Xu Hướng 2/2023 # Khủng Hoảng Venezuela: Giải Pháp Nào? # Top 8 View | Phauthuatthankinh.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Khủng Hoảng Venezuela: Giải Pháp Nào? # Top 8 View

Bạn đang xem bài viết Khủng Hoảng Venezuela: Giải Pháp Nào? được cập nhật mới nhất trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Năm thập niên về trước, Venezuela từng là một quốc gia giàu mạnh và dân chủ vững chắc nhất trong vùng, trong đó có tự do truyền thông, hệ thống chính trị rộng mở và các đảng chính trị cạnh tranh thay nhau nắm quyền trong hòa bình. Hạ tầng cơ sở của Venezuela thời đó thuộc hạng nhất Nam Mỹ. Mặc dầu nó vẫn còn nhiều vấn đề như tham nhũng, bất công và sai trái, Venezuela đã hơn xa bất cứ một quốc gia đang phát triển khác. Nhưng vài thập niên sau, Venezuela trở thành một nước nghèo đói, một nhà nước hoàn toàn thất bại và tội phạm hóa mà lãnh đạo là những kẻ chuyên quyền và phụ thuộc nặng nề vào các thế lực ngoại bang, nhất là Cuba, Nga, Trung Quốc, và Thổ Nhĩ Kỳ.

Vì sao ra nông nỗi này?

Một cách tóm tắt, chủ nghĩa xã hội, dân túy, giá dầu, cũng như các chính sách điều hành quốc gia độc đoán và sai lầm bởi lãnh đạo bất tài, là những yếu tố đã đưa Venezuela đến khủng hoảng lâu nay.

Vào thập niên 1970, Venezuela là một trong hai mươi quốc gia giàu nhất thế giới, tổng sản lượng quốc gia (GDP) cao hơn cả Tây Ban Nha, Hy Lạp, Do Thái, và chỉ thua Anh 13 phần trăm. Nhưng vào đầu thập niên 1980, giá dầu sụt giảm và cả thị trường dầu hỏa suy yếu đã chấm dứt thời kỳ vàng son của nước này. Một nền kinh tế phụ thuộc chủ yếu vào dầu hỏa này khi suy yếu đã tác động sâu xa lên bao nhiêu lĩnh vực khác, từ giáo dục, y tế, tiền tệ, lạm phát, ngân hàng, thất nghiệp v.v… Sau một thập niên trì trệ kinh tế, người dân Venezuela trước đó quen sống sung sướng trở thành bất mãn và vỡ mộng. Thời thế đã tạo anh hùng … giả. Hugo Chávez thực hiện cuộc đảo chánh nhưng không thành ngày 4 tháng Hai năm 1992, vì thế bị giam tù rồi trở thành anh hùng dân gian không tưởng tại Venezuela. Sau khi được trả tự do, Chávez đã tranh cử và đắc cử tổng thống năm 1998, chấm dứt hệ thống dân chủ lưỡng đảng kéo dài 40 năm tại Venezuela. Những gì diễn ra sau đó là lịch sử. Và Nicolás Maduro là người được Hugo Chávez chọn làm thừa kế.

Kể từ khi Maduro lên cầm quyền, mọi thứ đều trở nên tồi tệ hơn nữa. Tổng sản lượng quốc gia của Venezuela năm 2013 là 234,4 tỷ đô la Mỹ, năm 2018 chỉ còn 96,3 tỷ, giảm hơn một nửa. Chưa có quốc gia nào có tỷ lệ lạm phát ở kỷ lục cao như Venezuela, 1,37 triệu phần trăm. Nghĩa là nếu một người có được trong tay 10 ngàn đô la dành dụm vào đầu năm thì đến cuối năm chỉ còn trị giá 73 xu (Tạp chí The Economist cho rằng tỷ lệ lạm phát lên đến 1,7 triệu phần trăm, cho nên 10 ngàn thì chỉ còn 59 xu). Sự thiếu hụt triền miên về thức ăn, thuốc men và điện nước đã làm cho khoảng ba triệu người Venezuela bỏ nước ra đi kể từ năm 2014, trong đó gần nửa triệu đã đến hai quốc gia Mexico và Hoa Kỳ. Tỷ lệ thất nghiệp hiện nay là 34,3 phần trăm. 8 trên 10 người Venezuela được khảo cứu cho biết họ không có đủ thức ăn tại nhà. Tỷ lệ giết người tại Venezuela là thuộc cao nhất thế giới, 58 trên 100 ngàn người. Các dịch vụ công căn bản như giáo dục, y tế và an ninh cũng không còn được bảo đảm nữa. Vào năm 1961, Venezuela được xem là quốc gia đã loại trừ được bệnh sốt rét, thì giờ đây nó đã trở lại, ảnh hưởng hơn 400 ngàn người vào năm 2017. Bệnh sởi cũng trở lại nước này.

Tóm lại, chính quyền Nicolás Maduro tại Venezuela đã thất bại hoàn toàn trong việc điều hành quản trị kinh tế và mọi mặt đời sống, đẩy người dân vào đường cùng của đói nghèo, thất học, bệnh tật và tội phạm. Nhưng Maduro chỉ là người thừa kế. Người đã đưa Venezuela vào con đường tội lỗi này chính là Hugo Chávez. Một chế độ và lãnh đạo bất tài, thối nát và thất bại toàn diện như thế không có bất cứ một lý do chính đáng nào để tồn tại, bởi nó thách đố mọi lôgích, lý lẽ và tình cảm của con người.

Giải pháp quân sự?

Sẽ không có một giải pháp chính trị nào hoàn hảo cho tình hình chính trị phức tạp và lắm chia rẽ như tại Venezuela. Những hệ lụy mà chính quyền Nicolás Maduro, hay người tiền nhiệm Hugo Chávez, để lại hơn hai thập niên qua là chồng chất.

Các cuộc biểu tình rầm rộ lên đến vài trăm ngàn người tại Venezuela, có khi cả triệu người trên toàn quốc, trong những năm qua cũng như cuối tháng Giêng vừa qua thể hiện sự bất mãn tột cùng của người dân với chế độ cầm quyền. Nhưng biểu tình thôi dường như chưa thay đổi được điều gì sâu sắc. Vì thế mà nhiều người cho rằng chỉ có lật đổ chế độ này bằng bạo lực thì mới giải quyết được vấn đề. Nhưng quân đội bấy lâu nay vẫn đứng về phía cầm quyền. Vì thế khi nghe tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump gợi ý về giải pháp quân sự cho Venezuela, hiển nhiên nhiều người vui mừng và hoan nghênh ý tưởng này.

Nhưng can thiệp bằng quân sự, do Hoa Kỳ lãnh đạo, có phải là một giải pháp tốt cho Venezuela? Có thể sức mạnh quân sự của Hoa Kỳ chỉ cần một ngày là hạ sập được chế độ Maduro, nhưng không có gì bảo đảm là Hoa Kỳ có khả năng duy trì và ổn định an ninh nơi này trong thời gian ngắn rồi mọi chuyện sẽ ổn thỏa. Cuộc chiến Iraq và sau đó Afghanistan cũng như các bài học về chiến tranh trước đây đã làm cho Hoa Kỳ ngày nay rất ngần ngại trong việc tham chiến bất cứ nơi nào. Sau George W Bush, Barack Obama chủ trương hạn chế sự can thiệp về quân sự của Hoa Kỳ, đặc biệt tại những nơi không có tính cách chiến lược hay ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi và an ninh quốc gia của Hoa Kỳ.

Donald Trump cũng chủ trương giới hạn các hoạt động quân sự, đề cao chủ trương giao dịch (transactional approach). Tuy Trump tuyên bố “chúng ta có nhiều giải pháp cho Venezuela kể cả một giải pháp quân sự khả dĩ, nếu cần thiết”, tức ngược lại với chủ trương bình thường của mình, phần lớn các thành viên trụ cột của chính quyền Hoa Kỳ không tán thành giải pháp này (tuy John Bolton có ám chỉ can thiệp bằng quân sự). Lý do dễ hiểu, bởi vì ngoài khả năng có thể bị sa lầy thêm lần nữa, giải pháp quân sự sẽ tốn kém về tài chánh lẫn nhân mạng, uy tín và chính nghĩa của Hoa Kỳ sẽ tiếp tục bị tổn hại, và qua đó ảnh hưởng sâu đậm lên các chiến lược ưu tiên hiện nay của Hoa Kỳ, trong đó có mục tiêu đối phó với sự trỗi dậy của Trung Quốc. Cựu Bộ trưởng Quốc phòng James Mattis từng nói “Khủng hoảng tại Venezuela không phải là một vấn đề quân sự”.

Thêm vào đó, mọi giải pháp quân sự chỉ là nhất thời, bởi nó không phải là giải pháp cho một bài toán phức tạp tại Venezuela, và chắc chắn không phải là giải pháp mang lại dân chủ. Các nước láng giềng Venezuela đều chống lại giải pháp quân sự. Đó là một tiền lệ mà họ đều e ngại bởi rằng nếu Hoa Kỳ làm được với Venezuela thì cũng có thể đối với họ. Ngoài ra, xây dựng lại quốc gia này với một nền kinh tế kiệt quệ, một quân đội ảnh hưởng quá sâu rộng lên mọi lĩnh vực công, và sự bắt đầu khôi phục lại các dịch vụ căn bản như y tế, giáo dục và thực thi pháp luật, là một thử thách cực kỳ lớn. Giải pháp cho bài toán của Venezuela phải tính thật kỹ đến toàn bộ đến các yếu tố này, nếu không thì giá phải trả sẽ rất đắt đỏ.

Chiến lược nào cho Venezuela?

Giải pháp tối hảo cho Venezuela là ông Nicolás Maduro chính thức từ nhiệm và rời khỏi nước càng sớm càng tốt (ông cùng gia đình và một số thuộc hạ thân tín nhất); quân đội Venezuela đứng ngoài và không can thiệp vấn đề chính trị quốc gia; và ông Juan Guaido tổ chức lại cuộc tổng tuyển cử toàn quốc càng sớm càng tốt với sự giám sát của quốc tế.

Tất cả tùy thuộc khả năng ứng biến chính trị của phe đối lập, đứng đầu là Juan Guaido.

Những rủi ro phải cân nhắc

Hoa Kỳ và các nước Nam Mỹ khác chắc chắn không muốn nhìn thấy một khủng hoảng Venezuela. Nếu cuộc đấu tranh chính trị của phe đối lập, đứng đầu là Juan Guaido, kỳ này không thành thì hậu quả để lại sẽ tàn khốc, và sẽ mất một thời gian rất lâu nữa để có một cơ hội khác có đầy đủ các yếu tố thuận lợi như hiện nay. Không thành công kỳ này thì Venezuela sẽ trở thành một nước phá sản toàn diện để rồi hậu quả nội địa lan tràn sang các nước khác và trong vùng.

Nếu điều trên xảy ra, tình thế sẽ trở nên phức tạp, do đó cần tính trước mọi bước để tiên liệu và đối phó hiệu quả. Chẳng hạn, Hoa Kỳ và các quốc gia công nhận Juan Guaido có thái độ nào, và sẽ làm gì cụ thể, để bảo vệ Juan Guaido và các nhân sự đối lập chủ chốt, nếu chính quyền Maduro sử dụng bạo lực để đàn áp?

Vài lời kết

Có rất nhiều điều đáng suy ngẫm và có thể rút tỉa cho công cuộc vận động dân chủ tại Việt Nam nếu quan sát kỹ diễn biến tại Venezuela, mặc dầu có rất nhiều khác biệt giữa hai quốc gia này. Nhưng đây là đề tài cho một dịp khác.

Sau cùng chúng ta có quyền hy vọng rằng chính nghĩa sẽ thắng hung tàn, chí nhân sẽ thay cường bạo, và lẽ phải sẽ đánh bại họng súng, lần này.

(Úc Châu, 01/02/2019)

Sáu Nhóm Giải Pháp Tránh Khủng Hoảng Tài Chính

Theo Thứ trưởng Trần Xuân Hà, trong thời gian gần đây, tình hình kinh tế vĩ mô đã có những chuyển biến và cải thiện rõ nét. Mặc dù chỉ số giá tiêu dùng 8 tháng đầu năm 2008 so với 8 tháng đầu năm 2007 tăng 22,14% nhưng tốc độ tăng giá trong những tháng gần đây đã chậm lại.

Tháng 7 chỉ tăng 1,13% so với tháng 6; tháng 8 tăng 1,56% so với tháng 7 nhưng chủ yếu là do ảnh hưởng chính của chính sách tăng giá xăng dầu vào cuối tháng 7 để giảm bù lỗ ngân sách và khuyến khích sử dụng tiết kiệm xăng dầu.

Về cán cân thương mại, mặc dù trong 8 tháng đầu năm mức thâm hụt đã lên đến 16 tỷ USD nhưng mức thâm hụt đã giảm hẳn qua các tháng (tháng 7 và 8, thâm hụt khoảng 800-900 triệu USD).

Nguồn kiều hối chuyển về trong nước vẫn tiếp tục đà tăng mạnh từ các năm trước và khá ổn định (đạt khoảng 4,5 tỷ USD nửa đầu năm 2008) cũng đã hỗ trợ lớn tài khoản vãng lai không bị thâm hụt nặng như cán cân thương mại.

Theo ông Hà, trong những tháng cuối năm 2008 và năm 2009, các ngành, lĩnh vực sản xuất kinh doanh vẫn sẽ còn chịu tác động đáng kể từ chính sách thắt chặt tiền tệ, chính sách giảm chi tiêu công…

Sáu nhóm giải pháp tránh khủng hoảng tài chính

Để tránh sự tác động của cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ và tránh cuộc khủng hoảng tài chính xảy ra đối với Việt Nam, Bộ Tài chính đưa ra 6 nhóm giải pháp quan trọng.

Thứ nhất, Chính phủ sẽ tiếp tục thực hiện nhất quán chính sách tài chính – tiền tệ thắt chặt để thực hiện mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát; trong đó, đặc biệt chú trọng đến việc sử dụng linh hoạt các công cụ lãi suất, dự trữ bắt buộc và các công cụ thị trường mở cùng với cắt giảm chi đầu tư công, bao gồm cả việc kiểm soát chặt chẽ đầu tư của hệ thống doanh nghiệp nhà nước.

Chính phủ sẽ tiếp tục kiên trì thực hiện chính sách giá cả theo cơ chế thị trường, linh hoạt theo lộ trình phù hợp để kiểm soát giá các mặt hàng thiết yếu.

Thứ hai về thị trường tài chính, tín dụng, thị trường chứng khoán, quan điểm quản lý nhà nước là không can thiệp trực tiếp vào thị trường mà tập trung vào thực hiện chức năng tăng cường kiểm tra, giám sát hệ thống ngân hàng và các định chế tài chính để tránh rủi ro hệ thống và khủng hoảng tài chính; tiếp tục thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, xem xét thời điểm phù hợp của các đợt phát hành cổ phiếu lần đầu của các Tổng cty, tập đoàn kinh tế lớn cùng với việc đẩy mạnh tái cơ cấu, nâng cao hiệu quả và khả năng cạnh tranh của hệ thống doanh nghiệp nhà nước.

Thứ ba, đối với thị trường bất động sản, tập trung nâng cao chất lượng tín dụng bất động sản thông qua việc kiểm soát quy trình, giám sát nghiêm việc cho vay bất động sản của các ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng để đảm bảo an toàn hệ thống.

Thứ tư, giải quyết hợp lý bài toán nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư cần được coi là nhiệm vụ vừa cấp bách vừa chiến lược đối với nền kinh tế Việt Nam trong thời gian tới.

Về đầu tư công, trong thời gian tới cùng với nỗ lực cơ cấu lại chi tiêu công, tập trung cho an sinh xã hội, Chính phủ sẽ tiếp tục điều chỉnh lại cơ cấu chi đầu tư phát triển, trong đó tập trung vào khu vực nông nghiệp và nông thôn để chuyển dịch cơ cấu kinh tế, kết hợp với khu vực tư nhân nhưng tránh đầu tư chồng chéo vào những khu vực tư nhân có thể tự đầu tư và thu hồi vốn.

Thứ năm, tăng cường khả năng cạnh tranh và hiệu quả của doanh nghiệp là yếu tố cơ bản và gốc rễ của tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững; trong đó, các doanh nghiệp cần chủ động, tích cực trong việc áp dụng các biện pháp phòng ngừa rủi ro về tỷ giá-lãi suất…

Vai trò thúc đẩy, hỗ trợ của Nhà nước cần tập trung vào các lĩnh vực hỗ trợ nguồn vốn tín dụng, hỗ trợ khoa học, công nghệ cơ bản; hỗ trợ cung cấp và đào tạo nguồn nhân lực; hệ thống thông tin thị trường và cơ sở hạ tầng.

Cuối cùng, cần đẩy mạnh cải cách hành chính là điều kiện quan trọng trong việc góp phần phát triển sản xuất, tăng cung và điều hoà thị trường trong nước; tăng cường pháp chế, chống tham nhũng và đảm bảo thực thi pháp luật nghiêm để tăng uy tín của Chính phủ.

Việc bảo đảm hệ thống hành chính hoạt động có chất lượng và hệ thống pháp luật thực thi có hiệu quả có thể được coi là cú hích quan trọng để thúc đẩy sản xuất kinh doanh, đảm bảo cơ chế thị trường vận hành hiệu quả. Góp phần đưa nền kinh tế thoát khỏi tình trạng khó khăn và hướng tới quỹ đạo phát triển bền vững.

Phong Cầm

Quan Điểm Về Khủng Hoảng Kinh Tế Và Những Biện Pháp Chống Khủng Hoảng Kinh Tế Của Mác

Lời mở đầu

Hàng loạt những ngân hàng lớn, những tập đoàn tài chính đa quốc gia phải đệ đơn phá sản.Trong tháng 12-2008, tỷ lệ thất nghiệp Mĩ tăng tới 7,2% – mức cao nhất trong 16 năm qua, 3,6 triệu người thất nghiệp kể từ khi suy thoái bắt đầu vào tháng 12/2007. Khoảng 48% người Mỹ được xếp vào diện thu nhập thấp hoặc đang sống cuộc sống nghèo khổ; dịch vụ bưu chính tại Mỹ đã mất hơn 5 tỷ USD; tỷ lệ thu hồi nhà tại bang Nevada đã cao nhất nước Mỹ đến 59 tháng liên tiếp… Đó là những nét vẽ trong một bức tranh u ám về cuộc khủng hoảng tài chính Mĩ xảy ra vào năm 2008. Cuộc khủng hoảng đã tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế khổng lồ Mĩ và cho đến nay đã lan ra toàn thế giới, kéo theo sự sụp đổ đồng loạt của nhiều định chế tài chính khổng lồ, thị trường chứng khoán khuynh đảo.Năm 2008 cũng chứng kiến nỗ lực chưa từng có của các nền kinh tế để chống chọi với “bão”.Tuy không nằm trong tiêu điểm của cơn lốc khủng hoảng, nhưng những ảnh hưởng và tác động của nó ngày càng được cảm nhận rõ ở Việt Nam, thể hiện qua sự giảm đi của những chỉ số như thương mại, đầu tư, tốc độ phát triển kinh tế và du lịch… Với những kiến thức tiếp nhận trên lớp cùng với sự tìm hiểu thêm ở các tài liệu tham khảo ,sau đây em xin trình bày một số vấn đề liên quan đến khủng hoảng kinh tế nói chung và cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay nói riêng.Trong bài viết mặc dù đã nỗ lực hết sức mình

2

nhưng không thể tránh được những sai sót nhất định , em mong có được sự góp ý và giúp đỡ của thầy cô giáo để bài viết dược tốt hơn. Đặc biệt em xin chân thành cảm ơn thầy giáo chúng tôi Trần Việt Tiến, người trực tiếp giảng dạy và hướng dẫn em hoàn thành bài tiểu luận này! Kết cấu bài: I.Quan điểm về khủng hoảng kinh tế và những biện pháp chống khủng hoảng kinh tế của Mác. II.Khả năng vận dụng những biện pháp chống khủng hoảng kinh tế vào kinh tế thị trường hiện nay nói chung và kinh tế Việt Nam nói riêng. III.Giải pháp của Chính phủ nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế ở Việt Nam I.Quan điểm về khủng hoảng kinh tế và những biện pháp chống khủng hoảng kinh tế của Mác. 1.Quan điểm của Mác Khủng hoảng kinh tế là đặc trưng của riêng chế độ tư bản chủ nghĩa do mâu thuẫn giữa tính chất xã hội của sản xuất (được chính chủ nghĩa tư bản xã hội hóa) và phương thức chiếm hữu tư nhân, cá nhân về tư liệu sản xuất. Đó là sự rối loạn trong sản xuất, lưu thông hay phân phối. a, Bản chất và nguyên nhân của khủng hoảng kinh tế

3

Theo Marx, bản chất khủng hoảng chính là các cuộc khủng hoảng thừa, được biểu hiện thành nhiều hình thái khác nhau thông qua các loại thị trường khác nhau. – Thứ nhất, đó là khủng hoảng sản xuất thừa của tư bản công nghiệp do sự tắc nghẽn trong quá trình lưu thông hàng hóa của tư bản thương nghiệp. Tư bản ở đây được biểu hiện thành những hàng hóa không bán được. – Thứ hai, đó là khủng hoảng tài chính tiền tệ do sự dư thừa các loại giấy tờ có giá (tư bản giả), biểu hiện trên các sàn giao dịch chứng khoán và thị trường tài chính. – Thứ ba là sự dư thừa của tư bản tiền tệ trong hệ thống ngân hàng dẫn đến các cuộc khủng hoảng tiền tệ giữa các quốc gia do sự di chuyển của các dòng vốn lưu động, điều này gây nên sự thiếu tiền ở thị trường này nhưng thừa tiền ở thị trường khác (Friedman chỉ đưa ra sự thiếu tiền của thị trường này mà không đưa ra sự thừa tiền của thị trường khác). – Thứ tư, đó là sự dư thừa của trái phiếu chính phủ để biến những khoản tiền tiết kiệm cuối cùng của người dân trở thành tư bản, cũng như tính chất bất bình đẳng trong hệ thống thuế hiện nay. Điều này cho kết quả là một cuộc khủng hoảng nợ công. Nguyên nhân của khủng hoảng kinh tế bắt nguồn từ chính mâu thuẫn cơ bản của chủ nghĩa tư bản. Đó là:

4

– Mâu thuẫn giữa nền sản xuất đại kế hoạch của tư bản công nghiệp và giới hạn thị trường với sự gia nhập tự do của tư bản thương nghiệp làm cho tỉ suất lợi nhuận bình quân giảm dần. – Mâu thuẫn giữa nguồn gốc giá trị thặng dư được tạo ra từ khu vực sản xuất nhưng bị tước đoạt quá nhiều do sự phát triển ngày càng phình to của khu vực phi sản xuất (chứng khoán, bất động sản). – Mâu thuẫn giữa tính chuyên môn hóa trong lao động của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa với cơ cấu lao động bất hợp lí. – Mâu thuẫn do mất cân đối giữa tiết kiệm, đầu tư và tiêu dùng. Đầu tư và tiêu dùng thường lớn hơn rất nhiều so với tiết kiệm khi tiền được luân chuyển qua hệ thống ngân hàng, đồng thời tạo nên gánh nặng lạm phát rất cao vào các thời điểm nền kinh tế thăng hoa nhất, mở màn cho một sự gia tăng lãi suất đột biến, dẫn đến sự bùng nổ của khủng hoảng. b, Tính chu kỳ của khủng hoảng kinh tế Khủng hoảng kinh tế là không thể tránh khỏi và nó là một phần của hệ thống kinh tế.Chủ nghĩa Mác khẳng định rằng khủng hoảng tài chính là thuộc tính cần thiết của chủ nghĩa tư bản, vì mục tiêu chính trong hệ thống của chủ nghĩa tư bản đã khởi sự là phải thu lợi nhuận.Khủng hoảng kinh tế trong nền kinh tế thị trường tự do cạnh tranh dưới chủ nghĩa tư bản mang tính chu kỳ. Mỗi chu kỳ trải qua một thời kỳ đình đốn (hay tiêu điều), hoạt động trung bình (hay phục hồi), phồn vinh (hay hưng thịnh) rồi khủng hoảng.

5

Từ cuộc khủng hoảng năm 1825, sau khi nền đại công nghiệp vừa mới thoát khỏi thời kỳ ấu trĩ thì sự tuần hoàn có tính chất chu kỳ mới bắt đầu. Tính trung bình thuở ban đầu là mười năm, vì thời gian sử dụng tư bản cố định cũng vào khoảng mười năm. Tư bản cố định là cơ sở vật chất cho những cuộc khủng hoảng chu kỳ, vì khủng hoảng bao giờ cũng cấu thành khối điểm cho những khoản đầu tư mới và lớn của tư bản. Do đó, khủng hoảng ít nhiều đều tạo một cơ sở vật chất mới cho chu kỳ chu chuyển sau đó. Tiến bộ khoa học, công nghệ lại làm cho cuộc đời của tư bản cố định bị rút ngắn do những biến thiên không ngừng trong các tư liệu sản xuất. Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa càng phát triển thì những biến thiên này càng xảy ra thường xuyên hơn. Hơn nữa, sự hao mòn vô hình cũng làm cho sự thay thế tư bản cố định sớm hơn.Do đó chu kỳ khủng hoảng được rút ngắn lại. Ảnh hưởng của chu kỳ kinh tế: Chu kỳ kinh tế là những biến động không mang tính quy luật. Không có hai chu kỳ kinh tế nào hoàn toàn giống nhau và cũng chưa có công thức hay phương pháp nào dự báo chính xác thời gian, thời điểm của các chu kỳ kinh tế. Chính vì vậy chu kỳ kinh tế, đặc biệt là pha suy thoái sẽ khiến cho cả khu vực công cộng lẫn khu vực tư nhân gặp nhiều khó khăn. Khi có suy thoái, sản lượng giảm sút, tỷ lệ thất nghiệp tăng cao, các thị trường từ hàng hóa dịch vụ cho đến thị trường vốn…thu hẹp dẫn đến những hậu quả tiêu cực về kinh tế, xã hội. 2.Những biện pháp chống khủng hoảng kinh tế của Mác

6

Theo Marx, các giải pháp để giải quyết khủng hoảng kinh tế là: các doanh nghiệp phải tự mình thoát ra khỏi khủng hoảng bằng cách giảm tiền công, tăng cường độ lao động và nhất là đổi mới tư bản cố định (máy móc, thiết bị,…). Đổi mới tư bản cố định dẫn đến tăng nhu cầu về tư liệu sản xuất, tăng năng suất lao động, dẫn đến giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành, tăng lợi nhuận, tạo ra sự phục hồi của nền kinh tế. Cũng có thể thực hiện một số giải pháp sau: – Một là thu lại lợi nhuận siêu ngạch trong các ngành phi sản xuất, đưa về mức lợi nhuận bình quân của các ngành sản xuất và nộp lợi nhuận siêu ngạch vào các quĩ của nhà nước và phục vụ an sinh xã hội (điều 1 trong tuyên ngôn Đảng Cộng sản). – Hai là áp dụng một hệ thống ngân hàng thống nhất, đảm bảo mức cung ứng tiền tệ ổn định trong nền kinh tế, đảm bảo mức lãi suất chênh lệch giữa các ngành có tỉ suất lợi nhuận khác nhau. – Ba là kết hợp quá trình đào tạo với sự phát triển của lực lượng sản xuất với khoa học kĩ thuật để đảm bảo cho cơ cấu lao động ở mức hợp lí, phù hợp với điều kiện sản xuất của từng quốc gia nhưng không bị chi phối bới thị trường. II Khả năng vận dụng những biện pháp chống khủng hoảng kinh tế của Mác vào nền kinh tế thị trường hiện nay nói chung và kinh tế Việt Nam nói riêng

7

Trong những năm gần đây, những năm 2008-2011, kinh tế thế giới đang có dấu hiệu suy giảm đặc biệt là những nền kinh tế theo chủ nghĩa tư bản như Hy Lạp, Bồ Đào Nha… Nợ còn hạn của Hy Lạp lên tới gần 400 tỷ đôla Mỹ, trong đó riêng nợ đến hạn năm 2010 là 73 tỷ đôla Mỹ. Lãi suất Hy Lạp phải trả cho các khoản vay nợ lên tới mức kỷ lục, trên 9% đối với các khoản vay có kỳ hạn. Còn Bồ Đào Nha thừa nhận thâm hụt ngân sách 2010 của quốc gia này ở mức 8,6% GDP, cao hơn nhiều so với mục tiêu 7,3% đặt ra trước đó. Khoản nợ công của Bồ Đào Nha năm 2010 lên tới 84% GDP. Nghiêm trọng hơn, 70% các khoản nợ của Bồ Đào Nha là nợ nước ngoài. Điều này đồng nghĩa với việc quốc gia này khó có thể xoay xở hay trì hoãn khi nợ đáo hạn. Tình trạng nợ công này đang làm cho thế giới nóng lên từng ngày. Khởi nguồn của sự suy giảm kinh tế chính là từ cuộc khủng hoảng tài chính Mĩ năm 2007. Để vượt qua cuộc khủng hoảng, hàng loạt nước và nền kinh tế tuyên bố áp dụng các gói cứu trợ và kích thích kinh tế, chủ yếu là quốc hữu hoá nền kinh tế, thông qua hình thức mua lại cổ phần của các công ty đang trên đà phá sản với hàng trăm (thậm chí lên đến hàng nghìn) tỉ USD… Nhưng những thống kê về nền kinh tế Mỹ mới được công bố cho thấy, hai gói kích cầu khẩn cấp tổng cộng gần 1.500 tỉ USD của Chính phủ vẫn không ngăn chặn được đà xuống dốc của nền kinh tế lớn nhất thế giới. Như vậỵ, mặc dù đã dung nhiều biện pháp để chống lại khủng hoảng kinh tế, xong Mĩ một đất nước tôn sùng nền kinh tế thị trường tự do cạnh tranh vẫn phải rất cực nhọc để kéo

8

nền kinh tế đi lên. Không những thế còn kéo theo bao mối hiểm nguy đe dọa đến kinh tế của các nước tư bản Châu Âu. Bên cạnh đó, khi kinh tế Mĩ đang gặp khó khăn, khủng hoảng nợ công xảy ra ở Châu Âu thì Trung Quốc lại giành được thắng lợi cách mạng và thành tựu trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội dưới sự chỉ đạo của chủ nghĩa Mác. Tiêu biểu là việc nền kinh tế Trung Quốc đã vươn lên đứng thứ hai thế giới. Một tờ báo Đức đã đưa tin : “Sách của Mác lại bán chạy giữa cơn bão khủng hoảng” và các nhà kinh tế học “đổ xô” đi đọc lại Mác để tìm ra những nhược điểm của lý luận kinh tế (tân cổ điển) hiện nay! Qua đây cho thấy tầm quan trọng của chủ nghĩa Mác trong việc phòng chống khủng hoảng kinh tế thị trường hiện nay nói chung và nền kinh tế Việt Nam nói riêng. III.Giải pháp của Chính phủ nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế ở Việt Nam 1.Ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính Mỹ đến Việt Nam Với việc tham gia vào quá trình hội nhập và các tổ chức quốc tế như WB, IMF, WTO…Việt Nam cũng không tránh khỏi những ảnh hưởng nhất định và có thể kể đến sau đây: Đối với thị trường tài chính

9

Các khoản nợ ngắn hạn của các doanh nghiệp Việt Nam gặp khó khăn khi lãi suất cho vay liên ngân hàng quốc tế tăng. Đồng USD có thể giảm giá mạnh dẫn tới nhiều người dân có thể rút USD ra khỏi ngân hàng hoặc bán USD để gửi VND vào, làm cho cấu trúc tài sản ngân hàng gặp khó khăn. Tuy nhiên, vì mức độ và khả năng liên kết của các ngân hàng thương mại Việt Nam đối với hệ thống tài chính quốc tế còn hạn chế nên các ngân hàng Việt Nam sẽ ít chịu tác động trực tiếp. Thị trường chứng khoán Việt Nam gặp nhiều khó khăn, giá cổ phiếu giảm liên tục. Đối với hoạt động xuất nhập khẩu Nền kinh tế Mỹ bị suy thoái sẽ ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu của Việt Nam, vì Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam hiện nay. Điều này được thể hiện thông qua hai tác động sau: Thứ nhất, nhu cầu nhập khẩu hàng hoá của Mỹ đối với Việt Nam (Việt Nam là một trong37 nước xuất khẩu lớn nhất vào thị trường Mỹ, trong đó có một số mặt hàng đứng thứ hạng cao như: Dệt may, hạt tiêu, hạt điều, cà phê, đồ gỗ, thuỷ sản…) có xu hướng giảm sút. Bên cạnh đó, tỷ giá VND/USD bị tác động nhiều và cần được điều chỉnh linh hoạt do đồng Việt Nam được xác định giá gắn với đồng USD. Khi đồng USD giảm trên thị trường thế giới thì có thể dẫn tới lạm phát trong nước nếu đồng VND không lên giá, và khi đó người tiêu dùng chịu giá cả tăng do nhập khẩu. Nhưng nếu tỷ giá VND/USD giảm (tức là

10

VND lên giá so với USD) ở mức không phù hợp sẽ làm cho xuất khẩu vào Mỹ của các doanh nghiệp bị lỗ. Trong khi để cạnh tranh bán hàng vào Mỹ, nhiều nước có mặt hàng tương đồng cũng đã giảm giá. Đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) Với cuộc khủng hoảng tài chính lan rộng toàn cầu như hiện nay, có thể nói hầu hết các doanh nghiệp Mỹ và Châu Âu sẽ giảm đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, nên việc thu hút FDI ở hai thị trường này của Việt Nam đều bị tác động đáng kể. Hơn thế nữa, chi phí huy động vốn toàn cầu có thể ngày càng tăng do biên độ tín dụng gia tăng dẫn tới khả năng thu hút đầu tư bị hạn chế; tiêu dùng có thể giảm sút dẫn tới việc giải ngân FDI giảm. Trong khi đó, lạm phát vẫn là một vấn đề tiềm ẩn ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế Việt Nam năm 2009. Ngoài ra, tiền gửi ngân hàng nước ngoài và các ngân hàng trong nước sẽ bị giảm lợi tức do nhiều nước nới lỏng tiền tệ để tránh lâm vào suy thoái sâu rộng; dòng ngoại hối sẽ suy giảm; nhiều hoạt động kinh tế ở nước ta cũng gặp khó khăn, đặc biệt các hợp đồng đã ký kết với đối tác nước ngoài có thể bị ngưng trệ và có thể các hợp đồng này sẽ không còn được ký kết. Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu cũng dẫn tới giá nhiều loại nguyên vật liệu phục vụ cho sản xuất kinh doanh giảm, đặc biệt là dầu thô. Giá dầu thế giới giảm đã ảnh hưởng đến nguồn thu ngân

11

sách do xuất khẩu dầu thô bị giảm sút. Ngoài ra, nhiều loại nguyên liệu khác phục vụ cho hoạt động của nền kinh tế như sắt, thép, phân đạm, giấy, xi măng cũng gặp khó khăn và hiện tại thị trường tiêu thụ của các ngành này đang bị thu hẹp…. Hiện nay ở nước ta đang vận hành một nền kinh tế hỗn hợp, tức là kinh tế thị trường có sự điều tiết theo định hướng XHCN của nhà nước, chứ không phải là nền kinh tế thị trường tự do cạnh tranh. Sự điều tiết đó của nhà nước phải nhằm phát huy những tác động tích cực và hạn chế những tác động tiêu cực hay các khuyết tật của kinh tế thị trường, chứ không thể theo ý chí chủ quan. Bởi vậy, muốn điều tiết tốt phải nhận thức đúng về các quy luật vận động của kinh tế thị trường. Để ngăn chặn suy giảm kinh tế, Chính phủ đã đưa ra 5 nhóm giải pháp cấp bách và dành 2 tỷ USD để kích cầu. 1. Thúc đẩy sản xuất, kinh doanh trong đó chú trọng vào sản xuất các mặt hàng có kim ngạch lớn, khả năng tăng trưởng cao như chế biến, dệt may, … Ngày 15/01/2009, Chính phủ đã quyết định các phương án sử dụng gói kích cầu 1 tỷ đô để hỗ trợ 4% lãi suất vốn vay cho một số doanh nghiệp vừa và nhỏ. Ngày 04/04/2009, Thủ tướng Chính phủ quyết định về gói kích cầu thứ hai với tổng số lãi được hỗ trợ là 20.000 tỷ đồng, theo đó các tổ chức cá nhân vay vốn trung, dài hạn ngân hàng bằng đồng Việt Nam

12

để thực hiện đầu tư mới phát triển sản xuất- kinh doanh, kết cấu hạ tầng sẽ được nhà nước hỗ trợ lãi suất tiền vay 4%/năm trong khoảng thời gian tối đa 24 tháng. Việc hỗ trợ lãi suất này được thực hiện từ ngày 01/04/2009 đến ngày 31/12/2011. Chính phủ cũng đã ban hành cơ chế bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp có vốn điều lệ 20 tỷ đồng để ngân hàng phát triển Việt Nam hình thành vốn ban đầu cho Quỹ bù đăp rủi ro khi bảo lãnh tín dụng. Đồng thời sẽ giảm thuế, giãn thuế, giãn nợ cho doanh nghiệp đang gặp khó khăn. Đặc biệt Chính phủ sẽ thực hiện miễn, giảm, giãn một số loại thuế để tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển kinh doanh, đồng thời kéo dài thời hạn nộp thuế xuất nhập khẩu để giảm bớt khó khăn về vay vốn. 2.

Đẩy mạnh kích cầu đầu tư và tiêu dung. Trong đó về đầu tư

phát triển, Chính phủ sẽ tập trung giải ngân nguồn vốn ngân sách nhà nước về xây dựng cơ bản, nguồn trái phiếu chính phủ và nguồn vốn ODA. Trong kích cầu đầu tư, Chính phủ khuyến khích các thành phần kinh tế doanh nghiệp tham gia, tạo điều kiện cho doanh nghiệp ngoài quốc doanh đầu tư vào xây dựng cơ sở hạ tầng, giao thông vận tải. Đối với kích cầu tiêu dung, Chính phủ sẽ thực hiện điều hành giá cả những vật tư, nhiên liệu quan trọng như xăng dầu, sắt thép…đồng thời phát triển hệ thống phân phối bán lẻ, nhất là ở vùng sâu vùng xa để cung cấp vật tư và hàng tiêu dùng thiết yếu.

13

3.

Chính sách về tài chính tiền tệ. Chính phủ sẽ thực hiện các giải

pháp về tăng cường khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng cho các doanh nghiệp. Tiếp tục hạ lãi suất cơ bản và cho phép các tổ chức tín dụng, các quỹ tín dụng nhân dân cho vay theo phương pháp thỏa thuận. Chính phủ sẽ điều chỉnh tỷ giá ngoại tệ theo nguyên tắc linh hoạt nhằm khuyến khích xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu. Chính phủ cũng giao ngân hang phát triển đứng ra bảo lãnh tín dụng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

14

1.

Giải Pháp Kinh Doanh Hiệu Quả Thời Khủng Hoảng (Phần 1)

Là nhà cung cấp, chắc chắn bạn phải hiểu rõ nhất về sản phẩm, dịch vụ mình đang mang đến cho khách hàng. Điều này tưởng chừng đơn giản nhưng trên thực tế thì có không ít nhân viên kinh doanh, nhân viên tư vấn không hiểu rõ về những gì công ty mình cung cấp nên không thể tư vấn chính xác, phù hợp, không thỏa mãn với yêu cầu khách hàng.

Có thể trong thời kỳ kinh tế ổn định, nhà cung cấp có thể lấp liếm được thiếu xót này, nhưng trong thời điểm khủng hoảng thị trường sẽ có nhiều yêu cầu mang tính phân loại cao hơn. Đồng thời, khách hàng lúc này cũng thận trọng, sáng suốt hơn trong việc chi tiêu. Khi đó tất yếu những người kinh doanh “hời hợt” sẽ tự động bị đào thải.

Chính vì vậy, bạn phải có những giải pháp kinh doanh phù hợp, bạn phải là người đầu tiên hiểu rõ mọi tính năng của sản phẩm, hiểu rõ khi ứng dụng những tính năng đó trong từng hoản cảnh cụ thể sẽ có những ưu, nhược điểm gì, khách hàng có thể khắc phục như thế nào để giảm thiểu tối đa những thiệt hại. Bạn phải sẵn sang trả lời mọi câu hỏi, giải quyết mọi vấn đề phát sinh khi được thông báo.

Nếu làm được điều này, bạn đã có xuất phát ấn tượng trên con đường đi đến thành công rồi.

2. Hiểu rõ thị trường mục tiêu của công ty

Sau khi hiểu rõ về sản phẩm, điều tiếp theo là phải xác định sản phẩm và dịch vụ của mình phù hợp với thị trường nào? Đối tượng nào? Chúng ta không thể mang những sản phẩm phục vụ người lớn đi tiếp thị trong các trường mẫu giáo, không thể mang các sản phẩm máy móc nông nghiệp chào hàng ở các ngân hàng, công sở, càng không thể xây dựng những khu mua sắm bán lẻ ở cách xa các khu dân cư, giao thông đi lại không thuận tiện.

Việc này giúp tìm hiểu vị trí thực của công ty trên thị trường, giúp đánh giá đúng cái gì cần đầu tư và đầu tư như thế nào , tránh trường hợp quá nhiều nhà cung cấp trong một thị trường nhỏ hay sản phẩm không phù hợp. Điều này cũng quan trọng không kém yếu tố đầu tiên bởi nó sẽ giúp bạn tiết kiệm tối đa các chi phí quảng bá và tìm kiếm các đối tác kinh doanh mới trong giai đoạn kinh tế khủng hoảng.

Có rất nhiều nhà đầu tư thành công bằng việc khởi đầu ở một thị trường nhỏ nhưng phù hợp hoàn toàn với những gì họ đang muốn bán. Như vậy, có thể thấy việc tìm ra thị trường phù hợp đã khó nhưng để hiểu rõ và đề ra các chiến lược , giải pháp kinh doanh phù hợp còn khó hơn.

3. Hiểu rõ đối thủ cạnh tranh và các lợi thế của mình

” Biết người biết ta, trăm trận trăm thắng” câu nói này cho đến tận ngày nay vẫn giữ nguyên giá trị. Cùng một sản phẩm nhưng có rất nhiều nhà cung cấp, càng là những sản phẩm hữu dụng thì tính cạnh tranh càng cao, hẳn nhiên là như vậy.

Chính vì vậy, không cần phải quá áp lực đối thủ có nhiều hay ít khách hàng, hãy lên danh sách đối thủ trước đây và hiện tại, bên cạnh đó bạn cũng phải cố gắng trong việc nhận diện đối thủ tiềm năng. Bạn nên viết ra những đặc điểm công ty cạnh tranh và công ty bạn theo những tiêu chí phù hợp để thấy sự khác biệt, chênh lệch.

Tiếp theo đó cần thiết nên so sánh cả những điểm tương đồng và khác biệt của bên nào tối ưu và phù hợp hơn, những điểm còn thiếu sót là do đâu và sẽ phải cải thiện như thế nào. Cần thiết nên loại bỏ những đặc tính rườm rà không có tác dụng để tập trung phát triển, tối ưu các chức năng khác.

Chú ý đào sâu phát triển những đặc điểm làm nên sự khác biệt giữa 2 công ty và cách để bạn có thể tồn tại và phát triển trong môi trường cạnh tranh.

4. Liên kết, hợp tác là giải pháp kinh doanh hiệu quả

Trong thời đại kinh tế khủng hoảng, các công ty nhỏ thường gặp rất nhiều khó khăn để có thể tồn tại, vậy thì tại sao không liên kết thành một mạng lưới, tương hỗ nhau để cùng phát triển. Hiện nay có rất nhiều công ty áp dụng hình thức này và thành công, ví dụ như công ty về phần mềm máy tính có thể liên kết với công ty về cung cấp phần cứng và các trang mạng kinh doanh.

Sự hợp tác này có thể khiến mở rộng thị trường, tăng số lượng khách hàng tiềm năng, đồng thời có thể tích hợp mang đến cho khách hàng nhiều dịch vụ phù hợp mà không mất nhiều công tìm kiếm, giao dịch.

Tuy nhiên, trên thực tế chưa có nhiều những mạng lưới liên kết như này bởi hầu hết các nhà quản lý không muốn chia sẻ lợi nhuận ban đầu mà chưa nhìn ra những lợi ích to lớn hơn về lâu dài.

5. Chuyên nghiệp hóa quá trình kinh doanh

Phần lớn các công ty hiện nay vẫn áp dụng các hình thức kinh doanh truyền thống rất manh mún và không chuyên nghiệp trong khi thị trường ngày càng năng động và biến dổi khó lường. Bản thân lĩnh vực kinh doanh gồm rất nhiều giai đoạn phức tạp khác nhau, điều đó đòi hỏi phải có nhiều nhân viên chuyên trách và gây tốn kém tài chính.

Nắm bắt được khó khăn này, hiện nay có rất nhiều những phần mềm quản lý bán hàng hiện đại được tích hợp các chức năng như quản lý sản phẩm, quản lý kho hàng, quản lý khách hàng, quản lý nhân viên, tính toán công nợ, phân quyền…với tính bảo mật cao, giá thành hợp lý có khả năng san sẻ gánh nặng giúp các nhà quản lý.

Ứng dụng những tính năng này trong kinh doanh giúp tiết kiệm chi phí vận hành, nguồn nhân lực, mang lại sự hiệu quả và chuyên nghiệp trong công việc. Đây cũng là một trong những giải pháp hỗ trợ kinh doanh hiệu quả nhưng chưa được nhiều nhà đầu tư áp dụng.

Cập nhật thông tin chi tiết về Khủng Hoảng Venezuela: Giải Pháp Nào? trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!