Xu Hướng 2/2023 # Giải Pháp Phát Triển Đội Ngũ Giảng Viên Khoa Qlvh Ở Trường Đại Học Văn Hóa Tp. Hồ Chí Minh Đáp Ứng Nhu Cầu Xã Hội # Top 11 View | Phauthuatthankinh.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Giải Pháp Phát Triển Đội Ngũ Giảng Viên Khoa Qlvh Ở Trường Đại Học Văn Hóa Tp. Hồ Chí Minh Đáp Ứng Nhu Cầu Xã Hội # Top 11 View

Bạn đang xem bài viết Giải Pháp Phát Triển Đội Ngũ Giảng Viên Khoa Qlvh Ở Trường Đại Học Văn Hóa Tp. Hồ Chí Minh Đáp Ứng Nhu Cầu Xã Hội được cập nhật mới nhất trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

1. Đặt vấn đề

2. Một số khái niệm cơ bản

2.1. Phát triển đội ngũ

          Khái niệm đội ngũ được dùng cho các tổ chức trong xã hội một cách rộng rãi như “đội ngũ cán bộ, công chức, đội ngũ trí thức, đội ngũ y bác sỹ, đội ngũ giảng viên (ĐNGV)…”. Từ đội ngũ xuất phát theo cách hiểu của thuật ngữ quân sự đó là: “khối đông người được tập hợp lại một cách chỉnh tề và được tổ chức lại thành lực lượng chiến đấu”. Tuy có nhiều cách hiểu khác nhau nhưng đều có chung một điểm là: một nhóm người được tổ chức và tập hợp thành một lực lượng để thực hiện một hay nhiều chức năng, có thể cùng hay không cùng nghề nghiệp nhưng đều có chung một mục đích nhất định [1]. Như vậy, có thể nói đội ngũ là một tập thể gồm số đông người, có cùng lý tưởng, cùng mục đích, làm việc theo sự chỉ huy thống nhất, có kế hoạch, gắn bó với nhau về quyền lợi vật chất cũng như tinh thần.

Khái niệm đội ngũ giảng viên là một tập hợp những người làm nghề dạy học, giáo dục được tổ chức thành một lực lượng, cùng chung một nhiệm vụ là thực hiện các mục tiêu giáo dục đã đề ra cho tập hợp đó. Họ làm việc có kế hoạch và gắn bó với nhau thông qua lợi ích về vật chất và tinh thần trong khuôn khổ qui định của pháp luật, thể chế xã hội.

2.2. Phát triển đội ngũ giảng viên

`         Theo Từ điển bách khoa Việt Nam: Phát triển là “biến đổi hoặc làm cho nó biến đổi từ ít đến nhiều, hẹp hay rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp” [2, tr.759]. Phát triển trong giáo dục được hiểu là quá trình học tập nhằm mở ra cho những cá nhân những công việc mới dựa trên những định hướng tương lai của tổ chức.

Theo quan điểm phát triển đội ngũ của ngành giáo dục: “Phát triển đội ngũ là làm sao để có một lực lượng những người làm giáo dục đủ về số lượng và đảm bảo chất lượng (nhân cách) đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước nói chung và yêu cầu phát triển giáo dục nói riêng”.

          Phát triển đội ngũ giảng viên là tổng thể các phương pháp, biện pháp, cách thức, chính sách để hoàn thiện và nâng cao chất lượng đội ngũ (đủ về số lượng, phù hợp về cơ cấu, có trình độ chuyên môn và năng lực nghề nghiệp, phẩm chất tốt) đáp ứng yêu cầu phát triển của tổ chức. Một trong những nhiệm vụ quan trọng để phát triển giáo dục đại học là phát triển nguồn nhân lực. Trong phát triển nguồn nhân lực của cơ sở giáo dục đại học thì giảng viên đóng vai trò trung tâm, là nhân tố quan trọng quyết định chất lương đào tạo của nhà trường.

2.3. Ngành Quản lý văn hóa

Quản lý văn hóa (QLVH), là công việc của Nhà nước được thực hiện thông qua việc ban hành, tổ chức, kiểm tra và giám sát việc thực hiện các văn bản qui phạm pháp luật trong lĩnh vực văn hóa, đồng thời nhằm phát triển kinh tế, xã hội của từng địa phương nói riêng, cả nước nói chung [3, tr.25]. QLVH là sự tác động chủ quan bằng nhiều hình thức, phương pháp của chủ thể quản lý (Đảng, Nhà nước, cơ quan có thẩm quyền) đối với khách thể (là mọi thành tố tham gia và làm nên đời sống văn hóa) nhằm đạt được mục tiêu mong muốn.

Ngành QLVH, một ngành khoa học đào tạo chuyên môn về lĩnh vực văn hóa, Ngành QLVH đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực trong hoạt động văn hóa trên phạm vi cả nước, gồm: quản lý nhà nước về lĩnh vực văn hóa – nghệ thuật, thông tin tuyên truyền, quảng bá, xuất bản, dịch vụ văn hóa công cộng, thiết chế văn hóa (Chính phủ qui đinh) và tổ chức các hoạt động của sự nghiệp văn hóa như: đào tạo bồi dưỡng, sáng tác, biểu diễn, quản lý tốt tài sản, cơ sở vật chất và các phương tiện chuyên dùng, kinh doanh các dịch vụ văn hóa nhằm nâng cao mức hưởng thụ của nhân dân và hội nhập quốc tế [3, tr.1]. Chương trình đào tạo ngành QLVH  ngày càng được hoàn thiện và đổi mới, đã dựa vào ba tiêu chí cơ bản sau: là ngành khoa học thực hành; chương trình đào tạo ngày càng được chuẩn hóa; phải gắn liền với sử dụng hiệu quả công nghệ thông tin và thiết bị hiện đại [4].

2.4. Những thành tố của quá trình phát triển ĐNGV

Bao gồm “phẩm chất” và “năng lực”, hai mặt này nó biểu hiện ở mọi lúc, mọi nơi trong quá trình dạy học mà thể hiện rõ nét nhất là năng lực chuyên môn, khả năng điều khiển trong phạm vi trường học, uy tín trước tập thể sư phạm, khả năng ứng biến trong các tình huống sư phạm xã hội, trong đó vấn đề tổ chức thực hiện nhiệm vụ sẽ sáng tỏ được năng lực người giảng viên. Bên cạnh đó người giảng viên còn phải có phẩm chất về chính trị, tư cách đạo đức, tác phong sư phạm trước tập thể sư phạm, sinh viên, phụ huynh và các lực lượng giáo dục khác ngoài nhà trường.

2.5. Nhu cầu xã hội

          Hiện nay, khái niệm nhu cầu xã hội còn nhiều tranh luận và chưa đi đến thống nhất. Có quan điểm cho rằng đào tạo theo nhu cầu xã hội gồm: đào tạo theo yêu cầu của Nhà nước, các địa phương, nhu cầu của người sử dụng lao động, nhu cầu của người học và cả nhu cầu của phụ huynh học sinh. Song cũng có quan điểm cho rằng: đào tạo theo nhu cầu xã hội là phương thức tổ chức đào tạo ngắn hạn, đào tạo đáp ứng ngay nhu cầu trước mắt. Và quan điểm khác lại cho rằng nhu cầu cầu xã hội là nhu cầu của người học, khách hàng quan trọng nhất của nhà trường trong cơ chế thị trường là người học, có người học nhà trường mới tồn tại. Hiện nay, có rất nhiều người muốn đi học, nhất là học đại học nên phải mở rộng tuyển sinh, mở thêm nhiều trường đại học để đáp ứng nhu cầu xã hội. Bởi vậy, đào tạo đáp ứng yêu cầu xã hội, thì cần phải trả lời được câu hỏi (1) Xã hội là ai; họ yêu cầu gì; (2) Làm thế nào để đáp ứng yêu cầu của họ…[5].

          Đào tạo theo nhu cầu xã hội chính là mục tiêu của giáo dục đại học nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ đắc lực cho quá trình CNH – HĐH đất nước, nó không chỉ là trách nhiệm của nhà trường mà còn là của toàn xã hội. Trong đó nhà nước đóng vai trò chủ đạo, điều phối dẫn đường thúc đẩy các mối quan hệ giữa nhà trường và nhà tuyển dụng các ngành kinh tế mà đại diện là các doanh nghiệp làm cho nhu cầu xích lại gần nhau vì lợi ích chung.

3. Thực trạng đội ngũ giảng viên khoa quản lý văn hóa

          Để có cơ sở đánh giá thực trạng về ĐNGV đào tạo cử nhân ngành QLVH, tác giả đã tiến hành khảo sát thực tế ở các trường ĐHVH TP. HCM  tại TP Hồ Chí Minh từ tháng 6 đến tháng 9/2016; trong đợt khảo sát này, tác giả sử dụng phiếu trưng cầu ý kiến của 16 cán bộ quản lý nhà trường từ trưởng/phó bộ môn trở nên đến Hiệu trưởng; 16 giảng viên trực tiếp tham gia giảng dạy cử nhân ngành QLVH kết quả:

3.1 Phát triển chất lượng đội ngũ giảng viên

Bảng 1. Số lượng ĐNGV cơ hữu hiện có thuộc khoa QLVH-NT đào tạo ngành QLVH

STT

Tên đơn vị khảo sát

Tổng số

PGS

T. sỹ

GVC

Th.sỹ

ĐH

Khác

1

Khoa QLVH-NT

20

01

03

02

12

3

2

 

                       Cộng

20

01

03

02

12

03

02

(Nguồn: do phòng tổ chức Trường ĐHVH chúng tôi cung cấp tháng 9/2016)

Đánh giá về chất lượng hoạt động phát triển chất lượng đội ngũ giảng viên, tác giả dùng thang đo Liker: từ 5 đến 1; 5 = rất thường xuyên, 4 = thường xuyên, 3 = đôi khi, 2 = không thường xuyên, 1 = không thực hiện.

Bảng 2. Đánh giá về chất lượng hoạt động phát triển chất lượng đội ngũ giảng viên

STT

Các tiêu chí đánh giá

 

Mức đánh giá (%)

 

  

Xếp hạng

5

4

3

2

1

1

Tổ chức Hội giảng từ bộ môn trở nên

   0

10,3

45,6

32,4

11,8

2,54

8

2

Bồi dưỡng lý thuyết chuyên môn

   0

13,2

45,6

32,4

8,8

2,63

6

3

Bồi dưỡng thực hành chuyên môn

4,4

19,1

45,6

27,9

2,9

2,94

5

4

Bồi dưỡng năng lực dạy học tích hợp

7,4

33,8

44,1

11,8

2,9

3,31

3

5

Bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm

13,2

29,4

32,4

30,9

2,9

3,40

2

6

Bồi dưỡng lý luận chính trị

4,4

29,4

32,4

30,9

2,9

3,01

4

7

Bồi dưỡng phương pháp NCKH

8,8

39,7

38,2

10,3

2,9

3,41

1

8

Bồi dưỡng ngoại ngữ/tin học

0

16,2

50,0

8,8

25,0

2,57

7

Kết quả khảo sát ở bảng 2 cho thấy số người được hỏi đánh giá về chất lượng hoạt động phát triển chất lượng ĐNGV trong: bồi dưỡng phương pháp nghiên cứu khoa học, xếp hạng 1 có điểm trung bình chung cao nhất 3,41; bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm, xếp hạng 2 có điểm trung bình chung 3,40; trong khi đó, tổ chức hội giảng từ cấp bộ môn trở nên, xếp hạng 8 thấp nhất có điểm trung bình 2,54; sau đó là bồi dưỡng ngoại ngữ/tin học xếp hạng 7, bồi dưỡng lý thuyết chuyên môn, thực hành chuyên môn xếp hạng 6 và 5.

Bảng 3. Qui định việc thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của giảng viên ngành QLVH

Nội dung

Số lượng

Tỷ lệ %

Đảm bảo thực hiện đầy đủ kế hoạch lên lớp, kiểm tra đánh giá và NCKH theo qui định

32

51,6%

Tổ chức dự giờ thăm lớp và các hoạt động chuyên môn theo định kỳ

16

25,8%

Thường xuyên đổi mới phương pháp, nâng cao chất lượng giảng dạy

14

22,6%

                                                                                        Tổng cộng

62

100%

 

Kết quả khảo sát qua phiếu hỏi 62 ý kiến của cán bộ quản lý và giảng viên ngành QLVH, bảng 3 cho thấy: có 51,6% GV đảm bảo thực hiện đầy đủ kế hoạch lên lớp, kiểm tra đánh giá và NCKH theo qui định; 25,8% Tổ chức dự giờ thăm lớp và các hoạt động chuyên môn theo định kỳ; 22,6% thường xuyên đổi mới phương pháp, nâng cao chất lượng giảng dạy.

Bảng 4. Công tác đào tạo bồi dưỡng nâng cao  trình độ chuyên môn dành cho ĐNGV ngành  QLVH

Nội dung

Số lượng

Tỷ lệ %

Nội dung, chương trình, thời gian, địa điểm do giảng viên đề xuất nhằm đáp ứng với nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn theo yêu cầu của từng chuyên ngành trong ngành QLVH

17

34,70

Có sự tham gia trực tiếp của các nghệ sỹ, nhà giáo chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực QLVH và đơn vị dụng lao động

17

34,70

Có thời gian điền dã cơ sở, tham quan mô hình, trao đổi kinh nghiệm chuyên môn và trải nghiệm thực tiễn với cơ sở sử dụng lao động

8

16,30

Tổ chức các hình thức thi kỹ năng nghiệp vụ ngành QLVH cho GV

7

14,30

                                                                                       Tổng cộng

49

100%

Kết quả khảo sát công tác đào tạo bồi dưỡng ngắn hạn nâng cao  trình độ chuyên môn dành cho giảng viên khoa  QLVH, cho thấy việc đào tạo bồi dưỡng đã được quan tâm song thời gian điền dã cơ sở, tham quan mô hình, trao đổi kinh nghiệm chuyên môn và trải nghiệm thực tiễn với cơ sở sử dụng lao động còn rất khiên tốn chỉ có 16,3%; tổ chức các hình thức thi kỹ năng nghiệp vụ ngành QLVH cho GV cũng chỉ có 14,3%. Kết quả này sẽ là căn cứ để có giải pháp nâng cao trình độ cho ĐNGV.

Như vậy, để nâng cao trình độ ĐNGV hiện có, cần tạo môi trường cho ĐNGV có điều kiện tham gia các hoạt động như tổ chức hội giảng từ cấp bộ môn trở nên đến việc tham gia các cuộc thi nâng cao tay nghề, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ một mặt để chuẩn hóa theo qui định hiện hành, mặt khác nâng cao chất lượng ĐNGV nhằm hoàn thiện việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo đạt chuẩn, từng bước nâng cao trình độ, bảo đảm đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, vững vàng về tư tưởng chính trị, mẫu mực về phẩm chất, đạo đức, lối sống…là việc làm cần thiết của mỗi nhà trường trong giai đoạn hiện nay, cạnh tranh để phát triển và hội nhập quốc tế.

3.2. Công tác qui hoạch và dự báo

Đánh giá công tác qui hoạch và dự báo ĐNGV ngành QLVH, tác giả dùng thang đo Liker: từ 3 đến 1; 3 = rất thường xuyên, 2 = thường xuyên, 1 = không thường xuyên

          Bảng 5.  Đánh giá công tác qui hoạch và dự báo đội ngũ giảng viên ngành QLVH

STT

Nội dung và hình thức tổ chức

Mức độ thực hiện %

 

 

Thứ   bậc

3

2

1

1

Công tác qui hoạch và dự báo được thực hiện bởi nhu cầu của bộ môn/ khoa chuyên môn, được triển khai rộng rãi

dân chủ công khai, 6 tháng/lần

8,2

53,1

38,8

1,69

4

2

Qui hoạch và dự báo chỉ thực hiện khi có yêu cầu của tổ chức

24,5

70,4

5,1

2,19

1

3

Qui hoạch và dự báo không theo đinh kỳ, có thể 1 đến 2 năm mới thực hiện 1 lần

6,1

68,4

25,5

1,81

2

4

Công tác qui hoạch và dự báo chỉ triển khai đến lãnh đạo quản lý (từ tổ trưởng bộ môn trở nên) sau đó thống nhất với cấp ủy đảng và thông báo rộng rãi, công khai

10,2

48,0

41,8

1,68

5

5

Chỉ thực hiện qui hoạch ĐNGV theo yêu cầu của tổ chức, không thực hiện dự báo nhu cầu vì những khó khăn chưa tháo gỡ được như biên chế, độ tuổi, chuyên môn sâu…

8,2

60,2

31,6

1,77

3

Kết quả khảo sát ở bảng 5 cho thấy, số người được hỏi đánh giá về công tác qui hoạch và dự báo ĐNGV khoa QLVH: qui hoạch và dự báo chỉ thực hiện khi có yêu cầu của tổ chức, đã được triển khai, xếp hạng 1 có điểm trung bình chung cao nhất 2,19; qui hoạch và dự báo không theo đinh kỳ có thể 1 đến 2 năm mới thực hiện 1 lần, xếp hạng 2 có điểm trung bình chung 1,81; chỉ thực hiện qui hoạch ĐNGV theo yêu cầu của tổ chức, không thực hiện dự báo nhu cầu vì những khó khăn chưa tháo gỡ được như biên chế, độ tuổi, chuyên môn sâu, xếp hạng 3 có điểm trung bình chung 1,77; công tác qui hoạch và dự báo được thực hiện bởi nhu cầu của bộ môn/ khoa chuyên môn, được triển khai rộng rãi dân chủ công khai 6 tháng/lần, xếp hạng 4 có điểm trung bình chung 1,69; công tác qui hoạch và dự báo chỉ triển khai đến lãnh đạo quản lý (từ tổ trưởng bộ môn trở nên) sau đó thống nhất với cấp ủy đảng và thông báo rộng rãi, công khai, xếp hạng 5 có điểm trung bình chung 1,68.

Như vậy, công tác qui hoạch và dự báo, chưa được làm thường xuyên, việc triển khai công tác qui hoạch và dự báo chỉ thực hiện khi nhà trường có yêu cầu cho nên khoa QLVH chưa chủ động làm công tác qui hoạch cho nên tình trạng giảng viên chưa đạt chuẩn vẫn tồn tại, kéo dài nhiều năm, đến nay rất cần có những giải pháp để giúp giảng viên chuyên ngành hẹp, độ tuổi trên 50 hoàn thành nhiệm vụ. Những GV trẻ cần được bổ sung dự nguồn căn cứ vào: năng lực chuyên môn, có phẩm chất đạo đức, tư cách nghề nghiệp cần được qui hoạch để đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ; cần có lộ trình sắp xếp luân phiên cán bộ trẻ được đào tạo nâng cao, sẽ khắc phục được tình trạng một số môn học không có giảng viên thay thế.

3.3. Sắp xếp luân chuyển

Đây là việc khó, nếu không có biện pháp khoa học, giải pháp cụ thể để GV tự nguyện lựa chọn sẽ nảy sinh đến tư tưởng. Xây dựng chiến lược quy hoạch và luân chuyển lâu nay chưa được triển khai một cách kỹ lưỡng và cụ thể nên việc rà soát, bố trí, sắp xếp, luân chuyển ĐNGV cho phù hợp với điều kiện thực tế là không thể làm được dẫn đến một số GV không có việc làm, trong khi nhiều môn học vẫn phải mời GV thỉnh giảng. Sự thay đổi ngành nghề do đào tạo theo nhu cầu xã hội và đổi mới phương pháp là những bất cập trong sắp xếp và luân chuyển nên cần phải có những giải pháp hữu hiệu để tháo gỡ.

4. Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ khoa quản lý văn hóa, đáp ứng yêu cầu xã hội

Nâng cao năng lực, phẩm chất đội ngũ nhà giáo, đáp ứng kịp thời với những đổi mới của mỗi nhà trường về chương trình, giáo trình, phương pháp đào tạo theo yêu cầu xã hội, nhằm góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, nhà trường phải thường xuyên chú ý tới công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ đặc biệt là đội ngũ cán bộ giảng dạy [6].

Quản lý và phát triển ĐNGV nhằm xây dựng ĐNGV trong tương lai đảm bảo về chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu ngành nghề đào tạo, đáp ứng nhu cầu phát triển nguồn nhân lực ngành QLVH giai đoạn 2016 – 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 là trách nhiệm của khoa QLVH-NT tham mưu cho nhà trường, nhằm bổ sung, bố trí, sử dụng hợp lý và trẻ hóa ĐNGV.

4.1. Thực hiện qui hoạch ĐNGV

          Đây là công việc làm thường xuyên định kỳ, đảm bảo dân chủ, công khai trên cơ sở sự đồng thuận từ cấp ủy đảng và lãnh đạo nhà trường, khoa chuyên môn các bộ phận chức năng. Qui hoạch ĐNGV cơ hữu trong khoa chưa đạt chuẩn và những GV trẻ (dự nguồn) có năng lực chuyên môn, có phẩm chất đạo đức, có tư cách nhà giáo, giỏi nghề cần được tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nâng cao về chuyên môn, được qui hoạch theo thứ tự ưu tiên theo lộ trình để đào tạo ở trong và ngoài nước, tạo ra những điểm nhấn trong ngành QLVH. Đồng thời đổi mới công tác đào tạo bồi dưỡng GV, biến quá trình đào tạo bồi dưỡng thành tự đào tạo bồi dưỡng. Tạo điều kiện thuận lợi về cơ sở vật chất, trang thiết bị, môi trường giúp đội ngũ nhà giáo có ý thức tự học mọi lúc, mọi nơi, qua hoạt động thực tiễn để rút ra những bài học kinh nghiệm cho bản thân.

4.2. Tạo môi trường nâng cao năng lực chuyên môn

– Đối với công tác bồi dưỡng GV, căn cứ vào kết quả khảo sát năng lực GV từ đó xác định mục tiêu, nội dung và hình thức, thời gian, địa điểm, giảng viên tham gia bồi dưỡng theo chuyên đề phù hợp. Cần mở các lớp đào tạo bồi dưỡng nâng cao năng lực chuyên môn ngắn hạn, có tính chuyên sâu, những chuyên đề mới hấp dẫn do những chuyên gia giàu kinh nghiệm, tâm huyết giỏi nghề thực hiện. Đồng thời căn cứ vào kết quả khảo sát, theo lộ trình cử giảng viên có năng lực chuyên môn, thành thạo ngoại ngữ được đào tạo chuyên sâu ở trong và ngoài nước về lĩnh vực/ngành nghề mà GV có sở trường năng lực, nhằm phát huy triệt để khả năng của từng GV và tạo được điểm nhấn trong đào tạo ngành QLVH.

– Định kỳ tổ chức hội thi, hội giảng từ cấp bộ môn/khoa/trường và cấp cao hơn để ĐNGV có cơ hội, có điều kiện tham gia, thông qua đó cá nhân GV tự nâng cao được trình độ cho bản thân.

– Thường xuyên tổ chức các buổi tọa đàm, trao đổi kinh nghiệm giữa các cơ sở GDĐH có đào tạo ngành QLVH. Xây dựng kế hoạch phối hợp với các nhà tuyển dụng trong nghiên cứu khoa học (NCKH) ứng dụng và chuyển giao công nghệ về lĩnh vực QLVH, thông qua hoạt động NCKH, GV có điều kiện tiếp cận với tư duy khoa học, vận dụng năng lực nghiên cứu vào giảng dạy. Đây là lĩnh vực đặc thù nên việc xây dựng kế hoạch năm học cần có những chỉ tiêu cụ thể để GV có điều kiện tiếp cận và chủ động thực hiện. Các vấn đề về văn hóa gồm: đạo đức, lối sống, phong tục tập quán, cưới xin, ma chay, lễ hội, tiếp biến văn hóa, sưu tầm văn hóa vật thể, phi vật thể và những hoạt động VHNT khác rất cần được nghiên cứu.

– Hoàn thiện cơ chế quản lý, định mức lao động, NCKH, chính sách ưu đãi nhà giáo phù hợp. Tham mưu ban hành chính sách thu hút, động viên GV có trình độ chuyên môn cao có học hàm, học vị, danh hiệu…về khoa QLVH công tác. Bên cạnh đó chính sách xã hội như chế độ khám chữa bênh, thăm quan nghỉ mát và các khoản thu nhập khác ngoài lương được hưởng theo thu nhập tăng thêm cần được điều chỉnh phù hợp và kịp thời.

4.3. Sắp xếp luân chuyển

 Để thực hiện được giải pháp phát triển ĐNGV ngành QLVH cần thỏa mãn các điều kiện sau:

             Thứ nhất: đánh giá đúng thực trạng ĐNGV nhà trường, dự báo nhu cầu phát triển ĐNGV, căn cứ vào nhiệm vụ đào tạo, qui mô phát triển nhà trường, nhu cầu đào tạo nhân lực của ngành QLVH để làm cơ sở cho việc lập kế hoạch ngắn hạn, trung hạn và dài hạn cho phù hợp với từng cơ sở GDĐH;

Thứ hai: dân chủ hóa trong xây dựng, hoạch định chiến lược phát triển ĐNGV. Nâng cao ý thức trách nhiệm của các cấp quản lý, xác định nhu cầu, hình thức đào tạo bồi dưỡng ĐNGV phù hợp và khả thi;

Thứ ba: nhà trường phải có hệ thống tiêu chí đánh giá năng lực GV, có chính sách đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ ĐNGV.

5. Kết luận

Ngành QLVH thuộc nhóm khoa học xã hội với sự liên kết liên ngành, ngoài phần kiến thức đại cương theo qui định chung, thì cơ sở ngành, kiến thức ngành và chuyên ngành được thiết kế một cách hợp lý, một số chuyên ngành thuộc nhóm nghệ thuật có tính đặc thù như: âm nhạc, sân khấu, mỹ thuật, múa, tổ chức sự kiện…rất cần được quan tâm, là yêu cầu đặt ra cho công tác quản lý và qui hoạch ĐNGV. Đào tạo cử nhân ngành QLVH đáp ứng nhu cầu xã hội thì cần có một hệ thống giải pháp mang tính đồng bộ, có mối liên hệ biện chứng chặt chẽ với nhau. ĐNGV quyết định chất lượng và thương hiệu của một nhà trường do đó cần phải đầu tư để đạt chuẩn về trình độ. Mặt khác đối với GV ngành QLVH, ngoài năng lực kinh nghiệm giảng dạy như những giảng viên khác, thì rất cần những giảng viên/nhà giáo tâm huyết yêu nghề, có trình độ chuyên môn sâu và thành thạo kỹ năng kỹ xảo, những tố chất hoạt động VHNT. Là những điều kiện quan trọng để nâng cao chất lượng ĐNGV. Tuy nhiên, cần phải biết khai thác ĐNGV sao cho họ tự nguyện phát huy sở trường, năng lực, kinh nghiệm, “xả thân vì sự nghiệp” điều này sẽ phụ thuộc vào năng lực quản lý, lãnh đạo của nhà trường, nghệ thuật dùng người của người lãnh đạo và cơ chế, chính sách của nhà nước. Quản lý tốt ĐNGV sẽ làm cho chương trình đào tạo được vận hành một cách thông suốt, chất lượng giáo trình, bài giảng sẽ được nâng cao, phương pháp giảng dạy sẽ được đổi mới và trang thiết bị phục vụ giảng dạy sẽ được khai thác một cách hiệu quả.

 

Tài liệu tham khảo

1. Từ điển Giáo dục học (2001), Nxb Từ điển bách khoa, Hà Nội.

2. Từ điển bách khoa Việt Nam (2010), Nxb Khoa học. Hà Nội

3. Phan Hồng Giang, Bùi Hoài Sơn (2014), Quản lý văn hóa Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

4. Phan Văn Tú, Phạm Bích Huyền (2009), Về ngành Quản lý văn hóa, tạp chí văn hóa nghệ thuật, số 297 tháng 03-2009, Hà Nội.

5. http://vi.Wikipedia.org/wiki/

6. Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2003) Lý luận đại cương về quản lý, Đại học sư phạm, Trường cán bộ và quản lý GD & ĐT, Hà Nội.

7. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2003), Điều lệ trường đại học. Nxb Giáo dục, Hà Nội.

8. Chương trình khung đào tạo (2014), Ban hành kèm theo Quyết định số 232/QĐ-ĐHVH HCM  ngày 14/4 /2014 của Hiệu trưởng, Trường Đại học Văn hóa, Tp Hồ Chí Minh.

9. Bành Tiến Long (2007), Đào tạo theo nhu cầu xã hội ở Việt Nam – thực trạng và giải pháp, Tạp chí khoa học giáo dục, số 17 tháng 02, Viện khoa học giáo dục Việt Nam, Hà Nội.

10. Phạm Thành Nghị (2000), Quản lý chất lượng giáo dục đại học, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội.

11. Nhiều tác giả (2014), Đổi mới công tác đào tạo đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội và hội nhập quốc tế, Kỷ yếu hội thảo, Đại học Văn hóa, Tp Hồ Chí Minh.

 

 

Giảng Dạy Các Môn Khoa Học Xã Hội Trong Thời Đại Văn Hóa Đại Chúng

GIẢNG DẠY CÁC MÔN KHOA HỌC XÃ HỘI Ở PHỔ THÔNG TRONG THỜI ĐẠI CỦA VĂN HÓA ĐẠI CHÚNG

PGS.TS. PHAN THỊ THU HIỀNĐHKHXH&NV Tp HCMThời hội nhập toàn cầuThời đại của văn hóa đại chúng 1. Văn hóa đại chúng2. Thời đại văn hóa đại chúng và ảnh hưởng đối với giảng dạy các môn khoa học xã hội ở trường phổ thông 3. Phương hướng giảng dạy các môn khoa học xã hội ở trường phổ thông trong thời đại của văn hóa đại chúng 1. Văn hóa đại chúng

1.1. Khái niệm văn hóa đại chúng1.2. Quá trình hình thành và phát triển văn hóa đại chúng1.3. Đặc điểm và vai trò của văn hóa đại chúng1.1. Khái niệm văn hóa đại chúng

(1) Văn hóa đại chúng được ưa thích rộng rãi bởi nhiều người. Định lượng: số đầu sách, số album / đĩa bán ra (best-seller), số người tham dự những sự kiện ca nhạc, thể thao, lễ hội…(2) Văn hóa đại chúng là văn hóa thấp hơn so với văn hóa tinh hoa (văn hóa cao)Văn hóa cao (High culture) : những hoạt động văn hóa thường là lĩnh vực của giới tinh hoa hay giới thượng lưu (ballet, opera, great literature, fine art…). Giá trị văn hóa của chúng được xem như siêu việt và vĩnh cửu. Các thành tựu văn hóa cao được bảo vệ, nghiên cứu trong các thư viện, bảo tàng, nhà hát, học viện…

(4) Văn hóa đại chúng bao gồm tất cả những tiểu văn hóa mà những nhóm xã hội tạo nên cho chính họ (ngay cả những đối tượng không được cái chính thống / cái thống lĩnh chấp nhận) Văn hóa đại chúng và Văn hóa thống lĩnhDominant culture / Mainstream culture (Văn hóa thống lĩnh, Văn hóa dòng chủ lưu)Marginal cultures (Những nền văn hóa bên rìa, ngoài lề)1.1. Khái niệm văn hóa đại chúnga, Văn hóa đại chúng và Văn hóa tinh hoab, Văn hóa đại chúng và Công nghiệp văn hóac, Văn hóa đại chúng và Văn hóa thống lĩnh Định nghĩa

Barry Brummett 1994: “Văn hóa đại chúng đề cập những hệ thống và những sản phẩm văn hóa mà phần đông nhân loại chia sẻ và biết đến”

A.A.Radugin 1997: “Văn hóa đại chúng laø nhöõng saûn phaåm văn hóa ñöôïc saûn xuaát haøng ngaøy vôùi khoái löôïng lôùn, ñöôïc giôùi thieäu cho coâng chuùng roäng raõi nhaát theo caùc keânh truyeàn thoâng ñaïi chuùng khaùc nhau, ñöôïc tieâu thuï bôûi taát caû moïi ngöôøi, khoâng phuï thuoäc vaøo ñòa ñieåm vaø ñaát nöôùc sinh soáng”.

Brian Flagel: “Pop culture là tất cả những gì phổ biến, thông dụng xung quanh chúng ta hàng ngày, khi bạn đi dạo trên đường hoặc ở trong phòng: xe hơi, âm nhạc, phim ảnh, truyền hình, sách báo, trang phục. Những cái là chung, là phổ biến trong những nước khác nhau: những giải trí chung (phim, trò chơi truyền hình,.),những thức ăn chung ( fast food Mc Donald, Coca Cola.), những môn thể thao chung (bóng đá), âm nhạc chung (pop, rock.), thời trang chung (Jean, Nike.).”

1.2. Quá trình hình thành, phát triển Văn hóa đại chúng

(1) Từ thập niên 90 TK XIX đến thập niên 40 TK XX: Thời kỳ manh nha, hình thành văn hóa đại chúng (2) Từ thập niên 50 đến thập niên 80 TK XX: Thời kỳ phát triển văn hóa đại chúng (chủ yếu ở Hoa Kỳ)(3) Từ thập niên 80 TK XX đến nay: Thời kỳ mở rộng của văn hóa đại chúng (qua các khu vực khác, đặc biệt là châu Á)

(1) Từ thập niên 90 TK XIX đến thập niên 40 TK XX: Thời kỳ manh nha, hình thành Văn hóa đại chúng

Văn hóa ñaïi chuùng vôùi yù nghóa ñích thöïc ra ñôøi ñaàu tieân ôû Myõ vaøo cuoái tk XIX ñaàu tk XX Báo, tạp chí phổ thông (popular newspaper and magazines), tiểu thuyết rẻ tiền (dime novels) cho đông đảo quần chúng

Những năm 1880 đến những năm 1940 Từ đầu những năm 1920, nhạc jazz (sau đó là nhạc swing) trở thành âm nhạc đặc thù của giới trẻ khắp Hoa Kỳ. Một hình thức thể hiện công cộng, sôi động của khao khát tự do, khao khát tình dục.Máy hát (được Emile Bertiner phát minh 1887), đài phát thanh (Guglielmo Marconi với radio transmitter đầu tiên năm 1888), băng ghi âm, Điện ảnh (bắt đầu với Hannibal Goodwin 1889, phim màn ảnh rộng với Thomas Edison 1896, phim câm phổ biến những năm 1910, phim nói từ 1927.

(2) Từ thập niên 50 đến thập niên 80 TK XX: Thời kỳ phát triển VHĐC (chủ yếu ở Hoa Kỳ)

Những thập niên 1970-1990Pop art là 1 trường phái nghệ thuật thị giác xuất hiện giữa thập niên 50 ở Anh, cuối thập niên này ở Mỹ, thực sự phát triển trong thập niên 60, 70.Richard Hamilton (ngu?i Anh, sinh 1922)- đã khái quát những quan điểm triết-m? cơ bản của Pop Art :Tính đại chúngTính nhất thời, hiệu quả sử dụng cao, giá rẻTính trẻ trung, phóng khoáng, táo bạo, tươi mát, sinh động, dí dỏm, gợi cảm, quyến rũTính kinh doanh, thương mại

(1) Tính đại chúng Pop art lấy đề tài, chất liệu từ đại chúng, từ những vật dụng thông thường hàng ngày

(1) Tính đại chúng Pop art mở cho sự tham gia của công chúng – Nghệ thuật ứng tác (happening) mang tính ngẫu nhiên, tuỳ hứng, dựa trên tác động qua lại giữa người sáng tạo và người thưởng thức (“đồng sáng tạo”)

(2) Tính nhất thời, hiệu quả sử dụng cao, giá rẻ *Tính nhất thời: giải pháp cấp kỳ, mẫu mã sản phẩm, hình thức thể hiện thay đổi theo mốt và nhu cầu của số đông *Hiệu quả sử dụng: nghệ thuật nhưng hữu ích trong tiêu dùng *Giá rẻ: chi phí SX thấp, giá cả phải chăng, phục vụ số đông

(3) Tính trẻ trung, phóng khoáng, táo bạo, gợi cảm, dí dỏm, hài hước Ý tưởng táo bạo; bố cục ngẫu hứng; màu sắc hấp dẫn, lôi cuốn, có thể sặc sỡ, tương phản mạnh mẽ; tạo ấn tượng ngộ nghĩnh hoặc gợi cảm; nhấn mạnh những biểu tượng tình yêu, sự thoả mãn, tiện nghi. Tìm kiếm những vật liệu mới Khứơc từ những quy tắc (xã hội & nghệ thuật) truyền thống cứng nhắc, lạnh lùng

(4) Tính kinh doanh, thương mại Andy Warhol: Đối với tôi, làm ra tiền là một nghệ thuật và kinh doanh giỏi là thứ nghệ thuật cao nhất”

Những thập niên 1970-1990Punk rock dữ dội, mạnh mẽ. Giới thiệu những xu hướng thời trang (chains, dog collars, army boots…), những phong cách tóc (từ cạo trọc đến wild-looking)Từ 1978, Disco (sôi động và sexy) Những năm 80 với Michael Jackson và Madonna thách thức những quan điểm văn hóa giới truyền thống.

(3) Từ thập niên 80 TK XX đến nay: Thời kỳ mở rộng của VHĐC (qua các khu vực khác, đặc biệt là châu Á)

Computers ngày càng nhanh hơn, mạnh hơn.Cuối những năm 1980, Internet. 1991, World Wide Web đơn giản hóa đáng kể sự sử dụng Internet. Trong lịch sử giao tiếp / truyền thông, Internet đã giúp cho con người tương tác với nhau hiệu quả, nhanh chóng, tiện lợi, bất kể khoảng cách giữa họ, hơn tất cả mọi công nghệ đã có.

1990, kỹ thuật search trên Internet.1994, café Internet đầu tiên. 1996, Google.2001, dịch vụ nhắn tin2002, công nghệ băng thông rộng được phát triển ở Hàn Quốc.Giữa những năm 1980, Đĩa compact thay thế băng nhựa vinyl.Công nghệ nén, MP3.

Văn hóa đại chúng Trung QuốcVHĐC Ấn Độ– VHĐC Nhật Bản– VHĐC Đài LoanVHĐC Hồng KôngVHĐC Hàn Quốc…

Jennifer Philips & Veronica Washburn:(1) Media (Truyền thông)(2) Big companies (Những công ty lớn)(3) Influential people (Những nhân vật nhiều ảnh hưởng)(4) The teens (Tuổi teen)2.1. Đặc điểm và vai trò của văn hóa đại chúng

Đặc điểmJudith N.Martin & Thomas K.Nakayama: a, Văn hóa đại chúng có tính đại chúngb, Văn hóa đại chúng gắn với công nghiệp văn hóa và có tính thương mại c, Văn hóa đại chúng hiện hữu hàng ngày và khắp mọi nơi Jack Nachbar & Kevin Lause 1992: “VHĐC vây quanh chúng ta như nước quanh con cá, như môi trường trong suốt hệ trọng cho chúng ta sống. Con cá nhìn qua (look through) nước hơn là nhìn vào (look at) nước và chúng ta cũng thường xem nhẹ sự hiện hữu toàn khắp của VHĐC vì nó là một phần quen thuộc của môi trường hàng ngày của chúng ta”.

Vai trò của Văn hóa đại chúng

Văn hóa đại chúng có thể kiến tạo hình tượng (image) / biểu tượng (symbol). Đến lượt mình, hình tượng, biểu tượng đó có thể tạo nên những khuôn mẫu (stereotypes). VHĐC có thể tạo ra những không gian văn hóa, diễn đàn văn hóa

2. Thời đại của văn hóa đại chúng và ảnh hưởng đối với giảng dạy khoa học xã hội ở trường phổ thông

2.1. Học trò phổ thông với văn hóa đại chúng“Teenager”, Internet, “Mature”IQ (Intelligence) và EQ (Emotion). Tương liên với Thành công và Hạnh phúc. Kiến thức, Phương pháp, Thái độ. (Kỹ năng “mềm”, kỹ năng xã hội).

2.2. Giáo dục phổ thông với Văn hóa đại chúngThời đại kinh tế tri thức, Thời đại của thông tinHọc tập: chủ động, sáng tạo. Học tập suốt đời. Xã hội học tập Mục tiêu học tậpBáo cáo năm 1996 của Uỷ ban quốc tế về Giáo dục cho thế kỷ XXI do Jaccque Delor làm Chủ tịch đã nêu bật tầm nhìn về 4 mục tiêu của giáo dục hiện đại bao gồm: (1) Học để biết(2) Học để làm(3) Học để tự khẳng định mình(4) Học để cùng chung sống.

Hội nhập toàn cầu – Bản sắc dân tộc Con người Việt Nam – “công dân quốc tế”New Horizons for Learning (Những chân trời học tập mới): “Những chân trời mới cho học tập luôn có một nền tảng đa văn hóa và quốc tế và chúng ta tiếp tục học tập nhiều từ sự giao tiếp của chúng ta với những nước khác…”. Camille A. Allen và George P. Antone: “The Merge of Global Awareness and Classroom Culture: Helping Future Teachers Meet New Challenges” (Sự nảy sinh ý thức toàn cầu và văn hóa lớp học: giúp các giáo viên tương lai ứng phó được những thách thức mới): Các trường học phải “chuẩn bị cho học sinh, sinh viên đáp ứng những đòi hỏi của quá trình toàn cầu hóa và sự tương phụ thuộc ngày càng tăng giữa các dân tộc.” Thuận lợi và Khó khănCơ hội và Thách thứcNhững trang web độc hại Chủ nghĩa đế quốc văn hóaPHÁT TRIỂN NHỮNG THIẾT CHẾ VĂN HỌC TRONG THỜI ĐẠI VĂN HÓA ĐẠI CHÚNG:KINH NGHIỆM HÀN QUỐC GỢI Ý CHO VIỆT NAM(trường hợp Bảo tàng văn học)

Chú ý tới sáng tác (writing) – phê bình (criticism) – dịch thuật (translation), trong đó, lại chủ yếu tập trung khâu tác phẩm (work) hơn là tổng thể quá trình hoạt động (activity). Giới hạn văn học trong hình thức của văn bản (text), ngôn từ (verbal), ít chú ý những chiều kích thị giác (visual), thính giác (auditory), và những chiều kích tổng hợp khác. Chỉ xem xét văn học trong phạm trù của văn hóa tinh hoa (elite culture), văn hóa cao (high culture), với những giá trị siêu việt, vĩnh cửu, thuộc về giới chuyên nghiệp (professional) gắn với những tổ chức nghề như Hội nhà văn, những thể chế hàn lâm (academic) như trường đại học, viện nghiên cứu… Trong khi đó, thực ra, văn học ngày hôm nay còn ở giữa và không tách biệt với văn hóa đại chúng (popular culture). 6 / 2013, academic tour Seoul, Namwon, Kyungju, Busan, AndongỞ Hàn Quốcđất nước có nền kinh tế đứng hàng thứ bảy trên thế giới, “đất nước internet hàng đầu thế giới”đất nước của “Hàn lưu” (Korean Wave, làn sóng văn hóa Hàn Quốc) đang lan rộng ở Châu Ávăn học vẫn được đặc biệt coi trọng và quan tâm phát triển mạnh mẽ, hiệu quả. 1. ĐỔI MỚI CÁCH THỨC TỔ CHỨC, PHÁT TRIỂN NHỮNG THIẾT CHẾ VĂN HỌC TRONG THỜI ĐẠI CỦA VĂN HÓA ĐẠI CHÚNG

2. ĐỔI MỚI NHẬN THỨC VÀ ỨNG XỬ ĐỐI VỚI NHỮNG THIẾT CHẾ VĂN HỌC TRONG THỜI ĐẠI VĂN HÓA ĐẠI CHÚNG

1. ĐỔI MỚI CÁCH THỨC TỔ CHỨC, PHÁT TRIỂN NHỮNG THIẾT CHẾ VĂN HỌC TRONG THỜI ĐẠI CỦA VĂN HÓA ĐẠI CHÚNG

1.1. Quá trình hình thành, phát triển các bảo tàng văn học ở Hàn Quốc 1.2. Cách thức tổ chức, vận hành các Bảo tàng văn học ở Hàn Quốc

1.1. Quá trình hình thành, phát triển các bảo tàng văn học ở Hàn Quốc

1992: Bảo tàng văn học Trinh thám, tại Busan [1902: Bảo tàng văn học Victor Huygo (Pháp), 1962: Bảo tàng văn học cận đại Nhật Bản].

Bảo tàng mặt nạ Hahoe (Andong) Kịch múa mặt nạ – di sản VHPVT quan trọng (số 69), một trong 10 biểu tượng “đặc trưng văn hóa Hàn Quốc” (Koreaness). Mặt nạ Hahoe – quốc bảo (số 121)

Kịch múa mặt nạ Hahoe tồn tại và phát triển trong thể nguyên hợp của văn học dân gian – nghệ thuật dân gian – tín ngưỡng, phong tục, lễ hội dân gian… Dựa vào sức mạnh của tính nguyên hợp đó, Bảo tàng mặt nạ thế giới Hahoe không tách rời tổng thể làng Hahoe đã bảo tồn và phát huy hiệu quả kịch mặt nạ Hahoe như một di sản văn học – văn hóa dân gian quan trọng của Hàn Quốc.

BTVH kết hợp cùng công viên văn học trở thành nơi quy tụ, tổ chức những “lễ hội văn học”, “tiệc văn học”, từ đó hình thành những tour du lịch văn học.

Tour văn học và trị liệuTour văn học và âm nhạc, văn học và kịchTour văn học cho thanh thiếu nhiTour văn học cho gia đình đa văn hóaTour văn học cho người tàn tật Tour thực tế văn học cho SV, NCSTour sáng tác văn học cho nhà văn, nhà thơ Tour văn học cho người nước ngoài…Loại tour văn học phổ biến nhất là tour gắn với Bảo tàng văn học như hạt nhân của Làng văn học – văn hóa – sinh thái.

tour Lễ hội hoa kiều mạch tháng 9 gắn với tác phẩm nổi tiếng Khi hoa kiều mạch nở của Lee Hyo Seok(1907-1942) “những cánh đồng ngập tràn hoa kiều mạch trắng xóa li ti tựa như những bông hoa muối trắng mà tạo hóa đã vãi xuống trần gian’

2. ĐỔI MỚI NHẬN THỨC VÀ ỨNG XỬ ĐỐI VỚI NHỮNG THIẾT CHẾ VĂN HỌC TRONG THỜI ĐẠI VĂN HÓA ĐẠI CHÚNG

2.1. Nhận thức “sức mạnh mềm” của văn học đối với phát triển và đi tới toàn cầu trong thời đại của văn hóa đại chúng2.2. Sử dụng sức mạnh văn hóa đại chúng xúc tiến và quảng bá văn học2.3. Phối hợp giữa các cấp, các ngành trong trong xúc tiến, quảng bá văn học – văn hóa đại chúng

2.1. Nhận thức “sức mạnh mềm” của văn học đối với phát triển và đi tới toàn cầu trong thời đại của văn hóa đại chúng

Từ năm 2000 trở đi, chiến lược “đại chúng hóa văn học” và “phát triển văn hóa du lịch vùng”Trong chiến lược phát triển quốc gia, Tổng thống Park Geun-Hye nhấn mạnh “sự phục hưng văn hóa”, “sự nở rộ văn hóa”, xúc tiến “nền kinh tế sáng tạo” (Creative Economy) cho Hàn Quốc tiến triển mạnh mẽ (K-move).“Kinh tế sáng tạo” “là tột đỉnh của sự hội tụ khoa học, thông tin, truyền thông, công nghệ. Đó là sự hội tụ của công nghiệp và văn hóa để tạo ra giá trị mới, và phát triển năng lực”.Trong những đường băng cho K-move, cho Hàn Quốc phát triển và đi tới toàn cầu, chính phủ Hàn Quốc ngày càng coi trọng vai trò của Hàn lưu (Korean wave) tạo dựng thương hiệu quốc gia (national brand)K’movie (phim truyền hình Hàn Quốc), K’pop (nhạc pop Hàn Quốc), Manhwa (truyện tranh Hàn Quốc), K’sport (đặc biệt là Taekwondo)K’fashion (thời trang Hàn Quốc), K’food (ẩm thực Hàn Quốc)…K’ LITERATURE (VĂN HỌC HÀN QUỐC)BTVH được quan tâm, trước hết vì vai trò quan trọng của văn học trong giáo dục, vun bồi nhân cách và tâm hồn, phát triển nguồn lực con người.Một quan tâm khác song hành cùng quan tâm đối với BTVH và cũng gắn nhiều với văn học là xúc tiến văn hóa đọc trong nhà trường và xã hội. Người ta vì yêu mến tác giả, tác phẩm mà đến với bảo tàng văn học, và cũng có khi ngược lại, trở về từ những tour văn học, công viên, bảo tàng văn học mà tìm đọc những tác giả, tác phẩm. Theo các chuyên gia về phát triển trí tuệ, Năng lực đọc được xem như một chỉ số tương đương với GDP. BTVH Hàn Quốc không chỉ trong xúc tiến văn hóa mà còn tăng trưởng kinh tế, phát triển nông thôn.

2.2. Sử dụng sức mạnh văn hóa đại chúng xúc tiến và quảng bá văn học

2.3. Phối hợp giữa các cấp, các ngành trong xúc tiến, quảng bá văn học – văn hóa đại chúng

Hệ thống Luật : Luật tác quyền (1957), Luật phát triển văn hóa nghệ thuật (1972), Luật thư viện (1994), Luật phát triển công nghiệp văn hóa xuất bản (2002), Luật phát triển văn hóa đọc (2006)… Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, Tổng cục Du lịch, Tổng cục di sản văn hóaCác tập đoàn kinh tế tham gia tích cựcCác tổ chức văn hóa và các Hội bảo tồn di sản địa phương giới học giả, designers, các chuyên gia…cộng đồng dân chúng…

KẾT LUẬN

Kinh nghiệm thành công của Hàn Quốc trong xây dựng và phát triển những thiết chế văn học trong thời đại văn hóa đại chúng, nói cho cùng, cũng chính là bí quyết của “kỳ tích sông Hán” trong việc kết hợp những giá trị văn hóa truyền thống Phương Đông và những thành tựu văn minh, hiện đại của thế giới. Từ kinh nghiệm của Korea có thể gợi ra nhiều suy nghĩ cho đổi mới quảng bá văn học ở Việt Nam.

3. Phương hướng giảng dạy các môn khoa học xã hội ở trường phổ thông trong thời đại của văn hóa đại chúng

3.1. Nội dung và phương pháp3.2. Thầy và Trò3.3. Bối cảnh văn hóa – xã hội GS.TSKH Lâm Quang Thiệp, “Vai trò của người giáo viên thay đổi nhưng vị trí của người giáo viên là không đổi hoặc được nâng cao hơn so với trước đây, nếu người giáo viên đó thỏa mãn được những đòi hỏi của thời đại”. Diễn đànNgoại khóa Cấu trúc của văn hóa đại chúngPhân tích các hiện tượng văn hóa đại chúngThiết kế, tổ chức các hiện tượng văn hóa đại chúngCấu trúc của văn hóa đại chúngA whirlwind tour of the house of Popular Culture [Popular culture: an introductory text by John G. Nachbar]Khi phân tích một hiện tượng văn hóa đại chúng, ta đi từ các tầng trên xuống.(1) The second floor: EVENTLầu hai: SỰ KIỆN(1) The second floor: EVENTLầu hai: SỰ KIỆNNhững loại hình, thể loạiQuy tắc, công thức tổ chức thể loại, tiến trình của sự kiện(2) First floor – Artifacts (Objects & People)Lầu 1 – Những sản phẩm văn hóa (Vật thể & Con người)(2) First floor – Artifacts (Objects & People)Lầu 1 – Những sản phẩm văn hóa (Vật thể & Con người)Những người và những đối tượng được đông đảo công chúng chấp nhận, tán thưởngHọ / Chúng chính là những thể hiện hữu hình / hiển thị (visible) của những niềm tin và giá trị nằm ở tầng nền móng(3) The basement – CULTURAL MINDSETTầng nền móng – TÂM THỨC VĂN HÓA(3) The basement – CULTURAL MINDSETTầng nền móng – TÂM THỨC VĂN HÓA(invisible) Những niềm tin và những giá trị nền tảng: trường tồn, vững bền, hệ trọng Những niềm tin và những giá trị bề mặt: nhất thời, nông cạn, biến đổi(3) The basement – CULTURAL MINDSETTầng nền móng – TÂM THỨC VĂN HÓAHoa KỳNhững giá trị và niềm tin nền móng: – American Dream, – tự do cá nhân, – giá trị của gia đình hạt nhânThiết kế, tổ chức sự kiện vănhóa đại chúng thì phân tích từ tầng nền móng lên các tầng trên.Cuộc thi Hoa hậu các miền đất võ

Bricolage là một loại collage nhấn mạnh sự lệch lạc, sự giễu nhại, châm biếmb, Collage, Bricolage, Pastiche (Cắt dán, lắp ghép)

Pastiche: hòa trộn những thành tố của tác phẩm khác hoặc nền văn hóa khác để giễu nhại.

b, Collage, Bricolage, Pastiche (Cắt dán, lắp ghép)

Những sản phẩm VHĐC sử dụng những thành tố khác nhau từ những cấp độ văn hóa khác nhau. c, Nostalgia (Hoài cổ)

νόστος (nóstos) = “homecoming” [Homer ‘s Ulyssey] + ἄλγος (álgos) = “pain, ache”. “Homesickness”“Good old days”Nostalgia do một cái gì đó gợi nhớ một hình bóng, một sự kiện, một kỷ vật trong quá khứ của người ta. Xúc cảm có thể hạnh phúc hoặc sầu đau.c, Nostalgia (Hoài cổ)Sức mạnh của Popular culture là ở bản chất xúc cảm, xúc động của nó.Con người gìn giữ và nuôi dưỡng những trải nghiệm xúc động thời trẻ của mình khi đã qua thời tuổi trẻVăn hóa đại chúng có thể thẩm nhập đông đảo công chúng bằng cách gắn với những ký ức của họHoạt hình Walt Disney, The Beatles, Disco, Barbie…

Thực Trạng Và Giải Pháp Bảo Tồn Phát Triển Văn Hóa Truyền Thống Của Người Hoa Ở Tp Hồ Chí Minh

Thành phố Hồ Chí Minh là một đô thị đặc biệt, có bề dày lịch sử về truyền thống cách mạng vẻ vang, một trung tâm về nhiều mặt của cả nước. Đây còn là nơi có nhiều dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam cùng sinh sống và lập nghiệp. Ngoài dân tộc Kinh chiếm đa số, dân tộc Hoa chiếm 5,78 %, dân tộc Khmer có 0,33%, dân tộc Chăm có 0,10% và các dân tộc thiểu số khác chiếm 0,20% trong tổng số dân toàn thành phố. Từ lâu, các dân tộc anh em sinh sống ở thành phố đã đoàn kết, gắn bó, tích cực đóng góp công sức kể cả xương máu của mình trong công cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và trong sự nghiệp xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh từ sau 30-4-1975 đến nay.

Văn hóa người Hoa ở Nam Bộ, nhất là ở Thành phố Hồ Chí Minh rất phong phú và được thể hiện trên nhiều lĩnh vực: hoạt động kinh tế, đời sống vật chất, sinh hoạt tinh thần, quan hệ ứng xử, phong tục tập quán, nếp sống, tín ngưỡng dân gian. Văn hóa vật thể và phi vật thể người Hoa đều có nét đặc sắc riêng.

Văn hóa vật thể của người Hoa nổi bật là những cơ sở tín ngưỡng dân gian như miếu, điện, cung… Đó là nơi bà con người Hoa tập trung để tiến hành các nghi lễ tín ngưỡng dân gian mang tính chất cộng đồng. Đình, điện, miếu là một loại kiến trúc đặc sắc của người Hoa ở Thành phố Hồ Chí Minh với khoảng 60 cơ sở tín ngưỡng dân gian. Nhiều cơ sở, đình, điện, miếu của người Hoa ở Thành phố Hồ Chí Minh đã được Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch), Ủy ban nhân dân Thành phố xếp hạng là di tích lịch sử – văn hóa, kiến trúc nghệ thuật, tiêu biểu là Chùa Bà (Tuệ Thành Hội quán); Chùa Ông (Nghĩa An Hội quán); Chùa Ông Bổn (Nhị Phủ Miếu Hội quán); Chùa Bà Hải Nam (Quỳnh Phủ Hội quán); Chùa Bà Thiên hậu (Quần Tân Hội quán); Chùa Quan Âm (Ôn Lăng Hội quán); Chùa Ông hay chùa Minh Hương Thất Phủ (Hội quán Phước An)…

Âm nhạc và biểu diễn nghệ thuật sân khấu là món ăn tinh thần của người Hoa ở Thành phố Hồ Chí Minh. Tại các quận đông người Hoa sinh sống, biểu diễn nghệ thuật cổ truyền của người Hoa rất phát triển. Đoàn ca kịch Thống nhất Thành phố Hồ Chí Minh (Quảng Đông và Triều Châu) tồn tại từ sau ngày giải phóng miền Nam, nay là đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp do Sở Văn hóa, Thể thao Thành phố quản lý. Ngoài ra còn các nhạc xã như: Mân Nam của Hội quán Phước Kiến, Đội ca kịch của Hội quán Hải Nam, nhạc xã Đồng Đức, Tân Lệ Viên, Triều Quần…, các Câu lạc bộ tiếng Hoa của các quận, đội văn nghệ của các Trung tâm dạy môn Hoa văn: Mạch Kiếm Hùng, Khải Tú, Vĩnh Xuyên, Trần Bội Cơ, đội nhạc cổ Hoa Sen quận 6, đội ca múa nhạc Trung tâm văn hóa quận 5, Hằng Anh Đường quận 11…

Hằng năm, ngoài việc tham gia biểu diễn nghệ thuật chào mừng các ngày lễ, tết ở các tụ điểm Trung tâm văn hóa quận, còn biểu diễn tại các rạp hát, nhà hàng và trong các Hội quán, phục vụ cho bà con người Hoa. Các đội múa lân, rồng, môn nghệ thuật truyền thống người Hoa cũng đã góp phần quan trọng tạo nên không khí sôi động, phấn khởi chào mừng các lễ hội, lễ tết của Thành phố.

Văn học nghệ thuật người Hoa tại Thành phố Hồ Chí Minh từ sau năm 1975 cũng có bước phát triển quan trọng, đáp ứng yêu cầu thụ hưởng của đồng bào Hoa và các dân tộc. Năm 1993, Hội Văn học Nghệ thuật các dân tộc thiểu số Thành phố Hồ Chí Minh đã tập hợp gần 300 hội viên là văn nghệ sĩ chuyên nghiệp và không chuyên nghiệp, nhà nghiên cứu văn học nghệ thuật người Hoa, Chăm, Khmer và một số dân tộc thiểu số khác. Trong đó văn nghệ sĩ người Hoa chiếm 2/3 tổng số hội viên của Hội, hoạt động trong các chuyên ngành văn học, mỹ thuật, thư pháp, nhiếp ảnh và các loại hình biểu diễn nghệ thuật.

Nghệ thuật

Trong những năm qua, Báo Sài Gòn Giải phóng (bản Hoa văn) đã tổ chức cuộc thi thơ mới bằng tiếng Hoa, nhận được 40 tác phẩm của 40 tác giả ca ngợi sự đoàn kết gắn bó giữa bà con người Hoa, người Kinh và các dân tộc anh em Việt Nam. Ngợi ca sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ qua 2 cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc xâm lược. Tháng 6 năm 1990, Báo Sài Gòn Giải phóng (bản Hoa văn) lập trang văn nghệ mang tên “Quế Quán văn nghệ”. Đến nay trang Văn nghệ chủ nhật hàng tuần duy trì và phát triển, nhiều tác phẩm văn xuôi, thơ, mỹ thuật, thư pháp, nhiếp ảnh nghệ thuật được đăng tải, tạo nên sức thu hút của độc giả. Nhiều tác phẩm thơ, văn xuôi được Hội Văn học Nghệ thuật các dân tộc thiểu số thành phố tổ chức biên tập và xuất bản thành sách mang ý nghĩa chính trị, lịch sử văn hóa sâu sắc như: Góp phần tìm hiểu văn hóa người Hoa Nam Bộ (2006); tác phẩm Quá trình hội nhập và phong trào đấu tranh cách mạng của người Hoa Sài Gòn – Chợ Lớn và các tỉnh Nam Bộ từ năm 1930 đến năm 1975 (Do Hội phối hợp với Câu lạc bộ Truyền thống kháng chiến khối người Hoa, 2013), và một số tác phẩm như: Hưởng ứng việc học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức, phong cách Chủ tịch Hồ Chí Minh (2014); tác phẩm Văn hóa người Hoa Nam Bộ (2015)…

Như vậy dưới sự lãnh đạo của Thành ủy, sự quan tâm của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và sự hướng dẫn tạo điều kiện của Phòng Văn hóa văn nghệ – Ban Tuyên Giáo Thành ủy và Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Thành phố, những năm qua, hoạt động văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Thành phố Hồ Chí Minh đã góp phần đáng kể trong việc xây dựng và phát triển văn hóa cổ truyền của các dân tộc thiểu số trong vườn hoa muôn sắc màu của nền văn hóa Việt Nam trên địa bàn.

Để góp phần bảo tồn, phát triển văn hóa truyền thống người Hoa ở Thành phố Hồ Chí Minh, chúng tôi xin đưa ra một số giải pháp và kiến nghị như sau:

– Cần hỗ trợ đào tạo văn nghệ sĩ trẻ các dân tộc thiểu số vừa hồng vừa chuyên, phát triển toàn diện nhằm bảo tồn, phát huy văn hóa truyền thống dân tộc, nhất là sáng tác văn học và lý luận phê bình.

– Quan tâm hỗ trợ, tạo điều kiện các mặt hoạt động văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Thành phố Hồ Chí Minh, nhất là về Ngày hội Văn hóa các dân tộc Việt Nam (19-4), Giải thưởng, Trại sáng tác, Về nguồn…

– Có chính sách khen thưởng kịp thời động viên gắn với việc triển khai thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 5 (Khóa VIII) về “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”; Nghị quyết 23/NQ-TW ngày 16-8-2008 của Bộ Chính trị về “Tiếp tục xây dựng và phát triển văn học nghệ thuật trong thời kỳ mới”. Triển khai thực hiện Nghị quyết 33 tại Hội nghị Trung ương lần thứ 9 khóa XI về “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”.

– Thành ủy, Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cần có chính sách đầu tư phù hợp xây dựng nhà văn hóa các dân tộc thiểu số Thành phố, nhằm hội tụ các điều kiện công năng về thiết chế văn hóa để giúp cho cộng đồng các dân tộc thiểu số Thành phố Hồ Chí Minh nói chung và văn nghệ sĩ người Hoa nói riêng có nơi hoạt động sáng tạo tác phẩm, biểu diễn nghệ thuật, triển lãm, đào tạo bồi dưỡng các chuyên ngành văn học nghệ thuật và chính trị tư tưởng cho văn nghệ sĩ trẻ.

LƯU KIM HOA Hội VHNT các DTTS Tp. Hồ Chí Minh

Luận Văn Khóa Luận Các Giải Pháp Phát Triển Dịch Vụ Cảng Biển Ở Cảng Hải Phòng Để Đáp Ứng Nhu Cầu Hội Nhập Quốc Tế

Từ xưa Hải Phòng được biết đến với tư cách là một thành phố cảng, thành phố nhộn nhip, tấp nập với những chuyến tàu ra vào. Ngày nay, trong quá trình hội nhập kinh tế của đất nước, vai trò của Hải Phòng càng quan trọng trong việc là cầu nối giao lưu giữa các tỉnh miền Bắc với các tỉnh, thành phố khác của đất nước cũng như với các nước khác trên thế giới thông qua con đường chủ yếu nhất là cảng Hải Phòng. Cảng Hải Phòng là cảng có lịch sử phát triển lâu đời và có vị trí chiến lược trong phát triển kinh tế của miền Bắc cũng như của cả nước. Từ xưa đến nay việc giao thương bằng đường biển trở thành một phần không thể thiếu, các quốc gia phát triển nhất trên thế giới thường là các quốc gia có hệ thống cảng biển hiện đại. Việt Nam với đường bờ biển dài và hệ thống cảng biển với ba cảng chính: Sài Gòn, Hải Phòng, Đà Nẵng nằm ở ba miền của đất nước là một lợi thế tuyệt vời để phát triển kinh tế, nhất là trong thời kì mở cửa, thời kì toàn cầu hoá nền kinh tế Với vai trò quan trọng của mình cảng Hải Phòng đã không ngừng đổi mới, hoàn thiện để đáp ứng khối lượng hàng hoá ra vào cảng ngày càng tăng. Các dịch vụ cảng biển của cảng cũng ngày càng phong phú đa dạng hơn. Tuy nhiên trong giai đoạn hiện nay khi Việt Nam đã là thành viên của tổ chức WTO ( tháng 12/2006 ), vấn đề phát triển các dịch vụ cảng biển thế nào để có thể có đủ năng lực cạnh tranh trong khu vực và thế giới là một bài toán đặt ra cho cảng Hải Phòng. Nhận thức được tầm quan trọng và thiết thực của vấn đề này, em chọn đề tài ” Các giải pháp phát triển dịch vụ cảng biển ở cảng Hải Khoá luận tốt nghiệp Trần Thị Minh Châu Lớp: Nhật 3 – K42 22 Phòng để đáp ứng nhu cầu hội nhập ” với mong muốn tìm ra một số giải pháp hữu hiệu cho việc phát triển dịch vụ cảng biển của cảng Hải Phòng hiện nay. Khoá luận sẽ cho độc giả thấy được cái nhìn tổng quát về tình hình các dịch vụ của cảng Hải Phòng và một số giải pháp phát triển dịch vụ cảng biển trong thời kì hội nhập ngày nay Đề tài gồm 3 chương: Chương I: Tổng quan về dịch vụ tại cảng biển Chương II: Thực trạng các dịch vụ cảng biển của cảng Hải Phòng Chương III: Các giải pháp phát triển cảng biển ở cảng Hải Phòng đáp ứng nhu cầu hội nhập Nhân đây em xin chân thành cảm ơn thầy giáo – PGS . TS Vũ Sỹ Tuấn, giáo viên trực tiếp hướng dẫn em làm khoá luận này. Tuy vậy, do hạn chế về kinh nghiệm thực tế cũng như nguồn tài liệu, khoá luận này sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong được thầy cô và các bạn góp ý để khoá luận được tốt hơn.

TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC

TIN KHUYẾN MÃI

Thư viện tài liệu Phong Phú

Hỗ trợ download nhiều Website

Nạp thẻ & Download nhanh

Hỗ trợ nạp thẻ qua Momo & Zalo Pay

Nhận nhiều khuyến mãi

Khi đăng ký & nạp thẻ ngay Hôm Nay

NẠP THẺ NGAY

DANH MỤC TÀI LIỆU LUẬN VĂN

Cập nhật thông tin chi tiết về Giải Pháp Phát Triển Đội Ngũ Giảng Viên Khoa Qlvh Ở Trường Đại Học Văn Hóa Tp. Hồ Chí Minh Đáp Ứng Nhu Cầu Xã Hội trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!