Xu Hướng 12/2022 # Khoa Các Khoa Học Xã Hội / 2023 # Top 19 View | Phauthuatthankinh.edu.vn

Xu Hướng 12/2022 # Khoa Các Khoa Học Xã Hội / 2023 # Top 19 View

Bạn đang xem bài viết Khoa Các Khoa Học Xã Hội / 2023 được cập nhật mới nhất trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Giới thiệu bộ môn Công tác xã hội

Năm thành lập

Bộ môn Công tác xã hội được thành lập căn cứ Quyết định số 6221/QĐ-BYT ngày 18 tháng 10 năm 2016 của Bộ trưởng Bộ Y tế và hoạt động của Trường Đại học Y tế Công cộng. Bộ môn Công tác xã hội có chức năng tham mưu giúp lãnh đạo Khoa và lãnh đạo Trường triển khai các hoạt động đào tạo công tác xã hội.

    Đào tạo

    Trình độ đào tạo: Đại học

    Mã ngành đào tạo: Cử nhân Công tác xã hội

    Đối tượng tuyển sinh: Học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông

    Mục tiêu đào tạo

    Đào tạo cử nhân công tác xã hội có phẩm chất chính trị, đạo đức, sức khỏe; nắm vững hệ thống kiến thức chuyên môn và kỹ năng thực hành nghề công tác xã hội; có khả năng nghiên cứu, phát hiện và giúp cá nhân, nhóm và cộng đồng giải quyết vấn đề xã hội đặc biệt là trong lĩnh vực y tế và chăm sóc sức khỏe nhân dân ở cả 03 cấp độ bệnh viện, cộng đồng, và hoạch định chính sách.

      Giảng dạy

      4. Các chuẩn đầu ra và tiêu chí cụ thể sau khi tốt nghiệp

      Chương trình có 9 chuẩn đầu ra và 31 tiêu chí cụ thể tương ứng như sau:

      Chuẩn 1 (KT). Mô tả những kiến thức cơ bản về y học: thống kê, tin học cơ bản; dịch tễ cơ bản; dinh dưỡng; phục hồi chức năng; giáo dục và nâng cao sức khỏe; tổ chức và quản lý hệ thống y tế.

      1.1. Mô tả những nội dung cơ bản về y học để làm nền tảng tiếp cận học tập, nghiên cứu, thực hành về công tác xã hội, đặc biệt công tác xã hội trong bệnh viện.

      1.2. Mô tả những nội dung cơ bản về thống kê, dịch tễ, giáo dục-nâng cao sức khỏe, dinh dưỡng, phục hồi chức năng, tổ chức và quản lý hệ thống y tế.

      1.3. Tóm tắt cách sử dụng máy tính để truy cập internet, tìm kiếm thông tin, trình bày văn bản, phân tích số liệu bằng các phần mềm thông dụng, tạo điều kiện tiếp cận các nguồn thông tin, học tập, nghiên cứu, thực hành về công tác xã hội hiệu quả, đặc biệt công tác xã hội trong bệnh viện.

      Chuẩn 2 (KT). Diễn giải những kiến thức về tâm lý – xã hội, an sinh xã hội và chính sách xã hội

        2.1. Phiên giải những kiến thức về tâm lý học và tâm lý học sức khỏe.

        2.2. Giải thích những kiến thức về xã hội học, xã hội học sức khỏe, nhân học, giới và phát triển.

        2.3. Tóm tắt những kiến thức về an sinh xã hội trong việc trợ giúp các nhóm đối tượng khác nhau.

        2.4. Xác định những chính sách xã hội phù hợp trong việc trợ giúp các nhóm đối tượng khác nhau.

      Chuẩn 3 (KT). Diễn giải những kiến thức nền tảng của công tác xã hội và các hướng tiếp cận làm việc trong công tác xã hội

      3.1. Tóm tắt những kiến thức nền tảng của công tác xã hội như: giá trị đạo đức và nguyên tắc trong công tác xã hội; một số lý thuyết ứng dụng trong công tác xã hội; các lĩnh vực công tác xã hội và hệ thống cơ quan tổ chức thực hiện công tác xã hội; chính sách pháp luật về nghề công tác xã hội Việt Nam

      3.2. Phiên giải các hướng tiếp cận làm việc trong công tác xã hội như: công tác xã hội với cá nhân và gia đình, công tác xã hội với nhóm, phát triển cộng đồng, tham vấn tâm lý, quản trị công tác xã hội, và truyền thông trong công tác xã hội.

      Chuẩn 4 (KT). Diễn giải những kiến thức về công tác xã hội trong bệnh viện

      4.1. Tóm tắt các hoạt động, vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc trợ giúp với người bệnh, người nhà người bệnh và nhân viên y tế.

      4.3. Mô tả một số phương pháp can thiệp của công tác xã hội trong việc trợ giúp với người bệnh, người nhà người bệnh và nhân viên y tế.

      Chuẩn 5 (KN). Áp dụng nhóm kỹ năng giao tiếp trong việc trợ giúp đối tượng, đặc biệt đối với người bệnh, người nhà người bệnh và nhân viên y tế

      5.1. Thực hiện nhóm kỹ năng giao tiếp (quan sát, lắng nghe, xử lý sự im lặng, phản hồi, thấu cảm, đặt câu hỏi, tự bộc lộ…) trong việc trợ giúp các đối tượng khác nhau.

      5.2. Thực hiện nhóm kỹ năng giao tiếp (quan sát, lắng nghe, xử lý sự im lặng, phản hồi, thấu cảm, đặt câu hỏi, tự bộc lộ…) trong việc trợ giúp người bệnh, người nhà người bệnh và nhân viên y tế.

      Chuẩn 6 (KN). Áp dụng nhóm kỹ năng điều phối và lãnh đạo trong việc trợ giúp đối tượng, đặc biệt đối với người bệnh, người nhà người bệnh và nhân viên y tế

      6.1. Thực hiện nhóm kỹ năng điều phối và lãnh đạo (cung cấp thông tin, vận động và kết nối nguồn lực, thỏa thuận, điều phối, lãnh đạo, tạo lập liên hệ giữa các thành viên trong nhóm, biện hộ…) trong việc trợ giúp các đối tượng khác nhau.

      6.2. Thực hiện nhóm kỹ năng điều phối và lãnh đạo (cung cấp thông tin, vận động và kết nối nguồn lực, thỏa thuận, điều phối, lãnh đạo, tạo lập liên hệ giữa các thành viên trong nhóm, biện hộ…) trong việc trợ giúp người bệnh, người nhà người bệnh và nhân viên y tế.

      Chuẩn 7 (KN). Áp dụng các kiến thức, kỹ năng của công tác xã hội để thực hiện các hoạt động công tác xã hội trong việc trợ giúp người bệnh, người nhà người bệnh và nhân viên y tế tại bệnh viện

      7.1. Thực hiện hoạt động hỗ trợ, tư vấn giải quyết các vấn đề về công tác xã hội cho người bệnh và người nhà người bệnh trong quá trình khám bệnh, chữa bệnh.

      7.2. Thực hiện hoạt động thông tin, truyền thông và phổ biến, giáo dục pháp luật cho người bệnh và người nhà người bệnh.

      7.4. Thực hiện hoạt động hỗ trợ nhân viên y tế.

      7.5. Thực hiện hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cho nhân viên y tế và sinh viên thực hành, thực tập tại đơn vị.

      7.6. Thực hiện tổ chức đội ngũ cộng tác viên làm công tác xã hội của bệnh viện

      7.7. Thực hiện tổ chức các hoạt động từ thiện, công tác xã hội của bệnh viện tại cộng đồng (nếu có).

      7.8. Thực hiện các hoạt động nghiên cứu khoa học nhằm mô tả, thiết kế, thu thập số liệu, phân tích số liệu và báo cáo các vấn đề của công tác xã hội trong bệnh viện.

      7.9. Thực hiện giao tiếp một cách cơ bản với người nước ngoài trong bệnh viện và sử dụng tin học một cách thành thạo trong công việc.

      8.1. Tôn trọng triết lý, giá trị nghề nghiệp của công tác xã hội, công tác xã hội trong bệnh viện: mục tiêu cao nhất vì lợi ích của đối tượng; chấp nhận sự khác biệt; xác định các biện pháp trợ giúp dựa trên nhu cầu của đối tượng; thu hút sự tham gia và trao quyền cho đối tượng; đảm bảo tính bí mật thông tin của đối tượng; và tự ý thức về bản thân.

      Chuẩn 9 (TĐ). Chủ động học tập và phát triển chuyên môn nghề nghiệp liên tục

      9.1. Nhận thức đúng tầm quan trọng của công tác xã hội và công tác xã hội trong bệnh viện.

      9.2. Chủ động ứng dụng kiến thức, kĩ năng tích lũy được vào công việc và học tập liên tục để cập nhật kiến thức, kỹ năng chuyên môn CTXH trong nước và quốc tế.

      9.3. Chủ động trao đổi, chia sẻ thông tin, quan điểm trong quá trình công tác nhằm nâng cao hiệu quả công việc.

      9.4. Tham gia đóng góp vào quá trình đào tạo liên tục nâng cao năng lực chuyên môn nghề nghiệp tại nơi làm việc.

      5. Nơi làm việc tiềm năng sau khi tốt nghiệp

       - Phòng/Tổ công tác xã hội tại các bệnh viện tuyến Trung ương, Tỉnh, quận/huyện.

      – Bộ Y tế; Sở Y tế; Trung tâm Y tế.

      – Bộ Lao động, Thương binh & Xã Hội; Sở Lao động, Thương binh & Xã hội; Phòng Lao động, Thương binh & Xã hội; các cơ sở xã hội (Trung tâm công tác xã hội, trung tâm bảo trợ xã hội, cơ sở điều trị nghiện ma túy…)

      – Các trung tâm tham vấn tâm lý; đơn vị can thiệp sớm & giáo dục công lập và tư nhân.

      – Các tổ chức Phi chính phủ trong nước và quốc tế hoạt động trong lĩnh vực công tác xã hội và chăm sóc sức khỏe.

      – Các trường học và các tổ chức chính trị – xã hội.

      – Các Viện nghiên cứu và Trung tâm nghiên cứu về công tác xã hội.

      – Giảng viên tại các trường Cao đẳng, Đại học đào tạo công tác xã hội.

      Liên hệ

      Bộ môn Công tác xã hội, Khoa Khoa học xã hội, Hành vi và Giáo dục sức khỏe

      Phòng 424 Nhà A

      Số 1A  Đường Đức Thắng – Phường Đức Thắng – Quận Bắc Từ Liêm – Thành phố Hà Nội.

      Điện thoại: 091 517 0715 hoặc 097 582 1917

      Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Chủ Nghĩa Xã Hội Khoa Học Và Ý Nghĩa Việc Nghiên Cứu Chủ Nghĩa Xã Hội Khoa Học / 2023

      Chức năng, nhiệm vụ của chủ nghĩa xã hội khoa học và ý nghĩa việc nghiên cứu chủ nghĩa xã hội khoa học

      Chức năng và nhiệm vụ của chủ nghĩa xã hội khoa học

      Thứ nhất, chủ nghĩa xã hội khoa học có chức năng và nhiệm vụ trang bị những tri   thức    khoa   học,  đó      là       hệ  thống lý          luận        chính  trị  – xã   hội  và phương pháp luận khoa học mà chủ nghĩa Mác-Lênin đã phát hiện ra và luận giải quá trình  tất yếu      lịch          sử           dẫn  đến        hình thành, phát            triển  hình thái

      kinh tế – xã hội cộng sản, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Chức năng này cũng thống nhất với chức năng của triết học Mác-Lênin và kinh tế chính trị học Mác-Lênin, nhưng trực tiếp nhất là trang bị lý luận nhận thức về cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

      Không làm được chức năng này, chủ nghĩa xã hội khoa học sẽ không thể cung cấp cơ         sở lý                                 luận và phương              pháp nhận  thức  về chính  trị  – xã  hội

      cho người     nghiên  cứu  và hoạt   động  thực  tiễn trong cách    mạng   xã hội  chủ

      nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là cho các đảng cộng sản, nhà nước xã hội chủ nghĩa với chức năng lãnh đạo và quản lý xã hội.

      Thứ hai, chủ nghĩa xã hội khoa học có chức năng và nhiệm vụ trực tiếp nhất là giáo dục, trang bị lập trường tư tưởng chính trị của giai cấp công nhân cho đảng cộng sản, giai cấp công nhân và nhân dân lao động – lập trường xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa. Chính các nhà sáng lập ra chủ nghĩa xã hội                             khoa        học  đã  có công lớn    là xây dựng     hệ thống   lý  luận

      phản ánh sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân rồi tuyên truyền, giáo dục trở lại cho giai cấp công nhân hiện đại hiểu về sứ mệnh lịch sử và bản chất của chính mình. Hệ thống lý luận đó đã trở thành hệ tư tưởng của giai cấp công nhân hiện đại.

      Không có hệ tư tưởng cách mạng và khoa học, không có lập trường và bản lĩnh chính trị xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa thì giai cấp công nhân, đảng của nó và nhân dân lao động không thể tiến tới giành chính quyền và xây                   dựng thành công        chủ  nghĩa   xã       hội,   chủ      nghĩa  cộng                             sản;

      không thể đấu tranh với các hệ tư tưởng và các hoạt động thù địch chống chủ nghĩa xã hội, chống nhân dân lao động.

      Thứ ba, chủ nghĩa xã hội khoa học có chức năng và nhiệm vụ định hướng về chính trị – xã hội cho mọi hoạt động của giai cấp công nhân, của đảng cộng sản, của nhà nước và của nhân dân lao động trên mọi lĩnh vực, sao cho sự ổn định và phát triển của xã hội luôn luôn đúng với bản chất, mục tiêu xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa; tức là qua từng nấc thang phát triển, tính chất xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa thuộc mọi lĩnh vực của xã hội thể hiện ngày càng rõ hơn và hoàn thiện hơn.

      ý nghĩa của việc nghiên cứu, học tập chủ nghĩa xã hội khoa học

      Về mặt lý luận: Việc nghiên cứu, học tập, vận dụng và phát triển lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin là phải chú ý cả ba bộ phận hợp thành của nó. Nếu không chú ý nghiên cứu, học tập, vận dụng, phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học sẽ làm cho triết học, kinh tế chính trị học Mác-Lênin dễ chệch hướng chính trị – xã hội, trước hết và chủ yếu là chệch hướng bản chất, mục tiêu là xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, giải phóng hoàn toàn xã hội và con người khỏi các chế độ tư hữu, áp bức, bất công, chiến tranh, nghèo nàn lạc hậu và mọi tai họa xã hội khác… mà thực tế lịch sử nhân loại đã từng chứng kiến.

      Nghiên cứu, học tập chủ nghĩa xã hội khoa học còn có ý nghĩa lý luận là: trang bị những nhận thức chính trị – xã hội (như đối tượng, chức năng, nhiệm vụ và phương pháp của chủ nghĩa xã hội khoa học đã nêu trên) cho đảng cộng sản, nhà nước và nhân dân lao động trong quá trình bảo vệ và xây dựng chủ nghĩa xã hội… Vì thế, các nhà kinh điển Mác-Lênin có lý khi xác định rằng, chủ nghĩa xã hội khoa học là vũ khí lý luận của giai cấp công nhân hiện đại và đảng của nó để thực hiện quá trình giải phóng nhân loại và giải phóng bản thân mình. Cũng như triết học và kinh tế chính trị học Mác- Lênin, chủ nghĩa xã hội khoa học không chỉ giải thích thế giới mà căn bản là ở chỗ cải tạo thế giới (cả tự nhiên, xã hội và bản thân con người) theo hướng tiến bộ, văn minh.

      Đội ngũ trí thức và thế hệ trẻ nước ta hiện nay là những lực lượng xã hội có trí tuệ, có nhiều khả năng và tâm huyết trong quá trình cải tạo và xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Nếu chỉ thuần tuý chú trọng về khoa học và công nghệ, phi chính trị, hoặc mơ hồ về chính trị và vi phạm pháp luật, họ càng không thể góp tài góp sức xây dựng Tổ quốc của mình. Nghiên cứu, học tập chủ nghĩa xã hội khoa học chính là việc được trang bị trực tiếp nhất về ý thức chính trị – xã hội, lập trường tư tưởng chính trị và bản lĩnh cho mỗi cán bộ, đảng viên và mọi công dân Việt Nam góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới, định hướng xã hội chủ nghĩa do Đảng đề ra.

      Nghiên cứu, học tập chủ nghĩa xã hội khoa học cũng làm cho ta có căn cứ nhận thức khoa học để luôn cảnh giác, phân tích đúng và đấu tranh chống lại những nhận thức sai lệch, những tuyên truyền chống phá của chủ nghĩa đế quốc        và   bọn  phản                   động    đối    với      Đảng ta, Nhà nước,  chế độ ta;

      chống chủ nghĩa xã hội, đi ngược lại xu thế và lợi ích của nhân dân, dân tộc và nhân loại tiến bộ.

      Về mặt thực tiễn, bất kỳ một lý thuyết khoa học nào, đặc biệt là các khoa học xã     hội,     bao      giờ                          cũng có khoảng                            cách  nhất  định  so  với  thực  tiễn,

      nhất là những dự báo khoa học có tính quy luật. Nghiên cứu, học tập chủ nghĩa xã hội khoa học lại càng thấy rõ những khoảng cách đó, bởi vì chủ nghĩa xã hội trên thực tế, chưa có nước nào xây dựng hoàn chỉnh. Sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, cùng với thoái trào của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới, lòng tin vào chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội khoa học, chủ nghĩa Mác-Lênin của nhiều người có giảm sút. Đó là một thực   tế       dễ        hiểu.        Vì thế,  nghiên            cứu,     giảng   dạy chủ  nghĩa xã hội khoa học càng khó khăn trong tình hình hiện nay và cũng có ý nghĩa chính trị cấp bách.

      Chỉ có bình tĩnh và sáng suốt, kiên định và chủ động sáng tạo tìm ra những nguyên nhân cơ bản và bản chất của những sai lầm, khuyết điểm, khủng hoảng, đổ vỡ và của những thành tựu to lớn trước đây cũng như của những thành quả đổi mới, cải cách ở các nước xã hội chủ nghĩa, chúng ta mới có thể đi tới kết luận chuẩn xác rằng: không phải do chủ nghĩa xã hội – một xu thế xã hội hoá mọi mặt của nhân loại; cũng không phải do chủ nghĩa Mác-Lênin, chủ nghĩa xã hội khoa học… làm các nước xã hội chủ

      nghĩa khủng hoảng. Trái lại, chính là do các nước xã hội chủ nghĩa đã nhận thức và hành động trên nhiều vấn đề trái với chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa Mác-Lênin… đã giáo điều, chủ quan duy ý chí, bảo thủ, kể cả việc đố kỵ, xem nhẹ         những thành       quả chung của       nhân   loại, trong   đó có        chủ      nghĩa  tư bản; đồng thời do xuất hiện chủ nghĩa cơ hội – phản bội trong một số đảng cộng sản và sự phá hoại của chủ nghĩa đế quốc thực hiện âm mưu diễn biến hoà bình đã làm cho chủ nghĩa xã hội thế giới lâm vào thoái trào.

      Thấy rõ thực chất những vấn đề đó một cách khách quan, khoa học; đồng thời được minh chứng bởi thành tựu rực rỡ của sự nghiệp đổi mới, cải cách của các nước xã hội chủ nghĩa, trong đó có Việt Nam, chúng ta càng củng cố bản lĩnh kiên định, tự tin tiếp tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc theo định hướng xã hội chủ nghĩa mà Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn.

      Do đó, việc nghiên cứu học tập chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, lý luận chính trị – xã hội nói riêng và các khoa học khác… càng là         vấn      đề        thực tiễn     cơ bản            và cấp  thiết.   Xây   dựng,             chỉnh    đốn Đảng, chống mọi biểu hiện cơ hội chủ nghĩa, dao động, thoái hoá, biến chất trong đảng và cả xã hội, giáo dục lý luận chính trị – xã hội một cách cơ bản khoa học tức là ta tiến hành củng cố niềm tin thật sự đối với chủ nghĩa xã hội… cho cán bộ, học sinh, sinh viên, thanh thiếu niên và nhân dân. Tất nhiên đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và mở rộng hợp tác quốc tế; tiến hành hội nhập quốc tế, toàn cầu hoá về kinh tế; xây dựng “kinh tế tri thức”, thực hiện cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa… đang là những vận hội lớn, đồng thời cũng có những thách thức lớn đối với nhân dân ta, dân tộc ta. Đó cũng là trách nhiệm lịch sử rất nặng nề và vẻ vang của cả thế hệ trẻ đối với sự nghiệp xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa trên đất nước ta.

      Giáo trình chủ nghĩa xã hội khoa học

      Kiểm Soát Xã Hội Đối Với Các Chuẩn Mực Trong Hoạt Động Khoa Học / 2023

      1. Lý do nào dẫn đến sự xuất hiện những chuẩn mực Trong các cộng đồng xã hội đang cùng chung sống trên hành tinh, cộng đồng khoa học có lẽ là một trong những cộng đồng có nhiều nét đặc thù nhất. Đó là một cộng đồng luôn hướng tới sự tìm tòi, khám phá bằng lao động trí tuệ, cũng sống bằng lao động trí tuệ và đóng góp cho nhân loại nhữg sản phẩm tinh thần bất diệt của lao động trí tuệ. Có thể nói, cộng đồng khoa học là một cộng đồng elit của xã hội. Vì vậy, cộng đồng này luôn chiếm giữ những vị trí ưu ái của nhân loại. Họ được trân trọng, được tôn vinh. Tuy nhiên, cũng chính vì vai trò của đặc biệt này mà cộng đồng khoa học luôn gặp nhiều bi kịch:

      – Trước hết, những khám phá mới mẻ của họ luôn dẫn đến sự “phá cách” những chuẩn mực của xã hội, từ những chuẩn mực tư duy truyền thống, .. đến những phong tục, tập quán; từ những chuẩn mực pháp luật và đạo đức, .. đến những tín điều tôn giáo, và nhất là, những tư tưởng chính trị. Chính vì thế mà bên cạnh sự ưu ái của xã hội, họ luôn bị kỳ thị, thậm chí, chống đối bởi hàng loạt truyền thống xã hội, từ truyền thống văn hóa đến tôn giáo và chính trị.

      – Thứ hai, trong nội bộ cộng đồng này cũng luôn có sự phân hóa với những động cơ thôi thúc, một số người có xu hướng vượt trội lên tầng trên của elit, kéo theo ý chí nỗ lực của toàn cộng đồng; còn một số người khác thăng tiến chậm trễ hơn; một số người khác nữa thì không theo được với dòng chảy chung, bị tụt xuống hàng dưới của cộng đồng, thậm chí, bị đẩy ra ngoài nhóm elit. Trong những người “lo” bị đẩy tụt xuống hàng dưới, thậm chí bị đẩy ra ngoài nhóm elit, có những người đã tìm cách gian lận hoặc ăn cắp công trình của người khác để “đánh bóng” cho mình, hoặc để níu kéo vị trí elit đang tụt dần vào trong quên lãng.

      Chính vì lịch sử đau buồn đó của khoa học, đã làm xuất hiện đòi hỏi phải đưa ra những chuẩn mực để vừa bảo vệ cộng đồng elit này, vừa tránh cho thành viên của cộng đồng này rơi vào những sai lệch chuẩn mực theo hướng tiêu cực. Những chuẩn mực này trước hết là cơ sở cho khung mẫu ứng xử chung của cộng đồng khoa học, nhưng cũng làm cơ sở cho việc hình thành những khung mẫu ứng xử của xã hội đối với cộng đồng khoa học.

      2. Các chuẩn mực trong hoạt động khoa học

      Chuẩn mực là khái niệm của xã hội học. Đó là tập hợp những mong đợi, yêu cầu, quy tắc đối với hành vi của các thành viên trong xã hội. Chuẩn mực quy định cho mỗi thành viên những việc nào nên làm, không nên làm và cần xử sự như thế nào cho đúng trong mỗi tình huống xã hội.

      Ngoài những chuẩn mực chung mang tính toàn xã hội, mỗi nhóm xã hội có những chuẩn mực riêng biệt. Cộng đồng những người làm khoa học, với tư cách là một nhóm xã hội, cũng có những chuẩn mực riêng biệt. Robert K. Merton, một nhà xã hội học người Mỹ, năm 1942 đã khái quát hoá thành bốn chuẩn mực, sau này được bổ sung thành 5 chuẩn mực như sau:

      1) Chuẩn mực thứ nhất: Tính cộng đồng: Tri thức khoa học trong thời đại chúng ta là một loại sản phẩm vừa mang tính cá nhân rất cao, song lại là sự kế thừa những của nỗ lực cả một tập thể. Chuẩn mực này quy định rằng tri thức phải được chia sẻ, chứ không phải bị giữ bí mật hoặc giữ làm tài sản của riêng mình. Và vì vậy, nó phải được công bô, hoặc nói một cách hình ảnh, như cách nói của Zuckerman, đó là “biếu không” chúng cho các đồng nghiệp. Đó là biện pháp để làm cho mục tiêu của một nhóm trùng hợp với mục tiêu cá nhân; nghĩa là các nhà khoa học bị “bắt buộc” phải công bố công trình của họ. 2) Chuẩn mực thứ hai: Tính phổ biến. Chuẩn mực này xem rằng đóng góp khoa học phải được phán xét theo những tiêu chuẩn khách quan. Các thuộc tính xã hội của những người có công đóng góp, bất kể họ là ai, bất kể thuộc chính kiến nào; thuộc sắc tộc hoặc tôn giáo nào; có xuất thân giai cấp hoặc giới tính như thế nào đều không quyết định sự phán xét khoa học của họ. Chuẩn mực về tính phổ biến đòi hỏi, chỉ những khám phá đã được kiểm chứng bởi các luận cứ khoa học, có thể lặp lại trong quan sát hoặc thực nghiệm, chứ không phải là những khám phá ngẫu nhiên, tuỳ hứng, mới được xem là một kết quả khoa học.

      3) Chuẩn mực thứ ba: Tính không thiên kiến. Không thiên kiến là một chuẩn mực đặc biệt thú vị trong khoa học. Mọi kết luận trong quan sát hoặc thực nghiệm khoa học cần được kiềm chế những thiên vị cá nhân, bao hàm sự kiểm soát của thiết chế đối với những động cơ làm khoa học nhằm thoả mãn nhu cầu nhận thức.

      4) Chuẩn mực thứ tư: Tính độc đáo (originality). Chuẩn mực này quy định, khoa học phải có tính mới, không thể giầm chân trên những đường mòn.

      5) Chuẩn mực thứ năm: Tính hoài nghi (skepticism). Chuẩn mực này được xem là “sứ mạng cả về mặt phương pháp luận và về mặt thiết chế”. Nó yêu cầu những người làm khoa học không được đưa ra kết luận vội vã, nó đòi hỏi phải “trì hoãn sự phán xét” cho đến khi có đầy đủ bằng chứng cần thiết. Chuẩn mực này đòi hỏi người làm khoa học phải biết đặt câu hỏi ngược lại với những lý thuyết khoa học đã được kiểm chứng sơ bộ bằng quan sát hoặc thực nghiệm.

      3. Các hành vi lệch chuẩn trong hoạt động khoa học

      Có nhiều kiểu sai lệch chuẩn mực (gọi tắt là lệch chuẩn). Người làm khoa học có thể lệch chuẩn do vô tình hoặc cố ý, cũng có thể do trình độ của phương tiện và phương pháp nghiên cứu. Có bốn loại lệch chuẩn sau: 1) Lệch chuẩn nhận thức. Có hai ý nghĩa: (1) Loại lệch chuẩn phát sinh thiếu kiến thức, thiếu thông tin; (2) Loại lệch chuẩn xuất phát từ những nhận thức hoặc hành động khác với nhận thức được thời của khoa học, chẳng hạn, mô hình vũ trụ của Copernicus khác với mô hình vũ trụ của Ptolêmê đã được giới khoa học công nhận hồi trước thế kỷ XV. 2) Lệch chuẩn kỹ thuật. Là loại lệch chuẩn do phương pháp tiếp cận, trình độ phân tích, trình độ của phương tiện, thiết bị kỹ thuật. Dạng lệch chuẩn này cũng có hai loại: (1) Người nghiên cứu sai phạm ngẫu nhiên về phương pháp; (2) Người nghiên cứu gặp hạn chế về phương tiện và phương pháp..

      3) Lệch chuẩn xã hội. Là loại lệch chuẩn do: (1) Hạn chế lịch sử trong điều kiện xã hội mà nhà nghiên cứu hoạt động. Hạn chế lịch sử dẫn đến những thiết chế khiến cho những kết luận khoa học bị sai lệch theo định kiến xã hội. Chẳng hạn, những nghiên cứu về tổ chức hệ thống kinh tế nông nghiệp trong thời kỳ kinh tế chỉ huy không được vượt khỏi quan niệm về tổ chức sản xuất nông nghiệp của giai đoạn lịch sử đó, ví dụ, không “được phép” trao đổi sản phẩm trên thị trường; (2) Lệch chuẩn xã hội cũng có thể do sức ép của các quyền lực xã hội đưa lại. Chẳng hạn, vũ trụ quan của giáo hội không cho phép truyền bá quan điểm nhật tâm của Copernic. 4) Lệch chuẩn đạo đức. Là loại lệch chuẩn cố ý, với những toan tính tranh giành tối đa những lợi thế không chính đáng trước đồng nghiệp.

      Mỗi kết luận sai lệch về khoa học có thể xuất hiện chỉ do một dạng lệch chuẩn, song có những kết luận sai lệch xuất hiện là do một số dạng lệch chuẩn, chẳng hạn, vừa lệch chuẩn kỹ thuật, vừa lệch chuẩn nhận thức, và có cả lệch chuẩn đạo đức và lệch chuẩn xã hội.

      Lệch chuẩn nào cũng có thể dẫn đến những thiệt hại ở các mức độ rất khác nhau, và do vậy, dạng lệch chuẩn nào cũng có mức độ có thể lượng thứ hoặc không thể lượng thứ. Chẳng hạn, chúng ta quay trở lại mô hình của Ptôlêmê về vũ trụ, với Trái Đất là trung tâm, còn mặt trời và các vì sao khác quay xung quanh Trái Đất. Sau này, khi mô hình Copernic được thừa nhận, thì mô hình Ptôlêmê bị xem là một dạng lệch chuẩn nhận thức, đồng thời cũng có thể xem là một dạng lệch chuẩn kỹ thuật. Trường hợp này, có thể xem là loại lệch chuẩn có thể lượng thứ. Nhưng sau này, đến lượt Giáo hội chống Copernic, rồi chống Galilêô, thì từ lệch chuẩn nhận thức và lệch chuẩn kỹ thuật của Ptôlêmê, đã chuyển sang lệch chuẩn xã hội của Giáo hội. Rõ ràng, lệch chuẩn nhận thức và lệch chuẩn kỹ thuật là có thể lượng thứ, còn lệch chuẩn xã hội của Giáo hội, dẫn đến đàn áp tư tưởng và đàn áp thể xác nhà khoa học lại trở nên một hành vi lệch chuẩn không thể lượng thứ.[1]

      4. Vài dạng lệch chuẩn điển hình

      Điều được các nhà xã hội học khoa học quan tâm và thảo luận khá sôi động, là hai dạng lệch chuẩn điển hình: gian lận và ăn cắp. Mặc dầu có nhiều quan điểm và mức độ phán xét khác nhau về nguyên nhân và hậu quả của các dạng lệch chuẩn này, nhưng các tác giả đều thống nhất quan điểm cho rằng, cả gian lận và ăn cắp đều là những hành vi lệch chuẩn không thể lượng thứ.

      Chẳng hạn, nhà miễn dịch học Peter Medawat (1976) xem các hành vi “ă n cắp và gian lận là những thứ đáng ghê tởm nhất“; nhà sinh học phân tử Salvadore Luria thì xem đó là ” sự bê bối” mang ” ý nghĩa xúc phạm” (1975); còn nhà y học Robert Peteredorf thì cho đó là điều ” chướng tai gai mắt” nhất (1986); đối với nhà sinh hoá Daniel Koshland thì đó là điều ‘ không thể tha thứ được” (1987). Trên quan điểm của xã hội học khoa học, Zuckerman cho rằng, ” gian lận và ăn cắp đã huỷ hoại niềm tin vào cộng đồng khoa học. Đó là niềm tin vốn rất chính đáng rằng, những gì mà các nhà khoa học nói, là chân lý tin cậy nhất“.

      Vậy các dạng lệch chuẩn gian lận và ăn cắp cần được hiểu như thế nào?

      Thứ nhất, gian lận trong hoạt động khoa học. Gian lận là sự cố ý lừa dối, thể hiện dưới ba hình thức:

      (1) Giả mạo, tức là bịa đặt dữ kiện để đạt được một thành tích khoa học, nhằm giành lợi thế trong cộng đồng khoa học. Hậu quả hoàn toàn có thể đưa ra một bức tranh sai lệch về đối tượng nghiên cứu. Thật ra, người có hành vi vi phạm trong trường hợp này, không nhằm vào mục đích đưa ra bức tranh sai lệch, mà nhằm mục đích chủ yếu là giành lợi thế và những phần thưởng cho cá nhân. Với sự giả mạo này, đương sự đã làm cho cộng đồng hiểu và đánh giá sai về đương sự, rằng anh ta đã có một thành tích khoa học. Hậu quả là cộng đồng được nhận những thông tin sai lệch. Ví dụ, có một nhà địa chất, muốn chứng minh một quan điểm địa chất sai lệch của mình, đã cố ý ném một số cổ sinh vật hoá thạch vào khu vực được chọn làm đối tượng nghiên cứu, rồi đương sự đã đưa ra một báo cáo sai lệch về khu vực này.

      (2) Xuyên tạc, tức làm biến dạng dữ kiện, để mô tả bức tranh khoa học theo ý muốn chủ quan của mình. Xét cả về hai phương diện, hậu quả xã hội và thực thể tri thức khoa học, loại hành vi lệch chuẩn này có thể đánh giá mức độ nghiêm trọng không kém gì hành vi giả mạo. Nếu như sự giả mạo thể hiện thái độ vô trách nhiệm trước thực thể tri thức khoa học, thì hành vi xuyên tạc thể hiện thái độ cố ý làm sai lệch khách thể theo một ý đồ không lành mạnh từ phía chủ quan của đương sự.

      (3) Nhào nặn, tức “mông má” dữ kiện, nhằm vào việc tô hồng hoặc bôi đen sự kiện theo ý muốn chủ quan, thậm chí làm đảo ngược bức tranh khoa học về đối tượng nghiên cứu. Nhào nặn dữ kiện cũng dẫn tới sự huỷ hoại thực thể tri thức khoa học theo một định hướng chủ quan của đương sự.

      Thứ hai, ăn cắp cũng là một hành vi cố ý lừa dối trong khoa học. Người có hành vi lệch chuẩn này mang động cơ chiếm đoạt cái mà họ không có, với tham vọng được cộng đồng thừa nhận một nấc thang khoa học mà họ hoàn toàn không xứng đáng.

      Tuy cộng đồng nghiên cứu, và đặc biệt là các nhà xã hội học khoa học, thống nhất nhận thức rằng, cả hai hành vi lệch chuẩn – gian lận và ăn cắp, đều là những lệch chuẩn không thể lượng thứ, nhưng họ cũng chỉ ra rằng, ăn cắp tuy là một hành vi phi đạo đức; nhưng nó chỉ gây ra sự bất công, chứ không làm biến dạng và huỷ hoại thực thể tri thức khoa học. Còn hành vi gian lận, tuy không ăn cắp của ai, nhưng nó lại dẫn đến một hậu quả cực kỳ nghiêm trọng, là cung cấp một bức tranh sai lệch về thực thể nhận thức.

      Cộng đồng khoa học cho rằng, cả hai tội này đều phải bị trừng phạt hết sức nghiêm khắc, theo Zuckerman, ” cần phải trừng phạt nghiêm khắc đến mức độ phải dẫn đến phá hoại toàn bộ sự nghiệp của đương sự.”

      Vi phạm quyền sở hữu trí tuệ có thể thuộc loại gian lận, và cũng có thể thuộc loại ăn cắp. Vi phạm quyền sở hữu trí tuệ ở nước ta đang là một hiện tượng nhức nhối. Thực tiễn cho thấy nhiều kiểu vi phạm:

      · Sao chép hoặc lấy toàn bộ công trình của đồng nghiệp và ghi tên mình thay vì ghi trích dẫn tên đồng nghiệp. Hành vi lệch chuẩn này chủ yếu thuộc loại ăn cắp.

      · Dịch tài liệu, thậm chí dịch sách, rồi ghi tên mình là “tác giả” hoặc “người biên soạn”, thay vì phải ghi tên tác giả của bản gốc, rồi ghi tên mình là người “dịch”, “lược dịch”, hoặc “biên dịch”, v.v… Hành vi này vừa là ăn cắp, vừa là gian lận.

      · Lấy nguyên văn hàng chương sách của đồng nghiệp để đăng báo và ký tên mình là tác giả. Hành vi lệch chuẩn này chủ yếu thuộc loại ăn cắp.

      · Lấy nguyên văn công trình đã công bố của mình ở diễn đàn này hoặc nhà xuất bản này, thay tên gọi của công trình, đôi khi có sửa một chút không quan trọng, rồi công bố ở nơi khác, để “tính điểm” số lượng công trình.

      · Một số người khi đã đạt được địa vị lãnh đạo cơ quan, thì không còn tự mình viết, mà thường gọi nhân viên viết, thậm chí viết cả một cuốn sách để mình ký tên là tác giả, còn các tác giả thực thì được nhận mấy dòng gọi là để “cảm ơn” sự … “cộng tác”.

      5. Xử lý các hành vi lệch chuẩn

      Đương nhiên, nếu như hành vi ăn cắp sở hữu trí tuệ không dễ bị phát hiện và loại trừ khỏi đời sống khoa học, thì hành vi gian lận còn khó bị phát hiện và khó bị trừng trị hơn nhiều. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng, vẫn có thể tìm ra những luận cứ khoa học quan trọng nhất để hình thành thiết chế phát hiện và điều chỉnh các hành vi lệch chuẩn thuộc dạng này. Luận cứ có thể bao gồm trong hai hướng:

      1) Nâng cao trình độ nhận thức và kỹ năng về phương pháp luận khoa học, nghĩa là sự thành thạo về kỹ năng của phương pháp, kể cả trong khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và khoa học xã hội. Chỉ có nhận thức thống nhất về phương pháp luận khoa học, mới có thể thống nhất được ngôn ngữ đánh giá tính đúng đắn của kết quả thu thập và chế biến dữ liệu.

      2) Có một cơ chế có hiệu quả để phân tích phản biện các kết quả nghiên cứu, giảm thiểu những mặt hạn chế của hệ thống đánh giá hiện nay: Thứ nhất, về chỉ báo, mang nặng những chỉ báo định tính, thiếu những chỉ báo chặt chẽ về phương pháp luận; Thứ hai, về phương pháp, khó tránh khỏi những đánh giá bị chi phối bởi tình cảm và thiên kiến chủ quan.

      Cho đến nay ngay cả ở một số nước có nền khoa học phát triển trên thế giới cũng chưa có được một giải pháp hữu hiệu về kiểm soát xã hội đối với các hành vi lệch chuẩn. Những biện pháp được áp dụng, ngay ở những nước có truyền thống khoa học phát triển, cũng chỉ có tác dụng hạn chế trong chừng mực nào đó.

      Nhà khoa học có vô tình hoặc cố ý thực hiện những hành vi lệch chuẩn hay không còn tuỳ thuộc phần lớn vào văn hoá và đạo đức của họ. Trong cộng đồng khoa học ở nước ta, hiện tượng lệch chuẩn là khá phổ biến, không loại trừ cả những người có học hàm, học vị và chức vụ cao.

      Điều này có thể có cả hai nguyên nhân: thiếu các thiết chế xã hội để kiểm soát các hành vi lệch chuẩn và, mặt bằng văn hoá còn thấp trong cộng đồng khoa học nước ta. Một số bạn đồng nghiệp nghiên cứu chưa xem việc tôn trọng các chuẩn mực là sự thể hiện tính tự trọng và đạo đức khoa học.

      Từ kinh nghiệm các nước có nền khoa học phát triển, từ các điều khoản đã được quy định trong Luật Dân sự của Việt Nam, chúng tôi thiết nghĩ, có thể nhấn mạnh các biện pháp sau đây:

      Về mặt pháp lý, cần có những đạo luật quy định rằng, mọi kết quả nghiên cứu đều được quyền công bố hoặc không công bố dưới mọi hình thức thích hợp, như công bố thông qua các xuất bản phẩm công khai hoặc không công khai (trong trường hợp có quan hệ tới bí mật cạnh canh trong kinh doanh, hoặc có quan hệ tới quốc phòng và an ninh quốc gia).

      Cũng cần coa những quy định về trích dẫn khoa học. Trong quá trình nghiên cứu về trích dẫn, chúng tôi đã có những cuộc trao đổi với một số viện trưởng, giám đốc hoặc ban biên tập một số nhà xuất bản về các quy định trích dẫn. Trong số các cơ quan mà chúng tôi có dịp đến phỏng vấn, chúng tôi chỉ mới gặp vài ba cơ quan có quy định chặt chẽ nhất về trích dẫn.

      Quy định về bảo hộ sở hữu trí tuệ. Phải nói rằng, ở nước ta đã có nhiều bước phát triển trong việc nghiên cứu, công bố và thi hành các luật và văn bản dưới luật về sở hữu trí tuệ. Tuy nhiên, việc thi hành luật chưa được thực hiện đúng với yêu cầu cần thiết cho sự phát triển khoa học, đặc biệt là việc xử lý những hiện tượng vi phạm tác quyền trong khoa học.

      Hiện tượng lệch chuẩn “đạo đức” đang là vấn đề nhức nhối trong khoa học ở nước ta. Việc đưa ra các chế tài nhằm hạn chế lệch chuẩn đang là một công việc đầy nan giải, nhất là, khi một số người vi phạm các chuẩn mực lại có tước vị khoa học cao, hoặc cũng có cả một số người đang giữ chức vụ quan trọng trong các cơ quan khoa học, cơ quan quản lý khoa học và cả trong các cơ quan tham mưu của các cấp ủy Đảng về khoa học và giáo dục.

      Chức Năng Và Nhiệm Vụ Của Chủ Nghĩa Xã Hội Khoa Học / 2023

      Thứ nhất, chủ nghĩa xã hội khoa học có chức năng và nhiệm vụ trang bị những tri thức khoa học, đó là hệ thống lý luận chính trị – xã hội và phương pháp luận khoa học mà chủ nghĩa Mác-Lênin đã phát hiện ra và luận giải quá trình tất yếu lịch sử dẫn đến hình thành, phát triển hình thái kinh tế – xã hội cộng sản, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Chức năng này cũng thống nhất với chức năng của triết học Mác-Lênin và kinh tế chính trị học Mác-Lênin, nhưng trực tiếp nhất là trang bị lý luận nhận thức về cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Không làm được chức năng này, chủ nghĩa xã hội khoa học sẽ không thể cung cấp cơ sở lý luận và phương pháp nhận thức về chính trị – xã hội cho người nghiên cứu và hoạt động thực tiễn trong cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là cho các đảng cộng sản, nhà nước xã hội chủ nghĩa với chức năng lãnh đạo và quản lý xã hội.

      Thứ hai, chủ nghĩa xã hội khoa học có chức năng và nhiệm vụ trực tiếp nhất là giáo dục, trang bị lập trường tư tưởng chính trị của giai cấp công nhân cho đảng cộng sản, giai cấp công nhân và nhân dân lao động – lập trường xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa. Chính các nhà sáng lập ra chủ nghĩa xã hội khoa học đã có công lớn là xây dựng hệ thống lý luận phản ánh sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân rồi tuyên truyền, giáo dục trở lại cho giai cấp công nhân hiện đại hiểu về sứ mệnh lịch sử và bản chất của chính mình. Hệ thống lý luận đó đã trở thành hệ tư tưởng của giai cấp công nhân hiện đại. Không có hệ tư tưởng cách mạng và khoa học, không có lập trường và bản lĩnh chính trị xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa thì giai cấp công nhân, đảng của nó và nhân dân lao động không thể tiến tới giành chính quyền và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản; không thể đấu tranh với các hệ tư tưởng và các hoạt động thù địch chống chủ nghĩa xã hội, chống nhân dân lao động.

      Thứ ba, chủ nghĩa xã hội khoa học có chức năng và nhiệm vụ định hướng về chính trị – xã hội cho mọi hoạt động của giai cấp công nhân, của đảng cộng sản, của nhà nước và của nhân dân lao động trên mọi lĩnh vực, sao cho sự ổn định và phát triển của xã hội luôn luôn đúng với bản chất, mục tiêu xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa; tức là qua từng nấc thang phát triển, tính chất xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa thuộc mọi lĩnh vực của xã hội thể hiện ngày càng rõ hơn và hoàn thiện hơn. Chức năng và nhiệm vụ của chủ nghĩa xã hội khoa học

      Cập nhật thông tin chi tiết về Khoa Các Khoa Học Xã Hội / 2023 trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!