Xu Hướng 2/2024 # Giải Pháp Phát Triển Giao Thông Nông Thôn # Top 5 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Giải Pháp Phát Triển Giao Thông Nông Thôn được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Làm đường giao thông nông thôn ở vùng cao Trạm Tấu.

Điều thuận lợi là UBND tỉnh đã phê duyệt đề án phát triển giao thông nông thôn miền núi (GTNT-MN) giai đoạn 2010 – 2024. Bên cạnh đó, đối với các xã hiện nay đã được quy hoạch tổng thể và chi tiết, đây sẽ là yếu tố quan trọng để phát triển cơ sở hạ tầng nói chung và giao thông nói riêng, tránh chồng chéo, phải làm đi làm lại. Với tiêu chí cụ thể sẽ thống nhất về quy mô, tiêu chuẩn kỹ thuật theo đúng quy hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Để mạng lưới giao thông phát triển rất cần sự quan tâm tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền và các tổ chức chính trị xã hội từ tỉnh đến cơ sở.

Vì vậy, việc huy động các nguồn lực cho đầu tư phát triển GTNT phải được thống nhất cao trong toàn Đảng bộ, chính quyền và nhân dân, trong đó đối với các xã, nhất là các xã được lựa chọn xây dựng NTM phải có các nghị quyết chuyên đề về công tác phát triển GTNT.

Trong quá trình tổ chức thực hiện, các cấp chính quyền phải xây dựng các cơ chế, chính sách và hình thức huy động linh hoạt phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa phương.

Để huy động các nguồn lực cho đầu tư phát triển GTNT cần có sự vào cuộc của các tổ chức chính trị như: Mặt trận Tổ quốc, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên bởi đây chính là lực lượng nòng cốt trong công tác vận động, tuyên truyền giúp nhân dân hiểu được tầm quan trọng của công tác đầu tư phát triển hạ tầng GTNT đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội và tăng cường quốc phòng- an ninh chuyển dịch cơ cấu kinh tế xoá đói, giảm nghèo mà tự nguyện tham gia đóng góp xây dựng.

Theo đó phải đẩy mạnh phong trào Nhà nước và nhân dân cùng làm, một mặt tranh thủ nguồn lực trong dân, mặt khác nâng cao trách nhiệm của nhân dân trong việc phát triển hạ tầng GTNT ở địa phương.

Ông Trần Thanh Trúc – Chủ tịch UBND Lâm Thượng (Lục Yên), một xã đang triển khai xây dựng NTM cho biết: Những tuyến đường trong xã chỉ rộng 1 – 2m, để mở rộng các tuyến đường thôn, bản thì xã không có kinh phí để đền bù giải phóng mặt bằng. Do vậy, xã tuyên truyền vận động người dân của 19 thôn tự nguyện hiến đất làm đường.

Theo tiêu chí xây dựng nông thôn mới tại một xã thì tỷ lệ km đường trục xã, liên xã được nhựa hóa hoặc bê tông hóa đạt chuẩn theo cấp kỹ thuật của Bộ Giao thông vận tải đạt 100%; tỷ lệ đường trục thôn, xóm được cứng hóa đạt chuẩn theo cấp kỹ thuật của Bộ đạt 50%; tỷ lệ km đường ngõ, xóm sạch và không lầy lội vào mùa mưa 100% (trong đó 50% cứng hóa); tỷ lệ km đường trục chính nội đồng được cứng hóa, xe cơ giới đi lại thuận tiện là 50%.

Trên thực tế, do các xã đều có địa bàn rộng, dân cư thưa thớt, địa hình phức tạp… nên nhu cầu vốn cho phát triển giao thông rất lớn, do đó cần có nhiều hình thức huy động vốn phát triển kết cấu hạ tầng GTNT-MN. Cụ thể đối với 1 km đường có dự toán từ 1,3 – 1,5 tỷ đồng, nếu tính tỷ lệ mỗi khẩu có thể phải đóng góp tới vài triệu đồng, đối với mức thu nhập của nông dân hiện nay là rất khó.

Do vậy, hàng năm các huyện, thị xã, thành phố cân đối bố trí một phần ngân sách làm công tác chuẩn bị đầu tư các dự án phù hợp với quy hoạch phát triển GTNT và quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội của địa phương làm cơ sở để báo cáo các Bộ, ngành Trung ương hỗ trợ vốn phát triển GTNT bằng các chương trình phát triển của Trung ương, vốn vay ODA và vốn viện trợ không hoàn lại của các tổ chức quốc tế.

Bên cạnh đó, hàng năm tỉnh nên bố trí một phần vốn ngân sách và vốn vay tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước để thực hiện chương trình kiên cố hoá đường GTNT.

Các huyện, thị xã, thành phố phấn đấu tăng thu ngân sách theo kế hoạch được giao và tổ chức xây dựng các khu dân cư mới, khu đô thị mới tổ chức đấu giá tạo kinh phí đầu tư xây dựng và bảo trì các công trình GTNT trên địa bàn các địa phương.

Cùng với sự đóng góp của người dân theo tỷ lệ, cần huy động các tổ chức, doanh nghiệp trên địa bàn cùng vào cuộc giúp giảm mức đóng góp của người dân. Bà Lê Thị Lụa – Chủ tịch UBND xã Việt Thành (Trấn Yên) cho biết: Để giảm bớt mức đóng góp của người dân trong cùng một lúc, xã quy hoạch tuyến xây dựng kế hoạch thực hiện từng năm; tổ chức họp dân để cùng bàn mức đóng góp phù hợp với điều kiện kinh tế và khả năng của người dân.

Quan trọng nhất là quá trình thực hiện phải công khai, minh bạch và để người dân tự giám sát toàn bộ công trình. Giống như Việt Thành, xã Đại Phác, huyện Văn Yên cũng có cách làm khá hiệu quả, đó là việc đóng góp làm đường giao thông thực hiện hàng năm với sự đóng góp của 100% hộ dân trong xã. Nhờ đó, mỗi năm xã kiên cố hóa từ 1 – 2 km đường giao thông.

Có thể nói, xây dựng nông thôn mới là một chương trình lớn, góp phần làm thay đổi bộ mặt nông thôn cũng như đời sống của người dân, trong đó xây dựng mạng lưới giao thông là một mắt xích trong tổng thể đó bởi giao thông là yếu tố tiên quyết đến việc thành bại của cả chương trình.

Vì vậy, các cấp, các ngành công việc này cần tiếp tục quan tâm vừa thực hiện vừa rút kinh nghiệm để thực hiện thành công chương trình xây dựng nông thôn mới bắt đầu từ những tuyến đường giao thông liên thôn, bản.

Nhóm P.V Kinh tế

Phát Triển Giao Thông Nông Thôn, Điểm Tựa Trong Xây Dựng Nông Thôn Mới

Đối với nhiệm vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn, Đại hội XII của Đảng nhấn mạnh: Tập trung thực hiện đồng bộ, hiệu quả các giải pháp phát triển nông nghiệp bền vững, xây dựng NTM và cải thiện đời sống của nông dân. Khu vực nông thôn nước ta chiếm vị trí đặc biệt quan trọng trong xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, đến năm 2024 có 65,5% dân số cả nước sinh sống ở nông thôn với hơn 63 triệu người. Đây là nơi cung cấp lương thực, thực phẩm bảo đảm an ninh lương thực quốc gia; cung cấp nông sản cho xuất khẩu, thu ngoại tệ, tạo điều kiện cho phát triển KT-XH. Nông nghiệp phát triển tạo tiền đề cho phát triển toàn bộ nền kinh tế trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đặc biệt, khu vực nông thôn là địa bàn quan trọng bảo đảm quốc phòng-an ninh, bảo đảm sự ổn định của toàn bộ hệ thống chính trị, đồng thời là nơi góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc.

Để hoàn thành mục tiêu xây dựng NTM, một trong những tiêu chí quan trọng là hoàn thiện hệ thống hạ tầng GTNT. Tuy nhiên thực tế, giai đoạn trước năm 2010, hệ thống đường GTNT (bao gồm đường huyện trở xuống) chưa được quan tâm đúng mức. Một số loại đường như: Ngõ xóm, nội đồng… chưa được xem xét, đánh giá, chiều dài cũng như tỷ lệ cứng hóa còn rất thấp. Số liệu thống kê của Bộ Giao thông vận tải (GTVT) cho thấy, chiều dài đường GTNT năm 2010 là 270.950km, cứng hóa được hơn 101.800km, chỉ đạt 37,6%. Có 143 xã chưa có đường ô tô đến trung tâm xã, 331 xã đã có đường ô tô nhưng chưa được kiên cố hóa, chưa đi lại được bốn mùa, còn bị gián đoạn khi có thiên tai, mưa lũ. Theo đánh giá của cơ quan chức năng, hệ thống đường nông thôn chưa theo kịp với tốc độ phát triển và tiềm lực của các vùng kinh tế sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, chưa được phủ kín và chưa có sự kết nối liên hoàn với quốc lộ, tỉnh lộ, nhất là vùng sâu, vùng xa, miền núi, biên giới, hải đảo. Đường nông thôn nhiều nơi chỉ có một làn xe, tiêu chuẩn kỹ thuật còn thấp, công tác bảo đảm an toàn giao thông còn nhiều bất cập. Nhìn chung, chất lượng đường GTNT ở nhiều địa phương chưa cao, chưa tạo thuận tiện cho đi lại, vận chuyển hàng hóa, ảnh hưởng lớn đến đời sống người dân.

Cùng với việc đầu tư nâng cấp, cải tạo, xây mới các tuyến đường GTNT, một trong những vấn đề cần được quan tâm hiện nay là chú trọng công tác bảo trì, bảo dưỡng. Đặc biệt, ở một số khu vực đang chịu ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu như Đồng bằng sông Cửu Long, nhiều tuyến đường xuất hiện sụt lún, sạt lở, hư hỏng. Nếu gặp thiên tai, mưa lũ, kết cấu hạ tầng GTNT có thể bị tàn phá nặng nề, nguy cơ kéo lùi những kết quả xây dựng NTM đã đạt được. Để bảo đảm chất lượng đường GTNT, theo Bộ GTVT, UBND các cấp cần cân đối ngân sách, bổ sung thêm kinh phí bảo trì, bảo đảm chi phí duy tu, bảo dưỡng với mức ít nhất 3 triệu đồng/km/năm đối với đường xã; 10 triệu đồng/km/năm với đường huyện, 25 triệu đồng/km/năm với đường tỉnh và xem xét trợ giúp kinh phí duy tu, bảo dưỡng đường thôn xóm, trục chính nội đồng. Bên cạnh đó, cần phát huy mô hình tự quản đường GTNT như các tổ, khối, xóm, tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức xã hội tham gia tự quản. Phát động phong trào toàn dân cùng chung tay quản lý, bảo trì đường GTNT. Đồng thời xây dựng cơ chế, chính sách, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, cộng đồng thực sự làm chủ trong xây dựng NTM, bảo đảm công khai, minh bạch và trách nhiệm.

Mặc dù đã đạt được những kết quả tích cực nhưng hệ thống GTNT ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo của nước ta vẫn còn nhiều khó khăn. Cả nước còn 13 xã chưa có đường ô tô đến trụ sở UBND xã, 101 xã có đường ô tô đến trụ sở UBND xã nhưng không đi lại được cả bốn mùa, rất nhiều xã chưa cứng hóa được lớp mặt đường nên việc đi lại còn khó khăn, nhất là trong mùa mưa lũ. Do vậy, để hoàn thành Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM giai đoạn tiếp theo, công tác xây dựng kết cấu hạ tầng GTNT tiếp tục đòi hỏi các cấp, các ngành triển khai sâu rộng trong thời gian tới. Đến nay đã có hơn 5.600 trên tổng số gần 9.000 xã của cả nước, tương đương 63,2% số xã đạt tiêu chí về GTNT trong xây dựng NTM. Mục tiêu phấn đấu đến năm 2025, tỷ lệ này được nâng lên 75% và đến năm 2030 đạt 95%.

Dự kiến, tổng nhu cầu vốn để hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ xây dựng, bảo trì GTNT giai đoạn 2024-2025 lên đến hơn 388.000 tỷ đồng. Để huy động được nguồn lực rất lớn này cần tiếp tục kêu gọi nguồn vốn trong nước, vốn ODA đầu tư cho GTNT. Cần kịp thời ban hành các cơ chế, chính sách, bao gồm cả chính sách tín dụng cho doanh nghiệp để thu hút nhà đầu tư tham gia phát triển hệ thống GTVT tại vùng nông thôn, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, những nơi khó khăn về điều kiện tự nhiên. Cân đối các nguồn lực hợp lý, có chính sách thỏa đáng để động viên, khơi dậy phong trào xây dựng đường GTNT tại các địa phương là một trong những bài học kinh nghiệm thành công của giai đoạn vừa qua và hứa hẹn sẽ tiếp tục là động lực chính để mục tiêu phát triển hạ tầng GTNT sớm về đích.

MẠNH HƯNG

Triển Khai Hiệu Quả Các Giải Pháp Phát Triển Nông Nghiệp, Nông Thôn

Đây là lần thứ hai trả lời chất vấn trước QH, với kinh nghiệm trong quản lý, điều hành, Bộ trưởng đã nắm chắc vấn đề, thông tin được thực trạng, số liệu, minh chứng rất cụ thể, nêu rõ các tồn tại, hạn chế của ngành trong thời gian vừa qua và có những giải thích, lý giải về các nguyên nhân khách quan, chủ quan cho những tồn tại, bất cập, đưa ra giải pháp thực hiện và trách nhiệm của ngành cũng như trách nhiệm của Bộ trưởng. Các đại biểu ghi nhận sự nỗ lực và những kết quả tích cực của ngành nông nghiệp, sự chỉ đạo, điều hành của Bộ trưởng và mong muốn Bộ trưởng tiếp tục nâng cao trách nhiệm, có kế hoạch cụ thể để khắc phục tồn tại, hạn chế trong lĩnh vực này đã được nêu trong phiên chất vấn.

Tiếp tục triển khai Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng Nông thôn mới giai đoạn 2024-2025 với các chỉ tiêu cụ thể, phát huy được các kết quả của giai đoạn trước, đi vào chiều sâu, thực chất, gắn với các giải pháp phát triển bền vững, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, thúc đẩy sản xuất phát triển theo hướng hiện đại, bền vững; có giải pháp để thu hẹp khoảng cách về kinh tế – xã hội, nhất là về y tế, văn hóa giữa các khu vực trong xây dựng nông thôn mới.

Tiếp tục triển khai Nghị quyết 32 của QH về tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp; nghiên cứu để điều chỉnh các tiêu chí xây dựng nông thôn mới cho phù họp với thực tế vùng, miền, tăng cường nguồn lực, chính sách cho vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa, khu căn cứ cách mạng.

Tiếp tục đẩy mạnh tái cơ cấu trong nông nghiệp, thực hiện liên kết trong sản xuất, hình thành cơ cấu sản xuất lớn, sản xuất theo chuỗi; thực hiện các giải pháp khuyến khích và thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nhất là ở khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa; khuyến khích thành lập, nhân rộng mô hình hợp tác xã kiểu mới theo Luật Hợp tác xã; phát triển nền nông nghiệp theo hướng hiện đại, bền vững; sản xuất hàng hóa lớn, áp dụng khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo để tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả, cải thiện và ngày càng nâng cao đời sống nông dân; xây dựng nông thôn văn minh hiện đại.

Làm tốt công tác kiểm nghiệm, chứng nhận sản phẩm; giám sát chất lượng sản phẩm nông nghiệp nhất là kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng hóa chất, chất kháng sinh, thuốc trừ sâu trong sản xuất nông nghiệp; quản lý chặt chẽ việc chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp; đẩy mạnh triển khai bảo hiểm trong nông nghiệp, xây dựng mô hình bảo hiểm mới phù hợp với các loại hình sản xuất nông nghiệp.

Làm tốt công tác dự báo, công tác quy hoạch, rà soát lại diện tích, chủng loại cây trồng, vật nuôi gắn với nhu cầu thị trường và xuất khẩu, giảm diện tích các loại nông sản không hiệu quả, nhu cầu không còn cao; chú trọng vào khâu chế biến, tổ chức thị trường; nâng cao tính cạnh tranh và giá trị của các sản phẩm nông sản có thế mạnh; chủ động ứng phó với tình trạng được mùa, mất giá và cả mất mùa, mất giá theo nguyên tắc thị trường; chú trọng phát triển thị trường trong nước, thúc đẩy thị trường truyền thống, thị trường lớn, chủ động tìm kiếm thị trường mới, tiềm năng.

Có giải pháp cụ thể để xây dựng thương hiệu các sản phẩm nông nghiệp, nhất là đối với gạo, trái cây và nông sản Việt Nam; nâng cao giá trị sản phẩm Quốc gia, sản phẩm vùng và địa phương; tăng hiệu quả cho người trồng lúa; tái cơ cấu về diện tích, loại cây nông nghiệp có lợi thế, ưu tiên các nhóm có lợi thế, giá trị cao gắn với nhu cầu của thị trường; tập trung sản xuất phân hữu cơ, quản lý chất lượng phân bón ở cơ sở.

Khẩn trương ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Chăn nuôi. Rà soát, đánh giá hệ thống quản lý nhà nước về thú ý, hệ thống dịch vụ thú y để bảo đảm hiệu quả của công tác phòng chống dịch bệnh. Tập trung triển khai quyết liệt và đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp phòng, chống các dịch bệnh, đặc biệt là dịch tả lợn Châu Phi, chủ động xây dựng kế hoạch tổng thể và kịch bản phòng, chống dịch bệnh, bảo vệ môi trường và chú trọng bảo đảm nguồn thực phẩm đáp ứng yêu cầu của thị trường và công tác tái đàn sau dịch; đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện hồ sơ hỗ trợ chống dịch bệnh, xử lý nghiêm việc trục lợi trong triển khai thực hiện các chính sách hỗ trợ trog nông nghiệp.

Triển khai thực hiện có hiệu quả các quy định của Luật Thủy sản và Quy hoạch tổng thể phát triển thủy sản đến năm 2024, tầm nhìn 2030. Tiếp tục cơ cấu lại ngành thủy sản, cơ cấu lại hoạt động khai thác, phương tiện đánh bắt phù hợp với sản lượng, ưu tiên cho phương thức nuôi biển đáp ứng yêu cầu của thị trường; kiểm soát được việc đánh bắt xa bờ, phối hợp chặt chẽ với các ngành, các địa phương đưa việc đánh bắt xa bờ vào nề nếp, đúng pháp luật Việt Nam và quốc tế để nhanh chóng rút được Thẻ vàng của EC; đẩy nhanh tiến độ gắn thiết bị giám sát hành trình tàu cá, nâng cao trang thiết bị, từng bước hiện đại phương tiện đánh bắt nhất là phương tiện bảo quản sản phẩm sau đánh bắt; cải thiện, nâng cao chất lượng hệ thống cảng cá, khu neo trú tàu, thuyền.

Rà soát, tổng kết toàn diện việc tổ chức thực hiện Nghị định 67; có các giải pháp hiệu quả về tín dụng để giảm nợ xấu trong hỗ trợ hoạt động khai thác hải sản, hoàn thiện cơ chế hỗ trợ mới; chấn chỉnh, xử lý nghiêm các hành vi lợi dụng các chính sách hỗ trợ trong đánh bắt để trục lợi.

Cuối buổi chiều ngày 06/11, Quốc hội bắt đầu tiến hành chất vấn Bộ trưởng Bộ Công thương Trần Tuấn Anh về Nhóm vấn đề thứ hai thuộc lĩnh vực công thương.

6 Nhóm Giải Pháp Phát Triển Ngành Nông Nghiệp Và Nông Thôn

Việc triển khai thực hiện tái cơ cấu nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới trong thời gian qua đang bộc lộ những hạn chế. Đó là quá trình phát triển sản xuất còn kém bền vững, dễ bị tổn thương trước tác động của thiên tai, dịch bệnh và diễn biến bất lợi của thị trường trong và ngoài nước.

Chất lượng, khả năng cạnh tranh và hiệu quả sản xuất của nhiều loại nông sản còn thấp, hiệu quả chưa cao; đổi mới tổ chức sản xuất còn nhiều bất cập, chưa theo kịp yêu cầu của nền sản xuất hàng hóa lớn; các hình thức hợp tác, liên kết sản xuất phát triển chậm, hiệu quả chưa ổn định; kinh tế hộ nhỏ lẻ, ruộng đất sản xuất manh mún ngày càng bộc lộ những hạn chế, yếu kém và cản trở quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Do đó, mục tiêu chính của ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn trong những năm tới là phát triển bền vững theo 3 trụ cột kinh tế, xã hội và môi trường, cụ thể là: Thực hiện tái cơ cấu, xây dựng nền nông nghiệp hiện đại, giá trị gia tăng và hiệu quả cao; xây dựng nông thôn mới, nâng cao thu nhập, cải thiện điều kiện sống của dân cư nông thôn; phát triển kết cấu hạ tầng, nâng cao năng lực phòng chống, giảm nhẹ thiên tai; bảo vệ và sử dụng hợp lý, hiệu quả các nguồn tài nguyên và môi trường bền vững.

Ông Phát nêu lên 6 nhóm giải pháp lớn để thực hiện có hiệu quả mục tiêu trên, đó là:

Thứ nhất, tiếp tục quán triệt, tuyên truyền nâng cao nhận thức về sự cần thiết, tất yếu và tầm quan trọng của thực hiện tái cơ cấu nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới đến các cấp, ngành, địa phương và người dân; thay đổi nhận thức về sản xuất nông nghiệp hàng hóa trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế và biến đổi khí hậu.

Thứ hai, tiếp tục tập trung nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế, chính sách, tạo động lực mới cho phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn… trước hết tạo điều kiện để nông dân và doanh nghiệp tiếp cận thuận lợi hơn về đất đai, nguồn vốn và thị trường để mở rộng sản xuất hàng hóa có khả năng cạnh tranh cao đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.

Thứ ba, tiếp tục đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất phù hợp, trọng tâm là phát triển các doanh nghiệp nông nghiệp và các hình thức hợp tác, liên kết sản xuất, tiêu thụ nông sản theo chuỗi giá trị, kết nối với hệ thống tiêu thụ toàn cầu; đẩy mạnh đổi mới và phát triển các hợp tác xã nông nghiệp theo hướng chú trọng hơn tới việc tổ chức nông dân sản xuất nông sản hàng hóa quy mô lớn, chất lượng đảm bảo gắn với chế biến và tiêu thụ; thực hiện chuyển mạnh lao động nông nghiệp sang các lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ và ngành nghề nông thôn.

Thứ tư, tăng cường nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng khoa học công nghệ, bao gồm cả công nghệ cao trong tất cả các lĩnh vực sản xuất và dịch vụ của ngành; đặc biệt khuyến khích các doanh nghiệp tham gia nghiên cứu và chuyển giao khoa học công nghệ, ứng dụng công nghệ cao nhằm tạo đột phá về năng suất, chất lượng cây trồng, vật nuôi, nâng cao khả năng cạnh tranh, hiệu quả của ngành; bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm.

Thứ năm, tiếp tục huy động các nguồn lực để phát triển kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn, tăng cường năng lực phòng chống, giảm nhẹ thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu; cơ bản nâng cấp hệ thống cơ sở hạ tầng thiết yếu trên địa bàn xã ( giao thông, điện, nước sạch, trường học các cấp, trạm y tế xã, nhà văn hóa và khu thể thao thôn), bao gồm cả các xã nghèo, xã đặc biệt khó khăn…

Thứ sáu, nâng cao năng lực, hiệu lực và hiệu quả quản lý ngành từ Trung ương đến địa phương. Kiện toàn, nâng cao chất lượng hoạt động của các Ban chỉ đạo và bộ máy giúp việc các cấp ở Trung ương và các địa phương, ra sức tổ chức thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ về tái cơ cấu và xây dựng nông thôn mới.

Asean Tìm Giải Pháp Phát Triển Nông Thôn Bền Vững

Ngày 13/6, Hội nghị lần thứ 9 Quan chức cao cấp ASEAN về phát triển nông thôn và xóa đói giảm nghèo (SOMRDPE 9) chính thức khai mạc tại Đà Nẵng với sự tham dự của đại biểu từ 11 nước thành viên ASEAN, các tổ chức quốc tế và đại diện Ban thư ký ASEAN.

Hội nghị SOMRDPE 9 khai mạc ngày 13/6 tại Đà Nẵng – Ảnh: HC

Phát biểu khai mạc hội nghị, Thứ trưởng Bộ NN-PTNT Nguyễn Đăng Khoa cho hay, trong 2 ngày, SOMRDPE 9 là dịp để các nước chia sẻ thông tin, đưa ra các giải pháp hợp tác nhằm đạt mục tiêu xoá đói giảm nghèo và phát triển nông thôn bền vững thông qua tăng cường an ninh lương thực, sinh kế và thích ứng với biến đổi khí hậu trong khu vực ASEAN.

Trên cơ sở đó, mỗi nước thành viên cũng như cộng đồng ASEAN có cam kết mạnh mẽ và đầu tư thích đáng hơn nhằm thực hiện thành công kế hoạch hành động của ASEAN về phát triển nông thôn và xóa đói giảm nghèo giai đoạn 2011- 2024; hướng tới thực hiện lộ trình của ASEAN nhằm đạt được mục tiêu thiên niên kỷ và đóng góp thiết thực cho tiến trình xây dựng cộng đồng ASEAN vững mạnh, liên kết chặt chẽ và phát triển bền vững.

Theo Thứ trưởng Nguyễn Đăng Khoa, tuy đạt nhiều thành tựu đáng khích lệ song phát triển nông thôn và xóa đói giảm nghèo của ASEAN cũng phải đối mặt với nhiều thách thức như tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu, biến đổi khí hậu và dịch bệnh… Để vượt qua những thách thức này, sự đoàn kết hợp tác giữa các nước thành viên và các tổ chức quốc tế là hết sức cần thiết.

Thứ trưởng Bộ NN-PTNT Việt Nam Nguyễn Đăng Khoa phát biểu tại hội nghị – Ảnh: HC

“Việt Nam có gần 70% dân số ở khu vực nông thôn nên việc phát triển nông nghiệp và đẩy mạnh xoá đói giảm nghèo là một trụ cột của chiến lược tăng trường bền vững. Do đó trong nhiều năm qua, Chính phủ Việt Nam đã đề ra và thực hiện nhiều cơ chế chính sách, chương trình, dự án nhằm phát triển nông thôn, hỗ trợ thiết yếu các vùng khó khăn, các hộ nghèo. Việt Nam cũng nhận được nhiều sự hỗ trợ, giúp đỡ từ các nước ASEAN và bạn bè quốc tế trong lĩnh vực này” – ông Nguyễn Đăng Khoa nói.

Được biết năm 2011, thu nhập bình quân đầu người ở khu vực nông thôn Việt Nam đạt 660 USD/người. Tỉ lệ hộ nghèo ở khu vực này đã giảm từ 58% năm 1993 xuống còn 15,5%. Sản xuất lương thực cũng đạt nhiều kết quả khả quan, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và đưa Việt Nam trở thành một trong những nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới…

Mặc dù vậy, ông Nguyễn Đăng Khoa nhận xét, quá trình phát triển nông thôn và giảm nghèo ở Việt Nam chưa thật sự bền vững, nhất là về giảm tỉ lệ hộ nghèo. Khoảng cách chênh lệch về trình độ phát triển và thu nhập giữa nông thôn và thành thị, giữa các nhóm hộ dân chưa được thu hẹp; thu hút đầu tư của doanh nghiệp vào nông nghiệp, nông thôn gặp nhiều khó khăn…

HẢI CHÂU

Sở Nông Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn

 * Nước vẫn bị sử dụng lãng phí

       Hiện nay, nguồn nước bị thất thoát đã giảm đáng kể, nhưng tình trạng sử dụng nước không hợp lý, sử dụng lãng phí nguồn nước ở nhiều nơi, nhiều lúc vẫn xảy ra đang làm cho trữ lượng nước bị giảm mạnh. Ở vùng nông thôn, tình trạng người dân khoan, đóng giếng tùy tiện không đúng kỹ thuật để phục vụ sinh hoạt và tưới tiêu trong nông nghiệp đã gián tiếp gây ô nhiễm và sút giảm trữ lượng nước ngầm, ảnh hưởng lớn đến việc khai thác có mục đích như xây dựng các công trình cung cấp nước sạch cho người dân vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng cao. Bên cạnh đó, do nhận thức về bảo vệ nguồn tài nguyên nước kém và người dân còn thiếu kinh nghiệm sử dụng hiệu quả nguồn nước trong sản xuất nông nghiệp, nên đã gây lãng phí nước và kém hiệu quả đối với cây trồng. Mặt khác, do quan niệm sai lầm: “nước là của trời cho vô tận, không bao giờ cạn”, lại không phải trả tiền điện bơm nước (múc tay hoặc quay tay), không phải trả tiền nước (nguồn cung cấp tự nhiên từ sông suối hoặc giếng đào) nên nhiều người sử dụng rất thoải mái nguồn tài nguyên này. 

    Tiết kiệm nước không chỉ tiết kiệm tiền và còn bảo vệ được nguồn tài nguyên thiên nhiên đang ngày càng trở nên quý giá này. Vào mùa nắng nóng, chiều chiều vẫn có người vô tư xịt thoải mái nước máy ra đường, tưới vườn cây, rửa xe lênh láng. Có những hộ do vòi nước bị hỏng hoặc quên không khóa chặt khiến ngày đêm nước cứ từng giọt, từng giọt nối tiếp nhau xuống đất. Điều này không những gây lãng phí nước, tốn tiền trả cho cơ quan cung cấp nước, mà còn gây lãng phí công sức và các chi phí  đầu tư cho xử lý lượng nước hao hụt. Tất nhiên, xài nhiều nước, trả nhiều tiền, nhưng hãy nghĩ đến trên trái đất này còn tới 2 tỷ người đang khát nước…

* Nước không phải là tài nguyên vô tận.

  Việc quản lý, khai thác và sử dụng hợp lý, tiết kiệm nguồn nước không chỉ là việc làm đem lại lợi ích cho mỗi gia đình, mà quan trọng hơn là góp phần làm chậm quá trình suy kiệt trữ lượng và chất lượng nguồn tài nguyên quý giá này. Theo khuyến cáo của các ngành chức năng, mỗi người dân chỉ cần có những hành động nhỏ là có thể góp phần vào việc  bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên. Đó là chỉ sử dụng một lượng nước vừa đủ cho vệ sinh cá nhân, cho sinh hoạt hàng ngày. Nếu có thể hãy tái sử dụng lại nước đã qua sử dụng một lần (như nước rửa rau lần cuối, có thể dùng để rửa sơ qua các vật dụng làm bếp trước khi rửa lại bằng nước sạch). Trong sản xuất công nghiệp, nhất là những nhà máy sử dụng lượng nước lớn, nên áp dụng các biện pháp sản xuất sạch hơn, trong đó có chương trình kiểm soát lượng nước cung cấp tại nguồn trong quá trình sản xuất, vừa  tiết kiệm được lượng nước sạch cung cấp đầu vào (nghĩa là tiết kiệm được chi  phí) vừa giảm thiểu được lượng nước thải ra gây ô nhiễm. Việc xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn…… và tái sử dụng lượng nước này vào các khâu dịch vụ khác, cũng sẽ giảm được thêm lượng nước cấp và  giảm bớt phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp. Trong sản xuất nông nghiệp, cần áp dụng các phương pháp tưới phun, tưới dạng màn sương vừa tiết kiệm nước, vừa hiệu quả cho cây trồng.  Không được làm ô nhiễm nguồn nước sông, suối qua việc vứt rác, xác động vật chết xuống nguồn nước, làm nhà vệ sinh trên ao hồ, sông, suối. Không dùng phân tươi, nước thải ô nhiễm để bón tưới rau xanh, hạn chế sử dụng phân hóa học và thuốc BVTV trong sản xuất nông nghiệp. Trong mỗi gia đình, khi dùng nước xong nên khóa chặt vòi nước để tránh thất thoát, lãng phí không cần thiết. Tiết kiệm, quản lý, sử dụng và khai thác nước thành công không phải là bài học “một sớm một chiều” của riêng một cá nhân nào trong xã hội. Việc thành công chỉ có thể có được khi chiến lược, qui hoạch phải phù hợp với điều kiện và tập quán của nhân dân, công tác truyền thông thông qua các chiến dịchphải được duy trì thường xuyên và rộng rãi kết hợp giữa các bộ, các cấp chính quyền và các tổ chức xã hội, đặc biệt là thanh niên và phụ nữ.

       Nước, tài nguyên vô giá mà thiên nhiên ban tặng cho con người hiện không còn là vô tận nữa mà đang trở nên hữu hạn. Mỗi người cần nhận thức và có hành động tiết kiệm nước, dù nhỏ – nhưng sẽ góp phần rất lớn trong việc bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá này, góp phần bảo vệ sự sống của con người và mọi sinh vật trên trái đất.

                                                                                          Sông Hương

Cập nhật thông tin chi tiết về Giải Pháp Phát Triển Giao Thông Nông Thôn trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!