Xu Hướng 2/2024 # Hủy Bỏ Hoặc Thay Thế Biện Pháp Ngăn Chặn # Top 7 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Hủy Bỏ Hoặc Thay Thế Biện Pháp Ngăn Chặn được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

1. Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn là việc cơ quan có thẩm quyền quyết định chấm dứt việc áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với người đang bị áp dụng. Biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc, đụng chạm đến quyền con người, quyền công dân được cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng áp dụng trong trường hợp cần thiết. Vì vậy, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2024 quy định về hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp ngăn chặn nhằm hạn chế thấp nhất việc ảnh hưởng đến quyền cơ bản của cá nhân, tránh việc các cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng lạm dụng các biện pháp này. Bộ luật tố tụng hình sự quy định biện pháp ngăn chặn sẽ được hủy bỏ trong các trường hợp sau đây:

Một là, quyết định không khởi tố vụ án hình sự: Quy định này được áp dụng khi kết thúc giai đoạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Biện pháp ngăn chặn được áp dụng trong giai đoạn này có thể là biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp, tạm giữ hoặc tạm hoãn xuất cảnh. Khi có quyết định không khởi tố vụ án hình sự thì phải hủy bỏ ngay biện pháp ngăn chặn đang áp dụng.

Hai là, quyết định đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án: Quy định này được áp dụng trong giai đoạn điều tra, truy tố, khi có quyết định đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án thì toàn bộ hoạt động tố tụng phải được chấm dứt ngay, trong đó có việc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn đang được áp dụng.

Ba là, quyết định đình chỉ điều tra đối với bị can, đình chỉ vụ án đối với bị can: Quy định này được áp dụng trong giai đoạn điều tra, truy tố khi có quyết định đình chỉ điều tra đối với bị can, đình chỉ vụ án đối với bị can thì toàn bộ hoạt động tố tụng đối với bị can phải được chấm dứt, trong đó có việc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn đang được áp dụng đối với bị can đó. Hoạt động tố tụng đối với các bị can không được đình chỉ vẫn diễn ra bình thường.

Bốn là, bị cáo được Tòa án tuyên không có tội, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, hình phạt tù nhưng được hưởng án treo hoặc hình phạt cảnh cáo, phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ.

Năm là, trường hợp xét thấy không cần thiết: Quy định này nặng về định tính, việc hủy bỏ do cơ quan, người có thẩm quyền xét thấy không còn cần thiết, khi các căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn không còn thì hủy bỏ việc áp dụng biện pháp ngăn chặn đang áp dụng.

2. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể thay thế biện pháp ngăn chặn khi đang áp dụng. Đối với những biện pháp ngăn chặn do Viện kiểm sát phê chuẩn trong giai đoạn điều tra thì việc thay thế bằng biện pháp ngăn chặn khác phải do Viện kiểm sát quyết định. Việc thay thế biện pháp ngăn chặn có thể theo hai hướng, có thể thay thế bằng biện pháp ít nghiêm khắc hơn hoặc thay thế bằng biện pháp nghiêm khắc hơn.

3. Để thống nhất trong áp dụng, bảo đảm thời gian xem xét trước khi quyết định hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp ngăn chặn khác, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2024 đã được bổ sung quy định trong thời hạn 10 ngày trước khi hết thời hạn áp dụng biện pháp ngăn chặn, trừ biện pháp tạm giữ do Viện kiểm sát phê chuẩn, cơ quan đã đề nghị áp dụng biện pháp ngăn chặn phải thông báo cho Viện kiểm sát để quyết định hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp ngăn chặn khác.

Hủy Bỏ Hoặc Thay Thế Biện Pháp Ngăn Chặn Trong Tố Tụng Hình Sự

Hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp ngăn chặn được quy định tại Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2024 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2024.

Việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạo ra điều kiện thuận lợi cho quá trình giải quyết vụ án hình sự của các cơ quan tiến hành tố tụng. Thực tiễn giải quyết các vụ án hình sự, căn cứ thực tế từng trường hợp áp dụng biện pháp ngăn chặn luôn thay đổi. Vì vậy, khi căn cứ để áp dụng một biện pháp ngăn chặn cụ thể không còn thì cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền xem xét việc hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp ngăn chặn . Trong bài viết này tác giả tổng hợp và giới thiệu các trường hợp đương nhiên hủy bỏ biện pháp ngăn chặn .

Căn cứ pháp lí của h ủy bỏ hoặc thay thế biện pháp ngăn chặn

Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2024 quy định về hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp ngăn chặn như sau:

“1.Mọi biện pháp ngăn chặn đang áp dụng phải được hủy bỏ khi thuộc một trong các trường hợp:

a)Quyết định không khởi tố vụ án hình sự;

b)Đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án;

c)Đình chỉ điều tra đối với bị can, đình chỉ vụ án đối với bị can;

d)Bị cáo được Tòa án tuyên không có tội, miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt, hình phạt tù nhưng được hưởng án treo hoặc hình phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ.

2.Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hủy bỏ biện pháp ngăn chặn khi thấy không còn cần thiết hoặc có thể thay thế bằng biện pháp ngăn chặn khác.

Đối với những biện pháp ngăn chặn do Viện kiểm sát phê chuẩn trong giai đoạn điều tra thì việc hủy bỏ hoặc thay thế bằng biện pháp ngăn chặn khác phải do Viện kiểm sát quyết định; trong thời hạn 10 ngày trước khi hết thời hạn áp dụng biện pháp ngăn chặn, trừ biện pháp tạm giữ do Viện kiểm sát phê chuẩn, cơ quan đã đề nghị áp dụng biện pháp ngăn chặn này phải thông báo cho Viện kiểm sát để quyết định hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp ngăn chặn khác.”

Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn là việc Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án quyết định không tiếp tục áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với người đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn.

Mọi biện pháp ngăn chặn đang áp dụng phải được hủy bỏ khi thuộc một trong các trường hợp:

-Quyết định không khởi tố vụ án hình sự;

-Đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án;

-Đình chỉ điều tra đối với bị can, đình chỉ vụ án đối với bị can;

Bị cáo được Tòa án tuyên không cố tội, miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt, hình phạt tù nhưng được hưởng án treo hoặc hình phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ .

Đây là các trường hợp bắt buộc cơ quan tiến hành tố tụng phải hủy bỏ biện pháp ngăn chặn.

Ngoài ra, biện pháp ngăn chặn có thể bị hủy bỏ khi cơ quan tiến hành tố tụng xét thấy không cần thiết hoặc thay thê biện pháp ngăn chặn khác. Trường hợp hủy bỏ biện pháp ngăn chặn không áp dụng biện pháp ngăn chặn nào khác được áp dụng khi thấy không cần áp dụng biện pháp ngăn chặn mà vẫn đảm bào người bị buộc tội không tiếp tục phạm tội, không tiêu hủy chứng cứ, không gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án…

Trường hợp hủy bỏ biện pháp ngăn chặn thay thế biện pháp ngăn chặn, người bị buộc tội vẫn có thể bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác ít nghiêm khắc hơn hoặc nghiêm khắc hơn.

Điều luật này cũng quy định, đối với những biện pháp ngăn chặn do Viện kiểm sát phê chuẩn thì việc hủy bỏ hoặc thay thế phải do Viện kiêm sát quyết định. Trong thời hạn 10 ngày trước khi hết thời hạn áp dụng biện pháp ngăn chặn, trừ biện pháp tạm giữ do Viện kiểm sát phê chuẩn, cơ quan đã đề nghị áp dụng biện pháp ngăn chặn này phải thông báo cho Viện kiêm sát để quyết định hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp ngăn chặn khác.

Bài viết được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.

Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị đây chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.

Thay Thế Biện Pháp Ngăn Chặn Trong Trường Hợp Hết Hạn Tạm Giữ Và Khởi Tố Bị Can?

Bộ luật TTHS năm 2024 khi thực hiện trên thực tiễn đã phát sinh một số vướng mắc cần được hướng dẫn, sau đây là một ví dụ.

Ngày 03/4/2024, Nguyễn Văn A có hành vi trộm cắp tài sản và bị bắt quả tang, Cơ quan điều tra ra quyết định tạm giữ 03 ngày sau đó gia hạn tạm giữ lần 1, lần 2 đối với A. Ngày 12/4/2024, CQĐT ra quyết định khởi tố bị can đối với A về tội trộm cắp tài sản và đề nghị Viện kiểm sát thay thế biện pháp ngăn chặn. Khi thực hiện đề nghị của CQĐT đã xảy ra một số vấn đề cần trao đổi như sau:

1. Về thẩm quyền thay thế biện pháp ngăn chặn đối với A.

Khoản 2 Điều 125 Bộ luật TTHS quy định: CQĐT, Viện kiểm sát, Tòa án hủy bỏ biện pháp ngăn chặn khi thấy không còn cần thiết hoặc có thể thay thế bằng biện pháp ngăn chặn khác. Đối với những biện pháp ngăn chặn do Viện kiểm sát phê chuẩn trong giai đoạn điều tra thì việc hủy bỏ hoặc thay thế bằng biện pháp ngăn chặn khác phải do Viện kiểm sát quyết định.

Có quan điểm cho rằng, căn cứ khoản 2 Điều 125 BLTTHS thì CQĐT cũng có quyền thay thế biện pháp ngăn chặn đối với A vì:

+ Biện pháp tạm giữ trong trong trường hợp phạm tội quả tang là do CQĐT quyết định, không cần phê chuẩn của Viện kiểm sát (Viện kiểm sát chỉ phê chuẩn gia hạn tạm giữ mà gia hạn tạm giữ không phải là biện pháp ngăn chặn theo Điều 109 Bộ luật TTHS. Mặt khác, Bộ luật TTHS chỉ quy định các biện pháp ngăn chặn do Viện kiểm sát phê chuẩn trong giai đoạn điều tra thì việc thay thế, hủy bỏ do Viện kiểm sát quyết định);

+ Hệ thống biểu mẫu do VKSND tối cao ban hành chỉ có quyết định thay thế biện pháp ngăn chặn, quyết định hủy bỏ biện pháp ngăn chặn tạm giam, cho bảo lĩnh, tạm hoãn xuất cảnh mới căn cứ Điều 125 Bộ luật TTHS và tất cả các biện pháp này đều được thực hiện sau khi khởi tố vụ án, khởi tố bị can. Vậy, có thể hiểu trong trường hợp hết hạn tạm giữ mà khởi tố bị can và cần áp dụng biện pháp ngăn chặn khác thì thẩm quyền thuộc CQĐT (nội dung này đã được Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn khi thực hiện Bộ luật TTHS năm 2003, khi hết hạn tạm giữ, CQĐT tự ra quyết định thay thế biện pháp ngăn chặn).

2. Việc sử dụng mẫu tố tụng

Khoản 1 Điều 132 Bộ luật TTHS quy định “Văn bản tố tụng gồm lệnh, quyết định, yêu cầu, kết luận điều tra, bản cáo trạng, bản án và các văn bản tố tụng khác trong hoạt động tố tụng được lập theo mẫu thống nhất”.

+ Mẫu số 33- Quyết định hủy bỏ Quyết định tạm giữ. Mẫu này căn cứ Điều 117 Bộ luật TTHS (khoản 4 Điều 117 ” Nếu xét thấy việc tạm giữ không có căn cứ hoặc không cần thiết thì Viện kiểm sát ra quyết định hủy bỏ quyết định tạm giữ và người ra quyết định tạm giữ phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ “);

Như vậy, có thể hiểu chỉ sử dụng mẫu này trong trường hợp Viện kiểm sát xét thấy việc tạm giữ không có căn cứ hoặc không cần thiết và thực hiện ngay sau khi nhận được quyết định tạm giữ của cơ quan có thẩm quyền đến trước khi hết hạn tạm giữ.

+ Mẫu số 34- Quyết định trả tự do cho người bị tạm giữ. Mẫu này căn cứ Điều 118 Bộ luật TTHS (khoản 3 Điều 118 ” Trong khi tạm giữ, nếu không đủ căn cứ khởi tố bị can thì CQĐT…phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ; trường hợp đã gia hạn tạm giữ thì Viện kiểm sát phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ “);

Với căn cứ trên, có thể hiểu việc quyết định tạm giữ là có căn cứ, trong khi tạm giữ (kể cả khi đã gia hạn tạm giữ) nếu xét thấy không có căn cứ (hoặc chưa đủ căn cứ) để khởi tố bị can thì CQĐT hoặc Viện kiểm sát phải ra quyết định trả tự do cho người bị tạm giữ. Trường hợp này có thể ban hành quyết định trả tự do bất cứ lúc nào, từ khi quyết định đến khi hết hạn tạm giữ hoặc hết hạn gia hạn tạm giữ.

+ Mẫu số 42- Quyết định thay thế biện pháp ngăn chặn. Mẫu này căn cứ Điều 125 Bộ luật TTHS.

Đối chiếu với quy định tại khoản 2 Điều 125 Bộ luật TTHS thì chỉ sử dụng mẫu này trong trường hợp bị can đang bị tạm giam và xét thấy không cần thiết phải tạm giam nữa để áp dụng biện pháp ngăn chặn khác (cho bảo lĩnh, cấm đi khỏi nơi cư trú, đặt tiền…).

Với những vướng mắc nêu trên, rất cần có sự hướng dẫn để thực hiện thống nhất, đúng quy định./.

Lê Văn Cường- VKSND huyện Lạng Giang

Thay Đổi, Hủy Bỏ Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Ở Tòa Án Cấp Sơ Thẩm

Thay đổi hay hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời tại phiên tòa sơ thẩm là gì? Khi nào cần thay đổi hay hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời?

Thay đổi hay hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời tại phiên tòa sơ thẩm là gì? Khi nào cần thay đổi hay hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời?

1.2. Thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời.

Thẩm quyền quyết định thay đổi, hủy bỏ BPKCTT được xác định theo thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự. Trước khi mở phiên tòa việc giải quyết vụ án dân sự do một thẩm phán tiến hành nên việc thay đổi, hủy bỏ BPKCTT do một thẩm phán xem xét quyết định. Tại phiên tòa, việc giải quyết vụ án dân sự do hội đồng xét xử tiến hành nên việc thay đổi, hủy bỏ BPKCTT do hội đồng xét xử xem xét, quyết định.

a. Thay đổi biện pháp khẩn cấp tạm thời.

Việc thay đổi BPKCTT được quy định tại Điều 121 BLTTDS và mục 10 Nghị quyết số 02/2005. Theo đó, khi xét thấy biện pháp khẩn cấp tạm thời đang được áp dụng không còn phù hợp mà cần thiết phải thay đổi hoặc áp dụng bổ sung biện pháp khẩn cấp tạm thời khác thì tòa án có thể quyết định thay đổi, áp dụng bổ sung BPKCTT. Thủ tục thay đổi, áp dụng bổ sung biện pháp khẩn cấp tạm thời khác được thực hiện theo quy định tại Điều 117 của BLTTDS và hướng dẫn tại các mục 5,6,7 Nghị quyết số 02/2005.

Trong trường hợp thay đổi BPKCTT mà người yêu cầu không phải thực hiện biện pháp bảo đảm hoặc phải thực hiện biện pháp bảo đảm ít hơn biện pháp bảo đảm mà họ đã thực hiện, thì Toà án xem xét quyết định cho họ được nhận lại toàn bộ hoặc một phần khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá mà họ đã gửi trong tài khoản phong toả tại ngân hàng theo quyết định của Toà án, trừ trường hợp người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng mà gây thiệt hại thì phải bồi thường cho người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc cho người thứ ba.

Trường hợp người yêu cầu áp dụng BPKCTT có đơn xin thay đổi BPKCTT mà BPKCTT không có lợi cho người bị áp dụng hoặc có đơn xin tòa án áp dụng bổ sung BPKCTT khác thì người yêu cầu phải trình bày rõ lý do trong đơn xin thay đổi và áp dụng BPKCTT bổ sung khác và cung cấp tài liệu chứng minh cho yêu cầu của mình là chính đáng.

b. Hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời.

Nếu hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời, tòa án phải xem xét quyết định để người yêu cầu áp dụng BPKCTT nhận lại tài sản bảo đảm đã nộp, trừ trường hợp người yêu cầu tòa án áp dụng BPKCTT không đúng gây thiệt hại phải bồi thường cho người bị áp dụng BPKCTT hoặc cho người thứ 3.

Hội Thảo Về Áp Dụng, Thay Đổi, Hủy Bỏ Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Tại Tand

Chiều nay 16/12, TANDTC đã tổ chức Hội thảo về áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời tại TAND. Bí thư Trung ương Đảng, Chánh án TANDTC Nguyễn Hòa Bình chủ trì hội thảo. Những vi phạm thường gặp

Phát biểu khai mạc hội thảo, Chánh án Nguyễn Hòa Bình đã nhấn mạnh đến những nội dung đã được định hướng trong buổi sáng nay. Chánh án cho biết, việc áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án, Luật đã trao thẩm quyền cho Tòa án áp dụng biện pháp này, nhưng có rất nhiều vấn đề cần chấn chỉnh. Thời gian vừa qua, trước thông tin của lãnh đạo Đảng và Nhà nước, các đại biểu Quốc hội xung quanh việc áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời, TANDTC đã giao cho cơ quan Thanh tra TANDTC tiến hành thanh tra một số nơi có áp dụng biện pháp này nhưng chất lượng không tốt. Kết quả cho thấy cũng có những vướng mắc cần hướng dẫn.

Để đảm bảo chất lượng công tác này được tốt, góp phần hoàn thành nhiệm vụ của TAND, Chánh án TANDTC đề nghị các đại biểu đánh giá những tồn tại hạn chế, vướng mắc, và đề xuất những biện pháp khắc phục kịp thời để việc áp dụng biện pháp này đảm bảo tính khả thi.

Khái quát chung về tình hình áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời, Phó Vụ trưởng Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học TANDTC Nguyễn Chí Công cho biết, qua công tác giám đốc việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại… cho thấy, việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời tại các Tòa án về cơ bản đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, qua công tác kiểm tra nghiệp vụ cho thấy một số Tòa án có những sai sót, vi phạm khi áp dụng biện pháp này; Một số quy định của Bộ luật TTDS, Bộ luật dân sự, Luật Xuất nhập cảnh… còn chưa được hiểu và áp dụng thống nhất.

Một số những sai sót thường gặp trong quá trình áp dụng của Tòa án, đó là: vi phạm về thẩm quyền, thủ tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, trường hợp buộc thực hiện biện pháp bảo đảm, hủy bỏ việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời,…

Cụ thể, các biện pháp khẩn cấp tạm thời gồm: Kê biên tài sản đang tranh chấp, cấm chuyển dịch về quyền tài sản đối với tài sản đang tranh chấp, cấm thay đổi hiện trạng quy định tại Điều 120, 121, 122 Bộ luật tố tụng dân sự. Biện pháp khẩn cấp tạm thời trên chỉ áp dụng đối với tài sản đang tranh chấp nhưng có Tòa án áp dụng đối với cả những tài sản không có tranh chấp.

Theo ông Nguyễn Chí Công, để kịp thời hướng dẫn, bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong áp dụng biện pháp này, TANDTC đang nghiên cứu xây dựng dự thảo Nghị quyết thay thế Nghị quyết 02/2005/NQ-HĐTP quy định về vấn đề này.

Thực tiễn cho thấy, khi đương sự yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, nhưng tài sản yêu cầu áp dụng đang được thế chấp tại ngân hàng, thì một số Thẩm phán vẫn ra quyết định áp dụng biện pháp này. Khi áp dụng cũng có quan điểm cho rằng không đúng, không bảo vệ được tổ chức nhận thế chấp tài sản, nhưng cũng có ý kiến cho rằng đây là biện pháp khẩn cấp tạm thời, do tính chất tạm thời nên không phải là quyết định cuối cùng để giải quyết vụ án nên không vi phạm các quy định của pháp luật.

Góp ý về việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời và một số quy định trong dự thảo Nghị quyết, đại diện Tòa dân sự TAND TP Hồ Chí Minh cho biết, đây là biện pháp có ý nghĩa quan trọng trong việc giải quyết vụ việc dân sự. Việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng, không kịp thời có thể dẫn đến hậu quả không thể khắc phục được. Ngoài ra, còn phát sinh nghĩa vụ bồi thường thiệt hại theo quy định tại Bộ luật TTHS 2024. Đại biểu cũng kiến nghị một số nội dung cần hoàn thiện trong dự thảo Nghị quyết.

Góp ý về những bất cập trong thực hiện biện pháp này, đại diện TAND TP Hà Nội nêu lên những khó khăn vướng mắc trong áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Theo quy định của Bộ luật TTDS 2024, áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án dân sự, hôn nhân gia đình, hành chính… là hết sức cần thiết để bảo vệ chứng cứ, ngăn chặn hậu quả có thể xảy ra.

Việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời có thể dưa trên cơ sở đơn đề nghị của một trong các bên đương sự hoặc Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án xét thấy cần thiết thì có thể tự mình ra quyết định áp dụng. Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 113 Bộ luật TTDS và quyết định 120 của Chánh án TANDTC, thì Thẩm phán luôn phải chịu trách nhiệm trong trường hợp áp dụng hay không áp dụng biện pháp này.

Thẩm phán từ chối áp dụng hoặc áp dụng không đúng về thời gian hoặc áp dụng không đầy đủ theo yêu cầu của người đề nghị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì bị xử lý trách nhiệm và Tòa án có thể phải bồi thường thiệt hại nếu có thiệt hại xảy ra. Đây là quy định khó khăn, cản trở hoạt động của các Thẩm phán khi tiến hành tố tụng.

Kết luận hội thảo, Chánh án TANDTC Nguyễn Hòa Bình cho biết: Khẩn cấp tạm thời là biện pháp quan trọng và có ý nghĩa trong việc bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của người dân, bảo đảm thi hành án, thu thập chứng cứ, chống việc trốn tránh các nghĩa vụ mà Luật đã quy định cho Tòa án thẩm quyền thực hiện.

Vừa qua, lãnh đạo TANDTC đã yêu cầu cơ quan chuyên môn tổ chức kiểm tra công tác này tại một số địa phương như Hải Phòng, Hà Nội, Đà Nẵng, Quảng Ninh, TP Hồ Chí Minh. Tất cả những tồn tại, thiếu sót được thống kê để có biện pháp giải quyết kịp thời. Những hạn chế trong công tác do nhiều nguyên nhân khác nhau: do quy định của pháp luật, do thiếu kinh nghiệm, sự hiểu biết pháp luật..

Để khắc phục tình trạng trên cần phải ban hành Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán TANDTC. Hiện đã có Nghị quyết 02 và hai văn bản hướng dẫn thi hành biện pháp này. Nhưng Nghị quyết 02 là hướng dẫn luật cũ, hiện Bộ luật TTDS mới được ban hành cần phải có hướng dẫn thay thế.

Chánh án Nguyễn Hòa Bình cho biết, sẽ ghi nhận và nghiên cứu các ý kiến đóng góp của các đại biểu và tổ chức hoàn thiện dự thảo nghị quyết hướng dẫn này. Trước mắt, cần chấn chỉnh kịp thời những tiêu cực (nếu có) trong công tác này hiện nay.

Biện pháp khẩn cấp tạm thời nếu không được kiểm soát chặt chẽ thì khả năng rủi ro cao. Vì vậy, Chánh án TANDTC đề nghị Chánh án Tòa án cấp tỉnh có biện pháp kịp thời để việc áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời được thực hiện một cách công tâm, khách quan, đúng pháp luật.

Đánh giá hội thảo đã được các đại biểu đóng góp ý kiến rất chất lượng, cung cấp nhiều thông tin quý giá cho ngành Tòa án, Chánh án Nguyễn Hòa Bình yêu cầu cơ quan tham mưu tiếp thu các ý kiến đóng góp của đại biểu để quán triệt trong hội nghị tổng kết công tác ngành Tòa án tới đây.

Theo congly.vn

Nguồn bài viết: https://congly.vn/hoat-dong-toa-an/tieu-diem/hoi-thao-ve-ap-dung-thay-doi-huy-bo-bien-phap-khan-cap-tam-thoi-tai-tand-325022.html

Biện Pháp Ngăn Chặn Là Gì ? Khái Niệm Về Biện Pháp Ngăn Chặn ?

Biện pháp ngăn chặn là biện pháp cưỡng chế về mặt tố tụng áp dụng khi có đủ căn cứ đối với bị can, bị cáo hoặc người chưa bị khởi tố trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang, để ngăn chặn những hành vi nguy hiểm cho xã hội của họ, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật hoặc có hành động gây cản trở cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án.

Biện pháp ngăn chặn được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự gồm: bắt người, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản để bảo đảm. Trước khi ban hành Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988, những biện pháp bắt người, tạm giữ, tạm giam được quy định trong Luật số 103-SL/L.005 ngày 20.5.1957 bảo đảm quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật, thư tín của nhân dân. Luật này không quy định các biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh và đăt tiền hoặc tài sản để bảo đảm là biện pháp ngăn chặn, còn các trường hợp phạm pháp quả tang và trường hợp khẩn cấp được quy định cụ thể trong Sắc luật số 002-SLt ngày 18.6.1957. Trong một thời gian dài, áp dụng các văn bản pháp luật trên đã giúp cho việc đấu tranh chống tội phạm đạt kết quả. Tuy chưa quy định thật đầy đủ các biện pháp ngăn chặn nhưng các văn bản pháp luật trên vẫn là cơ sở đầu tiên để xây dựng và hoàn thiện các biện pháp ngăn chặn trong Bộ luật tố tụng hình sự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1988.

Theo Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn gồm: để kịp thời ngăn chặn tội phạm; khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử, khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ tiếp tục phạm tội; khi cần để bảo đảm thi hành án (Điều 79).

Việc áp dụng biện pháp ngăn chặn phải do người có thẩm quyền quyết định (trừ trường hợp bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã) và bảo đảm đúng các thủ tục do Bộ luật tố tụng hình sự quy định. Khi tiến hành tố tụng, cơ quan điều tra, viện kiểm sát và toà án trong phạm vi trách nhiệm của mình phải thường xuyên kiểm tra tính hợp pháp và sự cần thiết của những biện pháp đã áp dụng, kịp thời hủy bỏ biện pháp ngăn chặn khi thấy không còn cần thiết hoặc có thể thay thế bằng biện pháp ngăn chặn khác (Xf. Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn).

Thực hiện quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về biện pháp ngăn chặn bảo đảm cho việc giải quyết vụ án của cơ quan tiến hành tố tụng được thuận lợi; bảo đảm dân chủ, tôn trọng các quyền cơ bản của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp.

Cập nhật thông tin chi tiết về Hủy Bỏ Hoặc Thay Thế Biện Pháp Ngăn Chặn trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!