Xu Hướng 2/2023 # Làm Gì Để Phát Triển Năng Lượng Bền Vững Tại Việt Nam? # Top 5 View | Phauthuatthankinh.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Làm Gì Để Phát Triển Năng Lượng Bền Vững Tại Việt Nam? # Top 5 View

Bạn đang xem bài viết Làm Gì Để Phát Triển Năng Lượng Bền Vững Tại Việt Nam? được cập nhật mới nhất trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Làm gì để phát triển năng lượng bền vững tại Việt Nam?

Ông Lê Tuấn Phong

Ông Lê Tuấn Phong, Phó Tổng Cục trưởng Tổng cục Năng (Bộ Công Thương): “Vốn đầu tư của ngành năng lượng rất lớn”

Việt Nam đang phải đối mặt với những thách thức trong lĩnh vực năng lượng như nhu cầu năng lượng tăng trưởng cao gây áp lực rất lớn đến việc đảm bảo an ninh năng lượng, đồng thời cũng tạo sức ép lớn cho nền kinh tế Việt Nam về vốn đầu tư cho ngành năng lượng. 

Việt Nam cần nỗ lực, thực hiện nhiều giải pháp để cải thiện việc hoạch định chiến lược phát triển ngành năng lượng, quy hoạch năng lượng, xây dựng thị trường năng lượng cạnh tranh để cải thiện hiệu quả và năng suất của ngành năng lượng, tăng tỷ trọng các nguồn năng lượng sạch và năng lượng tái tạo, thúc đẩy các giải pháp sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả.

  Ông Tô Quốc Trụ

Ông Tô Quốc Trụ, Phó Chủ tịch Hội đồng Khoa học năng lượng VEA (VESB): Phát triển và khai thác hợp lý các nguồn năng lượng

Để đảm bảo phát triển năng lượng bền vững, Việt Nam cần hết sức quan tâm đến điều hành, quản lý, phát triển và khai thác hợp lý các nguồn năng lượng.

Chính sách sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả cần được nhấn mạnh và đưa ra biện pháp mạnh để thực hiện. Trên phương diện tổng thể, Việt Nam cần ưu tiên phát triển các ngành kinh tế – xã hội nói chung và ngành công nghiệp nói riêng có cường độ năng lượng thấp, áp dụng công nghệ mới sản xuất các trang thiết bị hiệu suất cao, khuyến khích về thuế cho các doanh nghiệp tiết kiệm năng lượng, miễn giảm thuế thu nhập hàng hóa và thiết bị tiết kiệm năng lượng…

Ông Nguyễn Tài Anh

Ông Nguyễn Tài Anh, Phó Tổng giám đốc EVN: Thực hiện trách nhiệm của doanh nghiệp đối với xã hội

Tập đoàn Điện lực Việt Nam đã và đang nỗ lực hết sức mình để thực hiện các trách nhiệm của doanh nghiệp đối với xã hội, thực hiện các mục tiêu công ích, an sinh xã hội, đưa điện lưới quốc gia về tới 99,8% số xã, 98,76% số hộ dân nông thôn, đảm nhận cấp điện cho 9/12 huyện đảo trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam.

Cùng với việc bảo đảm đủ điện cho phát triển kinh tế xã hội của đất nước, trước những yêu cầu ngày càng khắt khe của khách hàng về chất lượng, dịch vụ, thực hiện các trách nhiệm về môi trường, EVN đang xây dựng chương trình tái cấu trúc lại tổ chức, nâng cao năng lực quản trị, năng suất lao động và hiệu quả sản xuất kinh doanh.

Tỷ lệ tổn thất điện năng bao gồm cả lưới điện truyền tải và phân phối điện của EVN đã giảm từ 10,15% năm 2010 xuống còn 7,94% năm 2015, mục tiêu đến năm 2020 là dưới 6,5%. Các chỉ tiêu về độ tin cậy cung cấp điện liên tục được cải thiện: Chỉ số thời gian cắt điện trung bình (SAIDI) giảm từ 8.077 phút năm 2012 xuống còn 2.110 phút năm 2015. EVN đặt mục tiêu phấn đấu năm 2.016 phút còn dưới 400 phút/năm, tương đương với các nước tiên tiến trong khu vực.

   Ông Nguyễn Văn Biên

Ông Nguyễn Văn Biên, Phó Tổng giám đốc Tập đoàn Công nghiệp Than & Khoáng sản Việt Nam (TKV): Phát triển ngành than gắn với bảo vệ môi trường

Mặc dù TKV đã tích cực và đang phải tiếp tục triển khai mạnh mẽ các giải pháp nâng cao năng suất lao động, tiết kiệm chi phí nhưng Tập đoàn cũng rất cần sự chia sẻ, thấu hiểu của các nhà làm chính sách đảm bảo lợi ích hài hòa giữa nộp ngân sách, lợi nhuận để đầu tư phát triển doanh nghiệp như ngành mỏ các nước đã thực hiện nhiều năm nay.

Các nhà làm chính sách cần sớm điều chỉnh thuế, chi phí tương đương với các nước trong khu vực để cạnh tranh giữ vững thị trường và năng lực sản xuất của ngành, góp phần phát triển bền vững. 

Ngoài ra cũng cần triển khai các giải pháp theo Quy hoạch phát triển ngành than như: Các bộ, ngành phối hợp với các địa phương xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ cơ chế, chính sách đặc thù đảm bảo đủ điều kiện để phát triển ngành than theo Quy hoạch; cần tìm kiếm các cơ hội và thu xếp nguồn vốn để thực hiện việc đầu tư thăm dò, khai thác than ở nước ngoài bằng nhiều hình thức…

Những Giải Pháp Để Các Đô Thị Việt Nam Phát Triển Bền Vững

Các vấn đề hiện tại của quá trình đô thị hóa cũng như các thách thức tương lai ở Việt Nam đang đòi hỏi những giải pháp phù hợp với đặc thù của đất nước.

Cách đây 11 năm, bắt đầu từ năm 2008, ngày 8/11 hằng năm được lấy làm ngày đô thị Việt Nam nhằm đẩy mạnh tiến trình đô thị hóa tích cực và tăng cường nhận thức của cộng đồng trong việc xây dựng các khu đô thị văn minh, hiện đại.

Từ vết thương chiến tranh đến những thành phố mang hơi thở thời đại

Sau hiệp định Geneva năm 1954, đất nước ta bị chia cắt làm 2 miền Nam-Bắc. 9 năm kháng chiến, miền Bắc bị tàn phá nặng nề. Nhiệm vụ cấp bách là khẩn trương khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh, hoàn thành nhiệm vụ còn lại của cách mạng dân tộc dân chủ.

Năm 1956, Phòng đô thị thuộc Nha Kiến trúc được thành lập, tiền thân của Viện Quy hoạch Đô thị và Nông thôn quốc gia hiện nay. Để rồi từ đó, các thành phố công nghiệp như Hải Phòng, Nam Định, Việt Trì, Thái Nguyên lần lượt được khôi phục với quy mô trung bình và nhỏ, tạo nên dấu ấn cho mới cho đô thị Việt Nam hiện đại. Trong khi ở miền Nam, Sài Gòn vẫn là đô thị chính, một số thành phố lớn và các khu vực có mục tiêu quân sự cũng được đầu tư phát triển.

Trong khi nhân dân ta đang nỗ lực xây dựng lại các vùng kinh tế, đế quốc Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc và điên cuồng đàn áp nhân dân miền Nam. Với dã tâm “đưa miền Bắc trở về thời kỳ đồ đá,” cuộc chiến kéo dài 20 năm đã tàn phá cơ sở vật chất hạ tầng ở cả miền Bắc lẫn miền Nam, khiến nỗ lực khôi phục kinh tế của ta càng thêm khó khăn chồng chất.

Đất nước thống nhất, nhân dân Việt Nam nhanh chóng bắt tay vào công cuộc phục hồi, xây dựng đất nước. Trong 10 năm đầu, tốc độ đô thị hóa vẫn diễn ra chậm do hậu quả chiến tranh và chính sách kinh tế chưa phù hợp.

Chính sách Đổi mới năm 1986 đã tác động mạnh mẽ đến bộ mặt xã hội cũng như tăng trưởng kinh tế của Việt Nam, tạo động lực hình thành và phát triển nhiều đô thị mới ở các miền Tổ quốc.

Vào đầu những năm 1990, Việt Nam đã có khoảng 500 đô thị với tỷ lệ đô thị hóa khoảng 18%. Đây là tiền đề quan trọng để chúng ta có bước tăng trưởng thực sự trong giai đoạn tiếp theo.

Từ sau năm 1999 đến nay, hệ thống đô thị Việt Nam có nhiều chuyển biến tích cực về cả lượng và chất. Nếu như năm 1999, cả nước có 629 đô thị thì tính đến năm 2019, cả nước có 833 đô thị, trong đó có 2 đô thị loại đặc biệt là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Còn lại là các đô thị loại 1 đến 5.

Đô thị hóa tăng nhanh ở khu vực các đô thị lớn, lan tỏa và phân bố đồng đều hơn trên phạm vi cả nước. Nhiều đô thị được cải tạo, nâng cấp, phát triển mở rộng, đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội, khẳng định vai trò là động lực tăng trưởng kinh tế và phát triển của các vùng và trên cả nước.

Từ một quốc gia chịu nhiều ảnh hưởng của chiến tranh, thiên tai với hơn 80% dân số sản xuất nông nghiệp và công nghiệp kém phát triển, đến nay hệ thống các đô thị trong nước đã và đang trên đà phát triển mạnh mẽ.

Bộ mặt đô thị ngày càng khang trang, hiện đại. Nhiều khu đô thị mới, khu nhà ở có chất lượng cùng các công trình mang tầm vóc khu vực và quốc tế đã ra đời. Đô thị Việt Nam không chỉ làm thay đổi bộ mặt đời sống nhân dân, mà còn gắn kết với tăng trưởng kinh tế.

Khu vực đô thị hằng năm đóng góp khoảng 70% GDP của đất nước, là đầu tàu trong sản xuất giá trị công nghiệp, xuất nhập khẩu cũng như các tiến bộ khoa học công nghệ, từng bước thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước.

Các đô thị Việt Nam còn là điểm đến sáng giá trong việc giữ gìn và quảng bá không gian đô thị truyền thống, với những nét văn hóa đặc trưng của một quốc gia có bề dày lịch sử.

Đến với thủ đô Hà Nội hay phổ cổ Hội An, không ai có thể kìm lòng mà say mê những nét kiến trúc cổ kính đặc trưng, những sinh hoạt văn hóa, ẩm thực, được lưu giữ nguyên vẹn nhất trong không gian đô thị đã luôn tấp nập từ hàng trăm năm trước.

Đảm bảo sự hòa quyện giữa truyền thống và đổi mới, giữa cổ kính và hiện đại càng làm tăng sức hấp dẫn của đô thị Việt Nam, nhưng cũng đặt ra cho các nhà quy hoạch đô thị nhiệm vụ không hề dễ dàng.

Hiện nay, hệ thống đô thị Việt Nam phát triển chưa tương xứng giữa số lượng, quy mô với chất lượng. Nhiều đồ án quy hoạch có tầm nhìn và giải pháp chưa phù hợp. Năng lực quản lý chưa theo kịp với thực tế phát triển.

Hạ tầng đô thị chưa đáp ứng yêu cầu của người dân. Hầu hết các đô thị lớn, đặc biệt là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh thường xuyên xảy ra tình trạng ùn tắc giao thông, ngập nước, ô nhiễm môi trường.

Định hướng phát triển đô thị tăng trưởng xanh

Hiện có 2 khái niệm là đô thị xanh và đô thị tăng trưởng xanh. Đô thị xanh nhấn mạnh sự quan tâm đến tác động của đô thị tới môi trường. Còn đô thị tăng trưởng xanh theo định nghĩa của Tổ chức Hợp tác kinh tế và phát triển (OECD) là đô thị tạo ra sự tăng trưởng và phát triển kinh tế thông qua các chính sách và hoạt động đô thị làm giảm những tác động bất lợi đối với môi trường cũng như tác động đối với các nguồn tài nguyên thiên nhiên…

Vấn đề phát triển đô thị tăng trưởng xanh được chú trọng với sự quan tâm đến việc tăng trưởng của đô thị có bền vững và giảm thiểu tác động đến môi trường. Tuy nhiên, những mô hình phát triển kinh tế mà phải đánh đổi bằng việc hy sinh tài nguyên môi trường thì đó không phải là tăng trưởng xanh.

Tại các địa phương, đặc biệt là những đô thị lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Đà Nẵng, Hải Phòng… đã quan tâm đến vấn đề chuyển đổi mô hình tăng trưởng đô thị theo định hướng tăng trưởng xanh. Một số đô thị đã ban hành Chiến lược tăng trưởng xanh và thích ứng biến đổi khí hậu như Hải Phòng, Cần Thơ…

Các đô thị khác như: Đà Nẵng, Bắc Ninh, Tam Kỳ (Quảng Nam)… cũng nghiên cứu xây dựng đô thị tăng trưởng xanh.

Các chuyên gia cho rằng doanh nghiệp, nhà đầu tư cần nghiên cứu, sản xuất và đưa ra thị trường những sản phẩm, dịch vụ, công nghệ, vật liệu xanh, thân thiện với môi trường.

Chính người dân có thể tham gia vào phát triển đô thị tăng trưởng xanh từ những việc rất nhỏ như thay đổi thói quen, lối sống, thay túi nylon bằng túi giấy, thay cốc nhựa bằng cốc giấy, sử dụng tiết kiệm điện, nước… Mỗi bên tham gia đều có vai trò riêng trong việc chuyển đổi định hướng phát triển đô thị tăng trưởng xanh.

Có thể nói, là một nước đang phát triển, nhiều hạ tầng đô thị của Việt Nam còn chưa đáp ứng được nhu cầu của người dân. Tuy nhiên, vẫn có không ít những công trình kiến trúc hiện đại và hài hòa với truyền thống, đã và đang tạo động lực cho Việt Nam vươn lên, trở thành điểm sáng phát triển trong khu vực và không ngừng vươn xa thế giới.

Phát triển đô thị – động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

Quá trình đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước luôn gắn liền với quá trình đô thị hóa của Việt Nam. Sau hơn 30 năm đổi mới, quá trình đô thị hóa có thể nhận biết thông qua các giai đoạn phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.

Giai đoạn 1986-1997, tốc độ đô thị hóa ở Việt Nam chưa nhanh, tỷ lệ đô thị hóa chỉ đạt khoảng 23% vào năm 1997. Ở giai đoạn 2000-2010, Việt Nam có tốc độ đô thị hóa nhanh hơn.

Năm 1999, Việt Nam có 629 đô thị, đến năm 2010 có 772 đô thị, trong đó có 2 đô thị đặc biệt, 15 đô thị loại I, 14 đô thị loại II, 47 đô thị loại III, 64 đô thị loại IV và 630 đô thị loại V. Nhiều đô thị được mở rộng, các thành phố đang trở nên đông đúc hơn.

Trong giai đoạn 2011-2020, kinh tế Việt Nam tiếp tục tăng trưởng tạo cơ sở cho quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ.

Tính đến tháng 12/2018, tổng số đô thị cả nước là 833 đô thị, tỷ lệ đô thị hóa đạt 38% tăng 0,9% so với năm 2017, đạt xấp xỉ cận dưới của các chỉ tiêu theo Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII. Dự báo năm 2019, tỷ lệ đô thị hóa sẽ đạt đến con số 40%.

Sự gia tăng của quá trình đô thị hóa trong năm 2018 đã giúp cho thị trường bất động sản và vật liệu xây dựng đạt tốc độ tăng trưởng khả quan. Diện tích bình quân nhà ở toàn quốc đạt khoảng 24 m2 sàn/người, tăng 0,6 m2 sàn/người so với năm 2017; tổng sản lượng ximăng tiêu thụ khoảng 95 triệu tấn, tăng 17% so với năm 2017, đạt 113 % kế hoạch năm.

Cùng với đó, hạ tầng đô thị được đầu tư từng bước đồng bộ. Bộ mặt đô thị ngày càng khang trang, hiện đại. Nhiều khu đô thị mới, nhiều khu nhà ở có chất lượng, nhiều công trình tầm vóc khu vực và quốc tế.

Với những kết quả đó, đô thị đã khẳng định là động lực cho phát triển kinh tế-xã hội. Kinh tế đô thị chiếm 70-80% tổng quy mô nền kinh tế. Riêng Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội, GRDP năm 2018 đạt 2.4 triệu tỷ, chiếm 40% GDP cả nước.

Bên cạnh các thành tựu đã đạt được, quá trình đô thị hóa của Việt Nam vẫn còn một số tồn tại cần được khắc phục, như hệ thống đô thị phát triển chưa tương xứng giữa số lượng, quy mô với chất lượng; nhiều đồ án quy hoạch có tầm nhìn và giải pháp chưa phù hợp; hạ tầng đô thị chưa đáp ứng yêu cầu của người dân; năng lực quản lý chưa theo kịp với thực tế phát triển.

Hầu hết các đô thị lớn trên địa bàn cả nước, đặc biệt là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh – cùng với lượng dân nhập cư ngày càng cao là tình trạng ùn tắc giao thông, ngập nước, ô nhiễm môi trường.

Để đô thị phát triển bền vững, từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân, gia tăng tính cạnh tranh của nền kinh tế, Bộ Xây dựng đang thực hiện đồng bộ các giải pháp.

Cụ thể là tổng kết đánh giá việc thực hiện Định hướng Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống đô thị Việt Nam đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2050, xây dựng Chiến lược phát triển đô thị quốc gia tích hợp các mục tiêu tăng trưởng xanh, phát triển bền vững, nhằm giải quyết các bất cập của thực trạng và ứng phó có hiệu quả với các thách thức trong tương lai.

Nghiên cứu, đề xuất chính sách phát triển đô thị nhằm phát huy lợi thế của những khu vực đô thị có mật độ kinh tế cao như các vùng Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Hải Phòng, thành phố Đà Nẵng…

Đồng thời, Bộ tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về đầu tư xây dựng, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, cải cách thủ tục hành chính, đơn giản hóa điều kiện đầu tư kinh doanh, tháo gỡ kịp thời các khó khăn, vướng mắc trong hoạt động đầu tư xây dựng; hoàn thiện và trình ban hành Luật Quản lý phát triển đô thị, Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xây dựng, Luật Nhà ở…

Theo ông Zhiyu Jerry Chen, chuyên gia cao cấp về đô thị, đại diện nhóm nghiên cứu của Ngân hàng thế giới (WB), trong tương lai Việt Nam cần chuyển đổi mô hình đô thị hóa và bắt tay thực hiện một lộ trình hiệu quả, bao trùm và có khả năng chống chịu hơn. Do vậy, đòi hỏi phải chuyển đổi chính sách để tập trung vào “nền kinh tế tích tụ” và “liên kết vùng,” qua đó giải quyết ba nhân tố thể chế quan trọng cho chuyển đổi gồm: phân bổ tài khóa và nguồn lực, đất đai và quy hoạch và dịch chuyển lao động.

Tiến sỹ Vũ Viết Ngoạn, nguyên Tổ trưởng Tổ tư vấn kinh tế của Thủ tướng, cũng chỉ ra một số vấn đề cần lưu ý trong quá trình thực hiện thúc đẩy đô thị hóa.

Ông nhấn mạnh: “Chúng ta không được nhầm lẫn rằng phát triển, mở rộng đô thị sẽ phát triển kinh tế vì phát triển kinh tế và đô thị phải luôn song hành với nhau. Phải định dạng vấn đề này trong chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam và có giải pháp để giảm bớt chênh lệch giữa các vùng trong phát triển kinh tế. Đồng thời phải làm rõ mối quan hệ phát triển công nghiệp giữa các vùng khác nhau.”

Các vấn đề hiện tại của quá trình đô thị hóa cũng như các thách thức tương lai ở Việt Nam đang đòi hỏi những giải pháp phù hợp với đặc thù của đất nước.

Giai đoạn từ nay đến khi Việt Nam có tỷ lệ đô thị hóa 50% là giai đoạn hết sức quan trọng. Khi đã có tỷ lệ đô thị hóa đạt từ 50% trở lên đồng nghĩa với việc Việt Nam đã vượt ngưỡng thu nhập trung bình và có điều kiện bứt phá trong phát triển nền kinh tế và chuyển sang giai đoạn mới, có thu nhập cao tương đồng với khu vực. Đây là giai đoạn đòi hỏi cần triển khai đồng bộ các nhóm giải pháp phù hợp, phát huy sức mạnh tổng hợp của các ngành, các cấp, đặc biệt là chính quyền các đô thị, sự tham gia của các tổ chức trong nước và quốc tế, các nhà nghiên cứu và nỗ lực của cộng đồng./.

Theo (Vietnam+)

Link gốc:

Phát Triển Nông Nghiệp Bền Vững Ở Việt Nam

Tiểu luận môn: Một số vấn đề về tổ chức lãnh thổ nông nghiệp MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài

3

2. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài

4

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4

4. Phương pháp nghiên cứu

5

5. Bố cục của tiểu luận

5 PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1- NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG

7

Khái quát chung về phát triển bền vững

7

1.1.

1.1.1.

Sự hình thành về lý thuyết phát triển bền vững

1.1.2.

Khái niệm về phát triển bền vững

Phát triển nền nông nghiệp theo hướng bền vững

15

1.2.1.

Khái niệm phát triển nông nghiệp bền vững

15

1.2.2.

Nội dung của phát triển nông nghiệp bền vững

17

1.2.

CHƯƠNG 2- THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG Ở NƯỚC TA 2.1. Tổng quan về sản xuất nông nghiệp của Việt Nam

2.1.1.

Vai trò của nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân

20

2.1.2.

Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp Việt Nam

24

2.2. Những thành tựu đạt được trong phát triển nền nông nghiệp bền vững ở nước ta

29

2.2.1. Đảm bảo giữ vững được nhịp độ tăng trưởng ổn định và có hiệu quả trong thời gian dài

29

2.2.2. Giải quyết các vấn đề về mặt xã hội nảy sinh trong khu vực nông nghiệp, nông thôn

Phát triển nông nghiệp bền vững ở Việt Nam

38

1

Tiểu luận môn: Một số vấn đề về tổ chức lãnh thổ nông nghiệp 2.2.3. Từng bước xây dựng một nền nông nghiệp theo hướng phát triển sạch, môi trường tự nhiên được bảo vệ và hình thành các vùng nông nghiệp sinh thái

38

2.3. Những hạn chế và thách thức trong phát triển nền nông nghiệp bền vững ở nước ta

39

CHƯƠNG 3- GIẢI PHÁP VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP THEO HƯỚNG BỀN VỮNG Ở NƯỚC TA

43

3.1. Các giải pháp để phát triển nền nông nghiệp theo hướng bền vững ở nước ta

43

3.1.1. Về luật pháp và quy hoạch

43

3.1.2. Về kinh tế

44

3.1.3. Về kỹ thuật và công nghệ

45

3.2. Phương hướng, chiến lược phát triển

46

KẾT LUẬN

56

TÀI LIỆU THAM KHẢO

58

PHỤ LỤC

59

Phát triển nông nghiệp bền vững ở Việt Nam

2

Tiểu luận môn: Một số vấn đề về tổ chức lãnh thổ nông nghiệp PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong những năm qua kinh tế Việt Nam đã thu được nhiều thành tựu to lớn, tốc độ tăng trưởng GDP cao và ổn định vào tốp những nước đầu của thế giới. Đời sống của người dân không ngừng được cải thiện và nâng cao. Đến năm 2009 chúng ta đã thoát khỏi tình trạng là nước nghèo. Có được những thành tựu to lớn này là có sự đóng góp công sức của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân và của tất cả các ngành các cấp trong đó có sự đóng góp to lớn của ngành nông nghiệp. Nhờ có sự đổi mới cơ chế, chính sách mà Việt Nam đã thu được rất nhiều thành tựu trong sản xuất nông nghiệp. Với mức tăng trưởng bình quân trên 4% năm, đến nay sản xuất nông nghiệp nói chung đã đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng trong nước và đóng góp một phần vào giá trị kim ngạch xuất khẩu của nền kinh tế. Sản xuất lựơng thực, đặc biệt là lúa gạo tăng lên liên tục cả về diện tích gieo trồng và năng suất, đã đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và đưa Việt Nam trở thành một trong những nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới, ổn định an ninh lương thực đã tạo ra nền tảng vững chắc cho nền kinh tế vượt qua khủng hoảng, phục hồi và phát triển mạnh mẽ trong suốt gần 30 năm qua. Những thành tựu đạt được trong sản xuất nông nghiệp là vô cùng to lớn. Song đứng trước những yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế, nông nghiệp Việt Nam đang có những bước chuyển mình phát triển theo xu thế chung của thế giới. Một trong những bước chuyển đó chính là phát triển một nền nông nghiệp bền vững. Ở Việt Nam vấn đề phát triển bền vững trong sản xuất nông nghiệp vẫn còn là một vấn đề mới. Đặc biệt trong gần 30 năm đổi mới vừa qua bên cạnh những thành tựu mà chúng ta đạt được thì thực tiễn cũng đang đặt ra cho chúng ta rất nhiều khó khăn và thách thức khi xây dựng nền nông nghiệp hiện đại.

Phát triển nông nghiệp bền vững ở Việt Nam

3

Tiểu luận môn: Một số vấn đề về tổ chức lãnh thổ nông nghiệp Đứng trước những khó khăn và thách thức đó, thì việc xây dựng một nền kinh tế nông nghiệp phát triển theo xu hướng bền vững có ý nghĩa rất quan trọng. Vì những lý do trên tôi đã lựa chọn tìm hiểu đề tài “Phát triển nông nghiệp bền vững ở Việt Nam” làm đề tài tiểu luận. 2. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài Mục đích nghiên cứu của đề tài: trên cơ sở hệ thống hoá các vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển nông nghiệp bền vững, tiểu luận đề ra các giải pháp để xây dựng và phát triển nông nghiệp bền vững ở Việt Nam trong thời gian tới. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài : –

Hệ thống hoá các vấn đề cơ bản về phát triển bền vững và phát triển

bền vững trong nông nghiệp từ góc độ lý luận và thực tiễn. –

Nghiên cứu kinh nghiệm phát triển nông nghiệp bền vững của một

số quốc gia trên thế giới. –

Phân tích thực trạng việc phát triển nông nghiệp bền vững ở Việt

Nam và những vấn đề đặt ra. –

Đề xuất định hướng và giải pháp để phát triển nông nghiệp bền vững

ở nước ta trong thời gian tới. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: đề tài tập trung nghiên cứu sự phát triển bền vững trong nông nghiệp. Việc phát triển nông nghiệp bền vững đó được xem xét, tiếp cận trên góc độ: đảm bảo nhịp độ tăng trưởng ổn định, giải quyết tốt các vấn đề xã hội, xây dựng nền nông nghiệp theo xu thế nền nông nghiệp sinh thái và bảo vệ môi trường. Phát triển nông nghiệp bền vững ở Việt Nam

4

* Phương pháp xử lý số liệu Căn cứ vào mục đích của đề tài, tôi tiến hành thu thập những số liệu cần có bên trên và phân tích các số liệu đó. Tuy nhiên, để phân tích được, tôi sẽ phân tích các số liệu đó ra theo thời gian, sau đó sắp xếp chúng lại để tạo thành một chuỗi thời gian nhằm cho thấy sự thay đổi qua từng năm trong lĩnh vực Nông nghiệp nông thôn Việt Nam. Từ đó có thể nhận biết được những thành tựu đã đạt được và những hạn chế cần khắc phục để đưa Nông nghiệp nông thôn Việt Nam phát triển theo hướng Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá. Một phương pháp nữa phục vụ tôi trong quá trình phân tích và xử lý số liệu là phương pháp so sánh, nhằm so sánh giữa các năm với nhau và so sánh giữa Nông nghiệp với các ngành khác cũng như giữa Nông nghiệp với tổng thể nền kinh tế… 5. Bố cục của tiểu luận Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về phát triển bền vững và phát triển nông nghiệp bền vững.

Phát triển nông nghiệp bền vững ở Việt Nam

5

Tiểu luận môn: Một số vấn đề về tổ chức lãnh thổ nông nghiệp Chương 2: Thực trạng phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững ở nước ta. Chương 3: Phương hướng và giải pháp để phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững ở nước ta.

Phát triển nông nghiệp bền vững ở Việt Nam

6

Tiểu luận môn: Một số vấn đề về tổ chức lãnh thổ nông nghiệp PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG 1.1. Khái quát chung về phát triển bền vững 1.1.1. Sự hình thành về lý thuyết phát triển bền vững Đã có một lịch sử phát triển tương đối dài để hình thành khái niệm phát triển bền vững: + Năm 1963: Phát hành cuốn sách Mùa xuân câm lặng (Silent Spring): Cuốn sách “Mùa xuân câm lặng” của nữ văn sĩ Rachel Carson, được xuất bản năm 1962, với những tiết lộ về những hiểm họa của thuốc trừ sâu DDT, đã hoài nghi một cách biện chứng niềm tin của nhân loại vào tiến bộ khoa học kỹ thuật này và giúp tạo ra một sân khấu cho các phong trào môi trường. DDT, thuốc trừ sâu mạnh nhất từng được biết đến trên thế giới, đã làm tổn thương tới các hệ tự nhiên. Chỉ một lần phun DDT để diệt một loài sâu hại cây trồng, nó không chỉ diệt được loài sâu bệnh trong nhiều tuần hoặc nhiều tháng, mà đồng thời cũng tiêu diệt luôn nhiều loài côn trùng có lợi khác và tồn lưu như một độc chất trong môi trường. “Mùa xuân câm lặng” đã làm thay đổi nhận thức của người dân Mỹ về môi trường, góp phần thúc đẩy các chính sách về môi trường của đất nước này. + Tháng 4 năm 1968: Câu lạc bộ Rome được thành lập: Đây là một tổ chức phi chính phủ, hỗ trợ cho việc nghiên cứu “Những vấn đề của thế giới” – một cụm từ được đặt ra nhằm diễn tả những vấn đề chính trị, văn hóa, xã hội, môi trường và công nghệ trên toàn cầu với tầm nhìn lâu dài. Tổ chức này đã tập hợp những nhà khoa học, nhà nhiên cứu, nhà kinh doanh cũng như các nhà lãnh đạo của các quốc gia trên thế giới (bao gồm cả Tổng thống Liên xô Mikhail Sergeyevich Phát triển nông nghiệp bền vững ở Việt Nam

7

Tiểu luận môn: Một số vấn đề về tổ chức lãnh thổ nông nghiệp Gorbachyov và Rigoberta Menchus Tum). Trong nhiều năm, Câu lạc bộ Rome đã công bố một số lượng lớn các báo cáo, bao gồm cả bản báo cáo Giới hạn của sự tăng trưởng – được xuất bản năm 1972 – đề cập tới hậu quả của việc tăng dân số quá nhanh, sự hữu hạn của các nguồn tài nguyên… + Năm 1970: Thành lập Chương trình Con người và Sinh quyển: Năm 1970, UNESCO thành lập Chương trình Con người và Sinh quyển, với mục tiêu là phát triển cơ sở khoa học cho việc sử dụng hợp lý và bảo tồn các tài nguyên của sinh quyển và cải thiện quan hệ toàn cầu giữa loài người và môi trường. + Tháng 6 năm 1972: Hội nghị của Liên Hợp Quốc về Con người và Môi trường: Hội nghị của Liên Hợp Quốc về Con người và Môi trường được tổ chức tại Stockhom, Thụy Điển được đánh giá là hành động đầu tiên đánh dấu sự nỗ lực chung của toàn thể nhân loại, nhằm giải quyết các vấn đề về môi trường. Hội nghị có 113 quốc gia tham dự và đã đạt được những kết quả chính sau: (i) Khởi động các cuộc đối thoại Bắc – Nam; (ii) Khởi động chương trình “Viễn cảnh toàn cầu”; (iii) Khởi động sự tham gia của các tổ chức phi chính phủ trong giám sát và bảo vệ môi trường; (iv) Thành lập Chương trình Môi trường của Liên Hợp Quốc (UNEP); (v) Đề nghị Đại hội đồng Liên Hợp Quốc lấy ngày 5 tháng 6 làm Ngày Môi trường Thế giới và quyết định rằng vào ngày này hàng năm các tổ chức thuộc Liên Hợp Quốc và tất cả chính phủ các nước tiến hành các hoạt động trên phạm vi toàn thế giới để tái khẳng định mối quan tâm của cả thế giới đối với việc gìn giữ và cải thiện môi trường sống cho nhân loại. Hội nghị đã có một tuyên bố về môi trường con người, thỏa thuận về một chương trình hành động quốc tế rộng lớn, thành lập Chương trình Môi trường của Liên Hợp Quốc (UNEP), Ban thư ký thường trực về môi trường đặt tại Kenya và thành lập Quỹ Môi trường. + Năm 1980: Chiến lược bảo tồn thế giới: Tiếp theo Hội nghị Stockholm, các tổ chức bảo tồn như Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới (IUCN), Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) và Quỹ Bảo vệ Thiên nhiên Thế giới

Phát triển nông nghiệp bền vững ở Việt Nam

8

Tiểu luận môn: Một số vấn đề về tổ chức lãnh thổ nông nghiệp (WWF) đã đưa ra “Chiến lược bảo tồn thế giới”. Chiến lược này thúc giục các nước soạn thảo các chiến lược bảo tồn quốc gia của mình. Ba mục tiêu chính về bảo tồn tài nguyên sinh vật được nhấn mạnh trong Chiến lược như sau: (i) Duy trì những hệ sinh thái cơ bản và những hệ hỗ trợ sự sống (như cải tạo đất, tái sinh các nguồn dinh dưỡng, bảo về an toàn nguồn nước); (ii) Bảo tồn tính đa dạng di truyền; và (iii) Bảo đảm sử dụng một cách bền vững các loài và các hệ sinh thái. Từ khi Chiến lược bảo tồn thế giới được công bố tới nay, đã có trên 60 chiến lược bảo tồn quốc gia được phê duyệt. Trong chiến lược này, thuật ngữ Phát triển bền vững lần đầu tiên được nhắc tới, tuy nhiên mới chỉ nhấn mạnh ở góc độ bền vững sinh thái. Tiếp theo Chiến lược này, một công trình khoa học có tiêu đề “Cứu lấy Trái đất – Chiến lược cho cuộc sống bền vững” đã được IUCN, UNEP và WWF soạn thảo và công bố (1991) (cuốn sách này đã được Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường dịch ra tiếng Việt vào năm 1993). Trong cuốn sách, nhiều khuyến nghị về cải cách luật pháp, thể chế và quản trị đã được đề xuất. + Năm 1984: Thành lập Ủy ban Brundtland: Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã ủy nhiệm cho bà Gro Harlem Brundtland, khi đó là Thủ tướng Na Uy, quyền thành lập và làm Chủ tịch Ủy ban Quốc tế về Môi trường và Phát triển (WCED), nay còn được biết đến với tên Ủy ban Brundtland. Tới nay, Ủy ban này đã được ghi nhận có những cống hiến rất giá trị cho việc đẩy mạnh sự phát triển bền vững. + Năm 1987: Xuất bản Báo cáo Brundtland: Hoạt động của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới trở nên nóng bỏng khi xuất bản báo cáo có tựa đề “Tương lai của chúng ta” (tựa tiếng Anh: Our Common Futur và tiếng Pháp là Notre avenir à tous, ngoài ra còn thường được gọi là Báo cáo Brundtland). Bản báo cáo này lần đầu tiên công bố chính thức thuật ngữ “phát triển bền vững”, sự định nghĩa cũng như một cái nhìn mới về cách hoạch định các chiến lược phát triển lâu dài.

Phát triển nông nghiệp bền vững ở Việt Nam

9

10

Phát triển nông nghiệp bền vững ở Việt Nam

11

Tiểu luận môn: Một số vấn đề về tổ chức lãnh thổ nông nghiệp Chương trình của Liên Hợp Quốc đã đề xuất 5 nội dung của phát triển bền vững gồm: –

Tập trung phát triển những vùng nghèo đói, đặc biệt là những vùng

rất nghèo mà ở đó con người không có lựa chọn nào khác ngoài làm giảm cấp nguồn lực và môi trường. –

Tạo ra sự phát triển cao về tính tự lập của cộng đồng trong điều kiện

có hạn về nguồn lực, nhất là tài nguyên thiên nhiên. –

Nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực dựa trên các kĩ thuật và công

nghệ thích hợp, kết hợp với khai thác tối đa kĩ thuật truyền thống. –

Thực hiện các chiến lược phát triển nhằm đảm bảo tự lực về lương

thực, cung cấp nước sạch và nhà ở, giữ gìn sức khỏe chống suy dinh dưỡng qua những công nghệ thích hợp. –

Xây dựng và thực hiện các chiến lược có người dân tham gia.

Để có sự phát triển bền vững cần có các yếu tố sau (theo Mal Com Gillis): –

Một hệ thống chính trị đảm bảo sự tham gia có hiệu quả của người

dân vào việc ra quyết định. –

Một hệ thống kinh tế góp phần tạo sản phẩm thặng dư và kĩ thuật

công nghệ dựa trên tính tự lập và bền vững. –

Một hệ thống sản xuất đảm bảo phục hồi hệ sinh thái cho sự phát

Một hệ thống công nghệ làm nền tảng chọn xây dựng các phương

triển. pháp bền vững, lâu dài. –

Một hệ thống quốc tế đẩy mạnh mối quan hệ bền vững về thương

mại và tài chính. Hiện nay, đã có khoảng 120 nước trên thế giới xây dựng và thực hiện chương trình nghị sự 21 về PTBV cấp quốc gia và gần 7.000 chương trình nghị

Phát triển nông nghiệp bền vững ở Việt Nam

12

Tiểu luận môn: Một số vấn đề về tổ chức lãnh thổ nông nghiệp sự 21 cấp địa phương. Đối với Việt Nam phát triển bền vững là con đường tất yếu. Mục tiêu tổng quát của phát triển bền vững là đạt được sự đầy đủ về vật chất, sự giàu có về tinh thần và văn hóa, sự bình đẳng của các công dân và sự đồng thuận của xã hội, sự hài hòa giữa con người và tự nhiên; phát triển phải kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hoà được ba mặt là phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường. Phát triển bền vững là nhu cầu cấp bách và xu thế tất yếu trong tiến trình phát triển của xã hội loài người. Điều đó đã được khẳng định qua Tuyên bố Rio de Janeiro (1992) về môi trường và phát triển, bao gồm 27 nguyên tắc cơ bản và Chương trình nghị sự 21. Tại Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững (2002) ở Johannesburg, các nguyên tắc trên và Chương trình nghị sự 21 về phát triển bền vững đã được khẳng định lại và cam kết thực hiện đầy đủ. Phát triển bền vững đã trở thành đường lối, quan điểm và chính sách của Đảng và Nhà nước ta. Chỉ thị số 36-CT/TW ngày 25 tháng 6 năm 1998 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước nhấn mạnh: “Bảo vệ môi trường là một nội dung cơ bản không thể tách rời trong đường lối, chủ trương và kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của tất cả các cấp, các ngành, là cơ sở quan trọng bảo đảm phát triển bền vững, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”. Quan điểm phát triển bền vững đã được tái khẳng định trong các văn kiện của Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam và trong Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2001-2010 là: “Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường” và “Phát triển kinh tế – xã hội gắn chặt với bảo vệ và cải thiện môi trường, bảo đảm sự hài hoà giữa môi trường nhân tạo với môi trường thiên nhiên, giữ gìn đa dạng sinh học”. Để thực hiện mục tiêu phát triển bền vững và thực hiện cam kết quốc tế, Chính phủ Việt Nam đã ban hành “Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam” (Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam) theo Quyết định 153/QĐTTg ngày 17/8/2004 làm cơ sở cho việc xây dựng các chiến lược, quy hoạch tổng Phát triển nông nghiệp bền vững ở Việt Nam

13

Tiểu luận môn: Một số vấn đề về tổ chức lãnh thổ nông nghiệp thể và kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của đất nước cũng như của các ngành và địa phương. Báo cáo chính trị tại Đại hội XI của Đảng (2011) tiếp tục khẳng định: “phát triển kinh tế thị trường gắn với giải quyết hài hòa các vấn đề xã hội, môi trường; xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc làm nền tảng tinh thần cho xã hội; bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia”. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) được Đại hội thông qua cũng chứa đựng nhiều nội dung quan trọng của phát triển bền vững, như gắn phát triển kinh tế tri thức với bảo vệ môi trường; kết hợp chặt chẽ, hợp lý phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; phát triển kinh tế – xã hội đi đôi với tăng cường sức mạnh quốc phòng – an ninh; kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng – an ninh, quốc phòng – an ninh với kinh tế trong từng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển kinh tế – xã hội và trên từng địa bàn. Quan điểm của Đảng về phát triển bền vững còn được phát triển, hoàn thiện và cụ thể hóa trong Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2011 – 2020 được thông qua tại Đại hội XI của Đảng, trong đó nổi bật nhất là quan điểm về mối quan hệ tác động qua lại giữa “phát triển nhanh” với “phát triển bền vững”: “Phát triển bền vững là cơ sở để phát triển nhanh, phát triển nhanh để tạo nguồn lực cho phát triển bền vững. Phát triển nhanh và bền vững phải luôn gắn chặt với nhau trong quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển kinh tế – xã hội”. Như vậy, Đại hội XI của Đảng đã kế thừa và phát triển quan điểm của các Đại hội Đảng trước đây về phát triển bền vững ở Việt Nam với những nội dung phong phú, đa dạng, cụ thể, toàn diện và khoa học, vừa thể hiện được quan niệm chung của thế giới về phát triển bền vững, vừa phù hợp với khả năng, điều kiện và đặc điểm của Việt Nam trong bối cảnh đổi mới và hội nhập quốc tế.

Phát triển nông nghiệp bền vững ở Việt Nam

14

Tiểu luận môn: Một số vấn đề về tổ chức lãnh thổ nông nghiệp Nhằm triển khai thực hiện các quan điểm chỉ đạo của Đại hội XI về phát triển bền vững, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 432/2012/QĐTTg ngày 12/4/2012 phê duyệt Chiến lược phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020 và Quyết định số 160/2013/QĐ-TTg ngày 15/1/2013 ban hành Kế hoạch hành động quốc gia về phát triển bền vững giai đoạn 2013 – 2015. Điều đó cho thấy có sự thống nhất cao trong nhận thức tư tưởng của Đảng và Nhà nước về vấn đề này. Hiện nay, định hướng chiến lược phát triển bền vững của Việt Nam xác định 19 lĩnh vực ưu tiên: 5 lĩnh vực thuộc kinh tế; 5 lĩnh vực xã hội; 9 lĩnh vực tài nguyên môi trường. Trong các lĩnh vực kinh tế cần ưu tiên có lĩnh vực phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững. 1.2. Phát triển nền nông nghiệp theo hướng bền vững 1.2.1. Khái niệm phát triển nông nghiệp bền vững Cùng với định nghĩa về PTBV, khái niệm phát triển nông nghiệp bền vững cũng hình thành. Trong những thập niên cuối của thế kỷ 20, những vấn đề đặt ra chủ yếu tập trung vào sản xuất nông nghiệp: bảo vệ môi trường đất, nước và khởi xướng một số hệ thống canh tác bền vững. Mục đích của nông nghiệp bền vững là kiến tạo một hệ thống bền vững về sinh thái, có tiềm lực về kinh tế, có khả năng thoả mãn những nhu cầu của con người mà không huỷ diệt đất đai, không làm ô nhiễm môi trường. Sau khi tổng kết nhiều mô hình và để phát triển toàn diện hơn, năm 1991 khái niệm “Phát triển Nông nghiệp và Nông thôn Bền vững” (SARD) được đưa ra ở hội nghị của FAO về Nông nghiệp và Môi trường, tổ chức ở Hertogenbosch, tập trung vào những vấn đề bền vững trong tiến trình phát triển nông nghiệp và nông thôn ở cả các nước phát triển và đang phát triển. Vấn đề quan trọng là khái niệm SARD được nhận thức và khẳng định tại Hội nghị thượng đỉnh trái đất Rio Phát triển nông nghiệp bền vững ở Việt Nam

15

Phát triển nông nghiệp bền vững ở Việt Nam

16

Tiểu luận môn: Một số vấn đề về tổ chức lãnh thổ nông nghiệp chắn và giới hạn. Nông nghiệp là ngành phải đáp ứng yêu cầu này trong điều kiện quỹ đất trồng trọt đã khai thác cạn, và lại phải tránh sử dụng những đất ít hoặc không thích hợp cho sản xuất nông nghiệp. Quan niệm “Phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững” xứng đáng được đặt ở vị trí trọng tâm trong chiến lược công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn của các quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Hơn nữa, phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững giúp các quốc gia sớm đạt được các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (MDG), bởi vì nó có mối liên kết chặt chẽ với các mục tiêu này, cụ thể là xoá đói giảm nghèo và bảo vệ môi trường (Sơ đồ 1).

1.2.2. Nội dung của phát triển nông nghiệp bền vững 1.2.2.1. Phát triển bền vững nông nghiệp về kinh tế Phát triển bền vững nông nghiệp về kinh tế là sự phát triển đảm bảo tăng trưởng, phát triển ổn định lâu dài về mặt kinh tế của nông nghiệp, góp phần tích cực vào phát triển kinh tế của quốc gia, cộng đồng. Mục tiêu của phát triển bền

Phát triển nông nghiệp bền vững ở Việt Nam

17

Tiểu luận môn: Một số vấn đề về tổ chức lãnh thổ nông nghiệp vững về kinh tế là đạt được sự tăng trưởng ổn định với cơ cấu hợp lý, đáp ứng yêu cầu nâng cao đời sống của người dân, tránh được sự suy thóai và gánh nặng nợ nần cho thế hệ tương lai. Điều đó được thể hiện ở các tiêu chí sau: – Sản xuất nông nghiệp phải đáp ứng nhu cầu xã hội về sản phẩm nông nghiệp gồm: gia tăng sản lượng, làm tăng giá trị sản phẩm hàng hóa; hàng hóa sản xuất ra đáp ứng một phần nhu cầu sử dụng của người dân; chất lượng sản phẩm phù hợp với yêu cầu ngày càng cao của thị trường, trước hết là đảm bảo tiêu chuẩn về vệ sinh an toàn thực phẩm. – Hiệu quả kinh tế của sản xuất nông nghiệp ngày càng cao. Người nông dân phải có sự đầu tư tăng năng suất lao động, năng suất ruộng đất và năng suất cây trồng, đảm bảo sản xuất ra một khối lượng hàng hóa lớn, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng. – Sử dụng hiệu quả các nguồn lực lao động, vốn, lựa chọn hình thức sản xuất phù hợp để sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên, tăng năng suất. 1.2.2.2. Phát triển bền vững nông nghiệp về xã hội Phát triển bền vững nông nghiệp về xã hội đó chính là sự đóng góp cụ thể của nông nghiệp cho phát triển xã hội, đảm bảo sự công bằng trong phát triển. Phát triển nông nghiệp bền vững về xã hội sẽ đảm bảo cuộc sống của người nông dân đạt kết quả ngày càng cao; nâng cao thu nhập, đảm bảo cuộc sống gia đình, cải thiện chất lượng cuộc sống, góp phần xóa đói giảm nghèo, giảm khoảng cách giàu nghèo giữa các tầng lớp và nhóm xã hội. Giảm các tệ nạn xã hội, nâng cao trình độ văn minh về đời sống vật chất và tinh thần cho người nông dân. Điều đó được thể hiện ở các yếu tố sau: – Sử dụng hợp lý lao động: phát triển kinh tế nông nghiệp phải đi đôi với giải quyết việc làm cho người lao động.

Phát triển nông nghiệp bền vững ở Việt Nam

18

Tiểu luận môn: Một số vấn đề về tổ chức lãnh thổ nông nghiệp – Tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với xóa đói giảm nghèo. – Tăng trưởng kinh tế làm giảm khoảng cách giàu nghèo, đảm bảo ổn định xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân. 1.2.2.3. Phát triển bền vững nông nghiệp về môi trường Phát triển bền vững nông nghiệp về môi trường là phải khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên thiên nhiên đất, nước, rừng, biển, phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý và kiểm soát có hiệu quả ô nhiễm môi trường, bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên kết hợp với việc phát triển nông lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản.

Phát triển nông nghiệp bền vững ở Việt Nam

19

Tiểu luận môn: Một số vấn đề về tổ chức lãnh thổ nông nghiệp CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG Ở NƯỚC TA 2.1. Tổng quan về sản xuất nông nghiệp của Việt Nam 2.1.1. Vai trò của nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân Nông nghiệp là một trong những ngành kinh tế quan trọng và phức tạp. Nó không chỉ là một ngành kinh tế đơn thuần mà còn là hệ thống sinh học – kỹ thuật, bởi vì một mặt cơ sở để phát triển nông nghiệp là việc sử dụng tiềm năng sinh học – cây trồng, vật nuôi. Chúng phát triển theo qui luật sinh học nhất định con người không thể ngăn cản các quá trình phát sinh, phát triển và diệt vong của chúng, mà phải trên cơ sở nhận thức đúng đắn các qui luật để có những giải pháp tác động thích hợp với chúng. Mặt khác quan trọng hơn là phải làm cho người sản xuất có sự quan tâm thoả đáng, gắn lợi ích của họ với sử dụng quá trình sinh học đó nhằm tạo ra ngày càng nhiều sản phẩm cuối cùng hơn. Nông nghiệp nếu hiểu theo nghĩa hẹp chỉ có ngành trồng trọt, ngành chăn nuôi và ngành dịch vụ trong nông nghiệp. Còn nông nghiệp hiểu theo nghĩa rộng nó bao gồm cả ngành lâm nghiệp và ngành thủy sản. Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản giữ vai trò to lớn trong việc phát triển kinh tế ở hầu hết cả nước, nhất là ở các nước đang phát triển. Ở những nước này còn nghèo, đại bộ phận sống bằng nghề nông. Tuy nhiên, ngay cả những nước có nền công nghiệp phát triển cao, mặc dù tỷ trọng GDP nông nghiệp không lớn, nhưng khối lượng nông sản của các nước này khá lớn và không ngừng tăng lên, đảm bảo cung cấp đủ cho đời sống con người những sản phẩm tối cần thiết đó là lương thực, thực phẩm. Những sản phẩm này cho dù trình độ khoa học – công nghệ phát triển như hiện nay, vẫn chưa có ngành nào có thể thay thế được.

Phát triển nông nghiệp bền vững ở Việt Nam

20

Kinh Tế Tuần Hoàn: Cánh Cửa Thần Kỳ Để Việt Nam Phát Triển Bền Vững

Phát biểu tại Hội nghị toàn quốc về phát triển bền vững ngày 12/9, Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam Vũ Tiến Lộc cho hay, Việt Nam là một trong những quốc gia có nhiều nỗ lực và đã đạt được nhiều thành quả trên hành trình phát triển bền vững.

Năm 2018, theo World Bank, Việt Nam xếp thứ 69/190 về môi trường kinh doanh; còn theo Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF), Việt Nam xếp thứ 77/140 về năng lực cạnh tranh. Nhưng cũng trong năm 2018, Việt Nam đã xếp hạng 54/162 quốc gia lọt vào top 30% quốc gia dẫn đầu về phát triển bền vững và chỉ thua Thái Lan trong ASEAN.

Như vậy, so với các nước có cùng trình độ phát triển, thì Việt Nam đang vượt lên trong cuộc “đua xanh”.

Nhưng, một con số đáng chú ý được Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Trần Hồng Hà chỉ ra tại hội nghị: Việt Nam là một quốc gia nhỏ xếp thứ 68 thế giới về diện tích, thứ 15 thế giới về dân số, nhưng chúng ta hiện đứng thứ 4 thế giới về rác thải nhựa, với 1,83 triệu tấn/năm.

Theo World Bank, chỉ riêng ô nhiễm không khí đã khiến Việt Nam mất đi 5,18% GDP của năm 2013. Ô nhiễm nước cũng có thể gây thiệt hại cho Việt Nam tới 3,5% GDP. Cùng với đó, tình trạng suy giảm tài nguyên, tiêu thụ năng lượng tăng nhanh, ô nhiễm và suy thoái đất, đặc biệt là biến đổi khí hậu đang ảnh hưởng nghiêm trọng tới phát triển kinh tế của Việt Nam.

Kinh tế tuần hoàn là gì?

Để giải quyết nguy cơ cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm và suy thoái môi trường, Bộ trưởng Trần Hồng Hà cho rằng, chúng ta cần phải thay đổi cách tiếp cận chuyển đổi từ các mô hình “kinh tế truyền thống” sang “kinh tế tuần hoàn”. “Đây được xem là một ưu tiên trong giai đoạnt tiếp theo của phát triển đất nước”, Bộ trưởng nhấn mạnh.

Kinh tế tuần hoàn là một xu hướng phát triển bền vững đạt được cả 2 mục tiêu, ứng phó với sự cạn kiệt của tài nguyên đầu vào và tình trạng ô nhiễm môi trường trong phát triển ở đầu ra.

Ở cấp độ thấp, kinh tế tuần hoàn tập trung vào quá trình sản xuất của các doanh nghiệp và các mặt hàng nông sản, các nhà sản xuất được khuyến khích và yêu cầu áp dụng các phương pháp sản xuất sạch hơn và thiết kế sinh thái.

Ở cấp độ cao, cấp độ doanh nghiệp, toàn bộ các công đoạn của quá trình sản xuất đều được thiết kế và không có chất thải đưa ra môi trường. Chất thải đều được giảm thiểu tối đa, tái sử dụng và tái chế.

Theo ước tính thực tế tại Châu Âu, kinh tuần hoàn có thể tạo ra lợi ích 600 tỷ Euro mỗi năm, 580.000 việc làm mới và giúp giảm phát thải khí nhà kính.

Hiện nay, Việt Nam chưa có mô hình kinh tế tuần hoàn. Chúng ta mới dừng lại ở tái sử dụng, tái chế chất thải mang lại lợi ích về tài chính cho cơ sở sản xuất và tiêu dùng, chưa mang lại lợi ích kinh tế nên chính hoạt động của các mô hình đó đã gây ra ô nhiễm và suy thoái môi trường.

Để thúc đẩy kinh tế tuần hoàn, theo Bộ Tài nguyên và Môi trường, cần phải có một hành lang pháp lý rõ ràng cho hình thành, phát triển các mô hình kinh tế tuần hoàn. Doanh nghiệp là động lực trung tâm, nhà nước đóng vai trò kiến tạo, các tổ chức và từng người dân tham gia thực hiện. Vai trò kiến tạo của nhà nước thể hiện trong việc tạo ra một môi trường để kinh tế tuần hoàn phát triển.

Việt Nam có thể cân nhắc đưa cả hai cách tiếp cận thực hiện kinh tế tuần hoàn của quốc tế vào lộ trình của mình. Đó là: Cách tiếp cận theo nhóm ngành, sản phẩm, nguyên liệu hoặc vật liệu và cách tiếp cận theo quy mô kinh tế, thành lập các không gian địa lý.

Bên cạnh đó, lộ trình cũng cần tiếp tục thực hiện các nội dung khác của kinh tế tuần hoàn, như khuyến khích năng lượng tái tạo, thúc đẩy sử dụng các sản phẩm thân thiện với môi trường, hoàn thiện và phát triển các mô hình kinh tế tuần hoàn đã có tại Việt Nam.

Về vấn đề này, đại diện HDBank cho rằng, thời gian tới, Bộ Công Thương và EVN cần tiếp tục đẩy nhanh việc xây dựng, hoàn thiện cơ sở hạ tầng truyền tải điện để tối ưu hóa các nguồn phát của các dự án năng lượng tái tạo đã và đang được đầu tư.

Đồng thời, sớm ban hành giá điện Mặt trời sau ngày 30/6 để tạo niềm tin và động lực rót vốn cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước vào dự án năng lượng tái tạo, đưa Việt Nam thành trung tâm năng lượng của khu vực.

Còn ông Vũ Tiến Lộc đề nghị đưa chủ trương thúc đẩy kinh tế toàn hoàn vào nghị quyết của Đảng và đề nghị Quốc hội ban hành “Luật về thúc đẩy phát triển kinh tế tuần hoàn”.

“Quốc hội và Chính phủ có chính sách để khuyến khích phát triển các mô hình kinh tế tuần hoàn trong cộng đồng dân cư và doanh nghiệp. Xác định rõ trong việc thực hiện phát triển kinh tế tuần hoàn thì doanh nghiệp đóng vai trò trung tâm”, ông Lộc nói.

Cập nhật thông tin chi tiết về Làm Gì Để Phát Triển Năng Lượng Bền Vững Tại Việt Nam? trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!