Phân tích kỹ hơn, TS. Lê Quốc Phương, Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại (Bộ Công thương) cho rằng, mục tiêu tăng trưởng GDP tương đối cao, trong khi mô hình tăng trưởng theo chiều rộng chưa đổi mới căn bản cũng là nguyên nhân tạo sức ép lên lạm phát, cùng đó việc một số địa phương tiếp tục tăng giá dịch vụ y tế và giáo dục theo lộ trình; thuế đánh vào xăng dầu tăng kịch trần là những yếu tố gây tăng lạm phát. Riêng về giá điện, Bộ Công Thương đã đề xuất Chính phủ dự kiến trong tháng 3 này tăng giá bán lẻ điện bình quân năm 2019 khoảng 8,36% so với giá bán điện bình quân hiện hành là 1.720,65 đồng/kWh. Theo tính toán, việc này có thể làm tăng CPI trong khoảng từ 0,26 – 0,31%. Tuy nhiên, theo TS. Lê Quốc Phương, chỉ tiêu kiểm soát lạm phát khoảng 4% vẫn có thể đạt được bởi nhiều yếu tố thuận lợi. Đó là những năm gần đây (2016-2018) CPI thấp dưới 4%, lạm phát cơ bản thấp dưới 2%; cung hàng hóa tương đối dồi dào không gây biến động lớn về giá; kinh tế vĩ mô ổn định tạo dư địa tiếp tục kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô; đồng thời hỗ trợ tăng trưởng ở mức hợp lý. Xuất siêu liên tục trong giai đoạn 2012-2018 (trừ năm 2015) giúp tỷ giá ổn định và giảm áp lực lạm phát; dự trữ ngoại hối cao kỷ lục giúp Ngân hàng Nhà nước có công cụ ổn định tỷ giá cũng làm giảm áp lực lạm phát.

BNEWS Nhiều chuyên gia cho rằng việc giữ lạm phát khoảng 4% như Quốc hội đề ra là một thách thức không nhỏ.

Theo các chuyên gia kinh tế, năm 2019, giá cả thị trường Việt Nam tiếp tục gắn kết ngày càng chặt chẽ với biến động của giá nguyên, nhiên vật liệu trên thị trường thế giới. Do đó, khi các yếu tố bên ngoài biến động, cần tính toán kỹ càng để đạt được mục tiêu kiểm soát lạm phát khoảng 4% như Nghị quyết về Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2019. Cục Quản lý giá (Bộ Tài chính) cho biết, trong những tháng đầu năm 2019, thời điểm trước và sau Tết Nguyên đán Kỷ Hợi khiến nhu cầu mua sắm, đi lại, du lịch gia tăng đẩy giá một số mặt hàng thiết yếu biến động tăng cao hơn tháng trước. Trong bối cảnh đó, việc điều hành giá một số mặt hàng do Nhà nước quản lý đã được các bộ, ngành, địa phương phối hợp chặt chẽ và thực hiện đồng bộ các biện pháp, góp phần kiềm chế tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng (CPI). Ông Phạm Minh Thụy, Viện Kinh tế – Tài chính cho rằng, năm nay sẽ điều chỉnh tăng giá điện, dịch vụ, y tế, giáo dục theo lộ trình thực hiện cơ chế giá thị trường và xã hội hóa giá dịch vụ y tế, giáo dục. Bên cạnh đó, việc thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế đã ký, nhất là cam kết về mở cửa thị trường, cắt giảm thuế, bảo đảm sở hữu trí tuệ sẽ mang lại cơ hội cho Việt Nam trong thu hút các nguồn lực từ nước ngoài, nhưng đồng thời cũng là áp lực cạnh tranh rất lớn đối với khu vực trong nước, tương quan cung – cầu hàng hóa trên thị trường sẽ biến động rất nhanh. Đồng quan điểm, chuyên gia kinh tế Ngô Trí Long cho biết một số yếu tố gây áp lực lên mặt bằng giá trong năm 2019 như áp dụng tăng lương tối thiểu vùng từ 2.920.000 đến 4.180.000 đồng/tháng từ ngày 1/1/2019; hay việc điều chỉnh giá một số mặt hàng do Nhà nước quản lý theo lộ trình thị trường, giá điện sẽ được điều chỉnh, biến động phức tạp của giá xăng dầu và các hàng hóa cơ bản khác trên thị trường thế giới. Xu hướng tăng giá của đồng USD cũng sẽ tác động đến tỷ giá trong nước. Do đó, ông Ngô Trí Long cho rằng việc giữ lạm phát khoảng 4% như Quốc hội đề ra là một thách thức không nhỏ. Phân tích kỹ hơn, TS. Lê Quốc Phương, Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại (Bộ Công thương) cho rằng, mục tiêu tăng trưởng GDP tương đối cao, trong khi mô hình tăng trưởng theo chiều rộng chưa đổi mới căn bản cũng là nguyên nhân tạo sức ép lên lạm phát, cùng đó việc một số địa phương tiếp tục tăng giá dịch vụ y tế và giáo dục theo lộ trình; thuế đánh vào xăng dầu tăng kịch trần là những yếu tố gây tăng lạm phát. Riêng về giá điện, Bộ Công Thương đã đề xuất Chính phủ dự kiến trong tháng 3 này tăng giá bán lẻ điện bình quân năm 2019 khoảng 8,36% so với giá bán điện bình quân hiện hành là 1.720,65 đồng/kWh. Theo tính toán, việc này có thể làm tăng CPI trong khoảng từ 0,26 – 0,31%. Tuy nhiên, theo TS. Lê Quốc Phương, chỉ tiêu kiểm soát lạm phát khoảng 4% vẫn có thể đạt được bởi nhiều yếu tố thuận lợi. Đó là những năm gần đây (2016-2018) CPI thấp dưới 4%, lạm phát cơ bản thấp dưới 2%; cung hàng hóa tương đối dồi dào không gây biến động lớn về giá; kinh tế vĩ mô ổn định tạo dư địa tiếp tục kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô; đồng thời hỗ trợ tăng trưởng ở mức hợp lý. Xuất siêu liên tục trong giai đoạn 2012-2018 (trừ năm 2015) giúp tỷ giá ổn định và giảm áp lực lạm phát; dự trữ ngoại hối cao kỷ lục giúp Ngân hàng Nhà nước có công cụ ổn định tỷ giá cũng làm giảm áp lực lạm phát.

Cập nhật thông tin chi tiết về Lạm Phát Năm 2022 Cơ Bản Nằm Trong Tầm Kiểm Soát Của Chính Phủ trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!