Xu Hướng 2/2023 # Hậu Quả Của Việc Già Hoá Dân Số Ở Nhật Bản: Người Cao Tuổi Cố Tình Phạm Tội Để Được An Dưỡng Tuổi Già Trong Nhà Tù # Top 2 View | Phauthuatthankinh.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Hậu Quả Của Việc Già Hoá Dân Số Ở Nhật Bản: Người Cao Tuổi Cố Tình Phạm Tội Để Được An Dưỡng Tuổi Già Trong Nhà Tù # Top 2 View

Bạn đang xem bài viết Hậu Quả Của Việc Già Hoá Dân Số Ở Nhật Bản: Người Cao Tuổi Cố Tình Phạm Tội Để Được An Dưỡng Tuổi Già Trong Nhà Tù được cập nhật mới nhất trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

1. Pháp luật nghiêm khắc ở Nhật Bản

Nhật Bản được biết đến là một trong những đất nước phát triển hàng đầu trên thế giới, đặc biệt con người Nhật Bản sống rất nguyên tắc và rất tôn trọng luật pháp. Chính vì vậy, pháp luật ở đây có những quy định rất nghiêm ngặt, chỉ cần bạn phạm một lỗi nhỏ, hay ăn trộm một món đồ nhỏ cũng sẽ bị bắt.

Một ví dụ, đó là: Theo Quy định pháp luật tại Nhật Bản chỉ cần ăn cấp một chiếc bánh sandwich giá chỉ 200 yên cũng có thể bị phạt tù 2 năm.

2. Chế độ nhà tù “nhân đạo” của Nhật Bản khiến nhiều người muốn được vào tù

– Tại Nhật Bản, chi phí y tế hàng năm tại các cơ sở cải huấn tăng cao, chạm mức 6 tỷ yên (tương đương hơn 50 triệu USD) vào năm 2016, tăng hơn 80% trong – 10 năm qua.

– Môi trường sinh sống của các tù nhân khá tốt.

– Mỗi ngày điều được 3 bữa cơm đầy đủ.

– Được hưởng các chế độ chăm sóc y tế đầy đủ. 

3. Tỷ lệ người cao tuổi phạm tội ở Nhật Bản ngày càng cao

Ngày càng nhiều người trên 65 tuổi phạm pháp. Năm 1997, nhóm tội phạm cao tuổi chỉ chiếm tỉ lệ một trong 20 vụ kết án nhưng 20 năm sau đó, con số này tăng lên một trong 5 vụ. Những người già cao tuổi thường tái phạm. Trong số 2.500 người trên 65 tuổi bị kết án, hơn 1/3 từng có 5 tiền án.

Nhưng phần lớn các vụ phạm pháp này không có gì nguy hểm cả, bởi họ chỉ ăn trộn những vật nhỏ, hoặc đe doạ người khác mà thôi. Có thể nói các người cao tuổi chỉ cố tình vi phạm để được vào tù mà thôi chứ không gây ra các vụ việc nghiêm trọng.

4. Nguyên nhân người cao tuổi ở Nhật Bản cố tình phạm tội để được vào tù

– Giảm bớt gánh nặng cho gia đình:

Hiện tại vấn đề già hoá dân số ở Nhật Bản đang trở thành một vấn đề bức thiết. Số người cao tuổi ngày càng gia tăng, trở thành gánh nặng lớn cho các thế hệ trẻ, áp lực về việc làm và kinh tế khiến họ không có thời gian chăm sóc cho người cao tuổi. Mà tính cách của người Nhật là không muốn làm phiền người khác, cho nên người cao tuổi lựa chọn cố tình phạm pháp để được vào tù sống.

– 40% người cao tuổi Nhật Bản đang sinh sống một mình – cảm giác cô đơn và lạc lỏng:

Cuộc điều tra năm 2017 của chính quyền thành phố Tokyo cho thấy hơn 50% tội phạm ăn trộm thường sống một mình hoặc hiếm khi trò chuyện cùng người thân. Họ cho biết cảm thấy đơn độc mỗi khi gặp khó khăn.

Những phạm nhân trong nhà tù Nhật Bản cho hay, họ không tới mức túng thiếu để phải đi ăn trộm, chỉ vì họ cảm thấy cô đơn và không biết phải đi đâu, làm gì nên họ lựa chọn vào tù. Trong đây họ được quan tâm, chăm sóc và có người cùng tâm sự. 

– Nhà nước chi nhiều ngân sách cho các nhà tù:

Chính Phủ Nhật Bản chi ra 1,7 vnd cho mức sinh hoạt của 1 phạm nhân trong 1 năm. Vì vậy cuộc sống trong nhà tù của mọi người khá là ổn.

Những người cao tuổi khi vào tù sẽ được chăm sóc và quan tâm đầy đủ, ngày 3 bữa, không phải sống cô đơn và khổ cực như bên ngoài xã hội.

– Người cao tuổi xem nhà tù trở thành nơi an dưỡng tuổi già khi cuối đời: 

Dù Nhà Nước đã thực hiện nhiều biện pháp nhằm hỗ trợ, chăm sóc cho người cao tuổi. Tuy nhiên mức độ già hoá dân số tăng quá nhanh, vẫn không đủ để hỗ trợ tất cả. 

Phạm pháp để vào tù đã trở thành xu hướng của hầu hết người cao tuổi ở Nhật. Thậm chí có những người sau khi hết hạn ra tù, họ vẫn tiếp tục vi phạm để được trở lại nhà tù.

Có thể nói rằng, người già đã xem nhà tù như một nơi an dưỡng cuối đời của họ. 

5. Tình trạng đáng báo động cho xã hội Nhật Bản

– Nếu tình trạng những người cao tuổi phạm pháp không giảm đi thì các nhà tù ở Nhật Bản sẽ lâm vào tình trạng khủng hoảng vì quá tải.

– Chính Phủ Nhật phải mở rộng thêm diện tích các nhà tù, thuê thêm các quản giáo cũng như phải chi thêm nhiều khoản tiền cho các dịch vụ y tế để chăm sóc cho người cao tuổi.

– Quản giáo phải trở thành điều dưỡng viên để chăm sóc cho người cao tuổi trong tù.

Chính vì thực trạng cũng như hệ luỵ mà vấn đề già hoá dân số gây ra đã ảnh hưởng trầm trọng đến sự cân bằng trong xã hội. Nhật Bản cần phải nhanh chóng tìm ra biện pháp để giải quyết vấn đề này càng sớm càng tốt. 

Gltt Về Chăm Sóc Người Cao Tuổi, Thích Ứng Với Già Hóa Dân Số: Lo Cho Tuổi Già Ngay Từ Khi Còn Trẻ

KÍNH MỜI BẠN ĐỌC THEO DÕI CÂU TRẢ LỜI CỦA CÁC CHUYÊN GIA KHÁCH MỜI DƯỚI CHÂN BÀI VIẾT NÀY.

Việt Nam hiện có hơn 10 triệu người cao tuổi (NCT), dự báo đến năm 2030, nước ta sẽ có gần 19 triệu và năm 2050 là hơn 28 triệu NCT. Sự chuyển đổi nhân khẩu học này mang đến những cơ hội và cả những thách thức lớn, tác động đến mọi mặt của đời sống kinh tế – xã hội của quốc gia và từng địa phương, cộng đồng và mỗi gia đình.

Với đời sống kinh tế – xã hội và hệ thống y tế phát triển, tuổi thọ của người Việt Nam đã tăng cao, với mức trung bình là 75,6 tuổi, đứng thứ hai trong khu vực và đứng thứ 56 trên thế giới. Tuy nhiên, gánh nặng bệnh tật của người Việt cũng lớn, thời gian đau ốm trong cả cuộc đời khoảng 15,3 năm. Hiện nay, chúng ta đang phải đối diện với gánh nặng bệnh tật kép, trung bình một NCT Việt Nam mắc 3 bệnh với khoảng 95% NCT có bệnh, chủ yếu là bệnh mãn tính không lây truyền. Trong khi đó, hệ thống chăm sóc sức khỏe NCT chưa đáp ứng những nhu cầu ngày càng tăng của NCT.

Bên cạnh những khó khăn trong chăm sóc sức khỏe thì một khó khăn lớn nhất có thể thấy được là đời sống vật chất của NCT Việt Nam còn thấp. Có tới 68% NCT Việt Nam chủ yếu sống ở nông thôn, là nông dân và làm nông nghiệp. 72,3% số NCT sống cùng với con cháu, trong khi xu hướng quy mô gia đình Việt Nam đang chuyển dần từ gia đình truyền thống sang gia đình hạt nhân. Tình trạng NCT sống không có vợ/chồng chiếm tỷ lệ cao, số cụ bà cô đơn cao gấp 5,44 lần so với cụ ông; phụ nữ cao tuổi sống ly hôn, ly thân gấp 2,2 lần so với nam giới. Với sức khỏe của NCT còn nhiều hạn chế, thì việc phải sống một mình là một điều rất bất lợi với NCT, bởi gia đình luôn là chỗ dựa cơ bản cho mỗi thành viên khi về già.

Già hóa dân số tác động sâu sắc tới mọi khía cạnh của cá nhân, cộng đồng, quốc gia. Điều này đòi hỏi hệ thống an sinh xã hội và chăm sóc sức khỏe cho NCT cần được tiến hành toàn diện. Để làm được điều đó, không chỉ ngành DS-KHHGĐ mà cần có sự vào cuộc của các Bộ, ngành, đoàn thể, nhằm thích ứng với một xã hội già hóa dân số, đáp ứng tốt nhất nhu cầu chăm sóc sức khỏe, nâng cao chất lượng cuộc sống của NCT.

Sự chuyển đổi nhân khẩu học do “già hóa” dân số đang và sẽ tạo ra những tác động rất lớn đến mọi hoạt động của đời sống kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia, dân tộc như sự tăng trưởng kinh tế; lao động việc làm; chăm sóc y tế; an sinh xã hội; sự chuyển dịch các dòng di cư; thiết kế hạ tầng. Do đó, để xây dựng xã hội thích ứng với “già hóa” dân số, trước hết cần thay đổi nhận thức của người dân về NCT, nghĩa là NCT không phải là gánh nặng mà một nguồn lực của gia đình, cộng đồng. Theo đó, “già hóa” dân số vừa là thách thức nhưng cũng đem lại những cơ hội không nhỏ đối với sự phát triển của mỗi quốc gia.

Vì thế, để cung cấp một bức tranh về thực trạng, các giải pháp cần thiết và kịp thời để chăm sóc NCT, nhằm thích ứng với xã hội già hoá, góp phần nâng cao chất lượng sống và phát huy vai trò của NCT đối với gia đình, cộng đồng, xã hội, các chuyên gia đã trả lời các câu hỏi giao lưu cùng bạn đọc. Vì thời lượng chương trình có hạn nên các chuyên gia đã giải đáp những câu hỏi gửi đến sớm nhất và có nội dung bao trùm. Các câu hỏi còn lại xin hẹn quý bạn đọc trong chương trình giao lưu sau. Quý bạn đọc vui lòng theo dõi các câu hỏi đã được trả lời ở phần giao lưu ngay phía dưới.

DƯỚI ĐÂY LÀ CÁC CÂU TRẢ LỜI CỦA CHUYÊN GIA KHÁCH MỜI THAM GIA GIAO LƯU.

Bài Toán “Chăm Sóc Người Cao Tuổi, Thích Ứng Với Già Hóa Dân Số”

Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, với đời sống kinh tế – xã hội và hệ thống y tế phát triển, tuổi thọ của người Việt Nam đã tăng cao, với mức trung bình là 75,6 tuổi, đứng thứ hai trong khu vực và đứng thứ 56 trên thế giới. Tuy nhiên, gánh nặng bệnh tật của người Việt cũng lớn, thời gian đau ốm trong cả cuộc đời khoảng 15,3 năm. Hiện nay, chúng ta đang phải đối diện với gánh nặng bệnh tật kép, trung bình một người cao tuổi Việt Nam mắc 3 bệnh với khoảng 95% người cao tuổi có bệnh.

Bên cạnh những khó khăn trong chăm sóc sức khỏe thì một khó khăn lớn nhất có thể thấy được là đời sống vật chất của người cao tuổi Việt Nam còn thấp. Có tới 68% người cao tuổi Việt Nam chủ yếu sống ở nông thôn, là nông dân và làm nông nghiệp. 72,3% số người cao tuổi sống cùng với con cháu, trong khi xu hướng quy mô gia đình Việt Nam đang chuyển dần từ gia đình truyền thống sang gia đình hạt nhân. Tình trạng người cao tuổi sống không có vợ/chồng chiếm tỷ lệ cao, số cụ bà cô đơn cao gấp 5,44 lần so với cụ ông; phụ nữ cao tuổi sống ly hôn, ly thân gấp 2,2 lần so với nam giới. Với sức khỏe của người cao tuổi còn nhiều hạn chế, thì việc phải sống một mình là một điều rất bất lợi với người cao tuổi, bởi gia đình luôn là chỗ dựa cơ bản cho mỗi thành viên khi về già.

Dân số già sẽ đi đôi với việc chi tiêu nhiều hơn cho chăm sóc sức khỏe, hưu trí, trợ cấp, an sinh xã hội… trong khi thời gian để Việt Nam chuẩn bị thích ứng với dân số già ngắn hơn nhiều so với các nước khác, dẫn đến mức tích lũy của quốc gia không đáp ứng kịp nhu cầu của xã hội. Bên cạnh đó, đa phần người cao tuổi không có tích lũy vật chất, 70% vẫn phải làm việc kiếm sống, trong khi người cao tuổi rất dễ bị tổn thương với những rủi ro kinh tế, xã hội khi con cái không có việc làm và cuộc sống ổn định. cơ cấu và mô hình bệnh tật người cao tuổi nước ta hiện nay đang thay đổi theo xu hướng bệnh không lây nhiễm, các bệnh mãn tính như các bệnh về xương khớp, hô hấp, tim mạch, cao huyết áp, đột quỵ, tiểu đường, rối loạn chuyển hóa…tăng nhanh, dẫn đến chi phí chăm sóc y tế rất cao và tất yếu tạo thêm áp lực quá tải cho các bệnh viện vốn chưa được giải quyết dứt điểm. Những vấn đề này đòi hỏi cần phải xây dựng những chính sách phù hợp cho người cao tuổi để đối phó với việc dân số già hóa nhanh hơn dự báo.

Chia sẻ về vấn đề này, BS Mai Xuân Phương, Phó Vụ trưởng Vụ Truyền thông giáo dục, Tổng cục DS-KHHGĐ cho biết, nếu không có các biện pháp ứng phó với già hóa dân số nêu trên, chúng ta sẽ phải đối mặt với những lo lắng sau:

– Tuổi thọ khỏe mạnh của người Việt sẽ càng ngắn lại bởi qua khảo sát trung bình mỗi người cao tuổi nước ta phải chịu 14 – 15 năm bệnh tật trong cuộc sống của mình. 95% người cao tuổi có bệnh, chủ yếu là các bệnh mãn tính như tim mạch, huyết áp, đột quỵ, ung thư, đái tháo đường… Trung bình 1 người cao tuổi mắc 3 bệnh trở lên. Con số trên sẽ ngày càng gia tăng nếu như không có biện pháp kịp thời.

– Bên cạnh đó, tỉ lệ người cao tuổi sống cô đơn sẽ ngày càng lớn chủ yếu là các cụ bà. Điều kiện sống phần lớn của người cao tuổi đang hết sức khó khăn lại càng khó khăn hơn. Bởi vì chủ yếu họ sống dựa vào sự chăm sóc của xã hội, con cháu hoặc tự làm việc mà không có hỗ trợ. Với 30% người cao tuổi có lương hưu hoặc trợ cấp từ ngân sách nhà nước và số còn lại phụ thuộc vào con cháu và khả năng lao động của bản thân. 30% không có BHYT, quỹ hưu trí, tử tuất của BHXH Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều thách thức rất lớn. Con số này sẽ tiếp tục gia tăng nếu như không có những giải pháp tích cực.

– Thêm nữa, hệ thống chăm sóc sức khỏe người cao tuổi chưa bắt kịp với sự biến đổi nhân khẩu học tại tuyến trung ương mới chỉ có 1 bệnh viện lão khoa, các tuyến tỉnh, huyện và chăm sóc sức khỏe ban đầu hầu như chưa bắt kịp với xu hướng này. Các nhà khoa học đã tính toán nếu như chăm sóc y tế cho 1 đứa trẻ cần 1 đồng thì chăm sóc y tế cho người cao tuổi cần tới 8 đồng. Các chuyên gia cũng đã khuyến cáo VN cần chuẩn bị tiềm lực kinh tế phát triển an sinh xã hội để mang lại cuộc sống hạnh phúc cho người cao tuổi. Đồng thời phải có chiến lược dài hạn làm chậm thời gian chuyển đổi từ già hóa dân số sang dân số già.

Già hóa dân số tác động sâu sắc tới mọi khía cạnh của cá nhân, cộng đồng, quốc gia. Điều này đòi hỏi hệ thống an sinh xã hội và chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi cần được tiến hành toàn diện. Để làm được điều đó, không chỉ ngành DS-KHHGĐ mà cần có sự vào cuộc của các Bộ, ngành, đoàn thể, nhằm thích ứng với một xã hội già hóa dân số, đáp ứng tốt nhất nhu cầu chăm sóc sức khỏe, nâng cao chất lượng cuộc sống của người cao tuổi.

Sự chuyển đổi nhân khẩu học do “già hóa” dân số đang và sẽ tạo ra những tác động rất lớn đến mọi hoạt động của đời sống kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia, dân tộc như sự tăng trưởng kinh tế; lao động việc làm; chăm sóc y tế; an sinh xã hội; sự chuyển dịch các dòng di cư; thiết kế hạ tầng. Do đó, để xây dựng xã hội thích ứng với “già hóa” dân số, trước hết cần thay đổi nhận thức của người dân về người cao tuổi, nghĩa là người cao tuổi không phải là gánh nặng mà một nguồn lực của gia đình, cộng đồng. Theo đó, “già hóa” dân số vừa là thách thức nhưng cũng đem lại những cơ hội không nhỏ đối với sự phát triển của mỗi quốc gia.

BS Mai Xuân Phương, Phó Vụ trưởng Vụ Truyền thông giáo dục, Tổng cục DS-KHHGĐ cho rằng với những lo lắng trên, nhiệm vụ quan trọng tới đây, cần phải thực hiện 6 nhiệm vụ trọng yếu sau:

– Duy trì vững chắc mức sinh thay thế.

– Giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh

– Phát huy lợi thế cơ cấu dân số vàng

– Thích ứng với quá trình già hóa dân số

– Phân bổ quy mô dân số hợp lý

– Nâng cao chất lượng dân số

Đó chính là góp phần thực hiện tốt chính sách dân số trong tình hình mới nói chung và chăm sóc người cao tuổi tốt hơn nói riêng.

ad syt ad

Dân Số Nhật Bản Đang Già Hóa, Người Nhật Đang Có Giải Pháp Tăng Dân Số

Dân số Nhật Bản Ở giai đoạn hiện nay đang dần già hóa, Nhật Bản đang có các giải pháp cùng cải thiện tình trạng trên.

Theo tổng hợp từ kết quả điều tra của Doanh nghiệp tương trợ giải quyết vấn đề giảm sút tỷ lệ sinh có văn phòng tại Tokyo Nhật Bản đã ban bố ngày 30/5 cho thấy, có 81,1% người Nhật Bản muốn có trên 2 con, tăng hơn 80% so cùng năm 2015.

Tuy nhiên, có 70% người được hỏi tỏ ra hơi ngập ngừng bởi họ chỉ sinh con thứ hai khi chọn được nhà trẻ cùng Tiêu chí kinh tế cho phép.

Đây là kết quả cuộc cuộc khảo sát được thực hiện hồi cuối tháng 4 vừa qua thông qua mạng internet, cuộc thăm dò thực hành thăm dò với 3.000 người đã thành thân trên toàn Nhật Bản. Khi được hỏi về số lượng con cái tuyệt vời (không hệ trọng đến những Kế hoạch sinh con trong thực tế), thì đã có 47,8% muốn sinh hai đứa con và 29,3% muốn sinh 3 đứa con. Tỷ lệ số người muốn có trên hai con đạt mức cao nhất kể từ cuộc điều tra năm 2013.

Tìm hiểu thêm về thông tin xuất khẩu lao động Nhật Bản, thông tin này chỉ dành cho những ai muôn đi sang nước Nhật làm việc để kiếm thu nhập cao

Có 73,5 % người được hỏi “những cạnh tranh lúc có người con thứ 2 hoặc thứ 3” thì 84,4% là do kinh tế cùng 43% là bởi vì tuổi tác. và thời khắc đó có 40% người Nhật trả lời chỉ muốn có một con giả dụ như thường tìm được trường mầm non.

Chủ tịch điều hành Akiyama Kai chia sẻ : “Kinh tế tiến triển rẻ làm sự mong muốn có con tăng cao. phải lên chương trình xã hội pha môi trường thuận lợi cho việc nuôi dạy con”. Nhật Bản là một trong những nước có tỷ lệ người già cao nhất thế giới, hiện tượng không đủ nguồn lao động, không đủ các làm việc trẻ nhỏ càng ngày trở thành mối lo ngại với Nhật Bản.

Thông tin này được công ty xuất khẩu lao động uy tín tại tphcm cung cấp, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn hiểu rõ hơn về tình hình nước Nhật Bản nói chung và dân số nước Nhật Bản riêng hiện nay.

Rate this post

Cập nhật thông tin chi tiết về Hậu Quả Của Việc Già Hoá Dân Số Ở Nhật Bản: Người Cao Tuổi Cố Tình Phạm Tội Để Được An Dưỡng Tuổi Già Trong Nhà Tù trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!