Xu Hướng 2/2023 # Khung Pháp Lý Và Thực Trạng Nợ Công Ở Việt Nam # Top 5 View | Phauthuatthankinh.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Khung Pháp Lý Và Thực Trạng Nợ Công Ở Việt Nam # Top 5 View

Bạn đang xem bài viết Khung Pháp Lý Và Thực Trạng Nợ Công Ở Việt Nam được cập nhật mới nhất trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

(BKTO) – Luật Quản lý nợ công (QLNC) mới đã được Quốc hội thông qua năm 2017 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2018 thay thế cho Luật QLNC năm 2009, đây là khuôn khổ pháp lý rất quan trọng cho hoạt động quản lý nợ công hiện nay.

Nhiều thay đổi trong Luật Quản lý nợ công 2017 

Luật Quản lý nợ công (QLNC) mới đã được Quốc hội thông qua năm 2017 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2018 thay thế cho Luật QLNC năm 2009, đây là khuôn khổ pháp lý rất quan trọng cho hoạt động quản lý nợ công hiện nay. 

So với năm 2009, Luật QLNC 2017 đã bổ sung các tiêu chuẩn, chuẩn mực quốc tế về các công cụ quản lý nợ công, đặc biệt là các chỉ tiêu an toàn nợ công. Ngoài ra, kế hoạch vay – trả nợ công 5 năm, chương trình quản lý nợ công 3 năm và kế hoạch vay – trả nợ công hằng năm cũng được Luật quy định rất rõ. 

Về cơ quan quản lý nợ công, Luật QLNC 2017 đã có bước thay đổi rõ rệt khi quy định Bộ Tài chính là cơ quan chủ quản giúp Chính phủ quản lý nợ công và Bộ Tài chính cũng là cơ quan đầu mối duy nhất huy động vốn vay thay vì phân cấp cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Ngân hàng Nhà nước như Luật cũ. Bên cạnh đó, Luật mới cũng đã tăng cường thẩm quyền của Quốc hội và Chính phủ, trong đó: Quốc hội quyết định kế hoạch vay, trả nợ công 5 năm, hạn mức bảo lãnh chính phủ 5 năm và quyết định hạn mức cho vay lại. Như vậy, Luật mới đã phát huy nguyên tắc chung là tăng thẩm quyền của tập thể và hạn chế thẩm quyền. 

Một điểm nữa là Luật QLNC 2017 đã bổ sung nhiều quy định để tăng cường quản lý, siết chặt đối tượng cho vay lại, trong đó chỉ tập trung cho vay lại với chính quyền địa phương và DN, đơn vị sự nghiệp công lập với các điều kiện thắt chặt, đảm bảo khả năng trả nợ. Đồng thời, Luật cũng bổ sung quy định tăng cường công tác thẩm định, đánh giá và quản lý rủi ro bảo lãnh chính phủ, rủi ro cho vay lại; quy định đảm bảo khả năng trả nợ công, bao gồm: huy động vốn vay trong khả năng trả nợ, bảo đảm các chỉ tiêu an toàn nợ công, các khoản vay mới chỉ được thực hiện sau khi đánh giá tác động đến quy mô, khả năng trả nợ; quy định cụ thể quản lý và xử lý rủi ro nợ công. 

Mục tiêu quản lý nợ công được xác định là phải đảm bảo nhiệm vụ huy động vốn vay để đáp ứng nhu cầu cân đối NSNN và phát triển kinh tế – xã hội với mức độ chi phí, rủi ro phù hợp. Như vậy, ngoài vay cho bù đắp bội chi thì Việt Nam có thêm hoạt động cho vay lại, bao gồm các đối tượng vay lại là DN, chính quyền địa phương và đơn vị sự nghiệp công lập. Ngoài ra, việc quản lý nợ công còn phải đảm bảo việc các DN được tiếp cận vốn thông qua bảo lãnh chính phủ. Trong nhiều năm qua, hoạt động này đã hỗ trợ rất nhiều DNNN huy động vốn vay trong và ngoài nước để đầu tư. Mục tiêu thứ hai của quản lý nợ công là kiểm soát chặt chẽ các chỉ tiêu an toàn nợ công được cấp có thẩm quyền phê duyệt trong từng thời kỳ. Mục tiêu thứ ba là thúc đẩy sự phát triển của thị trường vốn trong nước. Đây là mục tiêu phải có của quản lý nợ công để tạo ra đường cong lãi suất cho thị trường trái phiếu trong nước.

Tái cơ cấu để đảm bảo an toàn nợ công 

Năm 2016, nợ công của Việt Nam đã lên mức báo động, gần 64%/GDP (trần nợ công Quốc hội cho phép là 65%) và còn báo động hơn khi tốc độ gia tăng nợ công cao gấp 2,5 lần so với tốc độ tăng GDP. Trong bối cảnh đó, Bộ Tài chính đã trình Chính phủ ban hành Nghị quyết số 07-NQ/TW về chủ trương, giải pháp cơ cấu lại NSNN, quản lý nợ công để bảo đảm nền tài chính quốc gia an toàn, bền vững; thông qua hàng loạt các biện pháp về kiềm chế tốc độ tăng nợ công, kiềm chế thâm hụt ngân sách, cắt giảm bảo lãnh chính phủ. Sau đó, nợ công của Việt Nam đã có xu hướng giảm và còn giảm hơn kỳ vọng của cơ quan quản lý nợ công. Tính đến hết năm 2018, nợ công ở mức 58%/GDP và khoản bảo lãnh chính phủ gần như đã cắt giảm hoàn toàn, chỉ duy trì nợ chính phủ.

Về cơ cấu huy động vốn vay, nhiều năm qua, cơ cấu vay thông qua trái phiếu chính phủ tại thị trường trong nước tăng lên đáng kể trong tổng lượng vốn vay. Đây cũng là một trong những thành công về việc phát triển thị trường vốn trong nước, đảm bảo mục tiêu quản lý nợ công và phát triển thị trường vốn nói chung. 

Về cơ cấu nợ của Chính phủ, những năm qua Chính phủ đã rất thành công trong việc chuyển từ phụ thuộc nhiều vào vay nước ngoài sang vay trong nước. Cụ thể: trước đây, tỷ lệ khoản vay nợ nước ngoài chiếm khoảng 60% tổng nợ chính phủ, nhưng hiện nay chỉ còn khoảng 38%. Trong đó, nợ nước ngoài chủ yếu là vay ODA và vay ưu đãi (khoảng 98%) từ Nhật Bản, Ngân hàng Thế giới và Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB). 

Mặc dù nợ công đã thoát khỏi tình trạng báo động nhưng chúng ta đang phải đối mặt với một số khó khăn, bởi Việt Nam đã trở thành nước có thu nhập trung bình thấp từ năm 2008, không thuộc diện hỗ trợ của Hiệp hội Phát triển Quốc tế (IDA) từ năm 2017, điều này đồng nghĩa với việc Việt Nam phải trả nợ nhanh gấp đôi cho các khoản vay từ IDA (khoảng 15 tỷ USD). Cùng với đó, khả năng tiếp cận vốn ODA, vốn vay ưu đãi giảm, thay thế bằng các khoản vay kém ưu đãi hơn.

Một vấn đề nữa là hiệu quả sử dụng vốn vay, KTNN từ lâu đã rất quan tâm và tập trung kiểm toán đánh giá vấn đề này. 

Để quản lý nợ công một cách hiệu quả, Bộ Tài chính đã xác định một số biện pháp cụ thể sau:

Bên cạnh đó, để đảm bảo trần nợ công, Bộ Tài chính sẽ kiểm soát tốc độ gia tăng dư nợ công thấp hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế; tuân thủ mức bội chi NSNN và lộ trình cắt giảm bội chi trong trung và dài hạn, duy trì bội chi thấp hơn dự toán được Quốc hội cho phép; siết chặt bảo lãnh chính phủ và quản lý chặt chẽ cho vay lại; đảm bảo cân đối, bố trí đủ nguồn để trả nợ đầy đủ, đúng hạn.

THÙY LÊ (ghi) Theo Báo Kiểm toán số 30 ra ngày 25-7-2019

Thực Trạng Lạm Phát Ở Việt Nam Và Những Giải Pháp

TÓM TẮT: Trong nền kinh tế thị trường đang phát triển và có nhiều sự cạnh tranh giai đoạn hiện nay, lạm phát đang là một vấn đề bất cập được nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam hết sức quan tâm. Bài viết đề cập đến thực trạng lạm phát tại Việt Nam các năm 2016, 2017 và giải pháp để đạt được mục tiêu duy trì lạm phát năm 2018 dưới 4%.Từ khóa: Lạm phát, CPI, lạm phát cơ bản, Tổng cục Thống kê.

I. Thực trạng lạm phát năm các năm 2016, 20171. Thực trạng lạm phát năm 2016 Năm 2016 được coi là thành công trong việc kiểm soát lạm phát trong điều kiện giá một số mặt hàng thiết yếu tăng trở lại nhưng nhờ lạm phát thấp nên Nhà nước vẫn có dư địa điều chỉnh giá một số mặt hàng do Nhà nước quản lý tiệm cận dần theo giá thị trường.

Lạm phát cơ bản tháng 12/2016 tăng 1,87% so với cùng kỳ năm trước (lạm phát sau khi loại trừ giá lương thực-thực phẩm, giá năng lượng và giá các mặt hàng do Nhà nước quản lý bao gồm dịch vụ y tế và dịch vụ giáo dục), tăng nhẹ so với mức 1,69% của năm 2015.Một thước đo khác là lạm phát GDP cũng chỉ ở mức 1,1% (cao hơn so với mức -0,2% trong năm 2015), bởi năm 2016 trong khi GDP thực tăng 6,2%, thì GDP danh nghĩa cũng chỉ tăng 7,3% (từ 4192 nghìn tỷ đồng lên 4502 nghìn tỷ đồng).Như vậy, có thể thấy rằng, nếu loại trừ các yếu tố làm tăng giá mang tính ngắn hạn, lạm phát của Việt Nam chỉ vào khoảng 1-2% và là mức tương đối thấp. Hơn nữa, mức lạm phát thấp này đã được duy trì tương đối ổn định kể từ giữa năm 2016, khi lạm phát cơ bản chỉ dao động xoay quanh mức 0,1%/tháng.

Về nguyên nhân, xu hướng lạm phát thấp chủ yếu là do tình hình tăng trưởng kinh tế chưa có nhiều dấu hiệu khởi sắc. Tốc độ tăng trưởng GDP 6,21% trong năm 2016 thấp hơn tương đối nhiều so với mục tiêu 6,7%, thậm chí thấp hơn cả so với mức dự báo gần đây là 6,3-6,5%. Mặc dù có những nguyên nhân mang tính khách quan như thời tiết không thuận lợi dẫn đến ngành Nông nghiệp tăng trưởng chậm với mức 1,36% và ngành Khai khoáng bị sụt giảm 4% do giá nguyên liệu trên thế giới ở mức thấp, song tựu trung vẫn là do tổng cầu thấp.2. Thực trạng lạm phát năm 2017Theo đó, CPI bình quân năm 2017 tăng 3,53% so với năm 2016 và tăng 2,6% so với tháng 12/2016. Như vậy, mục tiêu kiểm soát lạm phát, giữ mức CPI bình quân năm 2017 dưới 4% đã đạt được trong bối cảnh điều chỉnh được gần hết giá các mặt hàng do Nhà nước quản lý đặt ra trong năm 2017.

Giải thích một số yếu tố gây tăng giá trong năm 2017, giá dịch vụ y tế tăng bước 2 theo Thông tư liên tịch số 37/2015/TTLT-BYT-BTC ngày 29/10/2015 của Bộ Y tế và Bộ Tài chính tại 27 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Thông tư số 02/2017/TT-BYT ngày 15/3/2017 của Bộ Y tế quy định mức khung tối đa giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh đối với người không có thẻ bảo hiểm y tế thuộc các bệnh viện hạng đặc biệt, hạng I do Bộ Y tế và các bộ, ngành quản lý. Tính đến ngày 20/12/2017, đã có 45 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương điều chỉnh giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh đối với người không có thẻ bảo hiểm y tế. Vì vậy, giá các mặt hàng dịch vụ y tế tăng 37,3% so với cuối năm 2016 và bình quân cả năm 2017 tăng 57,91% so với năm 2016 làm cho CPI năm 2017 tăng khoảng 1,35% so với tháng 12/2016 và CPI bình quân năm 2017 tăng khoảng 2,04% so với năm 2016.Bên cạnh đó, thực hiện lộ trình tăng học phí theo Nghị định số 86/2015/NĐ-CP ngày 02/10/2015 của Chính phủ, các tỉnh đã tăng học phí các cấp học. Điều này đã làm cho chỉ số giá nhóm giáo dục trong năm 2017 tăng 7,29% so với tháng 12/2016 và bình quân cả năm 2017 tăng 9,1% so với bình quân năm 2016, tác động làm cho CPI năm 2017 tăng khoảng 0,41% so với tháng 12/2016 và CPI bình quân năm 2017 tăng khoảng 0,5% so với năm 2016.Đồng thời, mức lương tối thiểu vùng áp dụng cho người lao động ở các doanh nghiệp cũng tăng từ ngày 01/01/2017. Mức lương cơ sở áp dụng cho cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang từ ngày 01/7/2017 tăng 90.000 đồng/tháng đã làm cho giá một số loại dịch vụ như: dịch vụ sửa chữa đồ dùng gia đình, dịch vụ bảo dưỡng nhà ở, dịch vụ điện, nước; dịch vụ thuê người giúp việc gia đình tăng giá từ 3 – 8% so với năm 2016.Bên cạnh đó, giá các mặt hàng đồ uống, thuốc lá và giá các loại quần áo may sẵn tăng cao trong dịp Tết Nguyên đán do nhu cầu tăng. Bình quân năm 2017, chỉ số giá các nhóm này lần lượt tăng 1,52% và 1,07% so với năm 2016. Giá gas sinh hoạt cũng được điều chỉnh theo giá gas thế giới. Cụ thể, năm 2017 giá gas tăng 15,91% so với năm 2016.Ngoài ra, giá nhiên liệu trên thị trường thế giới trong năm 2017 tăng khá mạnh, bình quân giá dầu Brent từ thời điểm ngày 01/01/2017 đến thời điểm ngày 20/12/2017 ở mức 54,49 USD/thùng, cao hơn nhiều so với mức 45,13 USD/thùng của bình quân năm 2016. Trong nước, giá xăng dầu tính đến ngày 10/12/2017 được điều chỉnh 10 đợt tăng và 8 đợt giảm, hai đợt không đổi, tổng cộng giá xăng tăng 1.040 đồng/lít; dầu diezel tăng 1.260 đồng/lít, làm cho giá xăng dầu bình quân năm 2017 tăng 15,49% so với năm 2016, góp phần tăng CPI chung 0,64%.Giá vật liệu xây dựng cũng tăng 5,23% do giá cát xây dựng tăng rất mạnh vào tháng 5, tháng 6 và tháng 7/2017 do các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương siết chặt việc quản lý khai thác cát và các cơ quan chức năng không cho phép khai thác các mỏ mới. Giá sắt thép tăng do giá nguyên liệu đầu vào như phôi thép, than điện tăng mạnh từ tháng 7 nên các nhà máy sản xuất thép đã tăng giá bán từ 5 – 10%.Giá các mặt hàng thiết yếu trên thế giới có xu hướng tăng trở lại như giá nhiên liệu, chất đốt, sắt thép… nên chỉ số giá nhập khẩu năm 2017 so năm 2016 tăng 2,57%, chỉ số giá xuất khẩu tăng 2,93%; chỉ số giá sản xuất công nghiệp (PPI) tăng 2,82%.Năm 2017 cũng được đánh giá là năm kỷ lục về số lượng cơn bão, áp thấp nhiệt đới trên biển đông, có 16 cơn bão và 4 áp thấp nhiệt đới. Riêng cơn bão số 12 (Damrey) gây thiệt hại lớn nhất về người và vật chất cho các tỉnh miền Trung làm cho chỉ số giá nhóm lương thực, thực phẩm tại các tỉnh này có mức tăng trong tháng 11/2017 cao hơn các tỉnh khác.Tổng cục Thống kê cũng chỉ ra, bên cạnh những yếu tố gây tăng giá, trong năm 2017 cũng có những yếu tố góp phần kiềm chế CPI. Đó là, chỉ số giá nhóm thực phẩm bình quân năm 2017 giảm 2,6% so với năm 2016 làm CPI chung giảm khoảng 0,53%, chủ yếu giảm ở nhóm thịt tươi sống.Tổng cục Thống kê cũng chỉ rõ, lạm phát cơ bản (CPI sau khi loại trừ lương thực, thực phẩm tươi sống; năng lượng và mặt hàng do Nhà nước quản lý bao gồm dịch vụ y tế và dịch vụ giáo dục) tháng 12/2017 tăng 0,11% so với tháng trước và tăng 1,29% so với cùng kỳ.

Bình quân năm 2017 so với năm 2016, lạm phát chung có mức tăng cao hơn lạm phát cơ bản, điều này phản ánh biến động giá do yếu tố thị trường có mức tăng cao, đó là giá lương thực thực phẩm, giá xăng dầu và yếu tố điều hành giá cả qua việc điều chỉnh tăng giá dịch vụ y tế và giáo dục. Bình quân năm 2017 lạm phát cơ bản là 1,41% thấp hơn mức kế hoạch từ 1,6-1,8%, cho thấy chính sách tiền tệ vẫn đang được điều hành ổn định. CPI bình quân năm 2017 tăng 3,53% so với bình quân năm 2016, dưới mục tiêu Quốc hội đề ra. CPI tháng 12/2017 tăng 2,6% so với tháng 12/2016, bình quân mỗi tháng tăng 0,21%. CPI bình quân năm 2017 tăng chủ yếu là do các địa phương điều chỉnh giá dịch vụ y tế, dịch vụ khám chữa bệnh. Có một số yếu tố góp phần kiềm chế tốc độ tăng CPI năm nay như chỉ số giá nhóm thực phẩm bình quân năm giảm 2,6% so với năm 2016 (chủ yếu giảm ở nhóm thịt tươi sống). Ngân hàng Nhà nước đã điều hành chính sách tiền tệ kiên định mục tiêu giữ ổn định vĩ mô và kiểm soát lạm phát.II. Giải pháp để đạt được mục tiêu duy trì lạm phát năm 2018 Dựa vào những nhân tố nêu trên, lạm phát năm 2018 dự báo sẽ tiếp tục ở mức thấp, khoảng 4%. Ðể đạt được mục tiêu này cần thực hiện những giải pháp sau:– Công tác điều hành giá phải bám sát và hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng, tránh tạo ra lạm phát kỳ vọng hay tạo ra “độ trễ” của lạm phát trong những năm sau. Định hướng điều hành lạm phát là bám sát quy luật cung cầu của thị trường, không áp đặt thủ tục hành chính. Các bộ, ngành, các địa phương cần theo dõi sát diễn biến giá cả của các mặt hàng thiết yếu, chủ động chuẩn bị các nguồn hàng vào dịp lễ, Tết đầu năm và cuối năm để hạn chế tăng giá; có giải pháp bình ổn thị trường phù hợp…– Kiểm soát chặt chẽ phương án giá và mức giá đối với các hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước định giá; giám sát chặt chẽ kê khai giá của doanh nghiệp đối với mặt hàng bình ổn, mặt hàng kê khai giá… Tất cả những mặt hàng, dịch vụ mà Nhà nước định giá thì trong năm 2018 cần điều chỉnh cho phù hợp, theo từng thời điểm, tránh hiện tượng tăng giá ồ ạt, dẫn đến phản ứng dây chuyền. Theo dõi sát sao thị trường, không để xảy ra biến động. Đối với mặt hàng xăng dầu, Bộ Công Thương và Bộ Tài chính theo dõi sát diễn biến giá xăng dầu thế giới, sử dụng quỹ bình ổn giá xăng dầu phù hợp để hạn chế mức tăng giá mặt hàng này ảnh hưởng đến CPI chung. Về giá điện, Bộ Công Thương nếu tăng giá điện phải chủ động đưa ra các phương án để tính toán các mức độ ảnh hưởng chỉ số CPI, chỉ số giá sản xuất và tăng trưởng GDP.– Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về giá, trong đó có việc hoàn thiện các định mức kinh tế – kỹ thuật làm cơ sở xác định giá dịch vụ theo lộ trình bảo đảm tính đúng, tính đủ chi phí thực hiện dịch vụ vào giá. Trường hợp mức giá cao hơn mức phí hiện hành thì cần có lộ trình điều hành phù hợp bảo đảm mục tiêu kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô.– Về chính sách tiền tệ, cần được điều hành linh hoạt, bám sát các diễn biến thị trường tài chính tiền tệ trong nước và quốc tế để đạt được mục tiêu kiểm soát lạm phát, ổn định thị trường ngoại tệ, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô. Ngân hàng Nhà nước sẽ duy trì mặt bằng lãi suất hợp lý, phù hợp diễn biến kinh tế vĩ mô. Từng bước phấn đấu giảm hơn nữa lãi suất khi có điều kiện thích hợp. Không bơm tiền ra thị trường ồ ạt dẫn đến tình trạng không hấp thụ được, – Chính sách tài khóa cũng vô cùng quan trọng, tác động tới kiểm soát lạm phát. Với chính sách tài khóa chặt chẽ được thực thi một cách có hiệu quả cũng như kiểm soát việc chi tiêu của nguồn ngân sách một cách hợp lý thì chắc chắn mục tiêu kiểm soát lạm phát năm 2018 ở mức 4% là khả thi.TÀI LIỆU THAM KHẢO:1. Báo cáo của Chính phủ về tình hình kinh tế – xã hội các năm 2016, 2017.2. Nghị quyết của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2016-2017.3. Niên giám Thống kê các năm 2016-2017.4. Trang web Tổng cục Thống kê.

SITUATION OF INFLATION IN VIET NAM IN RECENT YEARS

MA. PHAM NGOC ANH

Organization Department – University of Economic and Technical Industries

ABSTRACT:

In a developing market economy with increasing level of competition, inflation is an urging problem to the world. The article mentions the situation of inflation in Vietnam in 2016, 2017 and the solution to achieve inflation target of 2018, which is under 4%.

Keywords: Inflation, CPI, core inflation, General Statistics Office.

Thực Trạng Và Giải Pháp Chính Sách Tiền Tệ Ở Việt Nam

Chương I. Cơ sở lý thuyết về chính sách tiền tệ Quốc gia. 2

I. Khái niệm, vị trí và nhiệm vụ của chính sách tiền tệ . 2

1. Khái niệm chính sách tiền tệ. 2

2. Vị trí của chính sách tiền tệ. 2

3. Nhiệm vụ của chính sách tiền tệ. 2

II. Mục tiêu của chính sách tiền tệ quốc gia. 6

1. Công ăn việc làm cao. 6

2. Tăng trưởng kinh tế. 7

3. Kiểm soát lạm phát, ổn định giá trị đồng bản tệ. 7

4. Quan hệ giữa các mục tiêu. 8

III. Các công cụ của chính sách tiền tệ. 9

1. Các loại chính sách tiền tệ:. 9

2. Các công cụ của chính sách tiền tệ. 9

2.1. Các công cụ gián tiếp . 9

2.2. Các công cụ trực tiếp. 12

IV. Vai trò và nội dung của chính sách tiền tệ trong nền kinh tế mở. 15

1. Thế nào là một nền kinh tế mở. 15

2. Ảnh hưởng của toàn cầu hoá đến cơ chế tác động của chính sách tiền tệ. 15

3. Sự cần thiết phải thay đổi chính sách tiền tệ trong nền kinh tế mở ở Việt Nam. 16

Chương II: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ Ở VIỆT NAM. 18

I. Thực trạng chính sách tiền tệ ở Việt Nam. 18

1. Nước ta tiến hành mở cửa với điểm xuất phát thấp. 19

2. Tình hình sử dụng các công cụ để điều hành chính sách tiền tệ ở Việt Nam trong thời gian qua, thành tựu và hạn chế. 19

3. Khái quát hoạt động điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thời gian qua. 25

II. Những vấn đề đặt ra trong điều hành chính sách tiền tệ trong thời gian tới 27

1. Phương hướng cơ bản để tiếp tục hoàn thiện chính sách tiền tệ. 27

2. Những vấn đề đặt ra nhằm nâng cao hiệu lực điều hành chính sách tiền tệ của NHNNVN. 28

C. KẾT LUẬN. 31

Luận Văn Tiểu Luận Hậu Quả Và Giải Pháp Cho Nợ Công Ở Việt Nam

Kinh tế thế giới vừa trải qua cơn bão khủng hoảng dữ dội nhất kể từ sau cuộc Đại suy thoái 1929-1933 và đang chật vật hồi phục. Thế nhưng, bầu trời phía trước vẫn còn rất ảm đạm, bởi đám mây đen nợ công khổng lồ ngày càng lan rộng, phủ lên nhiều nước, sau khi đã gây ra lốc lớn làm chao đảo nền kinh tế Băng Đảo Iceland, suýt “hất đổ” toà tháp cao nhất thế giới ở Dubai hoa lệ, làm sụn lưng thần Héc-quyn và đã đánh sập nền tài chính hùng mạnh Ireland. Từ đó, ta có thể thấy có nhiều dấu hiệu chứng tỏ Eurozone đang trên bờ vực sụp đổ. Vấn đề chỉ còn là thời điểm. Cuộc khủng hoảng nợ công tại một số nước châu Âu rõ ràng là không thể giải quyết được bằng các chính sách như hiện nay. Một khi Hy Lạp và Ai-len từ bỏ đồng ơ-rô, thì Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và thậm chí cả I-ta-li-a cũng có thể bị buộc phải làm như vậy. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc đặt dấu chấm hết cho đồng ơ-rô. Như vậy trong bối cảnh các thể chế trong khu vực đồng ơ-rô đang đối phó với cuộc khủng hoảng nợ công này, các nhà phân tích Việt Nam có nghĩ tới chưa chuyện sẽ xoay sở thế nào nếu cuộc khủng hoảng này xảy ra ở Việt Nam . khi mà “hiệu ứng đô-mi-nô” đã bắt đầu? Nguyên nhân của “căn bênh trầm kha” này và hậu quả mà nó mang lại như thế nào? Liệu có “thần dược” nào để có thể chấm dứt được “căn bệnh” này không? Tất cả sẽ được trình bày ở những phần sau.

TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC

TIN KHUYẾN MÃI

Thư viện tài liệu Phong Phú

Hỗ trợ download nhiều Website

Nạp thẻ & Download nhanh

Hỗ trợ nạp thẻ qua Momo & Zalo Pay

Nhận nhiều khuyến mãi

Khi đăng ký & nạp thẻ ngay Hôm Nay

NẠP THẺ NGAY

DANH MỤC TÀI LIỆU LUẬN VĂN

Cập nhật thông tin chi tiết về Khung Pháp Lý Và Thực Trạng Nợ Công Ở Việt Nam trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!